CHƯƠNG 7: NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Wednesday, September 24, 2008 11:52:18 AM
CHƯƠNG 7
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Trong chương này cần làm rõ các vấn đề sau:
- Ngân sách là gì? Vai trò của nó?
- Quá trình tạo lập NSNN.
- Nhà nước sử dụng NSNN như thế nào?
- Nhà nước quản lý NSNN ra sao?
I- NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1. Khái niệm Ngân sách nhà nước
a) Vài nét sơ lược về nguồn gốc ra đời và phát triển của Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước (NSNN) là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, Ngân sách nhà nước ra đời là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại của Nhà nước và nền kinh tế hàng hoá- tiền tệ.
Trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước", Ăng- ghen đã chỉ ra rằng: Nhà nước ra đời trong cuộc đấu tranh của xã hội có giai cấp, nó là sản phẩm của đấu tranh giai cấp. Nhà nước xuất hiện với tư cách là cơ quan có quyền lực công cộng để duy trì và phát triển xã hội. Để thực hiện chức năng đó, Nhà nước phải có nguồn lực tài chính. Bằng quyền lực công cộng, Nhà nước đã ấn định các thứ thuế, bắt công dân phải đóng góp lập ra quỹ tiền tệ riêng có - quỹ NSNN - để chi tiêu cho bộ máy nhà nước, quân đội, cảnh sát... Nhưng dần dần những tham vọng về lãnh thổ, về chủ quyền đưa đến những cuộc chiến tranh xâm lược làm cho bộ máy thống trị, quân đội ngày một lớn. Thuế không đảm bảo được nhu cầu chi tiêu buộc Nhà nước phải vay nợ bằng cách phát hành công trái để bù đắp sự thiếu hụt của NSNN.
Như vậy, qua việc phân tích nói trên của Ăng- ghen chúng ta có thể thấy rằng: sự ra đời của NSNN luôn gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước. Bản chất của Nhà nước quyết định bản chất giai cấp của NSNN.
- Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến, nguồn thu của NSNN chủ yếu dựa trên sự đóng góp bắt buộc của dân chúng để hình thành quỹ NSNN và quỹ này dùng để chi tiêu cho nhà vua, quân đội, bộ máy công quyền cai trị xã hội. Người dân được hưởng rất ít các phúc lợi công cộng từ NSNN.
- Khi giai cấp tư sản lên nắm chính quyền, giai đoạn đầu họ chủ trương xây dựng một Nhà nước không can thiệp vào hoạt động của các lực lượng kinh tế trên thị trường. Nhà nước chỉ đơn thuần đảm nhận nhiệm vụ giữ gìn an ninh, quốc phòng. NSNN lúc này chỉ đóng vai trò là một quỹ tiền tệ của nhà nước để duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước.
Bước vào những năm 1929-1933, nền kinh tế của các nước tư bản lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng. Để đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, Nhà nước phải can thiệp vào nền kinh tế bằng cách lập ra các chương trình chi tiêu lớn và thực hiện tái phân phối lại thu nhập xã hội thông qua các công cụ tài chính. Trong số các công cụ đó thì NSNN là công cụ quan trọng, sắc bén để nhà nước thực hiện điều chỉnh nền kinh tế và nâng cao phúc lợi công cộng cho người dân.
- Đối với Nhà nước trong thời đại hội nhập quốc tế hiện nay, có những vấn đề mang tính toàn cầu mà khu vực tư nhân không thể giải quyết được (chẳng hạn vấn đề bảo vệ môi trường, sinh thái, thiên tai, việc chống khủng bố,...) do vậy nhà nước phải đứng ra giải quyết các vấn đề đó. Trong thời kỳ này NSNN có thêm nhiệm vụ đảm bảo nguồn tài chính cho những hoạt động đối ngoại nói trên của nhà nước.
Như vậy cùng với việc mở rộng các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và sự phát triển của các quan hệ hàng hoá- tiền tệ, các hình thức thu, chi của NSNN ngày càng phát triển phong phú hơn và NSNN đã trở thành một công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc đảm bảo chi tiêu cho nhà nước và tác động đến đời sống xã hội cho đất nước.
Vậy thực chất NSNN là gì?
b) Khái niệm NSNN
Cho đến nay, thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Thế nhưng người ta vẫn chưa có sự nhất trí về NSNN là gì? Có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm NSNN, tuỳ theo quan điểm của người định nghĩa thuộc các trường phái kinh tế khác nhau, hoặc tuỳ theo mục đích nghiên cứu khác nhau.
- Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển, thì: Ngân sách nhà nước là một văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu, chi của Chính phủ, được thiết lập hàng năm.
- Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN. Chẳng hạn:
+ Theo các nhà kinh tế phương Tây, NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước.
+ Các nhà kinh tế Trung Quốc cho rằng, NSNN là kế hoạch thu, chi tài chính hàng năm của Nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp luật quy định.
+ Các nhà kinh tế Nga cũng cho rằng, NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của Nhà nước.
Chúng ta có thể thấy, quan điểm của các nhà kinh tế Nga và Trung Quốc khá gần gũi với quan điểm của các nhà kinh tế cổ điển.
- Luật Ngân sách nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Khoá IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20/3/1996 cũng có ghi: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
Các ý kiến trên xuất phát từ cách tiếp cận vấn đề khác nhau và có nhân tố hợp lý song chưa đầy đủ. Bởi chúng mới chỉ mô tả hình thức biểu hiện bên ngoài của NSNN, mà chưa phản ánh được nội dung kinh tế bên trong- mặt bản chất của NSNN.
Khái niệm NSNN là một khái niệm trừu tượng, nhưng nếu xem xét ở giác độ hoạt động tài chính thì NSNN lại là một hoạt động tài chính cụ thể của Nhà nước. Do vậy, khái niệm NSNN phải thể hiện được mặt bản chất, tức là nội dung kinh tế - xã hội chứa đựng bên trong của NSNN, muốn vậy NSNN phải được xem xét trên các giác độ khác nhau:
- Xét về hình thức: NSNN là một bản dự toán thu và chi do Chính phủ lập ra, đệ trình Quốc hội phê chuẩn và giao cho Chính phủ tổ chức thực hiện.
- Xét về thực thể: NSNN bao gồm những nguồn thu cụ thể, những khoản chi cụ thể và được định lượng. Các nguồn thu đều được nộp vào một quỹ tiền tệ - quỹ NSNN - và các khoản chi đều được xuất ra từ quỹ tiền tệ ấy.
Thu và chi quỹ này có quan hệ ràng buộc với nhau gọi là cân đối cân đối thu- chi NSNN, đó là một cân đối lớn trong nền kinh tế thị trường và được Nhà nước quan tâm đặc biệt. Vì lẽ đó có thể khẳng định NSNN là một quỹ tiền tệ lớn của Nhà nước.
- Xét trong tổng thể một hệ thống tài chính thống nhất: NSNN là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia.
- Xét về các nội dung kinh tế chứa đựng trong NSNN: Quan sát các hoạt động ngân sách ta thấy: các khoản thu - luồng nhập quỹ NSNN, các khoản chi - xuất quỹ NSNN chính là quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước. Trong quá trình đó xuất hiện hàng loạt các quan hệ tài chính giữa một bên là Nhà nước với một bên là các chủ thể phân phối trong quá trình phân phối các nguồn tài chính .Cụ thể:
Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với dân cư, thể hiện: dân cư nộp các thứ thuế cho nhà nước và nhà nước chi các khoản hỗ trợ cho dân cư như các khoản trợ cấp xã hội, y tế, giáo dục, trợ cấp xoá đói giảm nghèo.v.v.
Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với khu vực doanh nghiệp, thể hiện: doanh nghiệp nộp thuế cho nhà nước và nhà nước chi hỗ trợ vốn đầu tư, trợ cấp xuất khẩu cho doanh nghiệp.
Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các tổ chức xã hội, thể hiện nhà nước chi hỗ trợ cho hoạt động của các tổ chức xã hội được khuyến khích.
Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các Nhà nước khác và với các tổ chức quốc tế, thể hiện: ở quan hệ vay nợ, viện trợ, hợp tác kinh tế giữa các nhà nước với nhau hoặc giữa nhà nước với các tổ chức phi chính phủ.v.v.
Như vậy, đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài của NSNN là một quỹ tiền tệ của Nhà nước với các khoản thu, chi của nó thì NSNN lại phản ánh các quan hệ kinh tế gắn với một chủ thể đặc biệt đó là Nhà nước trong quá trình phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để giải quyết các nhiệm vụ kinh tế, xã hội. Những quan hệ thu nộp và cấp phát qua quỹ NSNN là những quan hệ được xác định trước, được định lượng và Nhà nước sử dụng chúng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Từ sự phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm NSNN như sau:
NSNN là một khâu của hệ thống tài chính quốc gia, nó phản ánh quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định.
2. Đặc điểm của Ngân sách nhà nước
Từ việc phân tích nguồn gốc ra đời và khái niệm của NSNN, chúng ta rút ra một số đặc điểm cơ bản của NSNN:
Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn với quyền lực của Nhà nước và được Nhà nước tiến hành trên cơ sở luật định.
Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của NSNN. Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ một khoản thu, chi nào của NSNN cũng chỉ có một cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước - Quốc hội quyết định. Mặt khác tính quyền lực của Nhà nước đối với NSNN còn thể hiện ở chỗ Chính phủ không thể thực hiện thu, chi NS một cách tuỳ tiện mà phải dựa trên cơ sở pháp lý đã được xác định trong các văn bản pháp luật do cơ quan quyền lực của Nhà nước ban hành.
Bởi vì:
- Quá trình tạo lập quỹ NSNN (thu NSNN) chính là quá trình phân phối lại lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể tham gia phân phối, trong đó Nhà nước điều tiết một phần lợi ích kinh tế từ các chủ thể tham gia phân phối là các tổ chức và cá nhân trong xã hội. Tuy nhiên, trong thực tế không phải tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội đều sẵn sàng chia sẻ lợi ích của mình cho Nhà nước. Do vậy, để điều tiết được một phần thu nhập của xã hội nhằm tạo lập được quỹ NSNN thì Nhà nước phải dùng quyền lực của mình để buộc các tổ chức, cá nhân trong xã hội đóng góp.
- Quá trình sử dụng quỹ NSNN (chi NSNN) cũng chính là quá trình phân phối lợi ích nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Quá trình này tác động đến lợi ích kinh tế của các chủ thể ở mọi lĩnh vực kinh tế-xã hội do vậy để đảm bảo tính thống nhất, kỷ cương trong đời sống kinh tế xã hội để Nhà nước hoàn thành chức năng của mình thì các khoản chi NSNN phải được thể hiện bằng quyền lực của Nhà nước tức là luật pháp.
Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước, nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước, luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng.
Như phần trên đã phân tích, hoạt động NSNN được biểu hiện cụ thể bằng các hoạt động thu và chi, trong đó:
- Thu NSNN chính là quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ đặc biệt- quỹ này thuộc sở hữu của Nhà nước.
- Chi NSNN, chính là việc sử dụng quỹ này chi tiêu cho những hoạt động của bộ máy quản lý hành chính, quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, các vấn đề về phúc lợi công cộng, về sự nghiệp xã hội trước mắt và lâu dài. Tất cả những khoản chi nói trên nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Kết quả của các khoản chi nói trên không ngoài mục đích đảm bảo cho một xã hội ổn định, nền kinh tế tăng trưởng bền vững và phúc lợi công cộng được nâng cao. Do vậy hoạt động của NSNN luôn chứa đựng lợi ích công cộng, lợi ích chung toàn xã hội.
Thứ ba, hoạt động thu, chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
Tính chất không hoàn trả trực tiếp của hoạt động thu, chi NSNN được thể hiện trên các khía cạnh sau:
Một là: Sự chuyển giao thu nhập của xã hội vào quỹ NSNN chủ yếu thông qua hình thức thuế. Đó là hình thức thu- nộp bắt buộc, không mang tính hoàn trả trực tiếp. Có nghĩa là mức thu nhập mà người nộp chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ lợi ích mà người nộp thuế thừa hưởng từ những dịch vụ và hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp. Ngược lại, người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới nộp thuế cho Nhà nước;
Hai là: Mọi người dân sẽ nhận được một phần các hàng hoá, dịch vụ công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng. Phần giá trị mà người đó được hưởng thụ không nhất thiết tương đồng với khoản đóng góp mà họ đã nộp vào NSNN.
Ngoài ba đặc điểm nêu trên, NSNN cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác (thể hiện tính mục đích và tính vận động thường xuyên). Tuy nhiên, nét riêng biệt của NSNN với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước là nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ, có tác dụng riêng và chỉ sau đó NSNN mới được chi dùng cho những mục đích nhất định đã định trước.
Nghiên cứu những đặc điểm của NSNN không những cho phép tìm được phương thức và phương pháp quản lý NSNN hiệu quả hơn, mà còn giúp ta nhận thức và phát huy tốt hơn vai trò của Ngân sách nhà nước.
3. Vai trò của NSNN
NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại của đất nước. Tuy nhiên, vai trò của NSNN bao giờ cũng gắn liền với vai trò của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định.
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của NSNN có thể xem xét trên một số mặt sau đây:
3.1. NSNN là công cụ tài chính quan trọng nhất để cung ứng nguồn tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước.
Sự hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội luôn đòi hỏi phải có các nguồn tài chính để chi tiêu cho những mục đích xác định. Các nhu cầu chi tiêu của nhà nước được thỏa mãn từ các nguồn thu bằng hình thức thuế và thu ngoài thuế. Đây là vai trò lịch sử của NSNN, được xuất phát từ tính nội tại của phạm trù tài chính mà trong bất kỳ chế độ xã hội và cơ chế kinh tế nào, NSNN đều phải thực hiện và phát huy.
Để phát huy vai trò của NSNN trong quá trình phân phối, huy động các nguồn tài chính của xã hội cho nhà nước cần thiết phải xác định:
- Mức động viên các nguồn tài chính từ đơn vị cơ sớ để hình thành nguồn thu của nhà nước.
- Các công cụ kinh tế được sử dụng tạo nguồn thu cho nhà nước và thực hiện các khoản chi của nhà nước.
- Tỷ lệ động viên (tỷ suất thu) của nhà nước trên GDP.
[Theo thống kê của thế giới, mức động viên GDP vào NSNN ở các nước phát triển thường khoảng trên 30%, và ở các nước đang phát triển khoảng từ 14% đến 17% (không tính tới các khoản không phải là thuế, phí, lệ phí như các nguồn thu từ bán tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là dầu thôlà thứ không tái tạo lại được trong tương lai)
Tỷ lệ động viên GDP vào ngân sách quyết định qui mô quỹ NSNN.
Ở 30 nước của nền kinh tế phát triển (nguồn kinh tế tài chính thế giới 1970-2000 của Viện nghiên cứu tài chính), tỷ lệ động viên GDP vào ngân sách chính quyền trung ương bình quân trong giai đoạn 1971-2000 là 29.92 %GDP.
Cũng cùng giai đoạn trên, đối với 13 nước của nền kinh tế khu vực EURO là 32,23%GDP ; của nhóm G7 là 25,74%GDP (trong đó duy chỉ có Nhật là dưới 15% GDP do nước này phân cấp mạnh ngân sách cho chính quyền địa phương);
Nhóm 33 nước xuất khẩu dầi khí giai đoạn 2000-2005 là 37,45 % GDP ( Viet Nam 23,72% GDP). Các nước ASEAN giai đoạn 1971-2000 (trừ tài trợ) là 18,93% GDP (Việt Nam 20,25 % GDP) !
Vậy tỷ lệ động viên GDP vào ngân sách ở Việt Nam bao nhiêu sẽ là hợp lý ?
Việt Nam là nước có GDP thấp với nền kinh tế và thu ngân sách phụ thuộc một phần quan trọng vào khai thác xuất khẩu dầu thô và tài nguyên khoáng sản thô, hơn thế nữa lại là nước vay nợ thuần với tỷ lệ nợ Chính phủ tương đối cao.
Tổng thu và viện trợ của VN qua các năm 2004, 2005, 2006 lần lượt là 26,7% GDP; 25,9% GDP; 24,5% GDP trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp chiếm tỷ trọng tương đối lớn (hơn 8%GDP) tiếp đến là thuế VAT. Trong khi thu NSTW (trừ viện trợ) tương ứng năm là 17,4% GDP ; 16,9% GDP; 16% GDP. ( nguồn IMF tháng 11 năm 2006).
Qua phân tích và nhận định của các chuyên gia, tỷ lệ động viên hợp lý GDP vào ngân sách chính quyền TW của Việt Nam hiện nay ở mức 16% GDP là hoàn toàn hợp lý.
Bên cạnh đó tỷ lệ động viên GDP và NSNN nói chung ở mức 24% GDP hiện nay cũng hợp lý (theo đó tỷ trọng thu NSTW chiếm 2/3 NSNN như mức độ phân cấp thu NSNN hiện nay). Muốn duy trì mức độ phân cấp như hiện nay với tỷ lệ động viên GDP vào ngân sách chính quyền TW của VN ở mức 18% GDP thì cần 27% GDP cho NSNN - mức này bất hợp lý so với trình độ và nguồn lực phát triển kinh tế VN hiện nay và trong tương lai gần. Phần giảm thu từ dầu khí và thuế XNK của NSTW được bù đắp bằng thuế trực thu, đặc biệt là từ thuế TNDN,…
(Câu hỏi thêm: trong khi mức thu từ dầu thô vẫn được tính chung là tổng thu của NSNN phục vụ cho chi tiêu chung của Chính phủ, nếu tách riêng ra thành một quỹ riêng thi mức động viên của Việt Nam trong tương lai tới đây sẽ phải được bù vào bởi khoản thu nào để thế cho khoản thu từ dầu thô đã được bóc tách riêng. Và với mục tiêu phát triển bền vững thì trong trường hợp bóc tách ấy bạn có ý kiến sử dụng quỹ thu từ dầu thô vào việc gì?)
3.2. NSNN là công cụ thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững.
Thông qua các khoản chi kinh tế và chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, phát triển những ngành mũi nhọn có khả năng cạnh tranh trên thị trường; đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng thuộc thế mạnh xuất khẩu..., Chính phủ có thể tạo điều kiện và hướng nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp vào những lĩnh vực, những vùng cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế mới cũng như tạo ra môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh. Các khoản chi này của NSNN không thu hồi trực tiếp, nhưng hiệu quả của nó lại được tính bằng sự tăng trưởng của GDP, sự phân bố chung hợp lý của nền kinh tế hoặc bằng các chỉ tiêu khác như tạo ra khả năng tăng tốc độ lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ...
Thông qua thu ngân sách mà chủ yếu là thuế cũng góp phần định hướng phát triển sản xuất. Việc đặt ra các loại thuế với thuế suất ưu đãi, các quy định miễn, giảm thuế... có tác dụng kích thích mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp. Một chính sách thuế có lợi sẽ thu hút được doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư vào nơi cần thiết, ngược lại, một chính sách thuế khắt khe sẽ giảm bớt luồng di chuyển vốn vào nơi cần hạn chế sản xuất kinh doanh.
Rõ ràng là chính sách thu, chính sách chi ngân sách gắn liền với chính sách phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ trực tiếp cho chính sách này của Nhà nước.
3.3. NSNN là công cụ để điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát
Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cung cầu chi phối đến giá cả thị trường rất mạnh mẽ. Mọi sự biến động của giá cả trên thị trường đều có nguyên nhân từ sự mất cân đối giữa cung và cầu. Để ổn định giá cả, chính phủ có thể thông qua công cụ NSNN để tác động vào cung hoặc cầu hàng hoá trên thị trường. Sự tác động này có thể được thực hiện theo hai hướng: thu và chi NSNN. Cụ thể:
(i) Thông qua điều chỉnh chính sách thu NSNN:
Bằng việc điều chỉnh cơ cấu hệ thống thuế, thuế suất, chính sách miễn giảm thuế hợp lý.v.v. Chính phủ cũng có thể tác động vào tổng cung hoặc tổng cầu để góp phần ổn định giá cả trên thị trường.
Ví dụ: khi giá cả hàng hoá lên cao, có nguy cơ trở thành lạm phát, nhà nước có thể điều chỉnh tăng thuế thu nhập cá nhân để giảm cầu, miễn, giảm thuế cho các doanh nghiệp sản xuất.v.v. để nâng đỡ cung từ đó thúc đẩy cân bằng cung cầu, ổn định giá cả, hạn chế lạm phát xảy ra
(ii) Thông qua chính sách chi tiêu của Nhà nước (chi NSNN).
Bằng nguồn cấp phát của chi tiêu NS hàng năm các quỹ dự trữ của Nhà nước (bằng tiền, bằng ngoại tệ, các loại hàng hoá, vật tư chiến lược...) được hình thành. Thông qua các quỹ này, Chính phủ thực hiện điều tiết thị trường bình ổn giá cả. Một cách tổng quát, cơ chế điều tiết là:
+ Khi giá cả của một loại hàng hoá nào đó lên cao, để kìm hãm và chống đầu cơ, Chính phủ đưa dự trữ hàng hoá đó ra thị trường để tăng cung, trên cơ sở đó sẽ bình ổn được giá cả và hạn chế khả năng tăng giá đồng loạt, gây nguy cơ lạm phát chung cho nền kinh tế.
+ Còn khi giá cả một loại hàng hoá nào đó bị giảm mạnh, có khả năng gây thiệt hại cho người sản xuất và tạo ra xu hướng di chuyển vốn sang lĩnh vực khác, Chính phủ sẽ bỏ tiền để mua các hàng hoá đó theo một giá nhất định đảm bảo quyền lợi cho người sản xuất.
- Trong trường hợp xảy ra lạm phát, Chính phủ cũng có thể sử dụng NSNN để khống chế và đẩy lùi lạm phát một cách hiệu quả bằng các biện pháp nhằm nâng đỡ cung và giảm bớt cầu, đó là:
+ Thắt chặt chi tiêu của NSNN, nhất là các khoản chi cho tiêu dùng;
+ Tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế thu nhập.
3.4. Ngân sách là công cụ hữu hiệu của Nhà nước để điều chỉnh trong lĩnh vực thu nhập, thực hiện công bằng xã hội
Một mâu thuẫn gay gắt đang nảy sinh trong thời đại hiện nay là mâu thuẫn giữa tính nhân đạo xã hội mà mỗi nhà nước và mỗi cá nhân cần vươn tới và quy luật khắt khe của nền kinh tế thị trường xung quanh vấn đề thu nhập, đó là sự chênh lệch quá lớn về thu nhập giữa người giàu và người nghèo. Vấn đề đặt ra là phải có một chính sách phân phối hợp lý thu nhập của toàn xã hội. Chính sách đó phải vừa khuyến khích sự tăng trưởng, lại vừa đảm bảo tính công bằng xã hội một cách hợp lý.
Bằng việc sử dụng công cụ NSNN, cụ thể là chính sách thuế và chính sách chi tiêu ngân sách, Chính phủ đã làm giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về thu nhập giữa người giàu và người nghèo nhằm ổn định đời sống của các tầng lớp dân cư trong phạm vi cả nước. Hay nói cách khác, vai trò quan trọng của NSNN trong điều chỉnh phân phối thu nhập được thể hiện trên phạm vi rộng lớn ở cả hai mặt hoạt động thu và chi NSNN. Cụ thể:
(i) Sử dụng công cụ thuế
- Thông qua thuế thu nhập cá nhân, Nhà nước thực hiện việc điều tiết một phần thu nhập của những người giàu, để đảm bảo mức tiêu dùng hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới đảm bảo công bằng xã hội về thu nhập.
- Với việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt, đánh thuế giá trị gia tăng với thuế suất cao đối với các mặt hàng xa xỉ, các loại dịch vụ cao cấp, Nhà nước có thể để điều tiết một phần thu nhập của những người giàu có- đối tượng chủ yếu sử dụng các loại hàng hoá cao cấp này.
(ii) Sử dụng chính sách chi tiêu ngân sách
Thông qua các khoản chi an sinh xã hội, chi cho các chương trình giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, chi trợ cấp trợ giá các mặt hàng thiết yếu (lương thực, điện, nước), chi phí cho việc cung cấp hàng hoá khuyến dụng, hàng hoá công cộng.v.v. thì NSNN như một trung tâm phân phối lại thu nhập, nhằm chuyển bớt một phần thu nhập từ các tầng lớp giàu có sang tầng lớp những người nghèo
Thông thường ở các quốc gia trên thế giới, các khoản chi phí cho mục tiêu phúc lợi xã hội, mục tiêu trợ cấp cho người nghèo được bố trí theo chiều hướng tăng lên theo một tỷ lệ nhất định so với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế.
* Lưu ý:
- Việc sử dụng công cụ NSNN làm công cụ điều chỉnh đảm bảo công bằng xã hội là một việc không đơn giản. Chẳng hạn:
+ Trong việc sử dụng công cụ thuế, quan điểm cơ bản nhất cần phải quán triệt là: kích thích sản xuất và điều hoà thu nhập. Thuế không thể thu quá cao đến mức làm nhụt khát vọng làm giàu của nhà kinh doanh và làm giảm khả năng tăng trưởng của nền kinh tế. Thuế cũng không thể thu quá thấp, bởi lẽ nó không chỉ làm giảm nguồn thu của NSNN, nguồn cơ bản để giải quyết các vấn đề xã hội, mà ở mức độ nhất định, nó còn hạn chế cạnh tranh để phát triển sản xuất. Vì thế, mức thuế và thuế suất phải được nghiên cứu thận trọng ở cả hai cực: kích thích và hạn chế.
+ Đối với nước ta hiện nay, nhu cầu chi tiêu của Chính phủ ngày càng tăng, nhất là các khoản chi tiêu dùng xã hội, trong khi đó nguồn thu NSNN còn hạn hẹp. Để giải quyết mâu thuẫn nói trên, trong thời điểm hiện nay thì trong việc giải quyết các vấn đề xã hội cần thiết phải quán triệt quan điểm "Nhà nước và nhân dân cùng làm".
- Vấn đề điều chỉnh thu nhập, tái phân phối thu nhập qua NSNN không chỉ hiểu đơn giản là điều tiết phần thu nhập quá cao, mà còn bao hàm cả việc điều chỉnh mức thu nhập quá thấp đến mức thu nhập trung bình, đủ để người lao động thực hiện tái sản xuất giản đơn sức lao động và có thể dự trữ một phần thu nhập để thực hiện các khoản chi khác trong sinh hoạt gia đình.
Thực tế thì theo nghiên cứu của một số nhà kinh tế trên thế giới cho thấy rằng những người nghèo phải chịu nhiều tiền thuế hơn là người giàu bởi họ tiêu dùng nhiều hơn số hàng nhập khẩu như quần, áo, ... Trong khi số người giàu và dân thành thị dùng hàng hoá công nhiều hơn lớp nghèo ở nông thôn do vậy thuế suất thực của nhóm người nghèo phải chịu cao hơn nhóm giàu.
Ở Việt Nam hiện nay đang cải cách thuế theo hướng tăng thuế trực thuế và giảm thuế gián thu nhằm đảm bảo hợp lý hoá công bằng cho người nghèo , tuy nhiên ở một số nước phát triển như Nhật và Canada thì lại ngược lại ( tăng thuế gián thu và giảm thuế trực thu ) tại sao vậy ?
Các doanh nghiệp cũng không thể suốt đời phục vụ cho mục đích tăng trưởng kinh tế nếu thu nhập của họ bị chia xẻ một cách vô lý. Đây là mâu thuẩn cơ bản trong nền kinh tế thị trường mà chính sách thuế của chính phủ phải giải quyết.
Các nhà kinh doanh sẵn sàng đóng góp một phần thu nhập cho xã hội mà không làm suy giảm sự tăng trưởng của họ. Nói cách khác là nhà kinh doanh có thể không quan tâm nhiều tới thuế suất của Việt Nam áp dụng là 28% hay tới đây có thể là 25%, mà họ quan tâm tới tổng số thuế họ phải nộp chiếm bao nhiêu % so với tổng lợi nhuận trước thuế mà họ có được và việc nộp một lượng thuế như vậy có làm cho họ bị hạn chế trong tái sản xuất mở rộng hay không? Việc giảm thuế suất tuy ban đầu có thể giảm thu NSNN nhưng nó sẽ có tác động kích thích sản xuất, và hệ quả trong tương lai gần thu NSNN sẽ tăng lên từ nguồn thu từ doanh nghiệp.
Sau đây chúng ta xem xét các hoạt động thu, chi NSNN.
II- THU VÀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1. Thu Ngân sách nhà nước
1.1.Những vấn đề chung về thu NSNN
1.1.1. Khái niệm thu NSNN
Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu, Nhà nước thường sử dụng ba hình thức động viên đó là: quyên góp của dân, vay của dân và dùng quyền lực Nhà nước bắt buộc dân phải đóng góp. Trong đó hình thức quyên góp tiền và tài sản của dân và hình thức vay của dân là những hình thức không mang tính ổn định và lâu dài, thường được Nhà nước sử dụng có giới hạn trong một số trường hợp đặc biệt. Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực chính trị của mình ban hành các luật thuế để bắt buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho Ngân sách Nhà nước. Đây chính là hình thức cơ bản nhất để huy động tập trung nguồn tài chính cho Nhà nước. Vậy ta có thể nói rằng:
Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Từ khái niệm nói trên về thu NSNN, chúng ta có thể rút ra những đặc trưng cơ bản sau đây:
- Nguồn tài chính được tập trung vào NSNN chính là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư được chuyển giao cho nhà nước.
Do vậy, thu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân chia các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội. Việc xác định các khoản thu phải trên cơ sở giải quyết hài hoà giữa lợi ích Nhà nước với lợi ích của các tổ chức, cá nhân trong xã hội.
- Đối tượng phân chia là nguồn tài chính quốc gia là kết quả do lao động sản xuất trong nước tạo ra được thể hiện dưới hình thức tiền tệ (GDP).
Như vậy, thu NSNN trước hết và chủ yếu gắn liền với các hoạt động kinh tế trong xã hội. Mức độ phát triển kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm là tiền đề và là yếu tố khách quan hình thành nên các khoản thu NSNN và quyết định mức độ động viên các khoản thu của NSNN.
- Về mặt nội dung, thu NSNN chứa đựng các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước.
1.1.2. Phân loại thu NSNN
Việc phân loại các khoản thu NSNN có ý nghĩa thiết thực trong việc phân tích, đánh giá và quản lý các nguồn thu NSNN.
Có 3 cách phân loại phổ biến là:
a) Căn cứ vào phạm vi phát sinh, các khoản thu NSNN được chia làm hai nhóm là thu trong nước và thu ngoài nước. Cụ thể:
- Các khoản thu trong nước bao gồm:
+ Thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là lĩnh vực tạo ra đại bộ phận tổng sản phẩm xã hội và cũng là nơi tạo ra số thu chủ yếu cho NSNN.
+ Thu từ hoạt động dịch vụ (là những hoạt động phục vụ cho sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội) bao gồm cả thu sự nghiệp và thu từ các dịch vụ tài chính. Số thu từ lĩnh vực này có xu hướng ngày càng tăng.
+ Thu từ các hoạt động khác như thu về bán và cho thuê tài sản quốc gia, nguồn tài nguyên, vay nợ trong nước dưới các hình thức.v.v.
- Các khoản thu ngoài nước bao gồm:
+ Thu từ các hoạt động xuất khẩu lao động và hợp tác chuyên gia với nước ngoài;
+ Thu từ viện trợ của nước ngoài
+ Thu từ vay nợ nước ngoài, kể cả vay các tổ chức tài chính quốc tế.
* Ý nghĩa của cách phân loại này: các phân loại này phản ánh cơ cấu của nền kinh tế, thông qua đó có thể đánh giá tính hiệu quả, tính hợp lý của nền kinh tế.
b) Căn cứ vào tính chất phát sinh và nội dung kinh tế, các khoản thu được chia làm hai loại:
- Các khoản thu thường xuyên: là các khoản thu phát sinh tương đối đều đặn, ổn định về mặt thời gian và số lượng gồm thuế, phí, lệ phí.
- Các khoản thu không thường xuyên: là những khoản thu không ổn định về mặt thời gian phát sinh cũng như số lượng tiền thu được, bao gồm các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, thu từ hoạt động sự nghiệp, thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước, thu từ viện trợ nước ngoài, từ vay trong nước và ngoài nước và các khoản thu khác.
* Ý nghĩa của cách phân loại này: Việc phân loại các khoản thu NSNN dựa trên sự kết hợp giữa hai tiêu chí: theo nội dung kinh tế và tính chất phát sinh của nguồn thu là cần thiết, bởi qua cách phân loại này để thấy rõ sự phát triển của nền kinh tế, tính hiệu quả của nền kinh tế và mức độ ổn định vững chắc của nguồn thu NS.
c) Phân loại theo yêu cầu động viên vốn vào NSNN:
Có thể chia các khoản thu NSNN thành:
- Thu trong cân đối NSNN:
Bao gồm các khoản thu:
+ Thuế, phí, lệ phí
+ Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, bao gồm: thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế, tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi).
+ Thu từ hoạt động sự nghiệp
+ Thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước
+ Các khoản thu khác theo luật định.
Trong các khoản thu nói trên thì thuế là nguồn thu chủ yếu, chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu của NSNN
- Thu bù đắp thiếu hụt NSNN: khi số thu NSNN không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu và Nhà nước phải đi vay, bao gồm vay trong nước từ các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế - xã hội, vay từ nước ngoài.v.v.
* Ý nghĩa của cách phân loại này: Cách phân loại này cho phép đánh giá sự lành mạnh của NSNN và rất có ý nghĩa trong tổ chức điều hành NSNN.
1.1.3. Nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN
Một vấn đề hết sức quan trọng trong thu NSNN là việc xác định mức động viên và lĩnh vực động viên một cách đúng đắn, hợp lý. Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến số thu NSNN, mà còn tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Mức động viên và lĩnh vực động viên lại chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN cần phải kể đến là:
a) Thu nhập GDP bình quân đầu người
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước. Thu nhập GDP bình quân đầu người là nhân tố quyết định đến mức động viên của NSNN. Nếu không tính đến chỉ tiêu này khi xác định mức động viên của ngân sách sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của các tổ chức kinh tế, của các tầng lớp dân cư. Thông thường mức động viên vào NSNN ở các nước khoảng từ 17%- 21% GDP là hợp lý.
* Lưu ý:
Hiện nay, có một nghịch lý ở các nước đang phát triển. Đó là ở các nước này, khả năng thu là rất hạn chế (do GDP bình quân đầu người thấp) trong khi nhu cầu chi cho phát triển kinh tế và các vấn đề xã hội lại rất lớn nên tỷ lệ động viên của các nước này thường rất cao (thường trên 23%) do vậy đã gây ra hiệu ứng tiêu cực là kìm hãm sản xuất, gây thất thu trong tương lai.
b) Tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế
Tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển kinh tế. Tỷ suất lợi nhuận càng lớn, nguồn tài chính càng lớn. Đây là nhân tố quyết định đến việc nâng cao tỷ lệ động viên của NSNN.
Dựa vào tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế để xác định tỷ suất thu NSNN sẽ tránh được việc động viên vào NSNN gây khó khăn về tài chính cho hoạt động kinh tế. Hiện nay, tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế nước ta đạt thấp, trong khi chi phí tiền lương ngày càng tăng, nên tỷ lệ động viên của NSNN không thể cao được.
c) Tiềm năng đất nước về tài nguyên thiên nhiên
Đối với các nước đang phát triển và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú thì nhân tố này có ảnh hưởng lớn đến số thu NSNN.
Ở nước ta hiện nay, tỷ trọng thu từ dầu thô chiếm khoảng 74% trong tổng thu NSNN(1). Trong tương lai, việc xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu. Đó là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng to lớn đến việc nâng cao tỷ lệ động viên của NSNN.
d) Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước
Nhân tố này phụ thuộc vào:
+ Quy mô tổ chức của bộ máy nhà nước và hiệu quả hoạt động của nó
+ Những nhiệm vụ kinh tế- xã hội mà Nhà nước đảm nhận trong từng thời kỳ
+ Chính sách sử dụng kinh phí của Nhà nước
Trong điều kiện các nguồn tài trợ khác cho chi phí Nhà nước không có khả năng tăng lên, việc tăng mức độ chi phí của Nhà nước sẽ dẫn đến áp lực thu NSNN phải tăng lên.
* Lưu ý:
Ở hầu hết các nước đang phát triển, Nhà nước đều có tham vọng đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế bằng việc đầu tư vào các công trình lớn. Để có nguồn vốn đầu tư phải tăng thu. Nhưng trong thực tế tăng thu quá mức lại làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại. Để giải quyết vấn đề nan giải đó, Nhà nước phải có một chương trình phát triển kinh tế, xã hội thận trọng trên cơ sở khoa học và thực tiễn để đạt hiệu quả cao, từ đó xác lập một chính sách chi tiêu có hiệu quả và tiết kiệm. Có như vậy mới giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa thu và chi của NSNN.
e) Tổ chức bộ máy thu nộp
Tổ chức bộ máy thu nộp gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống được thất thu do trốn, lậu thuế sẽ là nhân tố tích cực làm tăng hiệu quả thu NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của NSNN.
Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, để xác định mức thu NSNN đúng đắn cần phải có sự phân tích, đánh giá cụ thể các nhân tố tác động đến nó trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước trong từng thời kỳ. Tỷ lệ động viên các khoản thu NSNN được xem là hạt nhân cơ bản của chính sách thu nên cần phải được nghiên cứu, xem xét trên nhiều khía cạnh kinh tế, chính trị, xã hội.
Sau đây là một số khoản thu chủ yếu:
1.2. Một số khoản thu chủ yếu của NSNN
1.2.1. Thuế - Khoản thu chủ yếu của NSNN
1.2.1.1. Khái niệm thuế
Cho đến nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế. Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế.
- Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản: "Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khoá..." (Mác - Ăng Ghen. TT.T2- NXB Sự thật - Hà Nội- 1962. Tr.522).
- Theo Paul.A. Samulson thì: thuế có thể coi là một loại “giá” mà chúng ta phải trả cho các hàng hoá công cộng(1).
- Một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn thiện được nêu lên trong cuốn sách "Economics" của hai nhà kinh tế Mỹ là Makkollhell và Bruy như sau: "thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hoá, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật" (Economic. Makkollhell and Bruy - M.1993.- tr.14- Tiếng Nga).
Ở nước ta, theo cuốn "Từ điển tiếng Việt" (do Trung tâm từ điển học xuất bản năm 1998), thì: thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp v.v buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định.
Qua các định nghĩa nói trên, ta thấy có nhiều cách hiểu khác nhau về thuế nhưng chúng đều toát lên những nội dung chính của thuế là:
- Xét về giác độ nhà nước: thuế là biện pháp động viên nguồn thu vào NSNN mang tính bắt buộc, gắn với quyền lực nhà nước.
- Đối với người nộp thuế: thuế là khoản đóng góp bắt buộc vào NSNN mà không mang tính hoàn trả trực tiếp.
Người nộp thuế chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã được pháp luật quy định.
- Xét về nội dung kinh tế: thuế được đặc trưng bởi các quan hệ phân phối giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, nhằm động viên một phần thu nhập của xã hội vào NSNN.
Từ việc phân tích những quan niệm về thuế của thế giới và của nước ta nêu trên, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát về thuế như sau:
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
1.2.1.2. Hệ thống thuế nước ta và phân loại thuế
a) Hệ thống thuế của nước ta
Hệ thống thuế bao gồm nhiều sắc thuế mà Nhà nước sử dụng, nó tạo lập nguồn thu cho NSNN và thực hiện những mục tiêu nhất định trong quản lý kinh tế - xã hội.
Thực hiện đường lối đổi mới, chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, hệ thống thuế nước ta đã được cải cách căn bản bằng việc ban hành các luật thuế, pháp lệnh thuế áp dụng chung cho mọi thành viên trong cả nước.
Hệ thống thuế hiện hành ở nước ta bao gồm:
- Thuế giá trị gia tăng
- Thuế thu nhập doanh nghiệp
- Thuế tiêu thụ đặc biệt
- Thuế xuất khẩu, nhập khẩu
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp
- Thuế nhà đất
- Thuế tài nguyên
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
- Thuế môn bài
Ngoài ra, còn có một số loại thu khác có tính chất thuế như: lệ phí trước bạ, lệ phí chứng thư, lệ phí hải quan, phí giao thông, phí cầu phà, phí đường, phí bay qua bầu trời.v.v.
b) Phân loại thuế
Bất cứ hệ thống thuế của quốc gia nào cũng đều được phân loại để quản lý. Có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng thông thường có các cách phân loại phổ biến sau:
b.1) Phân loại theo tính chất chuyển giao của thuế: Chuyển giao thuế là việc xác định ai là người nộp thuế, ai là người thực sự phải gánh chịu thuế. Theo tiêu thức này thuế được chia thành hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu.
- Thuế trực thu: là các thứ thuế trực tiếp huy động một phần thu nhập của người làm nghĩa vụ. Đặc điểm cơ bản của thuế trực thu là người nộp thuế và người chịu thuế là một. Nó đánh trực tiếp vào người nộp thuế, tức là người có thu nhập chịu thuế làm giảm phần thu nhập của họ. ở đây không có hiện tượng chuyển giao gánh nặng thuế cho người khác chịu.
Ở nước ta, thuế trực thu đó là các thứ thuế như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất nông nghiệp.
- Thuế gián thu: là các thứ thuế mà người nộp thuế gián tiếp nộp thuế cho người tiêu dùng, họ không phải là người chịu thuế. Đặc điểm cơ bản của thuế gián thu là được cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ để bán ra. ở đây có sự chuyển giao gánh nặng thuế từ người nộp thuế theo luật định sang người tiêu dùng qua cơ chế giá cả. Ở nước ta, đó là các thứ thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu...
*Lưu ý:
+ Thuế trực thu có thể trực tiếp điều tiết bớt thu nhập của các doanh nghiệp và cá nhân nên người ta thường sử dụng thuế suất lũy tiến để điều tiết những thu nhập cao.
+ Thuế gián thu lại có tầm quan trọng trong việc thúc đẩy giao lưu hàng hoá, mở rộng hoặc thu hẹp sự lưu thông hàng hoá nên người ta thường sử dụng thuế suất tỷ lệ cao thấp khác nhau nhằm khuyến khích hay hạn chế chúng.
Cách phân loại này cho thấy được vai trò của từng loại thuế trong phân phối và điều tiết thu nhập của các chủ thể trong xã hội. Đồng thời nó cũng có ý nghĩa trong việc hệ thống hoá một cách khoa học các sắc thuế phục vụ công việc nghiên cứu và thiết kế các chính sách thuế.
b.2) Phân loại theo đối tượng đánh thuế
Dựa vào đối tượng đánh thuế, nghĩa là thuế đánh trên cái gì, thuế được chia thành:
- Thuế thu nhập như thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp...
- Thuế tài sản như thuế sử dụng tài sản nhà nước (thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên...), thuế chuyển nhượng tài sản (thuế chuyển giao quyền sử dụng đất, thuế mua, bán các tài sản như nhà, xe cộ...).
- Thuế tiêu dùng đánh vào hàng hoá, dịch vụ lưu thông trên thị trường trong nước và xuất nhập khẩu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu...
Cách phân loại này giúp cho việc tìm các giải pháp để quản lý, khai thác, bồi dưỡng từng nguồn thuế, đồng thời còn giúp cho việc xem xét thuế với việc đảm bảo quản lý được các hoạt động khác nhau, các nguồn thu nhập khác nhau để có thể mở rộng và phát triển hệ thống thuế.
1.2.1.3. Các yếu tố cấu thành một sắc thuế
Một luật thuế thông thường có các yếu tố cấu thành sau:
a) Tên gọi của thuế
Bất kỳ một loại thuế nào cũng có tên gọi. Tên gọi của thuế xác định nội dung kinh tế của thuế. Thông thường người ta dựa vào đối tượng đánh thuế để đặt tên cho một sắc thuế, ví dụ: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu.v.v.
Khi đặt tên cho một sắc thuế cần ngắn gọn, dễ hiểu, từ dùng mang tính phổ thông và phản ánh được mục tiêu của thuế.
b) Đối tượng nộp thuế:
Người nộp thuế là chủ thể của một luật thuế, là một pháp nhân hay thể nhân có nghĩa vụ phải nộp khoản thuế do luật thuế quy định. Trong tất cả các luật thuế, người nộp thuế luôn được quy định rõ ràng.
c) Đối tượng chịu thuế:
Người chịu thuế là người trích một phần thu nhập của mình để gánh chịu khoản thuế của Nhà nước. Nói cách khác, người chịu thuế là người gánh vác sau cùng khoản thuế phải nộp vào NSNN.
Tuy nhiên, trong các luật thuế, không bao giờ quy định yếu tố này. Nhưng khi nghiên cứu và ban hành luật thuế lại phải luôn tính tới nó. Bởi lẽ không xem xét tới sự gánh chịu sau cùng khoản thuế phải nộp, sẽ không biết được thuế tác động như thế nào đến tích lũy của các doanh nghiệp, đến mức sống của dân cư.
* Lưu ý:
Trong nhiều sắc thuế (thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế NK.v.v.) người nộp thuế không bắt buộc là người cuối cùng chịu thuế, tuy nhiên trong một số sắc thuế người nộp thuế cũng chính là người chịu thuế, ví dụ: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp.v.v.
d) Đối tượng đánh thuế
Đối tượng đánh thuế là các khách thể của một luật thuế, là những thu nhập hoặc tài sản, hàng hoá mà một luật thuế nhất định tác động vào, điều tiết nó. Hay nói cách khác đối tượng đánh thuế là mục tiêu tác động của thuế.
Đối tượng đánh thuế có thể là thu nhập, tài sản, hàng hoá đem bán thuộc sở hữu của người nộp thuế được luật thuế quy định. Xác định đối tượng của thuế là xác định nguồn vật chất mà người ta tính toán trên đó số tiền thuế phải nộp.
e) Căn cứ tính thuế:
Căn cứ tính thuế là những yếu tố mà người thu thuế dựa vào đó để tính số thuế phải nộp. Các loại thuế khác nhau thì căn cứ tính thuế cũng khác nhau. Chẳng hạn, thuế giá trị gia tăng có căn cứ tính thuế là giá tính thuế và thuế suất; căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập chịu thuế và thuế suất; căn cứ tính thuế xuất nhập khẩu lại bao gồm số lượng, chủng loại hàng hoá xuất nhập khẩu, giá tính thuế và thuế suất.v.v.
Như khi xem xét căn cứ tính thuế thì cần phải xem xét các yếu tố:
- Thuế suất: là phần thuế phải nộp trên mỗi đơn vị tính của đối tượng đánh thuế.
Trong các yếu tố cấu thành của một luật thuế, thuế suất có vị trí quan trọng nhất. Người ta ví nó như linh hồn" của một sắc thuế. Thuế suất phản ánh mức nộp thuế cao hay thấp, nặng hay nhẹ, đồng thời liên quan đến số thuế Nhà nước thu được bao nhiêu vào NSNN. Do vậy, việc thiết kế thuế suất là một vấn đề phải được xem xét cẩn trọng, phải quán triệt quan điểm vừa coi trọng lợi ích quốc gia, vừa chú ý đến lợi ích thích đáng của người nộp thuế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tập trung và tích tụ trong việc sử dụng công cụ thuế (có thể giải thích vấn đề này bằng đường cong Laffer).
Có nhiều cách quy định thuế suất khác nhau cho từng đối tượng đánh thuế khác nhau trong các luật thuế, đó là:
+ Thuế suất tỷ lệ: là thuế suất được quy định theo tỷ lệ % trên đối tượng đánh thuế.
+ Thuế suất lũy tiến: là thuế suất tăng dần lên theo độ lớn của đối tượng đánh thuế. Thuế suất lũy tiến có hai loại:
Thuế suất lũy tiến từng phần là thuế suất tăng dần theo từng nấc của đối tượng đánh thuế.
Thuế suất lũy tiến toàn phần là thuế suất tăng lên theo toàn bộ mức tăng của đối tượng đánh thuế.
+ Thuế suất tuyệt đối: là mức thuế được quy định bằng một lượng tuyệt đối trên đối tượng đánh thuế mà không tính tới độ lớn của đối tượng đánh thuế.
- Đơn vị tính thuế: là đơn vị được sử dụng làm phương tiện tính toán của đối tượng đánh thuế. Ví dụ: đơn vị tính thuế của thuế thu nhập doanh nghiệp là đồng Việt Nam (VNĐ); đơn vị tính thuế sử dụng đất nông nghiệp là kg thóc tính theo hạng đất.
- Giá tính thuế: là trị giá của đối tượng đánh thuế. Ví dụ: thuế đánh vào tài sản chuyển nhượng nên phải định giá tài sản theo một giá cả nào đó để tính thuế, nó có thể là giá thị trường, có thể là giá do cơ quan thuế ấn định... Giá tính thuế liên quan mật thiết đến mức thuế phải nộp. Một khối lượng hàng hoá như nhau, giá tính thuế khác nhau sẽ dẫn đến mức thuế phải nộp khác nhau.
- Khởi điểm đánh thuế: là mức thu nhập bắt đầu phải đánh thuế, thu nhập dưới mức đó không phải nộp thuế. Khi thiết kế khởi điểm đánh thuế phải tính đến diện người nộp thuế. Khởi điểm đánh thuế càng cao, diện người nộp thuế càng hẹp và ngược lại, khởi điểm đánh thuế càng thấp, diện người nộp thuế càng rộng.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng khởi điểm đánh thuế không phải là yếu tố phổ biến trong tất cả các luật thuế, thường chỉ quy định trong một số luật thuế, chẳng hạn Luật thuế thu nhập cá nhân.
g) Miễn, giảm thuế
Một số sắc thuế có quy định cho phép người nộp thuế không phải thực hiện nghĩa vụ nộp toàn bộ số tiền thuế mà người đó phải nộp cho Nhà nước (gọi là miễn thuế) hoặc chỉ nộp một phần số tiền thuế đó (gọi là giảm thuế) . Miễn thuế, giảm thuế chỉ là yếu tố ngoại lệ được quy định trong một số sắc thuế.
Thông thường, những lý do để người nộp thuế được Nhà nước cho phép miễn thuế, giảm thuế quy định trong các sắc thuế là:
- Do nguyên nhân khách quan mà người nộp thuế gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc bị giảm sút thu nhập.
- Thực hiện một số chủ trương chính sách kinh tế của Nhà nước như: khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư vào các ngành nghề trọng điểm, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn...
Tuy nhiên thực hiện việc miễn giảm thuế cũng có tính hai mặt, nó chứa đựng những yếu tố tích cực, tạo điều kiện thực hiện các chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, nhưng cũng chứa đựng các yếu tố tiêu cực, có thể làm méo mó những ý tưởng ban đầu khi thiết lập các sắc thuế, không phù hợp với những tiêu chuẩn của một hệ thống thuế hiện đại.
h) Thưởng phạt
Thưởng là hình thức Nhà nước khuyến khích người có thành tích trong thực hiện các luật thuế. Còn phạt là hình thức kỷ luật đối với người vi phạm luật thuế.
i) Thủ tục về thuế
Đó là những quy định về những giấy tờ và trình tự thu nộp mang tính hành chính để thi hành luật thuế (như thủ tục kê khai, tính thuế và nộp thuê).
Ngoài các yếu tố trên đây, trong luật thuế bao giờ cũng quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của Chính phủ, của UBND các cấp, của Bộ Tài chính, cơ quan thuế ở Trung ương và ở các địa phương, nghĩa vụ của người nộp thuế.
1.2.1.4. Các tiêu thức xây dựng hệ thống thuế hiện đại
a) Tính công bằng (theo chiều dọc và chiều ngang)
b) Tính hiệu quả (đối với công tác thu thuế và với nền kinh tế)
c) Tính trung lập
d) Tính rõ ràng minh bạch
e) Tính thuận tiện
f) Tính ổn định
1.2.2. Nguồn thu từ phí và lệ phí
a) Khái niệm của phí và lệ phí
Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người đều nhận được rất nhiều hàng hoá, dịch vụ tư nhân và các hàng hoá dịch vụ công cộng do xã hội cung cấp. Trong số các hàng hoá, dịch vụ này có một phần không nhỏ là hàng hoá, dịch vụ công cộng (ví dụ: đường giao thông, các khu vui chơi giải trí.v.v.). Khác với hàng hoá, dịch vụ thông thường, hàng hoá, dịch vụ công cộng có tính chất đặc biệt là khó phân chia và nhiều người cùng sử dụng một lúc, nhưng khó xác định được mức độ tiêu dùng của từng người hưởng thụ.
Việc sản xuất và cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng đòi hỏi chi phí lớn, thời gian thu hồi vốn dài, tỷ suất lợi nhuận thấp hoặc không có lợi nhuận nên khu vực kinh tế tư nhân không sẵn sàng cung cấp các hàng hoá và dịch vụ công cộng. Do vậy, đại đa số hàng hoá, dịch vụ công cộng do Nhà nước sản xuất và cung cấp. Tuy nhiên, trong thực tế những đối tượng thụ hưởng hàng hoá, dịch vụ công cộng lại không tự nguyện trả tiền cho việc thụ hưởng các hàng hoá này. Để bù đắp chi phí bỏ ra nhằm tái tạo và phát triển hơn nữa hàng hoá, dịch vụ công cộng, Nhà nước phải tìm ra một phương thức thích hợp, đó là hình thức thu phí và lệ phí.
Vậy phí và lệ phí là gì?
- Khái niệm phí:
Trong thực tế cụm từ “phí” được sử dụng rất rộng rãi. ở dưới mỗi giác độ khác nhau người ta lại có những định nghĩa khác nhau về phí. Thông thường phí được hiểu là khoản tiền mà một người phải trả khi người đó được hưởng một dịch vụ công cộng nào đó nhằm mục đích bù đắp chi phí sản xuất và
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Trong chương này cần làm rõ các vấn đề sau:
- Ngân sách là gì? Vai trò của nó?
- Quá trình tạo lập NSNN.
- Nhà nước sử dụng NSNN như thế nào?
- Nhà nước quản lý NSNN ra sao?
I- NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1. Khái niệm Ngân sách nhà nước
a) Vài nét sơ lược về nguồn gốc ra đời và phát triển của Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước (NSNN) là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, Ngân sách nhà nước ra đời là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại của Nhà nước và nền kinh tế hàng hoá- tiền tệ.
Trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước", Ăng- ghen đã chỉ ra rằng: Nhà nước ra đời trong cuộc đấu tranh của xã hội có giai cấp, nó là sản phẩm của đấu tranh giai cấp. Nhà nước xuất hiện với tư cách là cơ quan có quyền lực công cộng để duy trì và phát triển xã hội. Để thực hiện chức năng đó, Nhà nước phải có nguồn lực tài chính. Bằng quyền lực công cộng, Nhà nước đã ấn định các thứ thuế, bắt công dân phải đóng góp lập ra quỹ tiền tệ riêng có - quỹ NSNN - để chi tiêu cho bộ máy nhà nước, quân đội, cảnh sát... Nhưng dần dần những tham vọng về lãnh thổ, về chủ quyền đưa đến những cuộc chiến tranh xâm lược làm cho bộ máy thống trị, quân đội ngày một lớn. Thuế không đảm bảo được nhu cầu chi tiêu buộc Nhà nước phải vay nợ bằng cách phát hành công trái để bù đắp sự thiếu hụt của NSNN.
Như vậy, qua việc phân tích nói trên của Ăng- ghen chúng ta có thể thấy rằng: sự ra đời của NSNN luôn gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước. Bản chất của Nhà nước quyết định bản chất giai cấp của NSNN.
- Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến, nguồn thu của NSNN chủ yếu dựa trên sự đóng góp bắt buộc của dân chúng để hình thành quỹ NSNN và quỹ này dùng để chi tiêu cho nhà vua, quân đội, bộ máy công quyền cai trị xã hội. Người dân được hưởng rất ít các phúc lợi công cộng từ NSNN.
- Khi giai cấp tư sản lên nắm chính quyền, giai đoạn đầu họ chủ trương xây dựng một Nhà nước không can thiệp vào hoạt động của các lực lượng kinh tế trên thị trường. Nhà nước chỉ đơn thuần đảm nhận nhiệm vụ giữ gìn an ninh, quốc phòng. NSNN lúc này chỉ đóng vai trò là một quỹ tiền tệ của nhà nước để duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước.
Bước vào những năm 1929-1933, nền kinh tế của các nước tư bản lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng. Để đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, Nhà nước phải can thiệp vào nền kinh tế bằng cách lập ra các chương trình chi tiêu lớn và thực hiện tái phân phối lại thu nhập xã hội thông qua các công cụ tài chính. Trong số các công cụ đó thì NSNN là công cụ quan trọng, sắc bén để nhà nước thực hiện điều chỉnh nền kinh tế và nâng cao phúc lợi công cộng cho người dân.
- Đối với Nhà nước trong thời đại hội nhập quốc tế hiện nay, có những vấn đề mang tính toàn cầu mà khu vực tư nhân không thể giải quyết được (chẳng hạn vấn đề bảo vệ môi trường, sinh thái, thiên tai, việc chống khủng bố,...) do vậy nhà nước phải đứng ra giải quyết các vấn đề đó. Trong thời kỳ này NSNN có thêm nhiệm vụ đảm bảo nguồn tài chính cho những hoạt động đối ngoại nói trên của nhà nước.
Như vậy cùng với việc mở rộng các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và sự phát triển của các quan hệ hàng hoá- tiền tệ, các hình thức thu, chi của NSNN ngày càng phát triển phong phú hơn và NSNN đã trở thành một công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc đảm bảo chi tiêu cho nhà nước và tác động đến đời sống xã hội cho đất nước.
Vậy thực chất NSNN là gì?
b) Khái niệm NSNN
Cho đến nay, thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Thế nhưng người ta vẫn chưa có sự nhất trí về NSNN là gì? Có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm NSNN, tuỳ theo quan điểm của người định nghĩa thuộc các trường phái kinh tế khác nhau, hoặc tuỳ theo mục đích nghiên cứu khác nhau.
- Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển, thì: Ngân sách nhà nước là một văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu, chi của Chính phủ, được thiết lập hàng năm.
- Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN. Chẳng hạn:
+ Theo các nhà kinh tế phương Tây, NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước.
+ Các nhà kinh tế Trung Quốc cho rằng, NSNN là kế hoạch thu, chi tài chính hàng năm của Nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp luật quy định.
+ Các nhà kinh tế Nga cũng cho rằng, NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của Nhà nước.
Chúng ta có thể thấy, quan điểm của các nhà kinh tế Nga và Trung Quốc khá gần gũi với quan điểm của các nhà kinh tế cổ điển.
- Luật Ngân sách nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Khoá IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20/3/1996 cũng có ghi: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
Các ý kiến trên xuất phát từ cách tiếp cận vấn đề khác nhau và có nhân tố hợp lý song chưa đầy đủ. Bởi chúng mới chỉ mô tả hình thức biểu hiện bên ngoài của NSNN, mà chưa phản ánh được nội dung kinh tế bên trong- mặt bản chất của NSNN.
Khái niệm NSNN là một khái niệm trừu tượng, nhưng nếu xem xét ở giác độ hoạt động tài chính thì NSNN lại là một hoạt động tài chính cụ thể của Nhà nước. Do vậy, khái niệm NSNN phải thể hiện được mặt bản chất, tức là nội dung kinh tế - xã hội chứa đựng bên trong của NSNN, muốn vậy NSNN phải được xem xét trên các giác độ khác nhau:
- Xét về hình thức: NSNN là một bản dự toán thu và chi do Chính phủ lập ra, đệ trình Quốc hội phê chuẩn và giao cho Chính phủ tổ chức thực hiện.
- Xét về thực thể: NSNN bao gồm những nguồn thu cụ thể, những khoản chi cụ thể và được định lượng. Các nguồn thu đều được nộp vào một quỹ tiền tệ - quỹ NSNN - và các khoản chi đều được xuất ra từ quỹ tiền tệ ấy.
Thu và chi quỹ này có quan hệ ràng buộc với nhau gọi là cân đối cân đối thu- chi NSNN, đó là một cân đối lớn trong nền kinh tế thị trường và được Nhà nước quan tâm đặc biệt. Vì lẽ đó có thể khẳng định NSNN là một quỹ tiền tệ lớn của Nhà nước.
- Xét trong tổng thể một hệ thống tài chính thống nhất: NSNN là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia.
- Xét về các nội dung kinh tế chứa đựng trong NSNN: Quan sát các hoạt động ngân sách ta thấy: các khoản thu - luồng nhập quỹ NSNN, các khoản chi - xuất quỹ NSNN chính là quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước. Trong quá trình đó xuất hiện hàng loạt các quan hệ tài chính giữa một bên là Nhà nước với một bên là các chủ thể phân phối trong quá trình phân phối các nguồn tài chính .Cụ thể:
Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với dân cư, thể hiện: dân cư nộp các thứ thuế cho nhà nước và nhà nước chi các khoản hỗ trợ cho dân cư như các khoản trợ cấp xã hội, y tế, giáo dục, trợ cấp xoá đói giảm nghèo.v.v.
Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với khu vực doanh nghiệp, thể hiện: doanh nghiệp nộp thuế cho nhà nước và nhà nước chi hỗ trợ vốn đầu tư, trợ cấp xuất khẩu cho doanh nghiệp.
Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các tổ chức xã hội, thể hiện nhà nước chi hỗ trợ cho hoạt động của các tổ chức xã hội được khuyến khích.
Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các Nhà nước khác và với các tổ chức quốc tế, thể hiện: ở quan hệ vay nợ, viện trợ, hợp tác kinh tế giữa các nhà nước với nhau hoặc giữa nhà nước với các tổ chức phi chính phủ.v.v.
Như vậy, đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài của NSNN là một quỹ tiền tệ của Nhà nước với các khoản thu, chi của nó thì NSNN lại phản ánh các quan hệ kinh tế gắn với một chủ thể đặc biệt đó là Nhà nước trong quá trình phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để giải quyết các nhiệm vụ kinh tế, xã hội. Những quan hệ thu nộp và cấp phát qua quỹ NSNN là những quan hệ được xác định trước, được định lượng và Nhà nước sử dụng chúng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Từ sự phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm NSNN như sau:
NSNN là một khâu của hệ thống tài chính quốc gia, nó phản ánh quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định.
2. Đặc điểm của Ngân sách nhà nước
Từ việc phân tích nguồn gốc ra đời và khái niệm của NSNN, chúng ta rút ra một số đặc điểm cơ bản của NSNN:
Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn với quyền lực của Nhà nước và được Nhà nước tiến hành trên cơ sở luật định.
Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của NSNN. Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ một khoản thu, chi nào của NSNN cũng chỉ có một cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước - Quốc hội quyết định. Mặt khác tính quyền lực của Nhà nước đối với NSNN còn thể hiện ở chỗ Chính phủ không thể thực hiện thu, chi NS một cách tuỳ tiện mà phải dựa trên cơ sở pháp lý đã được xác định trong các văn bản pháp luật do cơ quan quyền lực của Nhà nước ban hành.
Bởi vì:
- Quá trình tạo lập quỹ NSNN (thu NSNN) chính là quá trình phân phối lại lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể tham gia phân phối, trong đó Nhà nước điều tiết một phần lợi ích kinh tế từ các chủ thể tham gia phân phối là các tổ chức và cá nhân trong xã hội. Tuy nhiên, trong thực tế không phải tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội đều sẵn sàng chia sẻ lợi ích của mình cho Nhà nước. Do vậy, để điều tiết được một phần thu nhập của xã hội nhằm tạo lập được quỹ NSNN thì Nhà nước phải dùng quyền lực của mình để buộc các tổ chức, cá nhân trong xã hội đóng góp.
- Quá trình sử dụng quỹ NSNN (chi NSNN) cũng chính là quá trình phân phối lợi ích nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Quá trình này tác động đến lợi ích kinh tế của các chủ thể ở mọi lĩnh vực kinh tế-xã hội do vậy để đảm bảo tính thống nhất, kỷ cương trong đời sống kinh tế xã hội để Nhà nước hoàn thành chức năng của mình thì các khoản chi NSNN phải được thể hiện bằng quyền lực của Nhà nước tức là luật pháp.
Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước, nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước, luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng.
Như phần trên đã phân tích, hoạt động NSNN được biểu hiện cụ thể bằng các hoạt động thu và chi, trong đó:
- Thu NSNN chính là quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ đặc biệt- quỹ này thuộc sở hữu của Nhà nước.
- Chi NSNN, chính là việc sử dụng quỹ này chi tiêu cho những hoạt động của bộ máy quản lý hành chính, quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, các vấn đề về phúc lợi công cộng, về sự nghiệp xã hội trước mắt và lâu dài. Tất cả những khoản chi nói trên nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Kết quả của các khoản chi nói trên không ngoài mục đích đảm bảo cho một xã hội ổn định, nền kinh tế tăng trưởng bền vững và phúc lợi công cộng được nâng cao. Do vậy hoạt động của NSNN luôn chứa đựng lợi ích công cộng, lợi ích chung toàn xã hội.
Thứ ba, hoạt động thu, chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
Tính chất không hoàn trả trực tiếp của hoạt động thu, chi NSNN được thể hiện trên các khía cạnh sau:
Một là: Sự chuyển giao thu nhập của xã hội vào quỹ NSNN chủ yếu thông qua hình thức thuế. Đó là hình thức thu- nộp bắt buộc, không mang tính hoàn trả trực tiếp. Có nghĩa là mức thu nhập mà người nộp chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ lợi ích mà người nộp thuế thừa hưởng từ những dịch vụ và hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp. Ngược lại, người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới nộp thuế cho Nhà nước;
Hai là: Mọi người dân sẽ nhận được một phần các hàng hoá, dịch vụ công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng. Phần giá trị mà người đó được hưởng thụ không nhất thiết tương đồng với khoản đóng góp mà họ đã nộp vào NSNN.
Ngoài ba đặc điểm nêu trên, NSNN cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác (thể hiện tính mục đích và tính vận động thường xuyên). Tuy nhiên, nét riêng biệt của NSNN với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước là nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ, có tác dụng riêng và chỉ sau đó NSNN mới được chi dùng cho những mục đích nhất định đã định trước.
Nghiên cứu những đặc điểm của NSNN không những cho phép tìm được phương thức và phương pháp quản lý NSNN hiệu quả hơn, mà còn giúp ta nhận thức và phát huy tốt hơn vai trò của Ngân sách nhà nước.
3. Vai trò của NSNN
NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại của đất nước. Tuy nhiên, vai trò của NSNN bao giờ cũng gắn liền với vai trò của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định.
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của NSNN có thể xem xét trên một số mặt sau đây:
3.1. NSNN là công cụ tài chính quan trọng nhất để cung ứng nguồn tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước.
Sự hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội luôn đòi hỏi phải có các nguồn tài chính để chi tiêu cho những mục đích xác định. Các nhu cầu chi tiêu của nhà nước được thỏa mãn từ các nguồn thu bằng hình thức thuế và thu ngoài thuế. Đây là vai trò lịch sử của NSNN, được xuất phát từ tính nội tại của phạm trù tài chính mà trong bất kỳ chế độ xã hội và cơ chế kinh tế nào, NSNN đều phải thực hiện và phát huy.
Để phát huy vai trò của NSNN trong quá trình phân phối, huy động các nguồn tài chính của xã hội cho nhà nước cần thiết phải xác định:
- Mức động viên các nguồn tài chính từ đơn vị cơ sớ để hình thành nguồn thu của nhà nước.
- Các công cụ kinh tế được sử dụng tạo nguồn thu cho nhà nước và thực hiện các khoản chi của nhà nước.
- Tỷ lệ động viên (tỷ suất thu) của nhà nước trên GDP.
[Theo thống kê của thế giới, mức động viên GDP vào NSNN ở các nước phát triển thường khoảng trên 30%, và ở các nước đang phát triển khoảng từ 14% đến 17% (không tính tới các khoản không phải là thuế, phí, lệ phí như các nguồn thu từ bán tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là dầu thôlà thứ không tái tạo lại được trong tương lai)
Tỷ lệ động viên GDP vào ngân sách quyết định qui mô quỹ NSNN.
Ở 30 nước của nền kinh tế phát triển (nguồn kinh tế tài chính thế giới 1970-2000 của Viện nghiên cứu tài chính), tỷ lệ động viên GDP vào ngân sách chính quyền trung ương bình quân trong giai đoạn 1971-2000 là 29.92 %GDP.
Cũng cùng giai đoạn trên, đối với 13 nước của nền kinh tế khu vực EURO là 32,23%GDP ; của nhóm G7 là 25,74%GDP (trong đó duy chỉ có Nhật là dưới 15% GDP do nước này phân cấp mạnh ngân sách cho chính quyền địa phương);
Nhóm 33 nước xuất khẩu dầi khí giai đoạn 2000-2005 là 37,45 % GDP ( Viet Nam 23,72% GDP). Các nước ASEAN giai đoạn 1971-2000 (trừ tài trợ) là 18,93% GDP (Việt Nam 20,25 % GDP) !
Vậy tỷ lệ động viên GDP vào ngân sách ở Việt Nam bao nhiêu sẽ là hợp lý ?
Việt Nam là nước có GDP thấp với nền kinh tế và thu ngân sách phụ thuộc một phần quan trọng vào khai thác xuất khẩu dầu thô và tài nguyên khoáng sản thô, hơn thế nữa lại là nước vay nợ thuần với tỷ lệ nợ Chính phủ tương đối cao.
Tổng thu và viện trợ của VN qua các năm 2004, 2005, 2006 lần lượt là 26,7% GDP; 25,9% GDP; 24,5% GDP trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp chiếm tỷ trọng tương đối lớn (hơn 8%GDP) tiếp đến là thuế VAT. Trong khi thu NSTW (trừ viện trợ) tương ứng năm là 17,4% GDP ; 16,9% GDP; 16% GDP. ( nguồn IMF tháng 11 năm 2006).
Qua phân tích và nhận định của các chuyên gia, tỷ lệ động viên hợp lý GDP vào ngân sách chính quyền TW của Việt Nam hiện nay ở mức 16% GDP là hoàn toàn hợp lý.
Bên cạnh đó tỷ lệ động viên GDP và NSNN nói chung ở mức 24% GDP hiện nay cũng hợp lý (theo đó tỷ trọng thu NSTW chiếm 2/3 NSNN như mức độ phân cấp thu NSNN hiện nay). Muốn duy trì mức độ phân cấp như hiện nay với tỷ lệ động viên GDP vào ngân sách chính quyền TW của VN ở mức 18% GDP thì cần 27% GDP cho NSNN - mức này bất hợp lý so với trình độ và nguồn lực phát triển kinh tế VN hiện nay và trong tương lai gần. Phần giảm thu từ dầu khí và thuế XNK của NSTW được bù đắp bằng thuế trực thu, đặc biệt là từ thuế TNDN,…
(Câu hỏi thêm: trong khi mức thu từ dầu thô vẫn được tính chung là tổng thu của NSNN phục vụ cho chi tiêu chung của Chính phủ, nếu tách riêng ra thành một quỹ riêng thi mức động viên của Việt Nam trong tương lai tới đây sẽ phải được bù vào bởi khoản thu nào để thế cho khoản thu từ dầu thô đã được bóc tách riêng. Và với mục tiêu phát triển bền vững thì trong trường hợp bóc tách ấy bạn có ý kiến sử dụng quỹ thu từ dầu thô vào việc gì?)
3.2. NSNN là công cụ thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững.
Thông qua các khoản chi kinh tế và chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, phát triển những ngành mũi nhọn có khả năng cạnh tranh trên thị trường; đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng thuộc thế mạnh xuất khẩu..., Chính phủ có thể tạo điều kiện và hướng nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp vào những lĩnh vực, những vùng cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế mới cũng như tạo ra môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh. Các khoản chi này của NSNN không thu hồi trực tiếp, nhưng hiệu quả của nó lại được tính bằng sự tăng trưởng của GDP, sự phân bố chung hợp lý của nền kinh tế hoặc bằng các chỉ tiêu khác như tạo ra khả năng tăng tốc độ lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ...
Thông qua thu ngân sách mà chủ yếu là thuế cũng góp phần định hướng phát triển sản xuất. Việc đặt ra các loại thuế với thuế suất ưu đãi, các quy định miễn, giảm thuế... có tác dụng kích thích mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp. Một chính sách thuế có lợi sẽ thu hút được doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư vào nơi cần thiết, ngược lại, một chính sách thuế khắt khe sẽ giảm bớt luồng di chuyển vốn vào nơi cần hạn chế sản xuất kinh doanh.
Rõ ràng là chính sách thu, chính sách chi ngân sách gắn liền với chính sách phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ trực tiếp cho chính sách này của Nhà nước.
3.3. NSNN là công cụ để điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát
Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cung cầu chi phối đến giá cả thị trường rất mạnh mẽ. Mọi sự biến động của giá cả trên thị trường đều có nguyên nhân từ sự mất cân đối giữa cung và cầu. Để ổn định giá cả, chính phủ có thể thông qua công cụ NSNN để tác động vào cung hoặc cầu hàng hoá trên thị trường. Sự tác động này có thể được thực hiện theo hai hướng: thu và chi NSNN. Cụ thể:
(i) Thông qua điều chỉnh chính sách thu NSNN:
Bằng việc điều chỉnh cơ cấu hệ thống thuế, thuế suất, chính sách miễn giảm thuế hợp lý.v.v. Chính phủ cũng có thể tác động vào tổng cung hoặc tổng cầu để góp phần ổn định giá cả trên thị trường.
Ví dụ: khi giá cả hàng hoá lên cao, có nguy cơ trở thành lạm phát, nhà nước có thể điều chỉnh tăng thuế thu nhập cá nhân để giảm cầu, miễn, giảm thuế cho các doanh nghiệp sản xuất.v.v. để nâng đỡ cung từ đó thúc đẩy cân bằng cung cầu, ổn định giá cả, hạn chế lạm phát xảy ra
(ii) Thông qua chính sách chi tiêu của Nhà nước (chi NSNN).
Bằng nguồn cấp phát của chi tiêu NS hàng năm các quỹ dự trữ của Nhà nước (bằng tiền, bằng ngoại tệ, các loại hàng hoá, vật tư chiến lược...) được hình thành. Thông qua các quỹ này, Chính phủ thực hiện điều tiết thị trường bình ổn giá cả. Một cách tổng quát, cơ chế điều tiết là:
+ Khi giá cả của một loại hàng hoá nào đó lên cao, để kìm hãm và chống đầu cơ, Chính phủ đưa dự trữ hàng hoá đó ra thị trường để tăng cung, trên cơ sở đó sẽ bình ổn được giá cả và hạn chế khả năng tăng giá đồng loạt, gây nguy cơ lạm phát chung cho nền kinh tế.
+ Còn khi giá cả một loại hàng hoá nào đó bị giảm mạnh, có khả năng gây thiệt hại cho người sản xuất và tạo ra xu hướng di chuyển vốn sang lĩnh vực khác, Chính phủ sẽ bỏ tiền để mua các hàng hoá đó theo một giá nhất định đảm bảo quyền lợi cho người sản xuất.
- Trong trường hợp xảy ra lạm phát, Chính phủ cũng có thể sử dụng NSNN để khống chế và đẩy lùi lạm phát một cách hiệu quả bằng các biện pháp nhằm nâng đỡ cung và giảm bớt cầu, đó là:
+ Thắt chặt chi tiêu của NSNN, nhất là các khoản chi cho tiêu dùng;
+ Tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế thu nhập.
3.4. Ngân sách là công cụ hữu hiệu của Nhà nước để điều chỉnh trong lĩnh vực thu nhập, thực hiện công bằng xã hội
Một mâu thuẫn gay gắt đang nảy sinh trong thời đại hiện nay là mâu thuẫn giữa tính nhân đạo xã hội mà mỗi nhà nước và mỗi cá nhân cần vươn tới và quy luật khắt khe của nền kinh tế thị trường xung quanh vấn đề thu nhập, đó là sự chênh lệch quá lớn về thu nhập giữa người giàu và người nghèo. Vấn đề đặt ra là phải có một chính sách phân phối hợp lý thu nhập của toàn xã hội. Chính sách đó phải vừa khuyến khích sự tăng trưởng, lại vừa đảm bảo tính công bằng xã hội một cách hợp lý.
Bằng việc sử dụng công cụ NSNN, cụ thể là chính sách thuế và chính sách chi tiêu ngân sách, Chính phủ đã làm giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về thu nhập giữa người giàu và người nghèo nhằm ổn định đời sống của các tầng lớp dân cư trong phạm vi cả nước. Hay nói cách khác, vai trò quan trọng của NSNN trong điều chỉnh phân phối thu nhập được thể hiện trên phạm vi rộng lớn ở cả hai mặt hoạt động thu và chi NSNN. Cụ thể:
(i) Sử dụng công cụ thuế
- Thông qua thuế thu nhập cá nhân, Nhà nước thực hiện việc điều tiết một phần thu nhập của những người giàu, để đảm bảo mức tiêu dùng hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới đảm bảo công bằng xã hội về thu nhập.
- Với việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt, đánh thuế giá trị gia tăng với thuế suất cao đối với các mặt hàng xa xỉ, các loại dịch vụ cao cấp, Nhà nước có thể để điều tiết một phần thu nhập của những người giàu có- đối tượng chủ yếu sử dụng các loại hàng hoá cao cấp này.
(ii) Sử dụng chính sách chi tiêu ngân sách
Thông qua các khoản chi an sinh xã hội, chi cho các chương trình giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, chi trợ cấp trợ giá các mặt hàng thiết yếu (lương thực, điện, nước), chi phí cho việc cung cấp hàng hoá khuyến dụng, hàng hoá công cộng.v.v. thì NSNN như một trung tâm phân phối lại thu nhập, nhằm chuyển bớt một phần thu nhập từ các tầng lớp giàu có sang tầng lớp những người nghèo
Thông thường ở các quốc gia trên thế giới, các khoản chi phí cho mục tiêu phúc lợi xã hội, mục tiêu trợ cấp cho người nghèo được bố trí theo chiều hướng tăng lên theo một tỷ lệ nhất định so với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế.
* Lưu ý:
- Việc sử dụng công cụ NSNN làm công cụ điều chỉnh đảm bảo công bằng xã hội là một việc không đơn giản. Chẳng hạn:
+ Trong việc sử dụng công cụ thuế, quan điểm cơ bản nhất cần phải quán triệt là: kích thích sản xuất và điều hoà thu nhập. Thuế không thể thu quá cao đến mức làm nhụt khát vọng làm giàu của nhà kinh doanh và làm giảm khả năng tăng trưởng của nền kinh tế. Thuế cũng không thể thu quá thấp, bởi lẽ nó không chỉ làm giảm nguồn thu của NSNN, nguồn cơ bản để giải quyết các vấn đề xã hội, mà ở mức độ nhất định, nó còn hạn chế cạnh tranh để phát triển sản xuất. Vì thế, mức thuế và thuế suất phải được nghiên cứu thận trọng ở cả hai cực: kích thích và hạn chế.
+ Đối với nước ta hiện nay, nhu cầu chi tiêu của Chính phủ ngày càng tăng, nhất là các khoản chi tiêu dùng xã hội, trong khi đó nguồn thu NSNN còn hạn hẹp. Để giải quyết mâu thuẫn nói trên, trong thời điểm hiện nay thì trong việc giải quyết các vấn đề xã hội cần thiết phải quán triệt quan điểm "Nhà nước và nhân dân cùng làm".
- Vấn đề điều chỉnh thu nhập, tái phân phối thu nhập qua NSNN không chỉ hiểu đơn giản là điều tiết phần thu nhập quá cao, mà còn bao hàm cả việc điều chỉnh mức thu nhập quá thấp đến mức thu nhập trung bình, đủ để người lao động thực hiện tái sản xuất giản đơn sức lao động và có thể dự trữ một phần thu nhập để thực hiện các khoản chi khác trong sinh hoạt gia đình.
Thực tế thì theo nghiên cứu của một số nhà kinh tế trên thế giới cho thấy rằng những người nghèo phải chịu nhiều tiền thuế hơn là người giàu bởi họ tiêu dùng nhiều hơn số hàng nhập khẩu như quần, áo, ... Trong khi số người giàu và dân thành thị dùng hàng hoá công nhiều hơn lớp nghèo ở nông thôn do vậy thuế suất thực của nhóm người nghèo phải chịu cao hơn nhóm giàu.
Ở Việt Nam hiện nay đang cải cách thuế theo hướng tăng thuế trực thuế và giảm thuế gián thu nhằm đảm bảo hợp lý hoá công bằng cho người nghèo , tuy nhiên ở một số nước phát triển như Nhật và Canada thì lại ngược lại ( tăng thuế gián thu và giảm thuế trực thu ) tại sao vậy ?
Các doanh nghiệp cũng không thể suốt đời phục vụ cho mục đích tăng trưởng kinh tế nếu thu nhập của họ bị chia xẻ một cách vô lý. Đây là mâu thuẩn cơ bản trong nền kinh tế thị trường mà chính sách thuế của chính phủ phải giải quyết.
Các nhà kinh doanh sẵn sàng đóng góp một phần thu nhập cho xã hội mà không làm suy giảm sự tăng trưởng của họ. Nói cách khác là nhà kinh doanh có thể không quan tâm nhiều tới thuế suất của Việt Nam áp dụng là 28% hay tới đây có thể là 25%, mà họ quan tâm tới tổng số thuế họ phải nộp chiếm bao nhiêu % so với tổng lợi nhuận trước thuế mà họ có được và việc nộp một lượng thuế như vậy có làm cho họ bị hạn chế trong tái sản xuất mở rộng hay không? Việc giảm thuế suất tuy ban đầu có thể giảm thu NSNN nhưng nó sẽ có tác động kích thích sản xuất, và hệ quả trong tương lai gần thu NSNN sẽ tăng lên từ nguồn thu từ doanh nghiệp.
Sau đây chúng ta xem xét các hoạt động thu, chi NSNN.
II- THU VÀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1. Thu Ngân sách nhà nước
1.1.Những vấn đề chung về thu NSNN
1.1.1. Khái niệm thu NSNN
Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu, Nhà nước thường sử dụng ba hình thức động viên đó là: quyên góp của dân, vay của dân và dùng quyền lực Nhà nước bắt buộc dân phải đóng góp. Trong đó hình thức quyên góp tiền và tài sản của dân và hình thức vay của dân là những hình thức không mang tính ổn định và lâu dài, thường được Nhà nước sử dụng có giới hạn trong một số trường hợp đặc biệt. Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực chính trị của mình ban hành các luật thuế để bắt buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho Ngân sách Nhà nước. Đây chính là hình thức cơ bản nhất để huy động tập trung nguồn tài chính cho Nhà nước. Vậy ta có thể nói rằng:
Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Từ khái niệm nói trên về thu NSNN, chúng ta có thể rút ra những đặc trưng cơ bản sau đây:
- Nguồn tài chính được tập trung vào NSNN chính là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư được chuyển giao cho nhà nước.
Do vậy, thu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân chia các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội. Việc xác định các khoản thu phải trên cơ sở giải quyết hài hoà giữa lợi ích Nhà nước với lợi ích của các tổ chức, cá nhân trong xã hội.
- Đối tượng phân chia là nguồn tài chính quốc gia là kết quả do lao động sản xuất trong nước tạo ra được thể hiện dưới hình thức tiền tệ (GDP).
Như vậy, thu NSNN trước hết và chủ yếu gắn liền với các hoạt động kinh tế trong xã hội. Mức độ phát triển kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm là tiền đề và là yếu tố khách quan hình thành nên các khoản thu NSNN và quyết định mức độ động viên các khoản thu của NSNN.
- Về mặt nội dung, thu NSNN chứa đựng các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước.
1.1.2. Phân loại thu NSNN
Việc phân loại các khoản thu NSNN có ý nghĩa thiết thực trong việc phân tích, đánh giá và quản lý các nguồn thu NSNN.
Có 3 cách phân loại phổ biến là:
a) Căn cứ vào phạm vi phát sinh, các khoản thu NSNN được chia làm hai nhóm là thu trong nước và thu ngoài nước. Cụ thể:
- Các khoản thu trong nước bao gồm:
+ Thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là lĩnh vực tạo ra đại bộ phận tổng sản phẩm xã hội và cũng là nơi tạo ra số thu chủ yếu cho NSNN.
+ Thu từ hoạt động dịch vụ (là những hoạt động phục vụ cho sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội) bao gồm cả thu sự nghiệp và thu từ các dịch vụ tài chính. Số thu từ lĩnh vực này có xu hướng ngày càng tăng.
+ Thu từ các hoạt động khác như thu về bán và cho thuê tài sản quốc gia, nguồn tài nguyên, vay nợ trong nước dưới các hình thức.v.v.
- Các khoản thu ngoài nước bao gồm:
+ Thu từ các hoạt động xuất khẩu lao động và hợp tác chuyên gia với nước ngoài;
+ Thu từ viện trợ của nước ngoài
+ Thu từ vay nợ nước ngoài, kể cả vay các tổ chức tài chính quốc tế.
* Ý nghĩa của cách phân loại này: các phân loại này phản ánh cơ cấu của nền kinh tế, thông qua đó có thể đánh giá tính hiệu quả, tính hợp lý của nền kinh tế.
b) Căn cứ vào tính chất phát sinh và nội dung kinh tế, các khoản thu được chia làm hai loại:
- Các khoản thu thường xuyên: là các khoản thu phát sinh tương đối đều đặn, ổn định về mặt thời gian và số lượng gồm thuế, phí, lệ phí.
- Các khoản thu không thường xuyên: là những khoản thu không ổn định về mặt thời gian phát sinh cũng như số lượng tiền thu được, bao gồm các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, thu từ hoạt động sự nghiệp, thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước, thu từ viện trợ nước ngoài, từ vay trong nước và ngoài nước và các khoản thu khác.
* Ý nghĩa của cách phân loại này: Việc phân loại các khoản thu NSNN dựa trên sự kết hợp giữa hai tiêu chí: theo nội dung kinh tế và tính chất phát sinh của nguồn thu là cần thiết, bởi qua cách phân loại này để thấy rõ sự phát triển của nền kinh tế, tính hiệu quả của nền kinh tế và mức độ ổn định vững chắc của nguồn thu NS.
c) Phân loại theo yêu cầu động viên vốn vào NSNN:
Có thể chia các khoản thu NSNN thành:
- Thu trong cân đối NSNN:
Bao gồm các khoản thu:
+ Thuế, phí, lệ phí
+ Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, bao gồm: thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế, tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi).
+ Thu từ hoạt động sự nghiệp
+ Thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước
+ Các khoản thu khác theo luật định.
Trong các khoản thu nói trên thì thuế là nguồn thu chủ yếu, chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu của NSNN
- Thu bù đắp thiếu hụt NSNN: khi số thu NSNN không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu và Nhà nước phải đi vay, bao gồm vay trong nước từ các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế - xã hội, vay từ nước ngoài.v.v.
* Ý nghĩa của cách phân loại này: Cách phân loại này cho phép đánh giá sự lành mạnh của NSNN và rất có ý nghĩa trong tổ chức điều hành NSNN.
1.1.3. Nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN
Một vấn đề hết sức quan trọng trong thu NSNN là việc xác định mức động viên và lĩnh vực động viên một cách đúng đắn, hợp lý. Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến số thu NSNN, mà còn tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Mức động viên và lĩnh vực động viên lại chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN cần phải kể đến là:
a) Thu nhập GDP bình quân đầu người
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước. Thu nhập GDP bình quân đầu người là nhân tố quyết định đến mức động viên của NSNN. Nếu không tính đến chỉ tiêu này khi xác định mức động viên của ngân sách sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của các tổ chức kinh tế, của các tầng lớp dân cư. Thông thường mức động viên vào NSNN ở các nước khoảng từ 17%- 21% GDP là hợp lý.
* Lưu ý:
Hiện nay, có một nghịch lý ở các nước đang phát triển. Đó là ở các nước này, khả năng thu là rất hạn chế (do GDP bình quân đầu người thấp) trong khi nhu cầu chi cho phát triển kinh tế và các vấn đề xã hội lại rất lớn nên tỷ lệ động viên của các nước này thường rất cao (thường trên 23%) do vậy đã gây ra hiệu ứng tiêu cực là kìm hãm sản xuất, gây thất thu trong tương lai.
b) Tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế
Tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển kinh tế. Tỷ suất lợi nhuận càng lớn, nguồn tài chính càng lớn. Đây là nhân tố quyết định đến việc nâng cao tỷ lệ động viên của NSNN.
Dựa vào tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế để xác định tỷ suất thu NSNN sẽ tránh được việc động viên vào NSNN gây khó khăn về tài chính cho hoạt động kinh tế. Hiện nay, tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế nước ta đạt thấp, trong khi chi phí tiền lương ngày càng tăng, nên tỷ lệ động viên của NSNN không thể cao được.
c) Tiềm năng đất nước về tài nguyên thiên nhiên
Đối với các nước đang phát triển và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú thì nhân tố này có ảnh hưởng lớn đến số thu NSNN.
Ở nước ta hiện nay, tỷ trọng thu từ dầu thô chiếm khoảng 74% trong tổng thu NSNN(1). Trong tương lai, việc xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu. Đó là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng to lớn đến việc nâng cao tỷ lệ động viên của NSNN.
d) Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước
Nhân tố này phụ thuộc vào:
+ Quy mô tổ chức của bộ máy nhà nước và hiệu quả hoạt động của nó
+ Những nhiệm vụ kinh tế- xã hội mà Nhà nước đảm nhận trong từng thời kỳ
+ Chính sách sử dụng kinh phí của Nhà nước
Trong điều kiện các nguồn tài trợ khác cho chi phí Nhà nước không có khả năng tăng lên, việc tăng mức độ chi phí của Nhà nước sẽ dẫn đến áp lực thu NSNN phải tăng lên.
* Lưu ý:
Ở hầu hết các nước đang phát triển, Nhà nước đều có tham vọng đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế bằng việc đầu tư vào các công trình lớn. Để có nguồn vốn đầu tư phải tăng thu. Nhưng trong thực tế tăng thu quá mức lại làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại. Để giải quyết vấn đề nan giải đó, Nhà nước phải có một chương trình phát triển kinh tế, xã hội thận trọng trên cơ sở khoa học và thực tiễn để đạt hiệu quả cao, từ đó xác lập một chính sách chi tiêu có hiệu quả và tiết kiệm. Có như vậy mới giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa thu và chi của NSNN.
e) Tổ chức bộ máy thu nộp
Tổ chức bộ máy thu nộp gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống được thất thu do trốn, lậu thuế sẽ là nhân tố tích cực làm tăng hiệu quả thu NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của NSNN.
Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, để xác định mức thu NSNN đúng đắn cần phải có sự phân tích, đánh giá cụ thể các nhân tố tác động đến nó trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước trong từng thời kỳ. Tỷ lệ động viên các khoản thu NSNN được xem là hạt nhân cơ bản của chính sách thu nên cần phải được nghiên cứu, xem xét trên nhiều khía cạnh kinh tế, chính trị, xã hội.
Sau đây là một số khoản thu chủ yếu:
1.2. Một số khoản thu chủ yếu của NSNN
1.2.1. Thuế - Khoản thu chủ yếu của NSNN
1.2.1.1. Khái niệm thuế
Cho đến nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế. Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế.
- Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản: "Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khoá..." (Mác - Ăng Ghen. TT.T2- NXB Sự thật - Hà Nội- 1962. Tr.522).
- Theo Paul.A. Samulson thì: thuế có thể coi là một loại “giá” mà chúng ta phải trả cho các hàng hoá công cộng(1).
- Một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn thiện được nêu lên trong cuốn sách "Economics" của hai nhà kinh tế Mỹ là Makkollhell và Bruy như sau: "thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hoá, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật" (Economic. Makkollhell and Bruy - M.1993.- tr.14- Tiếng Nga).
Ở nước ta, theo cuốn "Từ điển tiếng Việt" (do Trung tâm từ điển học xuất bản năm 1998), thì: thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp v.v buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định.
Qua các định nghĩa nói trên, ta thấy có nhiều cách hiểu khác nhau về thuế nhưng chúng đều toát lên những nội dung chính của thuế là:
- Xét về giác độ nhà nước: thuế là biện pháp động viên nguồn thu vào NSNN mang tính bắt buộc, gắn với quyền lực nhà nước.
- Đối với người nộp thuế: thuế là khoản đóng góp bắt buộc vào NSNN mà không mang tính hoàn trả trực tiếp.
Người nộp thuế chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã được pháp luật quy định.
- Xét về nội dung kinh tế: thuế được đặc trưng bởi các quan hệ phân phối giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, nhằm động viên một phần thu nhập của xã hội vào NSNN.
Từ việc phân tích những quan niệm về thuế của thế giới và của nước ta nêu trên, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát về thuế như sau:
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
1.2.1.2. Hệ thống thuế nước ta và phân loại thuế
a) Hệ thống thuế của nước ta
Hệ thống thuế bao gồm nhiều sắc thuế mà Nhà nước sử dụng, nó tạo lập nguồn thu cho NSNN và thực hiện những mục tiêu nhất định trong quản lý kinh tế - xã hội.
Thực hiện đường lối đổi mới, chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, hệ thống thuế nước ta đã được cải cách căn bản bằng việc ban hành các luật thuế, pháp lệnh thuế áp dụng chung cho mọi thành viên trong cả nước.
Hệ thống thuế hiện hành ở nước ta bao gồm:
- Thuế giá trị gia tăng
- Thuế thu nhập doanh nghiệp
- Thuế tiêu thụ đặc biệt
- Thuế xuất khẩu, nhập khẩu
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp
- Thuế nhà đất
- Thuế tài nguyên
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
- Thuế môn bài
Ngoài ra, còn có một số loại thu khác có tính chất thuế như: lệ phí trước bạ, lệ phí chứng thư, lệ phí hải quan, phí giao thông, phí cầu phà, phí đường, phí bay qua bầu trời.v.v.
b) Phân loại thuế
Bất cứ hệ thống thuế của quốc gia nào cũng đều được phân loại để quản lý. Có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng thông thường có các cách phân loại phổ biến sau:
b.1) Phân loại theo tính chất chuyển giao của thuế: Chuyển giao thuế là việc xác định ai là người nộp thuế, ai là người thực sự phải gánh chịu thuế. Theo tiêu thức này thuế được chia thành hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu.
- Thuế trực thu: là các thứ thuế trực tiếp huy động một phần thu nhập của người làm nghĩa vụ. Đặc điểm cơ bản của thuế trực thu là người nộp thuế và người chịu thuế là một. Nó đánh trực tiếp vào người nộp thuế, tức là người có thu nhập chịu thuế làm giảm phần thu nhập của họ. ở đây không có hiện tượng chuyển giao gánh nặng thuế cho người khác chịu.
Ở nước ta, thuế trực thu đó là các thứ thuế như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất nông nghiệp.
- Thuế gián thu: là các thứ thuế mà người nộp thuế gián tiếp nộp thuế cho người tiêu dùng, họ không phải là người chịu thuế. Đặc điểm cơ bản của thuế gián thu là được cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ để bán ra. ở đây có sự chuyển giao gánh nặng thuế từ người nộp thuế theo luật định sang người tiêu dùng qua cơ chế giá cả. Ở nước ta, đó là các thứ thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu...
*Lưu ý:
+ Thuế trực thu có thể trực tiếp điều tiết bớt thu nhập của các doanh nghiệp và cá nhân nên người ta thường sử dụng thuế suất lũy tiến để điều tiết những thu nhập cao.
+ Thuế gián thu lại có tầm quan trọng trong việc thúc đẩy giao lưu hàng hoá, mở rộng hoặc thu hẹp sự lưu thông hàng hoá nên người ta thường sử dụng thuế suất tỷ lệ cao thấp khác nhau nhằm khuyến khích hay hạn chế chúng.
Cách phân loại này cho thấy được vai trò của từng loại thuế trong phân phối và điều tiết thu nhập của các chủ thể trong xã hội. Đồng thời nó cũng có ý nghĩa trong việc hệ thống hoá một cách khoa học các sắc thuế phục vụ công việc nghiên cứu và thiết kế các chính sách thuế.
b.2) Phân loại theo đối tượng đánh thuế
Dựa vào đối tượng đánh thuế, nghĩa là thuế đánh trên cái gì, thuế được chia thành:
- Thuế thu nhập như thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp...
- Thuế tài sản như thuế sử dụng tài sản nhà nước (thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên...), thuế chuyển nhượng tài sản (thuế chuyển giao quyền sử dụng đất, thuế mua, bán các tài sản như nhà, xe cộ...).
- Thuế tiêu dùng đánh vào hàng hoá, dịch vụ lưu thông trên thị trường trong nước và xuất nhập khẩu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu...
Cách phân loại này giúp cho việc tìm các giải pháp để quản lý, khai thác, bồi dưỡng từng nguồn thuế, đồng thời còn giúp cho việc xem xét thuế với việc đảm bảo quản lý được các hoạt động khác nhau, các nguồn thu nhập khác nhau để có thể mở rộng và phát triển hệ thống thuế.
1.2.1.3. Các yếu tố cấu thành một sắc thuế
Một luật thuế thông thường có các yếu tố cấu thành sau:
a) Tên gọi của thuế
Bất kỳ một loại thuế nào cũng có tên gọi. Tên gọi của thuế xác định nội dung kinh tế của thuế. Thông thường người ta dựa vào đối tượng đánh thuế để đặt tên cho một sắc thuế, ví dụ: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu.v.v.
Khi đặt tên cho một sắc thuế cần ngắn gọn, dễ hiểu, từ dùng mang tính phổ thông và phản ánh được mục tiêu của thuế.
b) Đối tượng nộp thuế:
Người nộp thuế là chủ thể của một luật thuế, là một pháp nhân hay thể nhân có nghĩa vụ phải nộp khoản thuế do luật thuế quy định. Trong tất cả các luật thuế, người nộp thuế luôn được quy định rõ ràng.
c) Đối tượng chịu thuế:
Người chịu thuế là người trích một phần thu nhập của mình để gánh chịu khoản thuế của Nhà nước. Nói cách khác, người chịu thuế là người gánh vác sau cùng khoản thuế phải nộp vào NSNN.
Tuy nhiên, trong các luật thuế, không bao giờ quy định yếu tố này. Nhưng khi nghiên cứu và ban hành luật thuế lại phải luôn tính tới nó. Bởi lẽ không xem xét tới sự gánh chịu sau cùng khoản thuế phải nộp, sẽ không biết được thuế tác động như thế nào đến tích lũy của các doanh nghiệp, đến mức sống của dân cư.
* Lưu ý:
Trong nhiều sắc thuế (thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế NK.v.v.) người nộp thuế không bắt buộc là người cuối cùng chịu thuế, tuy nhiên trong một số sắc thuế người nộp thuế cũng chính là người chịu thuế, ví dụ: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp.v.v.
d) Đối tượng đánh thuế
Đối tượng đánh thuế là các khách thể của một luật thuế, là những thu nhập hoặc tài sản, hàng hoá mà một luật thuế nhất định tác động vào, điều tiết nó. Hay nói cách khác đối tượng đánh thuế là mục tiêu tác động của thuế.
Đối tượng đánh thuế có thể là thu nhập, tài sản, hàng hoá đem bán thuộc sở hữu của người nộp thuế được luật thuế quy định. Xác định đối tượng của thuế là xác định nguồn vật chất mà người ta tính toán trên đó số tiền thuế phải nộp.
e) Căn cứ tính thuế:
Căn cứ tính thuế là những yếu tố mà người thu thuế dựa vào đó để tính số thuế phải nộp. Các loại thuế khác nhau thì căn cứ tính thuế cũng khác nhau. Chẳng hạn, thuế giá trị gia tăng có căn cứ tính thuế là giá tính thuế và thuế suất; căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập chịu thuế và thuế suất; căn cứ tính thuế xuất nhập khẩu lại bao gồm số lượng, chủng loại hàng hoá xuất nhập khẩu, giá tính thuế và thuế suất.v.v.
Như khi xem xét căn cứ tính thuế thì cần phải xem xét các yếu tố:
- Thuế suất: là phần thuế phải nộp trên mỗi đơn vị tính của đối tượng đánh thuế.
Trong các yếu tố cấu thành của một luật thuế, thuế suất có vị trí quan trọng nhất. Người ta ví nó như linh hồn" của một sắc thuế. Thuế suất phản ánh mức nộp thuế cao hay thấp, nặng hay nhẹ, đồng thời liên quan đến số thuế Nhà nước thu được bao nhiêu vào NSNN. Do vậy, việc thiết kế thuế suất là một vấn đề phải được xem xét cẩn trọng, phải quán triệt quan điểm vừa coi trọng lợi ích quốc gia, vừa chú ý đến lợi ích thích đáng của người nộp thuế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tập trung và tích tụ trong việc sử dụng công cụ thuế (có thể giải thích vấn đề này bằng đường cong Laffer).
Có nhiều cách quy định thuế suất khác nhau cho từng đối tượng đánh thuế khác nhau trong các luật thuế, đó là:
+ Thuế suất tỷ lệ: là thuế suất được quy định theo tỷ lệ % trên đối tượng đánh thuế.
+ Thuế suất lũy tiến: là thuế suất tăng dần lên theo độ lớn của đối tượng đánh thuế. Thuế suất lũy tiến có hai loại:
Thuế suất lũy tiến từng phần là thuế suất tăng dần theo từng nấc của đối tượng đánh thuế.
Thuế suất lũy tiến toàn phần là thuế suất tăng lên theo toàn bộ mức tăng của đối tượng đánh thuế.
+ Thuế suất tuyệt đối: là mức thuế được quy định bằng một lượng tuyệt đối trên đối tượng đánh thuế mà không tính tới độ lớn của đối tượng đánh thuế.
- Đơn vị tính thuế: là đơn vị được sử dụng làm phương tiện tính toán của đối tượng đánh thuế. Ví dụ: đơn vị tính thuế của thuế thu nhập doanh nghiệp là đồng Việt Nam (VNĐ); đơn vị tính thuế sử dụng đất nông nghiệp là kg thóc tính theo hạng đất.
- Giá tính thuế: là trị giá của đối tượng đánh thuế. Ví dụ: thuế đánh vào tài sản chuyển nhượng nên phải định giá tài sản theo một giá cả nào đó để tính thuế, nó có thể là giá thị trường, có thể là giá do cơ quan thuế ấn định... Giá tính thuế liên quan mật thiết đến mức thuế phải nộp. Một khối lượng hàng hoá như nhau, giá tính thuế khác nhau sẽ dẫn đến mức thuế phải nộp khác nhau.
- Khởi điểm đánh thuế: là mức thu nhập bắt đầu phải đánh thuế, thu nhập dưới mức đó không phải nộp thuế. Khi thiết kế khởi điểm đánh thuế phải tính đến diện người nộp thuế. Khởi điểm đánh thuế càng cao, diện người nộp thuế càng hẹp và ngược lại, khởi điểm đánh thuế càng thấp, diện người nộp thuế càng rộng.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng khởi điểm đánh thuế không phải là yếu tố phổ biến trong tất cả các luật thuế, thường chỉ quy định trong một số luật thuế, chẳng hạn Luật thuế thu nhập cá nhân.
g) Miễn, giảm thuế
Một số sắc thuế có quy định cho phép người nộp thuế không phải thực hiện nghĩa vụ nộp toàn bộ số tiền thuế mà người đó phải nộp cho Nhà nước (gọi là miễn thuế) hoặc chỉ nộp một phần số tiền thuế đó (gọi là giảm thuế) . Miễn thuế, giảm thuế chỉ là yếu tố ngoại lệ được quy định trong một số sắc thuế.
Thông thường, những lý do để người nộp thuế được Nhà nước cho phép miễn thuế, giảm thuế quy định trong các sắc thuế là:
- Do nguyên nhân khách quan mà người nộp thuế gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc bị giảm sút thu nhập.
- Thực hiện một số chủ trương chính sách kinh tế của Nhà nước như: khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư vào các ngành nghề trọng điểm, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn...
Tuy nhiên thực hiện việc miễn giảm thuế cũng có tính hai mặt, nó chứa đựng những yếu tố tích cực, tạo điều kiện thực hiện các chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, nhưng cũng chứa đựng các yếu tố tiêu cực, có thể làm méo mó những ý tưởng ban đầu khi thiết lập các sắc thuế, không phù hợp với những tiêu chuẩn của một hệ thống thuế hiện đại.
h) Thưởng phạt
Thưởng là hình thức Nhà nước khuyến khích người có thành tích trong thực hiện các luật thuế. Còn phạt là hình thức kỷ luật đối với người vi phạm luật thuế.
i) Thủ tục về thuế
Đó là những quy định về những giấy tờ và trình tự thu nộp mang tính hành chính để thi hành luật thuế (như thủ tục kê khai, tính thuế và nộp thuê).
Ngoài các yếu tố trên đây, trong luật thuế bao giờ cũng quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của Chính phủ, của UBND các cấp, của Bộ Tài chính, cơ quan thuế ở Trung ương và ở các địa phương, nghĩa vụ của người nộp thuế.
1.2.1.4. Các tiêu thức xây dựng hệ thống thuế hiện đại
a) Tính công bằng (theo chiều dọc và chiều ngang)
b) Tính hiệu quả (đối với công tác thu thuế và với nền kinh tế)
c) Tính trung lập
d) Tính rõ ràng minh bạch
e) Tính thuận tiện
f) Tính ổn định
1.2.2. Nguồn thu từ phí và lệ phí
a) Khái niệm của phí và lệ phí
Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người đều nhận được rất nhiều hàng hoá, dịch vụ tư nhân và các hàng hoá dịch vụ công cộng do xã hội cung cấp. Trong số các hàng hoá, dịch vụ này có một phần không nhỏ là hàng hoá, dịch vụ công cộng (ví dụ: đường giao thông, các khu vui chơi giải trí.v.v.). Khác với hàng hoá, dịch vụ thông thường, hàng hoá, dịch vụ công cộng có tính chất đặc biệt là khó phân chia và nhiều người cùng sử dụng một lúc, nhưng khó xác định được mức độ tiêu dùng của từng người hưởng thụ.
Việc sản xuất và cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng đòi hỏi chi phí lớn, thời gian thu hồi vốn dài, tỷ suất lợi nhuận thấp hoặc không có lợi nhuận nên khu vực kinh tế tư nhân không sẵn sàng cung cấp các hàng hoá và dịch vụ công cộng. Do vậy, đại đa số hàng hoá, dịch vụ công cộng do Nhà nước sản xuất và cung cấp. Tuy nhiên, trong thực tế những đối tượng thụ hưởng hàng hoá, dịch vụ công cộng lại không tự nguyện trả tiền cho việc thụ hưởng các hàng hoá này. Để bù đắp chi phí bỏ ra nhằm tái tạo và phát triển hơn nữa hàng hoá, dịch vụ công cộng, Nhà nước phải tìm ra một phương thức thích hợp, đó là hình thức thu phí và lệ phí.
Vậy phí và lệ phí là gì?
- Khái niệm phí:
Trong thực tế cụm từ “phí” được sử dụng rất rộng rãi. ở dưới mỗi giác độ khác nhau người ta lại có những định nghĩa khác nhau về phí. Thông thường phí được hiểu là khoản tiền mà một người phải trả khi người đó được hưởng một dịch vụ công cộng nào đó nhằm mục đích bù đắp chi phí sản xuất và







Minh Thu Dosheyllachou # Saturday, October 30, 2010 7:37:18 PM