Wednesday, December 15, 2010 1:57:58 PM
Đôi nét về Sư Bà Hải Triều Âm
Sunday, September 26, 2010 7:02:56 AM

Duyên Nghiệp đầu thai bẩm thọ sinh
Cha nuôi mẹ dưỡng tạo ra mình
Vô minh bất giác luôn hồi khổ
Tỏ ngộ bản tâm rực đăng minh
Chánh tín xuất gia ly thế tục
Đồng chơn nhập đạo đắc niềm tin
Lục căn thông lợi thần bất nhiểm
Tam nghiệp thuần hóa thoát vong tình
[/COLOR]
Thầy sanh năm 1920 tại tỉnh Hà Đông, Bắc Việt. Vì mang trong người 2 dòng máu Pháp – Việt, nên tên Thầy là Nguyễn Thị Ni và tên tiếng Pháp là Eugénie Catallan. Cha tên Etienne Catallan. Mẹ tên Nguyễn Thị Đắc.
Lấy xong bằng tốt nghiệp Diplôme Thầy đi dạy học. Ngay khi còn tại gia, Thầy đã biểu lộ lòng từ bi. Ngày ngày dạy học, ngoài thời giờ Thầy vào các bệnh viện, trại mồ côi, dưỡng lão để giúp đỡ an ủi động viên những mảnh đời bất hạnh.
Cơ duyên được biết Phật pháp là do Sư cụ Thích Tuệ Nhuận. Bài pháp đầu tiên được nghe Sư cụ giảng tại chùa Quán Sứ là kinh Lăng Nghiêm, phẩm Quán Âm Quảng Trần và chương Đại Thế Chí niệm Phật. Lãnh hội được sự vi diệu của Phật pháp đem lại niềm an vui cho mọi người, Thầy in những cuốn kinh nhỏ phát cho những Phật tử tới chùa tụng kinh hàng ngày.
Quy y với Hòa-thượng Pháp chủ đương thời là ngài Thích Mật Ứng, được Ngài đặt cho pháp danh là Hải Triều Âm.
Thầy thành lập gia đình Phật tử, mở các hội trưởng lão, thanh thiếu niên, nhi đồng ở Hà Nội, Hải Phòng. Ngoài ra Thầy còn viết báo cho tòa báo Bồ Đề của Sư cụ Thích Tuệ Nhuận, dưới bút hiệu là Thích nữ Cát Tường Lan. Các bài pháp rất thực tế, đưa Phật pháp vào tư tưởng thanh thiếu niên thời bấy giờ.
Năm 29 tuổi, thâm ngộ lẽ vô thường, dù phước thiện thế gian có hay đến đâu cũng không thể đưa đến giải thoát. Thầy xuất gia với Hòa-thượng Thích Đức Nhuận, ở chùa Đồng Đắc, Hà Nội. Y chỉ và thọ giới với Hoà-thượng Ni Tịnh Uyển, chùa Thanh Xuân, làng Phùng Khoang, Hà Nội.
Đến năm 1954, vâng lời Hoà-thượng di cư vào Nam. Nhập chúng ở chùa Dược Sư, Gia Định, Sàigòn. Vừa lo tu học, vừa hầu mẹ già bị bệnh bán thân, vừa lãnh vịệc chuyên giảng dạy cho Phật tử. Thầy tinh trì giới luật, nghe kinh Kim Cang lãnh ngộ được tông chỉ niệm Phật. Tu quán Tứ Niệm Xứ để khai tuệ giác tỉnh, sở đắc về bộ kinh Lăng Nghiêm để khai tri kiến Phật.
Sau khi mẹ mất, vì muốn báo hiếu công ơn mẹ, thấy rằng không gì bằng công đức tu hành, Thầy nhập thất 5 năm ở chùa Vạn Đức, Thủ Đức, TPHCM, chuyên tâm niệm Phật. Sau chuyển lên Phú An, Đức Trọng, Lâm Đồng nhập thất 7 năm tại ngôi tịnh thất nhỏ Linh Quang. Những mong nhập Niệm Phật tam muội.
Nhưng từ hoài bi nguyện độ sanh không bỏ, tại đây Thầy bắt đầu độ chúng, lúc đó chỉ có vài chục người. Đến nay đã thành lập 8 chùa Ni Liên, Linh Quang, Liên Hoa, Viên Thông, Hương Sen, Dược Sư, Lăng Nghiêm, Bát Nhã. Đủ các căn cơ, già trẻ, lớn bé cho đến người tàn tật, trẻ mồ côi Thầy đều đưa tay tế độ, mong họ được kết duyên với Phật pháp. Phật tử quy y thì không biết bao nhiêu mà kể.
Mặc dù giác biết chúng sanh huyễn có, vẫn dùng pháp huyễn để độ chúng sanh. Ngày ngày lên lớp giảng dạy, từ sáng đến trưa, từ trưa đến chiều, lời lẽ uyên bác, chỉ mặt phải, răn mặt trái. Nhắc đi nhắc lại, cặn kẽ từng lời, mong sao cho các con thấm nhuần kinh pháp. Lời giảng dạy của Thầy ai nghe cũng thấy đúng với tâm trạng của mình, hợp thời, hợp cơ, giản dị dễ hiểu, lại rất thực tế.
Đối với đại chúng, Thầy khiêm cung, giản dị, từ hòa. Nhưng nghiêm khắc đưa đại chúng vào khuôn khổ giới luật, nội quy. Sửa trị những xấu ác, nhưng bao dung những lồi lầm chỉ cốt cho đại chúng thành những bậc pháp khí trong Phật pháp.
Thầy một lòng lo cho đại chúng, từ tinh thần đến vật chất, hy sinh sức khỏe thời giờ, tận tình từ đời sống tạm thời đến rồi đi, tới đời sống đạo vị lợi ích vĩnh viễn trong kiếp tương lai. Suốt ngày trọn đêm không giờ phút nào Thầy ngơi nghỉ trong bổn phận tự giác giác tha.
Tấm gương vô ngã vị tha của Thầy, không lời lẽ nào có thể kể hết được những hạnh đức của Thầy, đã gieo vào tâm thức chúng tôi những ấn tượng khó phai. Lúc Thầy ở Chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, TPHCM, học chúng đổ về học pháp rất nhiều, không đủ chỗ, Thầy sửa lại phòng tắm làm chỗ nghỉ cho mình, nhường phòng mình làm chỗ ở cho chúng. Còn nhớ những ngày đông giá rét ở xứ lạnh cao nguyên, ai ai cũng co ro lo tìm sự an ổn cho mình. Riêng Thầy, áo mền ấm áp nhường tất cả cho các con, ráp những tấm vải thô vừa nặng vừa chẳng đủ ấm làm phần của mình.
Thấy đàn hậu lai trí kém tuệ ít, Thầy toát yếu lại những bộ kinh Hoa Nghiêm, Bát Nhã, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, luật Tỳ-kheo-ni v.v… lời văn giản dị, xác thực để học chúng dễ nắm được yếu chỉ của kinh luật. Mắt đeo kính, dưới ánh đèn dầu, Thầy miệt mài đọc sách dịch kinh. Từng bộ kinh hán văn dày cộm đầy những chữ với bộ óc tuổi già thật mỏi nhọc, Thầy vẫn hết sức cố gắng cặm cụi dịch sang việt ngữ để đàn hậu lai có sách học tập. Thầy đã biên dịch, biên soạn, toát yếu gần 100 đầu sách và in ấn không biết bao nhiêu mà kể. Bậc chân tu liễu đạo thường ẩn danh nên mỗi một cuốn sách viết ra Thầy không để tên mình bao giờ, mà lấy tên của các đệ tử đặt vào sách. Ấn tống các kinh Di Đà, Phổ Môn, Dược Sư gởi khắp Bắc Trung Nam, để các Phật tử có kinh tiếng Việt. Mang bệnh giựt cơ trên đầu mấy chục năm nhưng chưa từng vì đó mà nghỉ ngơi. Có lần vì muốn làm cuốn Hai Cánh Nhà Ni cho các Tỳ-kheo-ni mới thọ giới nắm vững giới điều, Thầy đã thức suốt cả tháng.
Một lòng tôn kính Phật Pháp Tăng, gặp bất cứ hình tượng Phật nào Thầy đều thành kính đảnh lễ. Tận tình học pháp, nghiên cứu pháp, truyền bá giáo pháp, cả đời Thầy nêu cao tấm gương vì pháp quên thân. Đối với Tăng Ni, Thầy khiêm cung, kính trọng, dạy hàng đệ tử chúng tôi suốt đời phải thực hành Bát Kính Pháp. Dạy chúng tôi nếp sống lục hoà, trên kính dưới nhường, lấy Giới Định Tuệ làm sự nghiệp chính của mình.
Thầy thường răn nhắc chị em phải tinh tấn tu hành để đền ơn thí chủ. Đời sống giản dị, tiết kiệm từng hạt gạo, tấm vải. Thường răn dạy chúng tôi không được phung phí vật dụng Tam-bảo, phải biết yêu tiếc như giữ tròng con mắt. Thầy kiệm đức kiệm phước trong từng hành động, 70 tuổi vẫn tự giặt áo, giăng mùng, không phiền nhọc một người hầu hạ. Mãi đến 80 tuổi, Phật sự đa đoan, tuổi già mỏi nhọc, Thầy mới cho hàng đệ tử chúng tôi trợ giúp. Đến nay già lão, thân suy yếu lại bệnh nhưng chưa bao giờ Thầy hiện tướng mỏi nhọc buồn phiền, gặp ai cũng nở nụ cười từ ái. Ai đến gần Thầy đều cảm nhận được sự mát mẻ từ bi, tất cả bao phiền não đều tiêu tan.
Bởi vì thấu đạt được chân lý “nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”, nên con sâu con kiến, hàm linh bão thức, các loài chúng sanh, đã có duyên với Thầy đều được thừa hưởng ân đức Thầy ban bố, được thấm nhuần pháp vị. Lòng từ bi của Thầy không chỉ nhân loại được hưởng mà thấm nhuần đến từng cỏ cây, loài vật. Với chúng sanh, đói Thầy cho ăn, khát Thầy cho uống, rét Thầy cho áo mặc, niệm Phật để nó kết duyên với Phật pháp từ đời này đến đời sau. Thầy răn dạy chúng tôi “đó chính là những huynh đệ chúng ta từ kiếp trước, chỉ vì một chút lỗi lầm phải đoạ làm thân chó, nên các con phải tận tình thương xót”.
Xếp đặt cho các con trong hiện tại đã đủ mọi bề khó khăn, lại còn lo mai này, Thầy về cõi Phật, các con nương tựa vào đâu ? Thầy làm chùa, xây dựng cho hậu lai nơi ăn chốn ở. Nhưng thế sự vô thường, không bền chắc, chỉ có Phật pháp mới là nơi nương tựa vững vàng nhất. Thầy vì đàn hậu lai mở ra một đường lối tu hành rõ ràng. Năm 1988, Thầy viết một bài Di Chúc, để lại cho đàn hậu lai chúng tôi. Đó vừa là lời dặn dò, vừa là con đường tu hành của bản thân Thầy và cũng là kim chỉ nam chỉ lối đưa đường cho đàn hậu lai chúng tôi trên bước đường tu học, gọi là BỐN MÙA HOA GIÁC.
Qua bao thăng trầm thế sự, Thầy vẫn như núi kia bất động trước cảnh đời dâu bể, vẫn cúi xuống tận lực đùm bọc che chở, nuôi dưỡng thánh chủng cho hàng đệ tử chúng tôi. Sức an định của Thầy như núi cao bất động trước phong ba của tám gió. Trí tuệ của Thầy như trăng sáng chiếu soi, phá tan bao hắc ám của đời sanh tử. Dù nói bao nhiêu cũng không đủ lời để tán dương hạnh đức Tôn sư.
Chúng tôi mạo muội viết lên ít dòng để nêu lên một phần nào công hạnh của Tôn sư, mong rằng những người hữu duyên được mông ân pháp vũ.
Đây hương giới đức bện tình son
Đây gởi bao lòng trẻ chúng con
Quà dâng Tôn Sư, niềm tin kính
Pháp giới đồng chung hưởng phước ân.
Ao sen bát đức hoa đua nở
Thắm cõi trời Tây nguyện góp phần.
Chùa Dược Sư chúng con
Trân trọng kính ghi đền ơn pháp nhũ.
Sở trường của ni trưởng là pháp môn “Nhĩ căn viên thông” của Bồ tát Quan Thế Âm. Ni trưởng nghiêm trì giới luật, không giữ tiền của, độ ngọ, tích cực công tác từ thiện, chuyên tu thiền định kết hợp pháp môn Nhĩ căn viên thông, tiếp chúng độ nhân cho nhiều người, từ kẻ sơ cơ cho đến người có căn duyên, ấn tống, dịch thuật kinh sách. Cho tới ngày nay số ni chúng đi với tham học kể đến hàng trăm và nhiều đệ tư ûở hải ngoại. Hiện nay ni trưởng ở Ðại Ninh, Lâm Ðồng, trụ trì tịnh thất Hương Sen, Linh Quang. Tuy tuổi già sức yếu nhưng vẫn tinh tấn để vãng khai lai làm bậc lương đống cho hàng hậu học ni chúng…
Đôi điều về Thiền
Thursday, September 9, 2010 8:36:22 AM
1 . Thiền là gì ?
Thiền là trạng thái tâm vắng lặng trước sự vật, hiện tượng xảy ra trước mặt hay xung quanh ta .
2. Tại sao ta phải thiền ?
Chúng ta phải học thiền vì sự vật, hiện tượng xảy ra xung quanh tâm ta không được sáng suốt và ngược lại . Mê lầm và thiếu bình tĩnh ...
3. Tu tập thiền là tu tập thế nào ?
Tu tập thiền là ta tu tập tâm linh khi xảy ra sự việc, hiện tượng mà tâm ta vẫn điềm tĩnh và giải quyết sự việc một cách có trí huệ .
Bản năng và quán tính của ta nhiều đời đầy ô nhiễm, tham, sân, si . Muốn trừ bỏ nó ta phải luyện tập về thiền . Luyện tập để xử lý sự việc có trí huệ, hoặc bất ngờ tình huống xảy ra, tâm ta vẫn có trí huệ( không ô nhiễm) .
Có nghĩa là tâm làm chủ .
4. Sự luyện tập tuy gọi là khó, nhưng không thể không làm được .
Tâm thức ta luôn tính trước, vẻ vời mọi sự vật một cách mau lẹ nhưng gốc rễ vẫn cột trói là tham sân si ...
Giờ đây muốn tâm vắng lặng, tâm làm chủ ( tâm vắng lặng còn có nghĩa là yên lặng trong sáng suốt) ta phải luôn ở trạng thái tâm thiền ... ngồi thiền ... nằm thiền ... ngủ trong thiền ... ( không mộng mị, hốt hoảng) .
* Ngoài giờ làm việc và tiếp xúc thân cận ta vẫn luôn trong trạng thái tâm thiền, tâm làm chủ ...( yên lặng như mặt nước lắng trong).
* Bước đầu luyện tập là quán niệm hơi thở, hay nói khác là quan sát hơi thở . Hơi thở là mạng sống là sự vận động tự nhiên của thân vật lý . Và tâm thì chịu sự chi phối của hơi thở hay ngược lại: Ví dụ: khi tâm yên lặng, nhẹ nhàng thì hơi thở nhẹ nhàng, điều hoà . Khi phiền não tham sân si nổi lên thì hơi thở mệt nhọc , không đều, khó thở ... Hoặc động niệm khởi lên thì hơi thở ngắn , dài, rối loạn v.v...
Giờ đây tất cả các loại hơi thở ấy ta chỉ nhìn ngắm nó , quan sát nó mà thôi ...
* Tại sao ta không luyện tập, kiềm nén và đếm số hơi thở . Mà chỉ quan sát . Vì thiền đây khác với luyện khí công và khác với luyện yoga . Mà thiền đây chỉ luyện cho tâm yên lặng một cách có trí huệ . Khi yên lặng thì hơi thở tự động nhẹ nhàng, sâu lắng, tự động điều hoà ...
* Tuyệt đối không nên niệm đây là thở vào, đây là thở ra mà chỉ nhìn và biết nó đang thở thế nào, biết nó thở vào thở ra thế nào ... Biết nó thở dài thở ngắn thế nào . Chỉ là cái BIẾT mà thôi .
Nếu còn niệm tức là chưa đạt yên lặng hoàn toàn . Còn niệm đây cũng chỉ là TRẠNG THÁI TÂM chưa đạt đến đỉnh cao của nó (Bát Nhã ...) .
Phương pháp niệm Phật và niệm số chỉ gần đến chỗ yên lặng, chứ chưa đạt đến trạng thái tự nhiên, tâm làm chủ, tâm vắng lặng ...
5. Muốn đạt đến chỗ yên lặng và sáng suốt này không dễ gì một sớm một chiều mà luyện tập được ( vì tuỳ theo nghiệp thức dày, mỏng của từng mỗi cá nhân) .
Có người niệm Phật đến chỗ TỰ ĐỘNG NIỆM, tưởng lầm là đã đạt đến trạng thái tâm yên lặng . Tự động niệm có thể giải thích là không khởi động mà nó tự niệm như một cái máy . Trạng thái này cũng chưa gọi là đạt đến cứu cánh , là tới bảo sở mà thực ra chỉ đến hoá thành mà thôi ...
Trạng thái tâm không vọng tưởng giờ được thay thế bằng cái tự động niệm , và cảm thấy nhẹ nhàng và lầm tưởng là cứu cánh Niết Bàn . Ta gọi đó là : tạm gọi yên lặng, chưa thật sự là yên lặng . Vì yên lặng thì phải sáng suốt và chơn không, và vô niệm ... Trí huệ là sự đạt đến vô sư trí, huệ trí, Phật trí ... còn trạng thái tự động niệm này chưa đạt đến tâm làm chủ .
Do vậy người niệm Phật đến chỗ tự động niệm này ta phải nhận biết và khéo dẫn họ đến một bước ngoặc khác là ngừng niệm Phật xem còn có khởi vọng nữa không? Yên lặng thật sự là không vọng không chơn . Và dẫn dắt họ đến một bước chân thật khác : Đó là không cần niệm mà vẫn yên lặng, một sự yên lặng thuần thục . Trạng thái tâm thức này gọi là chơn tâm là giải thoát, là Niết Bàn ...
Còn những người niệm Phật đến chỗ tự động niệm , an lạc niệm ... nếu trong thời điểm này mà vị ấy từ giã cõi đời thì sẽ sanh thiên , vãng sanh về A Di Đà và tu tiếp chứ chưa đạt đến trạng thái chơn tâm rỗng rang, không ngằng mé không thể tính đếm và thí dụ được, dứt bặt nói năng ( không thể dùng ngôn từ diễn đạt được ...)
Người niệm Phật đến chỗ tự động niệm này phải biết mình đang làm gì, trí huệ đã phát sanh điều gì ? Con đường tu tập đã hướng đến đâu ? Đừng lầm tưởng rằng mình đã đến cứu cánh !! Mà phải thấy rõ chỉ đang đứng trước cánh cửa KHÔNG , chưa vào cái cửa không cửa . Và thấy rằng Phật trí là gì ? Vô sư trí là gì ? Cẩn thận kẻo lầm lẫn đó ...
Cho nên người tu tập về thiền phải đạt đến chỗ yên lặng và sáng suốt ( không phải yên lặng mà vô tri)
HÃY SUY NGHĨ CHỖ NÀY ...
Một đại lão hoà thượng đã nói rất đúng : Quán niệm hơi thở còn có nghĩa là quan sát hơi thở chứ không phải luyện tập hơi thở . Hãy suy nghĩ ...
6. Phương pháp ngồi thiền:
Tuỳ ý ngồi thế nào cũng được luôn thả lỏng cơ không co cứng :
- Ngồi bán già .
- Ngồi kiết già .
- Nằm nghiêng bên phải .
- Ngồi trên ghế thả lỏng chân .
- Ngồi trên phản thả lỏng chân ...
Tất cả đều là cách ngồi thả lỏng không bó buộc . Nhưng xương sống phải thẳng đứng khi ngồi và thẳng khi nằm .
7. Cốt lõi của thiền là tâm yên lặng , yên lặng lâu dài , yên lặng và sáng suốt dù gặp sự việc, hiện tượng gì vẫn sáng suốt nắm bắt kịp thời, giải quyết , và cho qua ...
Được vậy là bạn đã thành công , đã vào được , và thấy được CHƠN TÂM rồi đó . Đắc thiền , ứng xử trạng thái thiền trong hoàn cảnh xã hội ngày nay không khác chi là bạn đã đạt được cứu cánh Niết Bàn tại thế . Chúc đạo hữu thành công và không e ngại gì để bước chân vào thiền tập của mình .
* Mỗi khi bạn bỏ bớt một chút tham sân si là bạn đang tiến bước từng bước trong luyện tập .
* Mỗi khi bạn cảm thấy không ưu sầu vấn vương là bạn đã tiến lên từng bước của sự nhẹ nhàng khoan thai .
* Mỗi khi bạn đạt được một ít trạng thái tâm yên lặng . Trong cảnh rối ren khó làm khó nghĩ , những sự việc trong xã hội ngày nay là bạn đã đạt đến một sự lắng sâu , huyền diệu của cõi giới tâm linh huyền bí rồi đó ...
* Mỗi khi bạn hoan hỷ và không ngừng tu tập , bạn sẽ cảm thấy yêu đời , sẵn lòng từ bi cứu khổ ban vui , lúc ấy bạn đã có thêm nhiều bạn hữu mới , tốt .
* Mỗi khi bạn yên lặng trước mọi hoàn cảnh . Khi ấy bạn lại cảm thấy sáng suốt . Không bị tham sân si quấy rối , bạn cảm thấy tự tin trong việc tu tập của mình .
* Mỗi khi bạn đạt đến trạng thái tâm yên lặng sáng suốt bạn cảm thấy mình dễ hoà đồng với mọi người , và tâm từ bạn rộng mở đến mọi nơi ... bạn có thể vấn thân trong các hoàn cảnh khó khăn mà vẫn vui và tự tin . Bạn sẽ thành công từ từ trong mọi mặt từ sự tu tập này ...
Chúc bạn thành công .
sucothaolien@yahoo.com.vn
Thiền là trạng thái tâm vắng lặng trước sự vật, hiện tượng xảy ra trước mặt hay xung quanh ta .
2. Tại sao ta phải thiền ?
Chúng ta phải học thiền vì sự vật, hiện tượng xảy ra xung quanh tâm ta không được sáng suốt và ngược lại . Mê lầm và thiếu bình tĩnh ...
3. Tu tập thiền là tu tập thế nào ?
Tu tập thiền là ta tu tập tâm linh khi xảy ra sự việc, hiện tượng mà tâm ta vẫn điềm tĩnh và giải quyết sự việc một cách có trí huệ .
Bản năng và quán tính của ta nhiều đời đầy ô nhiễm, tham, sân, si . Muốn trừ bỏ nó ta phải luyện tập về thiền . Luyện tập để xử lý sự việc có trí huệ, hoặc bất ngờ tình huống xảy ra, tâm ta vẫn có trí huệ( không ô nhiễm) .
Có nghĩa là tâm làm chủ .
4. Sự luyện tập tuy gọi là khó, nhưng không thể không làm được .
Tâm thức ta luôn tính trước, vẻ vời mọi sự vật một cách mau lẹ nhưng gốc rễ vẫn cột trói là tham sân si ...
Giờ đây muốn tâm vắng lặng, tâm làm chủ ( tâm vắng lặng còn có nghĩa là yên lặng trong sáng suốt) ta phải luôn ở trạng thái tâm thiền ... ngồi thiền ... nằm thiền ... ngủ trong thiền ... ( không mộng mị, hốt hoảng) .
* Ngoài giờ làm việc và tiếp xúc thân cận ta vẫn luôn trong trạng thái tâm thiền, tâm làm chủ ...( yên lặng như mặt nước lắng trong).
* Bước đầu luyện tập là quán niệm hơi thở, hay nói khác là quan sát hơi thở . Hơi thở là mạng sống là sự vận động tự nhiên của thân vật lý . Và tâm thì chịu sự chi phối của hơi thở hay ngược lại: Ví dụ: khi tâm yên lặng, nhẹ nhàng thì hơi thở nhẹ nhàng, điều hoà . Khi phiền não tham sân si nổi lên thì hơi thở mệt nhọc , không đều, khó thở ... Hoặc động niệm khởi lên thì hơi thở ngắn , dài, rối loạn v.v...
Giờ đây tất cả các loại hơi thở ấy ta chỉ nhìn ngắm nó , quan sát nó mà thôi ...
* Tại sao ta không luyện tập, kiềm nén và đếm số hơi thở . Mà chỉ quan sát . Vì thiền đây khác với luyện khí công và khác với luyện yoga . Mà thiền đây chỉ luyện cho tâm yên lặng một cách có trí huệ . Khi yên lặng thì hơi thở tự động nhẹ nhàng, sâu lắng, tự động điều hoà ...
* Tuyệt đối không nên niệm đây là thở vào, đây là thở ra mà chỉ nhìn và biết nó đang thở thế nào, biết nó thở vào thở ra thế nào ... Biết nó thở dài thở ngắn thế nào . Chỉ là cái BIẾT mà thôi .
Nếu còn niệm tức là chưa đạt yên lặng hoàn toàn . Còn niệm đây cũng chỉ là TRẠNG THÁI TÂM chưa đạt đến đỉnh cao của nó (Bát Nhã ...) .
Phương pháp niệm Phật và niệm số chỉ gần đến chỗ yên lặng, chứ chưa đạt đến trạng thái tự nhiên, tâm làm chủ, tâm vắng lặng ...
5. Muốn đạt đến chỗ yên lặng và sáng suốt này không dễ gì một sớm một chiều mà luyện tập được ( vì tuỳ theo nghiệp thức dày, mỏng của từng mỗi cá nhân) .
Có người niệm Phật đến chỗ TỰ ĐỘNG NIỆM, tưởng lầm là đã đạt đến trạng thái tâm yên lặng . Tự động niệm có thể giải thích là không khởi động mà nó tự niệm như một cái máy . Trạng thái này cũng chưa gọi là đạt đến cứu cánh , là tới bảo sở mà thực ra chỉ đến hoá thành mà thôi ...
Trạng thái tâm không vọng tưởng giờ được thay thế bằng cái tự động niệm , và cảm thấy nhẹ nhàng và lầm tưởng là cứu cánh Niết Bàn . Ta gọi đó là : tạm gọi yên lặng, chưa thật sự là yên lặng . Vì yên lặng thì phải sáng suốt và chơn không, và vô niệm ... Trí huệ là sự đạt đến vô sư trí, huệ trí, Phật trí ... còn trạng thái tự động niệm này chưa đạt đến tâm làm chủ .
Do vậy người niệm Phật đến chỗ tự động niệm này ta phải nhận biết và khéo dẫn họ đến một bước ngoặc khác là ngừng niệm Phật xem còn có khởi vọng nữa không? Yên lặng thật sự là không vọng không chơn . Và dẫn dắt họ đến một bước chân thật khác : Đó là không cần niệm mà vẫn yên lặng, một sự yên lặng thuần thục . Trạng thái tâm thức này gọi là chơn tâm là giải thoát, là Niết Bàn ...
Còn những người niệm Phật đến chỗ tự động niệm , an lạc niệm ... nếu trong thời điểm này mà vị ấy từ giã cõi đời thì sẽ sanh thiên , vãng sanh về A Di Đà và tu tiếp chứ chưa đạt đến trạng thái chơn tâm rỗng rang, không ngằng mé không thể tính đếm và thí dụ được, dứt bặt nói năng ( không thể dùng ngôn từ diễn đạt được ...)
Người niệm Phật đến chỗ tự động niệm này phải biết mình đang làm gì, trí huệ đã phát sanh điều gì ? Con đường tu tập đã hướng đến đâu ? Đừng lầm tưởng rằng mình đã đến cứu cánh !! Mà phải thấy rõ chỉ đang đứng trước cánh cửa KHÔNG , chưa vào cái cửa không cửa . Và thấy rằng Phật trí là gì ? Vô sư trí là gì ? Cẩn thận kẻo lầm lẫn đó ...
Cho nên người tu tập về thiền phải đạt đến chỗ yên lặng và sáng suốt ( không phải yên lặng mà vô tri)
HÃY SUY NGHĨ CHỖ NÀY ...
Một đại lão hoà thượng đã nói rất đúng : Quán niệm hơi thở còn có nghĩa là quan sát hơi thở chứ không phải luyện tập hơi thở . Hãy suy nghĩ ...
6. Phương pháp ngồi thiền:
Tuỳ ý ngồi thế nào cũng được luôn thả lỏng cơ không co cứng :
- Ngồi bán già .
- Ngồi kiết già .
- Nằm nghiêng bên phải .
- Ngồi trên ghế thả lỏng chân .
- Ngồi trên phản thả lỏng chân ...
Tất cả đều là cách ngồi thả lỏng không bó buộc . Nhưng xương sống phải thẳng đứng khi ngồi và thẳng khi nằm .
7. Cốt lõi của thiền là tâm yên lặng , yên lặng lâu dài , yên lặng và sáng suốt dù gặp sự việc, hiện tượng gì vẫn sáng suốt nắm bắt kịp thời, giải quyết , và cho qua ...
Được vậy là bạn đã thành công , đã vào được , và thấy được CHƠN TÂM rồi đó . Đắc thiền , ứng xử trạng thái thiền trong hoàn cảnh xã hội ngày nay không khác chi là bạn đã đạt được cứu cánh Niết Bàn tại thế . Chúc đạo hữu thành công và không e ngại gì để bước chân vào thiền tập của mình .
* Mỗi khi bạn bỏ bớt một chút tham sân si là bạn đang tiến bước từng bước trong luyện tập .
* Mỗi khi bạn cảm thấy không ưu sầu vấn vương là bạn đã tiến lên từng bước của sự nhẹ nhàng khoan thai .
* Mỗi khi bạn đạt được một ít trạng thái tâm yên lặng . Trong cảnh rối ren khó làm khó nghĩ , những sự việc trong xã hội ngày nay là bạn đã đạt đến một sự lắng sâu , huyền diệu của cõi giới tâm linh huyền bí rồi đó ...
* Mỗi khi bạn hoan hỷ và không ngừng tu tập , bạn sẽ cảm thấy yêu đời , sẵn lòng từ bi cứu khổ ban vui , lúc ấy bạn đã có thêm nhiều bạn hữu mới , tốt .
* Mỗi khi bạn yên lặng trước mọi hoàn cảnh . Khi ấy bạn lại cảm thấy sáng suốt . Không bị tham sân si quấy rối , bạn cảm thấy tự tin trong việc tu tập của mình .
* Mỗi khi bạn đạt đến trạng thái tâm yên lặng sáng suốt bạn cảm thấy mình dễ hoà đồng với mọi người , và tâm từ bạn rộng mở đến mọi nơi ... bạn có thể vấn thân trong các hoàn cảnh khó khăn mà vẫn vui và tự tin . Bạn sẽ thành công từ từ trong mọi mặt từ sự tu tập này ...
Chúc bạn thành công .
sucothaolien@yahoo.com.vn
PHẬT HỌC VẤN ĐÁP Pháp sư: HT. TỊNH KHÔNG - Biên dịch: Vọng Tây cư sĩ
Friday, August 6, 2010 6:32:12 AM
Câu hỏi 1: Ma ở trong tâm, làm thế nào để tâm Phật thắng được tâm ma? Phật thường ở trong tâm thiện. Nếu có người làm ác, phải làm gì để họ theo thiện bỏ ác?
Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo đã giải thích cho chúng ta vấn đề này. Phật cùng ma là một, không phải hai. Giác ngộ rồi ma liền thành Phật; mê hoặc rồi, Phật biến thành ma. Cho nên, một niệm giác ngộ thì Phật ở tại tâm, một niệm vừa mê, thì ma ở tại tâm. Phật dạy bảo chúng ta phải thường giác ngộ. Một niệm vì chính mình, tự tư tự lợi, chính là ma, tâm này chính là tâm ma. Thay đổi lại ý niệm, vì xã hội, vì chúng sinh, tâm này chính là tâm Phật. Do đó làm thế nào đem cái ý niệm tự tư tự lợi chuyển đổi thành lợi ích xã hội, lợi ích chúng sinh. Đây là mấu chốt vô cùng quan trọng. Người có thể thay đổi được ý niệm, đương nhiên họ có thể đoạn ác hướng thiện.
Câu hỏi 2: Trong nhà có kiến, nếu không phun thuốc thì không cách gì ở được, còn nếu phun thuốc thì mắc tội sát sinh, không biết phải xử lý thế nào?
Vấn đề này rất nhiều người đang gặp phải. Kiến cũng là động vật, là chúng sinh hữu tình, chúng ta phải dùng thiện hạnh mà đối đãi. Thánh nhân thế xuất thế gian đều khuyên bảo “chân thành có thể cảm thông”. Chúng ta không thể tương thông được với những chúng sinh nhỏ bé này vì thành ý của chúng ta chưa đủ. Thành ý là gì? Tâm thanh tịnh chính là thành ý. Người xưa gọi “một niệm không sinh là thành”, tâm chúng ta có tạp niệm thì không thành, cho nên không thể tương thông được với loài kiến. Nếu như tâm chân thành thanh tịnh mới có thể tương thông, có thể mời kiến dọn nhà. Do đó chính mình phải đoạn ác tu thiện để cảm động được những chúng sinh nhỏ bé này. Xem trong Ấn Quang Đại Sư truyện ký, gian phòng của Ấn tổ những năm đầu cũng có muỗi, bọ chét quấy nhiễu. Thị giả của ngài giúp ngài thanh trừ, lão hòa thượng liền ngăn cản: “không nên, không cần phải thanh trừ”. Thị giả không hiểu liền thắc mắc. Ngài nói: “đức hạnh của chính ta chưa đủ, có chúng ở đây là sự nhắc nhở đối với ta”. Về sau khi lão hòa thượng 70 tuổi, gian phòng của ngài không tìm thấy con muỗi, con bọ nào.
Những động vật nhỏ khi đứng trước người chân chính tu hành, có đức hạnh, có thiện tâm, chúng cũng khởi lòng cung kính và không đến quấy nhiễu. Do đó, tu đức là phương pháp tốt nhất để hóa giải phiền não. Ở Singapore, Mỹ có một số vị đồng tu rất chăm chỉ thử nghiệm, nói với chúng tôi, có hiệu quả rất tốt, cho dù không hoàn toàn hết hẳn nhưng cũng giảm đi được rất nhiều. Điều đó chứng tỏ công phu tu hành của họ có tiến bộ.
Câu hỏi 3: Khi ngồi tĩnh tọa niệm Phật, tay bắt ấn như thế nào mới đúng?
Vấn đề bắt ấn không quan trọng. Bắt ấn là gì? Nhà Phật gọi thủ ấn chính là thủ ngữ, mọi người tâm tâm họp nhau. Xem tượng bàn tay đức Phật A Di Đà, đó gọi ấn Di Đà. Đặt hai tay ngang bằng, hai ngón cái đối nhau, quan trọng là thân tâm an ổn, tĩnh tọa nhiếp tâm Phật hiệu.
Câu hỏi 4: Tu pháp môn tịnh độ có phải là niệm Phật hiệu đến sau cùng, hay nghe toàn bộ kinh giảng?
Hoàn toàn lệ thuộc ở bản thân mỗi người. Mục đích của việc giảng kinh là giúp đoạn nghi sinh tín. Đối với tịnh độ, nếu không chút hoài nghi, đã có tín tâm vững chắc, thì kinh tụng hay không tụng, nghe hay không nghe cũng không quan hệ gì. Chỉ cần một câu Phật hiệu cũng thành công. Do đó, chúng ta phải hiểu rõ đạo lý này, nếu có hoài nghi, tín tâm nguyện lực không kiên cố, cần thiết phải nghe, đọc nhiều kinh thì vấn đề liền được giải quyết.
Câu hỏi 5: Muốn cả đời theo lão hòa thượng để tu hành thì cần phải hội đủ điều kiện gì?
Đi theo không có nghĩa phải ở bên cạnh. Tất cả chúng ta đều đi theo Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, đi theo Bổn Sư A Di Đà Phật. Chỉ cần chúng ta không rời khỏi kinh điển, mỗi ngày đọc tụng kinh Vô Lượng Thọ, chính là nghe Thế Tôn A Di Đà Phật khai thị. Chúng ta dùng tâm chân thành để nghe, dùng tâm thanh tịnh để đọc tụng, sẽ liền được khai ngộ. Đọc tụng nghe giảng mà không khai ngộ có nghĩa là lòng chân thành của chúng ta chưa đủ. Những bậc thánh hiền thế xuất thế gian đều nói “thành tắc linh”. Đạo giáo vẽ bùa, Phật giáo trì chú, phù chú rốt cuộc linh hay không? Điều đó hoàn toàn ở tâm người vẽ bùa trì chú. Nếu tâm họ thành, phù chú này liền linh, tâm không thành thì không linh. Trong Liễu Phàm Tứ Huấn, phần chú giải của người xưa đã ghi rất rõ qua một ví dụ vẽ bùa. Từ một nét bút đầu vẽ đến cả đạo phù thành công, trong khoảng thời gian đó không chút vọng niệm, kết quả đạo bùa này linh. Niệm chú cũng vậy, chú ngữ từ đầu đến cuối không khởi một vọng niệm thì chú này liền linh. Niệm chú trong khi khởi vọng tưởng, thì chú này không thể linh. Do đó chú càng dài càng khó niệm. Thời khóa sớm của các tự viện đọc chú Lăng Nghiêm rất dài, trong thời gian đó mà không khởi vọng tưởng là điều vô cùng khó. Chúng ta đọc kinh, kinh dài hơn chú, nên người xưa mới nói: “Tụng kinh không bằng trì chú, trì chú không bằng niệm Phật”. Phật chỉ có sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật”. Niệm liên tục sáu chữ này, không lọt vào một vọng niệm là điều dễ làm, cộng với tâm chân thành có thể cảm ứng.
Câu hỏi 6: Lưu thông buôn bán tượng Phật có bị coi là làm thân Phật ra máu không?
Mua bán tượng Phật hoàn toàn không có lỗi lầm. Làm thân Phật ra máu là phá hoại tượng Phật một cách cố ý. Hành động phá hoại tượng Phật một cách vô ý là lỗi, lỗi không cẩn thận, không phải tội.
Câu hỏi 7: Nhà một cô Phật tử gần bờ biển, chuyên nuôi trồng các loại hải sản. Sau khi học Phật, cô muốn đem bán hết số hải sản nhưng chồng cô không đồng ý. Vậy cô có bị nhân quả không?
Đích thực sẽ có nhân quả. Do đó phải nên niệm Phật tu hành thường xuyên. Vì những chúng sinh khổ nạn này mà hồi hướng. Đây chỉ là phương pháp bù đắp bất đắc dĩ.
Câu hỏi 8: Cái gì là từ nơi tâm mà khởi tu?
Nghe kinh thường xuyên phải nên biết vấn đề này. Đức Phật trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo có nói: “Bồ Tát ngày đêm thường niệm thiện pháp, tư duy thiện pháp”. Đây chính là từ nơi tâm mà tu, ngày đêm không gián đoạn, công phu hy hữu. Tâm địa lương thiện, lời nói và thân thể tự nhiên sẽ không thể tạo ác nghiệp được nữa.
Câu hỏi 9: Tôi bị quỷ ám, vậy phải làm sao?
Đích thực ở trong quỷ thì bị quỷ ám. Nếu trong lòng thanh tịnh, tâm hạnh lương thiện, quỷ sẽ không dám ức hiếp chúng ta. Quỷ nhìn thấy chúng ta cũng phải tôn kính, ủng hộ. Phàm hễ bị quỷ ám, thì chính mình nhất định cần phải giác ngộ hành vi, tâm địa bất thiện của chính mình. Vì có bất thiện, quỷ mới xem thường, đến ức hiếp chúng ta. Các hành giả niệm Phật, đương nhiên công phu không đến nơi cũng sẽ bị quỷ ám. Người niệm Phật, thường thường niệm Phật, khi gặp phải những tình huống này, tâm liền nghĩ đến Phật hiệu. Nếu gặp trong mộng, hãy niệm Phật, niệm danh hiệu Bồ Tát, quỷ liền rời khỏi lập tức.
Câu hỏi 10: Con người sống ở đời vì sao khổ đến vậy?
Trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, thế tôn bảo Sa Kiệt La Long Vương quán sát những chúng sinh trong đại hải từ hình trạng, màu da, lớn nhỏ đều không giống nhau. Nguyên nhân gì tạo ra như vậy? Đó là đều do các thứ bất thiện của thân khẩu ý tạo nên.
Con người vì sao khổ đến như vậy? Chúng ta phải hiểu rõ chân tướng sự thật và đạo lý của nhân quả báo ứng. Trồng nhân thiện nhất định được quả thiện, tạo ác nghiệp nhất định chiêu quả khổ. Cho nên đức Phật dạy chúng ta phải viễn ly tham sân si. Khởi tham sân si là tạo ác nghiệp cực trọng, chiêu cảm đến quả báo. Nhiều người trên thế gian có phước báu. Phước báu đó là quả của tâm thiện, hành thiện tạo tác nghiệp thiện. Đức Phật đã dạy, đoạn ác tu thiện thì nghiệp báo có thể thay đổi. Tiên sinh Viên Liễu Phàm, triều nhà Minh, nhờ thông suốt đạo lý nhân quả này mà cả đời không những có thể chuyển đổi vận mạng chính mình mà còn cầu được tài, được con, và được công danh. “Phật thị môn trung, hữu cầu tất ứng” quả thực không sai.
Thế nhưng cầu nguyện có đạo lý của cầu nguyện. Như lý như pháp mà cầu, nhất định sẽ đạt. Vậy, thế nào gọi là như lý như pháp mà cầu? Chúng ta khởi tâm động niệm vì hạnh phúc của tất cả chúng sinh, không chỉ riêng lẻ vì chính mình. Chẳng hạn, chúng ta cầu tài vì mục đích giúp đỡ chúng sinh khổ nạn, lời nguyện cầu phát tài này là hợp lý, nên sẽ được cảm ứng. Còn cầu phát tài cho chính mình hưởng thụ sẽ không thể cảm ứng. Chư Phật bồ tát thành tựu việc thiện cho người, giúp người làm việc tốt, chứ không giúp người làm việc ác. Giúp tạo ác nghiệp, chỉ có ma, không phải là Phật.
Chúng tôi những năm đầu khi vừa mới ra giảng kinh, pháp sư Đức Dung ở Đài Loan thường đến nghe giảng kinh, hiện tại vị pháp sư này đã qua đời. Khi đó, một hôm ông hỏi chúng tôi: “pháp sư Tịnh Không, ngài thường hay nói ‘Phật thị môn trung, hữu cầu tất ứng’, bản thân tôi cảm thấy hoài nghi. Tôi đã từng hướng đến bồ tát Địa Tạng cầu xin một cái tủ lạnh, nhưng đã ba năm vẫn chưa có”. Chúng tôi liền hỏi ông ấy: “xin hỏi đạo tràng của thầy ở bao nhiêu chúng vậy?” Ông nói chỉ có một mình ông. Chúng tôi liền nói: “không cần thiết, nếu tôi là bồ tát Địa Tạng cũng sẽ không cho, vì chỉ có một mình ông thì không cần thiết”. Chúng ta vì đại chúng, thì sự mong cầu này là hợp lý, còn để một mình hưởng thụ mà mong cầu là sai.
Bản thân chúng tôi học Phật nhiều năm kiểm nghiệm xác xác thực thực “hữu cầu tất ứng”. Cái mong cầu của chúng tôi không phải là tủ lạnh, mà là kinh sách. Chúng tôi muốn đọc những kinh sách nào, chỉ cần trong lòng nghĩ đến, thì khoảng một hai tháng liền sẽ có người đưa đến, cảm ứng rất tốt. Chúng tôi nhớ được thời gian linh ứng dài nhất là nửa năm. Khi đó trong lòng chúng tôi muốn tìm một bộ Trung Quán Luận Sớ, chúng tôi nhờ người tìm giúp nhưng đến nửa năm mới tìm được, chân thật “hữu cầu tất ứng”. Chúng ta xuất gia vì muốn thâm nhập kinh tạng, vì để hoằng pháp lợi sinh, do đó kinh điển là sách tham khảo trọng yếu, quyết không phải là nhu cầu xa xỉ, cũng không vì chính mình, cho nên cảm ứng không thể nghĩ bàn.
Câu hỏi 11: Vì sao xướng tụng Phật hiệu càng lớn tiếng thì đầu càng bị đau nhức, lúc còn muốn nôn, lúc thì bỗng dưng chảy nước mắt? Có phải do còn vô minh ngu si, nghiệp chướng sâu nặng, mà chiêu cảm ra như vậy?
Ngoài khả năng mắc chứng bệnh đau đầu, đây cũng có thể xem là nghiệp chướng. Niệm Phật thường không những không bị đau đầu, mà càng niệm tinh thần càng tốt, càng hoan hỉ. Niệm đến pháp hỉ sung mãn, người niệm Phật có thể không buồn ngủ không mệt mỏi, thiền tông gọi là “thiền duyệt vi thực”, có nghĩa người niệm Phật trì tụng là ăn. Do đó chúng ta niệm Phật mà hiệu quả trái ngược thì phải phản tỉnh, kiểm thảo chính mình. Nhất định vì chúng ta tu không đúng pháp, hoặc lý luận không thấu triệt, trong lòng còn hoài nghi. Đối với pháp môn niệm Phật “tín hạnh nguyện” đều nghi hoặc, miễn cưỡng mà niệm, hoặc khổ sở mà niệm thì sẽ không có giá trị. Còn đạo lý thông suốt, niệm Phật tự nhiên sinh tâm hoan hỉ.
Câu hỏi 12: Niệm Phật có thể chuyển được định nghiệp hay không ?
Niệm Phật chuyển đổi được định nghiệp phải niệm đến lý “nhất tâm bất loạn”. Công phu cạn có thể chuyển được nghiệp thô trọng. Công phu sâu không những có thể chuyển được nghiệp vi tế mà đến định nghiệp cũng có thể chuyển. Bách Trượng đại sư thời xưa đã từng nói “bất muội nhân quả”, bất muội nhân quả chính là chúng ta chuyển được định nghiệp. Thế nhưng phải nên biết, không thể tiêu trừ định nghiệp, chúng ta chỉ có thể chuyển định nghiệp, chuyển ác thành thiện, chuyển mê thành ngộ, chuyển phàm thành thánh. Câu Phật hiệu đích thực hiệu quả như vậy.
Câu hỏi 13: Vì sao có lúc trong đầu có cảm giác như kéo tơ bóc kén, càng tịnh để niệm Phật thì hiện tượng này càng mãnh liệt?
Tình trạng này thuộc về nghiệp chướng. Nếu gặp phải tình huống này hoặc tương tự thì không nên lo sợ, phải tập trung tinh thần ý chí, càng chăm chỉ nỗ lực niệm Phật, liều mạng mà niệm, phải đột phá chướng ngại này. Chướng nạn có thể dựa vào gia trì oai thần bổn nguyện cuả Phật Bồ Tát, chúng ta thành tâm thành ý niệm sẽ được Phật lực gia trì. Lúc đó dù không thể tiêu trừ nhưng nghiệp chướng nhất định có thể giảm nhẹ.
Câu hỏi 14: Tín ngưỡng tôn giáo khác có thể tu tâm thanh tịnh và tâm chí thành không? Có thể thoát khỏi luân hồi không?
Tín ngưỡng tôn giáo khác cũng có thể được tâm thanh tịnh, cũng có thể được tâm chân thành nhưng không dễ dàng thoát khỏi sáu cõi. Trong kinh Phật giải đáp rất đơn giản, bởi vì chúng ta không mất đi cái “ngã”. Còn “ngã” là còn tự tư tự lợi, tâm tuy thanh tịnh nhưng không thuần tịnh, tâm tuy chân thành nhưng chân thành đó cũng phân ra rất nhiều đẳng cấp. Chúng ta chưa đạt đến đẳng cấp nhất định, cho nên chúng ta tu có thể được thiên đạo, có thể sinh thiên nếu tu tâm thanh tịnh, tu tâm chí thành; có thể đến cõi trời sắc giới, cõi trời sơ thiền, cõi trời nhị thiền, tam thiền, tứ thiền; tâm địa thanh tịnh hơn có thể sinh đến cõi trời tứ thiền nhưng chắc chắn không thể siêu việt sáu cõi luân hồi. Nếu dễ dàng vượt khỏi sáu cõi luân hồi, Thích Ca Mâu Ni Phật nhất định sẽ không đến thế gian. Phật đến thế gian này vì để giúp chúng sinh siêu việt sáu cõi. Rất nhiều tôn giáo nói về vũ trụ nhân sinh, nói được lẽ đương nhiên nhưng không thể nói được lẽ dĩ nhiên của nó. Hãy sơ lược lướt qua kinh luận của các tôn giáo khác sẽ hiểu rõ việc này.
Câu hỏi 15: Làm thế nào mới có thể đạt năng lực điều phục phiền não?
Khởi mong muốn dụng tâm hàng phục phiền não, ý niệm này là chánh niệm, là thỉ giác, chứng tỏ người đó bắt đầu giác ngộ. Phiền não từ tự tư tự lợi mà sinh ra, cũng đều từ sợ được sợ mất mà sinh. Chúng ta có thể buông bỏ tự tư tự lợi, mỗi niệm vì người khác thì phiền não sẽ liền được giảm, được mất của cá nhân không còn nữa. Hãy sống ở thế gian này một lòng một dạ vì đại chúng xã hội, vì tất cả chúng sinh mà phục vụ. Cư sĩ Lý Mộc Nguyên là nhân vật điển hình, mỗi ngày từ sớm đến tối ông bận bù đầu bù cổ, không có phiền não vì tất cả sự bận rộn đều vì người khác, không phải là việc của chính mình. Thành quả viên mãn tất mang phước báu đến cho mọi người. Còn không thành công sau khi đã tận tâm tận lực, ông cũng hoan hỉ. Ở Singapore còn có một lão nhân 101 tuổi, chúng ta có thể gọi bà ấy là người thanh niên 101 tuổi. Cả đời bà đều vì sự nghiệp phước lợi xã hội, vì người già, người bệnh, người nghèo khổ phục vụ. Hiện nay bà vẫn đang dấn thân trong trạng thái vui vẻ khó ai bì. Bà không vì chính mình, cho nên không có phiền não, cuộc sống vô cùng hoan hỉ. Hiện tại bà niệm Phật A Di Đà cầu sinh tịnh độ, nếu bà không vãng sinh Tây Phương nhất định sẽ sinh thiên. Điều phục phiền não là chuyển đổi quan niệm, nếu ngày xưa tất cả vì chính mình thì hiện tại tất cả nên vì chúng sinh.
Câu hỏi 16: Trong quá trình tu hành học Phật, có nên dùng tâm thanh tịnh hoan hỉ để tu trì hay không? Học Phật càng nhanh sẽ càng thù thắng hơn không?
Tâm thanh tịnh hoan hỉ là tâm Phật, rất khó được. Khó ở chỗ “thanh tịnh”. Thanh tịnh là hoàn toàn không ô nhiễm. Ngay trong cuộc sống thường ngày, không bị ô nhiễm danh vọng lợi dưỡng, không bị ô nhiễm năm dục sáu trần, tâm chúng ta liền thanh tịnh, thanh tịnh đương nhiên là hoan hỉ.
Thanh tịnh và bình đẳng cũng là một, không phải hai. Nếu không bình đẳng, tâm chúng ta vĩnh viễn không thể thanh tịnh, vì tâm có cao thấp. Trong pháp bình đẳng được thanh tịnh, trong pháp thanh tịnh được đầy đủ bình đẳng, tâm hoan hỉ liền hiện tiền. Phật pháp thường nói “tùy duyên mà không phan duyên”. Tâm tùy duyên là thanh tịnh, là bình đẳng; tâm phan duyên thì không thanh tịnh, không bình đẳng. Ngay trong cuộc sống thường ngày, chúng ta ăn bất cứ thứ gì cũng đều giống nhau, đều hoan hỉ, không lựa chọn. Còn nghĩ rằng thứ này ăn ngon, thứ kia ăn không ngon, như vậy tâm không thanh tịnh, không bình đẳng, không thể sinh hoan hỉ. Ăn ngon thì hoan hỉ, ăn không ngon thì không hoan hỉ, trong cái hoan hỉ này xen tạp không hoan hỉ, cho nên không thể thành tựu. Do đó chúng ta nhất định phải bình đẳng đối với tất cả mọi người, mọi việc, mọi sự vật, không hề dính mắc, không có phân biệt. Phương pháp tu học này, ngay trong một đời nhất định thành tựu.
Câu hỏi 17: Khi bị bệnh, niệm Phật rất tinh tấn, thế nhưng tâm không thể định. Uống thuốc cũng không hết bệnh, cho nên tâm nôn nóng muốn tự sát, phải làm sao?
Không nên tự sát, vì khi tự sát, phiền phức còn lớn hơn. Nên biết, tự sát là tội nghiệp không phải là giải thoát. Nếu tự sát có thể giải thoát thì Thích Ca Mâu Ni Phật hà tất phải xuất thế, phải dày công khó nhọc tu hành đến như vậy, ngài chỉ cần tự sát là xong. Rất nhiều người ở thế gian thường nói: sau khi tự sát, nếu muốn luân hồi đầu thai thì phải tìm thế thân. Như vậy có phiền não không? Nếu không tìm được thế thân, họ muốn đầu thai luân hồi cũng không có cách gì. Hơn nữa tự sát sẽ rất đau khổ, họ ở trong thân trung ấm cách mỗi một khoảng thời gian, hiện tượng tự sát của họ phải diễn lại một lần. Thần thức sau khi tự sát không ngừng lặp lại, ở nơi đó tự mình sẽ diễn lại cảnh tự sát, thống khổ dường nào.
Chúng ta phải nên hiểu rõ chân tướng sự thật này, tự cảm thấy nhân sinh rất khổ, đó là nghiệp báo, các thứ nghiệp bất thiện tạo thành. Cho nên chỉ cần đoạn ác tu thiện như trong quyển Liễu Phàm Tứ Huấn. Chúng tôi thường khuyên các đồng tu sơ học, khi vừa bắt đầu nên đem Liễu Phàm Tứ Huấn đọc qua ba trăm lần, mỗi ngày đọc một lần, cho đủ một năm. Khi đó ấn tượng của chúng ta sẽ rất sâu, chúng ta mới hiểu rõ đạo lý và sự thật của nhân quả báo ứng, liền biết làm thế nào để thay đổi vận mạng. Đại sư Ấn Quang cả đời đề xướng quyển sách này. Dụng ý của ngài muốn khuyên chúng ta nên nghĩ rộng hơn, đó là cứu vãn kiếp vận của hiện tại. Bộ sách không triết lý sâu xa khó hiểu, người thông thường chúng ta đều có thể hiểu, đều có thể thể hội. Nó là tập hợp tinh hoa của thánh nhân thế xuất thế gian, những ví dụ bên trong rất nhiều, chúng ta nên cố gắng học tập.
“Bị bệnh niệm Phật rất tinh tấn, nhưng tâm không định”. Tâm đã không định thì đó không phải là tinh tấn. Tinh tấn, tâm nhất định là thanh tịnh. Nếu uống thuốc mà bệnh không hết, đó là vì không có lòng tin đối với thuốc, đối với bác sĩ, đương nhiên đối với Phật lại càng không có lòng tin. Tín tâm là then chốt, nhà Phật thường nói “tất cả pháp từ tâm tưởng sinh”, đạo lý này rất sâu, nó đích thực là chân tướng sự thật, thế xuất thế pháp đều từ tâm tưởng sinh.
Câu hỏi 18: Phật phóng quang có màu sắc gì? Đến khi vãng sinh thấy được ánh sáng màu gì thì theo Phật đi?
Ánh sáng của Phật phóng ra là viên mãn. Mở đầu kinh Địa Tạng, đức Phật phóng quang “đại quang minh vân”. Chúng ta thấy được màu sắc gì? Căn tánh, cơ duyên của mỗi người không giống nhau, cho nên mọi người nhìn thấy cũng đều không giống nhau, thậm chí nhìn sắc tướng của Phật, ánh sáng của Phật cũng không như nhau. Tâm tưởng không giống nhau, chẳng phải là tùy tâm tưởng sinh? Năm 1982 lần đầu tiên pháp sư Thánh Nhất ở Đại Dữ Sơn, Hong Kong trở về tổ quốc, đã đến bái thánh ở Phổ Đà Sơn. Họ gồm ba vị pháp sư đến Phổ Đà Sơn Triều Am động, lễ lạy bồ tát Quán Thế Âm. Lễ lạy đến nửa giờ thì bồ tát Quán Thế Âm thị hiện. Cả ba người đều rất vui mừng. Sau khi rời khỏi, họ đã hỏi nhau, bồ tát Quán Thế Âm thị hiện dáng vẻ thế nào? Pháp sư Thánh Nhất nhìn thấy sắc vàng, đội mão Tỳ Lô, giống như mão của bồ tát Địa Tạng, tay cầm tích trượng. Một vị pháp sư khác nhìn thấy bồ tát Quán Thế Âm mặc y phục trắng như hình vẽ thông thường mà chúng ta vẫn tôn tượng. Vị pháp sư thứ ba nhìn thấy là hình tướng một vị tỳ kheo, trên tay cầm tích trượng.
Hình tướng mà ba người nhìn thấy đều không giống nhau, hào quang cũng không giống nhau. Cho nên, không nhất định là nhìn thấy sắc gì, hào quang như thế nào. Đến lúc lâm chung, chúng ta nhìn thấy Phật A Di Đà sẽ rất rõ ràng, tường tận, đó là thật, không phải là giả. Ngay lúc lâm chung, nhìn thấy các vị Phật Bồ Tát khác đến tiếp dẫn, đừng đi theo họ, nhất định phải nhìn thấy Phật A Di Đà đến tiếp dẫn, mới nên đi theo. Đến khi đó dáng vẻ của Phật A Di Đà ra sao, chính mình liền biết được. Hiện tại chúng tôi không thể dự đoán trước. Nếu dự đoán nói trước thì quý vị không thể vãng sinh. Vì khi chấp mắc vào hình tướng đã đoán trước, chúng ta suốt ngày nghĩ tưởng, phiền phức xuất hiện. Đến lúc lâm chung, chúng ta sẽ được Phật Bồ Tát gia bị, tự nhiên sẽ nhận biết được rõ ràng minh bạch, không thể sai lầm.
Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo đã giải thích cho chúng ta vấn đề này. Phật cùng ma là một, không phải hai. Giác ngộ rồi ma liền thành Phật; mê hoặc rồi, Phật biến thành ma. Cho nên, một niệm giác ngộ thì Phật ở tại tâm, một niệm vừa mê, thì ma ở tại tâm. Phật dạy bảo chúng ta phải thường giác ngộ. Một niệm vì chính mình, tự tư tự lợi, chính là ma, tâm này chính là tâm ma. Thay đổi lại ý niệm, vì xã hội, vì chúng sinh, tâm này chính là tâm Phật. Do đó làm thế nào đem cái ý niệm tự tư tự lợi chuyển đổi thành lợi ích xã hội, lợi ích chúng sinh. Đây là mấu chốt vô cùng quan trọng. Người có thể thay đổi được ý niệm, đương nhiên họ có thể đoạn ác hướng thiện.
Câu hỏi 2: Trong nhà có kiến, nếu không phun thuốc thì không cách gì ở được, còn nếu phun thuốc thì mắc tội sát sinh, không biết phải xử lý thế nào?
Vấn đề này rất nhiều người đang gặp phải. Kiến cũng là động vật, là chúng sinh hữu tình, chúng ta phải dùng thiện hạnh mà đối đãi. Thánh nhân thế xuất thế gian đều khuyên bảo “chân thành có thể cảm thông”. Chúng ta không thể tương thông được với những chúng sinh nhỏ bé này vì thành ý của chúng ta chưa đủ. Thành ý là gì? Tâm thanh tịnh chính là thành ý. Người xưa gọi “một niệm không sinh là thành”, tâm chúng ta có tạp niệm thì không thành, cho nên không thể tương thông được với loài kiến. Nếu như tâm chân thành thanh tịnh mới có thể tương thông, có thể mời kiến dọn nhà. Do đó chính mình phải đoạn ác tu thiện để cảm động được những chúng sinh nhỏ bé này. Xem trong Ấn Quang Đại Sư truyện ký, gian phòng của Ấn tổ những năm đầu cũng có muỗi, bọ chét quấy nhiễu. Thị giả của ngài giúp ngài thanh trừ, lão hòa thượng liền ngăn cản: “không nên, không cần phải thanh trừ”. Thị giả không hiểu liền thắc mắc. Ngài nói: “đức hạnh của chính ta chưa đủ, có chúng ở đây là sự nhắc nhở đối với ta”. Về sau khi lão hòa thượng 70 tuổi, gian phòng của ngài không tìm thấy con muỗi, con bọ nào.
Những động vật nhỏ khi đứng trước người chân chính tu hành, có đức hạnh, có thiện tâm, chúng cũng khởi lòng cung kính và không đến quấy nhiễu. Do đó, tu đức là phương pháp tốt nhất để hóa giải phiền não. Ở Singapore, Mỹ có một số vị đồng tu rất chăm chỉ thử nghiệm, nói với chúng tôi, có hiệu quả rất tốt, cho dù không hoàn toàn hết hẳn nhưng cũng giảm đi được rất nhiều. Điều đó chứng tỏ công phu tu hành của họ có tiến bộ.
Câu hỏi 3: Khi ngồi tĩnh tọa niệm Phật, tay bắt ấn như thế nào mới đúng?
Vấn đề bắt ấn không quan trọng. Bắt ấn là gì? Nhà Phật gọi thủ ấn chính là thủ ngữ, mọi người tâm tâm họp nhau. Xem tượng bàn tay đức Phật A Di Đà, đó gọi ấn Di Đà. Đặt hai tay ngang bằng, hai ngón cái đối nhau, quan trọng là thân tâm an ổn, tĩnh tọa nhiếp tâm Phật hiệu.
Câu hỏi 4: Tu pháp môn tịnh độ có phải là niệm Phật hiệu đến sau cùng, hay nghe toàn bộ kinh giảng?
Hoàn toàn lệ thuộc ở bản thân mỗi người. Mục đích của việc giảng kinh là giúp đoạn nghi sinh tín. Đối với tịnh độ, nếu không chút hoài nghi, đã có tín tâm vững chắc, thì kinh tụng hay không tụng, nghe hay không nghe cũng không quan hệ gì. Chỉ cần một câu Phật hiệu cũng thành công. Do đó, chúng ta phải hiểu rõ đạo lý này, nếu có hoài nghi, tín tâm nguyện lực không kiên cố, cần thiết phải nghe, đọc nhiều kinh thì vấn đề liền được giải quyết.
Câu hỏi 5: Muốn cả đời theo lão hòa thượng để tu hành thì cần phải hội đủ điều kiện gì?
Đi theo không có nghĩa phải ở bên cạnh. Tất cả chúng ta đều đi theo Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, đi theo Bổn Sư A Di Đà Phật. Chỉ cần chúng ta không rời khỏi kinh điển, mỗi ngày đọc tụng kinh Vô Lượng Thọ, chính là nghe Thế Tôn A Di Đà Phật khai thị. Chúng ta dùng tâm chân thành để nghe, dùng tâm thanh tịnh để đọc tụng, sẽ liền được khai ngộ. Đọc tụng nghe giảng mà không khai ngộ có nghĩa là lòng chân thành của chúng ta chưa đủ. Những bậc thánh hiền thế xuất thế gian đều nói “thành tắc linh”. Đạo giáo vẽ bùa, Phật giáo trì chú, phù chú rốt cuộc linh hay không? Điều đó hoàn toàn ở tâm người vẽ bùa trì chú. Nếu tâm họ thành, phù chú này liền linh, tâm không thành thì không linh. Trong Liễu Phàm Tứ Huấn, phần chú giải của người xưa đã ghi rất rõ qua một ví dụ vẽ bùa. Từ một nét bút đầu vẽ đến cả đạo phù thành công, trong khoảng thời gian đó không chút vọng niệm, kết quả đạo bùa này linh. Niệm chú cũng vậy, chú ngữ từ đầu đến cuối không khởi một vọng niệm thì chú này liền linh. Niệm chú trong khi khởi vọng tưởng, thì chú này không thể linh. Do đó chú càng dài càng khó niệm. Thời khóa sớm của các tự viện đọc chú Lăng Nghiêm rất dài, trong thời gian đó mà không khởi vọng tưởng là điều vô cùng khó. Chúng ta đọc kinh, kinh dài hơn chú, nên người xưa mới nói: “Tụng kinh không bằng trì chú, trì chú không bằng niệm Phật”. Phật chỉ có sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật”. Niệm liên tục sáu chữ này, không lọt vào một vọng niệm là điều dễ làm, cộng với tâm chân thành có thể cảm ứng.
Câu hỏi 6: Lưu thông buôn bán tượng Phật có bị coi là làm thân Phật ra máu không?
Mua bán tượng Phật hoàn toàn không có lỗi lầm. Làm thân Phật ra máu là phá hoại tượng Phật một cách cố ý. Hành động phá hoại tượng Phật một cách vô ý là lỗi, lỗi không cẩn thận, không phải tội.
Câu hỏi 7: Nhà một cô Phật tử gần bờ biển, chuyên nuôi trồng các loại hải sản. Sau khi học Phật, cô muốn đem bán hết số hải sản nhưng chồng cô không đồng ý. Vậy cô có bị nhân quả không?
Đích thực sẽ có nhân quả. Do đó phải nên niệm Phật tu hành thường xuyên. Vì những chúng sinh khổ nạn này mà hồi hướng. Đây chỉ là phương pháp bù đắp bất đắc dĩ.
Câu hỏi 8: Cái gì là từ nơi tâm mà khởi tu?
Nghe kinh thường xuyên phải nên biết vấn đề này. Đức Phật trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo có nói: “Bồ Tát ngày đêm thường niệm thiện pháp, tư duy thiện pháp”. Đây chính là từ nơi tâm mà tu, ngày đêm không gián đoạn, công phu hy hữu. Tâm địa lương thiện, lời nói và thân thể tự nhiên sẽ không thể tạo ác nghiệp được nữa.
Câu hỏi 9: Tôi bị quỷ ám, vậy phải làm sao?
Đích thực ở trong quỷ thì bị quỷ ám. Nếu trong lòng thanh tịnh, tâm hạnh lương thiện, quỷ sẽ không dám ức hiếp chúng ta. Quỷ nhìn thấy chúng ta cũng phải tôn kính, ủng hộ. Phàm hễ bị quỷ ám, thì chính mình nhất định cần phải giác ngộ hành vi, tâm địa bất thiện của chính mình. Vì có bất thiện, quỷ mới xem thường, đến ức hiếp chúng ta. Các hành giả niệm Phật, đương nhiên công phu không đến nơi cũng sẽ bị quỷ ám. Người niệm Phật, thường thường niệm Phật, khi gặp phải những tình huống này, tâm liền nghĩ đến Phật hiệu. Nếu gặp trong mộng, hãy niệm Phật, niệm danh hiệu Bồ Tát, quỷ liền rời khỏi lập tức.
Câu hỏi 10: Con người sống ở đời vì sao khổ đến vậy?
Trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, thế tôn bảo Sa Kiệt La Long Vương quán sát những chúng sinh trong đại hải từ hình trạng, màu da, lớn nhỏ đều không giống nhau. Nguyên nhân gì tạo ra như vậy? Đó là đều do các thứ bất thiện của thân khẩu ý tạo nên.
Con người vì sao khổ đến như vậy? Chúng ta phải hiểu rõ chân tướng sự thật và đạo lý của nhân quả báo ứng. Trồng nhân thiện nhất định được quả thiện, tạo ác nghiệp nhất định chiêu quả khổ. Cho nên đức Phật dạy chúng ta phải viễn ly tham sân si. Khởi tham sân si là tạo ác nghiệp cực trọng, chiêu cảm đến quả báo. Nhiều người trên thế gian có phước báu. Phước báu đó là quả của tâm thiện, hành thiện tạo tác nghiệp thiện. Đức Phật đã dạy, đoạn ác tu thiện thì nghiệp báo có thể thay đổi. Tiên sinh Viên Liễu Phàm, triều nhà Minh, nhờ thông suốt đạo lý nhân quả này mà cả đời không những có thể chuyển đổi vận mạng chính mình mà còn cầu được tài, được con, và được công danh. “Phật thị môn trung, hữu cầu tất ứng” quả thực không sai.
Thế nhưng cầu nguyện có đạo lý của cầu nguyện. Như lý như pháp mà cầu, nhất định sẽ đạt. Vậy, thế nào gọi là như lý như pháp mà cầu? Chúng ta khởi tâm động niệm vì hạnh phúc của tất cả chúng sinh, không chỉ riêng lẻ vì chính mình. Chẳng hạn, chúng ta cầu tài vì mục đích giúp đỡ chúng sinh khổ nạn, lời nguyện cầu phát tài này là hợp lý, nên sẽ được cảm ứng. Còn cầu phát tài cho chính mình hưởng thụ sẽ không thể cảm ứng. Chư Phật bồ tát thành tựu việc thiện cho người, giúp người làm việc tốt, chứ không giúp người làm việc ác. Giúp tạo ác nghiệp, chỉ có ma, không phải là Phật.
Chúng tôi những năm đầu khi vừa mới ra giảng kinh, pháp sư Đức Dung ở Đài Loan thường đến nghe giảng kinh, hiện tại vị pháp sư này đã qua đời. Khi đó, một hôm ông hỏi chúng tôi: “pháp sư Tịnh Không, ngài thường hay nói ‘Phật thị môn trung, hữu cầu tất ứng’, bản thân tôi cảm thấy hoài nghi. Tôi đã từng hướng đến bồ tát Địa Tạng cầu xin một cái tủ lạnh, nhưng đã ba năm vẫn chưa có”. Chúng tôi liền hỏi ông ấy: “xin hỏi đạo tràng của thầy ở bao nhiêu chúng vậy?” Ông nói chỉ có một mình ông. Chúng tôi liền nói: “không cần thiết, nếu tôi là bồ tát Địa Tạng cũng sẽ không cho, vì chỉ có một mình ông thì không cần thiết”. Chúng ta vì đại chúng, thì sự mong cầu này là hợp lý, còn để một mình hưởng thụ mà mong cầu là sai.
Bản thân chúng tôi học Phật nhiều năm kiểm nghiệm xác xác thực thực “hữu cầu tất ứng”. Cái mong cầu của chúng tôi không phải là tủ lạnh, mà là kinh sách. Chúng tôi muốn đọc những kinh sách nào, chỉ cần trong lòng nghĩ đến, thì khoảng một hai tháng liền sẽ có người đưa đến, cảm ứng rất tốt. Chúng tôi nhớ được thời gian linh ứng dài nhất là nửa năm. Khi đó trong lòng chúng tôi muốn tìm một bộ Trung Quán Luận Sớ, chúng tôi nhờ người tìm giúp nhưng đến nửa năm mới tìm được, chân thật “hữu cầu tất ứng”. Chúng ta xuất gia vì muốn thâm nhập kinh tạng, vì để hoằng pháp lợi sinh, do đó kinh điển là sách tham khảo trọng yếu, quyết không phải là nhu cầu xa xỉ, cũng không vì chính mình, cho nên cảm ứng không thể nghĩ bàn.
Câu hỏi 11: Vì sao xướng tụng Phật hiệu càng lớn tiếng thì đầu càng bị đau nhức, lúc còn muốn nôn, lúc thì bỗng dưng chảy nước mắt? Có phải do còn vô minh ngu si, nghiệp chướng sâu nặng, mà chiêu cảm ra như vậy?
Ngoài khả năng mắc chứng bệnh đau đầu, đây cũng có thể xem là nghiệp chướng. Niệm Phật thường không những không bị đau đầu, mà càng niệm tinh thần càng tốt, càng hoan hỉ. Niệm đến pháp hỉ sung mãn, người niệm Phật có thể không buồn ngủ không mệt mỏi, thiền tông gọi là “thiền duyệt vi thực”, có nghĩa người niệm Phật trì tụng là ăn. Do đó chúng ta niệm Phật mà hiệu quả trái ngược thì phải phản tỉnh, kiểm thảo chính mình. Nhất định vì chúng ta tu không đúng pháp, hoặc lý luận không thấu triệt, trong lòng còn hoài nghi. Đối với pháp môn niệm Phật “tín hạnh nguyện” đều nghi hoặc, miễn cưỡng mà niệm, hoặc khổ sở mà niệm thì sẽ không có giá trị. Còn đạo lý thông suốt, niệm Phật tự nhiên sinh tâm hoan hỉ.
Câu hỏi 12: Niệm Phật có thể chuyển được định nghiệp hay không ?
Niệm Phật chuyển đổi được định nghiệp phải niệm đến lý “nhất tâm bất loạn”. Công phu cạn có thể chuyển được nghiệp thô trọng. Công phu sâu không những có thể chuyển được nghiệp vi tế mà đến định nghiệp cũng có thể chuyển. Bách Trượng đại sư thời xưa đã từng nói “bất muội nhân quả”, bất muội nhân quả chính là chúng ta chuyển được định nghiệp. Thế nhưng phải nên biết, không thể tiêu trừ định nghiệp, chúng ta chỉ có thể chuyển định nghiệp, chuyển ác thành thiện, chuyển mê thành ngộ, chuyển phàm thành thánh. Câu Phật hiệu đích thực hiệu quả như vậy.
Câu hỏi 13: Vì sao có lúc trong đầu có cảm giác như kéo tơ bóc kén, càng tịnh để niệm Phật thì hiện tượng này càng mãnh liệt?
Tình trạng này thuộc về nghiệp chướng. Nếu gặp phải tình huống này hoặc tương tự thì không nên lo sợ, phải tập trung tinh thần ý chí, càng chăm chỉ nỗ lực niệm Phật, liều mạng mà niệm, phải đột phá chướng ngại này. Chướng nạn có thể dựa vào gia trì oai thần bổn nguyện cuả Phật Bồ Tát, chúng ta thành tâm thành ý niệm sẽ được Phật lực gia trì. Lúc đó dù không thể tiêu trừ nhưng nghiệp chướng nhất định có thể giảm nhẹ.
Câu hỏi 14: Tín ngưỡng tôn giáo khác có thể tu tâm thanh tịnh và tâm chí thành không? Có thể thoát khỏi luân hồi không?
Tín ngưỡng tôn giáo khác cũng có thể được tâm thanh tịnh, cũng có thể được tâm chân thành nhưng không dễ dàng thoát khỏi sáu cõi. Trong kinh Phật giải đáp rất đơn giản, bởi vì chúng ta không mất đi cái “ngã”. Còn “ngã” là còn tự tư tự lợi, tâm tuy thanh tịnh nhưng không thuần tịnh, tâm tuy chân thành nhưng chân thành đó cũng phân ra rất nhiều đẳng cấp. Chúng ta chưa đạt đến đẳng cấp nhất định, cho nên chúng ta tu có thể được thiên đạo, có thể sinh thiên nếu tu tâm thanh tịnh, tu tâm chí thành; có thể đến cõi trời sắc giới, cõi trời sơ thiền, cõi trời nhị thiền, tam thiền, tứ thiền; tâm địa thanh tịnh hơn có thể sinh đến cõi trời tứ thiền nhưng chắc chắn không thể siêu việt sáu cõi luân hồi. Nếu dễ dàng vượt khỏi sáu cõi luân hồi, Thích Ca Mâu Ni Phật nhất định sẽ không đến thế gian. Phật đến thế gian này vì để giúp chúng sinh siêu việt sáu cõi. Rất nhiều tôn giáo nói về vũ trụ nhân sinh, nói được lẽ đương nhiên nhưng không thể nói được lẽ dĩ nhiên của nó. Hãy sơ lược lướt qua kinh luận của các tôn giáo khác sẽ hiểu rõ việc này.
Câu hỏi 15: Làm thế nào mới có thể đạt năng lực điều phục phiền não?
Khởi mong muốn dụng tâm hàng phục phiền não, ý niệm này là chánh niệm, là thỉ giác, chứng tỏ người đó bắt đầu giác ngộ. Phiền não từ tự tư tự lợi mà sinh ra, cũng đều từ sợ được sợ mất mà sinh. Chúng ta có thể buông bỏ tự tư tự lợi, mỗi niệm vì người khác thì phiền não sẽ liền được giảm, được mất của cá nhân không còn nữa. Hãy sống ở thế gian này một lòng một dạ vì đại chúng xã hội, vì tất cả chúng sinh mà phục vụ. Cư sĩ Lý Mộc Nguyên là nhân vật điển hình, mỗi ngày từ sớm đến tối ông bận bù đầu bù cổ, không có phiền não vì tất cả sự bận rộn đều vì người khác, không phải là việc của chính mình. Thành quả viên mãn tất mang phước báu đến cho mọi người. Còn không thành công sau khi đã tận tâm tận lực, ông cũng hoan hỉ. Ở Singapore còn có một lão nhân 101 tuổi, chúng ta có thể gọi bà ấy là người thanh niên 101 tuổi. Cả đời bà đều vì sự nghiệp phước lợi xã hội, vì người già, người bệnh, người nghèo khổ phục vụ. Hiện nay bà vẫn đang dấn thân trong trạng thái vui vẻ khó ai bì. Bà không vì chính mình, cho nên không có phiền não, cuộc sống vô cùng hoan hỉ. Hiện tại bà niệm Phật A Di Đà cầu sinh tịnh độ, nếu bà không vãng sinh Tây Phương nhất định sẽ sinh thiên. Điều phục phiền não là chuyển đổi quan niệm, nếu ngày xưa tất cả vì chính mình thì hiện tại tất cả nên vì chúng sinh.
Câu hỏi 16: Trong quá trình tu hành học Phật, có nên dùng tâm thanh tịnh hoan hỉ để tu trì hay không? Học Phật càng nhanh sẽ càng thù thắng hơn không?
Tâm thanh tịnh hoan hỉ là tâm Phật, rất khó được. Khó ở chỗ “thanh tịnh”. Thanh tịnh là hoàn toàn không ô nhiễm. Ngay trong cuộc sống thường ngày, không bị ô nhiễm danh vọng lợi dưỡng, không bị ô nhiễm năm dục sáu trần, tâm chúng ta liền thanh tịnh, thanh tịnh đương nhiên là hoan hỉ.
Thanh tịnh và bình đẳng cũng là một, không phải hai. Nếu không bình đẳng, tâm chúng ta vĩnh viễn không thể thanh tịnh, vì tâm có cao thấp. Trong pháp bình đẳng được thanh tịnh, trong pháp thanh tịnh được đầy đủ bình đẳng, tâm hoan hỉ liền hiện tiền. Phật pháp thường nói “tùy duyên mà không phan duyên”. Tâm tùy duyên là thanh tịnh, là bình đẳng; tâm phan duyên thì không thanh tịnh, không bình đẳng. Ngay trong cuộc sống thường ngày, chúng ta ăn bất cứ thứ gì cũng đều giống nhau, đều hoan hỉ, không lựa chọn. Còn nghĩ rằng thứ này ăn ngon, thứ kia ăn không ngon, như vậy tâm không thanh tịnh, không bình đẳng, không thể sinh hoan hỉ. Ăn ngon thì hoan hỉ, ăn không ngon thì không hoan hỉ, trong cái hoan hỉ này xen tạp không hoan hỉ, cho nên không thể thành tựu. Do đó chúng ta nhất định phải bình đẳng đối với tất cả mọi người, mọi việc, mọi sự vật, không hề dính mắc, không có phân biệt. Phương pháp tu học này, ngay trong một đời nhất định thành tựu.
Câu hỏi 17: Khi bị bệnh, niệm Phật rất tinh tấn, thế nhưng tâm không thể định. Uống thuốc cũng không hết bệnh, cho nên tâm nôn nóng muốn tự sát, phải làm sao?
Không nên tự sát, vì khi tự sát, phiền phức còn lớn hơn. Nên biết, tự sát là tội nghiệp không phải là giải thoát. Nếu tự sát có thể giải thoát thì Thích Ca Mâu Ni Phật hà tất phải xuất thế, phải dày công khó nhọc tu hành đến như vậy, ngài chỉ cần tự sát là xong. Rất nhiều người ở thế gian thường nói: sau khi tự sát, nếu muốn luân hồi đầu thai thì phải tìm thế thân. Như vậy có phiền não không? Nếu không tìm được thế thân, họ muốn đầu thai luân hồi cũng không có cách gì. Hơn nữa tự sát sẽ rất đau khổ, họ ở trong thân trung ấm cách mỗi một khoảng thời gian, hiện tượng tự sát của họ phải diễn lại một lần. Thần thức sau khi tự sát không ngừng lặp lại, ở nơi đó tự mình sẽ diễn lại cảnh tự sát, thống khổ dường nào.
Chúng ta phải nên hiểu rõ chân tướng sự thật này, tự cảm thấy nhân sinh rất khổ, đó là nghiệp báo, các thứ nghiệp bất thiện tạo thành. Cho nên chỉ cần đoạn ác tu thiện như trong quyển Liễu Phàm Tứ Huấn. Chúng tôi thường khuyên các đồng tu sơ học, khi vừa bắt đầu nên đem Liễu Phàm Tứ Huấn đọc qua ba trăm lần, mỗi ngày đọc một lần, cho đủ một năm. Khi đó ấn tượng của chúng ta sẽ rất sâu, chúng ta mới hiểu rõ đạo lý và sự thật của nhân quả báo ứng, liền biết làm thế nào để thay đổi vận mạng. Đại sư Ấn Quang cả đời đề xướng quyển sách này. Dụng ý của ngài muốn khuyên chúng ta nên nghĩ rộng hơn, đó là cứu vãn kiếp vận của hiện tại. Bộ sách không triết lý sâu xa khó hiểu, người thông thường chúng ta đều có thể hiểu, đều có thể thể hội. Nó là tập hợp tinh hoa của thánh nhân thế xuất thế gian, những ví dụ bên trong rất nhiều, chúng ta nên cố gắng học tập.
“Bị bệnh niệm Phật rất tinh tấn, nhưng tâm không định”. Tâm đã không định thì đó không phải là tinh tấn. Tinh tấn, tâm nhất định là thanh tịnh. Nếu uống thuốc mà bệnh không hết, đó là vì không có lòng tin đối với thuốc, đối với bác sĩ, đương nhiên đối với Phật lại càng không có lòng tin. Tín tâm là then chốt, nhà Phật thường nói “tất cả pháp từ tâm tưởng sinh”, đạo lý này rất sâu, nó đích thực là chân tướng sự thật, thế xuất thế pháp đều từ tâm tưởng sinh.
Câu hỏi 18: Phật phóng quang có màu sắc gì? Đến khi vãng sinh thấy được ánh sáng màu gì thì theo Phật đi?
Ánh sáng của Phật phóng ra là viên mãn. Mở đầu kinh Địa Tạng, đức Phật phóng quang “đại quang minh vân”. Chúng ta thấy được màu sắc gì? Căn tánh, cơ duyên của mỗi người không giống nhau, cho nên mọi người nhìn thấy cũng đều không giống nhau, thậm chí nhìn sắc tướng của Phật, ánh sáng của Phật cũng không như nhau. Tâm tưởng không giống nhau, chẳng phải là tùy tâm tưởng sinh? Năm 1982 lần đầu tiên pháp sư Thánh Nhất ở Đại Dữ Sơn, Hong Kong trở về tổ quốc, đã đến bái thánh ở Phổ Đà Sơn. Họ gồm ba vị pháp sư đến Phổ Đà Sơn Triều Am động, lễ lạy bồ tát Quán Thế Âm. Lễ lạy đến nửa giờ thì bồ tát Quán Thế Âm thị hiện. Cả ba người đều rất vui mừng. Sau khi rời khỏi, họ đã hỏi nhau, bồ tát Quán Thế Âm thị hiện dáng vẻ thế nào? Pháp sư Thánh Nhất nhìn thấy sắc vàng, đội mão Tỳ Lô, giống như mão của bồ tát Địa Tạng, tay cầm tích trượng. Một vị pháp sư khác nhìn thấy bồ tát Quán Thế Âm mặc y phục trắng như hình vẽ thông thường mà chúng ta vẫn tôn tượng. Vị pháp sư thứ ba nhìn thấy là hình tướng một vị tỳ kheo, trên tay cầm tích trượng.
Hình tướng mà ba người nhìn thấy đều không giống nhau, hào quang cũng không giống nhau. Cho nên, không nhất định là nhìn thấy sắc gì, hào quang như thế nào. Đến lúc lâm chung, chúng ta nhìn thấy Phật A Di Đà sẽ rất rõ ràng, tường tận, đó là thật, không phải là giả. Ngay lúc lâm chung, nhìn thấy các vị Phật Bồ Tát khác đến tiếp dẫn, đừng đi theo họ, nhất định phải nhìn thấy Phật A Di Đà đến tiếp dẫn, mới nên đi theo. Đến khi đó dáng vẻ của Phật A Di Đà ra sao, chính mình liền biết được. Hiện tại chúng tôi không thể dự đoán trước. Nếu dự đoán nói trước thì quý vị không thể vãng sinh. Vì khi chấp mắc vào hình tướng đã đoán trước, chúng ta suốt ngày nghĩ tưởng, phiền phức xuất hiện. Đến lúc lâm chung, chúng ta sẽ được Phật Bồ Tát gia bị, tự nhiên sẽ nhận biết được rõ ràng minh bạch, không thể sai lầm.
[Chùm ảnh] Ngộ nghĩnh, dễ thương chú Tiểu mới cạo đầu
Friday, August 6, 2010 5:51:16 AM
- Ngày 3/5/2010 vừa qua, tại chùa Chogye ( Seoul, Hàn Quốc), 8 chú bé đã được nhà Chùa cạo tóc để trải nghiệm cuộc sống nhà sư trong thời gian 21 ngày.
- Hàng năm, một nhóm trẻ nhỏ sẽ vào chùa Chogye ở thủ đô Seoul để trở thành những "tiểu tăng" tạm thời nhằm kính mừng ngày Phật đản. Vào ngày 3/5 năm nay, 8 em đã vào chùa và được cạo đầu để học nhiều hơn về Phật pháp. Các em sẽ ở trong chùa 21 ngày.
- Chogye là ngôi chùa lớn duy nhất nằm trong khu vực thành cổ của Seoul. Được xây dựng vào năm 1910, ngôi chùa trở thành Tổ đình Chogye - một tổ đình lớn của Phật giáo Hàn Quốc năm 1936.
Buổi lễ được tổ chức để chào mừng Đại lễ Phật đản, được tổ chức vào ngày 21/5 tới. Xin giới thiệu chùm ảnh đặc biệt về sự kiện này:

8 cậu bé được cạo đầu trong một buổi lễ cúng dàng ngày Đức Phật đản sinh, được tổ chức vào ngày 21/5
Các em làm lễ trước khi được cạo đầu

Vẻ đẹp không thể diễn tả bằng lời. Chú tiểu Hyun Su, bên trái đang nhìn vào các bạn khác trong buổi lễ tại chùa Chogye ở thủ đô Seoul hôm 3/5.][/SIZE

Cố lên


Chú tiểu Hyun Bong đang cố gắng chạy trốn

Các chú tiểu mới sẽ trải nghiệm đời sống tu hành trong 21 ngày
.jpg)

Nhà sư đang châm hương lên tay của chú tiểu mới vào chùa

Á!

ôi thật dễ chịu.

Huynh khóc xí quá:p

Mẹ ơi! Mẹ đâu rồi

Um. Cuộc sống của ta giờ thế này sao:awww:

sao zậy huynh? mình cạo đầu xong rồi mà



Một "Tiểu tăng" đang trầm tư về cuộc sống trong 3 tuần tới

Con nín đi, Mẹ sẽ thường xuyên vào thăm con.

Mẹ đừng lo cho con. Con biết phải làm thế nào khi không có mẹ mà.

Ô hô,có ai đang chụp tụi mình kìa

Thôi kệ mọi chuyện rồi cũng sẽ qua.hihi:lol:
- Hàng năm, một nhóm trẻ nhỏ sẽ vào chùa Chogye ở thủ đô Seoul để trở thành những "tiểu tăng" tạm thời nhằm kính mừng ngày Phật đản. Vào ngày 3/5 năm nay, 8 em đã vào chùa và được cạo đầu để học nhiều hơn về Phật pháp. Các em sẽ ở trong chùa 21 ngày.
- Chogye là ngôi chùa lớn duy nhất nằm trong khu vực thành cổ của Seoul. Được xây dựng vào năm 1910, ngôi chùa trở thành Tổ đình Chogye - một tổ đình lớn của Phật giáo Hàn Quốc năm 1936.
Buổi lễ được tổ chức để chào mừng Đại lễ Phật đản, được tổ chức vào ngày 21/5 tới. Xin giới thiệu chùm ảnh đặc biệt về sự kiện này:

8 cậu bé được cạo đầu trong một buổi lễ cúng dàng ngày Đức Phật đản sinh, được tổ chức vào ngày 21/5
Các em làm lễ trước khi được cạo đầu

Vẻ đẹp không thể diễn tả bằng lời. Chú tiểu Hyun Su, bên trái đang nhìn vào các bạn khác trong buổi lễ tại chùa Chogye ở thủ đô Seoul hôm 3/5.][/SIZE

Cố lên


Chú tiểu Hyun Bong đang cố gắng chạy trốn

Các chú tiểu mới sẽ trải nghiệm đời sống tu hành trong 21 ngày
.jpg)

Nhà sư đang châm hương lên tay của chú tiểu mới vào chùa

Á!

ôi thật dễ chịu.

Huynh khóc xí quá:p

Mẹ ơi! Mẹ đâu rồi

Um. Cuộc sống của ta giờ thế này sao:awww:

sao zậy huynh? mình cạo đầu xong rồi mà



Một "Tiểu tăng" đang trầm tư về cuộc sống trong 3 tuần tới

Con nín đi, Mẹ sẽ thường xuyên vào thăm con.

Mẹ đừng lo cho con. Con biết phải làm thế nào khi không có mẹ mà.

Ô hô,có ai đang chụp tụi mình kìa

Thôi kệ mọi chuyện rồi cũng sẽ qua.hihi:lol:
Ấn Quang Đại Sư khai thị pháp môn Niệm Phật
Friday, August 6, 2010 5:06:16 AM
"Ðại Giác Thế Tôn thương các chúng sanh mê trái tự tâm, luân hồi lục đạo, trải bao kiếp dài lâu chưa thể thoát ra. Do vậy, Ngài hưng khởi Vô Duyên Từ, vận lòng bi đồng thể, thị hiện sanh trong thế gian, thành Ðẳng Chánh Giác, tùy thuận cơ nghi nói rộng các pháp. Nói đại cương, gồm có năm tông. Năm tông gì? Là Luật, là Giáo, là Thiền, là Mật, là Tịnh.
Luật là thân Phật, Giáo là lời Phật, Thiền là tâm Phật. Sở dĩ Phật được gọi là Phật chỉ là do ba pháp này mà thôi. Sở dĩ đức Phật độ sanh cũng chỉ là do ba pháp này. Nếu chúng sanh thật sự có thể nương theo Luật, Giáo, Thiền tu trì thì ba nghiệp của chúng sanh sẽ chuyển thành ba nghiệp của chư Phật. Ba nghiệp đã chuyển thì phiền não chính là Bồ Ðề, sanh tử chính là Niết Bàn.
Lại sợ túc nghiệp sâu nặng chẳng thể dễ chuyển nên dùng sức đà-ra-ni tam mật gia trì để un đúc. Hoặc lại sợ rằng căn khí kém cỏi, chưa được giải thoát, phải thọ sanh lần nữa sẽ khó tránh khỏi mê lầm; vì thế đặc biệt mở ra một môn tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ, ngõ hầu dù thánh hay phàm đều cùng vãng sanh Tây Phương ngay trong đời này. Bậc thánh thì mau chứng Vô Thượng Bồ Ðề, kẻ phàm thì vĩnh viễn thoát khỏi sanh tử trói buộc. Do dựa vào từ lực của Phật nên công đức, lợi ích chẳng thể nghĩ bàn.
Nên biết rằng: Luật là nền tảng của Giáo, Thiền, Tịnh, Mật. Nếu chẳng nghiêm trì giới cấm sẽ chẳng thể đạt được lợi ích chân thật nơi Giáo, Thiền, Tịnh, Mật. Như lầu cao vạn trượng, nếu nền móng chẳng vững thì chưa cất xong đã sụp. Tịnh là chỗ quy túc của Giáo, Thiền, Tịnh, Mật, như trăm sông, vạn dòng đều đổ vào biển cả.
Bởi lẽ, pháp môn Tịnh Ðộ là pháp môn để mười phương chư Phật trên thành Phật đạo, dưới độ chúng sanh, thành thỉ, thành chung. Vì thế trong phẩm Nhập Pháp Giới kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài được ngài Phổ Hiền gia bị, khai thị, chứng được Ðẳng Giác. Ðức Phổ Hiền lại khuyên Thiện Tài nên phát mười đại nguyện vương, hồi hướng vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới ngõ hầu mau viên mãn Phật Quả. Ngài lại dùng pháp này phổ khuyến toàn bộ Hoa Tạng đại chúng [nên tu tập như thế].
Trong Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh, phần nói về Hạ Phẩm Hạ Sanh, hạng người ngũ nghịch thập ác, sắp đọa địa ngục A Tỳ, được thiện tri thức dạy cho niệm Phật, niệm mười tiếng hoặc chỉ niệm mấy tiếng là mạng chung, cũng vẫn được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương.
Xem đó thì trên từ bậc Ðẳng Giác Bồ Tát chẳng thể ra khỏi pháp này, dưới đến kẻ tội ngũ nghịch, thập ác cũng có thể chứng nhập pháp này. Công đức, lợi ích của pháp môn đây vượt trỗi hơn [các giáo pháp khác trong] cả một đời giáo hóa của Ðức Phật. Bởi lẽ, các giáo pháp khác toàn dạy dùng tự lực để thoát ly sanh tử. Kẻ chưa đoạn Hoặc, nương vào từ lực của Phật liền có thể đới nghiệp vãng sanh. Kẻ đã đoạn Hoặc nếu nương theo từ lực của Phật sẽ chóng chứng được phẩm vị cao.
Vì thế, đây là một pháp môn đặc biệt nhất trong cả một đời giáo hóa của Ðức Phật, chẳng thể dùng những giáo pháp thông thường để bàn luận pháp này được! Do đó, các kinh Ðại Thừa như kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa v.v..., các đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền...; các đại tổ sư như Long Thọ, Mã Minh... đều hiển thị, xiển dương, khen ngợi, chỉ dạy, phổ khuyến vãng sanh."
"Một pháp Niệm Phật là cậy vào Phật lực để thoát tam giới, sanh về Tịnh Ðộ. Nay đã chẳng phát nguyện thì có tín chăng? (Người tin thật sự ắt sẽ phát nguyện tha thiết). Tín nguyện đều không, chỉ niệm Phật danh thì thuộc về Tự Lực. Vì không tín nguyện nên chẳng thể cảm ứng đạo giao cùng hoằng thệ của đức Di Ðà. Nếu đã hết Kiến Tư Hoặc, có lẽ được vãng sanh. Còn nếu hoàn toàn chưa đoạn hay chưa đoạn hết sạch thì nghiệp căn vẫn còn, làm sao thoát ngay khỏi luân hồi cho được? Ngũ Tổ Giới Diễn, Thảo Ðường Thanh v.v... chính là những chứng cớ xác thực.
Phải biết rằng không có tín nguyện mà niệm Phật sẽ chẳng khác gì tham cứu bên Tông, bên Giáo. Dù có được vãng sanh nhưng nhân quả chẳng phù hợp với nhau! Ngài Ngẫu Ích nói: “Ðược vãng sanh hay không toàn là do có tín nguyện hay không. Phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Ðấy chính là phán định chắc như sắt vậy.
Ðã có lòng tin chân thành, nguyện thiết tha thì hãy nên tu chánh hạnh Niệm Phật. Lấy Tín - Nguyện để dẫn đường, lấy niệm Phật làm chánh hạnh. Ba thứ Tín - Nguyện - Hạnh chính là tông yếu của pháp môn Niệm Phật. Có Hạnh nhưng không có Tín - Nguyện sẽ chẳng thể vãng sanh. Có Tín - Nguyện nhưng thiếu Hạnh cũng chẳng thể vãng sanh. Ba thứ Tín - Nguyện - Hạnh đầy đủ không thiếu sẽ quyết định được vãng sanh. Ðược vãng sanh hay không toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do công trì danh sâu hay cạn.
Về chánh hạnh niệm Phật nên tùy sức mỗi người mà lập, chẳng thể chấp chặt một bề. Nếu thân mình không bận việc, cố nhiên nên từ sáng đến tối, từ đêm đến sáng, đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, im lặng, động, tịnh, ăn cơm, mặc áo, đại tiện, tiểu tiện, trong hết thảy thời, hết thảy chỗ, giữ sao cho một câu hồng danh thánh hiệu chẳng rời tâm, miệng! Nếu rửa ráy, súc miệng thanh tịnh, áo mũ chỉnh tề và nơi chốn thanh tịnh thì niệm Phật ra tiếng hoặc niệm thầm đều được cả.
Còn lúc ngủ nghỉ, lúc thân hình hở hang, tắm gội, đại tiểu tiện, cũng như khi đến chỗ dơ bẩn chẳng sạch, chỉ nên thầm niệm, đừng niệm ra tiếng. Thầm niệm cũng có cùng một công đức [với niệm ra tiếng]. Niệm ra tiếng chẳng cung kính. Chớ bảo ở những chỗ ấy chẳng thể niệm Phật. Phải biết là ở những nơi ấy, chẳng được niệm ra tiếng mà thôi. Hơn nữa, lúc nằm ngủ nếu niệm ra tiếng chẳng những không cung kính lại còn bị tổn khí. Chẳng thể không biết điều này
Một pháp Niệm Phật chính là diệu pháp bậc nhất để bỏ trần lao, quay về giác, phản bổn quy nguyên. Ðối với người tại gia, pháp này lại càng thân thiết. Vì người tại gia, thân trong lưới trần, công việc đa đoan, đối với những việc như nhiếp tâm tham thiền, tụng kinh trong tịnh thất... do hoàn cảnh sẽ chẳng làm được nổi hoặc chẳng đủ sức. Chỉ có mình pháp Niệm Phật là thuận tiện nhất.
Sáng tối đối trước Phật, tùy phận, tùy sức lễ bái, trì niệm, hồi hướng, phát nguyện. Ngoài ra thì đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, im lặng, động, tịnh, mặc áo, ăn cơm, hết thảy thời, hết thảy chỗ đều niệm được cả. Nhưng ở nơi sạch sẽ, lúc cung kính thì niệm ra tiếng hay niệm thầm đều được. Còn như ở những nơi chẳng sạch sẽ (như vào nhà tiêu chẳng hạn) hoặc nhằm lúc chẳng cung kính (chẳng hạn như đang nằm ngủ, tắm gội...) chỉ nên niệm thầm, chẳng nên niệm ra tiếng, chứ chẳng phải là ở những chỗ ấy, nhằm lúc ấy, không được niệm!
Nằm ngủ niệm ra tiếng thì chẳng những không cung kính, lại còn bị tổn khí, lâu ngày thành bệnh. Công đức niệm thầm giống hệt công đức niệm bình thường. Ấy là: “Niệm ở đâu sẽ ở đó. Ngay thẳng cũng do đấy, mà điên đảo cũng bởi đấy”.
Pháp môn Tịnh Ðộ lý cực cao sâu, sự cực giản dị. Do vậy, người thiên tư thông mẫn, tri kiến cao siêu thường xem Tịnh Ðộ là pháp tu của bọn ngu phu, ngu phụ, chẳng chịu tu trì. Nào biết đây là pháp môn rốt ráo để mười phương tam thế hết thảy chư Phật, trên thành Phật đạo, dưới độ chúng sanh, thành thỉ, thành chung. Họ thấy kẻ ngu phu, ngu phụ tu được pháp này bèn coi thường, sao chẳng xét trong hội Hoa Nghiêm, bậc đã chứng bằng với Phổ Hiền, bằng với chư Phật, vẫn phải dùng mười đại nguyện vương hồi hướng vãng sanh Tây Phương Cực Lạc ngõ hầu viên mãn Phật Quả? Miệt thị pháp môn Tịnh Ðộ chẳng chịu tu là coi những vị trong hội Hoa Nghiêm thuộc hạng người gì? Chỗ quy tông cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm có đáng nên tôn trọng hay nên coi thường đây? "
"Hết thảy chúng sanh vốn sẵn có trí huệ, đức tướng Như Lai. Chỉ do mê chân theo vọng, quay lưng với Giác, xuôi theo trần lao, nên toàn thể chuyển thành phiền não, ác nghiệp. Vì thế phải trải bao kiếp dài lâu, luân hồi sanh tử. Như Lai thương xót giảng ra các pháp khiến họ bỏ vọng quy chân, ngoảnh mặt với trần lao, xuôi theo giác ngộ, khiến cho toàn thể phiền não ác nghiệp lại trở thành trí huệ, đức tướng. Từ đây cho đến cùng tột đời vị lai, an trụ trong cõi Thường Tịch Quang. Khác nào nước đóng thành băng, băng lại tan thành nước, thể vốn chẳng khác, nhưng công dụng thực khác nhau một trời một vực.
Nhưng căn cơ chúng sanh có Tiểu, có Ðại, mê có cạn, có sâu; Phật tùy thuận cơ nghi của mỗi người khiến ai nấy đều được lợi ích. Pháp môn Ngài nói ra mênh mông như Hằng sa, nhưng cầu lấy pháp chí viên, chí đốn, tối diệu, tối huyền, hạ thủ dễ, thành công cao, dùng sức ít được hiệu quả nhanh, độ khắp ba căn, thống nhiếp các pháp, thượng thánh hạ phàm cùng chung tu, đại cơ cùng tiểu căn cùng lãnh thọ được thì không gì thù thắng, siêu tuyệt bằng pháp môn Tịnh Ðộ. Vì sao nói thế?
Hết thảy pháp môn tuy đốn - tiệm khác nhau, quyền - thật đều khác, nhưng đều phải dụng công tu tập sâu xa mới hòng đoạn Hoặc, chứng chân, xuất ly sanh tử, siêu phàm nhập thánh. Ðó gọi là cậy vào tự lực, không nương dựa vào điều gì khác cả. Nếu như còn chút Hoặc chưa tận thì vẫn bị luân hồi như cũ. Ðấy đều là các pháp phải thấu đạt lý rất sâu, chẳng dễ tu tập. Nếu chẳng phải hạng sẵn có linh căn từ trước, đời này thật khó lòng chứng nhập.
Chỉ có mình pháp môn Tịnh Ðộ, chẳng luận là phú quý hay bần tiện, già, trẻ, gái, trai, trí, ngu, tăng, tục, sĩ, nông, công, thương, hết thảy hạng người đều tu tập được là do đại bi nguyện lực của đức A Di Ðà Phật nhiếp thủ chúng sanh khổ não cõi Sa Bà. Vì thế, so với các pháp môn khác, tu Tịnh Ðộ đắc quả dễ dàng hơn.
Một niệm tâm tánh của chúng sanh và một niệm tâm tánh của Phật chẳng hai. Tuy còn mê chưa giác, khởi Hoặc tạo nghiệp, gây đủ các tội, Phật tánh sẵn có vẫn không bị tổn thất. Ví như ma-ni bảo châu vứt nhà xí, sánh cùng phẩn uế trọn chẳng khác gì. Kẻ ngu chẳng biết là báu, coi hệt như phẩn uế. Người trí biết là diệu bảo vô giá, chẳng hiềm ô uế, vào trong nhà xí nhặt lên, dùng đủ mọi cách gột rửa cho sạch. Sau đó, treo lên tràng cao, liền phóng đại quang minh, tùy lòng người muốn gì đều tuôn khắp các thứ báu. Bởi đó kẻ ngu mới biết là quý báu.
Ðại Giác Thế Tôn thấy các chúng sanh cũng giống như vậy: do hôn mê, đảo, Hoặc, gây đủ ngũ nghịch, thập ác, vĩnh viễn đọa trong đường ác tam đồ; Phật không hề có tâm niệm vứt bỏ, luôn tìm kiếm cơ duyên, hiển nhiên hoặc ngầm gia bị cho, vì họ thuyết pháp, mong họ giũ sạch Hoặc nghiệp huyễn vọng, ngộ Phật tánh chân thường, mãi cho đến khi viên chứng Vô Thượng Bồ Ðề mới thôi. Ðối với kẻ tội tày đình, ác cùng cực cũng vẫn như vậy. Với kẻ tội nghiệp ít, dạy cho tu Giới và Thiện. Với người có sức thiền định sâu, không một ai là chẳng [được Phật hóa độ] như vậy. "
"Pháp môn Tịnh Ðộ độ khắp ba căn, chính là để tiếp độ căn khí thượng thượng, kiêm tiếp dẫn hạng trung hạ căn. Kẻ ngu thường hay chê là pháp thiển cận, Tiểu Thừa; nói chung là vì chẳng xem kinh luận Ðại Thừa, chưa phải là người thông suốt có đủ con mắt. Chỉ dùng cái tâm điên đảo, chấp trước của mình để suy lường đạo nguyên thủy trọng yếu, chung cục của Như Lai. Như kẻ mù ngó mặt trời, như người điếc nghe sấm, đương nhiên chẳng thấy, chẳng nghe, chỉ đành suy luận vọng tưởng!
Phải biết một pháp tín nguyện niệm Phật là do Như Lai vì bi tâm triệt để phổ độ chúng sanh mà tuyên thuyết. Chỉ có các vị Bồ Tát như Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền mới có thể rốt ráo đảm đương. Bọn họ thấy ngu phu, ngu phụ đều niệm Phật được bèn coi là pháp Tiểu Thừa thiển cận, khác nào ngôi sao bé chỉ chiếm lãnh được khoảng trời nhỏ, con trùng bé chỉ bò được khoảng đất hẹp!
Nếu tin tưởng được pháp này thì là nhiều kiếp đã trồng sâu thiện căn. Nếu có thể dùng tín nguyện sâu trì danh hiệu Phật, nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối thì cái tâm phàm phu đó biến thành Như Lai Tạng, như người nhiễm hương, thân có mùi thơm. Hiện tại đã tiếp xúc với khí phận của Phật thì lúc lâm chung lại chẳng cảm ứng đạo giao, được Phật tiếp dẫn hay sao?"
Niệm Phật muốn được nhất tâm thì trước hết phải phát tâm chân thật, thật sự vì liễu sanh tử, chẳng phải vì mong người đời gọi mình là người tu hành chân thật. Lúc niệm, từng câu, từng chữ phải từ tâm phát khởi, từ miệng thốt ra, lọt vào tai. Mỗi câu đều như thế, trăm ngàn vạn câu cũng đều như thế. Làm được như thế thì vọng niệm không do đâu khởi được, tâm và Phật tự có thể khế hợp nhau. Lại phải khéo dụng tâm, đừng đến nỗi quá chấp trước để rồi thân tâm bất an, đến nỗi ma sự có thể phát khởi. Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, hành đúng theo đây, nhất định sẽ chẳng lầm lạc.
Ấn Quang Đại Sư
Những Nghịch Lý Từ Cuộc Sống
Sunday, July 25, 2010 6:14:24 AM
Có những điều hiển nhiên đến nỗi bạn không bao giờ bận tâm về nó. Có những điều tưởng chừng như rất nhỏ nhặt và bạn đã không làm từ rất lâu vì nhiều lý do.
Hãy bình tâm ngồi lại, bạn sẽ thấy những điều hiển nhiên ấy, những điều nhỏ nhặt ấy có rất nhiều điều để bạn suy ngẫm lại bản thân.
Chúng ta có ít nhưng xài nhiều, chúng ta mua nhiều nhưng sử dụng ít.
Chúng ta có nhà rộng với mái ấm hẹp; có tiện nghi nhưng ít thời gian.
Chúng ta có nhiều bằng cấp nhưng lại có ít tri thức.
Chúng ta có nhiều kiến thức nhưng lại thiếu sự suy xét.
Chúng ta làm ra những thứ lớn hơn nhưng chưa chắc chất lượng hơn.
Chúng ta làm giàu tài sản nhưng lại làm nghèo giá trị bản thân.
Chúng ta nói quá nhiều, thương yêu quá ít và thường hay ghét người.
Chúng ta kéo dài tuổi thọ nhưng không sống đúng ý nghĩa đích thực của cuộc sống.
Chúng ta chinh phục không gian vũ trụ nhưng lại bỏ trống không gian tâm hồn.
Chúng ta cố làm sạch không khí nhưng lại làm vẫn đục tâm hồn.
Chúng ta biết đường đến mặt trăng nhưng lại quên đường đến nhà người hàng xóm.
Chúng ta xây nhà cao hơn nhưng lại hạ thấp tâm tính; xây đường rộng hơn nhưng lại thu hẹp tầm nhìn.
Chúng ta uống quá nhiều, hút quá nhiều, xài tiền không toán tinh, cười quá ít, lái xe quá nhanh, hay cáu giận; thức khuya để rồi uể oải dậy sớm; đọc quá ít và coi TV quá nhiều.
Chúng ta được học cách phải tiến nhanh về phía trước mà chưa học cách chờ đợi.
Chúng ta được dạy cách kiếm sống chứ không phải cách sống.
Đây là thời đại của thức ăn nhanh và tiêu hoá chậm; của những con người to hơn nhưng nhân cách nhỏ hơn; tài sản rất sâu nhưng tình thương lại cạn.
Đây là thời đại công nghệ có thể đem những điều này đến với bạn, thời đại mà bạn có thể đọc hoặc dễ dàng vứt nó đi.
Hãy nhớ, dành nhiều thời gian hơn cho những người yêu thương bởi vì không chắc rằng họ sẽ ở bên bạn mãi mãi.
Hãy nhớ, nói một lời dịu dàng đối với những người kính trọng bạn bởi vì con người nhỏ bé đó một ngày nào đó sẽ lớn, lớn hơn cả bạn.
Hãy nhớ, một nụ hôn hay một cái ôm từ sâu thẵm con tim có thể sẽ chữa lành những vết thương.
Hãy dành thời gian để yêu thương, để nói chuyện và để chia sẻ những điều quý giá trong tâm hồn bạn.
Bạn nên nhớ ý nghĩa của cuộc sống không được tính bằng độ dài thời gian, nó chỉ có nghĩa trong khoảnh khắc bạn từ bỏ nó.
Hãy bình tâm ngồi lại, bạn sẽ thấy những điều hiển nhiên ấy, những điều nhỏ nhặt ấy có rất nhiều điều để bạn suy ngẫm lại bản thân.
Chúng ta có ít nhưng xài nhiều, chúng ta mua nhiều nhưng sử dụng ít.
Chúng ta có nhà rộng với mái ấm hẹp; có tiện nghi nhưng ít thời gian.
Chúng ta có nhiều bằng cấp nhưng lại có ít tri thức.
Chúng ta có nhiều kiến thức nhưng lại thiếu sự suy xét.
Chúng ta làm ra những thứ lớn hơn nhưng chưa chắc chất lượng hơn.
Chúng ta làm giàu tài sản nhưng lại làm nghèo giá trị bản thân.
Chúng ta nói quá nhiều, thương yêu quá ít và thường hay ghét người.
Chúng ta kéo dài tuổi thọ nhưng không sống đúng ý nghĩa đích thực của cuộc sống.
Chúng ta chinh phục không gian vũ trụ nhưng lại bỏ trống không gian tâm hồn.
Chúng ta cố làm sạch không khí nhưng lại làm vẫn đục tâm hồn.
Chúng ta biết đường đến mặt trăng nhưng lại quên đường đến nhà người hàng xóm.
Chúng ta xây nhà cao hơn nhưng lại hạ thấp tâm tính; xây đường rộng hơn nhưng lại thu hẹp tầm nhìn.
Chúng ta uống quá nhiều, hút quá nhiều, xài tiền không toán tinh, cười quá ít, lái xe quá nhanh, hay cáu giận; thức khuya để rồi uể oải dậy sớm; đọc quá ít và coi TV quá nhiều.
Chúng ta được học cách phải tiến nhanh về phía trước mà chưa học cách chờ đợi.
Chúng ta được dạy cách kiếm sống chứ không phải cách sống.
Đây là thời đại của thức ăn nhanh và tiêu hoá chậm; của những con người to hơn nhưng nhân cách nhỏ hơn; tài sản rất sâu nhưng tình thương lại cạn.
Đây là thời đại công nghệ có thể đem những điều này đến với bạn, thời đại mà bạn có thể đọc hoặc dễ dàng vứt nó đi.
Hãy nhớ, dành nhiều thời gian hơn cho những người yêu thương bởi vì không chắc rằng họ sẽ ở bên bạn mãi mãi.
Hãy nhớ, nói một lời dịu dàng đối với những người kính trọng bạn bởi vì con người nhỏ bé đó một ngày nào đó sẽ lớn, lớn hơn cả bạn.
Hãy nhớ, một nụ hôn hay một cái ôm từ sâu thẵm con tim có thể sẽ chữa lành những vết thương.
Hãy dành thời gian để yêu thương, để nói chuyện và để chia sẻ những điều quý giá trong tâm hồn bạn.
Bạn nên nhớ ý nghĩa của cuộc sống không được tính bằng độ dài thời gian, nó chỉ có nghĩa trong khoảnh khắc bạn từ bỏ nó.
Thiệp Thỉnh - Mời Lễ Chung Thất HT Thích Quảng Tâm
Thursday, July 22, 2010 12:45:46 AM
Thiệp Thỉnh - Mời Lễ Chung Thất HT Thích Quảng Tâm
Viện Chủ Tu Viện Vĩnh Đức - Tp. Sài Gòn
Trụ Trì Tổ Đình Sắc Tứ Từ Lâm - Quảng Ngãi.
.
.
BAN CHỨNG MINH - BAN TỔ CHỨC - BAN CÔNG TÁC
LỄ CHUNG THẤT
HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG TÂM
Viện Chủ Tu Viện Vĩnh Đức - Tp.Hồ Chí Minh
Trụ Trì Tổ Đình Sắc Tứ Từ Lâm - Quảng Ngãi
Ngày 9 - 10/6/Canh Dần (nhằm 20-21/7/2010)
-----oOo-----
I. BAN CHỨNG MINH:
1. Hòa thượng THÍCH HIỂN TU – Thành viên HĐCMTW. GHPGVN
2. Hòa thượng THÍCH TẮC AN – Thành viên HĐCMTW. Chứng minh BĐDPG Q.2,Q.9,Q.TĐ
3. Hòa thượng THÍCH VIÊN GIÁC – Thành viên HĐCMTW. Tr. Ban Tăng Sự THPG. Tp.HCM
4. Hòa thượng THÍCH TRÍ QUẢNG – Phó Chủ tịch HĐTS HGPGVN, Trưởng BTS THPG Tp.HCM
5. Hòa thượng THÍCH TỊNH HẠNH – Uỷ viên HĐTSTW. Phó BTS THPG Tp.HCM
6. Hòa thượng THÍCH NHƯ TÍN – Phó Trưởng Ban Tăng Sự THPG. Tp.HCM, Trưởng Chi phái Lâm Tế Chúc Thánh phía Nam.
7. Hòa thượng THÍCH GIÁC LAI – Chứng minh Ban ĐDPG Quận 2
8. Hòa thượng THÍCH AN TẠNG – Chứng minh BQTMP.Tổ đình Sắc Tứ Từ Lâm Quảng Ngãi
II. BAN TỔ CHỨC:
Trưởng ban:
Hòa thượng THÍCH THIỆN TÁNH
Ủy viên Kiểm Soát HĐTS, Phó trưởng ban Thường trực BTS THPG Tp. Hồ Chí Minh
Phó ban:
Hòa thượng THÍCH THIỆN MINH
Hòa thượng THÍCH ĐẠT NIỆM
Thượng tọa THÍCH HUỆ CẢNH
Thượng tọa THÍCH TRUNG PHÚ
Thượng tọa THÍCH VIÊN CHÁNH
Thượng tọa THÍCH GIÁC LIÊM (Điều hành tổng quát)
Đại đức THÍCH QUẢNG HUY
Thư ký:
Đại đức THÍCH HẠNH TUỆ
Đại đức THÍCH HẠNH KIÊN
Thủ quỹ:
Đại đức THÍCH HẠNH MÃN
III. CÁC TIỂU BAN
1. Ban Nghi lễ:
a) Sám chủ: Hòa thượng THÍCH CHÁNH KẾ
b) Kinh sư: Ban Kinh Sư Tp. Đà Lạt
2. Ban Xướng ngôn:
Đại đức THÍCH ĐỒNG NGẠN
Đại đức THÍCH HẠNH TỪ
Đại đức THÍCH LỆ THÀNH
3. Ban Tiếp tân:
a) Chư tôn đức Tăng:
Hòa thượng THÍCH THIỆN MINH
Thượng tọa THÍCH TRUNG PHÚ
Thượng tọa THÍCH TẮC HUÊ
Thượng tọa THÍCH MINH LÝ
Thượng tọa THÍCH GIÁC TRÍ
Đại đức THÍCH HẠNH VIÊN
Đại đức THÍCH HẠNH HIẾU
Đại đức THÍCH CHÚC KIÊN
Đại đức THÍCH CHÚC ĐẠO
Đại đức THÍCH LỆ VIÊN
Đại đức THÍCH HẠNH TRUNG
Đại đức THÍCH HẠNH QUANG
Đại đức THÍCH HẠNH NHẪN
b) Chư tôn đức Ni:
Ni sư THÍCH TÂM CẢNH
Ni sư THÍCH TỪ HƯƠNG
Ni sư THÍCH HẠNH NGỌC
Ni sư THÍCH GIÁC TRUNG
Sư cô THÍCH HẠNH HUỆ
Sư cô THÍCH HUỆ HẬU
c) Quan khách:
Hòa thượng THÍCH THIỆN MINH
Thượng tọa THÍCH TRUNG PHÚ
Đại đức THÍCH HẠNH VIÊN
Đại đức THÍCH HẠNH HIẾU
Đại đức THÍCH HẠNH TRUNG
Đại đức THÍCH HẠNH MÃN
Đại đức THÍCH HẠNH KIÊN
Đại đức THÍCH HẠNH DŨNG
4. Ban Tiếp lễ:
Đại đức THÍCH HẠNH LUÂN (Trưởng ban)
Đại đức THÍCH HẠNH PHÚ
Đại đức THÍCH HẠNH ĐỨC
Sư cô THÍCH NHƯ HIỂN
Sư cô THÍCH HUỆ HƯƠNG
Sư cô THÍCH CHÚC TRANG
5. Ban Hiếu đồ
Chư Tăng – Ni đệ tử, Phật tử Tu Viện Vĩnh Đức
6. Ban Cung nghinh rước lễ:
Đại đức THÍCH HẠNH THANH (Trưởng ban)
Đại đức THÍCH QUẢNG CHÁNH
Đại đức THÍCH QUẢNG THẬT
Đại đức THÍCH TÂM CHÂU
7. Ban Trang trí:
Đại đức THÍCH HẠNH ĐẠO (Trưởng ban)
Đại đức THÍCH QUẢNG ĐẠI (Phó ban)
Đại đức THÍCH HẠNH MINH
Đại đức THÍCH HẠNH ĐẠT
Đại đức THÍCH QUẢNG NHẬT
Đại đức THÍCH ĐỒNG THỌ
Đại đức THÍCH VẠN HẠNH
Đại đức THÍCH CHÍ HÙNG
8. Ban Hương đăng, Chung cổ:
Đại đức THÍCH ĐỒNG MẪN (Trưởng ban)
Đại đức THÍCH TRUNG TU
Đại đức THÍCH HẠNH PHƯƠNG
Đại đức THÍCH TRÍ HÙNG
Sa di THÍCH NHUẬN ĐỨC
Sa di THÍCH NHUẬN THỂ
9. Ban Trật tự, giữ xe:
Quý Phật tử (Nam) Tu Viện - Anh em Dân quân P.Bình Trưng Tây
10.Ban Trai soạn:
Đại đức THÍCH HẠNH THÁI (Trưởng ban)
Sư cô THÍCH VẠN HUỆ
Chư Ni Chùa Diệu Giác Quận 2
Phật tử Tu viện Vĩnh Đức Quận 2
11. Ban Hành đường:
a. Chư Tăng:
Đại đức THÍCH HẠNH ĐẮC (Trưởng ban)
Đại đức THÍCH HẠNH THUẦN
Đại đức THÍCH HẠNH QUẢ
Đại đức THÍCH ĐỒNG THỌ
Đại đức THÍCH HẠNH NHÂN
Đại đức THÍCH VẠN HẠNH
Sa Di THÍCH QUẢNG HÒA
Sa Di THÍCH ĐỒNG THIÊN
Chư Ni Chùa Vạn Hạnh Q.Thủ Đức
Chư Ni Chùa Long Nhiễu, Q.Thủ Đức
Chư Ni Chùa Sùng Đức Q.Thủ Đức
b. Phật tử:
Đại đức THÍCH HẠNH MINH (Trưởng ban)
Đại đức THÍCH HẠNH NHƯ
Đại đức THÍCH HẠNH TUẤN
Đại đức THÍCH HẠNH GIẢI
Đại đức THÍCH HẠNH MẪN
Đạo hữu: HẠNH TRÍ, HẠNH ĐỊNH, THỊ LỘC
Chư Ni Chùa Bồ Đề, Chùa Linh Bửu – Quận 4
Phật tử Đạo tràng Tu Bát Quan Trai TVVĐ
12. Ban Thị giả:
Đại đức THÍCH HẠNH PHƯỚC
Đại đức THÍCH TỊNH ĐỨC
Đại đức THÍCH HỒNG KẾ
Sa Di THÍCH THỊ HUY
Sa Di THÍCH THỊ HIỀN
Điệu ĐỒNG TÀI
Chư Ni Ni viện Phước Long – Quận 9.
13. Ban phim ảnh:
Đại đức THÍCH HẠNH KIÊN
Đại đức THÍCH HẠNH TUỆ
Phật tử HUY HOÀNG
14. Ban Âm thanh Ánh sáng:
Đại đức THÍCH CHÚC HUÂN (Trưởng ban)
Đại đức THÍCH ĐỒNG TRI
15. Ban Vận chuyển:
Đại đức THÍCH HẠNH TRUNG
Đại đức THÍCH HẠNH ĐẮC
Đại đức THÍCH HẠNH DŨNG
BAN TỔ CHỨC
Viện Chủ Tu Viện Vĩnh Đức - Tp. Sài Gòn
Trụ Trì Tổ Đình Sắc Tứ Từ Lâm - Quảng Ngãi.
.
.BAN CHỨNG MINH - BAN TỔ CHỨC - BAN CÔNG TÁC
LỄ CHUNG THẤT
HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG TÂM
Viện Chủ Tu Viện Vĩnh Đức - Tp.Hồ Chí Minh
Trụ Trì Tổ Đình Sắc Tứ Từ Lâm - Quảng Ngãi
Ngày 9 - 10/6/Canh Dần (nhằm 20-21/7/2010)
-----oOo-----
I. BAN CHỨNG MINH:
1. Hòa thượng THÍCH HIỂN TU – Thành viên HĐCMTW. GHPGVN
2. Hòa thượng THÍCH TẮC AN – Thành viên HĐCMTW. Chứng minh BĐDPG Q.2,Q.9,Q.TĐ
3. Hòa thượng THÍCH VIÊN GIÁC – Thành viên HĐCMTW. Tr. Ban Tăng Sự THPG. Tp.HCM
4. Hòa thượng THÍCH TRÍ QUẢNG – Phó Chủ tịch HĐTS HGPGVN, Trưởng BTS THPG Tp.HCM
5. Hòa thượng THÍCH TỊNH HẠNH – Uỷ viên HĐTSTW. Phó BTS THPG Tp.HCM
6. Hòa thượng THÍCH NHƯ TÍN – Phó Trưởng Ban Tăng Sự THPG. Tp.HCM, Trưởng Chi phái Lâm Tế Chúc Thánh phía Nam.
7. Hòa thượng THÍCH GIÁC LAI – Chứng minh Ban ĐDPG Quận 2
8. Hòa thượng THÍCH AN TẠNG – Chứng minh BQTMP.Tổ đình Sắc Tứ Từ Lâm Quảng Ngãi
II. BAN TỔ CHỨC:
Trưởng ban:
Hòa thượng THÍCH THIỆN TÁNH
Ủy viên Kiểm Soát HĐTS, Phó trưởng ban Thường trực BTS THPG Tp. Hồ Chí Minh
Phó ban:
Hòa thượng THÍCH THIỆN MINH
Hòa thượng THÍCH ĐẠT NIỆM
Thượng tọa THÍCH HUỆ CẢNH
Thượng tọa THÍCH TRUNG PHÚ
Thượng tọa THÍCH VIÊN CHÁNH
Thượng tọa THÍCH GIÁC LIÊM (Điều hành tổng quát)
Đại đức THÍCH QUẢNG HUY
Thư ký:
Đại đức THÍCH HẠNH TUỆ
Đại đức THÍCH HẠNH KIÊN
Thủ quỹ:
Đại đức THÍCH HẠNH MÃN
III. CÁC TIỂU BAN
1. Ban Nghi lễ:
a) Sám chủ: Hòa thượng THÍCH CHÁNH KẾ
b) Kinh sư: Ban Kinh Sư Tp. Đà Lạt
2. Ban Xướng ngôn:
Đại đức THÍCH ĐỒNG NGẠN
Đại đức THÍCH HẠNH TỪ
Đại đức THÍCH LỆ THÀNH
3. Ban Tiếp tân:
a) Chư tôn đức Tăng:
Hòa thượng THÍCH THIỆN MINH
Thượng tọa THÍCH TRUNG PHÚ
Thượng tọa THÍCH TẮC HUÊ
Thượng tọa THÍCH MINH LÝ
Thượng tọa THÍCH GIÁC TRÍ
Đại đức THÍCH HẠNH VIÊN
Đại đức THÍCH HẠNH HIẾU
Đại đức THÍCH CHÚC KIÊN
Đại đức THÍCH CHÚC ĐẠO
Đại đức THÍCH LỆ VIÊN
Đại đức THÍCH HẠNH TRUNG
Đại đức THÍCH HẠNH QUANG
Đại đức THÍCH HẠNH NHẪN
b) Chư tôn đức Ni:
Ni sư THÍCH TÂM CẢNH
Ni sư THÍCH TỪ HƯƠNG
Ni sư THÍCH HẠNH NGỌC
Ni sư THÍCH GIÁC TRUNG
Sư cô THÍCH HẠNH HUỆ
Sư cô THÍCH HUỆ HẬU
c) Quan khách:
Hòa thượng THÍCH THIỆN MINH
Thượng tọa THÍCH TRUNG PHÚ
Đại đức THÍCH HẠNH VIÊN
Đại đức THÍCH HẠNH HIẾU
Đại đức THÍCH HẠNH TRUNG
Đại đức THÍCH HẠNH MÃN
Đại đức THÍCH HẠNH KIÊN
Đại đức THÍCH HẠNH DŨNG
4. Ban Tiếp lễ:
Đại đức THÍCH HẠNH LUÂN (Trưởng ban)
Đại đức THÍCH HẠNH PHÚ
Đại đức THÍCH HẠNH ĐỨC
Sư cô THÍCH NHƯ HIỂN
Sư cô THÍCH HUỆ HƯƠNG
Sư cô THÍCH CHÚC TRANG
5. Ban Hiếu đồ
Chư Tăng – Ni đệ tử, Phật tử Tu Viện Vĩnh Đức
6. Ban Cung nghinh rước lễ:
Đại đức THÍCH HẠNH THANH (Trưởng ban)
Đại đức THÍCH QUẢNG CHÁNH
Đại đức THÍCH QUẢNG THẬT
Đại đức THÍCH TÂM CHÂU
7. Ban Trang trí:
Đại đức THÍCH HẠNH ĐẠO (Trưởng ban)
Đại đức THÍCH QUẢNG ĐẠI (Phó ban)
Đại đức THÍCH HẠNH MINH
Đại đức THÍCH HẠNH ĐẠT
Đại đức THÍCH QUẢNG NHẬT
Đại đức THÍCH ĐỒNG THỌ
Đại đức THÍCH VẠN HẠNH
Đại đức THÍCH CHÍ HÙNG
8. Ban Hương đăng, Chung cổ:
Đại đức THÍCH ĐỒNG MẪN (Trưởng ban)
Đại đức THÍCH TRUNG TU
Đại đức THÍCH HẠNH PHƯƠNG
Đại đức THÍCH TRÍ HÙNG
Sa di THÍCH NHUẬN ĐỨC
Sa di THÍCH NHUẬN THỂ
9. Ban Trật tự, giữ xe:
Quý Phật tử (Nam) Tu Viện - Anh em Dân quân P.Bình Trưng Tây
10.Ban Trai soạn:
Đại đức THÍCH HẠNH THÁI (Trưởng ban)
Sư cô THÍCH VẠN HUỆ
Chư Ni Chùa Diệu Giác Quận 2
Phật tử Tu viện Vĩnh Đức Quận 2
11. Ban Hành đường:
a. Chư Tăng:
Đại đức THÍCH HẠNH ĐẮC (Trưởng ban)
Đại đức THÍCH HẠNH THUẦN
Đại đức THÍCH HẠNH QUẢ
Đại đức THÍCH ĐỒNG THỌ
Đại đức THÍCH HẠNH NHÂN
Đại đức THÍCH VẠN HẠNH
Sa Di THÍCH QUẢNG HÒA
Sa Di THÍCH ĐỒNG THIÊN
Chư Ni Chùa Vạn Hạnh Q.Thủ Đức
Chư Ni Chùa Long Nhiễu, Q.Thủ Đức
Chư Ni Chùa Sùng Đức Q.Thủ Đức
b. Phật tử:
Đại đức THÍCH HẠNH MINH (Trưởng ban)
Đại đức THÍCH HẠNH NHƯ
Đại đức THÍCH HẠNH TUẤN
Đại đức THÍCH HẠNH GIẢI
Đại đức THÍCH HẠNH MẪN
Đạo hữu: HẠNH TRÍ, HẠNH ĐỊNH, THỊ LỘC
Chư Ni Chùa Bồ Đề, Chùa Linh Bửu – Quận 4
Phật tử Đạo tràng Tu Bát Quan Trai TVVĐ
12. Ban Thị giả:
Đại đức THÍCH HẠNH PHƯỚC
Đại đức THÍCH TỊNH ĐỨC
Đại đức THÍCH HỒNG KẾ
Sa Di THÍCH THỊ HUY
Sa Di THÍCH THỊ HIỀN
Điệu ĐỒNG TÀI
Chư Ni Ni viện Phước Long – Quận 9.
13. Ban phim ảnh:
Đại đức THÍCH HẠNH KIÊN
Đại đức THÍCH HẠNH TUỆ
Phật tử HUY HOÀNG
14. Ban Âm thanh Ánh sáng:
Đại đức THÍCH CHÚC HUÂN (Trưởng ban)
Đại đức THÍCH ĐỒNG TRI
15. Ban Vận chuyển:
Đại đức THÍCH HẠNH TRUNG
Đại đức THÍCH HẠNH ĐẮC
Đại đức THÍCH HẠNH DŨNG
BAN TỔ CHỨC





















