Posts tagged with "cơ sở dữ liệu"
Sunday, June 20, 2010 1:41:16 AM
công cụ xử lý dữ liệu, bệnh viện, cơ sở dữ liệu, phục hồi dữ liệu
...
BS PHAN XUÂN TRUNG
Cơ sở dữ liệu được thu thập từ các phân hệ phần mềm như: tiếp nhận, thu phí, chỉ định, kê đơn, xét nghiệm... Những dữ liệu này được nhập liệu và phát sinh vấn đề:
1 Số liệu sai :
- Do nhập sai quy trình: khi phần mềm thiết kế không chặt chẽ, người sử dụng thực hiện sai quy trình mà không bị ngăn chặn dẫn đến tăng, giảm, chồng lấn số liệu.
Ví dụ: sau khi nhập liệu user nhấn enter và chờ hiệu ứng. Tuy nhiên do máy chạy chậm nên user nhấn enter nhiều lần. Kết quả là nhiều record được ghi vào dữ liệu.
- Sai thao tác: lẽ ra một bệnh nhân đến khám trái tuyến user phải check vào option "trái tuyến" nhưng lại bị bỏ qua. Cho đến khi nhấn nút enter hoàn tất 1 record thì phiếu in ra bệnh nhân thuộc diện "đúng tuyến", từ đó dẫn đến kết quả sai hàng loạt. Điều này cũng dễ xảy ra đối với những chi tiết được mặc định, ví dụ: ngày hết hạn BHYT được mặc định là 30/12/2010 nhằm giảm bớt thao tác nhập liệu. Tuy nhiên không phải thẻ nào cũng hết hạn vào ngày 30/12/2010. Nếu bỏ qua việc sửa ngày hết hạn thì số liệu bị sai.
- Nhầm lẫn số liệu: Khi nhập liệu, do nhiều nguyên nhân, user có thể nhập liệu sai. Các nguyên nhân có thể kể là: kiểu gõ chữ VNI hay Telex, chọn nhầm khoa khám, nhập thiếu ký tự trong bộ mã...
Những dữ liệu nhập sai này không dễ dàng được tiên đoán và lập trình ngăn chặn ngay. Những trường hợp sai sót lặp đi lặp lại phải được lập trình ngăn chặn, đưa ra những cảnh báo, câu hỏi xác định để bảo đảm thông tin chính xác.
Những trường hợp vô ý nhập sai không theo hệ thống thì cần phải được nhân viên IT điều chỉnh lại trong cơ sở dữ liệu. Việc can thiệp trực tiếp dữ liệu là điều tối kỵ, vì vậy cần có một bộ tool để sửa dữ liệu sao cho có thể kiểm soát được việc can thiệp này. Phần mềm YKHOA.NET có sẵn một bộ công cụ điều chỉnh số liệu, giúp IT có thể sửa dữ liệu theo yêu cầu người dùng.
2 Số liệu phình to:
Sau một thời gian nhập liệu, số liệu sẽ phình to gây nặng nề cho hệ thống. Những thao tác như truy tìm số liệu, báo cáo thống kê, in hóa đơn... sẽ chiếm nhiều thời gian để hoàn thành và thập chí làm treo toàn hệ thống.
Tại nhiều bệnh viện, mỗi lần in báo cáo quyết toán BHYT thì phần mềm phải "lục tung" máy chủ để kết nối số liệu vào báo cáo trong 1 kỳ. Do số liệu quá lớn, hệ thống đã phải mất đến 10 phút để hoàn tất. Trong khi đó, toàn bộ phần mềm cũng bị ảnh hưởng. Tình trạng này được khắc phục khi chuyển hệ thống báo cáo ra một máy trạm khác.
Thậm chí, tại BV AS chỉ in hóa đơn bệnh nhân nội trú thôi cũng làm treo hệ thống.
Có những số liệu cần phải được lưu lại trên hệ thống để tham khảo, ví dụ như kết quả xét nghiệm tiểu đường. Hàng tháng bệnh nhân đến khám và bác sĩ sẽ xem lại hồ sơ. Kết quả xét nghiệm tiểu đường phải được hiển thị đầy đủ qua thời gian để bs đánh giá được quá trình diễn tiến. Những dữ liệu này bắt buộc phải được lưu trữ thường trực trên hệ thống.
Có những số liệu chỉ dùng 1 lần, ví dụ: phiếu chỉ định. Khi BS chọn chỉ định và phiếu chỉ định đã được sử dụng để thu phí và thực hiện cận lâm sàng thì phiếu chỉ định này không còn giá trị sử dụng cho lần sau nữa. Mỗi ngày có hàng ngàn phiếu chỉ định được tạo ra và làm cho dữ liệu phình ra nhanh chóng, chiếm tài nguyên bộ nhớ. Tương tự với phiếu chỉ định là phiếu đăng ký khám, hóa đơn viện phí...
Đặc biệt ở khu vực chẩn đoán hình ảnh. Các hình ảnh x quang, siêu âm, nội soi được lưu trữ và làm phình dữ liệu. Nếu không biết cách lọc hình ảnh thì tài nguyên bị chiếm dụng vô lý.
Hệ thống YKHOA.NET đã thiết lập sẵn một công cụ quản lý dữ liệu giúp IT có thể nhìn vào biết ngay bảng dữ liệu nào chiếm nhiều tài nguyên, đe dọa hệ thống. Kèm theo đó là công cụ cắt dữ liệu để lưu trữ vào một nơi an toàn. Khi cần thiết phải tập hợp dữ liệu để thống kê thì sẽ có công cụ kết nối trở lại.
3 Số liệu bị đứt gãy :
Những dữ liệu được nhập vào mà không kiểm soát tốt sẽ phát sinh ra dữ liệu rác hoặc trùng lắp làm sai lệch thống kê.
Ví dụ:
- Cách đặt tên thuốc: khi kê đơn các bác sĩ khác nhau sẽ ghi tên thuốc khác nhau: Panadol, Panadol 500, Panadol 5g, Panadol 500mg, Panadol 500 mg, Panadol 500mgrs... Thực chất đây chỉ là 1 thuốc duy nhất nhưng được ghi khác nhau. Điều này dẫn đến khi thống kê sẽ phát sinh ra nhiều record khác nhau và không cộng tổng được cho thuốc Panadol 500mg.
- Cách ghi chẩn đoán: tương tự như tên thuốc, bác sĩ ghi chẩn đoán theo nhiều kiểu khác nhau: VDD, Viêm dạ dày, viêm bao tử, hội chứng dạ dày... chỉ để nói đến 1 bệnh là viêm dạ dày. Từ đó khi có yêu cầu thống kê về 1 mặt bệnh thì số liệu không thu thập đúng.
- Nhập lại 1 bệnh nhân thành nhiều bệnh nhân: theo hệ thống thì mỗi bệnh nhân đến sẽ có một mã số bệnh nhân duy nhất. Nhờ mã số đó, bv sẽ nhận diện bn là mới hay cũ. Hồ sơ BN sẽ căn cứ vào mã bệnh nhân để phân loại tài liệu. BS dễ dàng xem đầy đủ hồ sơ bệnh nhân nhờ có mã số bn. Tuy nhiên, bộ phận tiếp nhận bệnh nhân đã không quan tâm đến việc hỏi bn là mới hay cũ, có mã số bn không. Bất cứ bệnh nhân nào đến khám cũng đều nhập liệu lại và cấp mã số mới, từ đó dẫn đến tình trạng 1 bệnh nhân có nhiều mã số và hồ sơ bn không được sắp xếp chung vào một mã.
Số liệu đứt gãy do mất tính liên hoàn: một số bộ phận trong bệnh viện không dùng chung hệ thống mã số mà lắp ráp từ nhiều phần mềm khác nhau. Số liệu không được lưu chuyển trên cùng hệ thống dẫn đến mất liên lạc và không thống kê được.
Số liệu đứt gãy do sự cố mạng hoặc mất điện: khi sự cố xảy ra, hệ thống ngưng hoạt động và số liệu bị ngắt ngang. Mặc dù công việc bệnh viện vẫn tiếp tục nhưng số liệu không được nhập vào hệ thống và sau đó không được nhập bổ sung nên dẫn đến số liệu bị đứt gãy.
CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ
Số liệu bệnh viện được nhập liệu vào hệ thống là kho tàng vô giá mà bệnh viện cần bảo quản cẩn trọng. Những số liệu này là vàng ròng cho công tác nghiên cứu khoa học, báo cáo thống kê.
Cần phải có các biện pháp bảo quản số liệu ngay từ khâu nhập liệu đến khâu lưu trữ. Các yêu cầu sau đây cần phải được đáp ứng:
- Phần mềm được lập trình chặt chẽ, ngăn chặn được các tình huống có thể xảy ra sai sót. Điều này chỉ có được đối với phần mềm đã được sử dụng trên nhiều bệnh viện, đã được cọ sát thực tế. Những phần mềm mới ra lò sẽ là một ổ lỗi cho bệnh viện. Dù cty cung cấp phần mềm có hệ thống kiểm lỗi cực kỳ giỏi thì cũng không thể bắt hết các lỗi xảy ra trong thực tế.
Một trong những ổ phát sinh lỗi là yêu cầu thêm tính năng, thay đổi quy trình phần mềm. Bản thân mỗi hệ thống đã có tính ổn định. Khi yêu cầu thêm tính năng hoặc thay đổi quy trình sẽ dẫn đến thay đổi hàng loạt mối quan hệ giữa các dữ liệu. Nhà cung cấp không thể bảo đảm cho khách hàng về mặt thời gian và tính chính xác sau khi nâng cấp. Khách hàng phải chấp nhận lỗi phát sinh và chờ vá lỗi.
- Phần mềm có hệ thống sửa lỗi. Các công cụ sẵn có của Cơ sở dữ liệu như SQL server, Oracle sẽ không giúp ích được trong vấn đề sửa lỗi dữ liệu. Muốn sử dụng tool có sẵn của SQL server thì nhân viên IT phải lão luyện. Tuy nhiên phần mềm YKHOA.NET đã tự tạo riêng cho mình một bộ công cụ sửa lỗi với giao diện thân thiện mà IT bệnh viện có thể an tâm dùng, không sợ làm tổn hại đến toàn hệ thống.
- Cần có mã chuẩn cho từng hệ thống dữ liệu. Ví dụ danh mục thuốc, danh mục chẩn đoán, danh mục xét nghiệm... phải có bộ mã riêng đồng thời có cơ chế autocomlete để dữ liệu nhập giống nhau.
- Người nhập liệu cần chú tâm và có kinh nghiệm sử dụng phần mềm.
- Bệnh viện cần trang bị các hệ thống back up dữ liệu và có chế độ kiểm tra dữ liệu định kỳ.
- BV cần có hệ thống hạ tầng tốt như: bộ lưu trữ điện, hệ thống chống sét, server kép... để đề phòng sự cố có thể xảy ra.
Sunday, June 20, 2010 1:41:16 AM
công cụ xử lý dữ liệu, bệnh viện, cơ sở dữ liệu, phục hồi dữ liệu
...
BS PHAN XUÂN TRUNG
Cơ sở dữ liệu được thu thập từ các phân hệ phần mềm như: tiếp nhận, thu phí, chỉ định, kê đơn, xét nghiệm... Những dữ liệu này được nhập liệu và phát sinh vấn đề:
1 Số liệu sai :
- Do nhập sai quy trình: khi phần mềm thiết kế không chặt chẽ, người sử dụng thực hiện sai quy trình mà không bị ngăn chặn dẫn đến tăng, giảm, chồng lấn số liệu.
Ví dụ: sau khi nhập liệu user nhấn enter và chờ hiệu ứng. Tuy nhiên do máy chạy chậm nên user nhấn enter nhiều lần. Kết quả là nhiều record được ghi vào dữ liệu.
- Sai thao tác: lẽ ra một bệnh nhân đến khám trái tuyến user phải check vào option "trái tuyến" nhưng lại bị bỏ qua. Cho đến khi nhấn nút enter hoàn tất 1 record thì phiếu in ra bệnh nhân thuộc diện "đúng tuyến", từ đó dẫn đến kết quả sai hàng loạt. Điều này cũng dễ xảy ra đối với những chi tiết được mặc định, ví dụ: ngày hết hạn BHYT được mặc định là 30/12/2010 nhằm giảm bớt thao tác nhập liệu. Tuy nhiên không phải thẻ nào cũng hết hạn vào ngày 30/12/2010. Nếu bỏ qua việc sửa ngày hết hạn thì số liệu bị sai.
- Nhầm lẫn số liệu: Khi nhập liệu, do nhiều nguyên nhân, user có thể nhập liệu sai. Các nguyên nhân có thể kể là: kiểu gõ chữ VNI hay Telex, chọn nhầm khoa khám, nhập thiếu ký tự trong bộ mã...
Những dữ liệu nhập sai này không dễ dàng được tiên đoán và lập trình ngăn chặn ngay. Những trường hợp sai sót lặp đi lặp lại phải được lập trình ngăn chặn, đưa ra những cảnh báo, câu hỏi xác định để bảo đảm thông tin chính xác.
Những trường hợp vô ý nhập sai không theo hệ thống thì cần phải được nhân viên IT điều chỉnh lại trong cơ sở dữ liệu. Việc can thiệp trực tiếp dữ liệu là điều tối kỵ, vì vậy cần có một bộ tool để sửa dữ liệu sao cho có thể kiểm soát được việc can thiệp này. Phần mềm YKHOA.NET có sẵn một bộ công cụ điều chỉnh số liệu, giúp IT có thể sửa dữ liệu theo yêu cầu người dùng.
2 Số liệu phình to:
Sau một thời gian nhập liệu, số liệu sẽ phình to gây nặng nề cho hệ thống. Những thao tác như truy tìm số liệu, báo cáo thống kê, in hóa đơn... sẽ chiếm nhiều thời gian để hoàn thành và thập chí làm treo toàn hệ thống.
Tại nhiều bệnh viện, mỗi lần in báo cáo quyết toán BHYT thì phần mềm phải "lục tung" máy chủ để kết nối số liệu vào báo cáo trong 1 kỳ. Do số liệu quá lớn, hệ thống đã phải mất đến 10 phút để hoàn tất. Trong khi đó, toàn bộ phần mềm cũng bị ảnh hưởng. Tình trạng này được khắc phục khi chuyển hệ thống báo cáo ra một máy trạm khác.
Thậm chí, tại BV AS chỉ in hóa đơn bệnh nhân nội trú thôi cũng làm treo hệ thống.
Có những số liệu cần phải được lưu lại trên hệ thống để tham khảo, ví dụ như kết quả xét nghiệm tiểu đường. Hàng tháng bệnh nhân đến khám và bác sĩ sẽ xem lại hồ sơ. Kết quả xét nghiệm tiểu đường phải được hiển thị đầy đủ qua thời gian để bs đánh giá được quá trình diễn tiến. Những dữ liệu này bắt buộc phải được lưu trữ thường trực trên hệ thống.
Có những số liệu chỉ dùng 1 lần, ví dụ: phiếu chỉ định. Khi BS chọn chỉ định và phiếu chỉ định đã được sử dụng để thu phí và thực hiện cận lâm sàng thì phiếu chỉ định này không còn giá trị sử dụng cho lần sau nữa. Mỗi ngày có hàng ngàn phiếu chỉ định được tạo ra và làm cho dữ liệu phình ra nhanh chóng, chiếm tài nguyên bộ nhớ. Tương tự với phiếu chỉ định là phiếu đăng ký khám, hóa đơn viện phí...
Đặc biệt ở khu vực chẩn đoán hình ảnh. Các hình ảnh x quang, siêu âm, nội soi được lưu trữ và làm phình dữ liệu. Nếu không biết cách lọc hình ảnh thì tài nguyên bị chiếm dụng vô lý.
Hệ thống YKHOA.NET đã thiết lập sẵn một công cụ quản lý dữ liệu giúp IT có thể nhìn vào biết ngay bảng dữ liệu nào chiếm nhiều tài nguyên, đe dọa hệ thống. Kèm theo đó là công cụ cắt dữ liệu để lưu trữ vào một nơi an toàn. Khi cần thiết phải tập hợp dữ liệu để thống kê thì sẽ có công cụ kết nối trở lại.
3 Số liệu bị đứt gãy :
Những dữ liệu được nhập vào mà không kiểm soát tốt sẽ phát sinh ra dữ liệu rác hoặc trùng lắp làm sai lệch thống kê.
Ví dụ:
- Cách đặt tên thuốc: khi kê đơn các bác sĩ khác nhau sẽ ghi tên thuốc khác nhau: Panadol, Panadol 500, Panadol 5g, Panadol 500mg, Panadol 500 mg, Panadol 500mgrs... Thực chất đây chỉ là 1 thuốc duy nhất nhưng được ghi khác nhau. Điều này dẫn đến khi thống kê sẽ phát sinh ra nhiều record khác nhau và không cộng tổng được cho thuốc Panadol 500mg.
- Cách ghi chẩn đoán: tương tự như tên thuốc, bác sĩ ghi chẩn đoán theo nhiều kiểu khác nhau: VDD, Viêm dạ dày, viêm bao tử, hội chứng dạ dày... chỉ để nói đến 1 bệnh là viêm dạ dày. Từ đó khi có yêu cầu thống kê về 1 mặt bệnh thì số liệu không thu thập đúng.
- Nhập lại 1 bệnh nhân thành nhiều bệnh nhân: theo hệ thống thì mỗi bệnh nhân đến sẽ có một mã số bệnh nhân duy nhất. Nhờ mã số đó, bv sẽ nhận diện bn là mới hay cũ. Hồ sơ BN sẽ căn cứ vào mã bệnh nhân để phân loại tài liệu. BS dễ dàng xem đầy đủ hồ sơ bệnh nhân nhờ có mã số bn. Tuy nhiên, bộ phận tiếp nhận bệnh nhân đã không quan tâm đến việc hỏi bn là mới hay cũ, có mã số bn không. Bất cứ bệnh nhân nào đến khám cũng đều nhập liệu lại và cấp mã số mới, từ đó dẫn đến tình trạng 1 bệnh nhân có nhiều mã số và hồ sơ bn không được sắp xếp chung vào một mã.
Số liệu đứt gãy do mất tính liên hoàn: một số bộ phận trong bệnh viện không dùng chung hệ thống mã số mà lắp ráp từ nhiều phần mềm khác nhau. Số liệu không được lưu chuyển trên cùng hệ thống dẫn đến mất liên lạc và không thống kê được.
Số liệu đứt gãy do sự cố mạng hoặc mất điện: khi sự cố xảy ra, hệ thống ngưng hoạt động và số liệu bị ngắt ngang. Mặc dù công việc bệnh viện vẫn tiếp tục nhưng số liệu không được nhập vào hệ thống và sau đó không được nhập bổ sung nên dẫn đến số liệu bị đứt gãy.
CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ
Số liệu bệnh viện được nhập liệu vào hệ thống là kho tàng vô giá mà bệnh viện cần bảo quản cẩn trọng. Những số liệu này là vàng ròng cho công tác nghiên cứu khoa học, báo cáo thống kê.
Cần phải có các biện pháp bảo quản số liệu ngay từ khâu nhập liệu đến khâu lưu trữ. Các yêu cầu sau đây cần phải được đáp ứng:
- Phần mềm được lập trình chặt chẽ, ngăn chặn được các tình huống có thể xảy ra sai sót. Điều này chỉ có được đối với phần mềm đã được sử dụng trên nhiều bệnh viện, đã được cọ sát thực tế. Những phần mềm mới ra lò sẽ là một ổ lỗi cho bệnh viện. Dù cty cung cấp phần mềm có hệ thống kiểm lỗi cực kỳ giỏi thì cũng không thể bắt hết các lỗi xảy ra trong thực tế.
Một trong những ổ phát sinh lỗi là yêu cầu thêm tính năng, thay đổi quy trình phần mềm. Bản thân mỗi hệ thống đã có tính ổn định. Khi yêu cầu thêm tính năng hoặc thay đổi quy trình sẽ dẫn đến thay đổi hàng loạt mối quan hệ giữa các dữ liệu. Nhà cung cấp không thể bảo đảm cho khách hàng về mặt thời gian và tính chính xác sau khi nâng cấp. Khách hàng phải chấp nhận lỗi phát sinh và chờ vá lỗi.
- Phần mềm có hệ thống sửa lỗi. Các công cụ sẵn có của Cơ sở dữ liệu như SQL server, Oracle sẽ không giúp ích được trong vấn đề sửa lỗi dữ liệu. Muốn sử dụng tool có sẵn của SQL server thì nhân viên IT phải lão luyện. Tuy nhiên phần mềm YKHOA.NET đã tự tạo riêng cho mình một bộ công cụ sửa lỗi với giao diện thân thiện mà IT bệnh viện có thể an tâm dùng, không sợ làm tổn hại đến toàn hệ thống.
- Cần có mã chuẩn cho từng hệ thống dữ liệu. Ví dụ danh mục thuốc, danh mục chẩn đoán, danh mục xét nghiệm... phải có bộ mã riêng đồng thời có cơ chế autocomlete để dữ liệu nhập giống nhau.
- Người nhập liệu cần chú tâm và có kinh nghiệm sử dụng phần mềm.
- Bệnh viện cần trang bị các hệ thống back up dữ liệu và có chế độ kiểm tra dữ liệu định kỳ.
- BV cần có hệ thống hạ tầng tốt như: bộ lưu trữ điện, hệ thống chống sét, server kép... để đề phòng sự cố có thể xảy ra.
Tuesday, September 15, 2009 8:08:18 AM
cơ sở dữ liệu, y học chứng cứ, y học thực chứng
Y học thực chứng là y học dựa vào chứng cứ. Không thể chỉ dựa vào cảm tính và kinh nghiệm cá nhân hay lời dạy của người đi trước để thực hành y khoa. Ngày nay người thực hành lâm sàng cần dựa vào chứng cứ để hành xử. Điều này vừa có giá trị khoa học trong thực tế điều trị, vừa an toàn về pháp lý.
Cốt lõi của y học thực chứng là chứng cứ, là những thông tin xác thực thu thập từ lâm sàng và cận lâm sàng. Những thông tin lâm sàng được thu thập từ nhìn, sờ, gõ, nghe đã được thực hiện từ thuở ban sơ của y học, hoàn toàn dựa vào khả năng cá nhân của thầy thuốc. Những thông tin đó chỉ có thầy thuốc ghi nhận và ghi chép. Những thông tin lâm sàng thường mang tính chủ quan và nhầm lẫn.
Y học càng hiện đại thì thầy thuốc càng nhận được nhiều thông tin bệnh gián tiếp nhờ máy móc xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và các thăm dò chức năng. Mặc dù không phải tất cả các thông tin đều đáng tin cậy, nhưng tập hợp càng nhiều thông tin thì vấn đề bệnh của bệnh nhân càng được phản ánh xác thực và từ đó hướng xử lý bệnh càng đúng hướng.
Những thông tin cận lâm sàng hiện nay như là xét nghiệm, siêu âm, x quang ... được sử dụng một cách ... hoang phí, dùng 1 lần rồi bỏ, được làm nhưng không được phân tích, không có đối chiếu kiểm chứng, không được lưu trữ theo bệnh sử của bệnh nhân, không được lưu trữ trong hệ thống lưu trữ của bệnh viện cho việc nghiên cứu.
Y học thực chứng phát huy được giá trị khi các thông tin bệnh được theo dõi diễn tiến thay đổi theo thời gian. Một ca bệnh tiểu đường được đánh giá qua biểu đồ thay đổi nồng độ đường huyết, lượng HbA1c qua thời gian. Một ca bệnh cao huyết áp cần được theo dõi thường xuyên giá trị huyết áp. Một ca bệnh viêm gan siêu vi B cần được theo dõi chỉ số men gan và chỉ số nồng độ virus trong máu... Không có được một chuỗi chỉ số đó qua thời gian, thầy thuốc khó có thể biết bệnh đã diễn tiến như thế nào, đã được điều trị ra sao, sẽ tiên lượng như thế nào sắp tới, hướng điều trị...
Y học thực chứng được phát huy giá trị khi có đối chiếu với các thông số y học khác. Không có một thông tin đơn lẻ nào hoàn toàn chính xác, đang tin cậy 100%. Vì vậy cần đối chiếu các thông tin với nhau xem sự tương thích, phù hợp bệnh cảnh hay không để từ đó tiếp tục suy luận. Một bác sĩ siêu âm phát biểu về bệnh khi nhìn thấy các hình ảnh nhập nhòa trên máy siêu âm và phán rằng bệnh nhân xơ gan. Thực tế các xét nghiệm máu cho thấy chức năng gan hoàn toàn bình thường. Một hình ảnh nội soi cho thấy hình ảnh của một ung thư dạ dày nhưng kết quả sinh thiết giải phẩu bệnh cho thấy hình ảnh viêm mạn tính. Việc đối chiếu các thông tin nhiều chiều giúp thầy thuốc tránh được sai lạc chẩn đoán và điều trị sai cho bệnh nhân. Càng nhiều thông tin ủng hộ bệnh cảnh thì càng giúp thầy thuốc tự tin và xúc tiến xử trí bệnh nhân theo hướng đó.
Bệnh sử của bệnh nhân cũng giúp hướng chẩn đoán đi đúng hướng. Một bệnh nhân có vàng da vàng mắt đi kèm với bệnh sử nghiện rượu sẽ được xử trí khác với bệnh nhân bị ngộ độc thuốc điều trị lao hay đã mắc sốt rét trước đó. Những thông tin tiền sử bệnh của bệnh nhân cũng cần được lưu trữ để đối chiếu khi cần thiết.
Hiện nay, dù các yêu cầu thu thập thông tin một cách bài bản theo bài giảng y khoa thì các thầy thuốc cũng không biết lấy đâu ra những thông tin đó. Bệnh sử không được khai thác đầy đủ tùy thuộc vào trí nhớ bệnh nhân, tùy khả năng khai thác bệnh. Thông tin điều trị dài ngày của bệnh nhân không được lưu trữ do bệnh nhân không cung cấp hoặc do đã cất vào kho bệnh án. Việc đối chiếu kết quả giữa các phương tiến cận lâm sàng ít xảy ra...
Một giải pháp có thể giải quyết tất cả các yêu cầu cung cấp thông tin của y học thực chứng, đó là ứng dụng mạng máy tính.
Mạng máy tính dùng để thu thập thông tin, vừa để cung cấp thông tin chung cho thầy thuốc. Toàn bộ thông tin bệnh nhân được lưu trữ trên một kho cơ sở dữ liệu theo chủng loại và theo thời gian giúp thầy thuốc bất cứ lúc nào cũng có thể tra cứu thông tin bệnh nhân một cách đầy đủ.
Trước khi tiến hành siêu âm, thầy thuốc có thể xem trước lời khai bệnh bệnh, bệnh sử, tiền căn, cận lâm sàng và điều trị của bệnh nhân trước đó. Sau khi trả kết quả siêu âm, bác sĩ có thể xem kết quả xét nghiệm của bệnh nhân trên máy của mình để đối chiếu kết quả siêu âm và xét nghiệm với nhau, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân.
Bệnh nhân không cần phải mang theo hồ sơ mà bác sĩ vẫn có thể "thấy hết" quá trình bệnh tật của mình để giúp chẩn đoán và điều trị tốt hơn, dù rằng nhiều bác sĩ cùng tham gia quá trình điều trị.
Tóm lại, y học thực chứng là khoa học cần phát huy vì lợi ích của bệnh nhân và cơ sở dữ liệu lưu trữ trên máy tính chính là nguồn thông tin thực chứng đầy giá trị cho y học.
PHAN XUÂN TRUNG
Wednesday, September 2, 2009 7:57:30 AM
cơ sở dữ liệu, hỗ trợ, quản lý bệnh viện, phần mềm y khoa
...
BS. Phan Xuân Trung
Phần mềm dành cho y khoa không phải đơn thuần là công cụ nhập liệu, thay thế quyển sổ giấy bằng chiếc laptop. Với những phần mềm "dỏm" chỉ để nhập liệu thì tính tiện dụng của nó rất kém cỏi và dễ làm cho các bác sĩ từ chối sử dụng. Từ lâu, ngành CNTT y khoa đã có khái niệm về một hệ thống hỗ trợ quyết định Decision Support System, nhằm giúp bác sĩ trong các tình huống khó.
Giúp trí nhớ:
Bác sĩ dù là người siêng cập nhật kiến thức mới cũng không thể nhớ hết mọi điều mình đã học và lại càng không nhớ, không biết hết những điều mới xảy ra như tên thuốc mới trên thị trường, cách điều trị mới công bố, xét nghiệm mới phát minh...
- Với thuốc men, bác sĩ hầu như chỉ nhớ vài chục tên thuốc thường dùng hàng ngày. Nhiều loại thuốc mới, thuốc thuộc chuyên khoa khác, thuốc cùng hoạt chất nhưng với tên khác... thì bác sĩ không thể biết và không thể nhớ được. Ngay cả là thuốc thường dùng, các công dụng, liều dùng, chống chỉ định của thuốc đó cũng không được bác sĩ nhớ nằm lòng để sử dụng đúng khi cần thiết.
- Một số xét nghiệm thường quy hay xét nghiệm chuyên khoa được bác sĩ nhớ để sử dụng hàng ngày, nhưng còn hàng ngàn xét nghiệm khác thì bác sĩ không biết hoặc biết mà không nhớ để chỉ định, hoặc chỉ định mà không biết phân tích.
- Các triệu chứng lâm sàng thông thường được bác sĩ ghi nhận và dễ dàng chẩn đoán vì lặp đi lặp lại nhiều lần. Trong khi có khá nhiều những bệnh "lạ", ít gặp và triệu chứng sờ sờ ngay trước mắt nhưng đã bị bác sĩ bỏ qua.
Với những tình trạng như vậy, một phần mềm có trang bị sẵn từ điển thuốc, từ điển xét nghiệm hay từ điển về triệu chứng học sẽ giúp ích rất nhiều cho bác sĩ cũng như cho bệnh nhân. Các loại từ điển điện tử ngày nay không đơn thuần để tra cứu mà có thể giúp ích bằng tính tự động hóa được tích hợp trong đó. Ví dụ bác sĩ kê đơn một loại thuốc mà không có sẵn trong danh mục của nhà thuốc thì phần mềm có thể gợi ý cho bác sĩ các loại thuốc cùng hoạt chất hoặc cùng nhóm tác dụng hiện đang có. Khi bác sĩ kê đơn 2 loại thuốc có tương tác có hại thì phần mềm cảnh báo. Thậm chí nếu bệnh nhân là thai phụ, đang cho con bú thì bác sĩ cũng được nhắc nhở khi kê thuốc có thể gây hại cho trẻ em...
Bệnh sử là một tài liệu quan trọng cho việc khám chữa bệnh. Đôi khi khai thác bệnh sử không đầy đủ sẽ dẫn đến quyết định sai lầm, gây tử vong. Ví dụ bệnh nhân tiểu đường dễ dàng bị hôn mê đến tử vong nếu "được" truyền thêm dung dịch đường theo thói quen của bác sĩ; bệnh nhân có thể bị sock dị ứng đến chết nếu bác sĩ không biết trước đó bệnh nhân có tiền sử dị ứng thuốc... Bệnh án điện tử thể hiện đầy đủ tài liệu lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân giúp bác sĩ tránh được sai lầm ngay trong những trường hợp bệnh nhân không còn khả năng cung cấp thông tin về bệnh sử của mình.
Đối với BS làm việc ở khu vực cận lâm sàng như Siêu âm, X quang, nội soi... cũng cần phải có đủ tư liệu về bệnh nhân trước và sau khi tham gia can thiệp. Nếu được biết trước bệnh sử của bệnh nhân thì bác sĩ siêu âm sẽ đưa ra chẩn đoán chính xác hơn. Sau khi siêu âm xong, bác sĩ siêu âm được xem thêm kết quả xét nghiệm để yên tâm rằng chẩn đoán của mình là phù hợp, hoặc nâng cao kiến thức qua những sai lầm đã được đối chiếu. Thông tin về bệnh sử của bệnh nhân được dễ dàng xem nếu phần mềm siêu âm được hòa mạng chung một hệ thống trong bệnh viện.
Hỗ trợ nhập liệu:
Ngày nay không ít bác sĩ đã thành thạo sử dụng máy tính, gõ máy tính bằng 10 ngón tay với tốc độ nhanh như chớp. Tuy nhiên đó là số ít. Hầu hết các bác sĩ cảm thấy lúng túng, mất nhiều thì giờ khi nhập liệu. Có những đơn thuốc, những chỉ định y khoa, những văn bản mô tả siêu âm, CT... dài dòng được gõ lặp đi lặp lại hàng ngày làm mất nhiều thì giờ của bác sĩ. Phần mềm phải có những mẫu "template" để tái sử dụng cho nhiều bệnh nhân. Thậm chí bác sĩ không cần phải soạn thảo trước đơn thuốc, phần mềm sẽ ghi nhớ lại bác sĩ đã sử dụng thuốc đó như thế nào để sau đó "tài lanh" tự động điền cách sử dụng khi bác sĩ chọn lại tên thuốc đó.
Tự động tính toán:
Công dụng của máy tính là để tính toán, vì vậy sẽ không có gì lạ nếu máy tính có thể tự động tính toán các thông số cần thiết giúp bác sĩ.
Ví dụ: bác sĩ có thể nhanh chóng chọn khẩu phần thức ăn có ít dinh dưỡng cho bệnh nhân béo phì, sau khi nhập liệu chiều cao, cân nặng và máy tính tự động cho ra chỉ số BMI.
Với bệnh nhi, việc kê đơn thuốc cần chính xác đến từng miligam. Bệnh nhi có độ tuổi từ 1 ngày tuổi cho đến 14 tuổi hoàn toàn khác nhau về thể chất nên liều lượng thuốc kê hoàn toàn khác nhau. Nếu bác sĩ không giỏi tính toán thì phần mềm sẽ giúp.
Bác sĩ siêu âm tim ghi nhận nhiều thông số đo đạc trong quá trình siêu âm tim. Dựa trên những thông số nhập liệu đó, phần mềm đưa ra các kết quả cảnh báo sau khi tự động tính toán.
Về phương diện quản lý BHYT, cơ quan BHYT đặt ra khá nhhiều loại đối tượng bệnh nhân với mức đóng phí và mức hưởng quyền lợi khác nhau gây khó khăn cho người thu phí. Nhiều bệnh viện đã phải thuê mướn nhiều nhân sự cho công tác thu phí phức tạp này. Tuy nhiên nếu sử dụng phần mềm được thiết kế đúng bài bản thì việc thu phí BHYT không còn là vấn đề. Bệnh viện chẳng những không cần phải thuê mướn thêm nhân sự mà còn điều chuyển nhân sự thừa đi làm công tác khác.
Giúp thống kê
Các số liệu được ghi chép trong hệ thống phần mềm chính là kho báu cho những nhà quản lý và nghiên cứu khoa học. Số liệu được ghi chép một cách có hệ thống và dễ dành truy xuất để đưa vào các phần mềm tính toán số liệu thống kê. Với phần mềm được tích hợp sẵn công cụ thống kê thì số liệu không bị chôn vùi trong kho dữ liệu mà phải tham gia ngay lập tức vào biểu đồ thống kê diễn tiến sinh động của nhà quản lý.
Số liệu về dịch bệnh, tần suất mắc bệnh không phải chờ đợi đến khi nhà quản lý ấn nút mới có mà những số liệu đó sẽ phải nhảy múa ngay trên biểu đồ trước mắt nhà quản lý theo từng con số nhập vào của nhân viên nhập liệu.
Tóm lại, phần mềm quản lý y khoa không phải là công cụ nhập liệu đơn thuần. Đây phải là một bộ máy có tính thông minh, trợ giúp hiệu quả cho bác sĩ và nhà quản lý y tế. Tính thông minh của phần mềm tùy thuộc vào nhà cung cấp. Thực tế cho thấy các nhà cung cấp phần mềm không chuyên nghiệp đã cung cấp cho bệnh viện các phần mềm mang lại hậu quả nhiều hơn hiệu quả.