CHƯƠNG II : THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Wednesday, September 24, 2008 11:45:23 AM
CHƯƠNG II : THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Chương này sẽ giúp cho người học hiểu được thị trường tài chính là gì, nó thực hiện việc phân bổ các các nguồn vốn nhàn rỗi trongnền kinh tế như thế nào. Cụ thể chúng ta sẽ tiến hành tìm hiểu:
- Khái niệm cơ bản về thị trường tài chính;
- Vai trò của thị trường tài chính;
- Các chủ thể trên thị trường tài chính;
- Cấu trúc thị trường tài chính;
- Các công cụ tài chính được sử dụng để lưu thông vốn trên thị trường tài chính
I. Thị trường tài chính
1. Thị trường tài chính:
1.1. Khái niệm:
Trong cơ chế thị trường, hoạt động kinh tế không chỉ bao gồm các mối quan hệ cung cầu về hàng hoá mà còn xuất hiện quan hệ cung cầu về tiền tệ. Quan hệ này xuất hiện tất yếu dẫn đến nhu cầu vận động nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, chủ yếu diễn ra trên thị trường tài chính. Thuật ngữ “thị trường tài chính” được sử dụng để phân biệt thị trường mua bán, giao dịch các loại chứng khoán (tài sản tài chính) với các thị trường khác (thị trường hàng hoá, thị trường sức lao động,...).
Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán quyền sử dụng các khoản vốn (ngắn hoặc dài hạn) thông qua các công cụ tài chính nhất định.
Các công cụ tài chính (financial instruments) nói trên được gọi là các chứng khoán (nghĩa là các quyền được hưởng đối với thu nhập hoặc tài sản tương lai của nhà phát hành). Các công cụ này bao gồm hai loại cơ bản là chứng khoán nợ (debt securities) và chứng khoán vốn (equity securities), ngoài ra còn có chứng khoán phái sinh (derivaties).
Chứng khoán nợ là loại công cụ có thu nhập cố định do nó cam kết trả cho những người sở hữu những khoản tiền cố định trong tương lai. Chứng khoán nợ xác nhận quyền được nhận lại khoản vốn mà đã ứng trước cho nhà phát hành vay khi chứng khán này đáo hạn cũng như sẽ được nhận những khoản lãi theo thoả thuận từ việc cho vay.
Chứng khoán vốn là chứng khoán xác nhận quyền được sở hữu một phần thu nhập và tài sản của công ty.
Để nhằm ngăn ngừa, đối phó với những rủi ro có thể xảy ra khi lưu thông không chỉ với các tài sản tài chính mà còn đối với cả hàng hoá tiền tệ, thị trường tài chính còn lưu thông các công cụ đặc biệt được gọi là công cụ phái sinh (hay còn gọi là chứng khoán phái sinh). Chứng khoán phái sinh là công cụ tài chính có giá trị dựa trên giá trị của hàng hoá cơ sở (có thể là cổ phiếu, trái phiếu, hàng nông sản, lãi suất,tỷ giá…) và giá trị của nó phụ thuộc vào mức độ biến động giá cả của các hàng hoá trên thị trường.
1.2. Vai trò:
Thị trường tài chính là bộ phận quan trọng bậc nhất, chi phối toàn bộ hoạt động của nền kinh tế hàng hoá. TTTC phát triển góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của một quốc gia.
Thị trường tài chính đóng vai trò nòng cốt trong quá trình luân chuyển vốn từ nhà đầu tư đến nhà sản xuất. Dòng vốn từ người cho vay – người tiết kiệm tớI người vay – người chi tiêu qua hai con đường:
Thứ nhất là qua kênh tài chính trực tiếp, nghĩa là người đi vay vay vốn trực tiếp từ người cho vay thông qua việc bán chứng khoán.
Thứ hai là kênh tài chính gián tiếp, nghĩa là vốn được chuyển từ người cho vay tới người đi vay thông qua trung gian tài chính.
Từ việc nghiên cứu các hoạt động của thị trường tài chính, ta thấy thị trường này có các vai trò sau đây
- TTTC là kênh dẫn vốn và sử dụng vốn có hiệu quả cho nền kinh tế : Thông qua thị trường tài chính các chủ thể cần vốn có thể huy động được vốn phục vụ cho nhu cầu đầu tư, mở rộng sản xuất,… của mình. Các công ty có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu công ty; Nhà nước có thể phát hành trái phiếu Chính phủ,… để tập hợp lượng vốn cần thiết. Những chủ thể tạm thời thừa vốn cũng có một kênh để đầu tư sinh lợi cho phần vốn của mình. Qua đó hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư,… của nền kinh tế được thực hiện liên tục và không bị đình trệ. Bên cho vay sẽ thu được phần tiền lãi, còn bên đi vay phải tìm mọi cách sinh lời từ đồng vốn đã vay nhằm trả lãi và vốn ứng trước của người cho vay và có phần tích luỹ của mình.
- Là kênh đầu tư của công chúng : TTTC có thể thu hút được rất nhiều nhà đầu tư với sự đa dạng hoá các hình thức đầu tư, như vậy nhà đầu tư có thể chọn lựa cách thức đầu tư phù hợp với nhu cầu của mình. Ngoài ra thị trường tài chính còn giúp cải thiện mức sống của cá nhân bằng cách giúp họ chọn thời điểm cho việc mua sắm tốt hơn (tiêu tiền trước rồi sẽ tìm nguồn tiền trả sau_thông qua các khoản vay)
- Thực hiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của Nhà nước.
Hoạt động của thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính sách mở cửa, cải cách kinh tế của Chính phủ. Thông qua thị trường tài chính, việc bán cổ phần, phát hành trái phiếu ra nước ngoài đã tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong nước. Ngoài ra Nhà nước có thể sử dụng các công cụ trên thị trường tài chính để tác động nhằm thực hiện và điều hành chính sách tài chính, tiền tệ Quốc gia…
1.3. Chủ thể tham gia trên TTTC:
Bao gồm những pháp nhân, thể nhân đại diện cho những nguồn cung và cầu vốn.
Các chủ thể đi vay (cầu vốn) có thể kể tới bao gồm Chính phủ, các công ty, các hộ gia đình,… thông qua kênh huy động vốn trực tiếp hoặc gián tiếp.
Việc đi vay vốn có thể xuất phát từ các nhu cầu về vốn cho tái đầu tư phát triển, vốn lưu động,… (với các công ty), có thể là vay phục vụ cho nhu cầu bù đắp bội chi NSNN, vay để đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm quốc gia (Nhà nước); có thể vay vì nhu cầu chi tiêu và các mục đích khác (hộ gia đình);… Trong các chủ thể có nhu cầu vay vốn thì các công ty là chủ thể có nhu cầu vay vốn nhiều nhất.
Các chủ thể cung vốn (cho vay) gồm các hộ gia đình, các công ty bảo hiểm, các trung gian tài chính, các công ty và Chính phủ.
Các hộ gia đình là chủ thể đóng góp lượng cung vốn lớn cho nền kinh tế. Với mỗi hộ gia đình, ngoài các khoản được trích ra phục vụ chi tiêu, còn một khoản không nhỏ phục vụ cho tích luỹ và sinh lợi từ các khoản tích luỹ này. Các hộ gia đình có thể có nhiều hình thức để bảo toàn và sinh lợi cho khoản tiền nói trên và một trong những cách thức đựoc lựa chọn là cho vay hoặc tự đầu tư, qua đó đã cung ra nền kinh tế một lượng vốn.
Các công ty bảo hiểm với đặc thù là thu trước và trả sau. Các công ty này thu chủ yếu từ các khoản đóng phí bảo hiểm và chỉ tiến hành đền bù các hợp đồng nếu như các điều khoản ký trước đó đã được thoả mãn. Lượng tiền thu từ phí bảo hiểm của các công ty bảo hiểm là một lượng không hề nhỏ và nhu cầu của công ty là phải sinh lời được từ lượng vốn đó, họ sẽ tiến hành đầu tư trên thị trường và qua đó cung cấp cho thị truờng một lượng vốn lớn.
Các trung gian tài chính là trung gian của việc đi vay và cho vay chứ khong phải là chủ thể cuối cùng, nhưng các trung gian này vẫn đóng vai trò quan trọng nhất trong việc cho vốn chu chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác.
Các công ty (không phải công ty bảo hiểm) có thể tùy vào chiến lược hoạt động mà có chính sách đầu tư tài chính khác nhau, hoặc trong những thời điểm nhất định khi mà lượng vốn của họ đang nhàn rỗi và họ có nhu cầu muốn tìm cách sinh lợi cho lượng vốn nhàn rỗi đó. Các công ty này sẽ cung vốn ra thị trường thông qua hình thức đầu tư vào các công cụ tài chính ngắn hạn hoặc dài hạn,…
Chính phủ có thể cung vốn cho nền kinh tế thông qua các hình thức thực hiện cho vay đối với các khoản cho vay ưu đãi (tín dụng ưu đãi) hoặc trong những thời điểm nhất định khi mà các cơ quan hành chính sự nghiệp có dư tiền trên tài khoản và chưa có nhu cầu dùng tới, các cơ quan này cũng có thể đem cho vay lượng tiền tạm thời dư thừa.
2. Cấu trúc của thị trường tài chính
Có nhiều tiêu chí để phân loại, cụ thể có một số cách sau đây:
+ Theo thời gian luân chuyển vốn gồm có : thị trường tiền tệ (thị trường có thời gian luân chuyển vốn không quá 1 năm) và thị trường vốn (thị trường có thời gian luân chuyển vốn trên 1 năm trở lên), ngoài ta trên thị trường này còn có sự tồn tại của thị trường chứng khoán phái sinh.
+ Theo nguồn gốc chứng khoán gồm: thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
+ Theo phương thức tổ chức và giao dịch của thị trường gồm: thị trường tập trung và thị trường phi tập trung.
+ Theo công cụ tài chính gồm: thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần.
Cụ thể
2..1. Theo thời gian luân chuyển vốn :
a/ Thị trường tiền tệ:
Thị trường tiền tệ :
Thị trường tiền tệ là thị trường mua bán các chứng khoán nợ ngắn hạn có thời gian luân chuyển vốn không quá 1 năm.
Thông thường các chủ thể đi vay trên thị trường này là những chủ thể tạm thời thiếu hụt tiền tệ phục vụ cho các nhu cầu thanh toán. Do vậy, khi thông qua các giao dịch mua bán quyền sử dụng vốn ngắn hạn mà thị trường tiền tệ đã cung ứng một lượng tiền tệ cho các bên cần vốn nhằm thoả mãn nhu cầu thanh toán (cũng chính vì lý do này mà nó được gọi là thị trường tiền tệ)
Những chủ thể cung vốn (cho vay) thì lại là những chủ thể tạm thời có vốn nhàn rỗi (có thể là do chưa dùng tới hoặc đang tìm kiếm cơ hội đầu tư), do vậy họ tranh thủ chuyển nhượng quyền sử dụng các khoản vốn nhàn rỗi của họ trong thời gian ngắn để hưởng lãi. Tuy nhiên vì là đầu tư thời gian ngắn, đầu tư mang tính nhất thời những nhà đầu tư này quan tâm không nhiều tới mức lãi mà quan tâm hơn tới độ an toàn, tính thanh khoản để có thể rút vốn ngay khi cần. Các hình thức đầu tư như thế trên thị trường tiền tệ thường có độ an toàn tương đối cao, nhưng lại thường có mức lợi tức thấp.
Khối lượng và giá trị giao dịch trên thị trường tiền tệ thường có quy mô lớn nên bên cho vay thường là các ngân hàng, công ty tài chính hoặc phi tài chính; còn bên vay vốn thường là Chính phủ, các công ty và ngân hàng.
Chứng khoán mua bán trên thị trường tiền tệ thường được mua bán rộng rãi hơn chứng khoán dài hạn và như vậy có xu hướng lỏng hơn.
Chứng khoán ngắn hạn cũng có biên độ dao động giá nhỏ hơn các chứng khoán dài hạn và do vậy chúng là khoản đầu tư an toàn hơn.
Cấu trúc thị trường tiền tệ
Bao gồm:
• Thị trường cho vay ngắn hạn trực tiếp;
• Thị trường liên ngân hàng;
• Thị trường mở;
• Thị trường hối đoái.
Trong đó:
+ Thị trường cho vay ngắn hạn trực tiếp
Gồm có thị trường chính thức và không chính thức. Thị trường này hoạt động dựa vào hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian. Các tổ chức này sẽ huy động các nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế, cá nhân bằng hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm và đem cho các tổ chức kinh tế, cá nhân khác vay lại nếu cần.
+ Thị trường liên ngân hàng:
Là thị trường hoạt động phục vụ cho các giao dịch về vốn chỉ diễn ra giữa các ngân hàng (kể cả NHTW).
Không phải lúc nào ngân hàng luôn có đủ tiền để cho vay, không phải lúc nào ngân hàng cũng tìm được khách hàng để cho vay hết khoản tiền mà mình có. Vì thế sẽ phát sinh nhu cầu vay và cho vay giữa các ngân hàng nhằm phục vụ tốt cho hoạt động chính của mình là huy động vốn và cho vay vốn.
+ Thị trường mở:
Là thị trường tiền tệ mà ngoài các ngân hàng ra còn có sự tham gia của các tổ chức phi ngân hàng mua bán các công cụ thị trường mở.
+ Thị trường hối đoái:
Thị trường này là nơi diễn ra các hoạt động mua bán và trao đổi ngoại tệ tiền mặt và các phương tiện thanh toán ghi bằng ngoại tệ.
Khác với các loại thị trường khác, người ta dùng tiền để đổi lấy hàng hoá, thì trên thị trường này người ta dùng tiền để đổi lấy tiền. Một đặc tính riêng biệt nữa của thị trường ngoại hối đó là tất yếu nó sẽ là thị trường quốc tế. Khi nào người dân ở các khu vực khác nhau còn dùng những đồng tiền khác nhau thì thị trường ngoại hối tồn tại là cần thiết.
b/ Thị trường vốn:
Thị trường vốn
Thị trường vốn là thị trường mua bán các chứng khoán nợ dài hạn (có thời gian luân chuyển vốn trên 1 năm) và các chứng khoán vốn.
Thị trường này cung cấp vốn cho các khoản đầu tư dài hạn các doanh nghiệp, của chính phủ, và các hộ gia đình. Do thời gian luân chuyển vốn trên thị trường này dài hạn hơn so với thị trường tiền tệ nên các công cụ trên thị trường vốn có độ rủi ro cao hơn và đi theo nó là mức lợi tức kỳ vọng cũng cao hơn.
Thị trường tiền tệ là thị trường được hình thành trước vì ban đầu do kinh tế chưa phát triển nên nhu cầu vốn và nhu cầu tiết kiệm vốn chưa nhiều chủ yếu là ngắn hạn. Sau khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu về các nguồn vốn dài hạn cho đầu tư xuất hiện thì thị trường vốn ra đời. Bên cạnh việc huy động vốn dài hạn thông qua các định chế tài chính trung gian thì chính phủ và các doanh nghiệp còn tự huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán.
Một khi chứng khoán ra đời thì tất yếu sẽ xuất hiện nhu cầu mua bán chứng khoán. Chính vì thế mà thị trường chứng khoán ra đời với tư cách là một bộ phận của thị trường vốn nhằm đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi chứng khoán.
Cấu trúc thị trường vốn
Bao gồm:
• Thị trường tín dụng dài hạn
• Thị trường chứng khoán.
Trong đó:
+ Thị trường tín dụng dài hạn gồm thị trường cho vay thế chấp và thị trường cho thuê tài chính.
- Thị trường cho vay thế chấp là thị trường chuyên cho vay các món nợ dài hạn dùng để tài trợ mua bán địa ốc, nhà xưởng. Do thời hạn dài và thường giá trị của các món nợ vay thường rất lớn để hình thành bất động sản (nhà, đất, nhà xưởng,...) nên cần có sự thế chấp tài sản cho món nợ vay này. Tài sản thế chấp có thể là những tài sản sẵn có của những người đi vay và kể cả những tài sản được hình thành từ khoản nợ vay đó.
- Thị trường cho thuê tài chính (tín dụng thuê mua) là hình thức tín dụng trung và dài hạn, trong đó người cho thuê cam kết mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người thuê và là người nắm giữ quyền sở hữu tài sản đó. Người thuê là người sử dụng tài sản và phải thanh toán tiền thuê cho người cho thuê tài sản trong một khoảng thời gian đã được thảo thuận trước. Trong suốt thời gian thuê, người thuê không được quyền huỷ bỏ hợp đồng thuê trườc kỳ hạn. Khi kết thúc hợp đồng, người thuê có thể chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê như đã thoả thuận trong hợp đồng.
+ Thị trường chứng khoán:
Đây là thị trường được hình thành dùng để giao dịch mua bán chứng khoán. Gồm bộ phận thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu dài hạn của các công ty. Đối với hoạt động của thị trường này khá là phức tạp nhưng cũng rất hấp dẫn. Chúng ta sẽ có dịp nói đến nó về sau.
Mối quan hệ:
Thị trường tiền tệ và thị trường vốn là hai bộ phận cấu thành nên thị trường tài chính cùng thực hiện một chức năng là cung cấp vốn cho nền kinh tế. Do đó các nghiệp vụ hoạt động ở trên hai thị trường có mối liên quan bổ sung và tác động qua lại.
Lãi suất trên thị trường tiền tệ có ảnh hưởng lớn đến việc phát hành và mua bán chứng khoán trên thị trường vốn. Nếu lãi suất của các ngân hàng trả cho người tiết kiệm cao, điều này sẽ khiến cho người tiết kiệm thích gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi suất và rủi ro thấp hơn so với việc đầu tư vào chứng khoán. Bên cạnh đó, các biến đổi về giá cả và lãi suất trên thị trường tiền tệ thường kéo theo các biến đổi trực tiếp trên thị trường vốn như quan hệ cung cầu và giá của cổ phiếu và trái phiếu. Chẳng hạn như, một số chứng khoán dài hạn có lãi suất thả nổi, căn cứ để điều chỉnh lãi suất là lãi suất tiền gửi ngắn hạn của ngân hàng. Hay khi định giá của cổ phiếu hay trái phiếu tại một thời điểm bất kỳ nào đó trên thị trường, người ta phải tham khảo lãi suất của ngân hàng được hình thành trên thị trường tiền tệ. Giữa lãi suất thị trường và giá của trái phiếu có mối quan hệ tỷ lệ nghịch: khi lãi suất của ngân hàng tăng cao hơn lãi suất trái phiếu, trái phiếu sẽ sụt giá và tình hình ngược lại khi lãi suất ngân hàng hạ xuống hơn lãi trái phiếu.
Ngược lại, các thay đổi về chỉ số giá cổ phiếu của thị trường vốn cũng phản ảnh các hiện tượng tốt hay xấu, đã đang hoặc sẽ xảy ra trên thị trường tiền tệ. Đối với thị trường vốn, việc duy trì một lãi suất ổn định không thăng trầm quá đáng là cần thiết cho sự ổn định của thị trường.
Trên thực tế, các hoạt động của thị trường tiền tệ và thị trường vốn được thực hiện đồng bộ xen lẫn nhau, tác động và chịu sự ảnh hưởng của nhau, tạo thành cơ cấu hoàn chỉnh của một thị trường tài chính.
2.2 Theo nguồn gốc chứng khoán
a/ Thị trường sơ cấp:
Thị trường sơ cấp là thị trường phát hành chứng khoán lần đầu tiên.
Đặc điểm
+ Thị trường sơ cấp là nơi duy nhất mà chứng khoán đem lại vốn cho nhà phát hành. Sau đó, việc mua bán các chứng khoán này trên thị trường chứng khoán thứ cấp sẽ không làm ảnh hưởng đến số vốn của nhà phát hành. Cũng từ thị trường này mà lượng vốn đầu tư cho nền kinh tế.
+ Giá của chứng khoán trên thị trường sơ cấp (giá phát hành) do tổ chức phát hành quy định.
Việc phát hành lần đầu tiên chứng khoán ra công chúng là giai đoạn quan trọng nhất, vì nếu không đạt được kết quả tốt thì chứng khoán phát hành sẽ không tiêu thụ được và làm mất uy tín của đơn vị phát hành. Không phải nhà phát hành nào cũng có đủ điều kiện để thực hiện tốt việc phát hành nên trên thị trường sơ cấp xuất hiện một tổ chức trung gian giữa nhà phát hành và người đầu tư, đó là nhà bảo lãnh phát hành. Tuỳ thuộc vào cung cầu, giá chứng khoán ở thị trường sơ cấp có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị danh nghĩa của chứng khoán.
+ Người bán và người mua trên thị trường sơ cấp
Hoạt động giao dịch ở thị trường này thương được thực hiện theo hình thức bán buôn giữa nhà phát hành là bên cần huy động vốn (công ty, các tổ chức tài chính, Chính phủ,..) và các nhà đầu tư lớn (các công ty chứng khoán, ngân hàng đầu tư, công ty bảo hiểm,…).
Các nhà đầu tư đóng vai trò như nhà bảo lãnh đợt phát hành chứng khoán. Họ sẽ mua lại toàn bộ số chứng khoán phát hành ra theo mức giá thoả thuận (thường là thấp hơn mức giá công bố) rồi sau đó tiến hành bán lẻ ra thị trường cho các nhà đầu tư khác. Các thoả thuận về bảo lãnh chứng khoán thường được tổ chức riêng, kín nên hoạt động giao dịch cụ thể tại thị trường sơ cấp thương không công khai.
+ Là thị trường bán buôn chứng khoán, hoạt động không liên tục
b/ Thị trường thứ cấp:
Thị trường thứ cấp là thị trường mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp, làm thay đổi quyền sở hữu chứng khoán.
Đặc điểm
+ Việc mua đi bán lại chứng khoán trên thị trường thứ cấp chỉ làm thay đổi quyền sở hữu các chứng khoán chứ không gia tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế (không trực tiếp mang lại vốn cho nhà phát hành).
+ Giá cả của chứng khoán giao dịch do quan hệ cung cầu quyết định.
+ Trên thị trường thứ cấp người mua và người bán là các nhà đầu tư.
+ Là thị trường bán lẻ chứng khoán, hoạt động liên tục.
Mối quan hệ, tác động qua lại giữa hai thị trường:
Thị trường sơ cấp là thị trường cơ sở, là tiền đề để cho thị trường thứ cấp hoạt động, nó tạo hàng hoá để mua bán trên thị trường thứ cấp.
Ngược lại, nếu không có thị trường thứ cấp thì thị trường sơ cấp khó có thể hoạt động một cách trôi chảy được : thị trường thứ cấp sẽ tạo tính lỏng cho các hàng hoá được cung cấp từ thị trường sơ cấp (qua đó làm tăng tính hấp dẫn và tạo sự thuận lợi cho các chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp). ; thị trường thứ cấp cũng góp phần xác định giá các chứng khoán phát hành trên thị trường sơ cấp.
Việc phân biệt thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết. Trong thực tế, hoạt động của thị trường chứng khoán chúng ta không thể chỉ rõ ra được đâu là thị trường sơ cấp và đâu là thị trường thứ cấp, bởi vì trong hoạt động của thị trường chứng khoán vừa diễn ra việc phát hành chứng khoán vừa diễn ra việc mua đi bán lại chứng khoán.
2.3. Theo phương thức tổ chức và giao dịch của thị trường
a/ Thị trường tập trung
Thị trường tập trung là thị trường mà việc giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện có tổ chức và tập trung tại một địa điểm nhất định.
Đặc điểm:
+ Ví dụ về thị trường tập trung là các Sở giao dịch (thường được tổ chức dưới hình thức một công ty cổ phần). Nơi đây sẽ cung cấp các phương tiện và dịch vụ cần thiết để tiến hành giao dịch như: lưu ký chứng khoán, bảng báo giá điện tử,…
+ Hoạt động mua bán chứng khoán tại Sở giao dịch buộc phải thông qua các trung gian môi giới gọi là các nhà môi giới chứng khoán.
+ Ghép lệnh tập trung để hình thành giá giao dịch.
+ Các chứng khoán giao dịch tại thị trường này là những chứng khoán đã được đăng ký yết giá (niêm yết).
b/ Thị trường phi tập trung (OTC)
Thị trường phi tập trung là thị trường mà việc mua bán các chứng khoán chưa hoặc không được niêm yết trên thị trường tập trung, được thực hiện phân tán ở những địa điểm khác nhau. Các giao dịch này thường được thực hiện thông qua mạng máy vi tính.
Đặc điểm:
+ Thị trường OTC không phải là thị trường hiện hữu và không có địa điểm tập trung nhất định. Giao dịch diễn ra tại các quầy thông qua mạng máy vi tính. Những ai bán hay mua loại chứng khoán nào với mức giá nào đều được hiển thị hết qua mạng vi tính, do vậy tính cạnh tranh của thị trường này rất cao. Ngoài ra có thể bán trao tay các chứng khoán (thị trường chợ đen, thị trường tự do).
+ Giá cả trên thị trường này do đó được hình thành theo nguyên tắc thoả thuận.
+ Lượng giao dịch và giá trị giao dịch là lớn hơn nhiều so với mua bán tại Sở giao dịch (theo thống kê của các nước phát triển).
2.4. Theo công cụ tài chính
Gồm có thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần.
II. Các công cụ trên thị trường tài chính
Để tìm hiểu một cách đầy đủ về việc làm cách nào thị trường tài chính thực hiện đươc vai trò quan trọng trong việc giúp vốn được chuyển từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn, ta sẽ đi nghiên cứu các phương tiện giúp thị trường tài chính lưu chuyển các khoản vốn, đó chính là các công cụ tài chính hay còn gọi là các chứng khoán. Theo cách phân loại thị trường tiền tệ dựa vào thời gian luân chuyển vốn, ta sẽ chia làm hai nhóm công cụ, gồm: các công cụ trên thị trường tiền tệ và các công cụ trên thị trường vốn. Trong đó:
Các công cụ trên thị trường tiền tệ gồm: tín phiếu kho bạc; các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được; thương phiếu; chấp phiếu ngân hàng; hợp đồng mua lại; Euro dollar; dự trữ vượt mức.
Các công cụ trên thị trường vốn gồm: trái phiếu (trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty); cổ phiếu; các khoản vay thế chấp.
1. Các công cụ của thị trường tiền tệ:
Do có kỳ hạn thanh toán ngắn nên những công cụ được mua bán trên thị trường tiền tệ chỉ chịu mức dao động giá tối thiểu và vì thế nó là loại đầu tư ít rủi ro nhất.
1.1 Tín phiếu kho bạc Nhà nước (treasury bill)
Tín phiếu kho bạc Nhà nước là công cụ vay nợ ngắn hạn của chính phủ do kho bạc phát hành để bù đắp những thiếu hụt tạm thời của NSNN. Tín phiếu Kho bạc Nhà nước có các kỳ hạn 3; 6; và 12 tháng.
Đặc điểm:
+Tín phiếu KBNN thuộc loại chứng khoán chiết khấu
Nghĩa là nó không được nhà phát hành trả lãi mà được bán ra ngoài với giá chiết khấu (thấp hơn mệnh giá), như vậy khi tín phiếu đáo hạn nhà đầu tư nhận được đủ mệnh giá và phần chênh lệch giữa giá chiết khấu và mệnh giá chính là lãi của nhà đầu tư.
+ Độ rủi ro thấp nhất trong các loại chứng khoán
Có độ rủi ro thấp nhất trên thị trường tiền tệ là do khả năng vỡ nợ của nhà phát hành là rất khó xảy ra. Bởi đến kỳ thanh toán của tín phiếu, nếu chưa có tiền trả nợ, Chính phủ hoàn toàn có thể tăng thuế hoặc vay thêm tiền để trả nợ.Vì lí do này nên nó được xem như là công cụ có tính lỏng cao nhất và mức lãi suất áp dụng cho loại công cụ này thường thấp hơn so với các công cụ khác trên thị trường tiền tệ.
+ Được phát hành theo từng lô và bằng phương pháp đấu giá
Chủ thể tham gia đấu giá chủ yếu là các ngân hàng, ngoài ra còn có các công ty và các trung gian tài chính khác. Các cuộc đấu giá trái phiếu ngắn hạn 91 ngày và 182 ngày được thực hiện hàng tuần và người ta theo dõi chặt chẽ hoa lợi của nó trong thị trường tiền tệ để biết các dấu hiệu của chiều hướng lãi suất. KBNN cũng mở đấu thầu loại trái phiếu kho bạc ngắn hạn 52 tuần, 4 tuần một lần. Thỉnh thoảng KBNN cũng phát hành trái phiếu kho bạc quản lý tiền mặt ngắn hạn, trái phiếu kho bạc ngắn hạn trả thuế trước (tax anticipation bills - trái phiếu kho bạc ngắn hạn dự phòng thuế) và chứng chỉ nợ ngân khố (treasury certificates of indebtedness). Cá nhân nhà đầu tư không đệ trình giá đặt mua có cạnh tranh (Competitive bid) sẽ được bán trái phiếu kho bạc ngắn hạn theo giá trung bình của giá đặt mua có cạnh tranh đã trúng thầu.
Thực tế ở Việt nam công cụ này khá phát triển. Thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc qua NHNN được đưa vào hoạt động từ năm 1994 đã trở thành một kênh huy động vốn rất quan trọng đáp ứng kịp thời vốn cho NSNN và nền kinh tế. Sau hơn 14 năm hoạt động, thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc đã có gần 50 thành viên . Tuy vậy trong thời gian qua hầu như chỉ có các NHTM Nhà nước tham gia đấu thầu và trúng thầu. Nguyên nhân là khối ngân hàng còn lại có nguồn vốn nhỏ, vốn khả dụng hạn chế và vẫn còn đó một số hạn chế trong cách thức tổ chức đấu thầu nên các ngân hàng quy mô nhỏ hơn không có điều kiện tham gia và trúng thầu.
Một điểm cần lưu ý là các tín phiếu do kho bạc phát hành là nhằm bù đắp cho bội chi ngân sách nhà nước trong ngắn hạn, bù đắp bội chi tạm thời. Còn đối với tín phiếu được phát hành bởi Ngân hàng Nhà nước thì lại có mục đích chống lạm pháp thông qua hấp thụ lượng tiền đã phải bỏ ra để hấp thụ lượng ngoại tệ quá dư thừa trong nền kinh tế.
1.2 Các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được
Chứng chỉ tiền gửi là một công cụ nợ do các ngân hàng phát hành, cam kết trả lãi định kỳ cho khoản tiền gửi và sẽ hoàn trả cả vốn gốc cho người gửi tiền khi đáo hạn.
Trước đây CD không được phép bán lại và nếu người gửi tiền rút vốn trước hạn thì sẽ bị chịu lãi phạt. Tuy nhiên về sau, nhằm tăng tính hấp dẫn và linh hoạt cho CD nên các ngân hàng bắt đầu đã cho phép các CD mệnh giá lớn được phép bán lại trước hạn và thậm chí là bán cho chính ngân hàng phát hành. Năm 1966, Citibank đã lần đầu phát hành CD bán lại được với những loạI có mệnh giá cao trên $100.000, và từ đó CD được gọi là chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được (NCDs). CD có thể được bán lại ở thị trường cấp 2.
Tìm hiểu và tham khảo thêm NCDs Lộc Xuân (techcombank) kỳ hạn 11 tháng.
Tìm hiểu NCDs bằng vnđ hoặc usd của Marintime bank.
Đối với các khoản tiền dân cư gửi tiết kiệm vào ngân hàng cũng được coi là chứng chỉ tiền gửi, cùng bản chất là khoản tiền gửi vào ngân hàng và được ngân hàng cam kết trả lãi định kỳ cho khoản tiền gửi, trả gốc khi đáo hạn nhưng chứng chỉ cho khoản tiết kiệm lại không chuyển nhượng được.
1.3 Thương phiếu (commercial paper)
Thương phiếu là giấy nhận nợ mà các công ty uy tín hoặc ngân hàng phát hành để vay vốn ngắn hạn từ thị trường tài chính.
Đặc điểm:
+ Được phát hành theo hình thức chiết khấu.
Thương phiếu là loại trái phiếu doanh nghiệp ngắn hạn nhất với thời gian từ 30 đến 270 ngày. Nó thường được chào bán bởi các công ty phát hành hoặc các hãng môi giới, và thường được bán theo lô. Thương phiếu có độ rủi ro cao hơn tín phiếu kho bạc nên mức chiết khấu của nó cũng vì thế mà cao hơn.
+ Thương phiếu nguyên thuỷ xuất hiện trong các hoạt động mua bán chịu hàng hoá giữa các công ty. Ngày nay thương phiếu còn được dùng để vay vốn trên thị trường tiền tệ.
+ Trong các hoạt động thương mại quốc tế của bên phía các chủ thể kinh tế Việt Nam, thương phiếu được sử dụng qua 2 kênh:
- Hoạt động xuất nhập khẩu
- Hoạt động vay nợ nước ngoài
+ Thương phiếu ở Việt nam được phát hành bởi ngân hàng thì có tên gọi là kỳ phiếu ngân hàng. Ngân hàng huy động một lượng tiền mặt trong một thời hạn ngắn, khi đáo hạn mà chủ sở hữu thương phiếu không tới ngân hàng nhận số tiền được hoàn lại thì số tiền ấy sẽ được chuyển sang hưởng lãi không kỳ hạn.
Về mặt luật pháp, các doanh nghiệp áp dụng Luật thống nhất về hối phiếu được ban hành theo Công ước quốc tế đầu tiên ký tại Giơ-ne-vơ 1930 (Uniform Law for Bill of Exchange) hoặc hệ thống pháp luật về thương phiếu của Anh - Mỹ chứ không lựa chọn luật Việt Nam vì pháp luật về thương phiếu ở Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện. Đối với thương mại trong nước, ngoài nguyên nhân hệ thống pháp luật về thương phiếu chưa hoàn thiện còn có nguyên nhân từ việc sử dụng thương phiếu còn khá mới mẻ nên các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa sử dụng thương phiếu như một phương tiện tín dụng, thanh toán trong quan hệ mua bán trong nước.
1.4. Chấp phiếu ngân hàng (banker’s acceptance)
Chấp phiếu ngân hàng là các hối phiếu kỳ hạn do các công ty ký phát và được ngân hàng đảm bảo thanh toán bằng cách đóng dấu “chấp nhận” lên tờ hối phiếu.
Đặc điểm:
+ Ngân hàng đứng ra bảo lãnh thanh toán
Trong quan hệ buôn bán với nhau, việc không chắc chắn về năng lực tài chính và khả năng thanh toán của đối tác là một điều dễ hiểu. Do vậy nhu cầu cần có người bão lãnh, đảm bảo cho đối tác về mặt thanh toán là một xu hướng tất yếu. Người bán cần một ngân hàng uy tín chấp nhận thay mặt doanh nghiệp đối tác trả nợ cho mình trong trường hợp đối tác mất khả năng thanh toán nợ nần cho mình. Như vậy khi ngân hàng đóng dấu chấp nhận bảo lãnh thanh toán thì người trả tiền hối phiếu bây giờ không phải là người mua hàng nữa mà là ngân hàng bảo lãnh.
Ngân hàng sẽ yêu cầu người mua chịu phải ký quỹ vào gửi ngân hàng một phần hoặc toàn bộ số tiền của tờ hối phiếu hoặc séc hoặc ngân hàng sẽ đồng ý cho vay để thanh toán hối phiếu, bên cạnh đó ngân hàng sẽ thu một khoản phí đảm bảo thanh toán.
+ Người sở hữu chấp phiếu có thể bán lại trên thị trường tiền tệ với giá chiết khấu.
Do được ngân hàng chấp nhận thanh toán nên chấp phiếu ngân hàng là một công cụ nợ có độ an toàn khá cao đặc biệt là ngân hàng đứng ra chấp nhận bảo lãnh càng có uy tín lớn thì tờ chấp phiếu càng có độ an toàn cao. Khi cần tiền mặt gấp thì người sở hữu chấp phiếu sẽ có thể đem bán chúng trên thị trường tiền tệ.
Trong các giao dịch xuất khẩu hàng hoá từ Việt Nam đi các nước, phương thức thanh toán phổ biến nhất và được các doanh nghiệp Việt Nam (nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa) ưa chuộng nhất hiện nay là thanh toán theo tín dụng chứng từ (gọi tắt là thanh toán L/C -Letter of Credit). Các thông lệ và tập quán liên quan đến L/C được quy định chi tiết trong các bộ quy tắc UCP 600 của Phòng Thương mại quốc tế ICC.
Về bản chất L/C là một cam kết thanh toán có điều kiện của ngân hàng phát hành, do vậy, nhà xuất khẩu Việt Nam có thể an tâm về khả năng thanh toán của người mua hàng. Nhưng không phải cứ có L/C là có tiền. Nguyên nhân là do các rủi ro có thể xảy đến từ bản chất cam kết thanh toán có điều kiện của L/C rất dễ bị các doanh nghiệp Việt Nam không chú ý khiến cho bộ hồ sơ gặp lỗi và ngân hàng từ chối chi trả.
Hình thức chấp phiếu ngân hàng còn chưa thực sự phát triển ở Việt Nam.
1.5. Hợp đồng mua lại (REPO)
Hợp đồng mua lại là hợp đồng trong đó ngân hàng bán một lượng tín phiếu kho bạc mà nó đang nắm giữ kèm theo điều khoản cam kết rằng sẽ mua lại số tín phiếu đó sau một khoảng thời gian nhất định với mức giá cao hơn.
Đặc điểm
+ Repo là một công cụ vay nợ ngắn hạn của các ngân hàng (thường không quá 2 tuần)
+Tín phiếu kho bạc là vật thế chấp.
Chỉ từ tháng 7/2000, các hợp đồng mua lại và mua lại đảo ngược mới bắt đầu được NHNN Việt Nam sử dụng như là một trong các công cụ của nghiệp vụ thị trường mở. Đến nay công cụ này đã ngày càng phát huy vai trò là một công cụ chủ yếu nhằm điều tiết tiền tệ của các tổ chức tín dụng.
Tham khảo nghiệp vụ mua bán chứng khoán chưa niêm yết (repo) với thời hạn mua bán thoả thuận của ACBs
1.6. Dự trữ vượt mức
Mỗi ngân hàng khi nhận được một khoản tiền gửi sẽ phải trích một tỷ lệ phần trăm nhất định gửi lên NHTW làm khoản dự trữ bắt buộc. Phần dự trũ bắt buộc này sẽ một phần giúp cho các ngân hàng đảm bảo khả năng thanh toán.
Lượng tiền vượt quá số tiền dự trữ bắt buộc thì được gọi là dự trữ vượt mức. Có số tiền này là do số lượng tiền được gửi và ngân hàng mỗi ngày không như nhau và do đó lượng dự trữ bắt buộc của ngày trước đó tính cho ngày hôm nay là thừa hoặc đôi khi một số ngân hàng cần tăng mức dự trữ để gia tăng hệ số an toàn cho khả năng thanh toán, hoặc do thị trường tài chính biến động ở mức khó dự báo,…
Khi một ngân hàng nào đó chưa đủ lượng dự trữ bắt buộc tại NHTW, trường hợp để đảm bảo yêu cầu đủ lượng dự trữ vượt mức theo luật định thì ngân hàng này sẽ vay ngắn hạn lượng dự trữ vượt mức của ngân hàng khác bù vào số thiếu hụt đó.
Tại Mỹ, các ngân hàng có thể vay các khoản vay nợ ngắn hạn (thường chỉ qua 1 đêm) giữa các ngân hàng. Đối tưọng vay ở đây là các khoản tiền gửi của các ngân hàng tại cục dự trữ liên bang Mỹ FED
Ngoài các công cụ phổ biến trên, ở các nước có thị trường tiền tệ phát triển còn có thêm công cụ khác:
1.7 Euro dollars
Euro dollars là những đồng dollar Mỹ do các ngân hàng ngoại quốc ở bên ngoài nước Mỹ hoặc do những chi nhánh ngân hàng Mỹ ở ngoại quốc nắm giữ.
+ Thời hạn giao dịch
Khi cần vốn, các ngân hàng của Mỹ có thể huy động dollar từ nguồn cung như trên. Các giao dịch của đồng euro dolllar rất phổ biến và linh hoạt, đặc biệt thời hạn có thể từ một ngày đến 6 tháng (hiếm các giao dịch kéo dài hơn 5 năm).
+ Lãi suất
Mặc dù được nắm giữ ở nhiều nơi trên thế giới nhưng lãi suất của euro dolllar lại chủ yếu bị ảnh hưởng bởi tình hình nền kinh tế Mỹ. Nhìn chung khi FED có dấu hiệu sẽ tiến hành quản lý hoặc thực hiện quản lý chặt chẽ các tài khoản tiền gửi thì lãi suất euro dolllar sẽ tăng và ngược lại. Mức lãi suất này cũng thay đổi tuỳ theo từng thời điểm trong ngày và tuân theo quan hệ cung cầu, do đó nếu sử dụng lãi suất này làm điểm tham chiếu sẽ là không phù hợp, thay vào đấy có thể sử dụng lãi suất LIBOR và các lãi suất khác.
2. Các công cụ trên thị trường vốn
Công cụ thị trường vốn là các công cụ nợ và các công cụ vốn với kỳ hạn giao dịch trên 1 năm.
Kỳ luân chuyển vốn trên thị trường này dài hơn so với thị trường tiền tệ, độ lệch chuẩn lớn hơn nhiều độ lệch của các công cụ trên thị trường tiền tệ nên rủi ro khi đầu tư vào các công cụ này cũng cao hơn và lợi suất đem lại từ việc đầu tư cũng vì thế mà nhiều hơn.
Như đã đề cập ở phần trên, thị trường vốn bao gồm thị trường chứng khoán và thị trường vay nợ dài hạn. Các công cụ tài chính trên thị trường này biểu hiện dưới hình thức công cụ vốn (cổ phiếu), các công cụ nợ dài hạn (các loại trái phiếu), các khoản vay thế chấp. Ngoài ra tại các thị trường phát triển còn có các chứng từ có giá khác gọi là những công cụ tài chính phái sinh được phát sinh trên cơ sở những chứng khoán đang lưu hành như những chứng chỉ đầu tư do các công ty tín thác đầu tư phát hành, chứng chỉ đặc quyền mua ngắn hạn rights, chứng chỉ đặc quyền mua dài hạn warrrants; hợp đồng quyền chọn options, future,…
Trong phần này chúng ta sẽ tìm hiểu hai công cụ điển hình và phổ biến nhất là trái phiếu và cổ phiếu.
2.1. Cổ phiếu
a/ Khái niệm
Theo định nghĩa của UBCNNN thì:
Cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác định rõ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của công ty cổ phần.
Đặc điểm:
1. Cổ phần (share/stock): khi công ty huy động vốn, họ sẽ chia số vốn cần huy động thành nhiều phần bằng nhau, mỗi phần được gọi là cổ phần.
2. Cổ đông (shareholder): là người mua các cổ phần nói trên.
3. Cổ phiếu: với số cổ phần đã mua, các cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu gọi là cổ phiếu.
4. Cổ tức: là phần lãi trả cho mỗi cổ phần (dividend), quyền này chỉ được thực hiện nếu công ty làm ăn có lãi và công ty có quyết định phân chia lợi nhuận chứ không giữ lại tái đầu tư sản xuất.
5. Mệnh giá (face value): là số tiền ghi trên bề mặt cổ phiếu và thường được ghi bằng đồng nội tệ với mệnh giá do luật chứng khoán của nước đó hoặc do điều lệ công ty cổ phần ấy quy định. Ở Việt Nam, theo Nghị định 114 – CP, mệnh giá cổ phiếu của các doanh nghiệp Việt Nam thống nhất là 10.0000 vnđ.
6. Giá trị ghi sổ (book value): căn cứ vào giá trị tài sản ròng cả công ty trên bảng tổng kết tài sản để định giá giá trị ghi sổ của mỗi cổ phần.
7. Giá trị thị trường (market value): là giá cổ phiếu được mua bán trên thị trường.
8. Thời hạn của cổ phiếu thời hạn thanh toán phụ thuộc thời gian hoạt động của công ty. Khi vốn góp qua việc mua cổ phiếu, cổ đông không được phép rút khoản vốn đã đầu tư về trừ khi công ty ngừng hoạt động hoặc có quy định khác của công ty về rút vốn cổ phần. Tuy vậy, các cổ đông được phép chuyển nhượng cổ phần mà mình nắm giữ cho người khác và qua đó rút lại được vốn mà mình đã đầu tư trước đây .
9. Các cổ đông có quyền tham gia quản lý công ty bằng cách bầu ra hội đồng quản trị (board of directors) nhằm thay mặt mình quản lý và điều hành công ty. Những cổ đông nào chiếm được một tỷ lệ % nhất định trên tổng số cổ phần của công ty sẽ được quyền ra ứng cử vào vị trí thuộc hội đồng quản trị. Lợi nhuận ròng mà cổ đông có được sẽ căn cứ trên số cổ phần mà anh ta hiện sở hữu.
b/ Phân loại
Có nhiều tiêu chí để phân loại cổ phiếu.
+ Dựa vào quyền của cổ đông có cổ phiếu thưởng và cổ phiếu ưu đãi.
Đây là cách phân loại phổ biến nhất.
- Cổ phiếu thường (common stock): còn có tên gọi là cổ phiếu cổ thông. Cổ phiếu loại này không quy định trước cổ tức cổ đông sẽ nhận được vì cổ tức loại cổ phiếu này phụ thuộc vào tình hình lợi nhuận của công ty và kế hoạch phân chia lợi nhuận của hội đồng quản trị. Cổ đông sẽ chỉ được nhận cổ tức sau khi công ty trả lãi vay và cổ tức cho cổ đông ưu đãi. Cổ đông nắm giữ loại cổ phiếu này tuỳ vào lượng cổ phần nắm giữ có quyền tham gia quản lý công ty: bầu cử, ứng cử,…Trên thị trường giá của loại cổ phiếu này thường biến động nhiều hơn so với cổ phiếu ưu đãi, thị giá của nó rất nhạy cảm với những thay đổi của thị trường, của nền kinh tế.
- Cổ phiếu ưu đãi (preferred stock) : có mức lợi tức cố định không phụ thuộc vào kết quả và chính sách chia lãi hàng năm của công ty và cổ đông. Cổ đông giữ cổ phiếu ưu đãi sẽ không được tham gia bầu cử hay ứng cử vào hội đồng quản trị. Họ được ưu tiên phân chia tài sản còn lại của công ty trong trường hợp công ty bị thanh lý, giải thể chỉ sau việc thanh toán các khoản nợ của công ty.
Cổ phiếu ưu đãi là loại chứng khoán trung gian giữa cổ phiếu thường và trái phiếu. Nó được xếp vào nhóm cổ phiếu mà không xếp vào nhóm trái phiếu là do đặc điểm rất quan trọng, mang tính bản chất: cổ phiếu ưu đãi là vốn góp và không có thời hạn.
Các biến thể của cổ phiếu ưu đãi gồm có cổ phiếu ưu đãi cộng dồn, cổ phiếu ưu đãi tham dự và cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường trong những điều kiện nhất định.
+ Căn cứ vào phương thức góp vốn
Gồm: cổ phiếu hiện kim (dành cho cổ đông góp vốn bằng tiền)
và cổ phiếu hiện vật (dành cho cổ đông góp vốn bằng tài sản).
+ Căn cứ vào hình thức phát hành
Gồm: cổ phiếu ghi danh
và cổ phiếu vô danh.
+ Căn cứ vào việc lưu hành trên thị trường
Gồm: cổ phiếu hiện hành (outstanding)
và cổ phiếu ngân quỹ (treasury).
c/ Định giá cổ phiếu
Các vấn đề cần quan tâm là giá trị của cổ phiếu và các phương pháp xác định giá cổ phiếu.
+ Giá trị cổ phiếu
Giá trị cổ phiếu được đề cập bao gồm giá trị kế toán, giá trị thanh khoản và giá trị thị trường, trong đó:
- Giá trị kế toán (book value) là giá trị tài sản ròng (net worth) của công ty trên mỗi cổ phiếu theo bảng cân đối kế toán.
- Giá trị thanh khoản (liquidity value) là khoản tiền thu được trên một cổ phiếu từ việc bán tất cả các tài sản hiện có của công ty trên thị trường và trừ các khoản nợ.
- Giá trị thị trường (market value) là giá giao dịch các cổ phiếu trên thị trường. Giá này cao hơn giá trị kế toán và giá trị thanh khoản.
Có 3 yếu tố dẫn tới sự chênh lệch giá, bao gồm: khả năng thu lợi nhuận cao (extra earning power_một công ty có tỷ suất lợi nhuận lớn hơn tỷ suất lợi nhuận trung bình trên thị trường thì giá trị cổ phiếu sẽ phải lớn hơn giá trị kế toán và giá trị thanh khoản) ; tài sản vô hình (intangible assets_là những tài sản không được phản ánh khi lập bảng cân đối kế toán như các giá trị về nhãn hiệu, công thức điều chế thuốc,…) và giá trị các khoản đầu tư trong tương lai (value of future invesment_khi nhà đầu tư tin rằng công ty sẽ đạt mức tỷ suất lợi nhuận cao trong tương lai thì họ sẽ chấp nhận mua cổ phiếu với giá cao hơn giá cổ phiếu hiện tại).
+ Định giá cổ phiếu
Có 3 phương pháp xác định giá cổ phiếu, gồm:
- Mô hình chiết khấu dòng cổ tức (DDM_dividend discount model);
- Phương pháp chỉ số (P/E ratio)
- Phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCM_ discounted cashflow model)
Ba phương pháp này sẽ được trình bày trong bài đọc thêm.
2.2 Trái phiếu (bond)
a/ Khái niệm
Trái phiếu là loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của tổ chức phát hành phải trả định kỳ cho người nắm giữ trái phiếu một khoản tiền xác định và hoàn trả vốn gốc khi trái phiếu đáo hạn..
Đặc điểm của trái phiếu:
1. Mệnh giá (face value): là số tiền ghi trên bề mặt của tờ trái phiếu. Luật các nước có thể quy định mệnh giá tối thiểu của trái phiếu, ở Việt Nam theo nghị định 144-CP quy định mệnh giá tối thiểu của trái phiếu khi phát hành ra công chúng là 100.000 vnđ hoặc bội số của 100.000 vnđ.
2. Thời hạn (maturity): là thời hạn vay vốn của tổ chức phát hành đã được ghi rõ trên tờ trái phiếu (thường từ 2 năm, có trường hợp hơn 10 năm).
3. Trái chủ (bondholder): tên của trái chủ được ghi trên tờ trái phiếu hoặc không ghi (nếu là trái phiếu đích danh hoặc là vô danh). Trái chủ ngoài quyền đòi lãi và vốn gốc khi đến hạn, còn có thể chuyển nhượng trái phiếu cho người khác trong trường hợp trái phiếu chưa tới hạn.
4. Lãi suất cuống phiếu (lãi suất coupon)
b/ Phân loại
+ Căn cứ vào chủ thể phát hành: trên thị trường vốn có các loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu công ty
Cụ thể
- Trái phiếu chính phủ (Government bond) :
Thường được phát hàng dưới dạng trái phiếu kho bạc nhằm bù đắp thâm hụt NSNN hàng năm.
Trái phiếu kho bạc trung hạn (treasury note) có thời hạn dưới 10 năm, trái phiếu kho bạc dài hạn (treasury bond) có thời hạn trên 10 năm. Chú ý là trái phiếu kho bạc ở dạng ngắn hạn có tên gọi là tín phiếu kho bạc Nhà nước và được giao dịch trên thị trường tiền tệ.
Trái phiếu Chính phủ là loại trái phiếu được mua bán mạnh nhất trên thị trường vốn các nước nên được xem là công cụ lỏng nhất trên thị trường vốn.
Các nhà đầu tư vào loại công cụ này gồm có các ngân hàng (kể cả NHTW), các tổ chức tài chính và các cá nhân.
- Trái phiếu chính quyền địa phương :
Do các cơ quan trực thuộc chính phủ phát hành (government agency bonds); trái phiếu của chính quyền địa phương (local government bonds or municipal bonds)_dùng để tài trợ cho ngân sách địa phương hoặc để đầu tư cho từng công trình cụ thể theo kế hoạch. Các trái phiếu loại này thường có ưu đãi là không phải chịu thuế.
- Trái phiếu công ty (corporate bond)
Loại trái phiếu này thường do các công ty lớn và có uy tín phát hành. Các giao dịch về trái phiếu công ty nhìn chung nhỏ hơn so với các giao dịch về trái phiếu chính phủ. Tại các nước phát triển, quy mô thị trường trái phiếu công ty cũng nhỏ hơn quy mô thị trường cổ phiếu công ty nhưng tốc độ phát triển bù lại là nhanh hơn. Các trái chủ luôn là người được thanh toán lãi từ việc đầu tư trái phiếu trước các cổ đông mà không cần phụ thuộc vào tình hình tài chính của công ty.
Trái phiếu công ty gồm có: trái phiếu có đảm bảo bằng tài sản của công ty hoặc được bảo lãnh bởi uy tín của một doanh nghiệp khác (thường là ngân hàng đầu tư hoặc công ty chứng khoán; trái phiếu không cần đảm bảo; trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu; trái phiếu phát hành dưới mệnh giá.
Tại Việt Nam chưa phổ biến phát hành trái phiếu công ty. Hiện chủ yếu mới chỉ có các ngân hàng phát hành trái phiếu để huy động vốn từ dân chúng.
Trái phiếu công ty có các dạng như trái phiếu có: lãi suất thả nổi; có thể mua lại được; có thể bán lại; có thể chuyển đổi.
+ Căn cứ vào việc ghi danh gồm trái phiếu ghi danh và trái phiếu vô danh.
- Trái phiếu ghi danh:
Là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của chủ sở hữu trên chứng chỉ, trên sổ của người phát hành.
- Trái phiếu vô danh:
Là trái phiếu không ghi tên trái chủ trên chứng chỉ cũng như trên sổ sách của người phát hành.
c/ Định giá trái phiếu
+ Giá trái phiếu là tổng giá trị hiện tại của dòng thu nhập trong tương lai.
+ Giá của trái phiếu cũng có thể được hiểu theo hướng là được tách ra làm hai phần, gồm giá trị hiện tại của mệnh giá và giá trị hiện tại của coupon ( nghĩa là giá trị hiện tại của dòng tiền đều PVA).
Do vậy giá của trái phiếu được tính như sau:
Giá trái phiếu có thể phụ thuộc vào nhiều nhân tố nhưng nhân tố lãi suất là một nhân tố có ảnh hưởng rất lớn. Khi lãi suất tăng thì giá trị hiện tại của các khoản thu nhập từ trái phiếu giảm và làm cho giá trái phiếu giảm, ngược lại. Chúng ta có thể nhìn ngay trên mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa hai đại lượng trong hai công thức định giá cổ phiếu vừa nêu.
2.3. Các khoản vay thế chấp (Mortgages)
Vay thế chấp là khoản tiền cho các cá nhân hoặc công ty vay đầu tư (mua hoặc xây dựng) vào nhà, đất, hoặc những bất động sản khác, các bất động sản và đất đó sau đó lại trở thành vật thế chấp để đảm bảo cho chính các khoản vay.
Ở các nước phát triển, thị trường các khoản vay thế chấp có qui mô rất lớn, đặc biệt là thị trường các khoản vay thế chấp để mua nhà ở. Tại Mỹ, thị trường các khoản vay thế chấp là thị trường nợ lớn nhất, trong đó các khoản vay thế chấp để mua nhà ở gấp bốn lần các khoản vay thế chấp thương mại và nông trại.
Các ngân hàng thương mại và các công ty bảo hiểm nhân thọ là những tổ chức cung cấp các khoản vay thế chấp thương mại và nông trại chủ yếu. Còn các khoản vay thế chấp nhà ở thì thường do các hiệp hội cho vay và tiết kiệm (Savings and Loan Associations _ S&Ls) và các ngân hàng tiết kiệm tương trợ (Mutual savings banks) cung cấp. Ngoài ra, chính phủ các quốc gia cũng hình thành nhiều tổ chức chuyên hỗ trợ cho thị trường các khoản vay thế chấp này.
Ví dụ ở Mỹ có 3 cơ quan chính phủ là Hiệp hội vay thế chấp quốc gia thuộc liên bang (Federal National Mortgage Association – FNMA), Hiệp hội vay thế chấp quốc gia thuộc chính phủ (Government National Mortgage Association – GNMA) và Công ty cho vay thế chấp nhà ở thuộc liên bang (Federal Home Loan Mortgage Corporation – FHLMC) đang cung cấp vốn cho thị trường này bằng cách phát hành các trái phiếu để huy động vốn rồi dùng vốn đó để cho vay thế chấp. Ngoài ra, thị trường vay thế chấp nhà ở ngày nay còn được hỗ trợ phát triển hơn nữa nhờ công nghệ chứng khoán hoá. Đó là hình thức mà một cơ quan trực thuộc chính phủ như GNMA phát hành các chứng khoán thanh toán vốn và lãi bằng các khoản thu từ hoạt động cho vay thế chấp nhà ở, tức là các khoản thanh toán của các cá nhân vay thế chấp nhà ở sẽ thông qua GNMA chuyển đến cho các nhà đầu tư vào các loại chứng khoán bảo đảm bằng các khoản cho vay thế chấp (Mortgage-Backed Securities). Nhờ sự phát triển của công nghệ này mà đến nay 2/3 các khoản cho vay thế chấp nhà ở của Mỹ đã được chứng khoán hoá, do đó đã tạo được thị trường thứ cấp cho các khoản vay thế chấp nhà ở, giúp cho thị trường này thêm hấp dẫn và sôi động.
2.4 Các khoản vay thương mại và tiêu dùng (Consumer and bank commercial loans)
Đây là các món vay dành cho những công ty kinh doanh và người tiêu dùng, chủ yếu là do các ngân hàng cung cấp. Riêng các khoản cho vay tiêu dùng cũng có thể do các công ty tài chính cung cấp.
Các khoản vay này thường không chuyển nhượng được nên chúng kém lỏng nhất trong các công cụ của thị trường vốn.
III. Điều hành thị trường tài chính của Chính phủ
3.1. Bắt buộc các công ty phải cung cấp đầy đủ thông tin cho các nhà đầu tư
Chính phủ yêu cầu các công ty phát hành chứng khoán phải cung cấp một số thông tin về doanh thu, tài sản, báo cáo lỗ, lãi,… cho các nhà đầu tư tham khảo. Khi thông tin được công bố công khai sẽ giúp tránh một phần các hoạt động gian lận, rủi ro.
3.2 Đảm bảo sự lành mạnh của các trung gian tài chính
Để bảo vệ các nhà đầu tư và người gửi tiền, Chính phủ buộc các tổ chức trung gian tài chính phải tuân theo một số quy định như:
Tuân theo các điều kiện thành lập trung gian tài chính.
Yêu cầu các trung gian tài chính phải báo cáo các hoạt động của mình và thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức này.
Quy định phạm vi và quy mô hoạt động của các trung gian tài chính nhằm hạn chế hoạt động chứa đựng rủi ro.
Quy định về bảo hiểm tiền gửi đối với các khoản gửi tại các trung gian tài chính,…
Chương này sẽ giúp cho người học hiểu được thị trường tài chính là gì, nó thực hiện việc phân bổ các các nguồn vốn nhàn rỗi trongnền kinh tế như thế nào. Cụ thể chúng ta sẽ tiến hành tìm hiểu:
- Khái niệm cơ bản về thị trường tài chính;
- Vai trò của thị trường tài chính;
- Các chủ thể trên thị trường tài chính;
- Cấu trúc thị trường tài chính;
- Các công cụ tài chính được sử dụng để lưu thông vốn trên thị trường tài chính
I. Thị trường tài chính
1. Thị trường tài chính:
1.1. Khái niệm:
Trong cơ chế thị trường, hoạt động kinh tế không chỉ bao gồm các mối quan hệ cung cầu về hàng hoá mà còn xuất hiện quan hệ cung cầu về tiền tệ. Quan hệ này xuất hiện tất yếu dẫn đến nhu cầu vận động nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, chủ yếu diễn ra trên thị trường tài chính. Thuật ngữ “thị trường tài chính” được sử dụng để phân biệt thị trường mua bán, giao dịch các loại chứng khoán (tài sản tài chính) với các thị trường khác (thị trường hàng hoá, thị trường sức lao động,...).
Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán quyền sử dụng các khoản vốn (ngắn hoặc dài hạn) thông qua các công cụ tài chính nhất định.
Các công cụ tài chính (financial instruments) nói trên được gọi là các chứng khoán (nghĩa là các quyền được hưởng đối với thu nhập hoặc tài sản tương lai của nhà phát hành). Các công cụ này bao gồm hai loại cơ bản là chứng khoán nợ (debt securities) và chứng khoán vốn (equity securities), ngoài ra còn có chứng khoán phái sinh (derivaties).
Chứng khoán nợ là loại công cụ có thu nhập cố định do nó cam kết trả cho những người sở hữu những khoản tiền cố định trong tương lai. Chứng khoán nợ xác nhận quyền được nhận lại khoản vốn mà đã ứng trước cho nhà phát hành vay khi chứng khán này đáo hạn cũng như sẽ được nhận những khoản lãi theo thoả thuận từ việc cho vay.
Chứng khoán vốn là chứng khoán xác nhận quyền được sở hữu một phần thu nhập và tài sản của công ty.
Để nhằm ngăn ngừa, đối phó với những rủi ro có thể xảy ra khi lưu thông không chỉ với các tài sản tài chính mà còn đối với cả hàng hoá tiền tệ, thị trường tài chính còn lưu thông các công cụ đặc biệt được gọi là công cụ phái sinh (hay còn gọi là chứng khoán phái sinh). Chứng khoán phái sinh là công cụ tài chính có giá trị dựa trên giá trị của hàng hoá cơ sở (có thể là cổ phiếu, trái phiếu, hàng nông sản, lãi suất,tỷ giá…) và giá trị của nó phụ thuộc vào mức độ biến động giá cả của các hàng hoá trên thị trường.
1.2. Vai trò:
Thị trường tài chính là bộ phận quan trọng bậc nhất, chi phối toàn bộ hoạt động của nền kinh tế hàng hoá. TTTC phát triển góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của một quốc gia.
Thị trường tài chính đóng vai trò nòng cốt trong quá trình luân chuyển vốn từ nhà đầu tư đến nhà sản xuất. Dòng vốn từ người cho vay – người tiết kiệm tớI người vay – người chi tiêu qua hai con đường:
Thứ nhất là qua kênh tài chính trực tiếp, nghĩa là người đi vay vay vốn trực tiếp từ người cho vay thông qua việc bán chứng khoán.
Thứ hai là kênh tài chính gián tiếp, nghĩa là vốn được chuyển từ người cho vay tới người đi vay thông qua trung gian tài chính.
Từ việc nghiên cứu các hoạt động của thị trường tài chính, ta thấy thị trường này có các vai trò sau đây
- TTTC là kênh dẫn vốn và sử dụng vốn có hiệu quả cho nền kinh tế : Thông qua thị trường tài chính các chủ thể cần vốn có thể huy động được vốn phục vụ cho nhu cầu đầu tư, mở rộng sản xuất,… của mình. Các công ty có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu công ty; Nhà nước có thể phát hành trái phiếu Chính phủ,… để tập hợp lượng vốn cần thiết. Những chủ thể tạm thời thừa vốn cũng có một kênh để đầu tư sinh lợi cho phần vốn của mình. Qua đó hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư,… của nền kinh tế được thực hiện liên tục và không bị đình trệ. Bên cho vay sẽ thu được phần tiền lãi, còn bên đi vay phải tìm mọi cách sinh lời từ đồng vốn đã vay nhằm trả lãi và vốn ứng trước của người cho vay và có phần tích luỹ của mình.
- Là kênh đầu tư của công chúng : TTTC có thể thu hút được rất nhiều nhà đầu tư với sự đa dạng hoá các hình thức đầu tư, như vậy nhà đầu tư có thể chọn lựa cách thức đầu tư phù hợp với nhu cầu của mình. Ngoài ra thị trường tài chính còn giúp cải thiện mức sống của cá nhân bằng cách giúp họ chọn thời điểm cho việc mua sắm tốt hơn (tiêu tiền trước rồi sẽ tìm nguồn tiền trả sau_thông qua các khoản vay)
- Thực hiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của Nhà nước.
Hoạt động của thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính sách mở cửa, cải cách kinh tế của Chính phủ. Thông qua thị trường tài chính, việc bán cổ phần, phát hành trái phiếu ra nước ngoài đã tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong nước. Ngoài ra Nhà nước có thể sử dụng các công cụ trên thị trường tài chính để tác động nhằm thực hiện và điều hành chính sách tài chính, tiền tệ Quốc gia…
1.3. Chủ thể tham gia trên TTTC:
Bao gồm những pháp nhân, thể nhân đại diện cho những nguồn cung và cầu vốn.
Các chủ thể đi vay (cầu vốn) có thể kể tới bao gồm Chính phủ, các công ty, các hộ gia đình,… thông qua kênh huy động vốn trực tiếp hoặc gián tiếp.
Việc đi vay vốn có thể xuất phát từ các nhu cầu về vốn cho tái đầu tư phát triển, vốn lưu động,… (với các công ty), có thể là vay phục vụ cho nhu cầu bù đắp bội chi NSNN, vay để đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm quốc gia (Nhà nước); có thể vay vì nhu cầu chi tiêu và các mục đích khác (hộ gia đình);… Trong các chủ thể có nhu cầu vay vốn thì các công ty là chủ thể có nhu cầu vay vốn nhiều nhất.
Các chủ thể cung vốn (cho vay) gồm các hộ gia đình, các công ty bảo hiểm, các trung gian tài chính, các công ty và Chính phủ.
Các hộ gia đình là chủ thể đóng góp lượng cung vốn lớn cho nền kinh tế. Với mỗi hộ gia đình, ngoài các khoản được trích ra phục vụ chi tiêu, còn một khoản không nhỏ phục vụ cho tích luỹ và sinh lợi từ các khoản tích luỹ này. Các hộ gia đình có thể có nhiều hình thức để bảo toàn và sinh lợi cho khoản tiền nói trên và một trong những cách thức đựoc lựa chọn là cho vay hoặc tự đầu tư, qua đó đã cung ra nền kinh tế một lượng vốn.
Các công ty bảo hiểm với đặc thù là thu trước và trả sau. Các công ty này thu chủ yếu từ các khoản đóng phí bảo hiểm và chỉ tiến hành đền bù các hợp đồng nếu như các điều khoản ký trước đó đã được thoả mãn. Lượng tiền thu từ phí bảo hiểm của các công ty bảo hiểm là một lượng không hề nhỏ và nhu cầu của công ty là phải sinh lời được từ lượng vốn đó, họ sẽ tiến hành đầu tư trên thị trường và qua đó cung cấp cho thị truờng một lượng vốn lớn.
Các trung gian tài chính là trung gian của việc đi vay và cho vay chứ khong phải là chủ thể cuối cùng, nhưng các trung gian này vẫn đóng vai trò quan trọng nhất trong việc cho vốn chu chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác.
Các công ty (không phải công ty bảo hiểm) có thể tùy vào chiến lược hoạt động mà có chính sách đầu tư tài chính khác nhau, hoặc trong những thời điểm nhất định khi mà lượng vốn của họ đang nhàn rỗi và họ có nhu cầu muốn tìm cách sinh lợi cho lượng vốn nhàn rỗi đó. Các công ty này sẽ cung vốn ra thị trường thông qua hình thức đầu tư vào các công cụ tài chính ngắn hạn hoặc dài hạn,…
Chính phủ có thể cung vốn cho nền kinh tế thông qua các hình thức thực hiện cho vay đối với các khoản cho vay ưu đãi (tín dụng ưu đãi) hoặc trong những thời điểm nhất định khi mà các cơ quan hành chính sự nghiệp có dư tiền trên tài khoản và chưa có nhu cầu dùng tới, các cơ quan này cũng có thể đem cho vay lượng tiền tạm thời dư thừa.
2. Cấu trúc của thị trường tài chính
Có nhiều tiêu chí để phân loại, cụ thể có một số cách sau đây:
+ Theo thời gian luân chuyển vốn gồm có : thị trường tiền tệ (thị trường có thời gian luân chuyển vốn không quá 1 năm) và thị trường vốn (thị trường có thời gian luân chuyển vốn trên 1 năm trở lên), ngoài ta trên thị trường này còn có sự tồn tại của thị trường chứng khoán phái sinh.
+ Theo nguồn gốc chứng khoán gồm: thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
+ Theo phương thức tổ chức và giao dịch của thị trường gồm: thị trường tập trung và thị trường phi tập trung.
+ Theo công cụ tài chính gồm: thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần.
Cụ thể
2..1. Theo thời gian luân chuyển vốn :
a/ Thị trường tiền tệ:
Thị trường tiền tệ :
Thị trường tiền tệ là thị trường mua bán các chứng khoán nợ ngắn hạn có thời gian luân chuyển vốn không quá 1 năm.
Thông thường các chủ thể đi vay trên thị trường này là những chủ thể tạm thời thiếu hụt tiền tệ phục vụ cho các nhu cầu thanh toán. Do vậy, khi thông qua các giao dịch mua bán quyền sử dụng vốn ngắn hạn mà thị trường tiền tệ đã cung ứng một lượng tiền tệ cho các bên cần vốn nhằm thoả mãn nhu cầu thanh toán (cũng chính vì lý do này mà nó được gọi là thị trường tiền tệ)
Những chủ thể cung vốn (cho vay) thì lại là những chủ thể tạm thời có vốn nhàn rỗi (có thể là do chưa dùng tới hoặc đang tìm kiếm cơ hội đầu tư), do vậy họ tranh thủ chuyển nhượng quyền sử dụng các khoản vốn nhàn rỗi của họ trong thời gian ngắn để hưởng lãi. Tuy nhiên vì là đầu tư thời gian ngắn, đầu tư mang tính nhất thời những nhà đầu tư này quan tâm không nhiều tới mức lãi mà quan tâm hơn tới độ an toàn, tính thanh khoản để có thể rút vốn ngay khi cần. Các hình thức đầu tư như thế trên thị trường tiền tệ thường có độ an toàn tương đối cao, nhưng lại thường có mức lợi tức thấp.
Khối lượng và giá trị giao dịch trên thị trường tiền tệ thường có quy mô lớn nên bên cho vay thường là các ngân hàng, công ty tài chính hoặc phi tài chính; còn bên vay vốn thường là Chính phủ, các công ty và ngân hàng.
Chứng khoán mua bán trên thị trường tiền tệ thường được mua bán rộng rãi hơn chứng khoán dài hạn và như vậy có xu hướng lỏng hơn.
Chứng khoán ngắn hạn cũng có biên độ dao động giá nhỏ hơn các chứng khoán dài hạn và do vậy chúng là khoản đầu tư an toàn hơn.
Cấu trúc thị trường tiền tệ
Bao gồm:
• Thị trường cho vay ngắn hạn trực tiếp;
• Thị trường liên ngân hàng;
• Thị trường mở;
• Thị trường hối đoái.
Trong đó:
+ Thị trường cho vay ngắn hạn trực tiếp
Gồm có thị trường chính thức và không chính thức. Thị trường này hoạt động dựa vào hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian. Các tổ chức này sẽ huy động các nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế, cá nhân bằng hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm và đem cho các tổ chức kinh tế, cá nhân khác vay lại nếu cần.
+ Thị trường liên ngân hàng:
Là thị trường hoạt động phục vụ cho các giao dịch về vốn chỉ diễn ra giữa các ngân hàng (kể cả NHTW).
Không phải lúc nào ngân hàng luôn có đủ tiền để cho vay, không phải lúc nào ngân hàng cũng tìm được khách hàng để cho vay hết khoản tiền mà mình có. Vì thế sẽ phát sinh nhu cầu vay và cho vay giữa các ngân hàng nhằm phục vụ tốt cho hoạt động chính của mình là huy động vốn và cho vay vốn.
+ Thị trường mở:
Là thị trường tiền tệ mà ngoài các ngân hàng ra còn có sự tham gia của các tổ chức phi ngân hàng mua bán các công cụ thị trường mở.
+ Thị trường hối đoái:
Thị trường này là nơi diễn ra các hoạt động mua bán và trao đổi ngoại tệ tiền mặt và các phương tiện thanh toán ghi bằng ngoại tệ.
Khác với các loại thị trường khác, người ta dùng tiền để đổi lấy hàng hoá, thì trên thị trường này người ta dùng tiền để đổi lấy tiền. Một đặc tính riêng biệt nữa của thị trường ngoại hối đó là tất yếu nó sẽ là thị trường quốc tế. Khi nào người dân ở các khu vực khác nhau còn dùng những đồng tiền khác nhau thì thị trường ngoại hối tồn tại là cần thiết.
b/ Thị trường vốn:
Thị trường vốn
Thị trường vốn là thị trường mua bán các chứng khoán nợ dài hạn (có thời gian luân chuyển vốn trên 1 năm) và các chứng khoán vốn.
Thị trường này cung cấp vốn cho các khoản đầu tư dài hạn các doanh nghiệp, của chính phủ, và các hộ gia đình. Do thời gian luân chuyển vốn trên thị trường này dài hạn hơn so với thị trường tiền tệ nên các công cụ trên thị trường vốn có độ rủi ro cao hơn và đi theo nó là mức lợi tức kỳ vọng cũng cao hơn.
Thị trường tiền tệ là thị trường được hình thành trước vì ban đầu do kinh tế chưa phát triển nên nhu cầu vốn và nhu cầu tiết kiệm vốn chưa nhiều chủ yếu là ngắn hạn. Sau khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu về các nguồn vốn dài hạn cho đầu tư xuất hiện thì thị trường vốn ra đời. Bên cạnh việc huy động vốn dài hạn thông qua các định chế tài chính trung gian thì chính phủ và các doanh nghiệp còn tự huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán.
Một khi chứng khoán ra đời thì tất yếu sẽ xuất hiện nhu cầu mua bán chứng khoán. Chính vì thế mà thị trường chứng khoán ra đời với tư cách là một bộ phận của thị trường vốn nhằm đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi chứng khoán.
Cấu trúc thị trường vốn
Bao gồm:
• Thị trường tín dụng dài hạn
• Thị trường chứng khoán.
Trong đó:
+ Thị trường tín dụng dài hạn gồm thị trường cho vay thế chấp và thị trường cho thuê tài chính.
- Thị trường cho vay thế chấp là thị trường chuyên cho vay các món nợ dài hạn dùng để tài trợ mua bán địa ốc, nhà xưởng. Do thời hạn dài và thường giá trị của các món nợ vay thường rất lớn để hình thành bất động sản (nhà, đất, nhà xưởng,...) nên cần có sự thế chấp tài sản cho món nợ vay này. Tài sản thế chấp có thể là những tài sản sẵn có của những người đi vay và kể cả những tài sản được hình thành từ khoản nợ vay đó.
- Thị trường cho thuê tài chính (tín dụng thuê mua) là hình thức tín dụng trung và dài hạn, trong đó người cho thuê cam kết mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người thuê và là người nắm giữ quyền sở hữu tài sản đó. Người thuê là người sử dụng tài sản và phải thanh toán tiền thuê cho người cho thuê tài sản trong một khoảng thời gian đã được thảo thuận trước. Trong suốt thời gian thuê, người thuê không được quyền huỷ bỏ hợp đồng thuê trườc kỳ hạn. Khi kết thúc hợp đồng, người thuê có thể chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê như đã thoả thuận trong hợp đồng.
+ Thị trường chứng khoán:
Đây là thị trường được hình thành dùng để giao dịch mua bán chứng khoán. Gồm bộ phận thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu dài hạn của các công ty. Đối với hoạt động của thị trường này khá là phức tạp nhưng cũng rất hấp dẫn. Chúng ta sẽ có dịp nói đến nó về sau.
Mối quan hệ:
Thị trường tiền tệ và thị trường vốn là hai bộ phận cấu thành nên thị trường tài chính cùng thực hiện một chức năng là cung cấp vốn cho nền kinh tế. Do đó các nghiệp vụ hoạt động ở trên hai thị trường có mối liên quan bổ sung và tác động qua lại.
Lãi suất trên thị trường tiền tệ có ảnh hưởng lớn đến việc phát hành và mua bán chứng khoán trên thị trường vốn. Nếu lãi suất của các ngân hàng trả cho người tiết kiệm cao, điều này sẽ khiến cho người tiết kiệm thích gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi suất và rủi ro thấp hơn so với việc đầu tư vào chứng khoán. Bên cạnh đó, các biến đổi về giá cả và lãi suất trên thị trường tiền tệ thường kéo theo các biến đổi trực tiếp trên thị trường vốn như quan hệ cung cầu và giá của cổ phiếu và trái phiếu. Chẳng hạn như, một số chứng khoán dài hạn có lãi suất thả nổi, căn cứ để điều chỉnh lãi suất là lãi suất tiền gửi ngắn hạn của ngân hàng. Hay khi định giá của cổ phiếu hay trái phiếu tại một thời điểm bất kỳ nào đó trên thị trường, người ta phải tham khảo lãi suất của ngân hàng được hình thành trên thị trường tiền tệ. Giữa lãi suất thị trường và giá của trái phiếu có mối quan hệ tỷ lệ nghịch: khi lãi suất của ngân hàng tăng cao hơn lãi suất trái phiếu, trái phiếu sẽ sụt giá và tình hình ngược lại khi lãi suất ngân hàng hạ xuống hơn lãi trái phiếu.
Ngược lại, các thay đổi về chỉ số giá cổ phiếu của thị trường vốn cũng phản ảnh các hiện tượng tốt hay xấu, đã đang hoặc sẽ xảy ra trên thị trường tiền tệ. Đối với thị trường vốn, việc duy trì một lãi suất ổn định không thăng trầm quá đáng là cần thiết cho sự ổn định của thị trường.
Trên thực tế, các hoạt động của thị trường tiền tệ và thị trường vốn được thực hiện đồng bộ xen lẫn nhau, tác động và chịu sự ảnh hưởng của nhau, tạo thành cơ cấu hoàn chỉnh của một thị trường tài chính.
2.2 Theo nguồn gốc chứng khoán
a/ Thị trường sơ cấp:
Thị trường sơ cấp là thị trường phát hành chứng khoán lần đầu tiên.
Đặc điểm
+ Thị trường sơ cấp là nơi duy nhất mà chứng khoán đem lại vốn cho nhà phát hành. Sau đó, việc mua bán các chứng khoán này trên thị trường chứng khoán thứ cấp sẽ không làm ảnh hưởng đến số vốn của nhà phát hành. Cũng từ thị trường này mà lượng vốn đầu tư cho nền kinh tế.
+ Giá của chứng khoán trên thị trường sơ cấp (giá phát hành) do tổ chức phát hành quy định.
Việc phát hành lần đầu tiên chứng khoán ra công chúng là giai đoạn quan trọng nhất, vì nếu không đạt được kết quả tốt thì chứng khoán phát hành sẽ không tiêu thụ được và làm mất uy tín của đơn vị phát hành. Không phải nhà phát hành nào cũng có đủ điều kiện để thực hiện tốt việc phát hành nên trên thị trường sơ cấp xuất hiện một tổ chức trung gian giữa nhà phát hành và người đầu tư, đó là nhà bảo lãnh phát hành. Tuỳ thuộc vào cung cầu, giá chứng khoán ở thị trường sơ cấp có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị danh nghĩa của chứng khoán.
+ Người bán và người mua trên thị trường sơ cấp
Hoạt động giao dịch ở thị trường này thương được thực hiện theo hình thức bán buôn giữa nhà phát hành là bên cần huy động vốn (công ty, các tổ chức tài chính, Chính phủ,..) và các nhà đầu tư lớn (các công ty chứng khoán, ngân hàng đầu tư, công ty bảo hiểm,…).
Các nhà đầu tư đóng vai trò như nhà bảo lãnh đợt phát hành chứng khoán. Họ sẽ mua lại toàn bộ số chứng khoán phát hành ra theo mức giá thoả thuận (thường là thấp hơn mức giá công bố) rồi sau đó tiến hành bán lẻ ra thị trường cho các nhà đầu tư khác. Các thoả thuận về bảo lãnh chứng khoán thường được tổ chức riêng, kín nên hoạt động giao dịch cụ thể tại thị trường sơ cấp thương không công khai.
+ Là thị trường bán buôn chứng khoán, hoạt động không liên tục
b/ Thị trường thứ cấp:
Thị trường thứ cấp là thị trường mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp, làm thay đổi quyền sở hữu chứng khoán.
Đặc điểm
+ Việc mua đi bán lại chứng khoán trên thị trường thứ cấp chỉ làm thay đổi quyền sở hữu các chứng khoán chứ không gia tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế (không trực tiếp mang lại vốn cho nhà phát hành).
+ Giá cả của chứng khoán giao dịch do quan hệ cung cầu quyết định.
+ Trên thị trường thứ cấp người mua và người bán là các nhà đầu tư.
+ Là thị trường bán lẻ chứng khoán, hoạt động liên tục.
Mối quan hệ, tác động qua lại giữa hai thị trường:
Thị trường sơ cấp là thị trường cơ sở, là tiền đề để cho thị trường thứ cấp hoạt động, nó tạo hàng hoá để mua bán trên thị trường thứ cấp.
Ngược lại, nếu không có thị trường thứ cấp thì thị trường sơ cấp khó có thể hoạt động một cách trôi chảy được : thị trường thứ cấp sẽ tạo tính lỏng cho các hàng hoá được cung cấp từ thị trường sơ cấp (qua đó làm tăng tính hấp dẫn và tạo sự thuận lợi cho các chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp). ; thị trường thứ cấp cũng góp phần xác định giá các chứng khoán phát hành trên thị trường sơ cấp.
Việc phân biệt thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết. Trong thực tế, hoạt động của thị trường chứng khoán chúng ta không thể chỉ rõ ra được đâu là thị trường sơ cấp và đâu là thị trường thứ cấp, bởi vì trong hoạt động của thị trường chứng khoán vừa diễn ra việc phát hành chứng khoán vừa diễn ra việc mua đi bán lại chứng khoán.
2.3. Theo phương thức tổ chức và giao dịch của thị trường
a/ Thị trường tập trung
Thị trường tập trung là thị trường mà việc giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện có tổ chức và tập trung tại một địa điểm nhất định.
Đặc điểm:
+ Ví dụ về thị trường tập trung là các Sở giao dịch (thường được tổ chức dưới hình thức một công ty cổ phần). Nơi đây sẽ cung cấp các phương tiện và dịch vụ cần thiết để tiến hành giao dịch như: lưu ký chứng khoán, bảng báo giá điện tử,…
+ Hoạt động mua bán chứng khoán tại Sở giao dịch buộc phải thông qua các trung gian môi giới gọi là các nhà môi giới chứng khoán.
+ Ghép lệnh tập trung để hình thành giá giao dịch.
+ Các chứng khoán giao dịch tại thị trường này là những chứng khoán đã được đăng ký yết giá (niêm yết).
b/ Thị trường phi tập trung (OTC)
Thị trường phi tập trung là thị trường mà việc mua bán các chứng khoán chưa hoặc không được niêm yết trên thị trường tập trung, được thực hiện phân tán ở những địa điểm khác nhau. Các giao dịch này thường được thực hiện thông qua mạng máy vi tính.
Đặc điểm:
+ Thị trường OTC không phải là thị trường hiện hữu và không có địa điểm tập trung nhất định. Giao dịch diễn ra tại các quầy thông qua mạng máy vi tính. Những ai bán hay mua loại chứng khoán nào với mức giá nào đều được hiển thị hết qua mạng vi tính, do vậy tính cạnh tranh của thị trường này rất cao. Ngoài ra có thể bán trao tay các chứng khoán (thị trường chợ đen, thị trường tự do).
+ Giá cả trên thị trường này do đó được hình thành theo nguyên tắc thoả thuận.
+ Lượng giao dịch và giá trị giao dịch là lớn hơn nhiều so với mua bán tại Sở giao dịch (theo thống kê của các nước phát triển).
2.4. Theo công cụ tài chính
Gồm có thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần.
II. Các công cụ trên thị trường tài chính
Để tìm hiểu một cách đầy đủ về việc làm cách nào thị trường tài chính thực hiện đươc vai trò quan trọng trong việc giúp vốn được chuyển từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn, ta sẽ đi nghiên cứu các phương tiện giúp thị trường tài chính lưu chuyển các khoản vốn, đó chính là các công cụ tài chính hay còn gọi là các chứng khoán. Theo cách phân loại thị trường tiền tệ dựa vào thời gian luân chuyển vốn, ta sẽ chia làm hai nhóm công cụ, gồm: các công cụ trên thị trường tiền tệ và các công cụ trên thị trường vốn. Trong đó:
Các công cụ trên thị trường tiền tệ gồm: tín phiếu kho bạc; các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được; thương phiếu; chấp phiếu ngân hàng; hợp đồng mua lại; Euro dollar; dự trữ vượt mức.
Các công cụ trên thị trường vốn gồm: trái phiếu (trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty); cổ phiếu; các khoản vay thế chấp.
1. Các công cụ của thị trường tiền tệ:
Do có kỳ hạn thanh toán ngắn nên những công cụ được mua bán trên thị trường tiền tệ chỉ chịu mức dao động giá tối thiểu và vì thế nó là loại đầu tư ít rủi ro nhất.
1.1 Tín phiếu kho bạc Nhà nước (treasury bill)
Tín phiếu kho bạc Nhà nước là công cụ vay nợ ngắn hạn của chính phủ do kho bạc phát hành để bù đắp những thiếu hụt tạm thời của NSNN. Tín phiếu Kho bạc Nhà nước có các kỳ hạn 3; 6; và 12 tháng.
Đặc điểm:
+Tín phiếu KBNN thuộc loại chứng khoán chiết khấu
Nghĩa là nó không được nhà phát hành trả lãi mà được bán ra ngoài với giá chiết khấu (thấp hơn mệnh giá), như vậy khi tín phiếu đáo hạn nhà đầu tư nhận được đủ mệnh giá và phần chênh lệch giữa giá chiết khấu và mệnh giá chính là lãi của nhà đầu tư.
+ Độ rủi ro thấp nhất trong các loại chứng khoán
Có độ rủi ro thấp nhất trên thị trường tiền tệ là do khả năng vỡ nợ của nhà phát hành là rất khó xảy ra. Bởi đến kỳ thanh toán của tín phiếu, nếu chưa có tiền trả nợ, Chính phủ hoàn toàn có thể tăng thuế hoặc vay thêm tiền để trả nợ.Vì lí do này nên nó được xem như là công cụ có tính lỏng cao nhất và mức lãi suất áp dụng cho loại công cụ này thường thấp hơn so với các công cụ khác trên thị trường tiền tệ.
+ Được phát hành theo từng lô và bằng phương pháp đấu giá
Chủ thể tham gia đấu giá chủ yếu là các ngân hàng, ngoài ra còn có các công ty và các trung gian tài chính khác. Các cuộc đấu giá trái phiếu ngắn hạn 91 ngày và 182 ngày được thực hiện hàng tuần và người ta theo dõi chặt chẽ hoa lợi của nó trong thị trường tiền tệ để biết các dấu hiệu của chiều hướng lãi suất. KBNN cũng mở đấu thầu loại trái phiếu kho bạc ngắn hạn 52 tuần, 4 tuần một lần. Thỉnh thoảng KBNN cũng phát hành trái phiếu kho bạc quản lý tiền mặt ngắn hạn, trái phiếu kho bạc ngắn hạn trả thuế trước (tax anticipation bills - trái phiếu kho bạc ngắn hạn dự phòng thuế) và chứng chỉ nợ ngân khố (treasury certificates of indebtedness). Cá nhân nhà đầu tư không đệ trình giá đặt mua có cạnh tranh (Competitive bid) sẽ được bán trái phiếu kho bạc ngắn hạn theo giá trung bình của giá đặt mua có cạnh tranh đã trúng thầu.
Thực tế ở Việt nam công cụ này khá phát triển. Thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc qua NHNN được đưa vào hoạt động từ năm 1994 đã trở thành một kênh huy động vốn rất quan trọng đáp ứng kịp thời vốn cho NSNN và nền kinh tế. Sau hơn 14 năm hoạt động, thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc đã có gần 50 thành viên . Tuy vậy trong thời gian qua hầu như chỉ có các NHTM Nhà nước tham gia đấu thầu và trúng thầu. Nguyên nhân là khối ngân hàng còn lại có nguồn vốn nhỏ, vốn khả dụng hạn chế và vẫn còn đó một số hạn chế trong cách thức tổ chức đấu thầu nên các ngân hàng quy mô nhỏ hơn không có điều kiện tham gia và trúng thầu.
Một điểm cần lưu ý là các tín phiếu do kho bạc phát hành là nhằm bù đắp cho bội chi ngân sách nhà nước trong ngắn hạn, bù đắp bội chi tạm thời. Còn đối với tín phiếu được phát hành bởi Ngân hàng Nhà nước thì lại có mục đích chống lạm pháp thông qua hấp thụ lượng tiền đã phải bỏ ra để hấp thụ lượng ngoại tệ quá dư thừa trong nền kinh tế.
1.2 Các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được
Chứng chỉ tiền gửi là một công cụ nợ do các ngân hàng phát hành, cam kết trả lãi định kỳ cho khoản tiền gửi và sẽ hoàn trả cả vốn gốc cho người gửi tiền khi đáo hạn.
Trước đây CD không được phép bán lại và nếu người gửi tiền rút vốn trước hạn thì sẽ bị chịu lãi phạt. Tuy nhiên về sau, nhằm tăng tính hấp dẫn và linh hoạt cho CD nên các ngân hàng bắt đầu đã cho phép các CD mệnh giá lớn được phép bán lại trước hạn và thậm chí là bán cho chính ngân hàng phát hành. Năm 1966, Citibank đã lần đầu phát hành CD bán lại được với những loạI có mệnh giá cao trên $100.000, và từ đó CD được gọi là chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được (NCDs). CD có thể được bán lại ở thị trường cấp 2.
Tìm hiểu và tham khảo thêm NCDs Lộc Xuân (techcombank) kỳ hạn 11 tháng.
Tìm hiểu NCDs bằng vnđ hoặc usd của Marintime bank.
Đối với các khoản tiền dân cư gửi tiết kiệm vào ngân hàng cũng được coi là chứng chỉ tiền gửi, cùng bản chất là khoản tiền gửi vào ngân hàng và được ngân hàng cam kết trả lãi định kỳ cho khoản tiền gửi, trả gốc khi đáo hạn nhưng chứng chỉ cho khoản tiết kiệm lại không chuyển nhượng được.
1.3 Thương phiếu (commercial paper)
Thương phiếu là giấy nhận nợ mà các công ty uy tín hoặc ngân hàng phát hành để vay vốn ngắn hạn từ thị trường tài chính.
Đặc điểm:
+ Được phát hành theo hình thức chiết khấu.
Thương phiếu là loại trái phiếu doanh nghiệp ngắn hạn nhất với thời gian từ 30 đến 270 ngày. Nó thường được chào bán bởi các công ty phát hành hoặc các hãng môi giới, và thường được bán theo lô. Thương phiếu có độ rủi ro cao hơn tín phiếu kho bạc nên mức chiết khấu của nó cũng vì thế mà cao hơn.
+ Thương phiếu nguyên thuỷ xuất hiện trong các hoạt động mua bán chịu hàng hoá giữa các công ty. Ngày nay thương phiếu còn được dùng để vay vốn trên thị trường tiền tệ.
+ Trong các hoạt động thương mại quốc tế của bên phía các chủ thể kinh tế Việt Nam, thương phiếu được sử dụng qua 2 kênh:
- Hoạt động xuất nhập khẩu
- Hoạt động vay nợ nước ngoài
+ Thương phiếu ở Việt nam được phát hành bởi ngân hàng thì có tên gọi là kỳ phiếu ngân hàng. Ngân hàng huy động một lượng tiền mặt trong một thời hạn ngắn, khi đáo hạn mà chủ sở hữu thương phiếu không tới ngân hàng nhận số tiền được hoàn lại thì số tiền ấy sẽ được chuyển sang hưởng lãi không kỳ hạn.
Về mặt luật pháp, các doanh nghiệp áp dụng Luật thống nhất về hối phiếu được ban hành theo Công ước quốc tế đầu tiên ký tại Giơ-ne-vơ 1930 (Uniform Law for Bill of Exchange) hoặc hệ thống pháp luật về thương phiếu của Anh - Mỹ chứ không lựa chọn luật Việt Nam vì pháp luật về thương phiếu ở Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện. Đối với thương mại trong nước, ngoài nguyên nhân hệ thống pháp luật về thương phiếu chưa hoàn thiện còn có nguyên nhân từ việc sử dụng thương phiếu còn khá mới mẻ nên các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa sử dụng thương phiếu như một phương tiện tín dụng, thanh toán trong quan hệ mua bán trong nước.
1.4. Chấp phiếu ngân hàng (banker’s acceptance)
Chấp phiếu ngân hàng là các hối phiếu kỳ hạn do các công ty ký phát và được ngân hàng đảm bảo thanh toán bằng cách đóng dấu “chấp nhận” lên tờ hối phiếu.
Đặc điểm:
+ Ngân hàng đứng ra bảo lãnh thanh toán
Trong quan hệ buôn bán với nhau, việc không chắc chắn về năng lực tài chính và khả năng thanh toán của đối tác là một điều dễ hiểu. Do vậy nhu cầu cần có người bão lãnh, đảm bảo cho đối tác về mặt thanh toán là một xu hướng tất yếu. Người bán cần một ngân hàng uy tín chấp nhận thay mặt doanh nghiệp đối tác trả nợ cho mình trong trường hợp đối tác mất khả năng thanh toán nợ nần cho mình. Như vậy khi ngân hàng đóng dấu chấp nhận bảo lãnh thanh toán thì người trả tiền hối phiếu bây giờ không phải là người mua hàng nữa mà là ngân hàng bảo lãnh.
Ngân hàng sẽ yêu cầu người mua chịu phải ký quỹ vào gửi ngân hàng một phần hoặc toàn bộ số tiền của tờ hối phiếu hoặc séc hoặc ngân hàng sẽ đồng ý cho vay để thanh toán hối phiếu, bên cạnh đó ngân hàng sẽ thu một khoản phí đảm bảo thanh toán.
+ Người sở hữu chấp phiếu có thể bán lại trên thị trường tiền tệ với giá chiết khấu.
Do được ngân hàng chấp nhận thanh toán nên chấp phiếu ngân hàng là một công cụ nợ có độ an toàn khá cao đặc biệt là ngân hàng đứng ra chấp nhận bảo lãnh càng có uy tín lớn thì tờ chấp phiếu càng có độ an toàn cao. Khi cần tiền mặt gấp thì người sở hữu chấp phiếu sẽ có thể đem bán chúng trên thị trường tiền tệ.
Trong các giao dịch xuất khẩu hàng hoá từ Việt Nam đi các nước, phương thức thanh toán phổ biến nhất và được các doanh nghiệp Việt Nam (nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa) ưa chuộng nhất hiện nay là thanh toán theo tín dụng chứng từ (gọi tắt là thanh toán L/C -Letter of Credit). Các thông lệ và tập quán liên quan đến L/C được quy định chi tiết trong các bộ quy tắc UCP 600 của Phòng Thương mại quốc tế ICC.
Về bản chất L/C là một cam kết thanh toán có điều kiện của ngân hàng phát hành, do vậy, nhà xuất khẩu Việt Nam có thể an tâm về khả năng thanh toán của người mua hàng. Nhưng không phải cứ có L/C là có tiền. Nguyên nhân là do các rủi ro có thể xảy đến từ bản chất cam kết thanh toán có điều kiện của L/C rất dễ bị các doanh nghiệp Việt Nam không chú ý khiến cho bộ hồ sơ gặp lỗi và ngân hàng từ chối chi trả.
Hình thức chấp phiếu ngân hàng còn chưa thực sự phát triển ở Việt Nam.
1.5. Hợp đồng mua lại (REPO)
Hợp đồng mua lại là hợp đồng trong đó ngân hàng bán một lượng tín phiếu kho bạc mà nó đang nắm giữ kèm theo điều khoản cam kết rằng sẽ mua lại số tín phiếu đó sau một khoảng thời gian nhất định với mức giá cao hơn.
Đặc điểm
+ Repo là một công cụ vay nợ ngắn hạn của các ngân hàng (thường không quá 2 tuần)
+Tín phiếu kho bạc là vật thế chấp.
Chỉ từ tháng 7/2000, các hợp đồng mua lại và mua lại đảo ngược mới bắt đầu được NHNN Việt Nam sử dụng như là một trong các công cụ của nghiệp vụ thị trường mở. Đến nay công cụ này đã ngày càng phát huy vai trò là một công cụ chủ yếu nhằm điều tiết tiền tệ của các tổ chức tín dụng.
Tham khảo nghiệp vụ mua bán chứng khoán chưa niêm yết (repo) với thời hạn mua bán thoả thuận của ACBs
1.6. Dự trữ vượt mức
Mỗi ngân hàng khi nhận được một khoản tiền gửi sẽ phải trích một tỷ lệ phần trăm nhất định gửi lên NHTW làm khoản dự trữ bắt buộc. Phần dự trũ bắt buộc này sẽ một phần giúp cho các ngân hàng đảm bảo khả năng thanh toán.
Lượng tiền vượt quá số tiền dự trữ bắt buộc thì được gọi là dự trữ vượt mức. Có số tiền này là do số lượng tiền được gửi và ngân hàng mỗi ngày không như nhau và do đó lượng dự trữ bắt buộc của ngày trước đó tính cho ngày hôm nay là thừa hoặc đôi khi một số ngân hàng cần tăng mức dự trữ để gia tăng hệ số an toàn cho khả năng thanh toán, hoặc do thị trường tài chính biến động ở mức khó dự báo,…
Khi một ngân hàng nào đó chưa đủ lượng dự trữ bắt buộc tại NHTW, trường hợp để đảm bảo yêu cầu đủ lượng dự trữ vượt mức theo luật định thì ngân hàng này sẽ vay ngắn hạn lượng dự trữ vượt mức của ngân hàng khác bù vào số thiếu hụt đó.
Tại Mỹ, các ngân hàng có thể vay các khoản vay nợ ngắn hạn (thường chỉ qua 1 đêm) giữa các ngân hàng. Đối tưọng vay ở đây là các khoản tiền gửi của các ngân hàng tại cục dự trữ liên bang Mỹ FED
Ngoài các công cụ phổ biến trên, ở các nước có thị trường tiền tệ phát triển còn có thêm công cụ khác:
1.7 Euro dollars
Euro dollars là những đồng dollar Mỹ do các ngân hàng ngoại quốc ở bên ngoài nước Mỹ hoặc do những chi nhánh ngân hàng Mỹ ở ngoại quốc nắm giữ.
+ Thời hạn giao dịch
Khi cần vốn, các ngân hàng của Mỹ có thể huy động dollar từ nguồn cung như trên. Các giao dịch của đồng euro dolllar rất phổ biến và linh hoạt, đặc biệt thời hạn có thể từ một ngày đến 6 tháng (hiếm các giao dịch kéo dài hơn 5 năm).
+ Lãi suất
Mặc dù được nắm giữ ở nhiều nơi trên thế giới nhưng lãi suất của euro dolllar lại chủ yếu bị ảnh hưởng bởi tình hình nền kinh tế Mỹ. Nhìn chung khi FED có dấu hiệu sẽ tiến hành quản lý hoặc thực hiện quản lý chặt chẽ các tài khoản tiền gửi thì lãi suất euro dolllar sẽ tăng và ngược lại. Mức lãi suất này cũng thay đổi tuỳ theo từng thời điểm trong ngày và tuân theo quan hệ cung cầu, do đó nếu sử dụng lãi suất này làm điểm tham chiếu sẽ là không phù hợp, thay vào đấy có thể sử dụng lãi suất LIBOR và các lãi suất khác.
2. Các công cụ trên thị trường vốn
Công cụ thị trường vốn là các công cụ nợ và các công cụ vốn với kỳ hạn giao dịch trên 1 năm.
Kỳ luân chuyển vốn trên thị trường này dài hơn so với thị trường tiền tệ, độ lệch chuẩn lớn hơn nhiều độ lệch của các công cụ trên thị trường tiền tệ nên rủi ro khi đầu tư vào các công cụ này cũng cao hơn và lợi suất đem lại từ việc đầu tư cũng vì thế mà nhiều hơn.
Như đã đề cập ở phần trên, thị trường vốn bao gồm thị trường chứng khoán và thị trường vay nợ dài hạn. Các công cụ tài chính trên thị trường này biểu hiện dưới hình thức công cụ vốn (cổ phiếu), các công cụ nợ dài hạn (các loại trái phiếu), các khoản vay thế chấp. Ngoài ra tại các thị trường phát triển còn có các chứng từ có giá khác gọi là những công cụ tài chính phái sinh được phát sinh trên cơ sở những chứng khoán đang lưu hành như những chứng chỉ đầu tư do các công ty tín thác đầu tư phát hành, chứng chỉ đặc quyền mua ngắn hạn rights, chứng chỉ đặc quyền mua dài hạn warrrants; hợp đồng quyền chọn options, future,…
Trong phần này chúng ta sẽ tìm hiểu hai công cụ điển hình và phổ biến nhất là trái phiếu và cổ phiếu.
2.1. Cổ phiếu
a/ Khái niệm
Theo định nghĩa của UBCNNN thì:
Cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác định rõ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của công ty cổ phần.
Đặc điểm:
1. Cổ phần (share/stock): khi công ty huy động vốn, họ sẽ chia số vốn cần huy động thành nhiều phần bằng nhau, mỗi phần được gọi là cổ phần.
2. Cổ đông (shareholder): là người mua các cổ phần nói trên.
3. Cổ phiếu: với số cổ phần đã mua, các cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu gọi là cổ phiếu.
4. Cổ tức: là phần lãi trả cho mỗi cổ phần (dividend), quyền này chỉ được thực hiện nếu công ty làm ăn có lãi và công ty có quyết định phân chia lợi nhuận chứ không giữ lại tái đầu tư sản xuất.
5. Mệnh giá (face value): là số tiền ghi trên bề mặt cổ phiếu và thường được ghi bằng đồng nội tệ với mệnh giá do luật chứng khoán của nước đó hoặc do điều lệ công ty cổ phần ấy quy định. Ở Việt Nam, theo Nghị định 114 – CP, mệnh giá cổ phiếu của các doanh nghiệp Việt Nam thống nhất là 10.0000 vnđ.
6. Giá trị ghi sổ (book value): căn cứ vào giá trị tài sản ròng cả công ty trên bảng tổng kết tài sản để định giá giá trị ghi sổ của mỗi cổ phần.
7. Giá trị thị trường (market value): là giá cổ phiếu được mua bán trên thị trường.
8. Thời hạn của cổ phiếu thời hạn thanh toán phụ thuộc thời gian hoạt động của công ty. Khi vốn góp qua việc mua cổ phiếu, cổ đông không được phép rút khoản vốn đã đầu tư về trừ khi công ty ngừng hoạt động hoặc có quy định khác của công ty về rút vốn cổ phần. Tuy vậy, các cổ đông được phép chuyển nhượng cổ phần mà mình nắm giữ cho người khác và qua đó rút lại được vốn mà mình đã đầu tư trước đây .
9. Các cổ đông có quyền tham gia quản lý công ty bằng cách bầu ra hội đồng quản trị (board of directors) nhằm thay mặt mình quản lý và điều hành công ty. Những cổ đông nào chiếm được một tỷ lệ % nhất định trên tổng số cổ phần của công ty sẽ được quyền ra ứng cử vào vị trí thuộc hội đồng quản trị. Lợi nhuận ròng mà cổ đông có được sẽ căn cứ trên số cổ phần mà anh ta hiện sở hữu.
b/ Phân loại
Có nhiều tiêu chí để phân loại cổ phiếu.
+ Dựa vào quyền của cổ đông có cổ phiếu thưởng và cổ phiếu ưu đãi.
Đây là cách phân loại phổ biến nhất.
- Cổ phiếu thường (common stock): còn có tên gọi là cổ phiếu cổ thông. Cổ phiếu loại này không quy định trước cổ tức cổ đông sẽ nhận được vì cổ tức loại cổ phiếu này phụ thuộc vào tình hình lợi nhuận của công ty và kế hoạch phân chia lợi nhuận của hội đồng quản trị. Cổ đông sẽ chỉ được nhận cổ tức sau khi công ty trả lãi vay và cổ tức cho cổ đông ưu đãi. Cổ đông nắm giữ loại cổ phiếu này tuỳ vào lượng cổ phần nắm giữ có quyền tham gia quản lý công ty: bầu cử, ứng cử,…Trên thị trường giá của loại cổ phiếu này thường biến động nhiều hơn so với cổ phiếu ưu đãi, thị giá của nó rất nhạy cảm với những thay đổi của thị trường, của nền kinh tế.
- Cổ phiếu ưu đãi (preferred stock) : có mức lợi tức cố định không phụ thuộc vào kết quả và chính sách chia lãi hàng năm của công ty và cổ đông. Cổ đông giữ cổ phiếu ưu đãi sẽ không được tham gia bầu cử hay ứng cử vào hội đồng quản trị. Họ được ưu tiên phân chia tài sản còn lại của công ty trong trường hợp công ty bị thanh lý, giải thể chỉ sau việc thanh toán các khoản nợ của công ty.
Cổ phiếu ưu đãi là loại chứng khoán trung gian giữa cổ phiếu thường và trái phiếu. Nó được xếp vào nhóm cổ phiếu mà không xếp vào nhóm trái phiếu là do đặc điểm rất quan trọng, mang tính bản chất: cổ phiếu ưu đãi là vốn góp và không có thời hạn.
Các biến thể của cổ phiếu ưu đãi gồm có cổ phiếu ưu đãi cộng dồn, cổ phiếu ưu đãi tham dự và cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường trong những điều kiện nhất định.
+ Căn cứ vào phương thức góp vốn
Gồm: cổ phiếu hiện kim (dành cho cổ đông góp vốn bằng tiền)
và cổ phiếu hiện vật (dành cho cổ đông góp vốn bằng tài sản).
+ Căn cứ vào hình thức phát hành
Gồm: cổ phiếu ghi danh
và cổ phiếu vô danh.
+ Căn cứ vào việc lưu hành trên thị trường
Gồm: cổ phiếu hiện hành (outstanding)
và cổ phiếu ngân quỹ (treasury).
c/ Định giá cổ phiếu
Các vấn đề cần quan tâm là giá trị của cổ phiếu và các phương pháp xác định giá cổ phiếu.
+ Giá trị cổ phiếu
Giá trị cổ phiếu được đề cập bao gồm giá trị kế toán, giá trị thanh khoản và giá trị thị trường, trong đó:
- Giá trị kế toán (book value) là giá trị tài sản ròng (net worth) của công ty trên mỗi cổ phiếu theo bảng cân đối kế toán.
- Giá trị thanh khoản (liquidity value) là khoản tiền thu được trên một cổ phiếu từ việc bán tất cả các tài sản hiện có của công ty trên thị trường và trừ các khoản nợ.
- Giá trị thị trường (market value) là giá giao dịch các cổ phiếu trên thị trường. Giá này cao hơn giá trị kế toán và giá trị thanh khoản.
Có 3 yếu tố dẫn tới sự chênh lệch giá, bao gồm: khả năng thu lợi nhuận cao (extra earning power_một công ty có tỷ suất lợi nhuận lớn hơn tỷ suất lợi nhuận trung bình trên thị trường thì giá trị cổ phiếu sẽ phải lớn hơn giá trị kế toán và giá trị thanh khoản) ; tài sản vô hình (intangible assets_là những tài sản không được phản ánh khi lập bảng cân đối kế toán như các giá trị về nhãn hiệu, công thức điều chế thuốc,…) và giá trị các khoản đầu tư trong tương lai (value of future invesment_khi nhà đầu tư tin rằng công ty sẽ đạt mức tỷ suất lợi nhuận cao trong tương lai thì họ sẽ chấp nhận mua cổ phiếu với giá cao hơn giá cổ phiếu hiện tại).
+ Định giá cổ phiếu
Có 3 phương pháp xác định giá cổ phiếu, gồm:
- Mô hình chiết khấu dòng cổ tức (DDM_dividend discount model);
- Phương pháp chỉ số (P/E ratio)
- Phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCM_ discounted cashflow model)
Ba phương pháp này sẽ được trình bày trong bài đọc thêm.
2.2 Trái phiếu (bond)
a/ Khái niệm
Trái phiếu là loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của tổ chức phát hành phải trả định kỳ cho người nắm giữ trái phiếu một khoản tiền xác định và hoàn trả vốn gốc khi trái phiếu đáo hạn..
Đặc điểm của trái phiếu:
1. Mệnh giá (face value): là số tiền ghi trên bề mặt của tờ trái phiếu. Luật các nước có thể quy định mệnh giá tối thiểu của trái phiếu, ở Việt Nam theo nghị định 144-CP quy định mệnh giá tối thiểu của trái phiếu khi phát hành ra công chúng là 100.000 vnđ hoặc bội số của 100.000 vnđ.
2. Thời hạn (maturity): là thời hạn vay vốn của tổ chức phát hành đã được ghi rõ trên tờ trái phiếu (thường từ 2 năm, có trường hợp hơn 10 năm).
3. Trái chủ (bondholder): tên của trái chủ được ghi trên tờ trái phiếu hoặc không ghi (nếu là trái phiếu đích danh hoặc là vô danh). Trái chủ ngoài quyền đòi lãi và vốn gốc khi đến hạn, còn có thể chuyển nhượng trái phiếu cho người khác trong trường hợp trái phiếu chưa tới hạn.
4. Lãi suất cuống phiếu (lãi suất coupon)
b/ Phân loại
+ Căn cứ vào chủ thể phát hành: trên thị trường vốn có các loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu công ty
Cụ thể
- Trái phiếu chính phủ (Government bond) :
Thường được phát hàng dưới dạng trái phiếu kho bạc nhằm bù đắp thâm hụt NSNN hàng năm.
Trái phiếu kho bạc trung hạn (treasury note) có thời hạn dưới 10 năm, trái phiếu kho bạc dài hạn (treasury bond) có thời hạn trên 10 năm. Chú ý là trái phiếu kho bạc ở dạng ngắn hạn có tên gọi là tín phiếu kho bạc Nhà nước và được giao dịch trên thị trường tiền tệ.
Trái phiếu Chính phủ là loại trái phiếu được mua bán mạnh nhất trên thị trường vốn các nước nên được xem là công cụ lỏng nhất trên thị trường vốn.
Các nhà đầu tư vào loại công cụ này gồm có các ngân hàng (kể cả NHTW), các tổ chức tài chính và các cá nhân.
- Trái phiếu chính quyền địa phương :
Do các cơ quan trực thuộc chính phủ phát hành (government agency bonds); trái phiếu của chính quyền địa phương (local government bonds or municipal bonds)_dùng để tài trợ cho ngân sách địa phương hoặc để đầu tư cho từng công trình cụ thể theo kế hoạch. Các trái phiếu loại này thường có ưu đãi là không phải chịu thuế.
- Trái phiếu công ty (corporate bond)
Loại trái phiếu này thường do các công ty lớn và có uy tín phát hành. Các giao dịch về trái phiếu công ty nhìn chung nhỏ hơn so với các giao dịch về trái phiếu chính phủ. Tại các nước phát triển, quy mô thị trường trái phiếu công ty cũng nhỏ hơn quy mô thị trường cổ phiếu công ty nhưng tốc độ phát triển bù lại là nhanh hơn. Các trái chủ luôn là người được thanh toán lãi từ việc đầu tư trái phiếu trước các cổ đông mà không cần phụ thuộc vào tình hình tài chính của công ty.
Trái phiếu công ty gồm có: trái phiếu có đảm bảo bằng tài sản của công ty hoặc được bảo lãnh bởi uy tín của một doanh nghiệp khác (thường là ngân hàng đầu tư hoặc công ty chứng khoán; trái phiếu không cần đảm bảo; trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu; trái phiếu phát hành dưới mệnh giá.
Tại Việt Nam chưa phổ biến phát hành trái phiếu công ty. Hiện chủ yếu mới chỉ có các ngân hàng phát hành trái phiếu để huy động vốn từ dân chúng.
Trái phiếu công ty có các dạng như trái phiếu có: lãi suất thả nổi; có thể mua lại được; có thể bán lại; có thể chuyển đổi.
+ Căn cứ vào việc ghi danh gồm trái phiếu ghi danh và trái phiếu vô danh.
- Trái phiếu ghi danh:
Là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của chủ sở hữu trên chứng chỉ, trên sổ của người phát hành.
- Trái phiếu vô danh:
Là trái phiếu không ghi tên trái chủ trên chứng chỉ cũng như trên sổ sách của người phát hành.
c/ Định giá trái phiếu
+ Giá trái phiếu là tổng giá trị hiện tại của dòng thu nhập trong tương lai.
+ Giá của trái phiếu cũng có thể được hiểu theo hướng là được tách ra làm hai phần, gồm giá trị hiện tại của mệnh giá và giá trị hiện tại của coupon ( nghĩa là giá trị hiện tại của dòng tiền đều PVA).
Do vậy giá của trái phiếu được tính như sau:
Giá trái phiếu có thể phụ thuộc vào nhiều nhân tố nhưng nhân tố lãi suất là một nhân tố có ảnh hưởng rất lớn. Khi lãi suất tăng thì giá trị hiện tại của các khoản thu nhập từ trái phiếu giảm và làm cho giá trái phiếu giảm, ngược lại. Chúng ta có thể nhìn ngay trên mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa hai đại lượng trong hai công thức định giá cổ phiếu vừa nêu.
2.3. Các khoản vay thế chấp (Mortgages)
Vay thế chấp là khoản tiền cho các cá nhân hoặc công ty vay đầu tư (mua hoặc xây dựng) vào nhà, đất, hoặc những bất động sản khác, các bất động sản và đất đó sau đó lại trở thành vật thế chấp để đảm bảo cho chính các khoản vay.
Ở các nước phát triển, thị trường các khoản vay thế chấp có qui mô rất lớn, đặc biệt là thị trường các khoản vay thế chấp để mua nhà ở. Tại Mỹ, thị trường các khoản vay thế chấp là thị trường nợ lớn nhất, trong đó các khoản vay thế chấp để mua nhà ở gấp bốn lần các khoản vay thế chấp thương mại và nông trại.
Các ngân hàng thương mại và các công ty bảo hiểm nhân thọ là những tổ chức cung cấp các khoản vay thế chấp thương mại và nông trại chủ yếu. Còn các khoản vay thế chấp nhà ở thì thường do các hiệp hội cho vay và tiết kiệm (Savings and Loan Associations _ S&Ls) và các ngân hàng tiết kiệm tương trợ (Mutual savings banks) cung cấp. Ngoài ra, chính phủ các quốc gia cũng hình thành nhiều tổ chức chuyên hỗ trợ cho thị trường các khoản vay thế chấp này.
Ví dụ ở Mỹ có 3 cơ quan chính phủ là Hiệp hội vay thế chấp quốc gia thuộc liên bang (Federal National Mortgage Association – FNMA), Hiệp hội vay thế chấp quốc gia thuộc chính phủ (Government National Mortgage Association – GNMA) và Công ty cho vay thế chấp nhà ở thuộc liên bang (Federal Home Loan Mortgage Corporation – FHLMC) đang cung cấp vốn cho thị trường này bằng cách phát hành các trái phiếu để huy động vốn rồi dùng vốn đó để cho vay thế chấp. Ngoài ra, thị trường vay thế chấp nhà ở ngày nay còn được hỗ trợ phát triển hơn nữa nhờ công nghệ chứng khoán hoá. Đó là hình thức mà một cơ quan trực thuộc chính phủ như GNMA phát hành các chứng khoán thanh toán vốn và lãi bằng các khoản thu từ hoạt động cho vay thế chấp nhà ở, tức là các khoản thanh toán của các cá nhân vay thế chấp nhà ở sẽ thông qua GNMA chuyển đến cho các nhà đầu tư vào các loại chứng khoán bảo đảm bằng các khoản cho vay thế chấp (Mortgage-Backed Securities). Nhờ sự phát triển của công nghệ này mà đến nay 2/3 các khoản cho vay thế chấp nhà ở của Mỹ đã được chứng khoán hoá, do đó đã tạo được thị trường thứ cấp cho các khoản vay thế chấp nhà ở, giúp cho thị trường này thêm hấp dẫn và sôi động.
2.4 Các khoản vay thương mại và tiêu dùng (Consumer and bank commercial loans)
Đây là các món vay dành cho những công ty kinh doanh và người tiêu dùng, chủ yếu là do các ngân hàng cung cấp. Riêng các khoản cho vay tiêu dùng cũng có thể do các công ty tài chính cung cấp.
Các khoản vay này thường không chuyển nhượng được nên chúng kém lỏng nhất trong các công cụ của thị trường vốn.
III. Điều hành thị trường tài chính của Chính phủ
3.1. Bắt buộc các công ty phải cung cấp đầy đủ thông tin cho các nhà đầu tư
Chính phủ yêu cầu các công ty phát hành chứng khoán phải cung cấp một số thông tin về doanh thu, tài sản, báo cáo lỗ, lãi,… cho các nhà đầu tư tham khảo. Khi thông tin được công bố công khai sẽ giúp tránh một phần các hoạt động gian lận, rủi ro.
3.2 Đảm bảo sự lành mạnh của các trung gian tài chính
Để bảo vệ các nhà đầu tư và người gửi tiền, Chính phủ buộc các tổ chức trung gian tài chính phải tuân theo một số quy định như:
Tuân theo các điều kiện thành lập trung gian tài chính.
Yêu cầu các trung gian tài chính phải báo cáo các hoạt động của mình và thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức này.
Quy định phạm vi và quy mô hoạt động của các trung gian tài chính nhằm hạn chế hoạt động chứa đựng rủi ro.
Quy định về bảo hiểm tiền gửi đối với các khoản gửi tại các trung gian tài chính,…






