Linh tinh về jazz và jazz-fusion
Friday, 10. October 2008, 21:21:39

Jazz khởi nguồn từ các nô lệ Tây Phi được mang sang Mỹ. Thứ âm nhạc tràn đầy những nhịp điệu phức tạp mà họ tạo ra mỗi khi được nghỉ ngơi này đã giúp họ vơi bớt nỗi nhớ quê hương. Sự kết hợp giữa nhạc Châu âu truyền thống với gam nguyên (diatonic scale) cùng nhạc Châu Phi sử dụng gam blues (blues scale) (vốn có một loại tiết tấu đặc biệt gọi là nhịp ngoại (syncopation)), đã tạo nên sự không cân xứng rất lạ trong jazz.
Nói ngoài lề một tí, gam nguyên tức là gồm 12 nốt nhạc cơ bản từ đô đến si cùng các nốt thăng giáng ở giữa và thường được chơi ở gam trưởng hoặc gam thứ để thể hiện cảm xúc lạc quan hay bi quan (ví dụ như bản Symphony số 3 Eroica cung mi giáng trưởng (E flat major) của Beethoven hay bản Concerto số 3 cung rê thứ (D minor) của Rachmaninoff). Còn gam blues lại là sự trộn lẫn của cả gam trưởng và gam thứ, chính vì thế nó đã tạo ra rất nhiều nốt nghe khó tiêu hóa gọi là blues notes.
1. Những trào lưu đầu của jazz
1.1. Xem nào, trào lưu đầu tiên của jazz là ragtime những năm 1890, một dạng jazz sơ khai và khá gần gũi với âm nhạc truyền thống của Châu Âu, khác mỗi là có nhiều nhịp ngoại. Có lẽ những giai điệu bất thường không cân xứng do nhịp ngoại tạo nên đã làm ragtime giống jazz tẹo, còn đâu thì là nghe cái này chả có ngẫu hứng giề và nó cũng chả sử dụng gam blues luôn! Đại diện tiêu biểu của ragtime là Scott Joplin (bác nào mê dzốc đừng có nhảy cà tưng lên tưởng bác này họ hàng với Janis Joplin nhá!
Cho dù giờ jazz đã thiên biến vạn hóa nghe khác lắm rùi nhưng những gì Scott đã làm, để ragtime được mọi người thừa nhận cũng như để chứng minh rằng người da đen cũng có khả năng về âm nhạc không thua gì so với các bác composer da trắng, là hoàn toàn đáng cho chúng ta trân trọng.
1.2. Cũng như ragtime, nhạc blues có những ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của jazz. Đúng như tên gọi của nó, blues tràn đầy xúc cảm buồn, cảm giác bị khinh rẻ của những người da đen Mỹ đầu thế kỷ XX. Không chỉ đơn thuần là một loại nhạc nữa, blues đã trở thành biểu tượng cho cuộc sống của rất nhiều dân Mỹ da đen thời bấy giờ. À quên, chính những âm thanh riêng biệt của các giai điệu blues đã tạo nên blues scale đã nói ở đầu đấy ạ.
1.3. Sau ragtime và blues một tẹo, một dạng jazz khác hình thành ở New Orleans, Lousiana (chính xác là Storyville) tầm đầu những năm 1920 và được gọi là classic jazz. Các câu lạc bộ ở Storyville, nơi mà "bán hoa" được pháp luật công nhận như một nghề hợp pháp, đã thuê một số nhạc công để gọi là màu mè cho các bác đến đây nhằm mục đích khác
Một số đại diện tiêu biểu đầu tiên của classic jazz là Jelly Morton (xuất thân là một nhạc công piano chơi ragtime), King Oliver, ... nhưng tên tuổi lớn nhất của classic jazz chính là Louis Armstrong (tèn tén ten hehehe ^^). Nghe đâu bác Armstrong nhà ta đã biết và học trumpet trong trại cải tạo chẻ em hư, hĩhĩ. Chính bác đã đưa trumpet trở thành nhạc cụ chính của jazz (trước đó là clarinet). Và cũng chính bác là người đầu tiên ngẫu hứng chơi solo dựa trên nền quá trình chuyển động của các hợp âm chứ không phải trên nền giai điệu đơn thuần. E hèm, riêng với em bác là người hát quả What A Wonderful World (trong phim Good Mornin’ Vietnam), một trong những bài hát jazz đầu tiên em nghe, hơi bị hay đấy!
1.4. Swing ra đời sau đó không lâu đã làm giảm rất nhiều tính ngẫu hứng của nhạc jazz, cho dù chính dòng swing góp phần không nhỏ để đưa jazz đến với quảng đại công chúng trong suốt những năm 30, 40 bởi swing là một dạng nhạc khiêu vũ (các bác nào từng học khiêu vũ quốc tế hẳn phải biết đến Slow Foxtrot, Quickstep và đặc biệt là Jive). Nhịp điệu trở nên đều đặn, nhạc dễ nghe hơn, swing chính là dạng nhạc jazz đơn giản, được chơi bởi một band lớn từ 10 đến 12 người. Đây cũng chính là thời gian các jazz vocalist được chú ý đặc biệt, nổi bật nhất phải kể đến Billie Holiday (album đáng chú ý: Lady In Satin, Love Songs) và Ella Fitzgerald (album: Pure Ella, Something To Live For, Ella & Louis: Summertime). Ngoài ra còn Frank Sinatra, Bing Crosby, Joe Williams, ...
Swing jazz được chia thành 3 dạng chính:
- Một là The Kansas City jazz, chủ yếu sử dụng nhạc dân gian làm chất liệu chính. Họ không biết nhiều về nhạc lý, thường tự học chơi các nhạc cụ và nổi bật ở khả năng solo thứ nhạc jazz mạnh mẽ trên nền các riffs đơn giản dễ nhớ. Đại diện cho dòng này là nghệ sĩ piano Count Basie với một số album đáng chú ý: April In Paris, The Complete Atomic Basie, Live At The Sands, Ella & Basie.
- Hai là The National Band được đào tạo chuyên nghiệp hơn. Nhạc của họ phức tạp hơn song vẫn ít tính ngẫu hứng. Đại diện tiêu biểu là Benny Goodman Band.
- Ba là dòng nhạc được sáng tạo bởi tay nhạc công piano kiêm nhà soạn nhạc Duke Ellington, một trong số ít các nghệ sĩ tài năng vượt thời gian, không bị hạn chế bởi dòng The Kansas City jazz hay The National Band. Bác nì lập band riêng và soạn những bản nhạc để các thành viên trong band có thể thể hiện hết khả năng của mình (được coi là người soạn nhạc giỏi nhất trong lịch sử nhạc jazz), chẳng hạn như bản jazz mang tên Concerto For Cootie dành riêng cho trumpeter Cootie Williams. Bác cũng sử dụng nhiều hòa âm phức tạp, kết hợp các nhạc cụ tạo ra âm thanh mới quyến rũ, tận dụng hết khả năng solo trong band 10 nhạc công của mình.
1.5. Kế đến là latin jazz. Nó là sự kết tinh các nhịp điệu khiêu vũ latin sôi động và các giai điệu phức hợp của jazz, bắt đầu du nhập vào Mỹ từ những năm 30 và đến những năm 50, 60 thì trở nên cực kỳ phổ biến với các điệu nhảy latin như samba, mambo, cha cha, bossa nova và hiện nay là salsa. Điều tạo nên nét riêng, tạo nên chất lửa đam mê cho nhạc latin chính là bộ gõ độc đáo chơi bằng tay như trống conga hay bongos của người Afro-Cuban, ngoài ra còn các nhạc cụ khác như timbales, claves, ... Một số đại diện cho dòng latin jazz: trumpeter Dizzy Gillespie, Stan Kenton, và tenor saxophonist Stan Getz (album: Getz/Gilberto, Jazz Samba Encore chơi với Luiz Bonfa) - người đã có công đưa bossa nova lên đỉnh cao ở Mỹ.
1.6. Hèhè, sau một thời gian phát chán với swing jazz chỉ để chiều giới chẻ khoái nhảy nhót, bác Dizzy và bác Charlie "Bird" Parker (alto saxophonist) chính là hai người đầu tiên sáng tạo ra dòng nhạc bebop vào cuối những năm 1940 chứa đựng nhiều hợp âm phức tạp nhất trong lịch sử nhạc jazz. Bebop sử dụng khá nhiều bộ gõ, vì vậy các tay trống như Max Roach (album Max Roach Plus 4) có một vị trí quan trọng cũng như nhận được nhiều sự chú ý hơn. Có thể nói bebop thực sự rất "hot" với các giai điệu mạnh mẽ và được coi là loại nhạc cực điểm của jazz. Dizzy và Bird chuyên gia sáng tạo các tiết nhạc bất quy tắc với độ dài ít thấy, hơi bị quái chiêu nhưng đảm bảo sướng tai, hehe (album: Diz & Getz, Dizzy Masters 10, Charlie Parker - Master Works 1946-1947, Charlie Parker - Montreal 1953).
Với người chưa quen sẽ thấy bebop hơi khó nghe bởi tiết tấu quá nhanh và dồn dập, nhưng đã thích thì phê luôn. Một số nghệ sĩ có ảnh hưởng của bebop là: saxophonist Dexter Gordon (album: Go, Doin’ Alright, Ballads), trumpeter Red Rodney, trombonist J. J. Johnson, guitarist Kenny Burrell, pianist Oscar Peterson (album: We Get Requests), pianist Thelonious Monk (album: Underground, Thelonious Monk Quartet...), bassist Charles Mingus (album: Blues & Roots, New Tijuana Moods) và còn nhiều nữa.
Thời đó, bebop không được thính giả đón nhận nên các nghệ sĩ đã quyết định đơn giản hóa đi một tẹo để dân tình dễ chấp nhận hơn. Chính vì vậy bebop được tách ra làm hai dòng riêng là cool jazz và hard bob:
- Cool jazz (giữa những năm 50) về căn bản là giống bebop song tiết tấu chậm, ít hợp âm phức tạp hơn. Đại diện tiêu biểu cho cool jazz là trumpeter Miles Davis (album: Bags Groove, Milestones, Round About Midnight, Birth Of The Cool), trumpeter Chet Baker (album: My Funny Valentine, Jazz Around Midnight), pianist & composer Gil Evans, guitarist West Montgomery, ...
- Hard pop bắt đầu vào cuối những năm 50, đầu những năm 60 là dòng jazz đầu tiên sử dụng các nhạc cụ điện tử, tiết tấu vẫn nhanh lôi cuốn song không làm mệt tai người nghe mà biến hóa kỳ ảo hơn. Hard bop khá thích hợp với những ai mới làm quen với jazz, hãy bắt đầu bằng tay trống huyền thoại Art Blakey (album: Moanin’, A Night In Tunisia) và tay dương cầm lão luyện Herbie Hancock (các album thời kỳ đầu: Takin’ Off, My Point Of View).
2. Những trào lưu tiên phong (avant-garde jazz)
2.1. Đầu tiên phải kể đến modal jazz và Miles Davis là người có công đầu tiên với dòng nhạc này bằng album Kind Of Blue năm 1959 (hèhè, album mà bất cứ ai nghe jazz cũng cần phải có, a must-have jazz album!
2.2. Cũng vào những năm 60, một dòng jazz mới ra đời: free jazz. Nếu như modal jazz là sự ngẫu hứng quanh một note nhạc thì free jazz lại là sự ngẫu hứng hoàn toàn tự do, không phụ thuộc hay ràng buộc vào bất cứ quy tắc nào như chính tên của nó. Âm nhạc truyền thống của Ấn Độ, Trung Quốc, Trung Đông và cả Châu Phi đôi khi được sử dụng khiến free jazz trở nên mới lạ và khá kích thích, một thách thức thú vị cho các jazz listener, cảm giác như đang nghe một đống lộn xộn nhưng mà có trật tự, hehe. Dòng jazz này được một số nghệ sĩ nổi tiếng tôn vinh song lại không được công chúng chấp nhận cho lắm. Các bác có đóng góp lớn đối với free jazz là altor saxophonist Ornette Coleman (album: The Shape Of Jazz To Come, At The Golden Circle In Stockholm, Change Of The Century). Ngoài ra còn có John Coltrane ở một số album sau này như Ascension hay Interstellar Space, pianist Cecil Taylor, Muhal Richard Abrams, ...
2.3. Cuối cùng là jazz-fusion hay fusion (phần trọng tâm nhứt theo yêu cầu của một độc/thính giả, hehe ^^!), ra đời vào cuối những năm 60 và còn tồn tại đến nay, đã kết hợp tính ngẫu hứng của jazz với các thể loại nhạc khác như rock, blues, soul, funk, R&B, electronica, world music, ... nhưng chủ yếu nhất vẫn là rock nên jazz-fusion còn được gọi là jazz-rock. Progressive rock cũng là anh em một nhà với jazz-fusion, nên khi nghe prog, các bác sẽ thấy thường ở giữa bài hay có những đoạn ứng tấu ngẫu hứng biến hóa lộn xộn một cách có trật tự, hehe! Nói đến đây thì hẳn các bác đã hiểu được ý nghĩa của chữ "fusion", nghĩa là hòa trộn, kết hợp nhiều thứ tả pín lù với nhau một cách có hệ thống.
Fusion chủ yếu dùng nhạc cụ điện tử giống như hard bop nhưng lại không đơn giản như hard bop. Hàng loạt chuỗi âm thanh đầy những nhịp ngoại trúc trắc do các nhạc công hợp tấu tạo thành các figures sôi nổi cũng như nhiều đoạn solo ngẫu hứng trên nền nhạc rock đã khiến fusion trở thành dòng jazz thịnh hành nhất ngày nay. Chính vì pha trộn với nhiều dòng nhạc khác nhau nên cho đến nay vẫn còn rất nhiều nghệ sĩ chơi jazz chính thống và thính giả khó tính không chấp nhận fusion như là một đứa con của jazz, họ cho đó là dòng nhạc lai căng và hỗn tạp.
Nguồn gốc của fusion: Cuối những năm 60, bác Miles Davis là người đầu tiên sử dụng nhạc cụ guitar điện, bass, piano điện tử để tạo ra một thứ nhạc hòa trộn giữa jazz, rock và một số thể loại khác. Vì vậy nên bác Miles có thể được xem như là người tiên phong đặt nền móng cho thể loại nhạc jazz-fusion. Bác này có hai thu thanh quan trọng là In A Silent Way (1969) và Bitches Brew (1970) mà mỗi tác phẩm dài hơn 20 phút. Thực ra hai tác phẩm này không được chơi từ đầu đến cuối trong phòng thu mà thay vào đó, các đoạn nhạc với độ dài khác nhau được chọn từ những đoạn ngẫu hứng dài đã chơi trước đó và được sửa sang để biến chúng thành một tổng thể và được ghi lại thành album hoàn chỉnh. Hai thu thanh này được coi là những bản thu quan trọng nhất của fusion.

Miles Davis
Sau đó, các bác Herbie Hancock, Joe Zawinul, Jan Hammer và Chick Corea đã bắt đầu kết hợp thêm đàn điện tử minimoog. Các nghệ sĩ jazz cũng đi theo phong trào này đối với nhạc pop và bắt đầu sử dụng các phòng thu và các hiệu ứng điện tử cũng như kỹ thuật thu nhiều rãnh để thêm thắt vào các sáng tác và tăng thêm phần ngẫu hứng. Khoảng thời gian tiếp đó, rất nhiều nhóm nhạc rock bắt đầu cách tiếp cận thể fusion này bằng cách xen vào giữa bài hát là những đoạn ứng tấu không lời đầy ngẫu hứng của nhạc jazz, như The Byrds, Jimi Hendrix, The Grateful Dead, ...
Herbie Hancock tiếp tục phát triển theo phong cách của Miles Davis, kết hợp thêm với thể loại funk để cho ra đời các album mang tính thử nghiệm như Headhunters và Thrust. Ông còn là một trong những nghệ sỹ jazz đầu tiên dùng cây đàn điện tử synthesizer. Bác này cùng với tay saxophone kỳ cựu Wayne Shorter từng tới Việt Nam biểu diễn hồi cuối năm 2005 trong chương trình kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt - Mỹ.

Herbie Hancock
Tại Anh, phong trào nhạc fusion được ban nhạc Soft Machine hưởng ứng mạnh mẽ. Ban này có album bán chạy nhất mang tên Third được năm 1970. Album này được thu hai mặt theo cách mà các album của Miles Davis đã từng được làm. Ngoài ra còn có nhóm IF chơi jazz-rock cực kỳ xuất sắc, chịu ảnh hưởng của Blood, Sweat & Tears và Chicago.
Chick Corea thành lập ban nhạc của mình mang tên Return To Forever vào năm 1972, trong đó có tay trống Lenny White cũng đã từng chơi cùng Miles. Ban nhạc khởi đầu chịu ảnh hưởng của nhạc latin nhưng sau đó đến năm 1973 họ chơi theo jazz-rock, chịu ảnh hưởng của cả hai thể loại psychedelic và progressive rock. Nhạc của Return To Forever có giai điệu độc đáo nhờ phong cách đặc biệt của Chick Corea và ngón nghề của tay bass Stanley Clarke, một tay bass được đánh giá là có ảnh hưởng nhất trong thập niên 70. Al Di Meola, người khởi nghiệp cùng Return To Forever năm 1974 trở thành một trong những tay guitar quan trọng nhất của thể loại nhạc fusion.

Chick Corea
Album The Inner Mounting Flame do John McLaughlin viết năm 1971 là một trong những album quan trọng nhất của dòng nhạc jazz-rock. Bác này đã thành lập ban nhạc jazz-fusion rất được đánh giá cao là Mahavishnu Orchestra (1971). McLaughlin đã sử dụng cây guitar có hai eo hiếm thấy (cây này cũng được Jimmy Page sử dụng) để tạo ra những đoạn solo dài và mãnh liệt cùng với tay trống Billy Cobham và tay violin Jerry Goodman. Tay keyboard Jan Hammer dùng những âm thanh méo mó của cây đàn điện tử synthesizer để tạo ra những âm thanh giống tiếng guitar điện.
Những nghệ sỹ có ảnh hưởng khác nổi lên trong phong trào fusion những năm 70 gồm có tay guitar Larry Coryell của ban The Eleven House, tay guitar điện Pat Metheny của nhóm The Pat Metheny Group. Mặc dù các nghệ sỹ jazz chỉ trích phong trào fusion sử dụng phong cách nhạc rock, các nhạc cụ điện tử nhưng một số cựu binh của nhạc jazz như Buddy Rich, Maynard Ferguson và Dexter Gordon cuối cùng cũng sử dụng ít nhiều chúng để tạo thêm hương vị mới trong cách chơi của mình.
Cả ba dòng chính của avant-garde jazz vẫn còn được chơi cho đến ngày nay. Tuy nhiên đã bắt đầu xuất hiện một số dòng jazz mới chưa có tên cụ thể, bởi thường thì một dòng nhạc chỉ có tên chính thức sau một thời gian các nghệ sĩ thử nghiệm và thu được kết quả; hơn nữa, xu hướng hiện nay của âm nhạc thế giới là xóa nhòa ranh giới giữa mọi loại nhạc nên cũng rất khó đặt tên. Hiện tại, người ta đã chính thức thừa nhận một số dòng jazz mới như nu jazz, acid jazz và neo-bop jazz.
***
Giờ tới màn quan trọng nhứt: thẩm âm!
Dưới đây tớ xin giới thiệu một số nghệ sĩ và nhóm nhạc (trình bày theo thứ tự alphabet) chơi jazz-fusion xuất sắc theo cảm quan của riêng tớ, có kèm theo playlist. Ở đây tớ chỉ nói chi tiết về một vài nghệ sĩ tiêu biểu thui nhé!
- Allan Holdsworth: một trong những guitar virtuoso (googling để biết nghĩa là gì nhé) khủng khiếp nhất mọi thời đại (cùng với Jimmi Hendrix, Eric Clapton, Jimmy Page, Eddie Van Halen, Stevie Ray Vaughan, Joe Satriani, Ritchie Blackmore, Steve Vai, David Gilmour, John Petrucci). Sự nghiệp của bác nghệ sĩ Ăng-lê chơi prog-fusion nì đã khiến cả thế giới phải khóc thét khi cứ đều đặn mỗi năm bác í lại cho ra một (có khi hai) album cộng tác với nhiều tên tuổi có số má trong giới phiu-sần (nhại giang hồ
Các album nên nghe qua (trong số mấy chục album của bác í, dã man T_T): Metal Fatigue, Sand, The Sixteen Man Of Tain, All Night Wrong.

Allan Holdsworth
- Ari Hoenig: tay trống jazz người Mỹ, biết wánh luôn cả xì-tai kim loại, nhuần nhuyễn cả dương cầm lẫn vĩ cầm, từng hợp tác với Mike Stern, Richard Bona, Joshua Redman. Bản Boogelidish này wánh nghe lạ tai, nhịp điệu trúc trắc không giống kiểu thường thấy của jazz nên tớ xếp bài nì vào fusion, chớ còn chú Ari nì chơi jazz kiểu chính thống.
Các album tớ hiện có: Time Travels, The Life Of A Day, The Painter.

Ari Hoenig và album Inversations
- Béla Fleck: hix, bác này thì nổi tiếng wá dzồi, kể ra không biết tới chừng nào mới hết thành tích của bác: quái kiệt banjo (cuộc đời nghe nhạc của tớ lần đầu tiên mới thấy có người chơi fusion bằng banjo, hay vật vã!), cùng với tay bass gạo cội Victor Wooten làm chủ xị band Béla Fleck & The Flecktone, đoạt một lô lốc giải Grammy. Ngoài ra bác ý còn chơi bluegrass (khởi thủy của nhạc country ngày nay), classical, folk.
Những album phải có trong kệ đĩa nhà bạn: Crossing The Tracks, Perpetual Motion (chơi classical bằng banjo, hay chịu không nổi >"<), Béla Fleck And The Flecktones, Three Flew Over The Cuckoo's Nest, Left Of Cool, The Enchantment (wánh chung với Chick Corea).

Béla Fleck

Béla Fleck & The Flecktones
- Brian Bromberg: tay bass (chơi Tây Ban cầm trầm lẫn đại hồ cầm) kỳ cựu người Mỹ, từ một gã choai chơi bass nghiệp dư đã trở thành một tên tuổi lừng danh vào năm 19 tuổi, khi gã đang chơi bass trong một quán bar thì được tay pianist sừng sỏ Bill Evans phát hiện và giới thiệu gã cho tay saxophonist khét tiếng lúc đó là Stan Getz, thế là Brian nhà ta đã được bác Stan cho ngay vào thành phần line-up chính thức trong tour lưu diễn vòng quanh thế giới của bác í luôn.
Các album đáng giá: BASSically Speaking, Brombo! JB Project, You Know That Feeling, Choices.

Brian Bromberg và album Wood II
- Build An Ark: chả nhớ tải album Dawn của các bác nì khi nào, thông tin trên mạng cũng cực ít, chỉ biết là ban nhạc người Mỹ này gồm gần 30 thành viên
Mở ngoặc thêm chút xíu: Glastonbury là tên của festival âm nhạc lớn nhất thế giới được tổ chức ở Anh hằng năm. Mỗi đợt festival như vậy kéo dài suốt ba ngày ba đêm - theo nghĩa đen ấy nhá, nghĩa là các nghệ sĩ trình diễn luân phiên nhau live 24/24 - thu hút hơn 150.000 music maniac từ khắp nơi trên thế giới ùn ùn kéo tới, căng lều bạc dựng giường chiếu ở đó luôn để "ăn âm nhạc, uống âm nhạc, ngủ âm nhạc, thở âm nhạc" (hix, thèm wá!), và chỉ có những nghệ sĩ cực kỳ xuất sắc thì mới được ban tổ chức đại nhạc hội Glastonbury mời đến biểu diễn.

Build An Ark
- Candiria: đây là một trong những ban nhạc kỳ lạ nhất (và tất nhiên là hay) mà tớ từng được nghe. Xuất thân từ thành phố đa văn hóa Brooklyn (Nữu Ước) nên nhạc của họ pha trộn đủ thứ giữa jazz-fusion, hardcore metal, rap, hiphop, ambient, nhưng không vì vậy mà nhạc của họ trở nên tạp chủng. Nhạc của Candirian đã tạo ra một phân nhánh mới của dòng fusion: urban fusion. Nghe thử bài Constant Velocity Is As Natura dưới đây bạn sẽ thấy khúc đầu dạo fusion rất ngọt tai, khúc giữa chát chúa hardcore metal, khúc cuối thì lại phun rap, "phê lòi mắt"
Ba album gần đây nhất của Candiria tớ cho là hay nhất: 300 Percent Density, The C.O.M.A. Imprint, What Doesn't Kill You....

Candiria
- Chicago: được nhiều người biết đến qua những bản tình ca pop ballad ngọt ngào như Hard To Say I'm Sorry, You're The Inspiration với giọng mái cao đặc trưng của thủ lĩnh kiêm tay bass Peter Cetera, nhưng ít người biết là nhóm nhạc 8 thành viên này khởi đầu và tạo dựng tên tuổi bằng dòng nhạc rock và jazz-fusion. Âm nhạc thời kỳ đầu của Chicago luôn khiến người nghe cảm thấy rộn ràng và vui tươi bởi dàn kèn chơi rất sáng tạo gồm saxophone, trombone và trumbet (hiếm có rockband nào lại sử dụng bộ hơi trong sáng tác, một số band tương tự: Jethro Tull và White Willow có sáo flute, Haggard có kèn oboe và clarinet), bản Make Me Smile dưới đây được sáng tác trong thời kỳ này. Tuy nhiên, bắt đầu từ thập niên 80, nhạc của Chicago đã dần có xu hướng thương mại hóa khi chuyển sang hát pop.

Chicago
- Continuum: tứ tấu đa chủng tộc (Hà Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi) dưới sự dẫn dắt của Yoel Schwarcz chơi rock, jazz-fusion và chịu ảnh hưởng của Bach này sẽ khiến bạn ngất ngây và như đang bay bổng trên một cánh đồng rợp sắc hoa và nắng vàng. Cẩn thận với "cây sáo thần" của Continuum, nó sẽ khiến bạn mụ người và tan chảy ra hết đó!
Hiện tớ có được hai album của nhóm này: Continuum, Autumn Grass.

Yoel Schwarcz
- Dave Brubeck Quartet (DBQ): với chủ xị là tay piano lão làng Dave Brubeck, người đã đưa DBQ trở thành nhóm tứ tấu vĩ đại nhất của làng nhạc jazz thế giới với bản Take Five kinh điển.

Dave Brubeck Quartet
- Hương Thanh: cô ca sĩ gốc Việt này cùng với chú Nguyên Lê (cũng là người gốc Việt, một tay guitar rất nổi tiếng trong làng jazz của Pháp) hát nhạc dân ca trên nền jazz-fusion và world music, nghe cực kỳ phiêu linh và da diết. Sự kết hợp mới mẻ giữa hai dòng nhạc này đã làm xuất hiện một khái niệm jazz mới: ethno jazz. Cô Hương Thanh này là ca sĩ Việt Nam thứ ba khiến cho tớ phải... sởn gai ốc và rùng mình khi mới nghe lần đầu, trước đó là avant-garde singer Thanh Lam (hehe ^^, gọi thế vì bà Lam này chuyên phá cách và thử nghiệm đủ mọi loại nhạc, lối hát lẫn phong cách trình diễn) và cô ca sĩ Lan Hương của nhóm 5 Dòng Kẻ. "Sởn gai ốc" ở đây là nghĩa tích cực đấy, vì thường tớ chỉ như thế khi nghe một âm thanh nào đó cực kỳ quyến rũ và ám ảnh.
Trước có đọc một nhận xét về Hương Thanh của một bác bên box nhạc jazz của TTVNOL nói là cô này hát không có chất phiêu của jazz, có lẽ bác đó quên rằng nhạc của Hương Thanh là ethnic jazz - kết hợp giữa âm nhạc cổ truyền dân tộc trên nền hòa âm của jazz - nên những gì cổ hát vẫn là nhạc dân ca Bắc Trung Nam của Việt Nam chớ không phải jazz, chỉ có nền nhạc của chú Nguyên Lê mới là jazz.
Thông tin ít người biết nà: Hương Thanh là con gái của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, có chị ruột là ca sĩ hải ngoại nổi tiếng chuyên hát nhạc dân ca Hương Lan.
Ba album hợp tác với Nguyên Lê: Moon & Wind, Mangustao, Dragonfly.

Nguyên Lê và Hương Thanh
- Jaga Jazzist: album đầu tay A Living Hush của nhóm nhạc người Na Uy gồm 10 thành viên này đã được đài BBC chọn là Album nhạc jazz xuất sắc nhất năm 2002. Line-up của nhóm có bộ hơi thật khủng khiếp: trumpet, tuba, flute, saxophone, clarinet, trombone, trumbet. Hìhì, tớ vốn thích bộ hơi và bộ gõ nhất mà!
Các album tớ đề cử này ^^: A Living Hush, The Stix, What We Must.

Jaga Jazzist (đội hình dàn hàng ngang nhìn wành tráng wá!
- John McLaughlin: thủ lĩnh nhóm jazz-fusion The Mahavishnu Orchestra, người đã thành công khi nhét hết tất cả những chất liệu theo lệ thường chỉ hợp với dân chơi rock xịn vào lãnh địa của dân jazz guitarist. Bác này đã tạo ra những âm sắc thật lạ tai khi trộn jazz với nhạc từ Trung Mỹ cho đến Ấn Độ.
Các album tiêu biểu: Inner Mouting Flame, Passion, Grace And Fire, Extrapolation.

John McLaughlin

Album Thieves And Poets (thích cái bìa album, thích căn phòng, thích cái ghế bành tô, thích luôn cả con chó ^^)
- John Medeski: cùng với guitarist John Scofield, bassist Chris Wood và drummer Billy Martin thành lập nhóm tứ tấu Medeski Scofield Martin & Wood, khéo léo kết hợp ba dòng jazz là free, fusion, bebop với electronica, thậm chí là với cả nhạc truyền thống của dân Hawaii và tiếng thrash đĩa vốn chỉ có trong hiphop (nghe Church Of Logic). Bác Medeski này được coi là organist và pianist "phê lòi" nhất hiện nay ^^.
Các album xuất sắc: Uninvisible, Out Louder, Farmers Reserve, Friday Afternoon In The Universe, Combustication, Last Chance To Dance Trance.

John Medeski

Medeski Scofield Martin & Wood (từ trái qua phải: Scofield, Martin, Wood và Medeski)
- Masada String Trio: nhóm tam tấu với chủ xị là tay kèn saxophone John Zorn này đã tạo ra một thứ fusion lạ kỳ khi trộn jazz với với classical và nhạc truyền thống của người Do Thái, bác nào nghe không quen có thể cảm thấy... sợ đó, vì tiếng rít nền của cây violin nghe rất là buốt óc, hì!

John Zorn
- Mats/Morgan Band: đây là một trong những band chơi fusion quái kiệt và xuất chúng nhất hiện nay (và cũng là band mà tớ thích nhất
Nhạc của Mats/Morgan Band pha trộn giữa jazz-fusion với progressive metal (nghe Sol Niger Within wánh chung với Frederik Thordendal - lead guitarist của nhóm technical/experimental prog-metal "kinh điển" Meshuggah) và cả nhạc của xứ Ả Rập (nghe Allan In The Rain), hic!
Các album tuyệt đỉnh của bộ đôi này: Trends And Other Diseases, Radio Da Da, On Air With Guests, Thanks For Flying With Us.

Morgan Ågren lúc nhỏ và hiện nay (nhìn phong độ ngay từ bé, hehe!

Mats Öberg (trông rất thông minh và sáng sủa nhỉ? Híhí, tớ thích người mập!
- Matt Bianco: một trong những ban nhạc được dân Ăng-lê yêu thích nhất vào thập niên 80 với xì-tai âm nhạc là sự hòa trộn giữa jazz, lation và pop, lấy vocal (do nữ ca sĩ nổi tiếng người Ba Lan Basia Trzetrzelewska đảm nhiệm) làm chủ đạo, có lối hát bè và hòa âm cực kỳ sáng tạo.
Các album không nên bỏ lỡ: Whose Side Are You On?, Indigo, Matt's Mood.

Matt Bianco và album Matt's Mood
- Nils Landgren: bác nì chơi kèn trombone, là một trong những nghệ sĩ jazz hàng đầu tại Thụy Điển, đã khéo léo kết hợp jazz với funk, soul, hiphop, pop, rock để tạo ra một ra loại fusion mà khi nghe, người ta khó có thể ngồi yên được. Tớ giới thiệu ở đây bài Dancing Queen trong album Funky ABBA. Với album này, bác Nils nhà ta đã bị rất nhiều chỉ trích là đã phá nát nhạc của ABBA, nhưng cũng có rất nhiều người đặc biệt yêu thích sự phá cách sáng tạo này. Quả thật, thoạt đầu khi mới nghe Dancing Queen, Voulez-Vous, S.O.S., tớ ngạc nhiên tự hỏi liệu đây có phải là nhạc ABBA không
Các album tuyệt cú mèo này: Creole Love Call (chơi với Joe Sample), Gotland, Funky ABBA, Layers Of Light, Swedish Folk Modern, Sentimental Journey, I Will Wait For You (hợp tác với nữ ca sĩ nhạc jazz hàng đầu tại Thụy Điển Rigmor Gustafsson).

Nils Landgren

Album Funky ABBA (cái hình bìa ngộ nghĩnh hết sức!
- Pat Metheny Group: được chủ xị bởi tay guitar gạo cội Pat Metheny, trải qua nhiều đời thành viên, trong đó có bassist & vocal Richard Bona (chú này giống như cô Hương Thanh cũng chơi ethno jazz, đã phát hành rất nhiều album solo, trong đó có Munia: The Tale rất hay), trumpeter trẻ tuổi - tài năng và... đẹp chai người Mỹ gốc Việt Cường Vũ
Những album không thể bỏ qua: First Circle, Still Life (Talking), Imaginary Day, Speaking Of Now (trong album này, Richard Bona đã sử dụng lối hát truyền thống của xứ Cameroon quê hương anh nên khiến nó có âm vị rất lạ), The Way Up, Travels.

Pat Metheny

Richard Bona

Cường Vũ
- St. Germain: là nghệ danh của một gã người Pháp tên Ludovic Navarre (rất nhiều người nhầm tưởng đây là một nhóm nhạc) chơi nu jazz pha trộn với fusion, house và dance, chịu ảnh hưởng của Bob Marley, Miles Davis và Kool And The Gang. Tớ biết đến nhóm này lần đầu tiên là vào năm cấp ba (lớp 10 thì phải) khi vô tình nghe qua lời giới thiệu của MC Anh Tuấn trên VTV, lúc đó chưa biết fusion là cái giề, nghe chú Tuấn giới thiệu có vẻ hấp dẫn, coi qua video clip So Flute dạng animation thấy có com bướm (biến tấu từ cây sáo flute) bay bay từ đầu đến cuối clip ngộ nghĩnh thiệt, nên kết luôn St. Germain.
Mãi tận đến những năm gần đây, khi internet đã phổ biến thì tớ mới có dịp được nghe trọn vẹn hai album xuất sắc nhất của St. Germain là Tourist và Boulevard.

Album Tourist
- Steely Dan: cái tên này ai mà không biết là đáng wánh đòn đấy nhé
Các album không thể bỏ lỡ này: Aja, Two Against Nature, Everything Must Go, Morph The Cat (album solo tuyệt đỉnh của Donald Fagen).

Steely Dan (từ trái qua phải: Donald Fagen và Walter Becker, sao dòm mặt bác nào cũng nghiêm trọng thía nhỉ?!
- The Cinematic Orchestra: một band chơi fusion, nu jazz, ambient và electronica của Anh. Âm nhạc của họ với tớ chỉ có thể nói trong bốn từ: cực kỳ ám ảnh.
Các album xuất sắc: Motion, Every Day, Man With A Movie Camera, Ma Fleur.

The Cinematic Orchestra
- The Notwist: mấy bạn người Đức này chơi indie rock, tự dưng ở đâu lọt vô bản Your Signs man mác fusion ^^.
Nhóm nì có ba album cực hay là 12, Shrink, Neon Golden.

The Notwist
*** P.S.:
Phù, cuối cùng cũng viết xong, mất ba ngày để tìm tư liệu, hình ảnh và chọn lọc các bản nhạc đấy nhé! Có ai khao tớ gì không đấy?
Bài viết trên đây có sử dụng một số tư liệu trong box nhạc jazz của diễn đàn Trái Tim Việt Nam Online. List bài hát được upload từ thư viện nhạc và sở thích của cá nhân tớ, có kèm theo ghi chú của riêng tớ về các nghệ sĩ biểu diễn. Bài viết này được viết theo yêu cầu (sau một thời gian khá lâu chờ đợi, hìhì) của một bạn đã ghé thăm blog tớ ^^. Dạo này tớ bận ôn thi tốt nghiệp nên không có thời gian blogging, dù vậy tớ vẫn nhớ đến lời hứa với người bạn đó nên tranh thủ lúc học bài xong để viết bài này đây. Hy vọng sẽ có ích cho bạn ấy và những ai yêu thích dòng nhạc này!
Tiện đây nói ngoài lề một chút, là trong suốt những năm học từ thời phổ thông cấp ba đến tận bây giờ, bạn bè học chung với tớ vẫn không một ai hiểu được loại nhạc tớ đang nghe là gì (bảo nhạc gì mà khó nghe như quỷ ấy! >"<), nên khi có người hỏi tớ về rock và jazz (là hai món tớ khoái nhứt ^^!) là tớ mừng như bắt được vàng ấy, được dịp trải lòng mình về cái thứ ma túy tinh thần này.









Anonymous # 15. October 2008, 09:30
thú thật là dù lòng mong mỏi bài viết này đến bao nhiêu cũng không khỏi bất ngờ khi thấy nó xuất hiện .. và càng cảm động hơn trước sự tận tâm tận sức của người đăng :)
Sẽ in ra để ngâm cứu kỹ lưỡng hơn ^^
Mình SN85 .. k biết phải xưng hô thế nào cho tiện ở những comment sau ?
Ah` .. để tỏ lòng biết ơn ... sẽ khao ... mít khô Vinamit nhe''''' >:D
Quạ Con # 16. October 2008, 05:02
[just kidding!
Cứ gọi mình là quạ nha, hihi!
Mr. Man # 4. June 2009, 22:42
Quạ Con # 5. June 2009, 13:29
2. Mats/Morgan Band
3. Pat Metheny Group
Anonymous # 25. June 2009, 01:41
bài viết thật sự rất bổ ích,mình ko phải là dân nghe jazz.nhưng cũng đang muốn tìm hiểu và nghe thử..hihi...vì mình cũng là dân ngành nhạc..mình thì mê rock hơn..hi vong dc giao lưu âm nhạc nhìu hơn nghen.àh nếu tiện thì cho mình nick chat.hôm nào nói chuyện chỉ giáo thêm cho mình tí xíu về jazz .nick của mình : quy_doan1987@yahoo.com