CHUYẾN ĐI MIỀN NAM
Friday, September 30, 2011 5:55:44 AM
DINH ĐỘC lẬP
Dinh Độc Lập - nơi lưu nhiều dấu ấn của lịch sử
Dinh Độc lập do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế, được khởi công xây dựng năm1962, khánh thành năm 1966, là nơi lưu giữ nhiều dấu ấn lịch sử.
Lịch sử hình thành
Ngày 23/2/1868, Thống đốc Pháp tại miền Nam Việt Nam là Lagradìere đã đặt viên đá đầu tiên trên khoảng đất rộng 12ha tại trung tâm thành phố Sài Gòn để xây dựng Dinh toàn quyền Đông Dương, với chủ ý phô trương uy thế chính quyền thực dân ở châu Á.
Dinh được đặt tên là Dinh Norodom và được thiết kế theo phong cách cổ điển mang chút lãng mạn tân Baroc. Chi phí xây dựng dinh đã “ngốn” 1/4 ngân sách thuộc địa. Dinh hoàn thành vào năm 1871.
Từ tháng 3 đến tháng 9/1945, Dinh trở thành nơi làm việc của chính quyền Nhật ở Việt Nam.
Sau khi Nhật thất bại trong Chiến tranh thế giới thứ II, Pháp trở lại chiếm Nam Bộ, Dinh Norodom lại trở thành trụ sở làm việc của bộ máy chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam.
Ngày 7/9/1954, Dinh được bàn giao cho chính quyền Ngô Đình Diệm. Ngô Đình Diệm đã đổi tên Dinh thành Dinh Độc lập.
Từ đó, Dinh Độc lập trở thành nơi ở của gia đình Ngô Đình Diệm và là nơi chứng kiến nhiều biến cố chính trị.
Ngô Đình Diệm đã duy trì chế độ độc tài gia đình trị, dồn dân vào ấp chiến lược, thi hành luật 10/59 lê máy chém khắp miền Nam, không những gây phẫn uất trong nhân dân mà còn gây ra sự bất bình trong nội các chính quyền Sài Gòn.
Ngày 27/2/1962, phe đảo chính đã cử hai viên phi công quân đội Sài Gòn là Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc lái 2 máy bay AD6 ném bom làm sập toàn bộ phần chính cánh trái của Dinh.
Do không thể khôi phục lại, Ngô Đình Diệm đã cho xây một dinh thự mới ngay trên nền đất cũ, nhưng vẫn giữ tên gọi Dinh Độc lập.
Dinh được xây dựng theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ - người Việt Nam đầu tiên đoạt Giải "Khôi nguyên La Mã" (Pháp).
Dinh được khởi công ngày 1/7/1962. Công trình đang xây dựng dở dang thì Ngô Đình Diệm bị phe đảo chính giết chết ngày 2/11/1963. Do vậy, ngày khánh thành 31/10/1966 người chủ tọa buổi lễ là Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Văn Thiệu cũng là người có thời gian sống ở dinh thự này lâu nhất (từ tháng 10 năm 1967 đến ngày 21/4/1975.
Từ đó, Dinh Độc lập là cơ quan đầu não của Chính quyền Sài Gòn, là nơi chứng kiến sự can thiệp quân sự của nước ngoài gây chiến tranh tàn khốc ở Việt Nam, là nơi ra đời nhiều chính sách phản lại nhân dân của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, 10 giờ 45 ngày 30/4/1975 xe tăng mang số hiệu 843 của quân giải phóng thuộc Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn xe tăng 230, Quân đoàn 2 dẫn đầu đội hình đã húc nghiêng cổng phụ của Dinh Độc lập; tiếp đó, xe tăng mang số hiệu 390 đã húc tung cổng chính tiến thẳng vào Dinh.
11 giờ 30 cùng ngày, Trung úy Bùi Quang Thận - Đại đội trưởng chỉ huy xe 843 đã hạ lá cờ ba sọc xuống, kéo cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam lên. Cờ phấp phới tung bay trên nóc Dinh Độc lập, kết thúc 30 năm chiến tranh gian khổ và anh dũng của dân tộc.
Cũng chính vào giờ phút này, Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa là Dương Văn Minh cùng toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn đã tuyên bố đầu hàng vô điều kiện chính quyền cách mạng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quân và dân ta đã thực hiện được ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nhân dân hai miền Nam-Bắc đã sum họp một nhà. Tinh thần và ý chí của nhân dân Việt Nam là độc lập dân tộc và thống nhất nước nhà đã toàn thắng.
Tháng 11 năm 1975, Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất hai miền Nam Bắc đã diễn ra tại đây. Sau hội nghị này, Dinh được đổi tên thành Hội trường Thống nhất hay Dinh Thống Nhất.
Năm 1976, Dinh được Nhà nước đặc cách công nhận là Di tích lịch sử văn hóa Dinh Độc lập (Quyết định số 77A/VHQĐ ngày 25/6/1976).
Ngày nay, Dinh Thống nhất là di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng được đông đảo du khách trong nước và nước ngoài đến tham quan.
Mỗi năm, Dinh đón khoảng 500.000 du khách đến chiêm ngưỡng công trình kiến trúc và tìm hiểu về những giá trị lịch sử gắn liền với nó.
Về kiến trúc của Dinh Độc lập
Dinh Độc lập là một công trình kiến trúc độc đáo của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ. Dinh được khởi công xây dựng ngày 1/7/1962 và khánh thành ngày 31/10/1966.
Khi thiết kế, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ muốn tìm một ý nghĩa văn hóa cho công trình, nên mọi sự xếp đặt từ bên trong nội thất cho đến tiền diện bên ngoài, tất cả đều tượng trưng cho triết lý cổ truyền, nghi lễ phương Đông và cá tính của dân tộc.
Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã kết hợp hài hoà giữa nghệ thuật kiến trúc hiện đại với kiến trúc truyền thống phương Đông.
Toàn thể bình diện của Dinh làm thành hình chữ "Cát", có nghĩa là tốt lành, may mắn. Vẻ đẹp kiến trúc của Dinh còn được thể hiện bởi bức rèm hoa đá mang hình dáng những đốt trúc thanh tao bao xung quanh tầng hai.
Đi vào bên trong Dinh, tất cả các đường nét kiến trúc đều dùng đường ngay sổ thẳng.
Sân trước của Dinh là một thảm cỏ hình oval có đường kính 102m. Màu xanh của thảm cỏ tạo ra một cảm giác êm dịu, sảng khoái ngay khi bước qua cổng.
Chạy dài theo suốt chiều ngang của đại sảnh là hồ nước hình bán nguyệt. Trong hồ thả hoa sen và hoa súng gợi nên hình ảnh những hồ nước yên ả ở các ngôi đình, ngôi chùa cổ kính của Việt Nam.
-Dinh có diện tích 120.000m2 (300m x 400m), được giới hạn bởi bốn trục đường chính, đó là:
Đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa ở phía Đông Bắc (mặt chính của Dinh);
Đường Huyền Trân Công Chúa ở phía Tây Nam (mặt sau);
Đường Nguyễn Thị Minh Khai ở phía Tây Bắc (phía bên trái);
Đường Nguyễn Du ở phía Đông Nam (phía bên phải).
- Dinh có 4 khu nhà:
+ Khu nhà chính hình chữ T diện tích mặt bằng là 4.500m2, nằm ở vị trí trung tâm của khu đất. Đây từng là nơi ở và làm việc Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn.
Khu này có ba tầng, hai gác lửng, một sân thượng, một tầng nền và một tầng hầm. Tổng diện tích sử dụng là 20.000m2 chia làm 95 phòng. Mỗi phòng có 1 chức năng riêng, kiến trúc và các trang trí phù hợp với mục đích sử dụng của mỗi phòng.
+ Khu nhà hai tầng phía đường Nguyễn Du, hiện nay là nơi làm việc của Ban Giám đốc Hội trường Thống Nhất.
+ Khu nhà hai tầng phía góc đường Nguyễn Du - Huyền Trân Công Chúa, trước 1975 là khu nhà ở của tiểu đoàn bảo vệ Dinh Độc lập. Sau 1975 là nơi ở của đại đội 1 trung đoàn cảnh vệ 180.
Hiện nay khu này đã được cải tạo thành khu nhà khách của Văn phòng Chính phủ.
+ Khu nhà trệt phía góc đường Huyền Trân Công Chúa - Nguyễn Thị Minh Khai, trước 1975 là khu sinh hoạt của đội cận vệ phi hành đoàn lái máy bay cho Nguyễn Văn Thiệu và của bộ phận chăm sóc vườn cây.
Hiện đã được cải tạo thành khu nhà nghỉ trưa và bếp ăn tập thể của cán bộ công nhân viên Hội trường Thống Nhất.
Ngoài các khu nhà trên, ở góc trái Dinh phía đường Nguyễn Thị Minh Khai còn có một nhà bát giác đường kính 4m, xây trên một gò đất cao, chung quanh không xây tường, mái ngói cong cổ kính làm nơi hóng mát, thư giãn.
Xen giữa bốn khu nhà trên là những bãi cỏ xanh mướt, vườn cây cổ thụ, những chậu cây cảnh quý và bốn sân tennis phía sau khu nhà chính.
Theo Phương Dung (Vietnam+)
Dinh Thống Nhất ngày nay. Nguồn: Internet

PHÒNG HỘI NGHỊ

PHÒNG LÀM VIỆC CỦA TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU



XE CỦA TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU

PHÒNG ĐẠI YẾN

PHÒNG TIẾP KHÁCH

PHÒNG CHẾU PHIM.

MÁY CHIẾU PHIM.

TRỰC THĂNG CỦA TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU ĐI KINH LÝ.

1 TRONG 2CHIẾC XE TĂNG TIẾN VÀO DINH ĐỘC LẬP NĂM 1975

CHIẾC MÁY BAY DO NGUYỄN THÀNH TRUNG THẢ BOM DINH ĐỘC LẬP NĂM 1975.

Nguyễn Sinh Sắc, còn gọi là Nguyễn Sinh Huy , nhân dân còn gọi tắt là Cụ Phó bảng; 1862–1929) là thân sinh của Hồ Chí Minh.







CÂY KHẾ CÓ TUỔI TỪ NĂM 1748


TƯỢNG 2 NGƯỜI HOC TRÒ ĐANG LÀM THUỐC NAM.




Miếu Bà Chúa xứ là một di tích nổi tiếng ở Núi Sam, hàng năm thu hút gần 2 triệu lược người đến cúng bái, tham quan. Khách hành hương, du lịch không những đến từ các tỉnh lân cận mà còn từ các tỉnh xa như miền Đông, miền Trung… tạo nên một mùa lễ hội sôi nổi, đông đảo ở núi Sam suốt nhiều tháng.
Miếu Bà có từ bao giờ? Đến nay chưa có sử liệu nào ghi lại một cách chính xác. Trong dân gian tương truyền rằng: Cách đây gần 200 năm, núi Sam còn hoang vu, cây cối rậm rạp, nhiều thú dữ, dân cư thưa thớt, giặc biên giới thường sang khuấy nhiễu.
Một hôm, có một toán giặc Xiêm leo lên núi Sam phát hiện được pho tượng cổ bằng đá rất đẹp. Động lòng tham, chúng xeo nại, tìm cách khiêng đi nhưng không thể nào xê dịch được. Sau hàng giờ vất vả với pho tượng, chúng tức giận đập phá làm gãy cánh tay trái pho tượng.
Sau khi chúng bỏ đi, trong làng có một bé gái đang đùa giỡn bỗng dưng ngồi lại, mặt đỏ bừng, đầu lắc lư, tự xưng là Chúa xứ thánh mẫu, nói với các bô lão: “T ượng bà đang ngự trên núi, bị giặc Xiêm phá hại, dân làng hãy đ ưa Bà xuống”. Dân làng kéo nhau lên núi, quả thật t ượng Bà đang ngự gần trên đỉnh. Họ xúm nhau khiêng t ượng xuống làng nhằm mục đích để gìn giữ và phụng thờ. Bao nhiêu tráng đinh lực điền đ ược huy động, các lão làng tính kế để đ ưa t ượng đi, nh ưng không làm sao nhấc lên đ ược dù pho t ượng không phải là quá lớn, quá nặng.
Các cụ bàn nhau chắc là ch ưa trúng ý Bà nên cử ng ười cầu khấn. Quả nhiên bé gái hôm nọ lại đ ược Bà đạp đồng mách bảo: “Hãy chọn chín cô gái đồng trinh để đem Bà xuống núi”.
Dân làng mừng rỡ tuyển chọn chín cô gái dẫn lên núi, xin phép Bà được đưa cốt tượng xuống. Lạ thay, chín cô gái khiêng bà đi một cách nhẹ nhàng.
Xuống đến chân núi, tượng bỗng nặng trịch, các cô phải đặt xuống đất và không nhấc lên nổi nữa. Dân làng hiểu rằng Bà muốn ngự nơi đây nên tổ chức xin keo, được Bà chấp thuận và lập Miếu thờ. Hôm đó là ngày 25 tháng 4 âm lịch, dân làng lấy ngày này làm lễ vía Bà.
Lúc đầu, miếu Bà được xây dựng đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng, lưng quay về vách núi, chánh điện nhìn ra cánh đồng bát ngát. Sau nhiều lần trùng tu, miếu Bà khang trang hơn. Năm 1870, miếu được xây lại bằng đá miểng và lợp ngói, thu hút khách thập phương đến chiêm bái, tín ngưỡng.
Đến năm 1972, miếu được xây dựng mới, đồ sộ và lộng lẫy theo lối kiến trúc cổ kính phương Đông. Mái cong nhiều tầng lợp ngói xanh, tường ốp gạch men bóng láng nhập từ nước ngoài, các khung cửa bằng gỗ quí được chạm trổ hoa văn công phu, mỹ thuật. Chánh điện cao rộng, thoáng khí, vừ uy nghi vừa ấm cúng. Công trình là một quần thể hoành tráng trên mặt bằng rộng với dãy đông lang, tây lang, nhà khách…bao bọc xung quanh cũng với kiến trúc mái cong, lợp ngói xanh, theo đồ án của kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng, nhưng xây dựng dở dang. Mãi đến năm 1995, Ban Quản trị lăng miếu núi Sam mới tiếp tục xây dựng phần còn lại. Trường học được cải tạo thành nhà trưng bày đồ sộ, hài hòa với miếu.
Tượng Bà đặt giữa chánh điện, đội mão sặc sỡ, mặc áo bào thêu rồng phụng, kim tuyến lấp lánh. Khách hành hương đã dâng cúng cho Bà hàng ngàn áo mão, không sử dụng hết, có cái được may từ nước ngoài trị giá vài cây vàng.
Tượng Bà là một tác phẩm nghệ thuật tạc bằng đá son, có từ thế kỷ thứ 6. Dáng người ngồi nghĩ ngợi, khoan thai, thuộc loại tượng thần Vít-nu, có nhiều ở Ấn Độ, Lào, Campuchia. Trước kia có nhiều hình thức cúng bái mê tín như xin xăm, xin bùa, uống nước tắm Bà để trị bệnh… Ngày nay, những hủ tục đó không còn nữa. Đa số khách đến viếng thăm để dâng hương cầu tài, cầu lộc, thể hiện lòng tạ ơn Bà bằng nhiều hình thức: Cúng heo quay, cúng tiền, lễ vật lưu niệm hoặc các tiện nghi phục vụ cho miếu. Các vật lưu niệm ngày nay quá nhiều, Ban Quản trị đưa vào khu nhà lưu niệm để trưng bày. Tiền hỉ cúng hàng năm lên tới vài tỉ đồng (trong đó có vàng, đô-la). Nguồn tài chánh này ngoài việc trùng tu, xây dựng lăng, miếu còn góp phần vào nhiều công trình thủy lợi xã hội địa phương như làm đường, xây trường học, bệnh xá, đóng góp quỹ từ thiện, khuyến học…
Các lễ cúng ở miếu Bà vẫn được duy trì theo nghi thức cổ truyền. Vào lúc nửa đêm 23 rạng 24 tháng tư âm lịch, lễ tắm Bà được tiến hành khoảng hơn một giờ đồng hồ nhằm lau sạch bụi bặm sau một năm dài. Lễ được chuẩn bị từ lúc 23 giờ 30 và bắt đầu lúc 0 giờ. Các vị bô lão trong lễ phục áo dài khăn đóng lên đèn, niệm hương, dâng rượng, dâng trà… Xong phần nghi thức, khoảng 4 đến 5 phụ nữ đứng tuổi, có uy tín trong làng tiến hành việc tắm Bà. Sau khi cởi áo mão, các vị dùng nước sạch có ngâm hoa lài tỏa mùi thơm ngào ngạt để lau cốt tượng. Xong, xịt nước hoa rồi mặc áo mão mới cho Bà. Mặc dù công việc được thực hiện sau bức màn che nhưng có hàng ngàn người chen chúc nhau đến chứng kiến ngoài vòng rào chánh điện.
Lễ túc yết và lễ xây chầu được tiến hành trong đêm 25 rạng 26 tháng 4 âm lịch, đây là cuộc lễ chính trong lễ hội vía Bà. Từ đầu hôm, hàng chục ngàn người đã tụ về miếu Bà để được tham dự cuộc hành lễ này. Trước đó, hồi 15giờ cuộc lễ thỉnh sắc thần được tiến hành trọng thể trong tiếng trống lân rộn rã. Các bô lão và thanh niên trong lễ phục, xếp hai hàng dưới bóng cờ, lộng sặc sỡ, hộ tống long đình rước bài vị của ông Thoại Ngọc Hầu và hai vị phu nhân từ lăng về miếu.
Đúng 0 giờ, cuộc lễ túc yết bái bắt đầu với sự điều khiển của chánh bái và bốn đào thầy. Lễ vật dâng cúng là một con heo trắng đã cạo mổ xong và một dĩa mao huyết tượng trưng cho con heo sống cùng với các mâm xôi, ngũ quả… trong tiếng nhạc lễ và chiêng trống trỗi lên từng hồi, ông chánh bái và các đào thày dâng hương, dâng rượu, đọc văn tế, dâng trà. Lễ xây chầu được nối tiếp khi ông chánh bái cầm nhành dương vãi nước và đọc: “Nhất xái thiên thanh, nhị xái địa ninh, tam xái nhơn đường, tứ xái quỉ diệt hình” (có nghĩa là thứ nhất vãi lên trên trời xanh mong điều cao đẹp, thứ hai vãi xuống đất cho được màu mỡ, trúng mùa, thứ ba vãi loài người được trường thọ, thứ tư vãi diệt loài quỉ dữ). Xong, chánh bái ca công nổi trống ba hồi. Đoàn hát bộ trên sân khấu trong võ ca trước chánh điện đã chuẩn bị sẵn, nổi trống theo và kéo màn trình diễn.
Đến 4 giờ sáng ngày 27 tháng 4 âm lich, lễ chánh tế được tiến hành như lễ túc yết nhưng đơn giản hơn. Và 15 giờ cùng ngày đoàn thỉnh sắc làm lễ hồi sắc, đưa bài vị ông Thoại Ngọc Hầu và hai phu nhân trở về lăng, kết thúc một mùa vía.
Theo thixachaudoc.com




Thoại Ngọc Hầu tên thật là Nguyễn Văn Thoại,. Ông sinh ngày 25/11/1761 tại Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, được phong tước Ngọc Hầu. Ông mất ngày 06/6/1829.Ông là một danh tướng nổi tiếng của triều Nguyễn.
Thoại Ngọc Hầu được triều đình nhà Nguyễn phong tước hầu cử vào khai phá trấn giữ An Giang. Ông đã tập hợp lưu dân hai tỉnh Quảng Nam - Quảng Ngãi về ở các vùng Ông Chưởng. Núi Sập , Châu Đốc, Long Xuyên... Ông là người tổ chức đào kênh Thoại Hà và kênh Vĩnh Tế dài hơn 90km. Thoại Ngọc Hầu cho vẽ bản đồ trình triều đình Huế, được vua khen ngợi ban sắc chỉ cho lấy tên người mà đặt cho tên kênh là Thoại Hà (kênh Thoại) và lấy tên vợ chính của ông là Vĩnh Tế đặt cho kênh là Vĩnh Tế.















