PICISI'S BLOG

Hướng Đạo một ngày, Hướng Đạo một đời

Subscribe to RSS feed

Đâu là các thành tố cơ bản của một hệ thống quản lý?

, ,

Nhắc lại câu hỏi: Đâu là các thành tố cơ bản của một hệ thống quản lý?
Để trả lời câu hỏi này mình đã nghiên cứu, tìm hiểu các kiến thức liên
quan đến đề tài quản lý và xin phép được trình bày sơ bộ như sau:
1) Quản Lý là gì?; 2) Người Quản Lý là ai?; 3)Hệ thống Quản lý cần có
những thành tố cơ bản gì?

1. Quản lý là gì?
Theo một tài liệu được viết bởi Carter McNamara (1997) nhằm mục
đích giới thiệu về các vấn đề liên quan đến Quản lý được xuất bản trên
website "Free Management Library" tại địa chỉ
http://managementhelp.org/mgmnt/defntion.htm#anchor654851, thuật
ngữ "Quản lý" được dùng để mô tả các hoạt động bao gồm bốn chức năng
sau: Hoạch định, Tổ chức nguồn lực, Lãnh đạo, Kiểm soát hoặc điều
phối. Khi nói đến Quản lý thì người ta sẽ nghĩ ngay đến những công
việc liên quan một nhóm người, thường được gọi là: Ban Giám Đốc, Ban
Điều Hành, Ban Chỉ Huy, những người có trách nhiệm ra quyết định trong
tổ chức.

Mary Parker Follett (1868–1933) nêu lên quan điểm về Quản lý như
là một triết gia, cô cho rằng Quản lý là "the art of getting things
done through people". Triết lý này chúng ta đã được gặp lại trong tài
liệu môn Quản lý chất lượng tổng thể của cô Dung ở phần định nghĩa
người quản lý - họ là người đạt được thành công trong công việc thông
qua công việc của người khác.

Một người pháp tên Henri Fayol định nghĩa Quản lý thông qua sáu
chức năng: Hoạch định, Tổ chức, Lãnh đạo, Điều phối, Kiểm soát, Xây
dựng đội ngũ nhân viên (Planning, Organizing, Leading, Co-ordinating,
Controlling, Staffing).

Deming có giới thiệu một khái niệm gọi là vòng tròn chất lượng
PDCA (Plan, Do, Check and Control, Action) cũng phần nào mô tả hết ý
nghĩa của Quản lý.

Nói một cách hài hước thì mấy nhà quản lý đang làm các công việc
quản lý hay quản lý là những việc mà mấy ông giám đốc, mấy người quản
lý phải làm. Hầu hết các trường ĐH liên quan đến kinh tế thường đào
tạo những kiến thức về quản trị, quản lý: ĐH Kinh Tế, ĐH Ngoại
Thương... nhưng thực tế thì bất cứ lĩnh vực nào cũng cần có kiến thức
quản lý. Do đó sau này mới có thêm nhiều chuyên ngành mới như Quản lý
Công Nghiệp, Quản lý xây dựng, Quản lý dự án, Quản lý Công nghệ thông
tin, Quản lý cung ứng và ngành của chúng ta Kỹ thuật Hệ thống Công
nghiệp với kiến thức nền tảng là khoa học quản trị (Management
Science).

2. Người Quản lý là ai?
Tùy theo loại tổ chức, mục tiêu của tổ chức, qui mô của tổ chức mà
chúng ta có các loại nhà quản lý khác nhau. Nếu xét trong một tổ chức
là loại doanh nghiệp thì những người quản lý hoặc những nhóm quản lý
là những người giữ những vai trò sau:

*Hội đồng quản trị (Boards of Administration): là một nhóm gồm
những người chịu trách nhiệm lãnh đạo (to govern) hoạt động của một tổ
chức (thường là các doanh nghiệp có mô hình tập đoàn). Hội đồng quản
trị sẽ đưa ra chiến lược, mục tiêu và chính sách cho tổ chức, đồng
thời thuê mướn và đánh giá năng lực của Tổng Giám Đốc Điều Hành (CEO).

*Các Giám đốc điều hành (Executives): đây là những người có vị
trí đặc biệt trong những nhà quản lý cấp cao của tổ chức. Họ có trách
nhiệm phải chuyển các chiến lược, mục tiêu, chính sách của Hội Đồng
Quản Trị đi vào những hoạt động của tổ chức và tất nhiên họ là người
ra quyết định chi tiêu cho những công việc triển khai.

*Các Trưởng Bộ Phận (Managers): Có định nghĩa như sau: "Người
lãnh đạo làm điều đúng, người quản lý làm đúng những điều được giao".
Chuẩn hơn có thể nói rằng: "Người quản lý làm việc luôn hướng về chỉ
tiêu (goal) của tổ chức bằng cách sử dụng các nguồn lực được giao một
cách hiệu quả. Tùy theo cấp độ, phạm vi được giao quản lý mà nhà quản
lý phải lập kế hoạch, giám sát các hoạt động của tổ chức theo các chu
kỳ theo năm, theo quí, theo tháng, theo tuần, theo ngày.

*Quản lý trực tiếp (Supervisors): Thuật ngữ này đôi khi bị hiểu
nhầm chỉ là người giám sát năng suất và kết quả lao động của công
nhân. Thật ra thuật ngữ này nên được hiểu là chỉ những người mà bạn
chịu sự giám sát trực tiếp của họ hay là người để bạn báo cáo trực
tiếp, nói nôm na là sếp trực tiếp của bạn. Tất nhiên họ cũng có những
kỹ năng để quản lý (ra quyết định, giải quyết vấn đề, hoạch định, giao
quyền và tổ chức họp hành), tổ chức ekíp, thông báo những yêu cầu và
thiết kế những vai trò công việc mới cho nhóm, thuê mướn thêm nhân sự,
huấn luyện nhân sự mới, quản lý kết quả làm việc của nhân viên (thiết
lập chỉ tiêu, quan sát và đưa ra phản hồi, khen thưởng nhân viên, sa
thải kỷ luật nhân viên,...) và đảm bảo sự phù hợp giữa chính sách nhân
sự với những qui định của nội bộ phòng ban mình quản lý.

*Giám sát công việc (Work Directors): Người trực tiếp quan sát
các công việc của những người cộng sự dưới mình để điều chỉnh ngay các
thao tác gây ra sai sót hoặc thực hiện không đúng phương pháp. Trong
xây dựng, ngành mình đang làm việc, thì thường gọi là giám sát công
trình làm nhiệm giám sát các nhóm công nhân thi công của chính công ty
hoặc thầu phụ, ngoài ra còn có giám sát thi công của bên chủ đầu tư.
Những người này thuần túy kiểm tra công việc, chất lượng và phương
pháp thực hiện công việc.

3. Hệ thống Quản lý cần có những thành tố cơ bản gì?
Qua phân tích những khái niệm về "Quản lý là gì?" và "Người quản
lý là ai?" chúng ta có thể hình dung được một Hệ thống Quản lý cần có
những thành tố cơ bản hay chức năng cơ bản sau:

1. Hệ thống mục tiêu: bao gồm những công cụ, phương pháp giúp nhà
quản lý phân chia các chỉ tiêu cụ thể cho các đơn vị chuyên môn để họ
thực hiện giúp người quản lý đạt được mục tiêu đề ra.

2. Hệ thống hoạch định: bao gồm các công cụ, phương pháp, dữ
liệu, thông tin hỗ trợ nhà quản lý đưa ra các định mức cho các nguồn
lực (con người, thiết bị, vật tư, công nghệ, ngân sách, thời gian) để
giúp đạt được mục tiêu mong muốn, giúp sử dụng nguồn lực tiết kiệm,
giúp dự đoán rủi ro.

3. Hệ thống hướng dẫn công việc: bao gồm các qui trình, thủ tục,
văn bản hướng dẫn công việc, biểu mẫu do chính nhà quản lý thiết kế ra
dùng để triển khai các công việc đã được hoạch định. Hệ thống này giúp
nhà quản lý yên tâm về chất lượng của công việc, tăng năng suất công
việc, giảm thiểu rủi ro, tăng cường khả năng giao tiếp, phối hợp giữa
các bộ phận, xử lý nhanh các thay đổi, phát sinh.

4. Hệ thống báo cáo: giúp nhà quản lý nắm chắc tình trạng của
công việc, giảm những thông tin gây nhiễu ảnh hưởng ra quyết định,
tăng cường vai trò của quản lý cấp thấp hơn (không phải chuyện gì cũng
báo cáo cho sếp - đẩy "Khỉ" cho sếp). Thông qua hệ thống báo cáo, nhà
quản lý sẽ phát hiện nhanh những thay đổi, những phát sinh, những rủi
ro mới từ đó có cơ sở để phân tích và giải quyết vấn đề.

5. Hệ thống đánh giá hiệu quả công việc: giúp nhà quản lý đánh
giá năng lực của các nguồn lực, từ đó có những hành động điều chỉnh kế
hoạch và biện pháp hỗ trợ kịp thời, giúp hệ thống đạt được mục tiêu
với hiệu quả và năng suất cao nhất. Hệ thống này cũng giúp nhà quản lý
phát hiện những nhân sự có năng lực từ đó có kế hoạch phát triển nhân
tài một cách có hệ thống cung cấp thêm nhiều nhà quản lý tốt phục vụ
cho chiến lược mới của tổ chức.

Trên đây là những ý kiến tham gia thảo luận của Việt với các bạn,
thông qua việc phân tích một số tài liệu và thông tin trên internet từ
những nguồn có chọn lọc. Việt mong mọi người đọc và góp ý thêm, cũng
như tham gia tranh luận những vấn đề còn chưa rõ ràng để cùng chia sẻ
kiến thức và kinh nghiệm.

Nguồn Tham Khảo
1. Basics -- Definitions (and Misconceptions) About Management, Free
Management Library: Copyright 1997-2008, Authenticity Consulting, LLC,
http://managementhelp.org/mgmnt/defntion.htm#anchor654851

2. Oxford English Dictionary

3. Management, Wikipedia, cập nhật ngày 2 tháng 11 năm 2008,
http://en.wikipedia.org/wiki/Management.

4. Quản lý chất lượng tổng thể (1999), Bản thảo giáo trình của Bộ môn
Kỹ thuật Hệ thống Công nghiệp - Khoa Cơ khí - Trường ĐH Bách Khoa
TP.HCM.

Nguyễn Lê Quốc Việt
Kỹ sư Kỹ thuật Hệ thống Công nghiệp

Sử Việt Summary

, , , ...

Tiền sử người Việt chia làm 3 thời kỳ sau:

Thời kỳ Thái Sơn

Còn gọi thời kỳ Tam hoàng gồm: Toại Nhân là vị vua phát minh ra lửa, gọi là Thiên hoàng; Phục Hy là Nhân hoàng dậy cách chăn nuôi và làm ra bát quái cùng vợ là Nữ Oa coi về thời tiết. Vua cuối cùng là Thần Nông dạy dân trồng lúa nên gọi Ðịa hoàng. Sử Tàu ghi Thần nông truyền được 8 đời, kéo dài 530 năm. Thời kỳ này luôn xảy ra chiến tranh với Hán tộc của Hoàng đế. Trong quyển Kỳ môn độn giáp đại toàn thư có câu hát: Tích nhật Hoàng đế chiến Si Vưu, Trác Lộc kinh kim vị nhược hưu. (Ngày xưa Hoàng đế đánh Si Vưu, cuộc chiến ở Trác Lộc đến nay còn chưa dứt – dẫn theo Kim Ðịnh). Sử Tàu ghi trận Trác Lộc nổ ra vào năm 2500 TCN, Si Vưu là tên xấu mà người Hán đặt cho Ðế Lai. Trong trận này Ðế Lai bị giết, Hiên Viên thắng, được tôn làm Hoàng đế. Như vậy, dòng họ Thần Nông bắt đầu vào khoảng 3000 năm TCN.

Thời kỳ Ngũ Lĩnh

Cháu nội của Thần Nông là Ðế Minh sinh ra Ðế Nghi và Lộc Tục. Ðế Nghi làm vua miền lưu vực sông Hoàng Hà còn Lộc Tục làm vua nước Xích Quỷ phía nam sông Dương Tử, xưng là Kinh Dương vương. Ðế Nghi sinh Ðế Lai thay cha làm vua phương Bắc. Lộc Tục sinh Sùng Lãm làm vua phương Nam, xưng là Lạc Long quân. Ðế Lai liên minh với nước Xích Quỷ để chống Hán tộc, gả con gái là Âu Cơ cho Lạc Long quân. Trong trận Trác Lộc, Ðế Lai tử trận. Bề tôi của ông theo Âu Cơ chạy xuống nước Xích Quỷ. Lạc Long quân đem quân chạy ra biển. Thời kỳ này người Việt tập trung quanh vùng Ngũ Lĩnh.

Thời kỳ Phong Châu

Lạc Long quân chạy ra biển, đi xuống phía Nam lập nước Văn Lang tại vùng Phú Thọ ngày nay. [1]

Cho đến nay, toàn bộ hiểu biết về cội nguồn dân tộc Việt mới dừng lại ở đó.

Phải thừa nhận, việc chia tiền sử người Việt thành ba thời kỳ như trên là xác đáng. Ðó là công lao của nhiều thế hệ sử gia Việt Nam đã chắt lọc ra từ huyền sử và thư tịch Trung Hoa. Ðiều này giúp cho người Việt phần nào biết được nguồn cội tương đối gần của mình.

Tuy nhiên quan niệm trên cũng là hệ quả của cách nhìn nhận sai lầm truyền thống là tổ tiên người Việt từ cao nguyên Thiên Sơn di chuyển về phía Ðông Nam vì vậy không chỉ thiếu sót mà còn sai lạc. Sai lạc ở chỗ:

Ðất phát tích của người Việt vốn từ miền Bắc Việt Nam, bị đẩy lên tận lưu vực Hoàng Hà.

Thời gian lịch sử của người Việt từ 60-70.000 năm rút lại còn 5-6000 năm.

Quan niệm lịch sử như thế cắt đứt quan hệ huyết thống của người Việt hiện đại với tổ tiên hàng vạn năm trước và đương nhiên truất quyền thừa kế về mặt huyết thống của chúng ta với văn hóa tiền sử: Sơn Vi, Hòa Bình, Bắc Sơn… Vì vậy trong tâm lý chung, chúng ta chỉ dám nhận là người thừa kế về mặt lãnh thổ của những văn hóa tiền sử!

Trong khi đó, theo phát hiện mới thì:

Tổ tiên người Việt phát tích từ miền Trung và miền Bắc Việt Nam, là cháu con những người tiền sử từ Trung Ðông thiên cư theo bờ biển Nam Á đến Ðông Nam Á.

Thời gian lịch sử của người Việt đứng chân trên đất Việt từ 60-70.000 năm trước.

Con đường thiên di lên phía Bắc ban đầu rồi sau đó trở về nguồn cho phép ta giải thích vì sao trong máu người Việt yếu tố Mongoloid đậm lên: do hỗn huyết với tộc người Hán trong thời gian ở lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử

Phát hiện mới cho phép chúng ta khẳng định:

Khoảng 40.000 năm trước, người Việt từ Việt Nam đi lên phía Bắc, tràn qua lục địa Trung Hoa. Thời gian này không được nhắc tới trong huyền sử. Chỉ khoảng 5000 năm TCN tổ tiên người Việt mới xuất hiện trong huyền sử với Toại Nhân, Phục Hy… cùng địa danh Thái Sơn. Thái Sơn là trung tâm quần tụ của người Việt thời kỳ Bắc tiến, trước đây vẫn được coi là đất phát tích của người Việt. Từ 2500 năm TCN, do cuộc đụng độ với Hán tộc, tiền sử của người Việt lần đầu tiên được ghi lại bằng văn tự. Ðây cũng là thời kỳ người Việt bỏ chạy khỏi Thái Sơn để lui xuống tụ cư tại vùng Ngũ Lĩnh. Tiếp đó do Hán tộc săn đuổi rốt ráo hơn, người Việt từ Ngũ Lĩnh trở về Phong Châu. Khi Lạc Long quân đem quân dân Việt đổ bộ vào Nghệ Tĩnh xây dựng thời đại Châu Phong là tổ tiên ta trở lại nơi phát tích của mình, nhận vai trò người thừa kế hợp pháp cả về huyết thống cả về lãnh thổ của tổ tiên người Việt. Một dòng lịch sử truyền nối liên tục không đứt quãng. Phát hiện này làm thay đổi hoàn toàn quan niệm của chúng ta về cội nguồn và lịch sử dân tộc.

Trên đây là những nét lớn, có tính khái quát. Ði vào cụ thể, ta điểm qua vài chứng cứ bằng văn tự như sau:

Theo cuốn sử sớm nhất của Trung Quốc là Sử ký thì chủng tộc Việt Nam bắt nguồn từ nhà Hạ (2205-1770 TCN). Câu Tiễn (505- 465 TCN) vua nước Việt là hậu duệ của vua Hạ Vũ. Nước Sở của Khuất Nguyên cũng là dòng Việt bởi vậy Khuất Nguyên mới ai oán tiếc thương dòng giống Việt trong Sở Từ: Răng đen mình trổ dọc ngang. Xăm mình, cắt tóc ngắn, nhuộm răng đen là đặc điểm của người Việt thời đó.

Trước đây, chúng ta mang mặc cảm là đám Tàu lai bị xua đuổi, liều chết chạy về Nam theo bản năng sinh tồn nên vẫn cho mình là kẻ nhập cư trên đất đai người khác, nhất là khi phát hiện ra trong huyết quản đậm phần máu Mongoloid. Trước những nền văn hóa rực rỡ Hòa Bình, Bắc Sơn của người tiền sử, chúng ta cũng tự hào nhưng là niềm tự hào vay mượn bởi mặc cảm của kẻ khác chủng tộc, không liên hệ gì đến chủ nhân của những nền văn hóa đó!

Rồi chúng ta phát hiện ra rằng: tổ tiên ta từ đất nước Việt Nam đã mang gươm (rìu đá) đi mở cõi khai thác mở mang đất nước Trung Hoa, tại đây xuất hiện vị tổ gần hơn là Thần Nông vùng Thái Sơn từng giáo dân nghệ ngũ cốc. Tổ tiên đã mở đất, đã chiến đấu kiên cường với kẻ xâm lấn rồi khi không thể ở lại được đã trở về mái nhà xưa. Chính những hậu duệ đi xa trở về này do phải tiếp xúc, đối đầu với nền văn minh du mục, với kẻ địch mạnh đã trở nên mạnh mẽ và khôn ngoan hơn. Ðiều khôn ngoan nhất mà các vua Hùng đem đến cho người Việt phương Nam là tổ chức nhà nước. Chính nhà nước dù còn lỏng lẻo này đã làm thay đổi về chất trong quan hệ của cộng đồng Việt: từ quan hệ bộ tộc chuyển sang quan hệ quốc gia. Quan hệ này giúp các vua Hùng sáng tạo nên văn minh Ðông Sơn rực rỡ và có được sức mạnh trong đấu tranh với kẻ thù.

Tới đây, tự nhiên nảy sinh câu hỏi: Vì sao cũng thời gian đó, số dân Bách Việt tăng nhanh, phạm vi phân bố mở rộng ra mênh mông, trong khi người Mông Cổ số dân tăng không đáng kể và chỉ loanh quanh mạn Bắc sông Hoàng Hà? (Bằng chứng xã hội học cũng như di truyền không cho thấy người Mongoloid phương Bắc có mặt ở châu Mỹ).

Có thể lý giải điều này bằng 3 nguyên nhân: khí hậu, thổ nhưỡng, phương thức sống và di truyền:

Khí hậu lạnh không tạo thuận lợi cho sinh sản. Dân số tăng chậm không đòi hỏi mở rộng vùng phân bố.

Phương thức sống du mục nên người Mông sống bám vào đồng cỏ cao nguyên, không có khả năng chinh phục miền đất ẩm thấp mạn Nam sông Hoàng.

Người Mông phương Bắc mang gen từ tổ tiên Mongoloid thiên di lên rất sớm nên không kịp hòa huyết với chủng người khác, trong bộ gene tương đối thuần của họ mang khả năng sinh sản thấp?

Từ đó có thể rút ra kết luận: việc xuống phía Nam hòa huyết với người Bách Việt mang dòng máu Indonesien và trồng lúa nước mở ra vận hội lớn đối với người Hán, chẳng những đã cứu họ thoát khỏi tình trạng sinh sản thấp như người Mông Cổ đồng chủng mà còn cho họ hưởng nền văn minh nông nghiệp phát triển rực rỡ. Chính hai nhân tố này tạo nên dân số đông đúc cùng văn hóa ưu tú của dân tộc Trung Hoa hiện đại.

Như vậy là một cách ngắn gọn, tôi đã trình bày một phần về CỘI NGUỒN TỔ TIÊN. Sở dĩ chỉ dám nói một phần vì còn một câu hỏi vô cùng bức xúc chưa được trả lời: NHÀ TRIỆU CÓ VAI TRÒ GÌ TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT?

Từ khi giành lại quyền tự chủ, các triều đại Việt đều đề cao vai trò lịch sử của Triệu Ðà. Nhà Trần phong ông là Khai thiên thế đạo thánh vũ thần triết hoàng đế. [2] Ðại Việt sử ký toàn thư ghi: “Họ Triệu nhân lúc nhà Tần suy loạn, giết trưởng lại nhà Tần, chiếm giữ đất Lĩnh Nam xưng đế, đòi ngang với nhà Hán, hưởng nước truyền ngôi 100 năm mới mất, cũng là bậc vua anh hùng.” Sử gia Lê Văn Hưu nói: “Thế mới biết, người giỏi trị nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu Vũ đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là “lão phu”, mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy.” Trong An Nam chí lược, Lê Tắc viết: “Triệu Ðà làm vua Nam Việt, mới lấy thi lễ giáo hóa nhân dân một ít.” Ðiều này chứng tỏ Triệu Ðà là người mang sự học đến nước ta từ trước chứ không phải Sĩ Nhiếp. Ðến nhà Lê, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết: Trải Triệu, Ðinh, Lý, Trần nối đời dựng nước. Như vậy, Nguyễn Trãi thừa nhận Triệu Ðà là ông vua đầu tiên của nước ta từ thời có sử.

Hàng ngàn năm, chính sử Việt Nam ghi nhận vai trò lịch sử lớn lao của nhà Triệu. Ðến thế kỷ XVIII, Ngô Thì Sĩ (1726-1780) trong Việt sử tiêu án viết: “Nước ta bị nội thuộc vào nước Tàu từ đời Hán đến Ðường, truy nguyên thủ họa chả Triệu Ðà thì còn ai nữa? Huống chi Triệu Ðà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả thôi. Ðến như việc xướng ra cơ nghiệp đế vương trước tiên, tán tụng Triệu Ðà có công to, Lê Văn Hưu sáng lập ra sử chép như thế, Ngô Sĩ Liên theo cách chép hẹp hòi ấy, không biết thay đổi, đến như bài Tổng luận sử của Lê Tung, thơ vịnh sử của Ðặng Minh Khiêm thay nhau mà tán tụng, cho Triệu Ðà là bậc thánh đế của nước ta. Qua hàng nghìn năm mà không ai cải chính lại vì thế mà tôi phải biện bạch kỹ càng.” [3]

Cho đến nay, trong giới sử học, việc đánh giá Triệu Ðà vẫn có hai luồng ý kiến ngược nhau. Là kẻ ngoại đạo không dám lạm bàn, tôi chỉ xin lục ra một số tư liệu lịch sử hầu bạn đọc tham khảo.

Trong Sử ký, Tư Mã Thiên viết: “Vua Nam Việt họ Triệu tên là Ðà, người huyện Chân Ðịnh, trước làm quan úy. Bấy giờ nhà Tần đã chiếm cả thiên hạ, cướp lấy đất Dương Việt, đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận để đưa những người bị đày đến ở lẫn với người Việt. Như thế đã mười ba năm. Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Ðà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ vương. Ðà bèn tự tôn làm “ Nam Việt Vũ đế”, đem quân đánh các ấp ở biên giới quận Trường Sa. Ðà nhân đó dùng uy lực uy hiếp biên giới, đem của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc mình. Ðất đai của Ðà chiều ngang có hơn vạn đặm, Ðà bèn đi xe mui lụa màu vàng, cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là chế”, chẳng kém gì Trung Quốc.” “Ðến thời Hiếu Cảnh, Ðà vẫn xưng thần, sai người vào chầu. Nhưng trong nước Nam Việt thì vẫn trộm xưng danh hiệu “đế” như cũ; còn khi sai sứ sang thiên tử thì xưng “vương”, triều kiến thỉnh mệnh như các chư hầu.” [4]

Triệu Ðà làm vua 70 năm (từ 207 đến 137 TCN), tiếp đó cháu chắt ông truyền 4 đời trị vì 27 năm nữa, đến năm 111 TCN nước Nam Việt vào tay nhà Hán. Nhà Triệu kéo dài được 97 năm.

Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Ðôn ghi: “Ðem số hộ khẩu chép ở sách Hán chí mà so thì nước ta được ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, hơn 20 huyện, đời Hán số hộ cộng là 143.743 nhà, số khẩu cộng là 981.827 người. Thông tính cả hai tỉnh ấy (Quảng Ðông, Quảng Tây) ở đời Hán số hộ chỉ là 71.805 nhà, khẩu chỉ là 389.672 người. Như thế nước ta ở đời Hán thì số hộ gấp đôi mà số khẩu gần gấp ba.” [5]

Như vậy, vào năm 220 TCN, nhà Tần chiếm đất của người Việt ở phía Nam sông Dương Tử, và đưa những tội nhân người Hán đến ở chung với người Việt để thực hiện ý đồ lấn đất. Do nhà Tần sụp đổ, thiên hạ đại loạn tạo cơ hội cho Triệu Ðà cát cứ. Tuy xưng vương ở Phiên Ngung nhưng số dân của Triệu ít. Trong khi đó ở phía Nam, nước Âu Lạc của An Dương vương khá mạnh, số dân gần gấp 3 số dân của Triệu. Bên cạnh Âu Lạc còn có các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc luôn tranh chấp. Nước Âu Lạc tuy lớn nhất trong khu vực nhưng cũng quá nhỏ so với nhà nước phương Bắc. Nếu nhà Tần không sụp đổ đúng thời điểm đó, có nhiều khả năng tằm ăn dâu, nhà Tần sẽ thôn tính đất Nam Việt. Một khả năng khác: trong cuộc chinh phạt Nam Việt trị tội Triệu Ðà xưng đế, nếu tướng Lâm Lư hầu thắng, nhà Hán chiếm Nam Việt ngay lúc đó, có phần chắc Nam Việt cũng bị đồng hóa như các dòng Bách Việt khác. Khả năng thứ ba: nếu Triệu Ðà theo nhà Hán, sau khi thôn tính Âu Lạc, sáp nhập Nam Việt vào Hán thì có phần chắc là Nam Việt bị xóa sổ trên bản đồ!

Nhìn vào thực tế nước Âu Lạc của Thục Phán, ta thấy, Tục Pắn (tên Việt của Thục Phán) là người Ba Thục thuộc nhóm Âu Việt trốn chạy nhà Tần đến nương nhờ Lạc Việt, đã chiếm ngôi của vua Hùng, lập nên Âu Lạc. Ban đầu Thục Phán bị xem là kẻ thoán đoạt cướp ngôi nên bị người Lạc Việt chống lại (sự tích xây Loa Thành bị đổ). Nhưng rồi sau do chính sách cai trị khôn ngoan, nhất là sau hai lần đánh thắng quân Tần, đã được nhân dân tín nhiệm. Về cuối đời do mất cảnh giác nên bị Triệu Ðà dùng mưu thôn tính. Ðúng là Triệu Ðà dùng thủ đoạn chiếm nước Âu Lạc nhưng ý nghĩa của sự kiện lịch sử này cần phải bàn. Thời đó, sự liên kết trong mỗi quốc gia còn lỏng lẻo và biên giới từng quốc gia chưa ổn định, đang trong xu hướng sáp nhập tập trung thành những quốc gia đủ mạnh để tồn tại. Việc thôn tính các nước Sở, Ngô, Việt… để thành nước Tần không phải hành động xâm lược mà là công lớn thống nhất đất nước. Tương tự vậy, việc Triệu Ðà chiếm Âu Lạc cũng không thể coi là cuộc xâm lược mà là hành động thống nhất những nhóm, những tiểu quốc người Việt lại thành một nước Việt lớn hơn, ngăn chặn hành động thôn tính của kẻ mạnh ở phương Bắc. Ðiều quan trọng là họ Triệu đã duy trì được nước Nam Việt thống nhất trong gần một thế kỷ, vừa xây dựng trong hòa bình vừa kiên cường chống ngoại xâm. Chính điều này đã tạo nên và củng cố tinh thần quốc gia của người Việt. Ðây là di sản quý báu nhất họ Triệu để lại cho người Việt. Chính gần một thế kỷ tồn tại của quốc gia Nam Việt giúp cho người Lạc Việt không bị người Hán đồng hóa và sau này có dịp lại vùng lên trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Nếu không có may mắn một trăm năm Nam Việt ấy, dám chắc người Hán sẽ diệt tiểu quốc của Triệu Ðà sau đó thôn tính Âu Lạc, tộc Lạc Việt đã bị mất hút trong lịch sử như những dòng Việt anh em khác!

Các sử gia như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên… đã nhìn nhận công bằng và Nguyễn Trãi đánh giá họ Triệu một cách chuẩn mực. Sử gia Ngô Thì Sĩ khi viết: “Triệu Ðà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả” đã tỏ ra bất cập. So với một quốc gia còn trong tình trạng nguyên thủy với những lạc hầu lạc tướng cai quản từng bộ lạc thì một quốc gia có quận huyện, biên số thổ địa là bước nhảy vọt về tổ chức hành chính, về khoa học quản lý xã hội. Còn nói “thu thuế má cung cấp ngọc bích cho nhà Hán” cũng không đúng. Suốt 70 năm Triệu Ðà làm vua, quan hệ Việt Hán khá lỏng lẻo. Biết Triệu xưng đế mà nhà Hán đành chịu, không những thế còn phải lấy lòng bằng cách giữ gìn mồ mả tổ tiên của Triệu, cho thân nhân Triệu làm quan (Sử ký). Trong mối quan hệ như vậy, cống phẩm của Triệu Ðà chỉ có nghĩa tượng trưng để xác nhận sự thần phục trên danh nghĩa nên không thể làm đầy túi tham của Lục Giả, không thể so sánh với việc cống người vàng thời Trần-Lê sau này. Rõ ràng, chứng lý đưa ra để kết tội Triệu Ðà là không thuyết phục. Nhưng vì sao Ngô Thì Sĩ lại có cái nhìn việc thiếu chuẩn mực như vậy? Chỉ có thể là, với tinh thần dân tộc hẹp hòi, ông không chịu một ông vua người Hán tộc! Trong lịch sử thế giới, một người nước này làm vua nước khác không hiếm. Ngay bên chúng ta, tới cuối thế kỷ XVIII, vua nước Xiêm là một người Trung Quốc tên là Trịnh Quốc Anh từng kéo quân sang đánh Hà Tiên. Còn với chúng ta thì đúng Triệu Ðà là người Hán nhưng dân Nam Việt lúc đó hầu hết là người Việt, vì vậy không thể phủ nhận việc ông là vị vua đầu tiên của nước Nam Việt, ông vua khai sáng của Việt Nam chúng ta. Mặt khác, vợ ông là Trình thị người Ðường Thâm Giao Chỉ nên con ông, Trọng Thủy ít nhất có nửa phần máu Việt, còn cháu ông là Triệu Hồ có một phần máu Việt, đến Anh Tề, phần máu Việt cao hơn. Họ Triệu chẳng những có công khai sáng Nam Việt mà ngày càng gắn bó bằng tâm hồn bằng máu huyết với Tổ quốc mới của mình!

Trong khi viết những dòng này, rất may mắn tôi tìm trên mạng một thông tin bổ ích:

Năm 1983, trong khi đào móng dựng nhà, người ta phát hiện được tại đồi Ngung thành Quảng Châu, kinh đô cũ Phiên Ngung thời Triệu lăng mộ của Nam Việt Triệu Văn vương Triệu Hồ. Năm 1988 Bảo tàng Nam Việt vương được xây dựng trên địa điểm đó, gồm có lăng mộ còn giữ một phần xương hàm nhà vua cùng khoảng 1000 hiện vật khác, trong đó có quả ấn Nam đế hành tỷ bằng vàng. Như vậy ở thời làm chủ Nam Việt, Triệu Văn vương vẫn xưng đế! Hiện vật này phủ nhận Sử Ký: khi lên thay Ðà, Hồ dấu ấn đế đi. Cũng phải nói rằng, dù có là nhà sử học vĩ đại thì Tư Mã Thiên vẫn là người kỳ thị chủng tộc. Không chỉ ở chi tiết trên mà còn ở cách gọi: dù viết thành liệt truyện thì ông vẫn gọi Triệu Ðà là Nam Việt úy Ðà. Một danh xưng không thỏa đáng: chức úy chỉ do Nhâm Ngao làm chiếu giả phong cho, còn chức huyện lệnh mới là danh chính ngôn thuận. Vậy tại sao lại dùng cái danh không chính này để gọi nhân vật lịch sử mà không dùng danh khác, nhất là danh vương, đế của một triều đại lừng lững kéo dài một trăm năm? Cũng một điều vô lý nữa: tên bảo tàng được gọi là Tây Hán Nam Việt vương mộ bác vật quán (!) Tại sao lại gán ghép vô lối vậy? Hai nhà nước hai cương thổ khác nhau sao lại gộp làm một? Một sự xuyên tạc trắng trợn lịch sử! [6]

Một câu hỏi cần phải trả lời gấp: Triệu Ðà ông là ai? Người Tàu không nhận ông là Tàu vì ông là Nam Việt hiệu úy. Còn với người Việt ông bị coi là giặc Tầu xâm lược! Vậy ông là ai?!

Ruột bỏ ra da ôm lấy từng là nỗi đau của bao người. Mồ cha không khóc lại khóc đống mối từng là bi kịch của không ít gia đình, dòng họ… Nhưng vì những lầm lẫn mà chối bỏ người sáng lập ra quốc gia, chối bỏ cả thời đại quan trọng trong lịch sử lại là nỗi đau nỗi nhục của cả một dân tộc! Ðã đến lúc vụ án Triệu Ðà -Trọng Thuỷ phải được tính lại.

Cội nguồn văn hoá

Trong khi trình bày vấn đề cội nguồn tổ tiên, tôi đã phần nào nói tới cội nguồn văn hóa. Ðấy là những nền văn hóa Sơn Vi, Hòa Bình, Bắc Sơn, Ðông Sơn… tổ tiên ta đã làm ra trên đất Việt Nam. Một vấn đề cần làm rõ: trong khoảng thời gian hàng vạn năm sống ở Trung Nguyên, người Việt đã sáng tạo ra những gì? Không làm ra những kỳ tích như Hòa Bình, Bắc Sơn nhưng những người Việt xa quê này không ngừng sáng tạo: thuần hóa gia súc, trồng lúa nước, làm ra đồ gốm, trong đó có cái chõ Tam biên (để đồ xôi) rất đặc trưng rồi đúc trống đồng, đúc Cửu đỉnh. Người Việt ở đây cũng kết thằng tức bện dây làm lưới đánh cá… Cùng với những văn hóa vật thể ấy, trong hàng vạn năm duy trì một xã hội nông nghiệp ổn định, người Việt phương Bắc cũng sáng tạo nên nền văn hóa phi vật thể phong phú. Ðó là những kinh nghiệm về thời tiết về cây trồng mà bà Nữ Oa là bậc thầy có tài đội đá vá trời (cách nói hình tượng của việc quan sát nắm vững thời tiết), những kinh nghiệm về đối xử với thiên nhiên, với hàng xóm láng giềng. Từ những vết chân chim in trên phù sa, cha ông ta làm ra chữ viết: chữ kết nút, chữ hình con nòng nọc (chữ Khoa đẩu), chữ hình ngọn lửa (Hỏa tự), dùng mu rùa bói toán… Hoài niệm về thời Nghiêu Thuấn mà có lúc chúng ta cười giễu các cụ say giấc mơ Tàu thì thực ra lại chính là hồi quang của lối sống Việt tận nguồn: thế giới đại đồng, con người hòa thuận với thiên nhiên, sống với nhau nhân ái, dân chủ.

Khi tràn xuống Trung Nguyên, người Hán du mục bắt gặp một cuộc sống mới cùng nền văn hóa mới. Khi kẻ xâm lấn tràn tới, thành phần quý tộc tinh hoa của các bộ tộc Việt bỏ chạy về Nam, một bộ phận bất hợp tác thì vào rừng lẩn trốn thành người thiểu số còn đại đa số dân Việt thích ứng với cuộc sống mới. Cuộc săn đuổi và trốn chạy diễn ra dài dài trong lịch sử, kể đến nhiều nghìn năm. Trong thời gian dằng dặc ấy, chữ Việt ban đầu được viết với bộ Mễ (lúa gạo – chỉ dân trồng lúa nước) bị kẻ chiến thắng đổi thành chữ Việt với bộ Tẩu (vượt – chỉ người Việt chạy vượt qua sông Dương Tử). Trong khi đó người Việt ở lại sống chung với quân xâm lược được gọi là Miêu. Do số dân quá ít, khi đối mặt với kẻ chiến bại đông đảo, kẻ chiến thắng Hán tộc đã áp dụng thái độ ứng xử khôn ngoan với tộc người Miêu này. Khác với người Aryen du mục khi chinh phục Ấn Ðộ đã áp chế người bản địa Dravidiens bằng chế độ nô lệ hà khắc để lại những di họa đến bây giờ, người du mục Hán tộc giữ vai trò lãnh đạo và chuyển sang làm thương nghiệp, công nghiệp còn để cho người Miêu Việt làm công việc nặng nhọc là trồng trọt, chăn nuôi và đi lính. Lúc đầu choáng ngợp trước cuộc sống sung túc và văn hóa khác lạ của dân nông nghiệp, người du mục không chú ý lắm đến các vị thần, đến tín ngưỡng bản địa. Nhưng rất nhanh chóng, cộng đồng dân cư bản địa quá đông đúc đã đồng hóa kẻ xâm lăng, cả về huyết thống cả về văn hóa. Giai cấp lãnh đạo Hán tộc từ bỏ vật tổ truyền thống là con cọp trắng để nhận vật tổ của người Miêu Việt là con rồng làm vật tổ của mình, nhận những ông vua thời Tam hoàng, không chỉ nhân vật chính thống Hoàng đế mà cả Phục Hy, Thần Nông làm tổ. Tiến một bước nữa, những trí thức Hán tộc kết hợp cùng trí thức Miêu Việt tiến hành ghi chép những điều hay lẽ phải trong cộng đồng nông nghiệp Việt tộc để chế tác kinh điển. Những kinh, thư đã ra đời như vậy. Trong Luận ngữ, Khổng tử nói: “Ngô thuật nhi bất trước” (Ta chỉ ghi lại mà không sáng tác). Ðó là lời trung thực, nói lên đúng thực chất những gì ngài đã làm. Kinh Thi bắt đầu từ sự sưu tầm ghi chép những câu ca tồn tại từ lâu trong dân gian. Về nguồn gốc Kinh Dịch, người ta thường nói truyền thuyết con long mã sông Hà dâng đồ, con rùa sông Lạc dâng thư nhưng thực ra đó là những kinh nghiệm bói toán đã có từ lâu trong cộng đồng Việt miền lúa nước sông Hà sông Lạc mà trí thức Hán tộc thâu lượm, nhuận sắc nâng cao lên… Rồi Kinh Lễ cũng là sưu tầm chọn lọc những điều lễ nghĩa trong thiên hạ người Việt… Việc này làm nên nền văn minh cổ Trung Hoa. Như vậy, trong văn hóa Trung Hoa, sự đóng góp của Việt tộc nông nghiệp là phần chủ đạo, phần hồn phần cốt. Nhìn về thực chất, bên trong nền văn minh được đóng gói dán nhãn Trung Quốc chế tạo ấy lại là sản phẩm của Việt tộc.

Ý tưởng về nhân tố Việt là chủ đạo trong văn hóa Trung Hoa hơn 30 năm trước đã được học giả Kim Ðịnh nhiệt tâm trình bày trong loạt sách Triết lý An Vi như Việt lý tố nguyên, Dịch kinh linh thể, Cơ cấu Việt Nho… của ông. Do lúc đó chưa biết con đường Bắc tiến của người Hòa Bình nên ông phải chứng minh khá vất vả về sự tồn tại của văn hóa Việt trên địa bàn Trung Nguyên. Khi bổ sung vào ý tưởng của ông phát kiến di truyền học hiện đại là con đường thiên di lên phía Bắc của người Việt cổ thì mọi chuyện trở nên hiển nhiên: người Việt phương Nam từng thiên cư lên, sống hàng vạn năm trên lưu vực Hoàng Hà thì cố nhiên họ là chủ nhân của những địa tầng văn hóa như Ngưỡng Thiều, Long Sơn hiện hữu nơi đó!

Những người Việt sống ở Trung Quốc làm nên phần cốt lõi của văn hóa Trung Hoa. Vậy còn người Việt tại miền Ngũ Lĩnh, Giao Chỉ để lại thành tựu riêng gì? Các sách cổ Trung Quốc như Giao Châu ký, Ngô lục địa lý chí, Nam phương thảo mộc trạng… đều ghi chép: “Dân Lạc Việt trồng lúa mà ăn, dùng lá trà làm thức uống.” “Họ biết uống nước bằng lỗ mũi” “Nuôi tằm mà dệt vải” “Dùng đất sét đào sâu trong đất, thái mỏng, phơi khô làm thức ăn quý để đi hỏi vợ” “Dùng đá màu làm men gốm” “Dùng mu rùa mà bói việc tương lai” “Họ dùng một khúc tre dài chừng hơn một thước, một đầu có trụ cao làm tay cầm, có dây buộc vào trụ nối lại đàng kia làm đàn gọi là độc huyền cầm” “Họ đem tính tình các con vật mà so sánh với người, rồi họ truyền tụng rằng, ngày thứ nhất trời sinh con chuột, ngày thứ hai sinh con trâu, ngày thứ ba sinh con cọp (truyện thần thoại của người Dao, gốc tích của 12 con giáp). Họ biết tìm hiểu các thức ăn nóng mát (thuyết âm dương) để trị bệnh, dùng kim đâm vào da thịt lấy máu để trị bệnh, lấy đá hơ nóng áp vào da thịt để trị bệnh.” Khi một môn đệ đi đến đất Việt, xin Ðức Khổng tử chỉ dạy, Ngài nói: “Người Bách Việt miền Nam có lối sống, tiếng nói, phong tục, tập quán, thức ăn uống riêng”; “dân Bách Việt chuyên làm ruộng lúa mà ăn, không như chúng ta trồng kê và lúa mì. Họ uống nước bằng thứ lá cây hái trong rừng gọi là trà.” Sách Hậu Hán thư quyển 14 viết “Dân Giao Chỉ biết nhiều nghề thủ công, luyện đúc đồng và sắt…” Sách Cổ kim đồ thư chép: “Mã Viện tâu vua, Giao Chỉ ép mía làm đường phèn: Giao Chỉ có cây mía ngọt. Ðem ép lấy nước rồi làm đường phèn.” “Giao chỉ làm giấy mật hương: bằng lá và vỏ cây mật hương (cây dó) trồng ở Giao Chỉ, giấy mềm, dai, thơm, ngâm nước không bở không nát.” [7]

Chúng ta biết, người Hán có gốc từ Mông Cổ du mục nên nhà làm theo hình tròn gọi là lều. Trong khi đó người Việt làm nhà sàn hình chữ nhật bằng tranh tre, có mái cong mà mô hình còn thấy trong mộ táng thuộc Văn hóa Ðông Sơn 2000 năm TCN. Khi định cư ở Trung Nguyên, dân Hán đã theo mô thức nhà của người Việt.

Khi tìm thấy một số gạch có hoa văn, nhiều học giả Pháp cho đó là hàng nhập về để lát bàn thờ nhưng thực ra đó là gạch lát nền nhà của người Việt thời Lý Trần tìm thấy tại nhà của Hưng Ðạo vương ở Vạn Kiếp và nay càng thấy nhiều trong khi khai quật Hoàng thành Thăng Long. Một thí dụ khá khôi hài là hơn 50 năm trước, khi Bảo tàng Istambul Thổ Nhĩ Kỳ trưng bày chiếc bình gốm Hoa Lam cổ (được bảo hiểm 1.000.000 USD) người Tàu và người Nhật đến xem có phải của họ không. Nhưng khi thấy ghi trên bình Thái Hòa bát niên… Bùi Thị Hi bút (niên hiệu Lê Thánh tông) người Tàu bèn nói: “Của một ông thầy Tàu qua rồi làm chơi” (!) Ðến khi phát hiện ra lò gốm men lam Chu Ðậu (Hải Dương) thế kỷ XV với rất nhiều hiện vật thì các “thầy” đành chào… thua một người đàn bà Việt Nam!

Từ nhận thức trên, có thể rút ra hai kết luận:

Ít nhất từ 30.000 năm TCN, sau thời kỳ băng hà, người Bách Việt là chủ nhân miền đất ngày nay có tên là Trung Quốc. Cùng với việc biến cải nơi đây thành vùng nông nghiệp lúa nước, người Bách Việt đã xây dựng nền văn hóa vật thể và phi vật thể độc đáo.

Nếu văn hóa Việt ở Trung Nguyên đạt được những thành tựu như vậy thì điều chắc chắn là văn hóa Việt tộc ở đất tổ, ở nơi gốc phát tích sẽ rực rỡ hơn. Cho dù bị hủy hoại không ít trong thời kỳ Bắc thuộc, nhất là ảnh hưởng suy đồi của Hán Nho, Tống Nho nhưng do sức sống nội tại, văn hóa tận nguồn đó vẫn được người dân Việt lưu giữ bảo tồn. Vấn đề của chúng ta là chọn lọc giữa những yếu tố lai tạp để tìm ra tinh hoa văn hóa cội nguồn của dân tộc. Trong việc này, tinh thần Việt nho giúp chúng ta như một định hướng.

Tới đây, một vấn đề cần làm rõ là đánh giá vai trò người Hán đối với sự phát triển của khu vực.

Vượt sông Hoàng Hà xuống phía Nam, tiếp thu mảnh đất rộng mênh mông, phì nhiêu với cư dân đông đúc và nông nghiệp, đồ đá đồ đồng phát triển, Hán tộc trong vai trò lãnh đạo đã thực thi một chính sách khôn ngoan là nương theo nền nếp của người Việt, tổ chức xã hội cộng đồng dân chủ mà sau này lịch sử gọi là thời hoàng kim. Ðặc điểm cơ bản của thời kỳ này là con người sống thân ái với nhau và hài hòa với thiên nhiên. Do nghề nông phát triển, lương thực dồi dào, xã hội có sự phân công ra nhiều ngành nghề khác nhau: nông, công, thương. Sau đó tầng lớp sĩ ra đời và ngày càng có vai trò lớn hơn trong xã hội. Chữ viết Hỏa tự, chữ Khoa đẩu của người Việt dần được thay thế và chữ vuông tượng hình ra đời. Từ đây, những kinh nghiệm trong dân gian được tổng kết thành kinh điển, trước hết là Kinh Thi rồi Kinh Dịch… Sự việc như vậy diễn ra trong vòng 1500 năm TCN. Trên cở văn hóa Việt bản địa, người Hán đã bổ sung vào đó tinh túy của Hán tộc để đưa văn minh Trung Quốc lên thời kỳ phát triển rực rỡ. Văn hóa Trung Hoa là đứa con lai tốt đẹp giữa văn hóa Việt nông nghiệp và Hán du mục. Học giả W. G. Solheim II đã nhận xét:

“Ðông Nam Á còn tiếp tục là một khu vực tiên tiến ở Viễn Ðông cho đến khi Trung Quốc thay thế xung lực này vào nửa đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, tức khoảng 1500 năm TCN.” (bđd).

Theo tôi, đấy là nhận xét thỏa đáng.

Chúng ta, người Lạc Việt, chủng người Bách Việt duy nhất do sự may mắn của số phận thoát khỏi qúa trình Hán hóa, có được cương thổ riêng, giữ được tiếng nói và huyết thống riêng. Trong khi tự hào về những thành tựu vĩ đại của tổ tiên trong quá khứ thì chúng ta cũng cảm ơn người Hán biết tôn trọng văn hóa của Bách Việt bản địa đồng thờ phát triển lên tầm cao mới. Nhờ đó nhiều yếu tố Việt của văn hóa tiền sử được bảo tồn, nâng cao, là thành quả văn hóa mà hai dân tộc chung hưởng hôm nay.

Biết được cội nguồn tổ tiên và cội nguồn văn hóa, chúng ta nắm được chiếc chìa khóa thần giải đáp rất nhiều vấn đề văn hóa nhân sinh từng làm đau đầu nhiều thế hệ Việt. Do thời gian quá lâu, người Việt không thể nhớ tổ gốc cũng như đất gốc phát tích của mình là Bắc Bộ Việt Nam mà chỉ có thể nhớ trong hoài niệm vị tổ xa là Toại Nhân làm ra lửa, sau đó là Phục Hy, Thần Nông và núi Thái sông Nguồn trở thành hoài niệm ám ảnh trong tâm linh những thế hệ Việt chạy về Nam… Cũng vậy, ta cắt nghĩa vì sao trên đất nước ta lại có nhiều địa danh “Tàu”? Chính bởi vì khi khai phá lưu vực Hoàng Hà, cha ông chúng ta đã đặt cho đất ấy những tên như Hà Ðông, Hà Tây, Hà Nam, Hà Nội… Khi trở về Nam, các vị nhớ tới đất cũ mà đặt tên cho những nơi vừa khai phá. Không phải vay mượn mà cha ông ta lấy lại bản quyền của mình. Không chỉ thế, đó còn là tình cảm là tâm linh tưởng nhớ cội nguồn! Cũng từ cái chìa khóa thần ấy, ta dễ dàng giải thích vì sao người Việt luôn chống Tàu nhưng lại học hỏi và tôn trọng văn hóa Trung Hoa? Bởi lẽ cha ông ta minh triết: biết phân biệt giặc Tàu xâm lược với “văn hóa Tàu” vốn là văn hóa gốc của mình!

Một cách ứng xử văn hoá

Sau hàng ngàn năm lội ngược thời gian tìm cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hóa dân tộc, có lẽ hôm nay nhờ thành tựu mới của khoa học nhân loại, chúng ta đã có lời đáp rõ ràng, thuyết phục. Với nhận thức mới về nguồn cội thiết tưởng chúng ta cần có lối ứng xử văn hóa mới:

Chúng ta có quyền tự hào chính đáng về tổ tiên đã làm nên những nền văn hóa rực rỡ trên đất Việt. Tổ tiên ta cũng là chủ nhân ông thứ nhất khai phá đất nước Trung Hoa và sáng tạo nên văn minh Việt tộc trên vùng đất mênh mông này. Người Việt có chủ quyền chính đáng với nền văn minh gốc Việt ấy.

Về mặt huyết thống, từ bản đồ gene con người, chúng ta thấy mình càng gần gũi với các tộc người anh em sống trên đất nước. Không chỉ cùng tổ tiên với người Kinh mà các tộc người anh em lại là hậu duệ của tổ tiên bám trụ lâu dài trên đất nước và sáng tạo những nền văn hóa mà hôm nay chúng ta tự hào. Ðối với các tộc người anh em chúng ta cần một thái độ biết ơn và trân trọng. Ðối với người Hán trên lục địa Trung Hoa, ta thấy họ cũng là bà con của ta vì trong mỗi người ít nhiều đều có một phần dòng máu của tổ tiên ta từ thuở xa xưa.

Hàng ngàn năm bên cạnh một cường quốc khổng lồ với nền văn hóa vĩ đại, cha ông ta luôn mang mặc cảm một quốc gia nhược tiểu, một dân tộc không có văn hóa gốc. Với nhận thức mới về nguồn cội, chúng ta tự giải phóng khỏi sự cầm tù của mặc cảm truyền kiếp đó, lấy lại niềm tự hào chính đáng: Dân tộc Lạc Việt là người duy nhất trong hệ Bách Việt còn tồn tại và kế tục sự nghiệp của một tổ tiên vĩ đại. Chính tổ tiên ta là người chủ đạo sáng tạo nên nền văn hóa rực rỡ mang tên văn minh Trung Hoa. Với nhận thức mới về cội nguồn, chúng ta mạnh dạn nhận lại văn minh Trung Hoa là của mình. Ðấy là của chung mà ông bà ít nhất có phần hùn 51%. Việc sử dụng văn minh Trung Hoa trước đây vẫn bị coi là vọng ngoại là vay mượn thì từ nay ta sử dụng với tư cách chủ nhân có tác quyền hợp pháp.

Từ nhận thức về cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hóa, chúng ta xác định bản sắc văn hóa Việt nam: là truyền thống sống hòa đồng với thiên nhiên, tương thân tương ái với đồng loại, là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín… Có nghĩa là những yếu tố tốt đẹp nhất của Nho giáo- phần tinh hoa của văn hóa Việt tộc được tổng kết trong những kinh điển Nho giáo thời kỳ đầu. Học giả Kim Ðịnh gọi phần văn hóa Việt tộc này là Việt nho. Tôi cho rằng đó là tên gọi xác đáng cần được tiếp thu. Việt nho là văn hóa Việt khi chưa bị tầng lớp thống trị Hán tộc làm cho tha hóa trở thành Hán nho và Tống nho – công cụ đàn áp nhân dân, thủ tiêu dân chủ. Trong khi Nho giáo Trung Hoa bị suy đồi thì những yếu tố Việt nho vẫn tồn tại trong cộng đồng người Việt Nam như một truyền thống văn hóa tốt đẹp. Ðáng tiếc là do nhận thức chưa đúng về nguồn cội nên chúng ta ngộ nhận cho tất cả đều là của Tàu nên chối bỏ. Cần khẳng định đó là văn hóa đặc hữu của người Việt và lấy làm tiêu chí để gạn bỏ yếu tố Hán và Tống nho bị xảm vào văn hóa Việt do chủ trương đồng hóa của kẻ xâm lược phương Bắc.

Cho dù hôm nay đang đối mặt với những khó khăn chồng chất nhưng từ cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hóa chúng ta có lý do để tin tưởng rằng dân tộc ta sẽ có một tương lai xán lạn. Việc của chúng ta là mỗi người trong khả năng của mình ngay từ bây giờ ra sức xây dựng tương lai đó!

Tôi hình dung ra, có thể cái tương lai phía trước chúng ta chính là thời Nghiêu Thuấn: con người thân thiện với thiên nhiên, sống với nhau hòa đồng thân ái, dân chủ, trên cơ sở nhân, nghĩa, lễ, trí, tín… Phải chăng chính đó là lý tưởng phương Ðông mà phương Tây đương tìm đến?



HVT, cuối năm Giáp Thân © 2005 talawas

Lời cảm ơn: Người viết chân thành cảm ơn các tác giả có sách tham khảo trong bài viết này. Ðặc biệt cảm ơn những tác giả người Việt ở nước ngoài: Ts Nguyễn Thị Thanh, GsTs. Nguyễn Văn Tuấn, các ông Cung Ðình Thanh, Nguyễn Ðức Hiệp, Nguyễn Quang Trọng. Ông Hoài Thanh báo Đại chúng đã cung cấp những tài liệu quý. Cảm ơn bạn tôi, Ðỗ Thái Nguyên và Gs Ranjan Deka gửi cho tư liệu mới nhất. Chính trí tuệ và thịnh tình của các vị đã soi sáng và động viên tôi hoàn thành bài viết. Một lần nữa xin chân thành cảm ơn.

Hà Văn Thùy

THAM KHẢO

[1] Kim Ðịnh: Sđd, tr. 62-63

[2] Ðại Việt sử ký toàn thư.

[3] Ngô Thì Sỹ: Việt sử tiêu án. Văn sử tái bản năn 1991. Bản điện tử Lê Bắc, tr 10.

[4] Sử ký Tư Mã Thiên, Nxb Văn học H.1988, tr.743.

[5] Phủ Biên tạp lục, Nxb KHXH. H. 1977 tr. 31

[6] Trương Quang-Daichung.com- Connecticut 4/2003

[7] Nguyễn Thị Thanh, Bđd.

Gửi một bạn trẻ muốn sống như Tráng Sinh Hướng Đạo Bốn Phương

,

Nhân dịp Tráng Đoàn Nguyễn Trường Tộ có thêm những anh chị em Hướng Đạo Sinh mới, mình trích lại bài viết này như một lời nhắn gửi đến các anh chị em. Chúc các anh chị em vững tiến!!!

DCC Cung Giũ Nguyên
Đà Lạt, những ngày 24, 25, 26 tháng 5, năm 1999
(Vì tác giả là người Công giáo, nên một số ít dẫn chứng có thể xa lạ với các bạn không Công giáo. Dù gì thì tinh thần bài viết này cũng rất bổ ích cho các bạn Tráng sinh, không phân biệt tôn giáo, vì được đúc kết từ một Trưởng lão thành của ngành Tráng)

1 - Nếu anh đã quyết tâm, theo ý nguyện riêng, chẳng phải vì ai xui dục, mua chuộc, hay bắt buộc, từ đây sống như một Tráng Sinh Hướng Đạo Bốn Phương (B.P.), anh phải xa lánh khá nhiều điều, như một Kitô hữu bỏ tất cả để theo tiếng gọi cứu rỗi. Có thứ anh cũng như nhiều người nghĩ là không có không được, vì xã hội ngày nay có những trò quỷ quyệt khiến cho ta dễ lầm thực với hư, đúng với sai, ích lợi và vô ích, hào nhoáng và thực chất, tương đối với tuyệt đối, Thượng Đế với Ma Quỷ. Chẳng khác gì một tín hữu chân chính của Kitô, anh sẽ lãnh nhận và mang nơi mình dấu hiệu “mâu thuẫn”. Anh cố gắng không sống theo lối sống của phần đông những người trong thế gian, bởi vì anh không phải là của thế gian, thứ thế gian như anh được thấy và phải chung đụng. Những sách gối đầu của người Kitô hữu đã nói đến điều này cho những ai biết đọc hay biết nghe.

1 - Phong trào Hướng Đạo tìm nơi anh những thị hiếu, thấy nơi anh những nét hấp dẫn mà anh, xuyên qua những khuynh hướng của thế hệ anh, dựa nơi điều gì anh yêu thích biến thành sự năng động của anh. Phong trào Hướng Đạo ao ước đưa những người trẻ và có thiện chí như anh sống một đời cao đẹp hơn anh hiện có, hay nói một cách khác, đem đến cho anh một chút hạnh phúc nào đó, mà anh thường nghĩ chỉ có được khi có tiền của, có danh vọng mà thế gian với bao nhiêu phủ phàng có thể đem lại cho anh. Người Tráng Sinh thuộc một phong trào mà khi nhắc đến tên, người ta thường nghĩ đến những dòng chữ, đúng hơn là những lý tưởng, như nghị lực, can đảm, ý chí, trung hậu, đơn giản, vui tươi, (tình) huynh đệ, (tình) thân hữu, tận tâm, giúp ích, thanh khiết, khiêm nhường. Chúng ta biết những đức tánh cao quý ấy mà đời thường xem nhẹ, xem như là những sáo ngữ chẳng làm ra lợi lộc gì, những đức tính ấy không phải là thứ tự nhiên, thứ đương nhiên, mà ai ai cũng có cũng dễ có cũng chẳng phải là những thứ mà ai ai cũng ưa chuộng, và tôn trọng. Cái nghịch đời của Tráng Sinh Hướng Đạo đã bắt đầu từ đó.

* - Hướng Đạo Sinh phải gắn bó với tất cả những gì có thể tiếp nhận, nhưng yếu tính của phong trào không phải khuyến khích các trẻ cũng “sủa với chó", “tru với heo” hay “hùa với Bandar-Log”, mà ngược lại - và dấu mâu thuẫn là nơi đây - khuyên Hướng đạo sinh phải quay lưng với cái tầm thường, với cái hèn hạ, phải cố gắng, chính trong thế giới nầy của chúng ta, bảo vệ và thăng tiến một số giá trị căn bản của con người, để xây dựng cho kỳ được hạnh phúc mong muốn.

* - Có thể nói, và điều nầy sẽ được đôi người hấp tấp cho là đúng theo nghĩa chính trị và bè phái của họ, phong trào Hướng Đạo là một lực “phản động” (réactionnaire), những từ phản động phải được hiểu theo nghĩa tốt nhất của nó, như phản ứng, phản lực. Hướng Đạo đi ngược thiên hạ, trèo lên những dốc hơn là để cho tụt xuống, tụt xuống vì trọng lượng của bản thân, tụt xuống vì có người xô đẩy, hay tụt xuống vì thấy đa số làm như vậy, hay tụt xuống vì nghĩ là có thể kiếm chác gì dưới đó.

* -Tráng Sinh Hướng Đạo muốn có một lối sống tự nhiên, nghịch với lối sống giả tạo, phù phiếm, chú trọng đến bao bì , vỏ bọc, đủ màu sắc, loè loẹt, phĩnh phờ, có vẽ sang trọng nhưng kỳ thật chẳng phải thế. Tráng Sinh vui vẻ sống trong một cảnh với ít nhiều khắc khổ , sống thảnh thơi nhưng năng động, khác hẵn với lối sống thụ động, đợi chờ, an phận, thường được lầm với thái độ ngoan đạo, biết điều, kỷ luật hay cho đó là lối sống phong lưu, trưởng giả . Người Tráng Sinh Hướng Đạo thường sống trong, và cho, những cộng đồng có cơ cấu vững chắc, có tình thương làm thứ sơn keo kết hợp, khác hẳn với những thứ đoàn thể, tập thể đông đảo, ồn ào, nhưng không có linh hồn. Tráng Sinh sống cho công ích không phải cho tư lợi, sống không phải cho cá nhân ích kỷ, mà sống cho nhân vị hoàn chỉnh, vị tha.

*- Anh hãy tưởng tượng, nếu sau nầy, với vài ba mươi năm tuổi nữa, anh có thể nhớ lại thời thanh xuân của anh bây giờ,... anh có phải hối tiếc không, là đã phí mất thì giờ nô đùa với những người bị gậy phải gọi là anh em, hay anh sẽ xem đó là những năm đẹp nhất mà anh đã cứu vớt được trong một cuộc đời dài, đầy nhiều vô vị , tầm thường, có khi có thể là nhu nhược và hèn hạ ; anh đã sống được, nếu không muốn nói năm, thì sống được, nhiều ngày vui sướng trong các cách ngây thơ, sống ngoài trời, gần gũi với thiên nhiên, với những người bạn chân tình và thâm tình, đã chia xẻ với nhau ngọt bùi, như thể anh em ruột thiït, những ngày mà mình thích cố gắng mà chẳng tiếc công, vượt lên những khó khăn, nhỏ lớn, xem đấy là những thử thách của một trò chơi không ngừng mà phần thưởng duy nhất là vui sướng và sự tự hào đã làm được những điều như thế. Tráng Sinh có lối sống lịch sự nhã nhặn, vì kín đáo chẳng cần khoe khoang với ai về những gì mình làm được, chẳng cần phải lên tiếng cao rao, vì biết không phải chỉ có ta trên đời nầy, mới làm tròn nghề nghiệp làm người của mình , có đôi chút thành công, nghĩa là đôi chút hạnh phúc.

* - Tráng Sinh là người ra khỏi nhà, không phải để đi phiêu lưu đến đâu thì đến, tùy theo cám dỗ và rơi xuống bùn lầy, hay lạc lối trở lại vạn lần từ chốn đã khởi hành. Tráng Sinh ra khỏi nhà là đã quên mình, để có thể đi về phía “mà Chúa sẽ chỉ cho” Tráng Sinh không đặt “cái ta” ra trước mình để chỉ còn thấy bóng của chính mình, không còn thấy con đường sáng, không còn thấy ai nữa, nhất là chẳng thấy con đường mình phải đi, đúng phương hướng, về phía ánh sáng mình muốn có để soi sáng mình, về phía đích, phải là đích ưu việt, mà, với sư soi sáng của Chúa, mình đã ý thức và mơ ước đến. Tráng Sinh không nhắm mắt đi liều , hay theo lời quyến rủ của những tiên tri giả, chó sói đội lốt cừu. để phải rơi vào hố bùn lầy, để rồi phải chuốc lấy một vạn ăn năn và hối tiếc.

*- Tráng Sinh, lúc đầu có thể cùng với một bảo huynh, trong những lúc đầu Tráng Sinh đang còn ngở ngàng, xem chưa được đúng la bàn hay địa đồ, nhưng rồi, Tráng Sinh chấp nhận thân phận của mình, của con người, thân phận cô đơn và độc đáo của một con người, và đi một mình trên con đường mình phải đi.

* - Đi để có kinh nghiệm về đời, kinh nghiệm về thế giới vật lý, cái cứng rắn của đá sỏi làm đau chân trần, sự phĩnh gạt của những đầm lầy, hay nhân từ của tàn cây lớn che người lữ hành khỏi ánh nắng giữa trưa hay thấm ướt của trận mưa rào, kinh nghiệm về thế giới cảm giác, những nhìn sai lầm vì ảo ảnh hay vì chính dốt nát của mình, kinh nghiệm về thế giới con người, thế giơi của lắm hạng người, gặp trên đường đi, xấu có, tốt có; kinh nghiệm về chính mình, trước những khó khăn, thử thách, ước lượng tài sức của mình, trên những dặm đường...

*- Khởi hành, lên đường, để làm gì? Để tìm được chủ yếu của đời, là để cho cái ta chết đi - có chết mới sống lại dược. Con người cũ kỷ, con người hôm qua, trước khi Tráng Sinh tuyên lại lời hứa phải mất đi, để dành chỗ con người bên trong, con người bên trong trung thực và đích thực sẽ sống và lớn lên, mỗi ngày cao hơn, vững mạnh hơn, nhờ sự hướng dẫn của lương tâm trong sạch, nhờ sự giúp đỡ trực tiếp và gián tiếp của những thầy, bạn, thân thuộc, thành thật và trong tinh thần vô vụ lợi, luôn luôn cầu mong và giúp đỡ mình thành công, nghĩa là có được hạnh phúc.

* - Luật Hướng Đạo là phương tiện giúp Tráng Sinh Hướng Đạo nhớ hằng ngày những ràng buộc của mình. Luật ấy không còn là thứ áp đặt, Tráng Sinh được tự do chấp nhận hay không. Khi xin vào đoàn, Tráng Sinh đã chấp nhận ba nguyên tắc chủ yếu
Trời cũng là bạn của mình
Những người khác là anh em mình
Mình đáng được mọi người tin cậy.

Rồi Tráng Sinh sẽ khám phá ra luật Hướng Đạo như là của mình, như là một kiểu sống đáng có, một thứ cần thiết. Những người đi trước đã có chương trình tu thân, có những dự định lớn của họ, anh , một người muốn trở nên Tráng Sinh như họ, lại phải khởi đầu từ số không, hoạch định chương trình cùa chính anh, lập những dự định lớn của chính anh, với những phương tiện của anh , một Tráng Sinh.

* - Khi anh sinh hoạt cùng với nhóm, toán, hay đoàn, anh sẽ tìm ra thêm những luật của trò chơi. Ví dụ để thực hiện một công trình chung, sự có mặt đúng giờ tại chỗ là cần thiết. Những dụng cụ đem ra dùng phải được giữ gìn, đừng để cho hư hỏng, vì hư hỏng, công việc sẽ không thành. Đừng bỏ dở công việc vì một cớ tuế toái nào đó, đóng một cái đinh không sát là một lỗi lầm lớn. Luật không nói đến những ràng buộc. Một máy điện là quan trọng, một chút dây chì có nghĩa lý gì đối với máy điện. Nhưng một khúc dây chì cũng làm cho ta có hay không có điện. Những người lãng mạn hay những anh hùng rơm chỉ muốn làm những việc cứu thế mà không hạ mình làm những việc ích tuế toái. Tráng Sinh Hướng Đạo khiêm tốn hơn, lượng sức mình, và chú trọng đến việc ích lợi nhỏ. Người Tráng Sinh tìm tuyệt đối, (nói tìm không nói thay thế) trong tương đối, đặt danh dự mình trong công việc nhỏ nhặt, thường ngày. Bao nhiêu việc nhò bé ấy gồm lại mới làm thành công trình lớn. Người ta thường dạy, nói đến khoa học là khoa học của những chi tiết. Nói về đạo lý, hay là về đời sống đạo đức và đẹp đẻ, cũng chỉ có trong những hành vi nhỏ nhặt, những chi tiết có thể không được thấy, nhưng cũng là thành phần cơ bản của một cuộc sống gọi là đạo lý hay tươi đẹp. Đừng khinh thường việc nhỏ, cũng như đừng với những mộng to tát mà chẳng bao giờ thực hiện được. Đừng lầm trò chơi Hướng Đạo là một trò chơi trong thực tại, với những xã hội không tưởng, mà trong đó những khẩu hiệu ma thuật đã thay thế vĩnh viển thực tại đáng được thực hiện.

* - Tuỳ theo khả năng, tánh tình, tráng sinh, ngoài việc theo chánh đạo còn có thể tìm một người để bắt chước những tráng sĩ, anh hùng, danh nhân, người tốt. Thiếu gì người anh có thể khâm phục và dùng làm gương mẫu, để xây dựng cuộc đời của mình một cách tương tự, và không bao giờ ngã lòng vì biết chắc người mình muốn nối gót đã không thất bại - không nói thất bại ở trần thế mà thất bại dưới con mắt của Thượng Đế. Như vậy anh đã tìm ra cách thăng hóa luật Hướng Đạo được vạch ra cho những người trẻ hơn anh. Khâm phục là khâm phục một nhân vị, hay ít ra là đề cao một hình thức đời sống, vượt lên việc gắn bó với một luật lệ. Chiêm ngưỡng một con người cao cả, đáng quý, về mặt nầy mặt khác là chấp nhận hướng thượng, là chấp nhận cố gắng sống khá hơn nữa, và cố gắng mãi sốt cuộc đời vì đường đề thăng tiến không cùng.

* - Tráng Sinh Hướng Đạo có chương trình tu thân, nhưng Tráng Sinh không phải chi lo cho mình. Tu thân là việc cơ bản, đó là thực hiện cho đầy đủ nhân cách của mình, và từ đó mới có quyết tâm hướng về người khác, có tinh thần giúp ích cho bất cứ ai cần mình, và muốn thế phải lo bồi dưỡng kỹ năng, tài năng, để việc giúp ích của mình là điều có thật. Tráng Sinh Hướng Đạo là người ta tin tường, trước tiên là tin tưởng nơi lời nói, vì Tráng Sinh học sống theo lối người quân tử, hay đã tiếp nhận chân lý của “lời nhập thể”, sau đó người ta tin tưởng nơi Tráng Sinh về một điểm cụ thể, một phạm vi nhất định nào đo. Nếu Tráng Sinh là thợ mộc, thợ nề, người ta vững tâm khi nhờ hay thuê mướn anh ấy xây bức tường hay đóng bàn ghế. Nếu anh ấy làm nghề nào khác, tay chân hay trí óc, bất luận, người ta tin chắc, trong nghề nghiệp , anh ấy là người phải có, không những kỷ năng cần thiết, mà còn lương tâm nghề nghiệp cao, Vậy anh, hởi người bạn trẻ, muốn sống như tráng sinh, anh đã, hay sẽ, làm gì để qua nghề nghiệp, anh không những có phương kế sinh nhai, mà có cơ hội giúp đời một cách thiết thực? Hay anh chỉ là người tu hành. Vậy mong cho anh tu cho chín, và giúp ích cho những người không may mắn như anh, quá nhiều tội lỗi, thấy đức hạnh của anh mà biết thẹn, hay nhờ nơi đức hạnh của anh làm gương, mà biết được con đường ngay để đi. Điều quan trọng, là cái gì phải ra cái đó. Bánh mì là bánh mì. Không thể nói tôi là bánh mì khi tôi chỉ là một thứ bánh bột thổi phồng, có mùi chua, và ăn vào có thể bị ngộ độc.

* - Đã là tráng sinh, anh không phải sinh hoạt một mình. Anh phải dựa vào một toán, một đoàn, thuộc một phong trào rộng lớn. Các Tráng Sinh là một “đám huynh đệ giúp ích”. Anh cũng có thể giúp ích xã hội một cách riêng rẻ, hay trong một đoàn thể, một nghiệp đoàn. Điều đó là hiển nhiên. Nhưng nếu bạn trẻ muốn sống như tráng sinh, hay trở nên tráng sinh, có thể là vì thấy thích hợp với tánh tình hay ý nghĩ của mình. Có lẽ anh bạn trẻ cũng cần nên tìm hiểu nguyên lý và mục tiêu của đoàn thể ấy trước khi xin gia nhập, để tránh khỏi thất vọng và hối hận về một chọn lựa hay quyết định thất lợi hay có phần tai hại.

* - Bạn cũng phải nghĩ phong trào Hướng Đạo làm thành một xã hội đóng kín, và rồi cũng như những cá nhân “đóng cửa không ra khỏi nhà” sẽ mắc bệnh tự mãn, tự kiêu, xem mình là hơn người khác, chỉ có phong trào mình mới là thế nầy thế nọ, tôi van anh đừng nghĩ lầm như vậy. Tráng Sinh ra khỏi nhà là để đi đến với người khác, những người khác. Hướng Đạo là một đoàn thể mở cửa cho tất cả mọi trẻ, bất luận màu sắc, quốc tích, tôn giáo, miễn là những trẻ muốn gia nhập chấp nhận trọn vẹn những nguyên lý của Hướng Đạo Bốn Phương, tôi muốn nói Hướng Đạo B.P. theo người sáng lập. Việc hướng về những trẻ khác, là điều bâng khuâng của những Hướng Đạo Sinh, nhất là của những trưởng có trách nhiệm gìn giữ và khuếch trương phong trào. Có điều là phong trào Hướng đạo, nhiều sách vở cổ điển nhắc đi nhắc lại , không phải, và chẳng bao giờ trở thành một phong trào quần chúng, tuy vẫn tự xem có trách nhiệm về tất cả thế hệ tuổi trẻ gần xa. Vậy dưới mắt thế hệ trẻ, phong trào Hướng Đạo nói lên cái gì?

* - Câu hỏi Hướng Đạo đặt ra là gì? Hướng Đạo bảo vệ và là chứng tá cho kiểu sống nào? Nói tóm lại, Hướng Đạo đưa dấu hiệu nào cho thế hệ trẻ? Nếu chức năng của một phong trào thanh niên là phát hiện ra và diễn tả những giá trị của thế hệ trẻ, đề nghị những trục để đi tới, những cố gắng nào, những huyền thoại nào, miễn là thứ huyền thoại không phải là thứ bịp bợm, giúp cho trẻ sống, củng cố và tăng cường những giá trị ấy, phong trào thanh niên đó sẽ đưa trước tiên cho trẻ một dấu hiệu mâu thuẩn như chúng ta đã nói lúc đầu.
Kiểu sống của phong trào phải được trẻ thích, gây thiện cảm, dù cho trẻ không gia nhập phong trào. Điều nầy, trên thực tế đã được nhận thấy, không thiếu gì người không vào Hướng Đạo, không cho con cháu gia nhập Hướng đạo, nhưng công khai nhìn nhận Hướng Đạo là tốt và có ích. Những ràng buộc của phong trào Hướng Đạo được hiểu rõ ràng, dù cho người ta không theo những ràng buộc ấy. Đối với chúng ta, ở nơi nầy, ở thời buổi nầy, kiểu sống Hướng Đạo là gì?

* - Trước tiên là một lối sống trẻ. Điều đó thích hợp với phong tục của xã hội ta ngày nay. Thương mãi, công nghệ, luôn luôn hướng về trẻ. Từ ăn mặc, đến việc chải tóc, đến những giải trí, những nhà buôn bán kinh doanh hướng về đám khách hàng ấy, và còn lôi cuốn vì, hay nhờ quảng cáo, hay vì lây lan và bắt chước tất yếu, những thế hệ đã đứng tuổi cũng cố sửa lại năm sinh của mình bằng lối ăn mặc, nói năng , nhảy nhót cũng như các trẻ vậy. Phong trào Hướng Đạo, nếu không đành chịu lỗi thời phải là một phong trào trẻ, và có thế, đã đi đúng hướng, hay trở lại với ý nghỉ ban đầu của người sáng lập. Thật là lỗi điệu, đối với xã hội và thế giới ngày nay, mà chúng ta chỉ có những Tráng Sinh râu, nhưng người đã có nghề nghiệp vợ con, hay đã là hưu trí, có khi có cả cháu chắt, mà quá “Hướng Đạo” trong tâm hồn, cũng còn muốn kiếm cho được một cây gậy nạn, và xin “lên đường”.

*- Kiểu sống Hướng Đạo, không chỉ là sống trẻ, mà còn là kiểu sống cầu tiến, muốn mỗi ngày thêm mới, ngày ngày thêm mới, nhớ câu lừng danh của một ông Tàu thời xưa cho khắc nơi bể tắm của mình “Nhật nhật tân, hựu nhật tân, kỳ rửa cho sạch, ngày nầy qua ngày khác càng thêm sạch. Tiến bộ không phải là danh từ mới, chỉ có khi dùng theo nghĩa hẹp, với nghĩa tiến bộ vật chất, tiến bộ khoa học. Đi trại, nấu cơm bằng bếp ga, là tiến bộ, thổi cơm trong nồi đất chụm củi là lạc hậu, và từ tức là nầy đến tức là khác, ta sẽ có kết luận, là không phải Hướng Đạo nữa, đó là không giữ ngọn mà chỉ luyến tiếc những tro tàn, như có một ông chức sắc Hướng Đạo đã long trọng nhắc lại. Ôi, người bạn trẻ, anh cần phải nhiều đêm không ngủ để quét cho sạch những dơ bẩn vương vấn không phải thể xác của Thanh Thán, mà của trí óc bị ván nhện làm cho không còn thấy rõ nét cái gì với cái gì. Sao không nghĩ thêm một chút về tiến bộ của kiến thức, của kỹ thuật (không nên lầm lẫn với sự thay đổi thứ hàng hóa tiêu thụ), tiến bộ trong việc giải phóng con người, khỏi những thành kiến (thành kiến của bộ lạc, của gia tộc, của xã hội), tiến bộ về mỹ cảm, về đạo lý, về tâm linh. Nói tóm lại tiến bộ trong việc xây dựng nhân vị đầy đủ.

* - Phong trào Hướng Đạo thế kỷ XXI, có thể, sau bao nhiêu sai lầm đề cao, thứ Hướng Đạo cục bộ của phe nhóm, của vùng, của quốc gia, phải trở lại kiểu nguyên thủy, là Hướng Đạo thế giới, Hướng Đạo hoàn vũ. Ta về ta tắm ao ta... Phải rồi. Sau đó, tụm lại ngồi an thích sau lũy tre xanh, và gia đình vén rốn lên, để ca bài: Lỗ rốn chúng ta sâu một cách vĩ đại. Còn có gì liên quan với Tráng Sinh bỏ nhà, lên đường, sẳn sàng giúp bất cứ ai cần đến mình, sẳn sàng đón nhận kinh nghiệm của bất cứ ai, sẳn sàng chia sẻ với bất cứ ai, chẳng phân biệt người Do Thái hay người Hy Lạp, người Bắc hay người Nam, người Phật tử hay Kitô hữu, chia sẻ cơm bánh, hay thức ăn tinh thần, là chân lý và tình yêu.

* - Ta có nói đến chữ “phong trào”. Thói quen khiến cho ta quên chữ nguyên thủy của “trào” là “triều”. Theo chữ Hán, phong là gió, triều là nước triều. Theo nghĩa bóng, nói về những công việc ồn ào như gió thổi, nước dâng lên, nước hạ xuống, sự lay chuyển chỉ có một thời. Thì phong trào cũng như mọi sự trên trần gian cũng đều theo biến dịch, theo chu kỳ thành, thịnh, suy, hủy. Nếu không cẩn thận, không khôn ngoan, thì một phong trào, bất luận phong trào nào cũng có thể nhanh chóng đi đến chỗ kết thúc. Người sáng lập rất lo xa, và trước khi chết đã để lại lời trối với các Tráng Sinh “Hỡi Tráng Sinh, ta để lại tương lai phong trào trong tay các anh em”. Nhưng Baden Powell còn một nhận xét khiến cho những người trong phong trào, nhất là các trưởng có trách nhiệm: “Ban đầu ta có một ý, sau đó chúng ta có một lý tưởng, tiếp đến chúng ta có một phong trào. Tôi e ngại phong trào ấy sẽ không còn khi nó chỉ là một tổ chức”. Vậy anh bạn trẻ muốn sống đời Tráng Sinh Hướng Đạo, hãy suy gẫm về những lời đó, cũng biết ước mong của người sáng lập không phải là hình thức bên ngoài, dù tốt đẹp đến đâu, mà là ý tưởng, là lý tưởng, là tinh thần giữ vững, chi phối, tăng giá trị cho mọi sự con người có thể thực hiện.

Chúc anh theo cố gắng theo đúng đường đi và gặt hái những kết quả tươi đẹp nhất.

Nguồn: Blog của Gấu Bền Hoàng Hồ Ngọc Đức