Blog - Công Nghệ Thông Tin Y Tế - Medical Informatics

BS Phan Xuân Trung

Subscribe to RSS feed

Posts tagged with "BHYT"

Vết xe đổ trong CNTT y khoa thế giới

, , , ...

Nhiều người khi nói về CNTT y khoa ở các nước tiên tiến như Anh, Mỹ, Úc, Canada... thường nghĩ rằng đó là một hệ thống hoàn chỉnh và đắt tiền. Đắt tiền thì có, họ đã trả khá nhiều tiền cho các chương trình ehealth nhưng có được hệ thống phần mềm hoàn chỉnh hay không thì đó là chuyện khác.

Ở Canada: Một "nhà tham vấn" đã ăn của hệ thống ehealth Canada hàng trăm triệu dollars. Những khoản tiền vô lý được liệt kê trong các bảng hợp đồng khiến cho dân chúng giận dữ. Ví dụ: 1 giờ tham vấn giá 300 USD,
Xem:
http://www.youtube.com/watch?v=9wP6iTjmhDU&feature=related
http://www.youtube.com/watch?v=n3DY6yAAsZg&feature=related

Ở Mỹ: Một nghiên cứu của Harvard cho thấy bệnh viện đã đầu tư nhiều tiền cho CNTT nhưng những gì gặt hái được chỉ là một hệ thống quản lý hành chính chứ không mấy giúp ích cho bác sĩ hay bệnh nhân. Và số tiền mà bệnh viện đầu tư chẳng giúp cho họ tiết kiệm được tiền bạc.
http://www.thongtincongnghe.com/article/13587
http://www.computerworld.com/s/article/print/9141428/Harvard_study_Computers_don_t_save_hospitals_money

Ở Úc: Ủy ban quốc gia CNTT y tế đã liên tục nhận sự chỉ trích từ nhiều phía khi mà các dự án CNTT y tế quốc gia đi từ sai lầm này đến thất bại khác. Có một trang web hàng ngày liệt kê các sai lầm này.
http://aushealthit.blogspot.com/

Ở Anh: Nơi đầu tư tiền nhiều nhất cho CNTT y tế cũng đã đi từ thất bại này sang thất bại khác. Những thông tin về thất bại đó được cập nhật thường xuyên trên website:
http://www.e-health-insider.com/

Ở ta, Bộ Y Tế bị ê răng sau khi triển khai Medisoft 2003 trên toàn quốc. Phần mềm này miễn phí nhưng thật sự bệnh viện phải tốn kém nhiều chi phí cho việc mua sắm hệ thống mạng và trả công hướng dẫn, bảo trì... Cuối cùng thì không mấy ai xài đến. Giải pháp an toàn nhất là Bộ trưởng ra chỉ thị thúc đẩy trang bị phần mềm quản lý, cứ để bệnh viện tự lo liệu lấy.

Đã có không ít bệnh viện vì tuân lệnh theo chỉ thị mà vội vã tìm đối tác. Thử hỏi các nước tiên tiến mà còn thất bại thì CNTT Việt Nam tài ba cỡ nào để có thể làm được phần mềm quản lý bệnh viện theo chỉ thị BYT?! Hầu hết các bệnh viện lớn ở Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TPHCM đều ngậm quả đắng khi triển khai CNTT quản lý bệnh viện.

Nhiều giám đốc bệnh viện chỉ vì hám 30% tiền lại quả nên ký hợp đồng với các công ty phần mềm chuyên nghề dụ khị để gom tiền nhà nước. Khi hệ thống bấy nhầy ra thì không dám mở miệng bồi thường. Chỉ có bệnh viện nhân dân 115 là ngon, dám mạnh tay đuổi thẳng đối tác khi họ lèn èn quá lâu.

Hiện nay cũng có không ít BV đang sa lầy mà không biết.

PHẤN MỀM VIỆN PHÍ BHYT

,

BHYT là phương cách quản lý nhà nước giúp điều tiết nguồn thu-chi y tế, giúp người nghèo có khả năng được khám chữa bệnh đầy đủ. Nhà nước Việt Nam có chủ trương xây dựng BHYT cho toàn dân.

Tuy nhiên hiện nay việc quản lý BHYT còn nhiều khó khăn và bất cập, thiếu khoa học gây tình trạng bội chi, thất thoát lớn cho nguồn quỹ BHYT, khiến cho nhân sách quốc gia phải bù lỗ hàng năm một số tiền to lớn.
Trong khi đó thì bệnh nhân có thẻ BHYT không dứt lời than phiền về dịch vụ BHYT. Những phản ánh hiện nay của xã hội nêu lên hình ảnh của BHYT như một dịch vụ tồi tệ.

Đối với bệnh viện khi tham gia BHYT phải phát sinh ra một đội ngũ nhân viên để quản lý riêng cho BHYT. Tất cả các bộ phận hành chánh và chuyên môn đều phải được sắp xếp riêng cho công tác BHYT như tiếp nhận, thu phí, khám, dược… Điều này làm phí phạm thêm nguồn nhân lực vốn ít ỏi của bệnh viện nói riêng và ngành y tế nói chung. Công tác tài chính BHYT tại bệnh viện chia làm 2 giai đoạn: thu phí đồng chi trả và thống kê quyết toán cho cơ quan BHYT. Các chính sách phân biệt đồng chi trả giữa các đối tượng tham gia bảo hiểm … gây ra những công thức tính toán rối rắm khiến cho việc thu đồng chi trả và thống kê quyết toán trở nên khó khăn và chậm trễ. Nếu như trước đây BHYT chỉ phân biệt đối xử cho 2 đối tượng BHYT là “bắt buộc” và “tự nguyện” với chỉ có 3 tình huống thường xảy ra mà bệnh nhân và bệnh viện đã kêu ca thì nay nhân viên thu phí phải đối phó với trên … 30 tình huống. Và sự phức tạp không dừng ở đó, vì các đối tượng khác sẽ được tham gia BHYT theo thời gian.

Thực tế hoạt động bệnh viện đã bộc lộ những phức tạp khác như bệnh nhân quên mang theo thẻ BHYT, bệnh nhân đi xa khỏi nơi cư trú, bệnh nhân có thẻ BHYT nhưng muốn được sử dụng các dịch vụ hay thuốc ngoài danh mục BHYT …

Việc quản lý của cơ quan BHYT cũng không kém phần phức tạp. Mỗi đơn vị y tế tham gia BHYT đều phải cho nhân viên BHYT cắt cử đến để kiểm soát, phê duyệt khi có những khoản chi lớn. Lượng nhân sự này là các bác sĩ y khoa, chỉ làm công việc hành chánh đơn thuần gây lãng phí nguồn nhân lực y tế đang rất thiut khuyết. Các báo cáo thu chi BHYT gởi vế cơ quan BHYT không đồng nhất về định dạng và thời gian kiến cho việc nhập liệu thống kê trở nên khó khăn. Cơ quan BHYT cũng đang khát khao với một hệ thống quản lý BHYT hoàn thiện giúp tránh thất thoát, thống kê hiệu quả để quản lý BHYT đúng với thực tế, tạo sự công bằng cho người tham gia BHYT và đơn vị y tế. Các cơ quan quản lý BHYT cũng đã ra sức tạo dựng phần mềm quản lý BHYT để trang bị cho chính mình và cho các đơn vị y tế. Thế nhưng đội ngũ kỹ sư tin học và lập trình viên dù giỏi nhưng không thể hiểu nổi tính phức tạp và những thuật ngữ y khoa nên đã thất bại trong việc xây dựng phần mềm quản lý BHYT.

Cty Hoàng Trung, chuyên nghiên cứu về hoạt động bệnh viện đã phân tích được một cách minh bạch các quy luật của BHYT, đã phát kiến ra những thuật ngữ “chênh lệch”, “đồng chi trả”, “giá điều chỉnh”… trong BHYT nên đã giải quyết được bài toán viện phí BHYT tại bệnh viện một cách khoa học và triệt để. Đơn vị tài chính của BV không cần thiết phải mất công cộng sổ hàng ngày cho từng đối tượng phức tạp đầy căng thẳng. Các báo cáo tổng hợp chi phí khám chữa bệnh, báo cáo thống kê hàng ngày hàng tháng theo biểu mẫu của BHYT được in ra ngay khi có yêu cầu với độ chính xác tuyệt đối với chỉ vài giây đồng hồ.

Việc tích hợp phân hệ Viện Phí và quản lý BHYT chung trong 1 hệ thống giúp giảm thiểu nguồn nhân lực ở khâu quản lý. Bệnh viện không còn cần thiết phải bố trí các đơn vị phục vụ riêng cho bệnh nhân BHYT. Bệnh nhân BHYT tiếp xúc nhân viên tiếp nhận, thu phí và bác sĩ khám chung với các đối tượng bệnh nhân khác, tạo sự bình đẳng trong khám chữa bệnh. BS vẫn có thể kê đơn thuốc hoặc chỉ định cận lâm sàng ngoài danh mục theo yêu cầu bệnh nhân BHYT và hệ thống sẽ tự động lọc thuốc hay dịch vụ theo danh mục khác nhau để tính phí một cách minh bạch.

Việc tích hợp phân hệ Đơn thuốc điện tử với khoa Dược tạo luồng thông tin giữa 2 nơi giúp cho BS biết được tình trạng thuốc trong kho bảo hiểm. Những thuật toán cảnh báo thiếu thuốc giúp BS không cho nhầm thuốc không đủ cung cấp, từ đó giảm thiểu phiền hà cho bệnh nhân và thoải mái cho bác sĩ và dược sĩ.

Cho đến nay, việc báo cáo quyết toán BHYT bằng cách in ra giấy và nộp file excel cho cơ quan BHYT vẫn còn nhiều bất cập, phức tạp, mất nhiều công sức cho việc kiểm tra tính chính xác và định dạng dữ liệu. Cách thức tốt nhất để quản lý số liệu nhanh, chính xác và tức thời là hình thức chuyển thông tin qua mạng internet. Phần mềm quản lý BHYT tại bệnh viện ngoài khả năng in báo cáo ra giấy, xuất file dạng excel còn có thể xuất file dưới dạng xml và gởi thẳng đến trung tâm tích hợp dữ liệu của cơ quan BHYT qua hệ thống mạng internet. Điều này sẽ giúp giảm bớt nhân sự kiểm tra dữ liệu mà số liệu thu nhận được vẫn bảo đảm tính chính xác đến mức tuyệt đối.

Ngoài ra hệ thống phần mềm BHYT cũng sẽ giúp kiểm tra tình trạng gian lận trong BHYT như bệnh nhân khám lặp lại nhiều lần trong một thời gian ngắn, tình trạng bệnh nhân cho người khác mượn thẻ, tình trạng cơ sở y tế gian lận trong việc chỉ định dịch vụ và kê đơn thuốc vượt mức cần thiết.

BS. PHAN XUÂN TRUNG

Ứng dụng CNTT bệnh viện đi đôi với thay đổi quy trình quản lý bệnh viện.

, , , ...

BS PHAN XUÂN TRUNG

Máy tính không chỉ thay thế sổ sách. Việc sử dụng máy tính sao cho có hiệu quả là một vấn đề cải cách giúp phần mềm phát huy hiệu quả hơn.

Phân tích một vài hình ảnh thay đổi quy trình đi kèm máy tính:

Đối tượng dịch vụ:
- Trước: Khu vực thu phí chia thành các nhóm thu khác nhau tùy theo đối tượng: dịch vụ, BHYT, Trẻ em, Chính sách... Hình ảnh là tại quầy thu phí dịch vụ bệnh nhân rất đông, nhân viên làm việc liên tục trong khi bệnh nhân chờ thành hàng dài. Các quầy khác thì nhân viên ngồi chơi vì không có bệnh nhân.
- Sau: các nhân viên sử dụng phần mềm mạng có chức năng như nhau, công việc giống nhau, tiếp xúc với tất cả các đối tượng khác nhau. Bệnh nhân không cần phân biệt đối tượng, thấy quầy nào trống, ít người thì đến yêu cầu phục vụ. Công việc làm của nhân viên trở nên bình đẳng, giải quyết cho bệnh nhân ở mức độ lực luợng cao nhất.

Vị trí thu phí:
- Trước: Có bệnh viện rộng lớn, phòng khám và phòng cận lâm sàng đặt cách xa phòng thu phí. Bệnh nhân khám ở tầng lầu 3 phải xuống tầng trệt để đóng phí và sau đó phải đi xa 100 mét để được đo điện tim. Điều này gây lãng phí thời gian và sức khỏe của bệnh nhân khi phải di chuyển xa từ nơi này sang nơi khác.
- Sau: Các quầy thu phí được đặt ở các nơi khác nhau thuận tiện cho bệnh nhân giao dịch ở nơi gần nhất. Thông tin viện phí nằm chung server nên không lo việc thất thoát hay khó khăn trong thống kê.

Đồng hóa chức năng hành chính:
- Bệnh nhân đến khám phải theo một quy trình: đăng ký khám > đóng tiền > khám > đóng tiền > xét nghiệm > lấy đơn thuốc > thanh toán BHYT > nhận thuốc.
Vì đi theo quy trình như vậy, bệnh nhân phải xếp hàng dài tại từng khâu của quy trình.
- Rồng rắn đăng ký, rồng rắn đóng tiền, rồng rắn khám, rồng rắn xét nghiệm... rồng rắn thanh toán BHYT, rồng rắn lãnh thuốc...
Thay đổi quy trình: Các quầy tiếp đón, thu phí, BHYT làm việc như nhau vào cùng thời điểm. Bệnh nhân đến bất cứ quầy nào cũng được đăng ký khám, đóng tiền và thanh toán BHYT. Tất cả các nhân viên cùng tham gia công việc mà không chờ làm việc tuần tự theo quy trình cũ.



Bác sĩ xem bệnh sử và kết quả CLS tại máy tính, bệnh nhân xem hồ sơ bệnh án trên mạng internet:
- Sau khi lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm, bệnh nhân được hẹn chờ nhận kết quả xét nghiệm trước khi nhận đơn thuốc. Lại một hàng đợi nhận kết quả đầy phiền phức. Thay vì vậy, bệnh nhân sẽ đến phòng khám, chờ lấy đơn thuốc. Tại đây BS có thể xem kết quả xét nghiệm và những cận lâm sàng khác. Khi in đơn thuốc, BS in luôn kết quả xét nghiệm trả cho bệnh nhân.
- Bệnh nhân không phải lúc nào cũng có đủ thời gian để chờ đợi kết quả xét nghiệm rồi nhận đơn thuốc. Bằng internet, bệnh nhân có thể xem kết quả xét nghiệm đã có chưa, tự tay in kết quả đó, mang đến cho BS vào một thời điểm thuận tiện nhất.

Những thay đổi quy trình kể trên giúp giảm lượng thời gian chết do phải xếp hàng đợi hoặc do di chuyển xa, tận dụng toàn bộ nhân sự hành chánh, công bằng trong công việc.