30/4/75 ĐẾN 1000 NĂM THĂNG LONG- HÀ NỘI
Thursday, April 22, 2010 11:24:33 PM
30/4/1975 ĐẾN 1000 NĂM THĂNG LONG- HÀ NỘI:
[/COLOR]
NƯỚC VIỆT NAM LÀ MỘT.DÂN TỘC VIỆT NAN LÀ MỘT.SÔNG CÓ THỂ CẠN.NÚI CÓ THỂ MÒN.
SONG CHÂN LÝ ĐÓ KHÔNG BAO GIỜ THAY ĐỔI.
[/COLOR][/SIZE]
LỚP TRẺ HÔM NAY VÀ MAI SAU, MUỐN BIẾT LỊCH SỬ NƯỚC TA,PHẢI BIẾT CÂU NÓI CỦA BÁC HỒ: CÁC VUA HÙNG CÓ CÔNG DỰNG NƯỚC .BÁC CHÁU TA PHẢI CÙNG NHAU GIỬ LẤY NƯỚC. TỪ ĐÓ BIẾT BAO THẾ HỆ ÔNG CJHA CỦA CHÚNG TA DỨNG LÊN ĐẠP ĐỔ GÔNG XIỀNG ÁP BỨC, ĐÁNH ĐUỔI THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐẾ QUỐC MỸ RA KHỎI ĐÁT NƯỚC ĐEM GIANG SƠN LIỀN MỘT GIẢI.
Thăng Long ngàn năm văn hiếnDanh nhân Hà Nội
Lý Công Uẩn - huyền thoại và lịch sử
Khi tìm hiểu về sự ra đời, về tuổi thơ, và sự kiện lên ngôi, sáng lập ra vương triều Lý, dời đô đến một miền đất mới, của vị vua khai sáng kinh thành Thăng Long - Lý Công Uẩn, người đọc thấy xung quanh Đức Vua là vô số những huyền tích và sự thật lịch sử đan xen.
Truyền thuyết xuất thân kỳ bí
.jpg)
Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Vua họ Lý, húy Công Uẩn, người châu Cổ Pháp, Bắc Ninh. Mẹ họ Phạm, đi chơi chùa Tiêu Sơn cùng với người thần giao hợp rồi có chửa, sinh vua vào ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất, niên hiệu Thái Bình thứ năm (974), thời Đinh”. Sách Việt sử thông giám cương mục viết: “Mẹ ngài là Phạm thị, đi chùa Tiêu Sơn, gặp thần nhân giao cấu, do đấy có thai, sinh ngài năm Giáp Tuất, Thái Bình thứ năm (974), thời Đinh”. Tại ngôi chùa tọa lạc trên sườn núi Tiêu ở huyện Từ Sơn ( Bắc Ninh), cuối thế kỷ XX, các nhà sử học đã phát hiện một sự thật lịch sử. Đó là những thông tin quý giá, hé mở sự thật về người đàn bà đã sinh ra Lý Công Uẩn. Những dòng chữ của tiền nhân còn lưu lại trên bia “Lý gia linh thạch” cho đời sau biết, người phụ nữ sinh ra Lý Công Uẩn tên thật là Phạm Thị Ngà. Bà là người làng Hoa Lâm, làm thủ hộ của nhà chùa, chuyên quét sân, làm vườn, và lo nhang đèn...
Sự đầu thai đã nhuốm mầu thần bí, rồi sự chào đời của Lý Công Uẩn, cũng vậy: “rồi một đêm, trời trong sáng lạ thường, có mây ngũ sắc xuất hiện, vị sư trụ trì ở chùa Ứng Tâm đã được báo mộng là ngày mai phải đón vua. Nhưng sáng sớm hôm sau chỉ thấy người đàn bà Phạm Thị Ngà xin tạm ở chùa, bà vừa sinh được một người con trai khôi ngô, trong lòng bàn tay lại có bốn chữ “sơn- hà-xã- tắc” đỏ như son.
Người thầy, người cha tinh thần
Cha là “thần nhân”. Được thế lực thần bí chọn nơi sinh là cửa nhà Phật. Khi chào đời có mây ngũ sắc xuất hiện, trên tay lại có bốn chữ thể hiện khí phách, hoài bão, sự nghiệp khác thường của Công Uẩn. Những điều đó hứa hẹn “đứa trẻ - Lý Công Uẩn - lớn lên không phải là người tầm thường”. Mẹ là thôn nữ, làm giám hộ ở chùa, có duyên với thần nhân. Như vậy có thể thấy, Lý Công Uẩn là kết quả của tình yêu giữa một người phụ nữ bình dân với một “thần nhân”. Lên ba tuổi được mẹ gửi gắm cho nhà sư Lý Khánh Văn. Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì, “vua sinh ra mới ba tuổi, mẹ ẵm đến nhà Lý Khánh Văn, Khánh Văn bèn nhận làm con nuôi”. Còn theo sách Đại Việt sử ký tiền biên: “năm 3 tuổi, mẹ bế đến nhà Lý Khánh Văn ở chùa Cổ Pháp, Khánh Văn nuôi làm con nuôi”. Năm Lý Công Uẩn 7 tuổi, Khánh Văn nhờ sư Vạn Hạnh (anh trai) ở chùa Lục Tổ dạy cho học. Vạn Hạnh thiền sư nhận thấy cậu bé Uẩn là người có tư chất thông minh, khí độ rộng rãi nên đã kỳ vọng rất nhiều. Sách sử chép rằng sư Vạn Hạnh lần đầu trông thấy Công Uẩn lấy làm lạ: “Đây là một người phi thường! Sau này lớn mạnh lên, tất có thể cứu đời, yên dân, làm chúa thiên hạ”. Sách Thiên Nam ngữ lục cho biết năm 20 tuổi, Lý Công Uẩn được Vạn Hạnh tiến cử vào triều. Ngài bắt đầu sự nghiệp bằng việc đi làm võ tướng dưới thời Tiền Lê, giữ chức Điện tiền quân và giữ chức Tứ sương quân phó chỉ huy sứ đời Lê Ngọa Triều (1005 – 1009). Hơn 10 năm tu tâm dưỡng tính, học tập dưới mái nhà Phật và được sự rèn cặp của thiền sư Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn trở thành một người quả cảm, có học vấn và trí tuệ, được quần thần cảm mến, kính phục.
Lại nói về thiền sư Vạn Hạnh, người cha tinh thần, người thầy giáo, và người vạch ra con đường đi tới ngai vàng cho Lý Công Uẩn. Theo sử liệu thì thiền sư Vạn Hạnh sinh vào khoảng năm (938 – 939), ở châu Cổ Pháp (tương đương với thị xã Từ Sơn và Tiên Du ngày nay). Ông xuất gia ở chùa Lục Tổ. Sau hai mươi năm thụ giáo ở Đạo giả Thiền Ông, thiền sư Vạn Hạnh nổi tiếng là người thông minh, uyên bác, thâu nhập được những điều huyền vi của giáo lý. Lời nào thiền sư nói ra, dân chúng cũng đều cho là lời sấm ký. Các nghiên cứu về ông đều nhận định rằng Thiền sư Vạn Hạnh là: “một trong những nhân vật kiệt xuất nhất của thế kỷ thứ X, đầu thế kỷ thứ XI”. Ông từng làm cố vấn cho Lê Hoàn và có ảnh hưởng lớn với nhà Tiền Lê. Với Lý Công Uẩn, ông đối xử thật sự thân tình, nuôi nấng, chăm chút với tình thương yêu như một người cha đối với đứa con của mình. Ông là người cha tinh thần của nhà vua, đã theo sát, dạy dỗ nhà vua từ lúc ấu thơ cho đến khi trưởng thành. Có thể nói rằng Vạn Hạnh thiền sư với Lý Công Uẩn là một người cha, một người thầy. Với vương triều Lý thì, ông là “nhà thiết kế” tài tình, như một kim chỉ nam – định đường đi nước bước cho một vương triều. Ông cùng với Đào Cam Mộc – một võ tướng thời đó đã phù trợ, ủng hộ Lý Công Uẩn lên ngôi, sáng lập vương triều Lý. Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư thì, năm Vạn Hạnh 70 tuổi, một lần nói với Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn: “Vừa rồi, tôi thấy chữ bùa sấm kỳ lạ, biết họ Lý cường thịnh, tất dấy lên cơ nghiệp. Nay xem trong thiên hạ, người họ Lý rất nhiều, nhưng không ai bằng Thân vệ, là người khoan thứ nhân từ được lòng dân, lại đang nắm binh giữ quyền trong tay, đứng đầu muôn dân chẳng phải Thân vệ thì còn ai đương nổi nữa. Tôi đã hơn 70 tuổi rồi, mong được thư thả hãy chết để xem đức hóa của ông thế nào. Thực là cái may ngàn năm có một...”
Lên ngôi - thuận ý trời, hợp lòng người
Sách Đại Việt sử ký toàn thư có đoạn chép: “Trước đây ở thôn Diên Uẩn, châu Cổ Pháp có cây gạo bị sét đánh, người hương ấy xem kỹ dấu sét đánh có chữ: “Thụ căn diểu diểu/ Mộc biểu thanh thanh/ Hòa đao mộc lạc/ Thập bát tử thành/ Đông A nhập địa/ Mộc dị tái sinh/ Chấn cung kiếm nhật/ Đoài cung ẩn tinh/ Lục thất niên gian/ Thiên hạ thái bình”. Có nghĩa là: “Gốc cây thăm thẳm/ Ngọn cây xanh xanh/ Cây hòa đao rụng/ Mười tám hạt thành/ Cành đông xuống đất/ Cây khác lại sinh/ Đông mặt trời mọc/ Tây sao náu hình/ Khoảng sáu bảy năm/ Thiên hạ thái bình”. Ở hương Cổ Pháp xuất hiện một con chó trắng trên lưng có chữ “thiên tử” lông đen. Cây đa chùa Song Lâm có vết sâu ăn hình chữ “Quốc”. Quanh mộ cha Lý Công Uẩn ban đêm có tiếng tụng kinh và ngâm thơ báo trước việc họ Lý làm vua... Có người đem những điều đó hỏi Thiền sư Vạn Hạnh thì, được ông giải thích rằng: đó là điềm trời báo trước việc họ Lê mất, họ Lý nổi lên.
Dưới thời Tiền Lê, Phật giáo giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Nhiều vị cao tăng được mến mộ, trọng đãi. Lực lượng quân đội do Đào Cam Mộc lãnh đạo, còn Phật giáo mà Vạn Hạnh là một thiền sư tiêu biểu, là hai lực lượng chính phù trợ cho nhà Lê. Tuy nhiên, thời Lê Ngọa Triều, đã duy trì những chính sách tàn ác, dã man, khiến lòng người oán giận, mất đi sự ủng hộ của Phật giáo và quân đội. (Ngọa Triều là một vua nổi tiếng bạo ngược và tàn ác, lấy việc giết người làm trò giải khuây). Vì vậy mà trong nhân gian đã xuất hiện những bài sấm ký, đoán trước sự suy vong tất yếu của nhà Tiền Lê, và dự báo một triều đại mới đang manh nha. Lê Ngọa Triều băng hà, vua nối ngôi còn bé, đất nước đứng trước nạn ngoại xâm, và nội chiến...Một lần Đào Cam Mộc nói với Lý Công Uẩn “Gần đây chúa thượng ngu tối bạo ngược, làm nhiều việc bất nghĩa, trời chán ghét nên không cho hết thọ, con nối thơ ấu, không kham nổi nhiều khó khăn. Mọi việc phiền nhiễu thần linh không ưa, dân chúng nháo nhác, mong tìm chân chúa...”. Lần sau lại nói “Người trong nước ai cũng nói họ Lý khởi nghiệp lớn, lời sấm đã hiện ra rồi, đó là cái họa không thể che dấu được nữa. Chuyển họa thành phúc chỉ trong sớm chiều. Đây là lúc trời trao người theo...” và “Thân vệ là người khoan thứ, nhân từ, lòng người chịu theo. Hiện nay trăm họ mỏi mệt, kiệt quệ, dân không chịu nổi, Thân vệ nên lấy ân đức mà vỗ về, thì người ta tất xô nhau kéo về như nước chảy chỗ thấp, có ai ngăn được!”. Cuối cùng thì điều phải đến đã đến. Được sự ủng hộ của quân đội và giới Phật giáo, của quần thần trong triều, Lý Công Uẩn đã lên nắm triều chính. Đây là sự thay đổi vương triều thuận ý trời, hợp lòng người, nên đã diễn ra êm thấm, không đổ máu. (Theo PGS Lê Thành Lân, nhà lịch pháp học, ngày mà Ngọa Triều mất là 30 tháng 10 năm Kỷ Dậu ứng với ngày 19/11/1009. Hai ngày sau sự kiện Ngọa Triều ra đi, vua nối ngôi còn nhỏ dại, ngày mùng 2 tháng 11 năm Kỷ Dậu, ứng với ngày 21/11/1009, quần thần đã đồng lòng suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi vua, lập ra vương triều Lý đặt niên hiệu là Thuận Thiên). Năm ấy Lý Công Uẩn bước sang tuổi 35. Lịch sử dân tộc Việt lật sang trang sử mới. Theo soạn giả của Đại Việt sử ký toàn thư thì, sự kiện Lý Công Uẩn lên ngôi vua là “Vua ứng mệnh trời, thuận lòng người, nhân thời mở vận”
Cuộc thiên đô và tầm nhìn của bậc thiên tử

Kinh đô Hoa Lư nằm trên địa phận xã Trường Yên, huỵên Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, được bao bọc bởi hệ thống núi đá vôi hiểm trở. Với địa hình núi non sông suối bao bọc, Hoa Lư thích hợp với việc phòng thủ. Tuy nhiên với một triều đại mới, thời vận mới của dân tộc thì Hoa Lư dần dần bộc lộ những hạn chế. Kinh đô phải đảm bảo được yếu tố phát triển về mọi phương diện. Đó là phát triển kinh tế, văn hóa, ngoại giao với các nước, ổn định chính trị, xây dựng đất nước, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho chúng dân...Theo Lý Công Uẩn thì, “thành Hoa Lư ẩm thấp, chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương” và điều đó đã khiến nhà vua “rất đau đớn”. Ý định dời đô nung nấu tâm can nhà vua. Quê hương của ngài ở miền Kinh Bắc cũng là một vùng phong cảnh hữu tình, sản vật trù phú. Mùa xuân năm Canh Tuất (1010), sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn đã về thăm hương Cổ Pháp. Phải chăng những chuyến đi về nơi chôn nhau cắt rốn cả khi chưa lên ngôi và sau này khi đã ở ngôi thiên tử, đã là một trong những gợi ý để nhà vua chọn nơi định đô sau này. Bởi vậy mà trong “Chiếu hỏi quần thần” (Chiếu dời đô), Nhà vua đã đưa ra chủ kiến “xem khắp nước Việt” chỉ thấy thành Đại La “là nơi thắng địa, thực là chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời”. Với tư duy đó về mảnh đất sẽ chọn để đóng đô, đã chứng tỏ Đức Vua là một bậc minh quân, có tầm nhìn xuyên thấu không gian, xuyên suốt thời gian: “thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng đất này, mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh...”. Suy nghĩ thấu đáo, tham khảo ý kiến quần thần, chuẩn bị kỹ lưỡng, tháng 7 năm Canh Tuất khi tiết trời vào thu, Lý Công Uẩn cùng triều thần dời Hoa Lư ra thành Đại La. Các ghi chép của tiền nhân cho thấy, khi thuyền vừa cập bến ở chân thành thì, “rồng vàng hiện lên trên thuyền ngự”. Rồng uốn lượn như chào mừng nhà vua đến đóng đô ở vùng đất này. Vì vậy, nhà vua đã quyết định đặt tên cho kinh đô của triều đại mình là Thăng Long! Với khát vọng mãnh liệt “Thăng Long - Rồng bay” thể hiện khí thế vươn lên mạnh mẽ của vương triều Lý, cũng là mở đầu cho sự phát triển rực rỡ của dân tộc Việt.
Quyết định sáng suốt của Lý Công Uẩn đã đem đến luồng sinh khí mới cho mảnh đất này và mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên văn minh Đại Việt.
CHIẾU DỜI ĐÔ
Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô[5], nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô[6], há phải các vua thời Tam Đại[7]; ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.
Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương[8], ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?
HỊCH TƯỚNG SĨ
Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Ðế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước. Kính Ðức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được?
Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn. Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói: Vương Công Kiên là người thế nào? Nguyễn Văn Lập, tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà đem thành Ðiếu Ngư nhỏ tày cái đấu đương đầu với quân Mông Kha đường đường trăm vạn, khiến cho sinh linh nhà Tống đến nay còn đội ơn sâu! Cốt Ðãi Ngột Lang là người thế nào? Xích Tu Tư tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt!
Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.
Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.
Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không có ăn thì ta cho cơm. Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Ði thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa. Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?

Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng?
Nay ta bảo thật các ngươi: nên lấy việc đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ làm nguy; nên lấy điều kiềng canh nóng mà thổi rau nguội làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhaị Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không?
Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh Thư Yếu Lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.
Vì sao vậy? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa?
Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta."
Bình Ngô Đại Cáo
Nguyễn Trãi
Ngô Tất Tố dịch
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Cho nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại;
Triệu Tiết chí lớn phải vong thân;
Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét.
Chứng cứ còn ghi.
Vưà rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thừa cơ gây loạn
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ, nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa ?
Nặng nề những nổi phu phen tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi !
Lòng người đều căm giận,
Trời đất chẳng dung tha;
Ta đây:
Núi Lam sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh.
Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.
Thế mà:
Trông người, người càng vắng bóng,
Miịt mù như nhìn chốn bể khơi.
Tự ta, ta phải dốc lòng,
Vội vã hơn cứu người chết đói.
Phần vì giận quân thù ngang dọc,
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cõi một nhà,
Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử,
Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.
Trọn hay:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạọ
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đã hăng quuân thanh càng mạnh.
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm
Tụy Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu
Mọt gian kẻ thù: Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong,
Giặc đã trí cùng lực kiệt,
Chẳng đánh mà người chịu khuất,
Ta đây mưu phạt tâm công.
Tưởng chúng biết lẽ ăn năn
Nên đã thay lòng đổi dạ
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính
Lại còn chuốc tội gây oan.
Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.
Bởi thế:
Thằng nhãi con Tuyên đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đường tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay ! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ.
Bị ta chặn ở Lê Hoa,
Quân Vân Nam nghi ngờ
Khiếp vía mà vỡ mật
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm,
Quân Mộc Thạnh xéo lên nhau
Chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông,
Nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành đan Xá, thây chất thành núi,
Cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông
Linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;
Than ôi ! Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình,
Ban chiếu duy tân khắp chốn.
Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay.
[/SIZE]LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN
[/SIZE]

Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm!
Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946
Hồ Chí Minh
[/SIZE]TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA HỒ CHÍ MINH
[/SIZE]

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.
Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.
Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.
Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.
Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.
Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.
Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy."
--------------------------------------------------------------------------------
CÁC BÀI THƠ CỦA HỒ CHÍ MINH.
Giải đi sớm
早解
一
一次雞啼夜未闌
群星擁月上秋山
征人已在征途上
迎面秋風陣陣寒
二
東方白色已成紅
幽暗殘餘早一空
暖氣包羅全宇宙
行人詩興忽加濃
Tảo giải
(phiên âm)
Nhất thứ kê đề dạ vị lan
Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san
Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.
Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng
U ám tàn dư tảo nhất không
Noãn khí bao la toàn vũ trụ
Hành nhân thi hứng hốt gia nồng.
Giải đi sớm
(Nam Trân dịch)
Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn;
Người đi cất bước trên đường thẳm,
Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn.
Phương đông màu trắng chuyển sang hồng,
Bóng tối đêm tàn, quét sạch không;
Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,
Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng.
Nghe tiếng giã gạo
聞舂米聲
米被舂時很痛苦
既舂之後白如綿
人生在世也這樣
困難是你玉成天
Văn thung mễ thanh
(phiên âm)
Mễ bị thung thì, hẩn thống khổ,
Ký thung chi hậu, bạch như miên;
Nhân sinh tại thế dã giá dạng,
Khốn nạn thị nhĩ ngọc thành thiên.
Nghe tiếng giã gạo
(Văn Trực, Văn Phụng dịch)
Gạo đem vào giã bao đau đớn,
Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông;
Sống ở trên đời người cũng vậy,
Gian nan rèn luyện mới thành công.
Rằm Tháng Riêng [/SIZE]
[/COLOR][/SIZE]
[/SIZE]
Rằm xuân lồng lộng trăng soi,
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân.
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.
XUÂN THỦY dịch
Ngắm trăng
[/SIZE]
Trong tù không rượu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ;
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
Trung thu
[/SIZE]
Trung thu vành vạnh mảnh gương thu,
Sáng khắp nhân gian bạc một màu;
Sum họp nhà ai ăn tết đó,
Chẳng quên trong ngục kẻ ăn sầu.
Trung thu ta cũng tết trong tù,
Trăng gió đêm thu gợn vẻ sầu;
Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt,
Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu.
BÀI SƯU TẰM
[/COLOR]
LỄ HỘI ĐỀN HÙNG
[/ALIGN]
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba
Lễ hội đền Hùng còn gọi là Giỗ tổ Hùng Vương là một lễ hội lớn mang tầm vóc quốc gia ở Việt Nam, tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn công lao lập nước của các vua Hùng, những vị vua đầu tiên của dân tộc. Lễ hội diễn ra vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, tuy nhiên, lễ hội thực chất đã diễn ra từ hàng tuần trước đó với những phong tục như đâm đuống (đánh trống đồng) của dân tộc Mường, hành hương tưởng niệm các vua Hùng, và kết thúc vào ngày 10 tháng 3 âm lịch với lễ rước kiệu và dâng hương trên Đền Thượng.
Có 2 lễ được cử hành cùng thời điểm ngày chính hội:
Lễ rước kiệu vua: Đám rước kiệu với màu sắc sặc sỡ của bạt ngàn cờ, hoa, lọng, kiệu, trang phục truyền thống xuất phát từ dưới chân núi rồi lần lượt qua các đền để tới đền Thượng, nơi làm lễ dâng hương. Đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá dưới những tán lá cây để tới đỉnh núi Thiêng.
Lễ dâng hương: Người hành hương tới đền Hùng chủ yếu vì nhu cầu của đời sống tâm linh. Mỗi người đều thắp lên vài nén hương khi tới đất Tổ để nhờ làn khói thơm nói hộ những điều tâm niệm của mình với tổ tiên. Trong tâm hồn người Việt thì mỗi nắm đất, gốc cây nơi đây đều linh thiêng và chẳng có gì khó hiểu khi nhìn thấy những gốc cây, hốc đá cắm đỏ những chân hương.
Phần hội có nhiều trò chơi dân gian đặc sắc. Đó là những cuộc thi hát xoan (tức hát ghẹo), một hình thức dân ca đặc biệt của Vĩnh Phú, những cuộc thi vật, thi kéo co, hay thi bơi trải ở ngã ba sông Bạch Hạc, nơi các vua Hùng luyện tập các đoàn thủy binh luyện chiến.
CHÀO MỪNG 1000 NĂM THĂNG LONG HÀ NỘI


>

Diễn văn khai mạc Lễ Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết
Sáng 10-10, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, đã diễn ra Mít-tinh, diễu binh, diễu hành chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Minh Triết, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thay mặt Đảng, Nhà nước đã đọc diễn văn khai mạc Lễ Kỷ niệm sự kiện quan trọng này. TCCSĐT trân trọng giới thiệu toàn văn bài diễn văn khai mạc của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết.
Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Thưa các đồng chí lão thành cách mạng, các mẹ Việt Nam anh hùng, các vị khách quý,
Thưa toàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sỹ cả nước,
Hôm nay, tại Thủ đô yêu dấu, chúng ta long trọng tổ chức Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Thay mặt Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi thân ái gửi tới đồng bào, chiến sỹ Thủ đô và cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài lời chào mừng nồng nhiệt và lời chúc tốt đẹp nhất.
Tôi chân thành cảm ơn các vị khách quốc tế đã mang đến cho Đại lễ những tình cảm ấm áp của bạn bè bốn phương. Sự hiện diện của quý vị làm cho Đại lễ Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long càng thêm ý nghĩa. Chúng tôi trân trọng tình hữu nghị quý báu của quý vị và nguyện cùng các dân tộc trên thế giới phấn đấu cho cuộc sống hoà bình của nhân loại, sự phồn vinh của mỗi dân tộc và hạnh phúc của mỗi con người.
Thưa các vị khách quý, thưa toàn thể đồng bào, đồng chí!
Cách đây tròn 1000 năm, vào mùa Thu năm 1010, tiếp nối sự nghiệp dựng nước của các Vua Hùng, các bậc tiên liệt, Đức Thái Tổ Lý Công Uẩn với tầm nhìn chiến lược, đã quyết định dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, mở ra thời kỳ phát triển huy hoàng của kinh đô quốc gia Đại Việt. Từ mốc son lịch sử đó, đến thời đại Hồ Chí Minh quang vinh, trải qua 1000 năm với bao biến cố thăng trầm, Thăng Long - Hà Nội vẫn tư thế vững vàng, khí phách hiên ngang, xứng đáng là trái tim của cả nước, để hôm nay cả dân tộc trùng phùng.
Vào giờ phút thiêng liêng này, toàn thể đồng bào ta từ mọi miền trong nước và ngoài nước, từ thành thị đến nông thôn, từ núi rừng đến hải đảo, đang hướng về Thủ đô ngàn năm văn hiến. Trải qua bao thiên tai, binh lửa nhưng đồng bào các dân tộc vẫn một lòng sắt son yêu nước, ngày càng đoàn kết và gắn bó mật thiết với nhau trong một tình yêu thương vững bền và sâu sắc. Chào mừng những thành tựu của ngàn năm Thăng Long - Hà Nội, chúng ta trân trọng những đóng góp của cả nước với Thủ đô và những đóng góp của Thủ đô với cả nước. Đó là tinh thần "cả nước vì Thủ đô, Thủ đô vì cả nước", thể hiện tình cảm sâu nặng và nghĩa vụ quang vinh của mỗi chúng ta. Là nơi hội tụ và kết tinh những giá trị truyền thống của toàn dân tộc, Thăng Long - Hà Nội nổi bật lên những phẩm chất đặc biệt: Văn hiến, anh hùng, hoà bình, hữu nghị.
Chúng ta tôn vinh truyền thống Văn hiến của Thủ đô địa linh nhân kiệt, nơi lắng động hào khí Thăng Long, hồn thiêng sông núi, nơi kết tinh và toả sáng trí tuệ Việt Nam, toả sáng lương tri và phẩm giá con người. Văn hiến thể hiện bản sắc của dân tộc như Nguyễn Trãi đã từng khảng khái: Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu...Núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc - Nam cũng khác, và, tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có...
Văn hiến là nền tảng hình thành tinh thần độc lập, tự chủ và chủ quyền bất khả xâm phạm của Tổ quốc, là khởi đầu cho mọi sức mạnh và sự thông minh, sáng tạo của dân tộc Việt Nam. Truyền thống ấy sẽ trường tồn muôn thưở.
Chúng ta yêu mến và tự hào về Thủ đô Anh hùng - Danh hiệu cao quý mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã tặng cho Thăng Long - Hà Nội. Đứng giữa Thủ đô huy hoàng trong ngày Đại lễ, chúng ta thành kính bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với Tổ tiên và các thế hệ tiền nhân đã có công khai sáng kinh thành Thăng Long. Chúng ta thành kính tưởng nhớ và biết ơn vô hạn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, các nhà yêu nước, cách mạng tiền bối, các anh hùng liệt sỹ, các thế hệ công nhân, nông dân, trí thức, lực lượng vũ trang Hà Nội và cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài đã có công xây dựng và bảo vệ Thủ đô. Biết bao trí tuệ, mồ hôi, xương máu của ông cha ta đã đổ vào mỗi thửa ruộng, mỗi con đê, mỗi đoạn đường, mỗi góc phố để Hà Nội có được như ngày nay. Suốt mấy ngàn năm đất nước và Thủ đô ta, sáng chắn bão dông, chiều ngăn nắng lửa hết đời này qua đời khác. Suốt mấy ngàn năm, nhân dân ta có bao ngày được ngơi nghỉ? Bao nhiêu thế hệ cứ tiếp nối nhau kiên cường, chiến đấu, hiến dâng cho Thủ đô và Tổ quốc cuộc đời mình, cả tuổi trẻ, tình yêu và hạnh phúc để bảo vệ từng tấc đất của tổ tiên nguồn cội.
Việt Nam là một dân tộc anh hùng, Hà Nội là một Thủ đô anh hùng của Việt Nam, anh hùng trong chiến đấu và anh hùng trong lao động. Anh hùng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, anh hùng để mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hoà bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thuỷ chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực.
Chúng ta cảm ơn bạn bè quốc tế đã trao tặng Thủ đô Hà Nội danh hiệu Thành phố vì hoà bình. Suốt chiều dài lịch sử, Thăng Long- Hà Nội luôn tiêu biểu cho khát vọng hoà bình, chủ nghĩa nhân văn, tinh thần nhân đạo và hoà hiếu của dân tộc Việt Nam. Hồ Hoàn Kiếm gắn với huyền thoại Đức Thái Tổ Lê Lợi trả lại gươm thần sau khi đại thắng quân xâm lược, mãi mãi là hình tượng sống động về tinh thần yêu chuộng hoà bình của người Thăng Long- Hà Nội- Việt Nam. Chúng ta chân thành cám ơn sự thông cảm, ủng hộ và giúp đỡ to lớn của nhân dân tiến bộ toàn thế giới. Việt Nam, Hà Nội đang và sẽ là bạn, là đối tác tin cậy của các nước, các thủ đô, các thành phố, góp sức xây dựng cộng đồng khu vực và quốc tế hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
Kỷ niệm ngàn năm Thăng Long- Hà Nội là dịp để chúng ta tiếp tục khẳng định những phẩm chất cao quý và truyền thống tốt đẹp: Văn hiến, anh hùng, hoà bình, hữu nghị của Thủ đô, của đất nước con Hồng, cháu Lạc. Đó cũng chính là lẽ sống, là đạo đức và phong cách ứng xử của con người Việt Nam. Đó là di sản vô giá của Tổ tiên cùng các thế hệ cha ông ta để lại. Chúng ta có trách nhiệm giữ gìn, trân trọng giữ gìn, truyền lại cho muôn đời con cháu mai sau và phát huy lên một tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh.
Thưa đồng bào và chiến sỹ cả nước,
Hà Nội hôm nay thật đẹp. Đi giữa các phố phường của Thủ đô, mỗi chúng ta đều nhận thấy những thành tựu rất cụ thể của quá trình đổi mới, hội nhập, phát triển, càng thêm yêu và tự hào về Hà Nội. Thủ đô đang bừng sáng lên với một tư thế mới, diện mạo mới, sức sống mới. Sau hàng ngàn năm lịch sử, Thăng Long – Hà Nội có bao giờ đẹp như hôm nay?
Nhưng cũng ngay trong thời khắc lịch sử này, khi đang hân hoan mừng ngày Đại lễ, chúng ta vẫn nhận thức sâu sắc rằng cả nước và Thủ đô còn nhiều khó khăn, thách thức ở phía trước. Để xứng đáng với Tổ tiên, với lịch sử hào hùng của dân tộc, toàn thể nhân dân Việt Nam ở trong nước, ngoài nước nguyện đoàn kết một lòng, đồng tâm hiệp lực, đem tất cả tinh thần và sức lực, trí tuệ và tài năng, phấn đấu xây dựng Thủ đô Hà Nội ngày càng văn minh, hiện đại, giàu đẹp, sánh vai cùng Thủ đô các nước trên thế giới; tích cực góp phần xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh theo mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.
Tổ quốc Việt Nam quang vinh muôn năm,
Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm,
Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.
Xin trân trọng cảm ơn!




[/COLOR]













Trần Trúc Vântrantrucvan # Monday, May 10, 2010 6:04:33 PM
NGUYEN QUANG HIEPquanghiep56 # Tuesday, May 11, 2010 2:23:56 AM
Chúc cháu vui vẻ, thành công.
Suze phạmmammampotato # Wednesday, May 19, 2010 11:56:14 PM
NGUYEN QUANG HIEPquanghiep56 # Thursday, May 20, 2010 12:02:35 AM
CHUC CHÁU LUÔN KHỎE MẠNH ,và thường ghé thăm chú nhé.
HoaVuongTu # Thursday, May 20, 2010 9:07:41 AM
Bài Ngợi Ca Quê Hương
Trình bày: Thái Châu - Sơn Ca
Sáng tác: Thanh Sơn
nếu khg đúng thì đừng có rượt Cháu Chạy
Thôi để Cháu Chạy trước chắc ăn hihihi
NGUYEN QUANG HIEPquanghiep56 # Thursday, May 20, 2010 11:28:33 PM
Chú xin lổi cháu TRẤN TRÚC VÂN NHÉ.
Linda ChuangLindaChuang # Sunday, May 30, 2010 11:00:57 AM
NGUYEN QUANG HIEPquanghiep56 # Wednesday, June 2, 2010 2:35:52 AM
CHÚC CHÁU VUI KHỎE VÀ THÀNH CÔNG...
Linda ChuangLindaChuang # Wednesday, June 2, 2010 9:31:25 AM
Cháu cũng chúc chú luôn VUI KHỎE
jvjx71gb # Friday, June 4, 2010 10:53:58 AM
Cháu mời chú và chị Linda sang nhà thưởng thức món mức gừng đây hii
http://my.opera.com/jvjx71gb/blog/show.dml/12218342
tháng hè này ăn gừng rất tốt cho cơ thể
NGUYEN QUANG HIEPquanghiep56 # Friday, June 4, 2010 11:13:25 AM
không biết LINDA như thế nào chứ Chú ăn xong vẫn còn thèm...
Còn món nào nửa không cháu?
CHÚC CHÁU VUI NHÉ...
jvjx71gb # Friday, June 4, 2010 11:17:55 AM
để vài ngày nữa cháu sẽ tập làm nhiều hơn vài món nữa, tới lúc đó mời Chú và Chị Linda ghé thăm và thưởng thức hii
CHÚC CHÚ LUÔN VUI VẺ VÀ NHIỀU SỨC KHỎE HII
Windytammail # Wednesday, June 9, 2010 2:03:43 PM
NGUYEN QUANG HIEPquanghiep56 # Wednesday, June 9, 2010 11:15:28 PM
HƯƠNG ĐÀIHuongdaiphm # Tuesday, June 22, 2010 1:32:50 AM
NGUYEN QUANG HIEPquanghiep56 # Tuesday, June 22, 2010 2:36:23 AM
CHÚC bạn luôn khỏe...
Nguyễn Hà Thuỷtrungtamdaotaoketoan # Thursday, September 30, 2010 4:02:57 AM