MÀU TÍM HOA SIM ; THƠ HỮU LOAN .
Friday, April 9, 2010 11:39:33 PM
VĨNH BIỆT NHÀ THƠ HỮU LOAN:Vào lúc 19giờ ngày 18/3/2010. nhà THƠ HỮU LOAN,tác giả của bài thơ"MÀU TÍM HOA SIM" đã vĩnh viễn từ giã cõi đời khi chuẩn bị bước sangtuooir 95{12.4.1916 - 18.3.2010Trong lúc chờ đợi con cái về đông đủ, Bà NHU, Vợ ông và người con ở quê đã khâm liệm đặt ông vào quan tài yên nghỉ vào lúc 23 giò cùng ngày....
MÀU TÍM HOA SIM
[/COLOR][/ALIGN]
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…
Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…
Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu[
Áo anh nát chỉ dù lâu…
[/SIZE]
[/COLOR][/ALIGN]
Núi đôi
[/align]
Bảy năm về trước em mười bảy
Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng
Xuân Dục, Đoài Đông hai nhánh lúa
Bữa thì anh tới bữa em sang.
Lối ta đi giữa hai sườn núi
Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi
Em vẫn đùa anh sao khéo thế
Núi chồng, núi vợ đứng song đôi.
Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới
Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau
Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn
Ai ngờ từ đó mất tin nhau.
Anh vào bộ đội lên Đông Bắc
Chiến đấu quên mình năm lại năm
Mỗi bận dân công về lại hỏi
Ai người Xuân Dục Núi Đôi chăng.
Anh nghĩ quê ta giặc chiếm rồi
Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi
Mỗi tin súng nổ vùng đai địch
Sương trắng người đi lại nhớ người.
Đồng đội có nhau thường nhắc nhở
Trung du làng nước vẫn chờ trông
Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm
Em vẫn đi về những bến sông.
Náo nức bao nhiêu ngày trở lại
Lệnh trên ngừng bắn anh về xuôi
Hành quân qua tắt đường sang huyện
Anh nhớ thăm nhà thăm Núi Đôi.
Mới đến đầu ao tin sét đánh
Giặc giết em rồi, dưới gốc thông
Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa
Em sống trung thành chết thuỷ chung.
Anh ngước nhìn lên hai dốc núi
Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen
Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói
Núi vẫn Đôi mà anh mất em.
Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo
Em còn trẻ lắm, nhất làng trong
Mấy năm cô ấy làm du kích
Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng.
Từ núi qua thôn đường nghẽn lối
Xuân Dục Đoài Đông cỏ ngút đầy
Sân biến thành ao nhà đổ chái
Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay.
Cha mẹ dìu nhau về nhận đất
Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau
Nứa gianh nửa mái lều che tạm
Sương trắng khuấy dần chuyện xót đau.
Anh nghe có tiếng người qua chợ
Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều
Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc
Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu.
Nhưng núi còn kia anh vẫn nhớ
Oán thù còn đó anh còn đây
Ở đâu cô gái làng Xuân Dục
Đã chết vì dân giữa đất này?
Ai viết tên em thành liệt sĩ
Bên những hàng bia trắng giữa đồng
Nhớ nhau anh gọi em, đồng chí
Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.
Anh đi bộ đội sao trên mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.
LỜI TỰ THÚ
[/COLOR]
Tôi yêu em, dù hóa dại hóa điên
Dù đau khổ, bẽ bàng không hy vọng,
Tôi sẵn lòng quỳ nhận dưới chân em
Điều bất hạnh nỗi dại khờ cay đắng,
Không còn hợp với tuổi đời, danh tiếng
Đến lúc tôi cần biết sống khôn hơn,
Nhưng tôi hiểu qua rất nhiều triệu chứng,
Trái tim tôi đang mắc bệnh ái tình,
Khi vắng em, tôi mệt mỏi chán chường,
Khi em đến, lại buồn, tôi chịu đưng,
Không nén nổi, muốn thốt lời ngẫu hứng:
Thiên thần ơi, ôi biết mấy yêu thương!
Khi tôi nghe bên phòng khách cách tường,
Tiếng xiêm áo, tiếng chân em nhè nhẹ
Và giọng nói ngây thơ trong trẻo thế
Bỗng thấy mình như mất cả trí khôn,
Khi em cười, tôi rạng rỡ tâm hồn
Em ngoảnh mặt, khiến lòng tôi buồn tủi,
Vì trọn một ngày khổ đau mệt mỏi,
Phần thưởng em trao: bàn tay thương yêu,
Lúc em ngồi cần mẫn trước khung thêu,
Vóc thon thả, hơi ngả mình lơi lỏng,
Đôi mắt ngọc, mái tóc xoăn rủ xuống,
Tôi lặng im, như đứa trẻ, đắm nhìn,
Có nên nói chăng về nỗi buồn ghen,
Về bất hạnh trong lòng tôi day dứt
Em sửa soạn đi chơi xa những lúc
Trời tối sầm, ảm đạm, gió từng cơn
Và giọt lệ em nhỏ giữa cô đơn,
Và lời nói nơi chỉ còn hai đứa,
Và chuyến đi miền quê đáng nhớ,
Và một chiều vọng tiếng dương cầm,
Người tình ơi! Mong em hãy thương nhớ
Tôi không dám cầu xin em tình ái!
Có lẽ bởi chất chồng nhiều tội lỗi,
Thiên thần ơi, tôi đâu xứng tình em!
Nhưng xin em hãy cứ giả vờ thêm
Ánh mắt ấy chứa bao điều huyên bí ...
Ôi, lừa dối tôi nào khó,
Khúc mùa thu
Vẫn biết ta giờ không trẻ nữa
Sao thương ai ở mãi cung hằng
Lời nguyện cũ trên đầu như nguyệt quế
Đâu chịu nhòa khi tới giữa mùa trăng
Tôi đã yêu đã yêu như chết là hạnh phúc
Tôi đã quên mình chỉ để nghĩ về em
Người đàn bà dấu đêm vào trong tóc
Còn điều chi em mải miết đi tìm.
Tôi đã đến cùng em và tôi biết
Em cũng là như mọi người thôi
Nhưng chưa hết cuộc yêu tôi đã hiểu
Em ám ảnh tôi trọn một kiếp người
Ngay cả nếu âm thầm em hóa đá
Bầu trời lặng yên cũng đã vỡ rơi
Mênh mông quá khoảng trống này ai lấp
Khi thanh âm cũng bất lực như lời
Sẽ chỉ còn quầng thu thuở ấy
Nỗi cô đơn vằng vặc giữa trời
Người đàn bà dấu đêm vào trong tóc
Em tìm gì khi thất vọng về tô
CHIA HAI
[/align]Trần gian vốn đã chia hai
Nửa đêm để mộng, nửa ngày để mơ
Người ta sao cứ vẩn vơ
Cũng chia hai nửa để chờ đợi nhau.
Trái tim có lúc chia hai
Nửa còn ở lại, nửa ai mang về
Để ta nửa tỉnh nửa mê
Nằm ôm nửa mảnh trăng thề nhớ ai...
Giọt sầu cũng muốn chia hai
Nửa làm kỷ niệm, nửa mai gửi người
Ta xin em nửa môi cười
Nửa kia để lại cho đời chút vui.
TÌNH ĐẦU
Sẽ chẳng bao giờ anh quên được em đâu
Mối tình đầu làm anh day dứt mãi
Không ai hiểu bao tháng năm khờ dại
Cứ vấn vương hoài khắc khoải không nguôi
Sẽ chẳng khi nào anh quên được em đâu
Dù đến lúc em nghĩ về người con trai khác
Anh sẽ vẫn là người em khao khát
Là nhịp đập tim em cháy bỏng suốt đêm dài
Sẽ chẳng bao giờ anh yêu được ai đâu
Khi trái tim anh một lần tan vỡ
Khi lòng anh đã không còn mở cửa
Khi hoàng hôn xua tan ánh bình minh
anh sẽ chẳng bao giờ quên được em đâu
Dù anh sẽ quên em mà ko hề day dứt
Dù tình yêu anh dành cho em là ko thật
Thì sẽ chẳng bao giờ anh quên được em đâu
Thơ Mới đã đưa thơ Việt Nam hội nhập với thơ thế giới từ những năm 1930 của thế kỷ XX. Thơ Mới là một cuộc cách mạng trong thơ (nhận định của Hoài Thanh ). Về thi pháp, chịu ảnh hưởng phương Tây, Thơ Mới được viết bằng bút pháp Lãng Mạn, bút pháp Tượng Trưng và bước đầu bút pháp Siêu Thực (Hàn Mặc Tử, Bích Khê..). Các nhà Thơ Mới còn nỗ lực đi xa hơn ở chủ nghiã Hình Thức (Xuân Thu Nhã Tập ). Thể thơ 7,8 chữ khá thịnh hành. Cái tôi tâm trạng là hạt nhân trung tâm. Ngôn ngữ, hình ảnh, cảm xúc, khác hẳn thơ Đường trước đó. Thơ Mới đã đem đến cho bầu trời thi ca Việt Nam nhiều ánh sáng lạ (thí dụ Bích Khê, tập Tinh Huyết.1939) . Có thể nhận thấy điều này, Thơ Mới đã để lại dấu ấn mạnh mẽ trong thi ca Việt mà các thời đại sau chưa dễ đã vượt qua được. Những tên tuổi Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Thế Lữ, Huy Thông… sẽ còn được nhắc đến về lâu dài. Ảnh hưởng thi pháp của Thơ Mới vẫn còn đối với Thơ Việt Nam đương đại
Gọi Xuân Về
Em muốn gọi mùa xuân về thay áo
Cho mây xanh như tóc xõa chân trời
Cho vườn hồng hoa thắm xanh tươi
Cởi bỏ lạnh mùa đông đầy tuyết phủ
Em muốn gọi tài nhân về hội tụ
Cho thế gian thêm sắc hương nồng
Cho không gian trong suốt tận tầng không
Cho nhân loại đắm say hương tình ái
Em muôn thuở, em vẫn là con gái
Để trao ai như trao cả vườn hồng
Và trao tình trong khoảnh khắc mênh mông
Những kỷ vật trong tầm tay không hình thể
Ai khao khát nhưng em không thể
Để suốt đời chỉ mơ ước gọi xuân
(Thiên Thanh -Văn Nghệ Trẻ, Chào xuân Canh Dần 2010)
TRĂNG NGHẸN
Mẹ sinh tôi vào một đêm rằm mưa gió ngày xưa,
Lúc chào đời đã lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn.
Vùng tản cư hồi nầy ruộng hoang nhà trống,
Rước được bà mụ vườn, ngoại cực trần thân.
Tôi lớn trong quê mùa như cây tạp vườn hoang,
Bảy tuổi biết leo lưng trâu, không từng ngồi xe đạp.
Không biết lời bải buôi để mua lòng người khác,
Nên thua thiệt cả đời vì không thể dối lừa ai.
Ngơ ngác buổi ra thành, trước cuộc sống đua chen,
Mười năm sau chưa gội rửa cho mình thành dân chợ.
Lớp phèn hết bám chân, nhưng chất chân quê vẫn còn đó,
Tôi tranh thủ những tháng hè, thích về lại thăm quê.
Bè bạn theo đuôi trâu một thời, mơ ước nhìn tôi,
Tưởng tôi thoát kiếp ngài, nhởn nhơ hóa bướm.
Tôi nhìn vẻ hồn nhiên của đám bạn xưa thèm quá,
Cộng một chút phù hoa đâu thêm lớn tâm hồn.
Mỗi lần về quê bè bạn cũ lại vắng hơn,
Gái mười bảy đã lấy chồng, trai hai mươi đòi vợ.
Cô bạn xưa nách con ngang nhà mua chịu rượu,
Đôi mắt ướt một thời bẽn lẽn ngó bàn chân.
Xóm bên sông nhiều cô gái rời quê,
Về thăm nhà xênh xang lụa là hàng hiệu.
Vài căn nhà xây, đổi đời nhờ những đồng tiền báo hiếu,
Khởi sắc một vùng quê sao nghe có chút bùi ngùi.
Đồng bằng quê hương tôi nhiều cái nhất ngậm ngùi:
Sản lượng lúa nhiều, vùng cá ba sa lớn nhất,
Đầu tư văn hóa thấp và khó nghèo cũng nhất,
Và cũng dẫn đầu, những cô gái lấy chồng xa.
Chập tối buồn ra nhìn bến nước cô đơn,
Vầng trăng vừa lên đã bị mây mưa vần vũ.
Tôi chợt nhớ lần lỗi hẹn đầu đời, trăng cũ,
Vầng trăng nghẹn hoài, chưa tỏa sáng một vùng quê.
TÌM EM
[/COLOR]
Ta tìm em dưới muôn vì sao sáng
Chẳng ngôi sao nào thay được ánh mắt em
Ta tìm em giữa muôn hoa rực rỡ
Không hoa nào đẹp hơn cái ta tìm.
Em nhỏ nhắn trong ta
Em bao la ngoài vũ trụ
Ta động đến thì tan
Tơ tưởng thì còn
Em rực rỡ hao gầy ánh mắt
Em căng đầy trong giấc ngủ cỏn con...
Cứ muốn em là sao, là hoa...rực rỡ!
Để ta mai mãi phải đi tìm
Và đột ngột thản nhiên như làn gió
Chợt bên mình - Sững đứng mấy nhịp tim!..
{ tập thơ TÌNH CHIỀU NXB HỘI NHÀ VĂN 2008 )
Lê Thanh Xuân là nhà thơ của nỗi buồn. Có một nỗi buồn mênh mang thê thiết, nỗi buồn thẳm sâu trong thơ anh, nỗi buồn ẩn mật không thốt thành lời ( Trở Về, Thời Khắc, Đi Bộ Trên cao Nguyên, Hà Đông, Con Đò Qua Sông Đà, Gặp Bạn, Bóng Cỏ, Thầm Lặng, Cát).
Nỗi buồn / Biết gửi vào đâu?
Nhờ trăng cất hộ / Cỏ lau giữ giùm
Sợ trăng nhoà nhạt đầu nguồn
Sợ lau úa lá / sợ buồn cõi hoang “
(Không đề II)
Không phải là vu vơ buồn của thơ lãng mạn, cũng không là nỗi buồn về những mất mát hy sinh, mà là nỗi buồn không gọi rõ tên. Thấp thoáng gian nan đời ghềnh thác, nổi nênh . Một trời cô độc, bơ vơ. Triền miên đêm thao thức tự tình và nước mắt. Vô vọng mù khơi muà đông hoá đá ( Thơ Tặng Mình ),”Nghìn xưa vẫn ở một nơi / Ta thì ta với cuộc đời lênh đênh/ công danh mắc cạn đầu ghềnh “( Nỗi Buồn Đong đưa), Sống là sống trong chiêm bao :”Giật mình lật nửa mảnh khuya / Mới hay mình mới đi về chiêm bao”(Nửa Đêm ). LTX không còn biết mình là người hay là ma (Bóng ). Như con cò trong đêm bất an vì bẫy rập (Bẫy, Tiếng Cò Đêm) : “ Con tôm con tép/ Nào dễ đâu cò ? / bẫy đời giăng mắc / Mảnh trăng đục mờ/ Tiếng cò se sắt / Trong tôi…” Bài thơ Không Đề là cảm nghiệm u uất của nhà thơ vào lúc tuổi đã cuối chiều : Cuối chiều sót tiếng chim ri / Nhặt lên mà nhớ thuở đi xa nhà “.
LTX có những tứ thơ diễn tả nỗi buồn thật thê thiết.
Tôi một đời của số kiếp lang thang
Con nai dẫn lối
Hoà Bình năm ba mươi mốt tuổi
Đồng Nai tuổi ngót năm mươi
Lau trong đời vẫn trắng
Gió trong đời vẫn thổi
Núi trong đời vẫn mọc
Giấc ngủ đêm bật khóc sông Đà
(Nhớ Về Nơi Mình Ra Đi )
Độc hành một khúc ngẩn ngơ
Dòng sông bỗng thấy mình vơ vẩn buồn
(Khúc Sông Chiều)
Thế cũng đủ rồi cho một kiếp mùa đông
Lạnh đến trống vắng, cô đơn đến kiệt cùng
(Phân Giải )
Đêm mơ một giọt trăng soi
Ngày mơ chút nắng bầu trời đánh rơi
(Tiếng Chim Gù )
Tuổi già là thực tại ám ảnh buồn. Già đồng nghiã với muộn màng, đồng nghiã với muà đông, đồng nghiã với nuối tiếc không sao trở lại được thời vạm vỡ. “Một gã đàn ông tóc bạc thẫn thờ / Bước dưới vì sao như mơ như thực / Khẽ gọi tên mình trong tiếng bơ vơ “(Trở Về)
Ta đến. Đò đã sang sông
Chiều kia đang khuất phía đồng xa xa
Ta đến. Núi đã về già
Đá gồng trổ chút nụ hoa nghĩa gì
Ta đến. Phố đã vào khuya
Sợ tay gõ cửa. Người nghe giật mình
Ta đến. Ta thành vô tình
Muộn màng đã xoá tên mình –thế gian
Đành làm con nhện đa mang
Chăng tơ mà nhớ nắng vàng lối xưa
(Muộn)
Và dù viết về đề tài nào, hồn thơ anh vẫn là những suy tư về hiện sinh. Hồn thơ ấy đằm thắm những tình cảm thiết tha và nhân hậu, không ta thán. Anh “cười trong tiếng nấc xa xôi “. Anh để hồn tan vào mây vào gió .“Nhưng ngọn gió đã bứt khỏi cuộc đời / Niềm xanh tươi hy vọng / Trái đất thành cô đơn/ Anh thành kẻ lang thang hành khất”(Hà Đông ). Gió cũng không bình yên. ”Đời như gió khôn lường / Chọn sống mà gửi chết”(Phố Núi ). “Ta lạc ta mòn đêm” .Nhưng anh không lạc mất vào hư vô, không vong thân trong ảo ảnh, không đắm chìm trong tuyệt vọng. Anh vẫn còn niềm tìn, vẫn còn cõi đi về cuả hồn mình, vẫn còn tổ chim cọng rơm vàng làm bến đợi . Và đôi khi cũng sáng lên một thái độ quyết liệt, như cát trắng tinh khôi
Hãy yêu đi, màu trắng- Một màu thôi!
Hãy sống đi, cát không ưa lẫn lộn
Sự tinh khiết không thể chôn vùi
Sự phơi bày không hề che giấu
Mưa không ngập ngừng, nắng không do dự
Biển ngoài kia xanh đến thẳm sâu
Cát nơi đây vẫn trắng một màu
Sự thử thách như trò chơi đuổi bắt
Thôi, cứ để chất mặn sa huỳnh trong mắt
Để cát vàng đọng lại thịt da
Ta thử sống cuộc đời của cát
Giữa nhân tình thế thái bao la”
(Cát )
Có thể nhận ra nỗi buồn trong thơ LTX là nỗi buồn hiện sinh, song thơ anh rất ít nói về hiện thực. LTX không nói gì về thực tại anh sống, không nói gì về hai cuộc kháng chiến vĩ đại, không nói gì về đất nước đang chuyển mình trong kinh tế thị trường, về thời đại toàn cầu hoá về những vấn đề nóng bỏng của hôm nay, như sự tàn phá môi trường, bão lụt, tệ nạn xã hội, sự đổ vỡ gia đình và hạnh phúc, những xâm lăng văn hoá làm bạc nhược bản sắc văn hoá dân tộc… Hồn thơ anh ở nơi đầu nguồn cuối bãi, treo trên mảnh trăng mờ sương, phiêu lưu cùng ngọn gió, lạc loài trên cánh đồng ký ức. Nhà thơ đi nhiều về miền thảo nguyên núi non, khuất nẻo thị thành, nhưng lại không siêu thoát. Từ chối tìm kiếm giàu sang nhưng lại phủ định Phật (Ngẫu Hứng ). Chỉ có niềm thương thân : “Chỉ ta với ta – Đường cũ / Chiều thu tóc trắng, sương nhoà (Thời Khắc)
Đôi khi anh có ghi đôi nét nào đấy của hiện thực, nhưng chỉ là sự chia sẻ vô tình. Lụt ở Đồng Tháp (Một Thoáng Tháp Mười), mất muà (Mưa Chiều.), làng nghèo (Làng Tôi), Ý Tưởng Về Biên Hoà . Nỗi cô đơn của người phụ nữ trong buổi chiều đang tắt dần vào mất còn im lặng (Hoàng Hôn ). Chuyện người đàn ông đàn bà không tên : ”Họ ngồi nhớ xa / họ ngồi buồn gần / Họ lặng im trước những tấm bằng liệt sĩ / Họ lặng im trước những mất còn…”(Trong Ngôi Nhà ). Anh giảng giải về đá vọng phu, hoặc ra sông nhớ một người bạn đã cách trở âm dương. Gần như anh thờ ơ trước thực tại. Điều này là một ẩn mật trong thơ anh. Anh tự coi mình là đá vô tri. “Ta là đá. Đá là ta ?.../ Vô tri đá khép lâu dài “(Hồn Đá ). Đôi khi hồn thơ anh cũng rạng rỡ khí sắc .
Trong tập Hồn Đá có khá nhiều bài thơ tình. Những Điều Đi Qua, Những Mảnh Vỡ Muà Thu, Một Năm 12 Tháng, Những Ngọn Cỏ Bên Bờ Sông Đà, Không Đề. Ngã Ba Mãn Đức, Nhớ Hà Nội Thu, Phân Giải, Bến Đò, Nhớ Xa, Bài Thơ Không Tên. Đó là những lời tâm sự với người yêu, những lời tự tình với em, một nhân vật của kỷ niệm, một nhân vật không rõ dáng hình, một gặp gỡ tình cờ nào đó, một cuộc tình chưa thành tên. Thực ra, LTX chỉ mượn hình thức thơ tình để nói những khát vọng tình yêu, khát vọng sống và những nuối tiếc khôn nguôi.
Bền ấy có một lần anh và em :
Nửa mảnh trăng đầu tháng, nửa mảnh trăng cuối tháng
Con đò sang sông trăng vẫn chưa tròn
Đầu bên này anh chờ. Đầu bên kia em đợi
Lau đêm sạc xào cứa cắt sườn non…
Đêm ấy lặng lẽ sông đi về biển
Sông cắt đôi ta hai phiá bãi bờ
Con đò mệt mỏi ngủ mơ bên sóng
Chúng mình ngược nhau cho tới bây giờ
(Bến Đò)
Tất cả rơi.Tất cả tan…
…Những mảnh vỡ của tình yêu tôi nào biết có còn
Chỉ biết tôi sống mòn sống mỏi
Tìm trước mặt trời, tìm trong đêm tối..
…Như có tiếng thuỷ tinh vỡ đau xác vụn
Của một mối tình đâu đó lạnh tanh
(Những Mảnh Vỡ Mùa Thu)
Anh vẫn biết những điều đi qua rồi sẽ mất
Lá vàng rơi chẳng thể trở lại cành
Sợi tóc bạc làm sao xanh nữa
Dòng nước xuôi đâu ngược lại được ngọn ngành
(Những Điều Đi Qua)
Trĩu nặng trong thơ anh là tình quê. “Tôi mang miền quê lang thang khắp xứ / Để một ngày trở lại làng xưa”. Quê hương, đồng quê, tuổi thơ vẫn đi về trong thơ anh, làm nền cho mọi suy nghĩ về thực tại. Quê hương nghèo nhưng đẹp và ấm áp nghiã tình (Quê Hương, Một Năm 12 Tháng, Lửa Khoí, Kỷ Niệm Muà Thu, Tiếng Ếch, Ban Mai Ngoại Thành, Những Đàn Chim Di Cư, Tiếng Chim Gù ) Anh khai thác triệt để chất liệu đồng quê để thể hiện tình quê. Anh hoá thân thành cọng rơm vàng, thành ao nước phèn, con kênh đọng váng. Anh sống trong tiếng gió, tiếng ếch um um, tiếng cuốc nhói đêm, tiếng cò se sắt. Anh đắm mình trong hương cau thơm khắp miền quê, hương hoa ngâu thơm khắp vườn nhà, hoa xoan tím ướt sũng trong mưa, hoa lau trắng tinh bay qua năm tháng và hoa bắp lay phơ phất trên đồng. Chỉ có tình quê mới làm ấm áp hồn anh, chỉ có đất quê, sông quê, nhà quê mới là nơi anh trở về và tìm thấy sự bình an. Ngoài quê hương, anh chỉ là kẻ lang thang phiêu bạt không bám rễ vào được bất cứ nơi chồn nào. Anh lạc mất mình trong thành phố:”Ấy cũng là lúc mặt trời đưa tôi vào khuất lấp/ Trong âm thanh ồn ào, trong nẻo phố xa xôi “
( Đêm Thành Phố ). Chỉ có quê hương chân thật, nhân hậu mới làm anh trẻ lại, mới gieo vào anh sức sống vững bền (Quê Hương ). Cả nơi nghiã điạ làng anh cũng nhìn thấy con người làng quê sống chết có nghiã có tình
Cánh đồng đổ bóng nông dân
Lúa đây, cơm của mỗi lần mình ăn
Rau đây, mình ngọt miếng canh
Hoa đây, mình đẹp thị thành sắc hương…
Rạ rơm ở lại vấn vương
Tiếng chim ở lại bóng vườn xanh tươi…
Mơ gặp ruộng, ước gặp sông
Lưng trần, chân đầt đứng trông phố phường”
(Ban Mai Ngoại Thành )
Vầng trăng của làng mọc lên từ đất
Mưa của làng, mưa rơi ngang mặt
Nắng của làng, nắng từ phiá đôi chân
Tháng ba rỗng tuếch chum sành
Mẹ tôi đi chợ loanh quanh lại về
Vậy rồi đình vẫn hội hè…
Vẫn xoan tim tím, bờ tre tiếng cò
Tôi đi khắp xa gần xứ sở
Nơi đâu cũng làng đầy ắp giấc mơ
Nhưng chỉ có một làng trong tôi tháng ngày mong nhớ
Như con thuyền xa vẫn nhớ bến nhớ bờ
(Làng Tôi )
“Ngọn lửa quê ấm mãi trong lòng”.
Tôi soi xuống sông quê
Tìm nụ cười thuở nhỏ
(Một Khúc Sông Quê)
Xin kiếp sau cho ta làm ngọn gió
Dù đi đâu vẫn về bến quê nhà .
Làng quê luôn gắn người thân. Anh có những bài thơ rất cảm động với bà (Cây Cau), với mẹ (Hoa Ngâu, Tưởng Nhớ), với cha (Cha Tôi), với vợ, con (Em, Bài Thơ Viết Cho Con ), với bạn (Gửi Người Bạn Gái Một Thời, Tiếng Gió ), với quê hương nghèo (Gửi Quê Hươg, Ngoài Kia Có Một Con Đường ). Những bài viết về quê hương bằng lục bát cuả anh có khí chất tài hoa (Cây cau, Nghiã Điạ Làng).
Anh cũng gửi tình cảm sâu nặng về thiên nhiên, con sông, ngọn núi, con dốc, phố xá nơi anh đã đi qua. LTX không miêu tả mà suy tư về nơi ấy, từ đó tìm ra ngọn nguồn tình yêu thiên nhiên, đất nước trong lòng mình (Dốc Cun, Mai Châu, Chu Giang, Mường Thàng, Trên cánh Đồng Mường Thanh, Núi Tiên, Suối Lồ Ồ, Tháp Chàm, Trong Hang Cổ, Cù Lao Phố,Đồng Nai,Biên Hoà,Đêm Ngủ Lại Nguồn Đồng Nai, Bên Núi Đá Ba Chồng, Sông Đồng Nai, Một Thoáng Tháp Mười, Cà Mau, …)
Chậm rối, chiều đã xuống non
Thôi, đành ngủ lại với nguốn Đồng Nai…
…Thủ chung trong vắt đây rổi!
Mai về tôi vẫn gặp tôi với nguồn”
Đọc thơ LTX, người đọc gặp một gương mặt rất quen mà rất lạ. Khuôn mặt ấy bị hút vào nỗi buồn xa thẳm không thoát ra được, khuôn mặt ấy trĩu nặng tình quê hằn lên những khát vọng mênh mang . khuôn mặt luôn tìm kiếm một bến bãi bình yên nào đó để niềm tin còn có chỗ neo đậu, một nơi thật tinh khôi như cát trắng, một nơi thật nghiã tình như làng quê, một nơi thật ngọt ngào như tuổi thơ, một nơi mà sự sống này không nhai nuốt sự sống kia, một nơi mà cánh chim hải âu không còn bị giập vùi trong gió bão. Không có nơi ấy trong cõi đời này. LTX chờ đợi như một kẻ xa lạ.
Ô cửa sổ màu sơn đã nhạt
Chút nắng chiểu lặng lẽ ra đi
Một gương mặt buồn như bình hoa đã vãn
Một không gian chờ đợi điều gì?
Đã như thế nhiều ngày nhiều tháng
Dòng sông qua và gió đi qua…
(Ô Cửa Sổ)
Ô Cửa Sổ là một bài thơ lạ của LTX. Anh từ truyền thống nhập ngay được vào dòng chảy thơ đương đại, với kiểu tư duy nghệ thuật khác. Người đọc tưởng rằng, một nhà thơ tuổi đã xế chiều, như chiếc lá cuối muà thu, đã run rẫy lạnh buốt trước muà đông, đã hoá đá vô tri trước thực tại, đã đắm say trong thi pháp thơ truyền thống, thì LTX khó có thể làm mới ngòi bút của mình, vậy mà LTX đã có những bài thơ rất lạ so với chính anh. Ô Cưả Sổ là một ví dụ.
Xin đọc thêm Tiếng Ru Đêm
Tiếng ru của người mẹ chắt ra từ lồng ngực
Làm ấm lên một chút đêm hoang
Con không khóc lời ru vẫn thống thiết
Hình như người mẹ đang ru chính chình?
Trong vòng tay giấc ngủ ngọt như mật ong
Nhưng đứa trẻ lại mơ về dòng sưã
Còn người mẹ mơ về giấc ngủ
Xuyên qua vì sao tới tận mặt trời…
Nhưng mát đêm chỉ dành cho một người
Còn một người phải thức
Người mẹ thức, sờ tay lên lồng ngực
Mặt lo âu, nhìn xuống con mình
Và tiếng ru cứ thế đi tới bình minh…
Những bài Trên Thảo Nguyên, Sắc Đẹp, Hoa Lau, Tiếng Cò Đêm, đều có những yếu tố mới lạ về thi pháp như Tiếng Ru Đêm. Đặc trưng thi pháp thơ LTX là thơ suy tư, (không phải kiểu thơ suy tưởng như thơ Chế Lan Viên). Lê Thanh Xuân đối diện với hiện thực, nhìn ngắm hiện thực mà suy tư. Hiện thực không phải là đồi tượng miêu tả của LTX, mà chỉ là cái cớ để nhà thơ truy tìm ý nghiã hiện sinh.
Thơ LTX đem đến cho người đọc sự thú vị của những suy tư rất thật , những tình cảm rất đôn hậu (không khuôn sáo), và bất chợt những tứ thơ mới lạ vút lên , trong một kiểu tư duy nghệ thuật khá mới của riêng anh (Ô Cử Sổ, Hoa Ngâu, Tưởng Nhớ,Tiếng Ru Đêm, Dốc Cun, Trên Thảo Nguyên…).Lắng đọng trong thơ anh là tình quê thắm thiết cùng với những nỗi niềm không nói thành lời. LTX là một hồn thơ tài hoa . Khi suy tư và tình cảm cùng cháy lên thì thơ anh toả sáng mới lạ đến ngỡ ngàng.
Đàm Chu Văn viết :” Đi suốt đời chưa hết niềm say”, hẳn người đọc sẽ tự hỏi , những nỗi niềm làm anh say đến suốt đời là gì? và điều gì làm nên hạnh phúc của anh trong thơ ?
“Đi bên những hàng cây/ Thấy hồn xanh trời đất./Đi bên những cánh đồng/Nhịp mùa màng tất bật
Đi bên những dòng sông/ Sông nâng đời dào dạt/ Đi bên những con người/ Tình reo niềm chân chất
Ta như cây, như đồng
Ta như sông, như biển
Lòng tràn đầy thương mến
Với cuộc đời nâng niu”
Đàm Chu Văn mang hồn thơ ấy ngắm nhìn quê hương, đất nước. Đâu anh cũng thấy rạng rỡ những sinh sôi đang từng ngày từng giờ vươn tới xa sau
Trời đã cao thêm đất sáng thêm
Nguy nga công nghiệp gọi trăm miền
Hương vườn vấn vít lùa cao ốc
Lối cũ người thương mỏi mắt nhìn
(Nhơn Trạch )
Mỗi giây phút tươi ròng sinh nở
Ngàn suối trăm sông dồn tụ mỡ màu
Ngẩng mặt Thái Bình Dương lồng lộng
Xanh vô cùng vô tận xa sau
(Mũi Cà Mau )
Anh ngạc nhiên khi về thăm quê, một quê hương “tường cao cổng kín giăng đầy”. Đứng trên đỉnh Lang Bian, tâm hồn anh chất ngất niềm say :”phố xá, ngàn thông, sông hồ… như tranh vẽ / đất nước muôn trùng ghì riết lòng yêu”. Cảm thức về quê hương đất nước của anh đã gọi tới nghìn xưa và xa tới ngàn sau, đâu đây câu thơ có cái hào sảng của thi nhân xưa đắm mình cùng non xanh nước biếc cẩm tú.
Nhưng ĐCV là con người của thực tại, của hôm nay. Nhìn dấu tích xưa ở thành nội Huế, anh chỉ thấy rêu phong :”Ông hoàng bà chuá giờ đâu / Bơ vơ chỉ thấy một màu rêu phong”.
Ở Bắc nhớ cháu nhớ con
Vào Nam, để lại mảnh hồn ngoài quê
Mây lành vươn bóng chở che
Phân thân hai nửa đi về chiêm bao
(Hai Nửa)
Anh nói với mẹ bằng một giọng trẻ thơ rất đỗi chân thành và cảm động :
Mẹ ơi! / con sắp thành người đàn ông năm mươi tuổi mang nặng buồn vui của quá nửa đời người thế mà mỗi khi nhớ về mẹ mình vẫn khóc (Mẹ )
Giữa mênh mông dạt dào
Tưởng nghe thấy mùi bùn tanh nơi đồng ruộng
Những áo nâu áo xám mặn mòi
Những lưng trần quần cụt
Một đời ta còn nợ mồ hôi…
…có nỗi buồn ướp nắng
Bay theo
(Tản mạn ở nhà sáng tác Nha Trang )
Cá tính sáng tạo này đặc sắc tài hoa trong những bài thơ tình viết bằng lục bát. Xin đọc Bỗng Nhiên Nhớ
Tưởng bâng quơ ấy là thôi
Bỗng nhiên lại nhớ một người đẩu đâu
Phải duyên sao chẳng tình đầu
Nợ nần sao chẳng kiếp sau đợi chờ
Thản nhiên người bước vào thơ
Làm xao xác cả cõi bờ nhân gian
Ta đi nhặt tiếng ve tàn
Ai xui cho hạ nắng tràn lên xanh
Ta về nhặt nỗi mong manh
Nhặt câu Kiều lẩy ghép thành ca dao
Nhặt hoa quỳnh ướp chiêm bao
Đợi trăng nghiêng xuống cõi nào vân vi












