Skip navigation.

Ω Em đi...Cây Cỏ Giậy Thì Ω

₪ Tóc ánh bạc, ví ánh kim, trym ánh thép ₪

Posts tagged with "Nhật Bản"

Geisha


Geisha có nguồn gốc là những người phụ nữ múa phục vụ cho các võ sĩ hồi thế kỉ thứ 11. Geisha được dạy một số kỹ năng biểu diễn như múa, hát, đánh đàn shamisen, cắm hoa, mặc kimono, trà đạo, thư pháp, nghệ thuật phục vụ rượu và cách tiếp chuyện..Thậm chí các geisha ngày nay còn phải học tiếng Anh và máy tính nữa.
Những nơi tập trung nhiều geisha thì gọi là hanamachi. Hanamachi thường ở gần các ngôi đền, nơi có nhiều các quán trà đạo ( ochaya ), bởi vì các geisha phục vụ chủ yếu là ở các quán trà này.

Do ngày này không có mấy người chịu đựng nổi sự khắt khe của quá trình rèn luyện để trở thành geisha nên số lượng geisha có xu hướng ngày càng giảm. Những cô gái muốn trở thành geisha sẽ được giới thiệu tới bà chủ của quán trà đạo. Bà chủ của quán trà ( okami ) sau đó sẽ nói chuyện với cha mẹ cô gái, và giải thích cho họ về quá trình đạo tạo geisha. Khi đã được chấp nhận, cô gái sẽ dọn vào ở ngay trong quán trà và bắt đầu quá trình đào tạo khắc nghiệt. Một điều cần thiết nữa là cô gái buộc phải tốt nghiệp cấp 2 trở lên.
Một khi đã chọn nghề này, cô gái phải theo nó ít nhất là 5,6 năm. Sau khoảng nửa năm học tập, cô sẽ trở thành 1 young geisha, gọi là " maiko " . Maiko thường đi theo hộ tống các geisha khi họ đi phục vụ khách để học hỏi thêm về kinh nghiệm. Các maiko hay mặc kimono có màu sắc sặc sỡ có ống tay áo rất dài. Thường khi 20 tuổi, các maiko sẽ phải quyết định liệu mình có tiếp tục công việc để trở thành 1 geisha hay ko? Nếu kết hôn, thì các maiko buộc phải từ bỏ nghề. Sẽ có một nghi lễ nhỏ gọi là " erigae " ( có nghĩa là đổi áo ) khi maiko trở thành một geisha.

Nếu một khách hàng muốn có một geisha phục vụ cho bữa trà hoặc bữa tiệc, họ phải liên hệ với bà chủ quán okami. Sau đó okami thông báo lại với người quản lý, và người này chịu trách nhiệm gửi geisha đến nơi khách hàng yêu cầu. Cần chú ý rằng bạn chỉ được phép vào ochaya một khi bạn được một khách hàng quen của ochaya giới thiệu. Ochaya không giao dịch với các khách hàng mới nếu không có lời giới thiệu trước. Giá của một bữa tiệc có geisha phục vụ khác nhau tuỳ theo số lượng geisha, đồ ăn, đồ uống v.v.v. Tuy nhiên với $150 bạn có thể có một bữa tiệc nhỏ với geisha chừng 2 tiếng đồng hồ.

Hiện tại ở Nhật Bản, Kyoto là nơi tập trung nhiều geisha nhất.

http://ttvnol.com/jc/292479.ttvn

Các thời đại lịch sử Nhật Bản

Phần 1.

1. Thời kì ban đầu (đến năm 710 sau CN)
- 660 trước CN theo truyền thuyết (Kojiki và Nihon shoki), Thiên hoàng Jimmu (dòng dõi của nữ thần Mặt Trời, nữ thần quan trọng nhất trong Thần đạo) lên ngôi và là Thiên hoàng đầu tiên của Nhật Bản.
a. 13000 – 300 trước CN thời Jomon (xoắn thừng), đồ gốm nung không men trang trí bằng những mô típ hoa văn như dây thừng xoắn. Cư dân tập trung thành những bộ lạc nhỏ săn bắn, hái lượm và đánh cá.
b. 300 trước CN – 300 sau CN thời Yayoi (Yayoi là tên địa điểm khai quật khảo cổ), nghề trồng lúa phát triển giúp tạo nên cấu trúc xã hội, các phần đất được thống nhất dưới tay của các chủ đất có thế lực. Các du khách từ nhà Hán và nhà Nguỵ kể lại có nữ hoàng Himiko (hay Pimiku) cai trị Nhật Bản. Đồ gốm đẹp hơn, màu nâu tươi, không có hoa văn nhưng hình dáng cân đối, tinh tế mà giản dị (đồ đất kiểu Yayoi). Nền văn hoá đồ đồng từ Trung Quốc (nhà Hán) du nhập vào Nhật Bản. Đồ sắt từ Triều Tiên cũng được mang vào Nhật Bản.
c. 300 – 710 thời kofun (mộ cổ), các mộ cổ đượcxây dựng cho các nhà lãnh đạo các bộ lạc.
- Giữa TK IV các thị tộc độc lập rải rác khắp Nhật Bản dần dần tập hợp lại dưới quyền thị tộc Yamato (bán đảo Yamoto nằm ở cực tây nam đảo Honshu, là cửa ngõ để văn hoá từ đại lục vào Nhật Bản). Kinh đô thường được di chuyển từ thành phố này sang thành phố khác.
- Đầu TK V chữ Hán được truyền sang Nhật.
- Giữa TK VI Nho giáo, Lão giáo và Phật giáo (538/552) từ Trung Quốc du nhập sang Nhật Bản.
- 593 Thái tử Shotoku (Shotoku Taishi) (thuộc dòng họ Soga) trở thành nhiếp chính. Ông ban hiến pháp “Thập thất điều” (Kenpo Jushichijo), cử nhiều phái đoàn sang đại lục du học. Thập thất điều dựa trên các nguyên tắc Nho giáo, mặc dù cũng có một số yếu tô Phật giáo. Danh hiệu Thiên hoàng (Tenno) xuất hiện từ đây.
- 645 dòng họ Soga bị tiêu diệt, quyền lực trở về Thiên hoàng Kotoku, hiệu là Taika, thực hiện Đại hoá cải tân (Taika nokashin), tập trung quyền lực quốc gia, chuẩn bị thành lập kinh đô.

2. Thời Nara (710 – 794)
Đây là thời định đô dầu tiên của Thiên hoàng. Kinh đô Nara được xây dựng theo kiểu mẫu Trường An nhà Đường. chịu ảnh hưởng rất lớn của văn hóa Trung Quốc. Phật giáo trở thành quốc giáo.
- 710 kinh đô Nara được khởi công xây dựng có tên là Heijokyo.
- 712 sử thi Kojiki (Cổ sự kí) được viết bằng tiếng Nhật.
- 718 sử thư Nihonshoki (Nhật Bản thư kỉ) hay Nihongi (Nhật Bản kỉ) được viết bằng Hán văn.
- Khoảng 760 bộ Manyoshu (Vạn diệp tập) hợp tuyển thơ ca 4500 bài, viết bằng chữ Nhật gọi là Manyogana (Vạn diệp giả danh).
- 784 kinh đô dời sang Nagaoka.

3. Thời Heian (794 – 1192)
Đây là thời đại quý‎‎ tộc, công gia. Quyền lực từ Thiên hoàng chuyển dần sang dòng họ Fujiwara. Thật sự từ năm 898 có thể gọi là thời kì Fujiwara. Các tư tưởng, nghệ thuật từ Trung Quốc du nhập vào Nhật Bản dần dần được Nhật Bản hoá. Sự phát triển của chữ viết Kana tạo thuận lợi nền văn học Nhật Bản thực sự.
- 794 Thiên hoàng Kanmu dời đô về Heian (Kyoto).
- 805 Đại sư Saicho từ Trung Quốc trở về, lập Thiên thai tông.
- 805 Đại sư Kobo từ Trung Quốc trở về, lập Châm ngôn tông.
- 806 Hợp tuyển thơ Kokin wakashu (Cổ kim hoà ca tập), còn gọi là Kokinshu (Cổ kim tập).
- 1004 – 1011 khoảng thời gian nữ sứ Murasaki Shikibu viết bộ tiểu thuyết trường thiên Genji monogatari (Truyện hoàng tử Genji).
- 1016 quyền lực của dòng họ Fujiwara lên đến đỉnh cao với Fujiwara Michinaga. Sau Michinaga khả năng lãnh đạo của Fujiwara suy giảm. Các chủ đất thuê các samurai để bảo vệ trang viên, từ đó tầng lớp quân đội ngày càng có ảnh hưởng, đặc biệt là ở phía đông Nhật Bản.
- 1053 Hoođo (Phượng hoàng đường) được xây.
- 1068 quyền lực của dòng họ Fujiwara chấm dứt khi Thiên hoàng mới lên ngôi Go-Sanjo kiên quyết nắm quyền cai trị đất nước.
- 1086 Go-Sanjo thoái vị nhưng vẫn nắm quyền từ trong hậu trường. Hình thức chính phủ mới này được gọi là chính phủ Insei. Các Thiên hoàng Insei nắm quyền lực chính trị từ 1086 đến 1156 khi Taira Kiyomori trở thành nhà lãnh đạo mới của Nhật Bản.
- TK XII hai dòng họ quân sự có nguồn gốc quý tộc nắm giữ nhiều quyền lực: Minamoto (hay Genji) và Taira (hay Heike). Họ Taira thay thế các quý tộc Fujiwara ở nhiều chức vụ quan trọng, còn họ Minamoto có được kinh nghiệm quân sự nhờ mang các phần phía bắc Honshu vào sự kiểm soát của Nhật Bản trong cuộc chiến 9 năm đầu (1050 - 1059) và cuộc chiến 3 năm sau (1083 – 1087).
- 1159 cuộc nổi dậy Heiji, cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa hai dòng họ, Taira Kiyomori trở thành nhà lãnh đạo Nhật Bản từ 1168 đến 1178. Ông không chỉ phải đương đầu với họ Minamoto, mà còn với các tăng lữ Phật giáo.
- 1175 Đại sư Homen lập Tịnh độ tông.
- 1180 – 1185 sau khi Kiyomori chết, hai dòng họ Taira và Minamoto vào cuộc chiến quyết định quyền lực (chiến tranh Gempei). 1185 họ Minamoto chiến thắng.
- 1191 Thiền tông được du nhập vào Nhật Bản.


Phần 2.

4. Thời Kamakura (1192 – 1333)
- 1192 Yorimoto trở thành tướng quân (Shogun) thiết lập chế độ Tướng phủ hay Mạc phủ (bakufu) (chính quyền của tướng quân) ở Kamakura, thuộc miền đông Nhật Bản, mở đầu cho thời đại của võ gia. Chế độ Mạc phủ tồn tại song song với chính quyền của Thiên hoàng đến năm 1868.
- 1199 Yorimoto chết, bố vợ Yorimoto là Hojo Tokimawa (thuộc dòng dõi Taira) chiếm lĩnh quyền lực.
- 1203 Tokimawa lập con trai Yorimoto là Minamoto Sanetomo làm tướng quân, và Tokimawa trở thành Shikken (Chấp quyền).
- 1219 Sanetomo bị giết chết, dòng dõi tướng quân Minamoto bị tuyệt diệt. Từ đó về sau, họ Hojo mời dòng dõi họ Fujiwara và các thân vương thuộc hoàng tộc ở kinh đô về làm tướng quân bù nhìn. Họ Hojo thực sự chiếm quyền cai trị đất nước đến năm 1333.
- 1221 nổi loạn Jokyu: Thiên hoàng Gotoba tấn công Hojo để giành quyền lực nhưng thất bại. Bằng cách tái phân phối đất tịch thu được trong cuộc nổi loạn Jokyu, họ Hojo chiếm được lòng trung thành từ những người quyền lực nhất trong đất nước. Họ Hojo thực sự chiếm quyền cai trị đất nước đến năm 1333
- 1227 Thiền sư Dogen (Đạo Nguyên) từ Trung Quốc trở về, lập Tào Động tông, một tông phái quan trọng trong Thiền học Phật giáo.
- 1232 Luật Joei (Joei Shikimoku) được chính quyền của họ Hojo công bố, nó nhấn mạnh đến các giá trị Nho giáo như trung thành với chủ, và nói chung cố gắng hạn chế sự suy thoái đạo đức và kỉ luật.
- 1250 Truyện chiến kí về dòng họ Hei (Taira): Heike monogatari.
- 1253 Đại sư Nichiren (Nhật Liên) lập Nhật Liên tông.
- 1274 – 1275 cuộc xâm lược lần thứ nhất của Mông Cổ bị đánh bại, chủ yếu vì thời tiết xấu.
- 1281 cuộc xâm lược lần thứ hai của Mông Cổ bị đánh bại, cũng chủ yếu vì thời tiết xấu.

5. Thời Muromachi (1333 – 1603)
a. Thời kì Nam Bắc triều (1333 – 1392)
- 1333 Tướng phủ Kamakura (dòng họ Hojo) bị Thiên hoàng Go-Daigo lật đổ.
- 1334 cuộc khôi phục Kemmu: Thiên hoàng nắm quyền lực trở lại, nhưng không kéo dài lâu.
- 1338 Ashikaga Takauji tự xưng Tướng quân ở Kyoto. Thiên hoàng Go-Daigo chạy về thành Yoshino ở phía nam Kyoto (Nam triều). Đồng thời Takauji lập Thiên hoàng Misuaki (Bắc triều) ở Kyoto. Điều này có thể vì cuộc tranh cãi về việc nối ngôi của hai dòng hoàng tộc sau cái chết của Thiên hoàng Go-Saga năm 1272.
- 1378 Ashikaga Yoshimitsu (cháu của Takauji) xây dựng bản doanh của Mạc phủ trên đường phố Muromachi ở kinh đô, nên được gọi chung là Mạc phủ Muromachi.
- 1392 theo đề nghị của Yoshimitsu, Thiên hoàng của Nam triều thoái vị và chuyển giao những bảo vật tượng trưng cho uy quyền của nhà vua cho Thiên hoàng Bắc triều.
b. Thời Chiến quốc (Sengoku) (1467 – 1573)
Chiến tranh giữa các dòng họ võ gia và nhiều phong trào nổi dậy của nông dân.
- 1457 – 1477 loạn Onin nhằm tranh giành chức Tướng quân và quân lĩnh.
- 1485 khởi nghĩa nông dân ở tỉnh Yamashiro, xây dựng chính quyền tự trị.
Tầng lớp tăng lữ và các giáo phái đối địch tham gia chiến tranh.
- 1500 nội chiến cả nước.
- 1397 Kinkakuji (Kim các tự) dược xây ở Kyoto.
- 1360 – 1450 sân khấu No phát triển và hoàn thiện với hai cha con Kanami và Zeami.
- 1469 hoạ sĩ Sesshu từ Trung Quốc trở về, một bậc thầy của tranh thuỷ mặc.
Từ giữa TK XVI Nhật Bản bắt đầu tiếp xúc với phương Tây (Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha).
- 1549 Kitô giáo được truyền vào Nhật Bản.
c. Thời Azuchi-Momoyana (1573 – 1603)
- 1573 Oda Nobunaga lật đổ tướng quân cuối cùng của dòng họ Ashikaga. Mạc phủ Muromachi đến đây diệt vong. Nobunaga không xưng Tướng quân.
- 1582 Nobunaga bị sát hại, chỉ mới thu phục được 30/66 tỉnh của Nhật Bản. Người kế tục ông là Toyotomi Hideyoshi.
- 1590 Hideyoshi về cơ bản đã thống nhất đất nước sau khi đánh bại họ Hojo ỏ Odawara. Ông chỉ nhận làm chức quan bạch (tương đương tể tướng), nhưng thực chất nắm hết quyền hành.
- 1592 và 1597 Hideyoshi hai lần mang quân sang đánh Triều Tiên.
- 1587 Hideyoshi tăng cường ngược đãi các nhà truyền giáo Kitô.
- 1598 Hideyoshi chết, để lại con trai là Hideyori nhờ Tokugawa Ieyasu và 4 lãnh chúa (daimyo) khác phò tá.

6. Thời Edo (Tokugawa, 1603 – 1868)
Thời của thị dân và thương gia, được so sánh với thời Phục Hưng bên châu Âu.
- 1600 Tokugawa Ieyasu đập tan các nhóm nổi loạn ở chiến trường Sekigahara, tự xưng “Tướng quân”, lập Mạc phủ ở Edo.
- 1603 Ieyasu được Thiên hoàng phong “Chinh di đại tướng quân”. Ieyashu tăng cường ngoại thương.
- Từ 1614 Ieyasu tăng cường ngược đãi Kitô giáo.
- 1615 Ieyashu chiếm thành Osaka và tiêu diệt thị tộc Toyotomi, ông và những người tiếp nối không còn kẻ thù. Hoà bình được thiết lập suốt thời Edo. Vì vậy các võ sĩ (samurai) không chỉ học nghệ thuật chiến đấu mà còn học văn chương, triết học và nghệ thuật, ví dụ nghi thức uống trà…
- 1639 Nhật Bản gần như cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài.
- 1681 thi hào Matsuo Basho bắt đầu hoàn thiện thể thơ haiku (thơ 17 âm tiết).
- 1682 Ihara Saikaku bắt đầu viết các tác phẩm tiểu thuyết về thị dân.
- 1823 hoạ sĩ Hokusai vẽ bộ tranh “Ba mươi sáu cảnh núi Fuji”.
- 1853 và 1854 đô đốc Perry (Mĩ) đến Nhật.

7. Thời cận đại và hiện đại (từ 1868 – )
a. Thời Meiji (1868 – 1912)
Trước áp lực trong cũng như ngoài nước, chế độ Tướng phủ tan rã. Quyền lực phục hồi về Thiên hoàng.
- 1867 Matsuhito lên ngôi, hiệu là Thiên hoàng Meiji (Minh Trị).
- 1868 dời đô về Edo, đặt tên mới là Tokyo (Đông Kinh). Như vậy các Thiên hoàng đã từng đóng đô ở Nam kinh Nara, Tây kinh Kyoto và cuối cùng là Tokyo.
- 1872 đường xe lửa đầu tiên nối Tokyo và Yokohama.
- 1889 ban hành Hiếp pháp Meiji (hiệu lực đến năm 1946).
- 1894 – 1895 chiến tranh Trung - Nhật.
- 1904 – 1905 chiến tranh Nga - Nhật. Chiến thắng cả Trung Quốc và Nga, Nhật Bản trở thành cường quốc. Nhật Bản được bảo hộ Triều Tiên.

b. Thời chủ nghĩa quân phiệt (1912 – 1945)
- 1912 Thiên hoang Meiji chết. Thiên hoàng Taisho lên ngôi (1912 – 1926). Chấm dứt thời kỳ cai trị của nhóm người thiểu số và chuyển sang chế độ nghị viện và các đảng dân chủ.
- 1914 tham gia Thế chiến I, ở phía Đồng Minh, nhưng chỉ đóng vai trò nhỏ bé trong cuộc chiên chống quân đội thực dân Đức ở đông Á.
- 1923 động đất lớn ở Kanto (vùng Tokyo – Yokohama).
- 1931 sự kiện Mãn Châu, Nhật Bản chiếm đóng Mãn Châu và thành lập Mãn Châu Quốc (Manchukuo) vào năm 1932.
- 1937 chiến tranh Trung Nhật lần thứ hai.
- 1940 liên kết với phát xít Đức – Ý, tham chiến ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương.
- 1945 Nhật Bản đầu hàng sau khi 2 quả bom nguyên tử được quân đội Mĩ thả xuống Hiroshima và Nagasaki.

c. Thời hậu chiến (1945 – )
- 1945 – 1952 Mĩ chiếm đóng Nhật Bản: lần đầu tiên Nhật bị quân nước ngoài chiếm đóng.
- 1946 hiến pháp mới được ban hành, Thiên hoàng mất tất cả quyền lực về chính trị và quân sự và chỉ là biểu tượng của quốc gia. Áp dụng chế độ phổ thông đầu phiếu và bảo đảm nhân quyền. Nhật Bản bị cấm lãnh đạo chiến tranh và duy trì quân đội. Thần đạo và nhà nước được tách biệt rõ ràng.
- 1954 Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản được thành lập.
Sau khi bại trận, Nhật Bản nhanh chóng phục hồi và phát triển kinh tế với tốc độ “thần kì”.
Các triều đại Thiên hoàng từ 1868:
- 1868 – 1912 Thời Meiji
- 1912 – 1926 Thời Taisho
- 1926 – 1989 Thời Showa
- 1989 – nay Thời Heisei: Thiên hoàng Akihoto lên ngôi và là Thiên hoàng thứ 125.

http://5nam.ttvnol.com/jc/40046.ttvn

Văn hoá Nhật Bản

Văn hoá Nhật Bản:sing:



Người nhảy múa theo kiểu Nhật cổNhật Bản là quốc gia có tính đồng nhất về sắc dân và văn hóa. Người dân không có nguồn gốc Nhật chỉ chiếm hơn 1% vào năm 1993. Sắc dân nước ngoài đông nhất là Triều Tiên nhưng nhiều người Triều Tiên sinh trưởng tại Nhật Bản đã nói tiếng Nhật không khác gì người Nhật Bản cả. Sắc dân này trước kia bị kỳ thị tại nơi làm việc và tại một số phương diện trong đời sống hàng ngày. Sắc dân ngoại quốc thứ hai là người Trung Hoa rồi về sau còn có một số dân lao động gồm người Phi Luật Tân và người Thái.

Theo Bộ Nội Vụ của Nhật Bản, dân số Nhật Bản vào cuối năm 2000 là 126.434.470 người, đứng hàng thứ bảy sau Trung Quốc, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Indonesia, Brasil và Nga. Mức gia tăng dân số lên tối đa vào năm 1974 với tỉ số sinh 1,27%, đã giảm xuống còn 0,35% vào năm 1992. Tuy thế, Nhật Bản vẫn có thể có dân số lên tới 129,5 triệu người vào năm 2010 rồi sau đó mới giảm bớt.

Do dân số cao, mật độ của Nhật Bản là 327 người/km², ngang hàng với các nước có mật độ cao như Bỉ, Hòa Lan và Triều Tiên. Khoảng 49% dân Nhật chen chúc quanh ba trung tâm đô thị lớn là Tokyo, Osaka và Nagoya cùng với các thành phố phụ cận. Thành phố Tokyo vẫn là nơi đông dân nhất, có vào khoảng 1/3 tổng số dân chúng. Lý do của sự tập trung này là vì Tokyo là trung tâm của các kỹ nghệ dịch vụ (service industry). Vào năm 1991, Nhật Bản có 13% dân số trên 65 tuổi, con số này thấp hơn so với của Thụy Điển là 18% và Anh là 15%. Tuổi thọ trung bình tại Nhật Bản là 81 đối với phụ nữ và 75 với nam giới.


Bữa ăn sáng truyền thống của người NhậtNgười Nhật Bản có nguồn gốc Mông Cổ, giống như người Triều Tiên và Trung Hoa. Có lẽ vào khoảng 10.000 năm về trước, giống người gốc Mông Cổ này đã di cư qua xứ Nhật Bản là nơi có sẵn giống người Ainu, một loại thổ dân gốc Caucase. Ngày nay thổ dân Ainu chỉ còn vào khoảng 14,000 người, hiện sinh sống trong các khu vực riêng biệt thuộc hòn đảo Hokkaido. Người Ainu đang chịu các số phận thiệt thòi giống như thổ dân da đỏ tại Bắc Mỹ.

Do sống biệt lập với các quốc gia khác tại châu Á trong nhiều thế kỷ cho tới thời kỳ mở cửa vào năm 1868, Nhật Bản đã có các nét riêng về phong tục, tập quán, chính trị, kinh tế và văn hóa... trong đó gia đình đã giữ một vai trò trọng yếu. Trước Thế Chiến thứ Hai, phần lớn người Nhật sống trong loại gia đình gồm ba thế hệ. Sự liên lạc gia đình đã theo một hệ thống đẳng cấp khắt khe nơi đó người cha được kính trọng và có uy quyền. Người phụ nữ khi về nhà chồng phải tuân phục chồng và cha mẹ chồng nhưng sau khi Luật Dân Sự năm 1947 được ban hành, người phụ nữ đã có nhiều quyền hạn ngang hàng với nam giới về mọi mặt của đời sống và đặc tính phụ quyền của gia đình đã bị bãi bỏ. Người phụ nữ Nhật đã tham gia vào xã hội và chiếm 40,6% tổng số lực lượng lao động của năm 1990.

Các phát triển nhanh chóng về kinh tế, kỹ thuật và đô thị cũng làm gia tăng loại gia đình hạt nhân chỉ gồm cha mẹ và các con, khiến cho loại đại gia đình giảm từ 44% vào năm 1955 xuống còn 13,7% vào năm 1991. Số người con trong gia đình cũng giảm từ 4,7 vào năm 1947 xuống còn 1,5 vào năm 1991 vì việc làm nơi thành phố và do cuộc sống trong các căn nhà chung cư chỉ thích hợp với loại gia đình trung bình là 2,9 người.

Cùng với sự thay đổi về số người trong gia đình, nếp sống hiện nay của người Nhật Bản khác ngày trước do việc dùng các máy móc gia dụng, do sự phổ biến các loại thực phẩm ăn liền và đông lạnh, các loại quần áo may sẵn và các phương tiện hàng ngày khác. Những tiện nghi này đã giải phóng người phụ nữ khỏi các ràng buộc về gia chánh, cho phép mọi người có dư thời giờ tham gia vào các hoạt động giải trí, giáo dục và văn hóa. Các tiến bộ về công bằng xã hội cũng làm mất đi tính kỳ thị về giai cấp, về quá trình gia đình, và đại đa số người Nhật Bản thuộc giai cấp trung lưu, căn cứ vào lợi tức của họ.

Ngày nay mặc dù Nhật Bản đã là một quốc gia tân tiến nhưng trong xã hội Nhật, vai trò và các liên hệ nam nữ đã được ấn định rõ ràng. Dù rằng tinh thần giải phóng phụ nữ đã được du nhập vào Nhật Bản từ cuối thế kỷ 19 nhưng hiện nay trong đời sống công cộng, người phụ nữ vẫn ở vị thế thấp hơn nam giới và bên ngoài xã hội, người nam vẫn giữ vai trò độc tôn. Theo căn bản, người nữ vẫn là người của "bên trong" (uchi no) và người nam vẫn là người của "bên ngoài" (soto no). Phạm vi của người phụ nữ là gia đình và các công việc liên hệ, trong khi người chồng là người đi kiếm sống và đưa hết tiền lương về cho người vợ. Người phụ nữ trên 25 tuổi mà chưa có chồng thường bị nam giới coi như "có khuyết điểm nào đó". Tại các công ty, nhà máy, cửa hàng... người phụ nữ thường được thuê mướn để chào đón các khách mới đến. Chính vì vai trò của người phụ nữ chưa được xã hội Nhật Bản đánh giá cao nên lợi tức trung bình của hai giới nam và nữ khá cách biệt so với cùng tình trạng tại các quốc gia tân tiến khác.

Xã hội Nhật Bản có các nét đặc biệt về giao thiệp. Người Nhật thường cúi chào bằng cách gập người xuống và độ hạ thấp tùy thuộc địa vị xã hội của cả hai người. Đây là một dấu hiệu quan trọng để tỏ lộ sự kính trọng. Một nét phong tục khác là việc trao đổi danh thiếp. Mỗi lần giới thiệu hay gặp mặt đều cần tới tấm danh thiếp và việc nhận tấm danh thiếp bằng hai tay là một cử chỉ lễ độ. Tấm danh thiếp được in rõ ràng và không được viết tay trên đó. Trong việc giao thiệp, người Nhật thường không thích sự trực tiếp và việc trung gian đóng một vai trò quan trọng trong cách giải quyết mọi hoàn cảnh khó khăn. Cũng như đối với nhiều người châu Á khác, người ngoại quốc tới Nhật Bản cần phải bình tĩnh trước mọi điều không vừa ý, không nên nổi giận và luôn luôn nên nở nụ cười.

Theo Wikipedia VietNam
December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31