My Opera is closing 3rd of March

Blog CN 17D -Dai hoc Ngoai Thuong

Subscribe to RSS feed

Chương 7. Tài chính doanh nghiệp

Chương 7. Tài chính doanh nghiệp
1. Một số khái niệm cơ bản
1/. Khái niệm tài chính doanh nghiệp
TCDN là một khâu của hệ thống tài chính trong nền kinh tế,là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ.
Khi tiến hành hoạt động kinh doanh (hđkd) thì doanh nghiệp nào cũng cần có một lượng vốn tối thiểu nhất định và quá trình hđkd nhìn từ góc độ tài chính cũng là quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của hoạt động kinh doanh. Trong quá trình đó có sự chuyển dịch giá trị của các quỹ tiền tệ với biểu hiện là các luồng tiền tệ đi vào và đi ra khỏi chu lỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Và các mối quan hệ tài chính trong các doanh nghiệp bao gồm những mối quan hệ sau đây:
+ Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước:
Thể hiện qua việc cấp vốn của Nhà nước cho các DNNN, qua nghĩa vụ tài chính (thuế, phí) với NSNN.
+ Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác:
Thể hiện qua việc thanh quyết toán trong vay vốn,mua hàng , đầu tư vốn,…
+ Quan hệ nội bộ doanh nghiệp:
Thể hiện qua việc thanh toán tiền lương, thưởng phạt công nhân viên,quan hệ thanh toán giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, phân phối lợi nhuận sau thuế, phân chia lợi tức cho cổ đông, …
Tóm lại:
TCDN xét về bản chất là các MQH phân phối dưới hình thức giá trị, gắn liền với việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh.
TCDN xét về hình thức là phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn lực tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp.

2/. Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp
Đối với những hoạt động kinh doanh, việc quản trị tài chính doanh nghiệp có vai trò hết sức quan trọng:
Trong đó quản trị tài chính doanh nghiệp là bộ phận của hoạt động quản trị doanh nghiệp và được sử dụng để nghiên cứu, phân tích và xử lý các MQH tài chính nảy sinh trong hoạt động sxkd (trong và ngoài doanh nghiệp), đưa ra được những công cụ tài chính, những quyết định tài chính, đúng đắn, kịp thời và có hiệu quả.
Và vai trò hết sức quan trọng của quản trị tài chính doanh nghiệp là :
- Huy động và đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho hđkd của doanh nghiệp;
- Tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và hiệu quả;
- Giám sát, kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
3/. Nguyên tắc của tài chính doanh nghiệp
- Hạch toán kinh doanh
- Đảm bảo an toàn kinh doanh
- Giữ chữ tín
4/. Hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp :
Theo hình thức pháp lý hiện hành ở Việt Nam hiện nay có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau :
+ Doanh nhiệp Nhà nước;
+ Công ty cổ phần;
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn;
+ Công ty hợp danh;
+ Doanh nghiệp tư nhân;
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
4.1. Doanh nghiệp Nhà nước
Là một tổ chức kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước đầu tư vốn thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động vì mục kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao.
Doanh nghiệp loại này có quyền được huy động vốn dưới hình thức khác nhưng phải đảm bảo không thay đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp. Việc phân phối lợi nhuận sau thuế được thực hiện theo quy định của Chính Phủ.
Doanh nghiệp Nhà nước gồm:
+ Công ty Nhà nước:
 Công ty Nhà nước độc lập
 Tổng công ty Nhà nước
Loại này hoạt động theo luật DNNN.
+ Công ty TNHH Nhà nước 1 thành viên.
+ Công ty TNHH Nhà nước 2 thành viên trở lên.
+ Công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước
( vốn của Nhà nước >50% vốn điều lệ).
+ Công ty cổ phần Nhà nước (luật Dn mới áp dụng từ 07/2004).
4.2. Công ty cổ phần (Joint Stock Company)
Là loại công ty trong đó các thành viên cùng góp vốn để hoạt động dưới hình thức mua cổ phiếu (sở hữu cổ phần).
Trong quá trình hoạt động, công ty loại này khi đủ các điều kiện nhất định có thể phát hành thêm cổ phiếu mới để huy động thêm vốn. Các chủ sở hữu chỉ chụ trách nhiệm hữu hạn trên số vốn đã góp vào công ty và có quyền chuyển nhượng tự do cổ phần của mình cho người khác và có các quyền lợi hợp pháp khác được pháp luật thừa nhận (như quyền hưởng lợi tức, quyền biểu quyết,…).
Ở Mỹ, công ty cổ phần được gọi là Corporation, ngoài ra còn có các biến thể của nó như Professional Corporation hay Professional Association (là loại hình công ty cổ phần nhưng hoạt động trong các lĩnh vực chuyên nghiệp như bác sĩ, luật sư, kế toán), Private Corporation (cổ phần không phát hành rộng rãi mà chỉ giới hạn ở một nhóm cổ đông), Public Corporation (cổ phần được phát hành rộng rãi).
Các công ty cổ phần ở Mỹ thường có phần đuôi, đằng sau tên công ty, là chữ ‘Inc.’ (viết tắt của từ Incorporated).
Ở Anh, loại hình Private Corporation thường có đuôi Ltd. (viết tắt của chữ Limited) ở cuối tên công ty (ví dụ Shell UK Ltd.), còn Public Corporation được gọi là Public limited company (có phần đuôi là PLC) (ví dụ Rolls-Royce PLC).
Ở Đức, Public Corporation được gọi là Aktiengesellschaft viết tắt là AG (ví dụ Bayerische Moterenwerke AG – BMW), Private Corporation được gọi là Gesellschaft mit Beschraenkter Haftung viết tắt là GmBH.
Công ty cổ phần ở Hà lan được gọi là Naamloze Vennootschap viết tắt là NV (ví dụ Unilever NV), ở Ý là Societa per Azioni viết tắt là SpA (ví dụ Fiat SpA), ở Pháp là Société Anonyme viết tắt là SA (ví dụ Peugeot SA), ở Thuỵ điển là Aktiebolag viết tắt là AB (ví dụ Volvo AB).
4.3. Công ty trách nhiệm hữu hạn (Limited Liability Company)
Là loại hình công ty có ít nhất hai thành viên tham gia góp vốn để thành lập và chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn đã góp của mình vào công ty.
Các phần vốn góp có thể không bằng nhau và có thể biểu hiện ở dạng tiền, tài sản, bản quyền sở hữu công nghiệp… Việc tăng vốn có thể thông qua việc kết nạp thêm thành viên mới, trích từ quỹ dự trữ nhưng không được phép phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động thêm vốn. Việc chuyển nhượng vốn góp đối với các thành viên thì tự do nhưng với “người ngoài” thì cần có sự nhất trí của nhóm thành viên đại diện cho ít nhất ¾ số vốn điều lệ của công ty.
Việc phân chia lợi nhuận sau thuế cho các thành viên là do tự quyết và căn cứ trên số vốn, tỷ lệ vốn đã góp vào.
4.4. Công ty hợp danh (Partnership): Thuộc sở hữu của từ hai người trở lên (công ty có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài ra có thể có thành viên tham gia góp vốn.). Loại hình này bao gồm hai loại:
• General partnership: mọi chủ sở hữu đều chịu trách nhiệm vô hạn.
• Limited partnership: có một số chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm giới hạn ở số vốn
Thành viên hợp danh là các cá nhân có trình độ chuyên môn, uy tín nghề nghiệp và chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ của công ty. Các thành viên tham gia góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn đã góp của mình vào công ty.
Công ty hợp danh không được phép phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn.
Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty, nhân danh công ty tiến hành các hđkd, liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn không có quyền tham gia quản lý và hoạt động nhân danh công ty nhưng vẫn có quyền được phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ quy định ghi trong điều lệ hoạt động của công ty.
Rất nhiều các công ty kiểm toán, tư vấn lớn trên thế giới được tổ chức theo hình thức này. Hầu hết các ngân hàng đầu tư lớn như Morgan Stanley, Salomon, Smith Barney, Merrill Lynch, Goldman Sachs hay các công ty nổi tiếng như Apple Computer, Microsoft cũng khởi đầu từ mô hình doanh nghiệp này.
4.5. Doanh nghiệp tư nhân (Sole proprietorship)
Là đơn vị kinh doanh do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ số tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Chủ doanh nghiệp không được phép phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn và trong khuôn khổ pháp luật được quyền tự do và chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh.
Lợi nhuận sau thuế do chủ doanh nghiệp hưởng tuy nhiên mọi nghĩa vụ tài chính chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm vô hạn. Và do doanh nghiệp tư nhân không tồn tại độc lập với chủ sở hữu nó nên loại hình này không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp mà chủ sở hữu sẽ đóng thuế thu nhập cá nhân (ở Việt Nam hiện nay các doanh nghiệp tư nhân đang đóng thuế thu nhập doanh nghiệp).

4.6. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam, do các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư một phần hoặc toàn bộ vốn nhằm thực hiện mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận.
Loại hình doanh nghiệp này có tư cách pháp nhân, mang quốc tịch Việt Nam, tổ chức và hoạt động theo quy chế của công ty TNHH và tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Phần vốn góp của bên nước ngoài vào vốn pháp định không hạn chế mức tối đa nhưng tối thiểu phải đạt 30% của vốn pháp định. Vốn có thể được góp bởi nhiều hình thức (tiền Việt, tiền nước ngoài, vốn hiện vật, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, quyền sử dụng đất,…). Việc chuyển nhượng phần vốn của các bên được ưu tiên cho chuyển nhượng cho các bên trong liên doanh trước và việc phân chia lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp được thực hiện theo điều lệ doanh nghiệp liên doanh.
Chú ý trong trường hợp nếu nhà đầu tư nước ngoài có lợi nhuận và chuyển số lợi nhuận đó về nước họ thì theo luật đầu tư năm 2005 sẽ không phải nộp một khoản thuế về việc này.
Tiêu thức Đặc điểm
chủ sở hữu Trách nhiệm Tạo lập vốn Phân phối
lợi nhuận
Công ty Nhà nước/
Tổng cty Nhà nước Nhà nước Hữu hạn
trong vốn điều lệ NSNN cấp
lần đầu và bổ sung;vay, fát hành CK Do
chủ
sở
hữu
quyết
định
Cty cổ phần Các cổ đông Hữu hạn
trong phần vốn góp Cổ đông góp vốn ban đầu;
bổ sung vốn qua vay và phát hành CK
Cty TNHH
(cty đối vốn) Thành viên
góp vốn (>=2) Hữu hạn
trong phần vốn góp Thành viên góp vốn ban đầu và bổ sung(góp thêm hoặc kết nạp thêm tviên;vay,phát hành trái phiếu)
Cty hợp danh
(cty đối nhân) Thành viên hợp danh(>=2)
và tviên góp vốn Thành viên hợp danh chịu trách nhiệm
vô hạn về các nghĩa vụ của cty Thành viên góp vốn ban đầu và bổ sung(góp thêm hoặc kết nạp thêm tviên;vay)

1.2. Tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp
1.2.1. Tài sản của doanh nghiệp (assets)
Vốn và tài sản có mối quan hệ mật thiết với nhau, vốn của doanh nghiệp là giá trị tài sản của doanh nghiệp được biểu hiện bằng tiền, còn tài sản là biểu hiện bên ngoài của vốn. Khi xây dựng và phân tích các chỉ tiêu về tình hình sử dụng tài sản như tốc độ luân chuyển hàng tồn kho, hiệu suất sử dụng tài sản cố định… không thể sử dụng đơn vị đo lường tài sản là cái, chiếc, tấn, m… mà phải sử dụng đơn vị đo lường tài sản là giá trị. Vì vậy tuy mục tiêu là quản lý tài sản nhưng chủ yếu phải thông qua quản lý vốn.
Tuỳ thuộc vào mục đích quản lý có nhiều cách phân loại tài sản - vốn.
• Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển và công dụng của tài sản có 3 nhóm tài sản cơ bản là tài sản cố định (TSCĐ), tài sản lưu động (TSLĐ) và tài sản đầu tư tài chính, ngoài ra còn có 1 số tài sản khác. Ứng với các loại tài sản này có các loại vốn là vốn cố định, vốn lưu động, vốn đầu tư tài chính và vốn khác. Các phân loại này giúp đưa ra các biện pháp quản lý tài sản - vốn phù hợp với đặc điểm và công dụng của tài sản.
• Căn cứ vào thời hạn đầu tư có tài sản đầu tư ngắn hạn và dài hạn. Các phân loại này giúp bố trí nguồn vốn đầu tư có thời hạn phù hợp.
Khi lập Bảng tổng kết tài sản người ta kết hợp cả 2 cách phân loại này.
Chúng ta sẽ tìm hiểu các hạng mục tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp theo danh mục biểu mẫu báo cáo Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC, tài sản được chia thành tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Trong bảng CĐKT này, các hạn mục đựoc sắp xếp theo tính lỏng giảm dần .
[Bảng CĐKT là một báo cáo tài chính phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp và nguồn vốn tài trợ cho doanh nghiệp đó tại một thời điểm cụ thể, thường là cuối 1 quý hay một năm tài chính.
Báo cáo tài chính là những báo cáo được dựa theo phương thức kế toán, tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát sinh tạI những thời điểm hoặc thời kỳ nhất định.
Các báo cáo tài chính phản ánh một cách hệ thống tình hình tài sản, nguồn vốn của đơn vị trong những thời điểm, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình sử dụng vốn trong những thời kỳ nhất định.
Báo cáo tài chính phải được chuẩn bị theo quy định về kế toán của nước đấy.
Hệ thống báo cáo tài chính của Việt Nam gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính. Những giả định của báo cáo tài chính gồm: Giá quá khứ và Nguyên tắc doanh thu thực hiện và nguyên tắc phù hợp chi phí với doanh thu.]

1.2.1.1 Tài sản ngắn hạn (current assets)
Tài sản ngắn hạn là tài sản chỉ tham gia 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh như nguyên vật liệu... đến chu kỳ sản xuất kinh doanh sau lại phải dùng tài sản ngắn hạn mới. Do đặc điểm này nên toàn bộ giá trị của tài sản ngắn hạn được chuyển dịch một lần vào sản phẩm và được bù đắp toàn bộ khi sản phẩm được tiêu thụ.
Tài sản ngắn hạn (trừ dụng cụ lao động) qua quá trình sản xuất hợp thành thực thể của sản phẩm nên mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh luôn thay đổi hình thái biểu hiện theo 1 vòng khép kín như sau:
Xét về mặt giá trị thì doanh nghiệp thu được một số tiền lớn hơn tiền mua nguyên vật liệu do chi phí nhân công, chi phí khấu hao, lãi kinh doanh... cũng được tính vào giá trị sản phẩm tiêu thụ.
Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục thì luôn cần dự trữ tài sản ngắn hạn ở tất cả các khâu trong quá trình sản xuất: dự trữ nguyên vật liệu, dự trữ bán thành phẩm, thành phẩm, dự trữ tài sản dưới dạng các khoản phải thu, dự trữ tiền. Như vậy tại mỗi thời điểm, tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp luôn tồn tại dưới các hình thái ở trên. Với doanh nghiệp thương mại, vòng luân chuyển của tài sản ngắn hạn đơn giản hơn, tồn tại dưới dạng tiền, hàng hoá và các khoản phải thu. Việc quản lý loại tài sản này sẽ có ảnh hưởng quyết định tới doanh thu và khả năng sinh lời của công ty.
Cụ thể, chúng ta sẽ tìm hiểu các khoản mục nằm trong phần tài sản của bảng CĐKT.
a) Tiền và các khoản tương đương tiền (Cash and equivalents) tồn tại dưới 3 hình thức:
• Tiền mặt tại quỹ hình thành do doanh nghiệp sử dụng phương thức thanh toán bằng tiền mặt.
• Tiền gửi ngân hàng là tiền gửi không kỳ hạn tại các tài khoản thanh toán ở ngân hàng dùng cho mục đích thanh toán không dùng tiền mặt.
• Tiền đang chuyển: Quá trình chuyển tiền cần có thời gian nhất định chờ làm thủ tục nên tồn tại hình thức này. Chẳng hạn doanh nghiệp đã làm thủ tục chuyển một khoản tiền từ tài khoản thanh toán tại ngân hàng để trả cho đơn vị khác nhưng chưa nhận được giấy báo nợ hay bản sao kê của ngân hàng nên vẫn coi là tiền của doanh nghiệp.
Tài sản bằng tiền có thể tồn tại dưới dạng nội tệ, ngoại tệ, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý.
Chỉ tiêu này phản ánh toàn bộ số tiền hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo, qua đó giúp cho việc đánh giá khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp và có kế hoạch trả nợ kịp thời, đồng thời có kế hoạch đầu tư tài chính vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi để tránh ứ đọng vốn.
b) Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
Nhóm này chủ yếu các tài sản có khả năng chuyển đổi cao, nghĩa là dễ bán, dễ chuyển đổi thành tiền khi cần thiết. Thời hạn đầu tư của loại tài sản này dưới 1 năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh.
Chú ý là không nên đánh đồng việc đầu tư vào các công cụ tài chính dài hạn như cổ phiếu, trái phiếu là đầu tư tài chính dài hạn, bởi vì nếu đầu tư vào loại chứng khoán nói trên nhưng lại chỉ là đầu cơ, chỉ giữ trong ngắn hạn thì phần đầu tư ấy được xem xét là khoản đầu tư tài chính ngắn hạn.
Do đầu tư vào những danh mục có tính rủi ro cho nên để phòng ngừa tổn thất có thể xảy ra trong thời gian công ty nắm giữ loại tài sản tài chính đó, công ty tiến hành trích lập dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn. Lượng sự phòng này được tính toán trên cơ sở chênh lệch giữa giá mua và giá mà doanh nghiệp dự tính sẽ có thể bán ra được khi xảy ra sự giảm sút giá của loại tài sản ấy. Những khoản dự phòng giảm giá được ghi dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn hoặc ghi bằng số âm.
Câu hỏi: giả sử doanh nghiệp có trích lập quỹ dự phòng giảm giá, và đến hết năm tài chính không xảy ra sự giảm giá đầu tư ngắn hạn, hàng tồn kho,… vậy doanh nghiệp sẽ có thể xử lý số tiền trong hạn mục dự phòng này như thế nào?
b) Các khoản phải thu ngắn hạn (Accounts receivable) gồm có:
• Phải thu của khách hàng: là tiền bán hàng hoá, dịch vụ chưa thu được, nhưng đã được khách hàng chấp nhận thanh toán và tính vào doanh thu bán hàng trong kỳ, kể cả trường hợp cấp tín dụng thương mại ngắn và dài hạn.
• Trả trước cho người bán: chỉ tiêu này phản ánh số tiền đã trả trước cho người bán mà chưa nhận được sản phẩm tại thời điểm báo cáo. Thường doanh nghiệp ứng trước trong 2 trường hợp:
o Cần ổn định nguồn nguyên vật liệu, hàng hoá.
o Doanh nghiệp đặt mua máy móc, thiết bị sản xuất kinh doanh. Số tiền trả trước để đảm bảo thực hiện hợp đồng của bên mua.
• Phải thu nội bộ ngắn hạn: xét từ góc độ hạch toán kinh tế có 2 dạng doanh nghiệp là doanh nghiệp độc lập và doanh nghiệp liên hợp gồm tổng công ty, tập đoàn, liên hiệp (gọi chung là tổng công ty). Trừ các doanh nghiệp nhỏ, mỗi doanh nghiệp này đều có 2 bộ phận là đơn vị (hay doanh nghiệp) cấp trên và đơn vị (hay doanh nghiệp) cấp dưới. Đơn vị cấp dưới còn gọi là đơn vị thành viên gồm các đơn vị trực thuộc hoặc phụ thuộc có tổ chức kế toán riêng. Đơn vị cấp trên và các đơn vị cấp dưới gọi là các đơn vị nội bộ trong doanh nghiệp độc lập, tổng công ty. Các khoản phải thu nội bộ hình thành do cấp dưới có nghĩa vụ nộp lên cấp trên hoặc cấp trên phải cấp cho cấp dưới hoặc do các đơn vị nội bộ đã thu hộ chi hộ cho nhau hoặc giữa các đơn vị cấp dưới với nhau về bán hàng nội bộ. Các khoản phải thu nội bộ thường là: Đơn vị cấp dưới phải thu về số lỗ hoạt động sản xuất kinh doanh đã được cấp trên chấp nhận cấp bù, phải thu bổ sung các quỹ từ cấp trên (ở đơn vị phụ thuộc như viện nghiên cứu), đơn vị cấp trên phải thu của các đơn vị cấp dưới để lập các quỹ là quỹ quản lý của cấp trên (chỉ có ở cấp trên và được tính vào chi phí của doanh nghiệp cấp dưới), quỹ phát triển kinh doanh dự trữ, khen thưởng, phúc lợi, thu một phần lãi kinh doanh và thu hồi vốn kinh doanh đã giao.
• Các khoản phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng.
• Các khoản phải thu khác như: các khoản phải thu về bồi thường vật chất, đền bù vi phạm hợp đồng đã có quyết định bồi thường; các khoản phải thu về lãi đầu tư tài chính; thu chuyển quyền sở hữu trí tuệ; các khoản nợ vắng chủ (công ty nợ công ty khác nhưng có thể công ty ấy không đòi nợ hoặc có thể trước khi công ty ấy bị thanh lý, giải thể đã “quên” không quyết toán với công ty ...
• Dự phòng các khoản phải thu khó đòi: là khoản dự kiến bị tổn thất của các khoản phải thu sẽ xảy ra trong kỳ kinh doanh tiếp theo do con nợ không có khả năng thanh toán. Trong thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh có những khoản thu mà người nợ khó có khả năng trả do bị thiệt hại lớn về tài sản. Các khoản tiền nợ của những người này gọi là các khoản phải thu khó đòi. Để đề phòng những tổn thất do các khoản phải thu khó đòi có thể xảy ra gây đột biến về kết quả kinh doanh trong kỳ hạch toán tiếp theo và tạo điều kiện cho việc bảo toàn vốn thì cuối niên độ kế toán doanh nghiệp phải dự kiến số nợ có khả năng khó đòi, tính trước vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ hạch toán. Số tính trước này được gọi là dự phòng các khoản phải thu khó đòi. Việc lập dự phòng nhằm phản ánh đúng giá trị thực tế thuần tuý các khoản phải thu của doanh nghiệp để đưa ra một hình ảnh trung thực về tài sản của doanh nghiệp khi lập báo cáo tài sản. Giá trị của các khoản phải thu được xác định trên báo cáo tổng kết tài sản là giá trị toàn bộ các khoản phải thu sau khi đã trừ đi dự phòng phải thu khó đòi tại thời điểm báo cáo. Về nguyên tắc, căn cứ lập dự phòng là phải có bằng chứng đáng tin cậy về các khoản nợ phải thu khó đòi như là đã làm thủ tục đòi nợ nhiều lần nhưng vẫn không có kết quả. Nếu sau đó, việc đòi nợ kéo dài trong nhiều năm mà vẫn không thu được thì doanh nghiệp xoá nợ phải thu khó đòi trên sổ kế toán và chuyển ra theo dõi riêng ngoài bảng dưới dạng nợ khó đòi đã xử lý và ghi giảm vốn kinh doanh. Nhưng nếu thu được thì ghi vào kết quả kinh doanh trong kỳ.
c) Hàng tồn kho (Inventories) được chia thành 3 loại:
* Hàng tồn kho
• Tài sản ngắn hạn nằm trong quá trình dự trữ (chuẩn bị) sản xuất, gồm:
o Hàng mua đang đi trên đường là hàng hoá doanh nghiệp đã thanh toán hoặc đã chấp nhận thanh toán nhưng chưa nhập kho.
o Nguyên vật liệu tồn kho (đã nhập kho).
o Dụng cụ trong kho: Loại tài sản không thể dùng đến đâu mua sắm đến đó mà phải luôn có một số lượng dự trữ để đảm bảo quá trình sản xuất được liên tục.
Các chỉ tiêu này trong bảng tổng kết tài sản thể hiện giá trị các tài sản đó tại thời điểm báo cáo. Giá trị hàng mua đang đi trên đường tính theo giá mua. Nhưng giá trị nguyên vật liệu, dụng cụ tính theo giá trị thực tế. Giá trị thực tế gồm giá mua theo hoá đơn cộng với các chi phí phát sinh trong quá trình mua hàng như:
 Thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu (nếu có), chi phí vận chuyển, bảo hiểm hàng hoá vận chuyển, thuê kho bãi... khi các chi phí này chưa tính vào giá mua.
 Chi phí thu mua (nếu có).
Việc tính theo giá trị thực tế tạo điều kiện cho việc hạch toán chi phí thuận lợi. Trong lĩnh vực tài chính khái niệm giá mua, giá trị được hiểu là tổng giá chứ không phải là giá đơn vị hàng hoá, hay đơn giá, giá cả.
• Tài sản ngắn hạn đang trong quá trình trực tiếp sản xuất: Tồn tại dưới dạng chi phí sản xuất kinh doanh dở dang hay còn gọi là bán thành phẩm. Có loại tài sản này là do quy trình công nghệ sản xuất không thể cho ra thành phẩm ngay được. Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang không chỉ bao gồm giá trị nguyên vật liệu được sử dụng vào sản xuất kinh doanh mà còn bao gồm cả chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung (chi phí phục vụ sản xuất kinh doanh phát sinh trong quá trình chế tạo sản phẩm như chi phí nhân viên phân xưởng, khấu hao tài sản cố định của phân xưởng...)
• Tài sản ngắn hạn nằm trong quá trình dự trữ tiêu thụ, gồm:
o Thành phẩm tồn kho là thành phẩm do doanh nghiệp chế tạo còn chưa tiêu thụ. Loại tài sản này chỉ có ở doanh nghiệp sản xuất. Giá trị thành phẩm tồn kho được đánh giá theo giá thành công xưởng, bao gồm các loại chi phí chi phí sản xuất kinh doanh dở dang chuyển vào thành phẩm.
o Hàng hoá tồn kho là hàng hóa còn tồn trong kho hàng, quầy bán hàng ở các doanh nghiệp thương mại. Giá trị hàng hoá tồn kho tính theo giá thực tế.
o Hàng gửi đi bán là thành phẩm, hàng hoá đang gửi đi bán dưới dạng ký gửi, đại lý hoặc dịch vụ đã hoàn thành nhưng chưa được chấp nhận thanh toán. Những tài sản này vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nên chưa được tính vào doanh thu bán hàng trong kỳ hay chưa được tính vào các khoản phải thu trong kỳ.

* Dự phòng giảm giá hàng tồn kho:
Là khoản giảm giá nguyên vật liệu, thành phẩm, hàng hoá tồn kho dự kiến sẽ xảy ra trong kỳ kinh doanh tiếp theo. Chủ yếu xảy ra đối với thành phẩm, hàng hoá và hàng gửi đi bán. Khi thấy hàng tồn kho bị giảm giá liên tục cần lập ngay dự phòng giảm giá.
Trong doanh nghiệp có 3 loại tài sản có khả năng bị giảm giá trị thực tế so với giá trị ghi trên sổ sách nên cần phải lập dự phòng, đó là dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho và dự phòng giảm giá đầu tư tài chính. Ý nghĩa của việc lập dự phòng giảm giá giống như dự phòng phải thu khó đòi.
Chỉ tiêu hàng tồn kho là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh giá trị các loại hàng tồn kho dự trữ cho quá trình sản xuất kinh doanh, sau khi đã trừ dự phòng giảm giá hàng tồn kho tại thời điểm báo cáo.
Trên bảng tổng kết tài sản, các tài sản ngắn hạn thường được sắp xếp theo tính lỏng. Tính lỏng (tính thanh khoản) của tài sản là khả năng nó có thể chuyển sang tiền mặt nhanh đến mức nào mà không chịu nhiều phí tổn (mất giá của tài sản). Như vậy có 2 tiêu chuẩn để đánh giá mức độ lỏng của từng tài sản là: Thời gian chuyển thành tiền nhanh hay chậm và độ rủi ro mất giá của tài sản. Tài sản của doanh nghiệp có tính lỏng được xắp xếp theo mức độ giảm dần như sau: Tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn (chủ yếu là các giầy tờ có giá), các khoản phải thu (trong đó có các thương phiếu) và hàng tồn kho.
Việc nghiên cứu tính lỏng của tài sản giúp cho nhà quản lý bố trí cơ cấu tài sản có tính lỏng 1 cách hợp lý để đáp ứng yêu cầu trả nợ kịp thời và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thông qua việc không cần dự trữ tài sản bằng tiền nhiều mà dự trữ 1 phần dưới dạng đầu tư tài chính ngắn hạn nhất là các chứng khoán và dưới dạng thương phiếu. Người cho vay cũng quan tâm đến tính lỏng của tài sản để quy định và đánh giá khả năng chi trả của doanh nghiệp.
d) Tài sản ngắn hạn khác
Ngoài các loại tài sản ngắn hạn luôn luôn tồn tại kể trên, tuỳ doanh nghiệp và tuỳ từng thời kỳ có thể có các loại tài sản lưu động khác, những tài sản này thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng không thể chuyển nhượng được. Tài sản ngắn hạn có các dạng dạng là:
* Chi phí trả trước ngắn hạn:
• Tạm ứng cho người lao động: Là khoản tiền hoặc vật tư do doanh nghiệp giao cho người lao động để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh hoặc giải quyết công việc nào đó được phê duyệt.
• Chi phí trả trước (chi phí đợi phân bổ): Là chi phí thực tế đã phát sinh có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều kỳ hạch toán nên chưa thể tính hết vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ phát sinh mà được tính cho cả hai hay nhiều kỳ tiếp theo như chi phí mua các loại bảo hiểm, các loại lệ phí trả một lần trong năm, chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định... Chỉ tiêu này trong bảng tổng kết tài sản phản ánh số tiền đã thanh toán cho một số khoản chi phí nhưng đến cuối kỳ hạch toán chưa được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của kỳ báo cáo.
• Các khoản cầm cố, ký cược, ký quỹ ngắn hạn: Các tài sản đem cầm cố, ký cược, ký quỹ vẫn thuộc tài sản doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp không có quyền sử dụng và cũng không giữ tài sản này vì vậy cần tách ra khỏi khối tài sản doanh nghiệp đang giữ để đánh giá đúng khả năng thanh toán của doanh nghiệp và theo dõi thu hồi. Các loại tài sản đem cầm cố, ký cược, ký quỹ ngắn hạn có tính thanh khoản cao, nếu để chung với các tài sản cùng loại đang thuộc quyền sử dụng của doanh nghiệp thì không thể đánh giá đúng khả năng chi trả của doanh nghiệp.
Người cho vay yêu cầu doanh nghiệp giao cho họ cầm giữ tài sản là vàng, bạc, đá quý, các giấy tờ có giá và vật có giá trị khác để đảm bảo trả nợ. Còn những tài sản cầm cố, thế chấp bằng giấy tờ sở hữu như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải... thì doanh nghiệp không thể chuyển nhượng cho người khác nên vẫn được sử dụng và không cần tách riêng thành một loại tài sản.
Ký cược là việc bên thuê, mượn tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý, giấy tờ có giá hoặc các vật có giá trị khác nhằm ràng buộc người đi thuê sử dụng tốt tài sản và hoàn trả tài sản thuê đúng thời hạn. Tiền đặt cược do bên có tài sản cho thuê quy định, có thể bằng hoặc lớn hơn trị giá của tài sản cho thuê. Ví dụ, cửa hàng đặt cược tiền vỏ chai với nhà máy bia.
Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ giao một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ có giá cho bên nhận ký quỹ giữ hoặc gửi tiền vào tài khoản phong toả tại một ngân hàng để đảm bảo thực hiện hợp đồng trong quan hệ mua bán, đại lý bán hàng, đấu thầu, mở thư tín dụng... Tiền ký quỹ thông thường do người bán hàng hoá, dịch vụ yêu cầu. Khác với hợp đồng vay, thuê, mượn tài sản, trong các hợp đồng cần ký quỹ các bên không giao tài sản cho nhau nên tiền ký quỹ không cao so với giá trị hợp đồng, thường 5 - 7%. Riêng mở thư tín dụng mang tính chất vay nợ nên có thể phải ký quỹ 100% nếu ngân hàng không tin tưởng vào người mở L/C.
Chỉ tiêu các khoản cầm cố, ký cược, ký quỹ ngắn hạn phản ánh giá trị tài sản còn đang cầm cố, ký cược, ký quỹ ngắn hạn. Trường hợp đặt cọc giống như ký quỹ, chỉ khác là tài sản đặt cọc không gửi ngân hàng mà giao cho bên kia cầm giữ, thường chỉ áp dụng trong các hợp đồng dân sự.
* Thuế GTGT được khấu trừ
Đối với công ty xuất khẩu chịu mức thuế suất 0% thì thuế đầu vào được theo dõi riêng.
* Thuế và các khoản phải thu của Nhà nước.
* Tài sản ngắn hạn khác

Các loại tài sản ngắn hạn kể trên (trừ loại tài sản ngắn hạn khác) là những mắt xích trong vòng tuần hoàn của tài sản ngắn hạn nên thường khi hạng mục tài sản ngắn hạn này tăng kéo theo tài sản ngắn hạn khác giảm. Sự biến động của mỗi loại tài sản được doanh nghiệp theo dõi bằng cách mở cho nó một tài khoản. Chẳng hạn khi thu được tiền của khách hàng bằng chuyển khoản thì khoản phải thu cụ thể là phải thu của khách hàng giảm, đồng thời tài sản dạng tiền và cụ thể là tiền gửi ngân hàng tăng lên; khi hàng mua được nhập kho thì tài sản là hàng mua đang đi trên đường giảm, đồng thời nguyên vật liệu tồn kho tăng; xuất tiền mua nguyên vật liệu thì tài sản là tiền giảm, hàng mua đang đi trên đường tăng.
Cách phân loại tài sản ngắn hạn như trên có ý nghĩa trong việc xác định cơ cấu dự trữ các tài sản ngắn hạn (kể cả dự trữ bằng tiền và dưới các khoản phải thu) hợp lý để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, đồng thời không để tài sản ngắn hạn dự trữ quá mức gây lãng phí vốn và giúp đưa ra biện pháp quản lý phù hợp với từng loại. Chẳng hạn thành phẩm ứ đọng nhiều do tiêu thụ chậm, doanh nghiệp cần đưa ra biện pháp như hạ giá, khuyến mại... với khoản phải thu thì đôn đốc khách hàng trả nợ kịp thời.

[Tham Khảo
Vốn lưu động thường xuyên cần thiết
Trong phần nghiên cứu nội dung của tài sản ngắn hạn chúng ta đã được biết: Để sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, doanh nghiệp luôn có 1 lượng tài sản ngắn hạn dự trữ thường xuyên, trước đây được gọi là vốn lưu động thường xuyên. Vốn lưu động đầu tư vào tài sản lưu động dự trữ thường xuyên gọi là vốn lưu động thường xuyên cần thiết.
Khối lượng vốn lưu động thường xuyên cần thiết được tổng hợp từ 3 loại vốn lưu động thường xuyên cần thiết trong các khâu dự trữ sản xuất, tiêu thụ và dự trữ trong thanh toán. Nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến khối lượng vốn lưu động thường xuyên cần thiết là quy mô sản xuất kinh doanh, công nghệ chế biến, chu kỳ cung cấp nguyên vật liệu, chu kỳ cung cấp thành phẩm, hàng hoá ...
Vốn này cần được đầu tư từ nguồn vốn dài hạn, từ nguồn vốn tự có, vay dài hạn ngân hàng hoặc từ nguồn vốn tín dụng thương mại thường xuyên của người cung cấp. Nếu dùng nguồn vốn vay ngắn hạn dễ dẫn đến tình trạng bị động. Hậu quả là gây chậm trễ thanh toán làm mất uy tín doanh nghiệp, thiếu nguyên vật liệu cho sản xuất, thiếu hàng bán, có khi bỏ lỡ cơ hội kinh doanh...
Với tài sản lưu động không thường xuyên cần thiết, thường có nhiều ở các doanh nghiệp hoạt động thời vụ thì chỉ cần nguồn vốn đầu tư ngắn hạn là vay ngắn hạn ngân hàng hoặc bạn hàng. Doanh nghiệp sẽ bị đọng vốn khi hết thời vụ.
Qua phân tích trên, có thể thấy xác định vốn lưu động thường xuyên cần thiết và lựa chọn nguồn vốn đầu tư phù hợp là biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định].

1.2.1.2. Tài sản dài hạn (long term assets)
Tài sản dài hạn là tài sản tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh như máy móc thiết bị, nhà xưởng... Như vậy giá trị tài sản dài hạn được luân chuyển dần dần từng phần vào giá trị sản phẩm của mỗi chu kỳ kinh doanh và được bù đắp dưới dạng trích khấu hao từ doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Trong quá trình đó, mặc dầu tài sản dài hạn bị hao mòn, song chúng vẫn giữ nguyên (cố định) hình thái vật chất ban đầu. Chỉ khi nào chúng bị hư hỏng không sử dụng được hoặc xét thấy không có lợi về mặt kinh tế thì khi đó mới phải thay thế đổi mới. Do đó thời gian sử dụng tài sản loại này dài, thậm chí vài chục năm đối với nhà xưởng xây dựng kiên cố. Trong phần tài sản dài hạn gồm có các khoản mục:
1.2.1.2.1. Các khoản phải thu dài hạn
1.2.1.2.2. Tài sản cố định
Do đặc điểm nêu trên của tài sản dài hạn mà cùng 1 tài sản nhưng ở trường hợp này được coi là tài sản cố định, ở trường hợp khác lại được coi là tài sản lưu động. Chẳng hạn bò nuôi lấy sữa, sinh sản, cày kéo được coi là tài sản cố định, còn nuôi lấy thịt là tài sản lưu động, máy móc thiết bị đang ở trong kho chờ tiêu thụ là tài sản lưu động.
Đặc điểm của tài sản cố định là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên quản lý tài sản cố định về mặt tài chính, kế toán là rất phức tạp. Để giảm nhẹ công việc quản lý, trong thực tế người ta phân chia tư liệu lao động thành ra nhưng loại khác nhau căn cứ vào các tiêu chí riêng của mỗi quốc gia.
Theo quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính, quy định về tiêu chuẩn nhận biết một tài sản được coi là tài sản cố định hữu hình khi đồng thời thoả mãn 4 điều kiện sau:
1. Phải chắc chắn mang lại lợi ích trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó.
2. Nguyên giá phải được xác định một cách đáng tin cậy.
3. Thời gian sử dụng tối thiểu phải từ một năm trở lên.
4. Phải có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên

Tài sản cố đinh là những tư liệu lao động chủ yếu, có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mà vẫn giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu, đồng thời giá trị của chúng được chuyển dịch từng phần vào giá trị của sản phẩm trong các chu kỳ sản xuất kinh doanh.

Trong thực tế khái niệm tài sản cố định hẹp hơn trong lý thuyết, những tài sản tuy tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, nhưng thiếu 1 trong 4 điều kiện trên được coi là công cụ, dụng cụ lao động (gọi tắt là dụng cụ lao động) và thuộc nhóm tài sản ngắn hạn. Tuy nhiên trong thực tế còn quy định những tài sản không thoả mãn đồng thời 4 điều kiện trên, nhưng khi chúng tập hợp theo từng tổ hợp sử dụng đồng bộ mà thoả mãn được 2 điều kiện trên thì tổ hợp này cũng được coi là tài sản cố định như các phương tiện bàn ghế, quạt, điện thoại... trong 1 phòng làm việc.
Căn cứ vào hình thái biểu hiện và tính chất sở hữu, có thể chia TSCĐ thành 3 loại:

a) Tài sản cố định hữu hình (tangible fixed assets): là tài sản cố định có hình thái vật chất, được chia thành các nhóm như sau:
• Đất: chỉ tiêu này trên bảng tổng kết tài sản phản ánh trị giá đất (gồm cả mặt nước, mặt biển) hình thành do việc phải bỏ chi phí để mua, đền bù, san lấp, cải tạo nhằm mục đích có được mặt bằng kinh doanh.
• Máy móc, thiết bị.
• Phương tiện vận tải, truyền dẫn thông tin, điện, nước, băng truyền tải vật tư, hàng hoá.
• Thiết bị, dụng cụ quản lý như máy tính, quạt, thiết bị kiểm tra chất lượng...
• Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm.
• Tài sản cố định hữu hình khác.
Tài sản cố định hữu hình còn có thể phân loại thành:
• Tài sản cố định đang dùng cho sản xuất kinh doanh
• Tài sản cố định chờ đưa vào sử dụng như công trình xây dựng đã nghiệm thu chờ đưa vào sử dụng. Tài sản cố định nằm chờ do thiếu nguyên liệu hoặc sản phẩm khó tiêu thụ.
• Tài sản cố định không cần dùng, chờ thanh lý, chuyển nhượng hoặc cho thuê.
Cách phân loại này giúp nhà quản lý biết được 1 cách tổng quát tình hình tài sản cố định đang được dùng cho sản xuất kinh doanh, còn tiềm tàng hoặc ứ đọng để đưa ra các biện pháp khai thác.

b) Tài sản cố định vô hình (intangible fixed assets): Xuất phát từ yêu cầu hạch toán chi phí, hạch toán kinh doanh mà tài sản cố định còn bao gồm tài sản không có hình thái vật chất như chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí bằng phát minh sáng chế... Phần vốn đã bỏ ra này gọi chung là tài sản cố định vô hình. Như vậy tài sản cố định vô hình là tài sản cố định nhưng không có hình thái vật chất, thể hiện 1 lượng giá trị đã được đầu tư chi trả nhằm có được các lợi ích hoặc các nguồn có tính kinh tế mà giá trị của chúng xuất phát từ các đặc quyền hoặc quyền của doanh nghiệp. Khoản chi phí nào không đồng thời thoả mãn 2 điều kiện để được coi là tài sản cố định thì được hạch toán thẳng hoặc được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh.
Tài sản cố định vô hình được chia thành các nhóm như sau:
• Quyền sử dụng đất (chỉ áp dụng ở Việt nam): Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị quyền sử dụng 1 diện tích đất trong 1 thời gian nhất định, thuộc nguồn vốn nhà nước cấp cho doanh nghiệp nhà nước. Đây là tài sản cố định vô hình duy nhất không phải do đầu tư chi trả mà doanh nghiệp nhà nước có được. Thường Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích và yêu cầu tính khấu hao vào chi phí, còn các doanh nghiệp khác phải thuê đất.
• Bằng phát minh sáng chế: Giá trị bằng phát minh sáng chế được xác định bằng chi phí doanh nghiệp phải trả cho các công trình nghiên cứu, sản xuất thử được nhà nước cấp bằng phát minh sáng chế hoặc doanh nghiệp mua lại bản quyền phát minh sáng chế từ người sở hữu chúng.
• Chi phí nghiên cứu, phát triển: để chế thử sản phẩm mới, cải tiến công nghệ... tăng sức cạnh tranh. Đối với những doanh nghiệp lớn đây là công việc thường xuyên, bởi vì họ có vốn đầu tư và chịu được rủi ro nếu không thành công.
• Chi phí lợi thế kinh doanh (thương mại): Xuất hiện khi mua lại 1 doanh nghiệp khác. Ngoài số tiền trả bằng giá trị thực tế của các tài sản hữu hình, doanh nghiệp phải trả thêm 1 số tiền bởi sự thuận lợi của vị trí địa lý, danh tiếng của doanh nghiệp (uy tín mặt hàng, sự tín nhiệm đối với bạn hàng)...
• Tài sản cố định vô hình khác, thường có các dạng cơ bản sau:
o Độc quyền nhãn hiệu và tên hiệu: Là chi phí phải trả cho việc mua loại nhãn hiệu, tên hiệu nào đó đã được đăng ký độc quyền.
o Quyền đặc nhượng: Là chi phí doanh nghiệp phải trả để có được đặc quyền thực hiện khai thác các nghiệp vụ quan trọng hoặc sản xuất độc quyền 1 loại sản phẩm theo các hợp đồng đặc nhượng ký kết với nước ngoài hoặc 1 đơn vị nhượng quyền.
o Bản quyền tác giả: Là chi phí tiền thù lao trả cho tác giả, người được Nhà nước cho độc quyền phát hành và bán tác phẩm của mình.
Khoản đầu tư chi trả kể trên được coi là tài sản và là tài sản cố định bởi vì:
Thứ nhất: Tất cả những gì doanh nghiệp phải bỏ tiền ra để có được đều là tài sản của doanh nghiệp. Theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh thì mọi chi phí (vốn) bỏ ra cho hoạt động kinh doanh phải được bù đắp, tái tạo bằng cách tính vào chi phí sản phẩm và qua đó phản ánh đúng số lượng lợi nhuận thu được.
Thứ hai: Những khoản chi phí trên là không nhỏ, nếu tính hết vào 1 chu kỳ kinh doanh hoặc trong thời gian ngắn sẽ làm cho doanh nghiệp bị lỗ, như vậy mục đích thu hồi vốn đầu tư tài sản cố định vô hình không thực hiện đựơc, đồng thời không phản ánh đúng kết quả kinh doanh vì tài sản cố định vô hình phát huy tác dụng trong thời gian dài.
Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm đến đầu tư tài sản cố định vô hình vì hầu hết chúng có tác dụng quan trọng là tăng khả năng cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm trong thời gian dài.

c) Tài sản cố định thuê tài chính: là các tài sản cố định hữu hình dưới dạng máy móc thiết bị sản xuất kinh doanh được doanh nghiệp thuê mua tài chính. Do chưa thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nên không thể đưa chúng vào loại tài sản cố định hữu hình của doanh nghiệp.
Thuê tài chính có thời hạn dài nên tuy không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp có nghĩa vụ pháp lý khấu hao, bảo dưỡng, giữ gìn và sử dụng như tài sản của doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp cũng cần quản lý tài sản cố định thuê tài chính như các tài sản cố định hữu hình thuộc sở hữu của doanh nghiệp. Hơn nữa thời hạn thuê rất dài nên có thể coi nó như khoản tín dụng trung, dài hạn. Vì lý do trên nên cần đưa tài sản cố định thuê tài chính vào bảng tổng kết tài sản để theo dõi tình hình khấu hao và tình hình trả nợ thuê.
Ở Việt nam, một giao dịch thuê TSCĐ được coi là giao dịch cho thuê tài chính nếu thoả mãn đồng thời những điều kiện sau đây:
• Khi kết thúc thời hạn cho thuê, bên đi thuê được chuyển quyền sở hữu hoặc được tiếp tục thuê hoặc được mua theo giá thấp hơn giá trị thực tế.
• Thời hạn cho thuê ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê.
• Tổng số tiền thuê ít nhất phải tương đương 90% giá trị tài sản đó vào thời điểm ký hợp đồng.
Giao dịch thuê TSCĐ không thoả mãn một trong các điều kiện trên được coi là thuê hoạt động (thuê vận hành). Do thời hạn thuê ngắn nên tài sản thuê vận hành theo dõi ngoài bảng tổng kết tài sản (tại khoản mục tài sản thuê ngoài).
Bảng tổng kết tài sản phản ánh giá trị còn lại (nguyên giá trừ đi giá trị hao mòn luỹ kế) của tài sản cố định.
Nguyên giá tài sản cố định là giá trị của tài sản cố định tính theo hoá đơn cộng với các chi phí phát sinh trước khi đưa tài sản cố định vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như chi phí vận chuyển, lắp đặt, chạy thử, thuế... nếu những chi phí này chưa đưa vào giá mua.
Trong quá trình hoạt động, do ảnh hưởng của nhiều nhân tố tự nhiên và chủ quan của con người mà TSCĐ của công ty bị hao mòn và giảm về giá trị và giá trị sử dụng.
Hao mòn TSCĐ là sự giảm dần giá trị TSCĐ do tham gia vào hoạt động kinh doanh, do bào mòn của tự nhiên và do tiến bộ kỹ thuật. Có 2 loại hao mòn: hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.
Tham khảo thêm trong Thông tư 206/2003/QĐ-BTC.
Để bù đắp giá trị TSCĐ bị hao mòn thì doanh nghiệp cần chuyển dịch dần dần phần giá trị hao mòn đấy vào giá sản phẩm sản xuất. Từ đó ta có khái niệm khấu hao TSCĐ:
Khấu hao TSCĐ là việc chuyển dịch giá trị hao mòn của TSCĐ trong quá trình sử dụng vào giá trị sản phẩm theo các phương thức tính toán phù hợp.
Theo quyết định 206 nói trên thì khấu hao là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của TSCĐ vào chi phí SXKDtrong thời gian sử dụng của TSCĐ.
Giá trị khấu hao sẽ bằng hiệu số của nguyên giá tài sản cố định với giá trị thanh lý ước tính (giá trị thanh lý ước tính bằng hiệu số của khoản tiền thu được khi thanh lý với chi phí thanh lý tài sản cố định).
Hiện nay các doanh nghiệp của Việt Nam sử dụng các cách tính khấu hao sau đây:
- Phương pháp khấu hao theo đường thẳng (bình quân theo thời gian sử dụng).
- Phương pháp khấu hao nhanh (luỹ thoái).
- Phương pháo khấu hao theo sản lượng.
[ Tham khảo thêm thông tư 206/2003/QĐ-BTC ban hành ngày 12/12/2003 về trích khấu hao tài sản cố định :
* Phương pháp khấu hao theo đường thẳng (bình quân theo thời gian sử dụng).
Công thức: NG
MKH = -----------
T
Trong đó:
- MKH: mức trích KH năm (t).
- NG: nguyên giá TSCĐ
- T: thời gian sử dụng định mức TSCĐ
Ví Dụ:Công ty A mua một TSCĐ (mới 100%) với giá thanh toán theo hoá đơn là 119 tr.đồng, chiết khấu mua hàng là 5 tr.đồng, chi phí vận chuyển là 3 tr.đồng, chi phí lắp đặt chạy thử là 3 tr.đồng.
Hãy tính mức KH hàng năm theo phương pháp đường thẳng, biết rằng: TSCĐ có tuổi thọ kỹ thuật là 12 năm và thời gian sử dụng của TSCĐ doanh nghiệp dự kiến là 10 năm.
Ta tính:
NGTSCĐ= 119 –5 +3 +3 =120 triệu đồng
Mức trích khấu hao hàng năm:
MKH= 120 triệu đồng :10 năm =12 triệu đồng/năm
Mức trích khấu hao trung bình hàng tháng:
12 triệu đồng : 12 tháng = 1 triệu đồng/tháng
Hàng năm c.ty phải trích 12 triệu đồng chi phí KH TSCĐ vào chi phí KD.
* Phương pháp khấu hao nhanh (luỹ thoái)
Phương pháp này có 2 cách tính: khấu hao nhanh theo số dư giảm dần (tính khấu hao theo giá trị còn lại) và khấu hao nhanh theo tỷ lệ khấu hao giảm dần.
a) Khấu hao nhanh theo số dư giảm dần:
Công thức :
MKH(t) = TKH (đc) x GTCL(t)
Trong đó :
MKH(t): là mức khấu hao năm thứ (t).
GTCL(t): là giá trị còn lại của TSCĐ năm thứ (t).
TKH (đc): là tỷ lệ KH điều chỉnh (tỷ lệ KH nhanh),
TKH (đc) = TKH x HSĐC. Trong đó:
TKH: là tỷ lệ KH theo p.p đường thẳng (TKH= 1/T*100%)
HSĐC: là Hệ số điều chỉnh luôn được XĐ lớn hơn 1 và thời gian sử dụng TSCĐ càng
dài thì HSĐC càng lớn. Do vậy, TKH(đc) thường là lớn hơn TKH.
Lưu ý: Những năm cuối, khi mức KH xác định theo p.p số dư giảm dần nói trên bằng (hoặc thấp hơn) mức KH bình quân giữa giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại của TSCĐ, thì kể từ năm đó mức KH được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ chia (smile cho số năm SD còn lại của TSCĐ.
Ví dụ:
Công ty A mua một thiết bị SX mới với nguyên giá là 100 triệu đồng. Thời gian SD của TSCĐ xác định là 5 năm. Xác định số KH hàng năm theo phương pháp số dư giảm dần, biết hệ số điều chỉnh là 2,0 ?
Xác định mức KH hàng năm như sau:
Tỷ lệ KH hàng năm theo p.p đường thẳng là:
TKH = (1 : 5) x 100% = 20%
Tỷ lệ KH nhanh theo p.p số dư giảm dần là:
TKH (đc)= 20% x 2 = 40%
Mức trích KH hàng năm của TSCĐ trên được xác định theo bảng dưới đây:

Năm thứ Giá trị còn lại của TSCĐ Cách tính số khấu hao hàng năm Mức khấu hao hàng năm Khấu hao luỹ kế cuối năm
1 100 100 x 40% 40 40
2 60 60 x 40% 24 64
3 36 36 x 40% 14,4 78,4
4 21,6 21,6 : 2 10,8 89,2
5 10,8 21,6 : 2 10,8 100

b) Khấu hao nhanh theo tỷ lệ khấu hao giảm dần
Công thức:
MKH(t) = TKH(t) x NG

Với: T(t)
TKH(t) = --------------
∑T(i)
(i = 1,n)
Trong đó :
TKH (t) : Tỷ lệ khấu hao năm thứ (t).
NG : Nguyên giá TSCĐ.
n : Thời hạn phục vụ của TSCĐ.
T(t) hoặc T(i) là số năm còn lại của TSCĐ từ năm thứ (t) hoặc năm thứ (i) đến hết thời hạn phục vụ (n).
Ví dụ:
Công ty A mua một thiết bị SX mới với nguyên giá là 10 triệu đồng. Thời gian SD của TSCĐ xác định là 5 năm. Xác định số KH hàng năm theo p.p tỷ lệ khấu hao giảm dần.
T(1)= 5, T(2)= 4,.., T(5)= 1
∑T(i) =5+4+3+2+1=15 (i = 1 , 5)

Năm thứ 1 2 3 4 5 Cộng
Tỷ lệ KH 5/15 4/15 3/15 2/15 1/15 100%
Số tiền KH 100 x 5/15
= 33,33 100 x 4/15
= 26,67 100 x 3/15
= 20 100 x 2/15
= 13,33 100 x 1/15
= 6,67 100

* Phương pháp khấu hao theo sản lượng:
Công thức:
MKH = mKH x Qt
Trong đó:
Qt: khối lượng sản phẩm thực tế sản xuất trong kỳ (t)
mKH: mức trích KH bình quân cho một đơn vị SP

mKH = NG/Qo.
Với:
NG: Nguyên giá của TSCĐ
Qo: Sản lượng theo công suất thiết kế
Nếu công suất thiết kế hoặc nguyên giá của TSCĐ thay đổi, DN phải xác định lại mức trích KH của TSCĐ.

Mục đích của quỹ khấu hao là nhằm tích luỹ vốn để tái sản xuất giản đơn và mở rộng TSCĐ, Việc tính toán mức khấu hao phải phù hợp với mức độ hao mòn thực tế của TSCĐ (bên cạnh đó cần chú ý tới mức độ hao mòn vô hình) và đảm bảo thu hồi đủ giá trị vốn đã đầu tư ban đầu.
1.2.1.2.3. Bất động sản đầu tư
1.2.1.2.4. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn
Ngoài hoạt động chính cơ bản của doanh nghiệp phi tài chính là sản xuất, thương mại, dịch vụ (gọi chung là sản xuất kinh doanh) thì doanh nghiệp còn dùng 1 phần vốn kinh doanh đầu tư ra bên ngoài gọi là đầu tư tài chính. Lợi nhuận của hoạt động đầu tư tài chính được hình thành từ bên ngoài doanh nghiệp như lãi cổ phần, lãi liên doanh...
Đầu tư tài chính nhằm:
• Làm cho vốn tạm thời nhàn rỗi sinh lời.
• Phân tán rủi ro bằng sự đa dạng hoá các hình thức đầu tư, nhất là biện pháp liên doanh, đầu tư bất động sản.
• Tận dụng những lợi thế của doanh nghiệp trong hoạt động liên doanh.
• Tận dụng các cơ hội kinh doanh trong đầu tư tài chính.
• Tạo nguồn dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán nợ đến hạn khi tài sản bằng tiền không đủ dưới dạng đầu tư chứng khoán. Khi đó doanh nghiệp không cần dự trữ nhiều vốn bằng tiền gây lãng phí.
Nguồn vốn cho đầu tư tài chính lấy từ vốn tạm thời nhàn rỗihoặc huy động thêm cả vốn vay. Vốn nhàn rỗi là do chưa tích luỹ đủ để đầu tư hoặc chưa chọn được phương án đầu tư hiệu quả.
Căn cứ vào nội dung kinh tế, hoạt động đầu tư tài chính tồn tại dưới một số hình thức hình thức sau:
• Đầu tư vào công ty con, góp vốn liên doanh với doanh nghiệp khác để hình thành doanh nghiệp liên doanh hoặc góp vốn hợp doanh vào 1 doanh nghiệp khác dưới dạng hợp đồng hợp tác kinh doanh.
• Cho vay, chủ yếu cho các tổ chức tín dụng vay.
• Đầu tư chứng khoán, …

Tín dụng thương mại, kể cả cho vay dài hạn dưới dạng bán chịu máy móc thiết bị vẫn không thuộc loại đầu tư tài chính cho vay mà thuộc tài sản phải thu của khách hàng vì tín dụng thương mại có mục đích, khả năng chuyển hoá thành tiền (độ lỏng) và biện pháp theo dõi quản lý giống các khoản phải thu hơn.
Đầu tư tài chính có 2 dạng là đầu tư tài chính ngắn hạn (như đã xem xét ở phần tài sản ngắn hạn và đầu tư tài chính dài hạn). Mỗi loại đầu tư tài chính được chi tiết theo từng hình thức đầu tư để dễ quản lý. Cách phân loại đấy có ý nghĩa trong việc bố trí nguồn vốn đầu tư có thời hạn phù hợp với thời hạn đầu tư và giúp đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Tài sản đầu tư tài chính ngắn hạn có tính lỏng cao hơn, thậm trí còn cao hơn một số loại tài sản lưu động.
Tài sản đầu tư tài chính có thể bị giảm giá liên tục, khi đó phải lập dự phòng giảm giá đầu tư tài chính. Cổ phiếu, trái phiếu thường bị giảm giá nhiều hơn cả trong số tài sản đầu tư tài chính. Chỉ tiêu tài sản đầu tư tài chính phản ánh giá trị của các khoản đầu tư tài chính sau khi trừ đi dự phòng giảm giá để thấy đúng giá trị thực tế của tài sản đầu tư tài chính. Mức lập dự phòng được xác định bằng chênh lệch giảm giữa giá thực tế mua và giá có thể bán được. Phần lỗ này được trích trước vào chi phí để không gây ra đột biến về kết quả kinh doanh và bù đắp phần vốn đầu tư bị mất trong cả thời gian trước khi nó xảy ra.
1.2.1.2.5. Tài sản dài hạn khác

1.2.2 Nguồn vốn của doanh nghiệp
Nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với tài sản đang quản lý và sử dụng ở doanh nghiệp. Vốn đầu tư vào các loại tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, song căn cứ vào đặc điểm trách nhiệm pháp lý có 2 loại là nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả (ngắn hạn và dài hạn). Cách phân loại này đồng thời cho thấy thời hạn sử dụng của các nguồn vốn. Tài sản cố định và đầu tư dài hạn được cân đối với nguồn vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn.
Tuỳ vào loại hình doanh nghiệp và đặc điểm cụ thể, mỗi doanh nghiệp có thể có các phương thức tạo vốn và huy động vốn khác nhau. Trong điều kiện kinh tế thị trường, các phương thức huy đọng vốn cho doanh nghiệp được đa dạng hoá, giải phóng c