Welcome Blog MAC...!!!

Niềm vui được tìm thấy khi aj đó thjx bạn!! Hạnh phúc tìm thấy khi bạn yêu aj đó!!

Subscribe to RSS feed

Trung Thu Và Người Việt

Sách xưa chép rằng, nhân một đêm rằm tháng tám, khi cùng các quan ngắm trăng, vua Ðường ao-ước được lên thăm cung trăng một lần cho biết. Pháp-sư Diệu Pháp Thiên (có sách chép là Lã Công Viên) tâu xin làm phép đưa vua lên cung trăng. Lên tới cung trăng, Minh Hoàng được chúa tiên tiếp rước, bày tiệc đãi đằng và cho hàng trăm tiên nữ xinh tươi mặc áo lụa mỏng nhiều màu sắc rực rỡ, tay cầm tấm lụa trắng tung múa trên sân, vừa múa vừa hát, gọi là khúc Nghê-Thường vũ y. Vua Ðường thích quá; nhờ có khiếu thẩm âm nên vừa trầm trồ khen ngợi vừa lẩm nhẩm học thuộc lòng bài hát và điệu múa mong đem về hoàng cung bày cho các cung nữ trình diễn. Cuối năm đó, quan Tiết Ðộ Sứ cai trị xứ Tây Lương mang về triều tiến dâng một đoàn vũ nữ với điệu múa Bà-la-môn. Vua thấy điệu múa có nhiều chỗ giống Nghê-Thường vũ y, liền chỉnh đốn hai bài hát và hai điệu làm thành Nghê-Thường vũ y khúc. Về sau các quan cũng bắt chước vua mang điệu múa hát về các phiên trấn xa xôi nơi họ cai trị rồi dần dần phổ biến khắp dân gian. Tục ngắm trăng, xem ca múa sau biến thành thú vui chơi đêm rằm Trung Thu. Tết Trung Thu lan rộng sang các nước láng giềng và thuộc địa của Trung Hoa. Sách sử Việt không nói rõ dân ta bắt đầu chơi Tết Trung Thu từ bao giờ, chỉ biết hàng mấy trăm năm trước, tổ tiên ta đã theo tục này. Ngay từ đầu tháng tám âm lịch, chợ búa bắt đầu có màu sắc Trung Thu. Lồng đèn, bánh nướng, bánh dẻo đã được bày bán la liệt trong các cửa hiệu rực rỡ ánh đèn. Người mua lẫn người đi xem đông chen như hội. Ngoài các loại đèn giấy, bánh kẹo còn có các con giống đầu lân, mặt ông địa bày bán đầy các chợ. Những nhà giàu còn bày cỗ Trung Thu để khoe tài nấu nướng của các cô con gái tới tuổi lấy chồng. Ðúng vào ngày rằm, các thành phố lớn như Sài Gòn, Huế, Hà Nội đều có múa sư tử, múa lân rất náo nhiệt. Trẽ em mỗi năm mong chờ đến ngày Tết Trung Thu để được cho lồng đèn và được ăn bánh trung thu. Lồng đèn có dủ kiễu, đủ cỡ và đủ màu sắc. Thứ hình ngôi sao 5 cánh, thứ hình sao sáu cánh, thứ hình con cá, con rồng, con bưóm và đa dạng. Đêm đến, đốt cây đèn cầy vào trong, ánh sáng lung linh, các em tụ lại nối duôi đi "dzung dzăng, dzung dzẽ" rướt lồng đèn đi dạo trong xóm, trong làng. Với đầu thế kỹ 22, chúng ta bắt đầu thấy lồng đèn "đốt" pile, nhìn có thễ thấy ít thơ mộng hơn nhưng lại tránh được cảnh cháy lồng đèn ... Mùa Trung Thu cũng là mùa bánh: bánh nướng, bánh dẻo. Bánh nướng màu vàng đậm hay lượt tùy theo độ nướng. Bánh dẻo mền hơn bánh nướng. Ở Âu Châu có loại bột massepain là có vẽ tương tự như võ bánh dẻo. Bánh dẻo có hai phần: Phần áo và phần nhân. Áo bánh phải chọn gạo nếp vàng. Gạo được rang rồi xay, hoặc giã nhỏ mịn, nhào với nước đường thắng, nhỏ vào vài giọt dầu hoa bưởi, ngan ngát mùi hương. Tất cả những công đoạn kể trên đều phải do một bàn tay thợ có "nghệ" đảm nhiệm. Người thợ không được sai sót một tý nào. Sai một ly đi một dặm. Lúc ra khuôn, cái bánh hiện rõ những hoa văn chìm nổi của một bông hoa nở 8 cánh hoặc 10 cánh. Khuôn mặt áo bánh dẻo mịn, bánh ngọt đậm, thơm dịu. Phần nhân bánh nhất thiết do thợ cả quán xuyến với những khâu quan trọng đầy bí quyết nhà nghề như: mứt bí , mứt sen, hạt dưa, hạnh nhân, ướp nhân, jambon, tạo hương cho nhân... Nhân của bánh dẻo chay tịnh, thoảng hương đồng gió nội. Mãi về sau này, người ta mới phá cách cho thêm lạp xưởng vào. Bánh nướng cũng có hai phần: phàn áo nướng và phần nhân. Nhân bánh nướng được cải tiến với nhiều sáng kiến. Mỗi hiệu bánh đều muốn có phần độc đáo của mình. Vả lại bánh nướng là "em" của bánh dẻo. Nó sinh sau đẻ muộn, mới xuất hiện từ năm 1930 nên lắm trò hơn. Ngoài mứt bí, hạt dưa, nhân bánh nướng còn có thêm lòng đỏ trứng ở giữa hoặc thịt lợn quay, gà quay, lạp sưởng... gọi là nhân thập cẩm... Bánh nướng cũng có loại nhân chay bằng đậu xanh mịn, dừa sợi, hạt sen... Bánh dẻo trắng trong, bánh nướng có màu vàng sẫm và vàng nhạt do chỗ nướng già, nướng non tạo ra, thường có đường kính chừng 7-8 cm, chiều dầy 2,5-3 cm. Cứ 4 cái bánh được xắp chồng lên nhau là một cân. Ngoài giấy bọc, có in nhãn hiệu với số nhà, tên phố. Càng hiệu lớn, càng in nhãn hiệu đẹp và nhiều màu sắc. Nhiều nhà còn đặt làm những chiếc bánh dẻo đặc biệt to bằng chiếc đĩa tây hoặc gần bằng cái mâm, trên có hình mặt trăng tròn, lưỡng long tranh châu, song phượng... Bánh dẻo, bánh nướng Trung thu nói lên cái tài hoa của người thợ. Hằng năm, cứ gần Tết Trung thu là các hiệu lại rộn rã cho người về các vùng lân cận, đón các phường thợ làm bánh nổi tiếng ra vào "múa". Các chủ hiệu ưu ái họ lắm, mỗi người được chủ hiệu phát một áo choàng trắng, mũ trắng và một đôi guốc mộc. Các cửa hàng lấy làm hãnh diện đã mời được ông Toán làng Bưởi, các ông Quế Xuân, Tảo Sở, ông Long, Ðồng Kỵ, hoặc ông Lý, Bắc Ninh... Tết Trung thu, nhà nào cũng phải có bánh dẻo. Người nghèo cũng cố mua cho con cái một vài cái bánh dẻo. Không có bánh dẻo tức là không có Tết. Người ta làm quà cho ân nhân, khách quý, bạn thân... bằng bánh Trung thu. Chiếc bánh dẻo tròn, gợi hình mặt trăng, sự tròn đầy. Bánh Trung thu mang mùi vị, thanh sắc Việt Nam, kèm theo cái nghệ thuật thưởng thức miếng ngon tinh tế, thanh nhã. Nó cũng là biểu tượng văn hóa của Việt Nam. Tết (chữ Nôm) chính là đọc chệch chữ “tiết” mà ra. Ở Việt Nam, trong một năm có nhiều cái tết, mỗi tết lại ứng với một mùa, một tiết và mang một ý nghĩa nhất định. Tết trung thu là một trong 4 tết quan trọng nhất trong năm theo nông lịch cổ; đó là: Tết đầu xuân (Tết nguyên đán), tết giữa thu (Tết trung thu), đệm giữa là tết vào hè (Tết đoan ngọ) và tết đầu đông (Tết cơm mới 10-10) Theo các nhà khảo cổ học thì tết Trung thu ở Việt Nam có từ thời xa xưa, đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Còn theo văn bia chùa Đọi năm 1121 thì từ đời nhà Lý. Tết trung thu đã được chính thức tổ chức ở Kinh thành Thăng Long với các hội đua thuyền, múa rối nước và rước đèn. Đến thời Lê- Trịnh thì Tết Trung thu đã được tổ chức cực kì sa hoa trong phủ Chúa mà tác phẩm “ Tang thương ngẫu lục” đã mô tả. Nghiên cứu về nguồn gốc Tết Trung thu, theo học giả P.Giran (trong Magiet Religion, Paris,1912) thì từ xa xưa, ở Á Đông người ta đã coi trọng mặt trăng và mặt trời, coi như một cặp vợ chồng. Họ quan niệm Mặt trăng sau chỉ sum họp với Mặt trời 1 lần 1 tháng (vào cuối tuần trăng). Sau đó, từ ánh sang của chồng, nàng trăng mãn nguyện đi ra và dần dần nhận được ánh dương quang- trở thành trăng non, trăng tròn, để rồi lại đi sang một chu kỳ mới. Do vậy, trăng là âm tính, chỉ về nữ và đời sống vợ chồng. Và ngày rằm tháng Tám, nàng trăng đẹp nhất, lộng lẫy nhất, nên dân gian làm lễ mở hội ăn mừng trăng. Còn theo sách “Thái bình hoàn vũ kí” thì : “Người Việt cứ mùa thu tháng Tám thì mở hội, trai gái giao duyên, ưng ý nhau thì lấy nhau”. Như vậy, mùa thu là mùa của thành hôn. Là một nước nông nghiệp nên Tết Trung thu ở nước ta theo lễ thức nông nghiệp, có cả phần lễ và phần hội. Tinh thần của Lễ thức đó, trước hết thể hiện ở ý thức của người nông dân đối với mùa vụ. Tháng Tám gieo trồng đã xong, thời tiết dịu đi, là lúc “muôn vật thảnh thơi” (bia chùa Đọi,1121), người ta mở hội cầu mùa, ca hát vui chơi. Dưới ánh trăng thu, các lão nông uống trà, nhắm rượu, ngắm trăng, thưởng nguyệt, chiêm nghiệm dự đoán tiên tri. Bởi vậy mà thành ngữ dân gian ta vẫn có câu “Muốn ăn lúa tháng Năm, trông trăng rằm tháng Tám”. Người Việt hiện nay còn giữ đươch ít nhất hai lễ trong rằm tháng Tám. Đó là lễ cúng trăng (trời đất) và Lễ cúng gia tiên trên bàn thờ Tổ. Cả hai lễ đều có những lễ vật tương tự như nhau: Hoa, các loại quả, bánh nướng, bánh dẻo, rượu. Riêng lễ cúng gia tiên có thêm đĩa xôi. Ngoài những sản phẩm nông nghiệp là hoa quả, rượu, xôi, có hai loại bánh mà người Việt dành riêng cho lễ cúng Rằm tháng Tám là bánh dẻo và bánh nướng, một loại tròn, một loại vuông, phản ánh nhận thức thô sơ của người Việt cổ: Trời tròn, đất vuông. Khi phá cỗ người ta tin rằng các loại lễ vật đều mang một ý nghĩa thiêng liêng, ăn uống để tiếp thêm sức mạnh của trời đất, làm cho ta có đủ sức chống lại mọi thiên tai, thiên dịch. Người Việt xưa không mấy khi dùng đèn lồng, trừ Rằm tháng Tám, người ta đua nhau làm đèn lồng, mua đèn ông sao, đèn con thỏ, đèn con cóc (thiềm thử), đèn cá chép,…Đó là những vật phẩm biểu trưng nhiều hàm ý. Đèn con thỏ biểu hiện cho mặt trăng (ngọc thỏ). Đèn con cóc (thiềm thử) biểu thị sự cầu mong mưa thuận gió hòa của cư dân trồng lúa nước theo điển tích “con cóc là cậu ông trời”. Đèn cá chép là bắt nguồn từ tích cá chép vượt vũ môn, cá chép hóa rồng, với ý nguyện cầu mong cho nhân hòa, vật thịnh, con cháu học hành giỏi giang, tấn tới. Một hoạt động không thể thiếu được trong phần hội của rằm tháng Tám đó là múa sư tử (thực ra là múa lân vì sư tử không có sừng). Người Việt dùng múa sư tử trong nhiều lễ hội với những ý nghĩa biểu trưng khác nhau. Trong cơ cấu của đội múa gồm có 3 nhân vật: Sư tử, tráng sĩ, ông địa. Sư tử là biểu trưng của Trời (Thiên), còn Tráng sĩ là Nhân, ông Địa là Đất. 3 nhân vật không đối kháng mà luôn tạo ra sự phối hợp hài hòa, Thiên- Địa- nhân hòa hợp là ước vọng sâu xa của cư dân lúa nước Việt Nam. Với những người cho là múa lân thì lại có sự giải thích khác. Họ cho rằng Lân là con vật cực hiền (nhân thú). Con Lân chỉ xuất hiện khi thánh nhân ra đời hoặc thời thịnh trị. Cho nên, múa Lân trong ngày tết Trung thu là cầu mong cho vua sáng, tôi hiền, đất nước thái bình, hưng thịnh. Nó chẳng những thể hiện ở ý thức mà cả trong hành động. Trải qua bao biến thiên của lịch sử, lễ hội Tết Trung thu ở nước ta cũng có nhiều thay đổi theo thời gian. Song dù thay đổi thế nào thì cái “thần” của nó vẫn còn giữ được, đó là tính chủ thể, sự vui chơi hồn nhiên của trẻ và sự quan tâm của mọi người đối với các em. Tết Trung thu, một lễ thức nông nghiệp ở nước ta, một cái tết của trẻ mà ở đó các em được phát huy hết các đức tính tốt đẹp của mình, được vui chơi thỏa thích, được hòa mình vào trong thiên nhiên kỳ thú và được đắm mình trong vòng tay yêu thương nhân ái của mọi người. Đó là một lễ hội truyền thống đã ăn sâu vào trong tiềm thức người Việt, một nét đẹp văn hóa cần được gìn giữ và bảo tồn.
Download bài hát Gọi Trăng Là Gì

Hỏi Tại Vì Sao???

Một kẻ suy tình.... .... Một kẻ NGỐC!!! Một gã suy tình.... .... Một gã ĐIÊN!!! Tôi đây suy tình.... .... Ai bảo NGỐC... Tôi đã suy tình.... .... Ai bảo ĐIÊN.... Nhỏ nói tôi NGỐC... .... Sao nhỏ NHỚ??? Nhỏ nói tôi KHỜ.... .... Sao nhỏ YÊU???

Hồ Chí Minh sống mãi trong tim người Việt Nam

Việt Nam Quê Hương Tôi!!

Hà Nội Cam Ranh Cà Ná Phan Thiết Bình Thuận Ninh Thuận Long Khánh Bình Phước Gia Lai Cần Giờ Sài Gòn Long An Kiêng Giang Bạc Liêu Cần Thơ Tiền Giang Hậu Giang Cà Mau Đồng Tháp

Cô Đơn

Có người hỏi vì sao tôi cười mãi Chắt cuộc đời chưa gập phải khổ đau Không người ơi tôi đã khổ đau nhiều Cười cho hết những u sầu vô vọng Không người ơi tôi đây vẫn hiểu!? Chắc chi cười đã quên hết khổ đau? Bao nhiêu vĩ dãng đành chôn dấu! Biết mấy u sầu nhốt vào tim? Từng dòng lệ nhỏ rơi thành giọt Suốt mấy đêm trường đã cạn khô? Tôi hiểu cho người bao nổi nhớ! Ẩn chứa trong lòng vạn niềm thương? Không người ơi tôi đây vẫn hiểu!? Tôi hiểu cho người, ai hiểu cho tôi!!!?

Tháng Tư

Tháng Tư hạ chớm về rồi Lắng nghe trong lá bồi hồi tiếng ve Em về tập vở nghiêng che Ta theo bước nhỏ, lòng nghe thoáng buồn Hạ ơi đừng khép cổng trường Ve ơi đừng hát lòng đường bân khuâng ! Ngày mai trên vạn nẻo đường Còn đâu tiếng trống tựu trường nôn nao ? Còn đâu tiếng guốc xôn xao ? Còn đâu ánh mắt người trao cho người? Còn đâu nữa những nụ cười ? Chỉ còn xót lại một thời nhớ thương. Tháng Tư mùa hạ bên đường Nắng vương vương nắng, buồn vương vương buồn....

Phượng Bùn

24toy.com - Tạo chữ nhấp nháy24toy.com - Tạo chữ nhấp nháy24toy.com - Tạo chữ nhấp nháy24toy.com - Tạo chữ nhấp nháy24toy.com - Tạo chữ nhấp nháy24toy.com - Tạo chữ nhấp nháy24toy.com - Tạo chữ nhấp nháy24toy.com - Tạo chữ nhấp nháy
Tà áo dài em cầm nhành phượng đỏ. Phượng nở xoè trong ánh mặt trời xa. Em thầm trách sao anh không chịu nói. Để phượng buồn ủ rủ phút chia xa. Trống trường vang em,anh người mỗi ngã. Phút phân kỳ chẳng biết còn gặp nhau? Tại anh đó sao anh ko chịu nói? Giờ chia tay mắt em lệ lưng tròng. Anh ác lắm!Bắt em chờ đợi mãi. Để giờ đây phượng thắm cũng nhạt màu. Nén nỗi buồn giữa lưng chừng nỗi nhớ. Em quay lưng bỏ lại những mộng mơ. Chỉ còn biết chúc anh luôn hạnh phúc. Phượng trong tay rơi mất tự bao giờ ? Bước ra trường sao lưng thềm còn nắng. Cánh phượng buồn theo gió nhẹ bay bay. Bổng giật mình quay lưng em nhìn lại. Bóng ai kia sao mà giống anh thế? Thôi đúng rồi anh cầm nhành phượng đỏ. Đang nhìn em và thoáng nở nụ cười. Anh bước đến bên em và khẻ nói: "Này tặng em-cô bé của lòng anh" Em chỉ biết nhìn anh rồi bật khóc. Anh nhẹ nhàng lau mắt lệ giai nhân. Rồi từ đó em anh ko gặp nữa. Phượng ngày xưa cũng héo tự bao giờ? Ngày qua ngày em về thăm trường cũ. Bức tường rêu nay đã hoá màu vôi. Em vội bước tìm anh trong nỗi nhớ. Tiếng chuông chùa vọng lại những ngày xưa. Anh biết ko !khi em về trường cũ. Cây phượng vĩ ngày xưa nay già lắm. Chẳng nở hoa và héo hắt từng ngày. Hình bóng cũ giờ tìm đâu cho thấy.? Còn lại chăng nỗi nhớ vẫn đông đầy.

Màu tím lòng anh

Tím xưa nay được mọi người yêu mến Tím mộng mơ, mang nét đẹp chung trinh Tím với anh là tím nhớ, tím mong Tím chờ đợi... ôi! huyền diêu: TÍM Lửa tình yêu chưa bao giờ tắt lịm! Chỉ có lòng người vô cảm hóa ... giá băng... Thấy không em, những vòm tím bằng lăng Đang che khuất hai làn môi mọng ướt Tím chở che cho tình yêu dịu ngọt Ươm cây đời cho hoa lá tốt tươi Thấy không em ai đó khúc khích cười ... Dưới tán hoa bằng lăng mang sắc TÍM Hoa tĩnh lặng trong màn đêm yên ấm Nhân chứng cho người mãi mãi yêu thương... Dù có chia xa, rồi đi mọi nẻo đường Sắc hoa tím vẫn còn vương trên tóc Nhân chứng kia ... vẫn giữ lời vàng ngọc... Giọt lệ hôm nào đã thấm ... vào hoa Làm đậm thêm sắc tím đẹp hài hòa Để đôi bạn không bao giờ xa cách Để đêm về mộng mơ ... trong chốc lát Vẫn nhớ về tán hoa tím Bằng lăng Vọng tiếng em cười ... khúc khích... bên anh...

Ngôi Sao Cô Đơn

Có một vì sao lạc Cô đơn giữa lưng trời Thả rơi dòng ký ức Lạc lõng vòng tay vơi Có một vì sao lạc Cô đơn giữa chữ tình Buông lơi kỷ niệm cũ Thoáng nghe lòng vô minh Có một vì sao lạc Cô đơn giữa vô thường Nửa khuya buồn trăn trở Ngậm ngùi một chữ THƯƠNG Có một vì sao lạc Cô đơn lạc cõi hồn Tên tuổi không ai gọi Lặng buồn nỗi vô ngôn Có một vì sao lạc Cô đơn không bến bờ Mãi tìm điều - không - thể Suốt đời nhận chơ vơ Có một vì sao lạc Cô đơn vạn nỗi buồn Kiếm tìm trong ý nghĩ Muôn điều ngọt ngào hơn Có một vì sao lạc Một vì sao cô đơn Vẫn trong bầu trời đêm Còn có vầng trăng sáng Vẫn trên thế gian này Còn có người dõi theo Vẫn trong bầu trời đêm Còn có sao Mai sáng Một ngày khi thức dậy Thấy mình hết cô đơn! Có một vì sao lạc Cô đơn giữa lưng trời Thả rơi dòng ký ức Lạc lõng vòng tay vơi Có một vì sao lạc Cô đơn giữa chữ tình Buông lơi kỷ niệm cũ Thoáng nghe lòng vô minh Có một vì sao lạc Cô đơn giữa vô thường Nửa khuya buồn trăn trở Ngậm ngùi một chữ THƯƠNG Có một vì sao lạc Cô đơn lạc cõi hồn Tên tuổi không ai gọi Lặng buồn nỗi vô ngôn Có một vì sao lạc Cô đơn không bến bờ Mãi tìm điều - không - thể Suốt đời nhận chơ vơ Có một vì sao lạc Cô đơn vạn nỗi buồn Kiếm tìm trong ý nghĩ Muôn điều ngọt ngào hơn Có một vì sao lạc Một vì sao cô đơn

Ánh Mắt Của Em

Mắt em là cả dòng sông Thuyền anh lướt nhẹ bềnh bồng say sưa Mắt em là những hạt mưa Cho anh tắm mát những trưa oi nồng Mắt em là cả mùa đông Anh đem tuyết rải khắp đồng trắng xinh Mắt em là cả hành tinh Chỉ anh duy nhất được nhìn thấy em Mắt em là chiếc giường êm Cho anh ngủ mãi suốt đêm yên lành Mắt em ngời sáng long lanh Cho anh đắm đuối không đành rời xa. Vì sao mắt, em yêu buồn vời vợi Trong đáy sâu chẳng còn có bóng anh Chút trang điểm hồng lên thêm phần tủi Lặng lẽ cười nhẹ vuốt mái tóc xanh Tôi nằm mơ, một giấc mơ bình dị Có anh em và tình nghĩa vợ chồng Buổi sáng thức mà em còn say ngủ Trán thơm nồng tan loãng với hư không Hình như muộn, trễ rồi em yêu ạ Chỉ là mơ chút hạnh phúc bâng quơ Vội ghi chép thành bài thơ trên giấy Chẳng còn tâm dòng chữ chợt hững hờ Tôi cúi xuống để hôn em lần cuối Trời lạnh căm hay em chẳng còn yêu Thôi thì nhận như thay lời từ giã Nắng nhạt rồi chiều ngơ ngác cô liêu!!
February 2012
M T W T F S S
January 2012March 2012
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29