Skip navigation.

SaRòM®'s blog

... trên đời này mọi thứ đều KHÔNG THỂ và CÓ THỂ...

STICKY POST

Welcome to sasa's blog !



Nice to meet you !!!

Hy vọng mọi người có thể lượm lặt được những điều vui từ blog của Sa nhé !

Cô đơn trên mạng - Chương 9 (B)

Cô: Qua cửa sổ taxi, cô tò mò quan sát sự hối hả trên đường phố Paris. Sân bay Roissy Charles de Gauue cách trung tâm Paris chừng hai mươi cây số về phía đông bắc, và lái xe, trước khi ra được xa lộ dẫn đến sân bay, phải đi qua khu trung tâm chật cứng người và xe cộ đi lại vào sáng sớm.
Cô có nhiều thời gian, nên việc dừng lại chờ đèn đỏ hay đứng trong các đám tắc đường không làm cô sốt ruột.
Lái xe taxi người Ả Rập thỉnh thoảng lại nhìn cô trong gương và cười một mình.
Đầu tiên anh ta định bắt chuyện, nhưng khi hiểu ra là cô nói với anh ta bằng tiếng Anh, thì đành thôi và chỉ cười.
Ngoài ra, anh ta rất hay bật ra câu gì đó bằng tiếng Pháp, đột ngột phanh hoặc tăng tốc, thỉnh thoảng lại mở cửa sổ và vẫy tay, la lối gì đó với những tay lái khác giọng rất giận dữ.
Cô lại thấy hay hay. Đang ở trong tâm trạng tuyệt vời nên hôm nay một thứ đều khiến cô vui thích.
Trong taxi đang phát ra chương trình âm nhạc buổi sáng, chủ yếu là nhạc Pháp, xen kẽ với các bản tin và thông báo. Có một lúc, lái xe vặn to radio và nghe rất chăm chú. Sau đó anh ta bắt đầu nói gì đó với cô bàng tiếng Pháp, nhưng không nhìn thấy một phàn ứng nào nên đành lặng im. Chẳng mấy chốc họ đã ra đến xa lộ. Lúc này họ đi qua những tòa nhà giống nhau như những giọt nước của ngoại ô Paris. Không còn đẹp như ban nãy nữa; cô phải thừa nhận là về nguyên tắc, ở Warszawa cũng chẳng khác gì.
Sau hai mươi phút họ đã ở Roissy và đi vào ga đến mà máy bay của TWA sẽ hạ cánh. Cô trả tiền cho lái xe, còn anh này nhanh nhẹn ra khỏi xe khi họ dừng lại, mở cửa xe cho cô. Cô nghĩ rằng ở Warszawa thì không thể có như vậy được. Như cho đến bây giờ, chưa từng có một lái xe taxi nào ra khỏi xe và mở cửa xe cho cô.
Sau khi vào sảnh chờ, cô nhìn quanh và điều đầu tiên cô nhận thấy là sự yên lặng khó tin. Xung quanh rất nhiều người, nhưng cô có cảm tưởng như lại yên lặng bất thường. Cô lấy tờ giấy in bức e-mail của anh, trong đó anh thông báo cho cô mọi chi tiết về chuyến bay của anh. Cô quyết định trước khi ra cổng đậu của TWA800, cô sẽ hỏi xem có gì thay đổi không.
Cô đi trên bàn làm việc của dịch vụ TWA.
Cô nhìn thấy dòng tên của hãng, to, màu đỏ. Khi đến nơi, cô bỗng nhận thấy những êkíp làm truyền hình với camera và các phóng viên với micrô. Trên nền đá có ba bộ cáng thường được dùng trong các xe cứu thương đứng cạnh nhau, ba phụ nữ đang khóc nằm trên đó. Những nhân viên cứu thương mặc gilê vàng phản quang đang nghiêng người trên những cái cáng. Cạnh một cái, cô ngạc nhiên nhìn thấy một mục sư đang nắm tay một phụ nữ đứng tuổi im lặng.
Cô cảm thấy lạ.
Cô len đến bàn dịch vụ khách hàng nằm xa nhất. Một người đàn ông đứng tuổi tóc bạc mặc đồng phục có gắn biển TWA đứng ở đó.


Cô hỏi về chuyến bay TWA800.
Đột nhiên, có một cái gì đó rất lạ lùng. Người đàn ông đi ra khỏi cái quầy nặng nề ngăn giữa nhân viên phục vụ với khách hàng, đến rất gần cô và hỏi có phải cô đến để nhận ai đó đã bay chuyến này. Khi cô xác nhận, ông ta gật đầu với ai đó đứng ở quầy bên, rồi cầm cả hai bàn tay cô, nhìn vào mắt cô và nói với giọng bình tĩnh và rõ ràng bằng tiếng Anh:
- TWA800 đã không bay tới nơi. Máy bay bị rơi xuống biển mười một phút sau khi cất cánh và tất cả hành khách cùng phi hành đoàn đã thiệt mạng. Chúng tôi vô cùng lấy làm tiếc.
Cô đứng bình tĩnh và ngạc nhiên, không hiểu tại sao người đàn ông này lại cầm tay cô.
Nghe câu nói đó... và quay lại vì cho rằng ông ta nói với ai đó khác.


Không có ai... "Chúng tôi vô cùng lấy làm tiếc…" chợt chạm vào cô và cô bỗng hiểu tất cả: những cái cáng, êkíp làm truyền hình, sự im lặng.
Cô lại nghe thấy giọng nói của người đàn ông kia:
- Hành khách mà chị muốn đón đã là như thế nào với chị?- Đã là ??? Sao lại đã là . . . Đó là Jakub . . . Anh đang là chứ không phải đã là ...
Nước mắt trào ra không thể giữ nổi. Cô muốn nói một điều gì đó nhưng không thể. Bỗng một phụ nữ cũng mặc đồng phục giống người đàn ông vừa rồi chạy đến, và không cần hỏi xem cô có đồng ý hay không, họ dẫn cô ra chiếc sôpha ở phía sau quầy.
Cô bị mất tiếng. Cô nghe thấy hết những gì xảy ra xung quanh mình nhưng không thể nói được câu nào.
Jakub không còn nữa.
Anh bay đến với cô, thế mà giờ đây không còn anh nữa.
Vậy mà anh đã luôn luôn có mặt, luôn luôn, mỗi khi cô cần. Chưa bao giờ anh muốn bất cứ điều gì thay thế. Đơn giản là anh đã có mặt.
Cô nhớ lại lần đầu tiên họ nói chuyện với nhau trên mạng, sự nhút nhát của anh và tất cả những chuyện mà anh đã kể cho cô nghe. Anh đã làm thay đổi thế giới của cô, anh bắt đầu thay đổi cô... Vậy mà giờ đây không còn anh.
Cô khóc không thành tiếng. Một nỗi buồn và nuối tiếc vô hạn trùm lên cô. Mọi người nhận thấy cô bị mất tiếng bèn gọi nhân viên y tế.
Anh ta đến, cầm tay trái cô và tiêm gì đó vào tĩnh mạch.
Cô ngước mắt lên, nhìn người này như thể nhìn một người từ hành tinh khác đến.
Bỗng nhiên người trực lễ tân của khách sạn xuất hiện bên cạnh nhân viên y tế. Cậu ta đẩy nhân viên y tế ra, lôi một tờ giấy đã nhàu từ trong túi ra, vừa chỉ vừa gào lên với cô gì đó bằng tiếng Ba Lan. Cái hợp chất mà nhân viên y tế vừa tiêm cho cô bắt đầu hoạt động, lại được cú sốc mà cô vừa trải qua làm cho mạnh hơn lên. Cô phải tập trung ở mức cao nhất để hiểu điều người Ba Lan kia nói.
Người này lại gào lên một lần nữa:
- Jakub bị nhỡ chuyến bay này và nửa tiếng nữa sẽ đến đây bằng máy bay của hãng Della. Chị hiểu không? Anh ấy còn sống! Không có anh ấy trong chuyến bay kia... Anh ấy vẫn đang trên đường bay đến với chị! Chị hãy nói đi, là chị đã hiểu đi !!!
Cô chợt hiểu ra...
Cô giơ tay giật lấy tờ giấy và đọc.
Cô đọc đi đọc lại rồi cô đẩy mọi người, đứng dậy và bỏ đi không nói không rằng.
Người trực lễ tân, cũng không nói không rằng, đi cạnh cô ra phía cửa của sảnh đến của Della.
Cậu ta để cô ngồi trên ghế dài cạnh cửa ra và nói rằng máy bay đã hạ cánh. Rồi cậu ta bỗng quỳ trước mặt cô mà xin lỗi là đã đến sân bay quá muộn. Sau đó cậu ta đứng dậy rất nhanh và bỏ đi.
Cô ngồi hoàn toàn một mình trên cái ghế dài đối diện với cửa ra và nhìn chằm chằm vào đó.
Cô hình dung mình lúc này trông như thế nào: trang điểm nhem nhuốc, một vết thâm quanh chỗ vừa bị tiêm.
Như một con nghiện nào đấy - cô cười nghĩ.
Cô lại có thể cười.
Bỗng nhiên cô bật khóc, đặt tay như đang cầu nguyện và mặc dù chưa bao giờ tin vào Chúa, cô vẫn thì thầm:
- Lạy Chúa tôi, xin cám ơn Người vì điều đó.



ANH: Anh không thể quên được những gì đã xảy ra sau khi hạ cánh. Họ đã chờ đợi tưởng như vô tận lúc miệng ống mở ra. Ngay từ khi họ còn đang trên vùng trời Dover ở Anh anh đã chuẩn bị ra cửa! Lúc này, khi đeo laptop và đứng trong máy bay ngột ngạt sau những hành khách của khoang hạng nhất anh còn bị ngột ngạt vì sốt ruột.


Anh muốn được chắc chắn làm sao, rằng cô đã biết.
Cuối cùng thì miệng ống cũng được mở. Đứng bên lối ra chính là cô tiếp viên ấy.


Anh dừng lại, còn cô đưa cho anh hai tờ giấy xám được ghim lại.


- Tôi lấy được di vật này cho anh, anh đừng để mất đấy nhé - cô ta nói.


Anh hôn tay cô để tạm biệt và nói:
- Nhất định chúng ta còn gặp nhau, bởi tôi bao giờ cũng bay bằng Della. Chỉ có lần này là họ muốn chuyển tôi sang TWA thôi, nhưng ngay cả Chúa cũng không muốn điều đó. Cám ơn chị vì tất cả.
Khi ra khỏi cổng, nhìn thấy cô đang khóc trên chiếc ghế dài ấy anh biết là người ta đã báo cho cô quá muộn. Nhưng anh cũng biết là nói chung người ta đã không báo cho cô.
Anh chầm chậm đi về phía cô và nhìn thấy là cô đã để ý thấy mình. Anh lại gần hơn, còn cô không đứng dậy khỏi ghế, đưa tay lên môi ra hiệu cho anh đừng nói gì.
Anh nhìn thấy những gì cô đã trải qua trước khi có mặt ở đây. Anh ngồi xuống cạnh cô, không nói gì, chỉ nhìn vào mắt cô. Bỗng nhiên cô cầm hai bàn tay anh, đưa lên miệng và hôn.
Anh muốn thanh minh, muốn xin lỗi nhưng cô không để cho anh làm việc đó.
Cô chỉ thì thầm gọi tên anh, thỉnh thoảng chạm vào anh như thể muốn chắc rằng đây đích thực là anh. Anh không thể kiềm chế được nỗi xúc động khi cô liên tục cám ơn anh vì anh đã ở đây với cô và vì anh còn sống.
Một tiếng đã trôi qua, họ đã dịu bớt. Hai người không một lần nhắc đến vụ tai nạn kia.
Họ dần vui mừng vì sự có mặt của nhau.
Cuối cùng thì họ cũng quyết định rời sân bay. Cô vào toi-let để sửa lại trang điểm, trong lúc đó anh đi tìm đại diện của Avis để lấy chiếc xe đã đặt trước. Sau những thủ tục ngắn gọn, họ đã đứng trước chiếc saab 9000 convertible bóng loáng, có ghế bọc da màu champagne.
Cô bảo anh đến khách sạn của anh, để cô tắm và tỉnh táo lại sau tất cả những chuyện đã qua. Cô không muốn quay về khách sạn của mình vì biết rằng bây giờ cô sẽ gây nên chấn động ở đó như thế nào nếu mọi chuyện loang ra.


Anh dừng lại khách sạn La Louisiane ở Saints Germain. Một khách sạn cũ, tiện lợi, có không khí, có một nhà hàng ấm cúng nằm trong phần công trình sát với khu vườn đầy cây cối.
Theo anh, thì đây là khách sạn lãng mạn nhất ở Paris.
Chuyến đi bằng xe mui trần đã khiến cả hai tỉnh táo lại.


Họ không nói nhiều, chỉ thỉnh thoảng lại nhìn vào mắt nhau, còn cô đôi lúc chuyển dịch tay để vô tình chạm vào anh khi anh thay đổi tốc độ.
Trên đường về Saint Germain, trong xe đầy ắp một tình cảm lễ hội.
Anh cho xe vào giữa bên dưới khách sạn, lấy chìa khóa phòng và một lát sau, họ đã hân hoan trong sự mát mẻ của những bức tường cao.
Anh đặt champagne. Khi họ đã đứng với những chiếc ly trong tay, cô mới nói:


- Jakub, chưa bao giờ em nhớ ai như thế này.


Anh không thể nói gì. Chỉ chạm tay trái vào má cô.
Họ quyết định từ hôm nay, sẽ luôn uống vì sức khỏe của những người lái xe taxi ở Manhattan, đặc biệt là những người Ấn Độ.
Sau đấy cô đi tắm.
Còn lại mình anh trong phòng, nghe rõ tiếng nước của vòi tắm từ phòng tắm, còn anh thì biết rằng mặc dù cô đã khiến anh cực kỳ bị quyến rũ và xúc động, anh vẫn sẽ không vào phòng tắm. Anh rất muốn làm thế, nhưng sự e ngại rằng có thể mình sẽ làm hỏng mất một điều gì đó hoặc vi phạm một điều gì đó trong mối quan hệ dựa trên sự tin tưởng tuyệt đối này vẫn lớn hơn. Nhất là hôm nay, sau những gì họ đã trải qua.
Anh lấy trong vali gói quà mà anh đã mang cho cô. Anh để nó lên giưởng rồi ngồi trên tấm thảm nhung đặt giữa giường và tường, cầm tờ báo cố đọc để chờ cô.
Được một lát, anh thiếp đi.
CÔ: Cô đứng dưới vòi tắm và cảm nhận niềm hạnh phúc lớn lao đang đến với mình như thế nào. Cô cảm thấy nó đang gột rửa những nếm trải của sáng hôm ấy, một buổi sáng y như câu chuyện trong sách mà ai đó đọc cho cô nghe. Chưa bao giờ cô đọc những cuốn sách như vậy. Vì tiếc thời gian.
Cô quyết định từ bây giờ thỉnh thoảng sẽ đọc sách. Cô nghĩ là anh sẽ vào phòng tắm này. Cô chờ. Như vậy sẽ đơn giản hơn rất nhiều. Không ai có thể tin tưởng vào ai đó hơn là cô đã tin anh, cô dám chắc điều này. Cô khát khao anh kinh khủng. Và cảm thấy hôm nay chính là cái ngày ấy.
Cô chờ nhưng anh không vào.
Chỉ khoác trên người mỗi cái khăn tắm bông to, cô ra khỏi phòng tắm.
Cô nghĩ rằng ở bên anh, mọi rào cản đều bị dỡ bỏ. Cho tới lúc này, cô chỉ có thể ra khỏi nhà tắm với mỗi chiếc khăn tắm trên người trước mặt chồng mà thôi.
Trên giường, cô nhìn thấy một hộp bọc giấy màu và buộc bằng ruy băng đỏ.
Jakub nằm ngủ giữa giường và tường.
Chắc anh phải mệt lắm sau chuyến bay và sau những chuyện đó.
Chắc vì thế nên anh đã không vào buồng tắm...
Cô cười.
Nếu bây giờ anh đã ngủ với mình khỏa thân trong phòng tắm thì sau đấy sẽ là gì... - cô nghĩ với nụ cười gượng gạo.
Cô lấy chăn trên giường đắp cho anh.
Còn mình thì nằm trên giường; không dám chắc đó là quà cho mình nên cô không dám mở gói.
Nghe hơi thở đều đặn của anh, cô phân vân, không biết mình có yêu anh không...
Khi tỉnh giấc, cô chưa mở mắt ngay và cảm thấy có một điều gì đó đang xảy ra.
Chiếc khăn tắm mà cô choàng bỗng tuột khỏi người cô. Cảm thấy âm ấm ở vùng bụng dưới. Cô khẽ mở mắt.
Anh đứng bên giường và chạm môi vào bụng cô.
Cô giả vờ ngủ để quan sát anh qua hàng mi khép hờ.
Anh nhìn cô đắm đuối, nhưng một lát sau anh nhẹ nhàng, cố để không làm cô thức giấc, đắp lại khăn cho cô và đi ra.
Khi từ phòng tắm đi ra, anh thấy cô đã mặc quần áo.
Đã khá muộn, họ quyết định xuống nhà hàng dưới nhà để ăn tối.
Anh gọi điện xuống lễ tân đặt bàn.
Sau đó anh tặng cô gói quà với nụ cười, nhưng cô hỏi anh liệu cô có thể đầu tiên là vui vẻ vời bữa tối, sau đó là với gói quà của anh.
Anh trả lời cô là trông cô tuyệt đẹp.
Họ xuống dưới nhà. Khi người phục vụ đưa họ đến cái bàn cạnh cửa sổ, trong nhà hàng có tiếng nhạc piano nhè nhẹ.
Paris, anh, những ngọn nến, âm nhạc... Cô cảm thấy hạnh phúc biết bao.
Nhà hàng chỉ có thực đơn bằng tiếng Pháp, vậy nên cô bảo rằng bữa tối hôm nay hoàn toàn tùy thuộc vào khẩu vị của anh.
Anh gọi đủ các món ăn mà tên của chúng cô cũng không biết, và khi chúng được nói lên bằng tiếng Pháp thì nghe như tên các loài hoa. Cô chỉ nhắc với anh rằng ly của cô lại cạn rồi. Anh cười và giả vờ dạy cho người phục vụ bàn.
Họ cười, đùa, họ phân vân trước tình bạn kỳ lạ của họ.
Họ kể về những điều xảy ra với họ những khi họ nhớ nhau. Rồi anh đứng dậy, xin cô cho phép và đi ra.
Cô phân vân không biết phải làm thế nào để anh hiểu được là cô muốn ăn tối xong hai người sẽ cùng quay lại phòng anh.
Bởi cô biết rằng nếu cô không muốn, anh sẽ không bao giờ đề xuất việc này.
Một nụ hôn vào cổ đã bứt cô ra khỏi dòng suy nghĩ. Anh đứng sau lưng cô, vén tóc cô và hôn vào cổ cô. Cô ước gì cứ như thế mãi.
Cô quay đầu lại, khơi gợi cuộc gặp gỡ của những làn môi. Nhưng anh đã kịp lùi đầu lại. Anh ngồi đối diện với cô.
Cô phân vân, tại sao anh lại làm thế, phải chăng anh quá nhút nhát hay anh quá sợ bị từ chối?
Ăn tối xong, anh đề nghị được đưa cô về khách sạn của cô. Mặc dù đã lường trước điều này nhưng cô vẫn cảm thấy thất vọng. Cô chỉ cười và đồng ý. Anh bảo dọc đường đi sẽ chỉ cho cô Champs Elysees về đêm.
Dòng ôtô nườm nượp. Họ dịch chuyển chậm như sên, và khiến cho khách du lịch như họ ngạc nhiên. Ai cũng biết, kể cả cảnh sát rằng phần lớn lái xe có cồn trong máu, nhưng ở Paris vào nửa đêm thì chẳng ai quan tâm đến điều này. Cô mừng vì họ có thể thoát được. Cô đang bị hưng phấn.
Bỗng nhiên cô này ra một ý tưởng thiên tài. Cô hỏi anh liệu cô có thể lái xe được không.
Cô muốn có được cảm giác đi trên Champs Elysses, gần Khải Hoàn môn giữa dòng xe cộ vào ban đêm.
Anh đồng ý ngay lập tức. Họ dừng lại một lát để đổi chỗ.
Cô đi quanh Khải Hoàn môn rồi rẽ vào một phố ngang dẫn đến khách sạn của anh.
Anh nhìn cô ngạc nhiên. Cô cười và bảo rằng cô quên một thứ rất quan trọng trong phòng anh, đó là gói quà anh tặng cô. Cô nhấn ga.
Cô biết là bây giờ thì anh đã hiểu rằng cô cho phép anh.
Anh chạm vào miệng cô và nói:
- Em chạy nhanh lên đi.
Ngay ở trong thang máy cô đã cởi khăn quàng cổ, nhẫn, dây chuyền vàng mà cô đeo bên dưới khăn quàng. Khi ra khỏi thang máy, cô tháo giầy.
Chỉ vừa vào đến phòng, cô đã cởi áo sơmi cho anh.
Anh cởi đồ cho cô, bế cô trên tay và đưa lên giường.
Anh hôn khắp người cô. Anh làm với cô những điều tuyệt vời.
Cuối cùng thì anh không hỏi gì.
Suốt thời gian ấy anh thầm thì rằng với anh cô đẹp biết bao, cô cần cho anh biết bao và anh nhớ cô vô cùng. Nhưng anh đưa cô đến trạng thái đê mê thực sự vào những khoảnh khắc mà anh thì thầm nói với cô những gì một lát nữa anh sẽ làm. Anh sẽ hôn cô ở chỗ nào, sẽ chạm vào cô ở đâu và cô cảm thấy gì khi anh làm thế.
Sau đó, lúc gần sáng, khi đã thiếp đi mà vẫn cười một mình, cô cảm thấy bàn tay anh trên ngực mình và thậm chí cô không cố suy nghĩ xem điều gì vừa xảy ra.
Cô biết rằng điều này sẽ còn đến và lúc này âm nhạc trong phòng và sự yên tĩnh này chỉ là để thư giãn. Cô chạm tay vào môi anh. Anh không ngủ và xoay người về phía cô.
Cô chờ cho đến lúc anh làm điều đó.

Cô đơn trên mạng - Chương 9

ANH: Ở New York, anh ở trong Marriott Marquis, trên góc Broadway cắt phố 45. Anh tính rằng nếu đặt taxi lúc năm rưỡi thì sẽ thoải mái kịp. Nhưng đi được kilômét đầu tiên thì anh biết là anh đã sai lầm kinh khủng. Theo kế hoạch thì mãi hai mươi giờ ba mươi mới khởi hành, nhưng ngay lúc này anh đã biết rằng anh không còn nhiều thời gian.
Đã bốn mươi nhăm phút trôi qua, mà họ vẫn ở trong đám tắc đường đáng sợ trên Manhattan và đến Queens Midtown Tunel, nối Manhattan với Queens, nơi có sân bay Keunedy mà anh sẽ bay từ đó, vẫn còn xa vô tận. Tay lái xe người Ấn Độ (anh có cảm giác là tất cả lái xe ta xi ở New York đều là người Ấn Độ) nói không ngơi mồm, cười và động viên anh rằng nhất định họ sẽ kịp, nhưng anh thì biết rằng nếu họ có ngồi nửa ngày trong cái taxi này và máy bay thì đã cất cánh từ lâu mà không có anh, thì cái lão người Ấn Độ này vẫn cứ bảo anh rằng họ sẽ kịp.
Những người lái ta xi Ấn Độ ở New Orleans cũng đều thế cả.


Song tay lái taxi này là hiện thân của những gì tồi tệ nhất mà anh có thể gặp: trẻ và nhát gan.


Lái taxi ở New York có thể khiếm thị, nhưng không thể nhát!
Trên Manhattan vào tầm này không thể vượt được, khi trước đó nhìn qua gương thấy cả một hàng dài vô tận ở phía sau. Ở đây cần phải bật xi-nhan, tăng tốc, bóp còi và chuyển làn đường.
Ngay cả anh cũng biết điều đó, mặc dù anh chưa từng bao giờ lái taxi.
Khi họ đến được sân bay, tay lái xe vẫn luôn miệng cười, còn anh thì chỉ còn đúng mười tám phút nữa là đến giờ máy bay cất cánh.
Anh bực với chính mình, với sự ngu ngốc của mình, với New York, với tất cả những người Ấn Độ và với sự bất lực của mình.


Anh chạy như điên vào cổng ra của mình, vừa khấn thầm để họ đừng gạch tên anh khỏi danh sách hành khách để mà đem lại may mắn cho một ai đó trong danh sách chờ.


Họ không thể làm thế với anh được!


Bởi cô sẽ đón anh ở Paris và chắc chắn cô sẽ chờ anh.
Không, họ sẽ không làm thế. . .


Khi anh đến nơi, TWA800 đã kiểm tra xong.


Những hành khách của khoang hạng nhất và khoang business đã yên vị trong máy bay và uống sâm banh, theo anh đoán, còn những dãy cuối của khoang economy đang được gọi vào cổng.
Anh biết là mình đã chịu thua thời gian. Anh đã thua một cách dở hơi và vô lý đến thế.
Anh lấy hết sức để dán lên mặt mình một nụ cười dễ thương nhất mà anh có thể có vào thời điểm ấy và đi đến chỗ một cô gái tóc vàng trẻ, béo mặc đồng phục của hãng TWA, tay cầm điện thoại, đứng bên cổng mà bên trên có số hiệu chuyến bay của anh.
- Tất nhiên là chị biết rằng tôi nhất thiết phải bay chuyến này. Della đã chuyển tôi sang đây trái với ý muốn của tôi, các chị đã khẳng định bằng fax và điện thoại, tôi có thể cho chị xem bản fax ấy. Dãy của tôi đã được gọi ra cổng chưa? - anh hỏi bằng một giọng điềm đạm nhất mà lúc ấy anh có thể tạo ra được. Anh cho rằng thái độ thiếu nhã nhặn sẽ đẩy cô ta vào thế thủ.
Cô ta hiểu ngay ra trò chơi này. Cô cười và hỏi tên.


Khi anh đọc tên, cô ta kiểm tra trong máy tính và điềm đạm trả lời:


- Anh đã vô cùng gặp may. Khi chúng tôi gạch tên anh khỏi chuyến bay này vì anh đến muộn, thì Della đã nhận anh lên chuyến bay lúc hai mươi giờ ba mươi nhăm của họ. Chỉ vì anh là người đầu tiên trong danh sách chờ ở bên kia, và có người hủy chuyến bay vào phút chót, và máy tính của họ bị hỏng nên không xóa tên anh khỏi danh sách dự bị bên chỗ chúng tôi. Anh phải lưu ý đến máy tính. Họ cũng đang ở cùng một cổng ra. Anh nên chuyển thật nhanh sang đó. Anh đến Paris chỉ chậm hơn có nửa tiếng so với đi của hãng chúng tôi.
Anh chưa kịp nói gì thì cô ta đã quay sang với hành khách.
Rất nhanh, anh nhớ rằng ở đây, Della có trạm của họ ở phía đông của sảnh này, thế là không nói gì, anh quay đầu chạy về hướng đằng ấy.
Khi anh đến được trạm của Della, đám đông vẫn nhốn nháo ở đó. Anh thở phào.
Bao giờ Della cũng có thời gian. Anh biết điều này từ mấy năm nay, từ khi anh bắt đầu bay bằng hãng này.


Cho tới khi nhận lại thẻ lên máy bay, anh mới nghĩ ra là cô hoàn toàn không biết gì về việc thay đổi chuyến bay này, còn họ thì đã mời hành khách lên máy bay và quanh đấy cũng không có điện thoại.
Lên máy bay mình sẽ gủi e-mail cho cô và sẽ gọi điện đến khách sạn - anh nghĩ.
Anh nhấc vali và túi đựng laptop rồi đi ra ống dẫn ra máy bay.
Khi đã tìm thấy và ngồi vào chỗ của mình cạnh cửa sổ, anh bỗng cảm thấy mệt kinh khủng.


Anh ngồi không nhúc nhích. Khi máy bay nặng nề cất cánh anh hoàn toàn thanh thản nhìn xuống New York rực rỡ đầy lãng mạn trải dài ngoài cửa sổ và nghĩ rằng lần đầu tiên sau một thời gian dài anh mới lại có thể nhìn cảnh này và không sợ hãi.
Khi ánh sáng của New York đã trở thành một tinh vân không có tính thù rõ rệt, anh nhắm mắt và lúc này anh mới thực sự bắt đầu chuyến đi của mình.
Anh bay đến Paris chỉ vì cô và chỉ đến với cô.
Chỉ còn mấy tiếng nữa và anh sẽ gặp cô.
Anh không muốn lại thêm một lần nữa nhắc lại những gì sẽ nói với cô, sẽ nói về cái gì và sẽ chạm vào tay cô ra sao.
Anh không muốn bởi anh biết rằng đằng nào thì cũng sẽ không được như trong cái chương trình ngọt ngào mà anh đã tự lên cho anh. Sẽ không giống, bởi cô là khó có thề đoán trước được và chỉ cần một lời nói thôi cũng đủ để một cái khác đi rồi.
Thậm chí có trong những câu chuyện của họ trên ICQ cũng thế. Mặc dù anh nói nhiều hơn và kiểu gì thì cô cũng là người xác định hay đổi chủ đề. Nhưng anh vẫn thích có kế hoạch, chủ yếu là vì được vui khi lên kế hoạch.



Bỗng nhiên anh thèm uống vang quá.
Anh nhìn quanh. Một sự thư giãn điển hình sau những căng thẳng của lúc cất cánh. Một số người đắp chăn chuẩn bị ngủ, một số đứng dậy để giải tỏa nỗi sợ đang qua đi trong khi xếp hàng chờ vào toilet, một số khác nữa thì lấy báo hay tạp chí từ túi xách tay ra, một số ngả ghế và nhắm mắt. Không thiếu những người như anh, đang ngóng các tiếp viên để có thể bình tĩnh trở lại nhờ rượu, là thứ mà ở độ cao này có tác động khác hẳn.


Nhưng đặc biệt hôm nay, anh hoàn toàn không muốn dùng rượu để tĩnh tâm.


Anh muốn tưới cho những ước mong của mình bằng chianti [1] đỏ.


Anh muốn tưởng tượng một chút về Paris chung của họ và về Paris được cô trang hoàng tưng bừng như thế nào cho anh bằng sự có mặt của mình. Anh nhớ một đoạn trong số những bức thư gần nhất cô viết cho anh:


Anh là vô cùng quan trọng đối với em. Em biết ơn anh rất nhiều và không chỉ vì những gì em cảm thấy. Nhờ có anh mà em hoàn thiện hơn, tốt hơn, em cảm thấy mình độc đáo và không thuộc loại trung bình. Có thể ít thông minh hơn một chút (mọi cái vốn vẫn tương đối như vậy), nhưng chắc chắn là tuyệt vời đặc biệt. Đúng thế, em cảm thấy giờ đây mình sống đầy đủ hơn và có ý thức hơn. Em say mê tất cả những suy ngẫm và mơ màng mà anh mang đến cho em. Chúng khiến em vui biết bao.


Tất nhiên là trong đầu em luôn có cả một mớ lộn xộn kinh khủng, mà cho tới lúc này chưa có lý do gì, chưa có động cơ nào để vì nó mà em muốn sắp xếp lại những ý nghĩ của mình. Nếu như em có nói lung tung thì chính là vì thế. Anh buộc em phải suy nghĩ, mặc dù là rất vụng về (Nhưng anh đừng có dừng lại! Sau mấy năm nữa anh sẽ có em như một người bạn để trò chuyện, như chưa bao giờ anh có được như vậy) và sắp xếp những ý nghĩ xoay tít của em.


Anh cười với ý nghĩ rằng mình quan trọng biết bao trong những ý nghĩ xoay tít của cô.


Còn sau đó trong chương trình, anh sẽ dùng đúng loại chanti đó để gọi giấc ngủ đến, bồi giấc ngủ bao giờ cũng rút ngắn sự chờ đợi một cách đáng kể. Anh nhớ điều này từ hồi còn bé, đặc biệt là trước sinh nhật và Giáng sinh.


Thế là anh đưa mắt tìm nữ tiếp viên.


Cô ta đột ngột xuất hiện ở cuối lối đi; cô ta vừa từ cabin của các phi công ra.


Anh có cảm tưởng như cô ta vừa khóc.


Khi cô ta đến gần, thì anh chắc rằng cô ta đã khóc. Trang điểm nhem nhuốc, nước mắt chỉ chực trào ra, hai bàn tay run run. Anh cố gắng để cô không biết là anh nhận thấy điều đó. Anh cười với cô, hỏi xin rượu vang, còn cô ta trả lời bằng bộ mặt méo mó đang cố mô phỏng một nụ cười và đi.


Một lúc sau cô mang rượu vang đến, đã trang điểm lại, đã tự chủ được và trông rất buồn. Cô đưa rượu vang cho anh, không nói một lời rồi đi.


Anh uống ngụm đầu tiên rồi kéo tai nghe điện thoại từ chỗ tựa của ghế trước. Kéo thẻ tín dụng qua khe máy đọc và bấm số khách sạn của cô ở Paris.
Số máy bận.


Một lát sau anh gọi lại. Vẫn thế.


Rượu vang hết đã lâu, còn anh vẫn bấm số máy ấy ở Paris và khi máy bận, anh lại tự nhủ sẽ chỉ thử một lần nữa, chỉ một lần duy nhất, lần cuối cùng.
Sau một tiếng anh bỏ cuộc.
Anh gọi cốc vang nữa, lôi laptop dưới gầm ghế ra và bật máy.


Anh chuẩn bị một e-mail để gửi đến lễ tân khách sạn nơi cô ở.
Anh nhờ họ thông báo gấp cho cô biết là anh không bay chuyến TWA800, mà bay DL278. Anh cho giờ và số cổng ra ở sân bay Charles de Gaulle mà anh sẽ ra. Anh đề nghị xác nhận e-mail đến. Anh dự định một lần nữa, ngay trước khi hạ cánh xuống Paris, sẽ vào mạng để kiểm tra xem có xác nhận hay chưa.
Cáp modem anh cắm vào ở trong điện thoại đã kịp nóng lên trong tay anh khi anh cố gọi đến khách sạn ở Paris của cô trong suốt một giờ đồng hồ cuối cùng.


Anh chọn số của Compuserve và một lát sau đã ở trong mạng.


Anh gửi e-mail. Khoảng chín giờ sáng máy bay sẽ hạ cánh, vậy thì chắc chắn họ sẽ kịp thông báo cho cô – anh nghĩ.
Thứ năm này, mười tám tháng bảy, ở Paris sẽ là ngày của họ. Và hoàn toàn không ảo.


Anh định ra khỏi mạng, nhưng trước đó anh quyết định vào trang CNN để xem dự báo thời tiết vùng Paris. Anh hy vọng rằng sẽ không mưa. Ở sân bay, anh sẽ nhận ôtô trong Avis anh đã đặt xe từ ở New York, và sẽ phải là kabriolet. Anh gõ địa chỉ của CNN trong Netscape và đợi cho trang chủ hiện trên màn ảnh của laptop, anh đưa ly lên miệng.
Nhân viên lễ tân, lễ tân khách sạn Bousquet, đêm 16 rạng ngày 17 tháng bảy năm 1996, Paris:
Cậu thay ca vào lúc nửa đêm. Bao giờ cậu cũng thay ca đêm. Không phải vì thích. Cậu không có sự lựa chọn khác. Học tin học ở Ecole de Paris, và để sống được trên mặt bằng của cái thành phố đắt đỏ này, cậu phải đi làm thêm. Mà làm việc thì dù có thể vào ban đêm. Cái khách sạn nhỏ ở Khu Latinh này giống như thể một số phận may mắn trong xổ số. Cách nơi ở, cậu ở cùng với hai người nữa cũng như mình, chỉ có mười phút đi bộ, ngoài ra ông chủ khách sạn là người Ba Lan nên không bao giờ đưa ra những câu hỏi ngu xuẩn. Tiền công bao giờ cậu cũng nhận tiền mặt, không bao giờ bị để trong phong bì, và luôn đúng hạn. Cậu thích sự yên tĩnh này, khi mọi người đã ngủ, còn cậu vặn khẽ radio, mở chai rose lạnh ưa thích và ngồi sau quầy lễ tân, nhấm nháp vang và chìm đắm trong trạng thái nửa thức nửa ngủ. Cậu nhắm mắt, nhưng vẫn nghe thấy những khách về muộn vào khách sạn, ngây ngất vì thành phố hoặc vì rượu và đập vào những cánh cửa đóng, cậu nghe điện thoại của những người cho đến giờ này mới sực nhớ ra là họ không có báo thức, mà sáng mai họ lại có một cuộc gặp cực kỳ quan trọng và cần phải đánh thức họ.
Cậu phải ra khỏi trạng thái này ngay lập tức rồi trở lại ngay lập tức.
Cứ như vậy đã hai năm, ban ngày cậu đi học, đêm làm việc.
Song gần đây mọi việc đã bị xáo trộn một cách triệt để.
Ông chủ khách sạn lắp đặt Internet.
Họ có trang web của mình, địa chỉ của mình và nhận đặt phòng qua mạng.
Không thể có gì hay hơn thế!
Hai tiếng sau nửa đêm, cậu bật modem, vào mạng và ở trên đó với những quãng dừng ngắn cho đến sáu giờ sáng.
Cậu lang thang, liên hệ, và trên hết là chat.
Cậu có bạn nói chuyện ở khắp nơi trên thế giới. Một số người vào mạng chỉ để gặp chính cậu.
Dần dà, nhưng không thể lay động, cậu đã bị nghiện Internet.
Cậu đã không còn cái trạng thái nửa thức nửa ngủ ấy nữa. Buổi sáng, cậu thiếp đi trong các giờ học, cậu đi làm muộn vì ở nhà gần mười hai giờ cậu đã ngủ nhưng vẫn không tài nào đánh thức được cậu trước nửa đêm.
Cậu tự nói với chính mình rằng đây chỉ là một sự say mê nhất thời; đã như vậy từ bảy tháng nay.
Tất nhiên là cậu biết rằng khi mình vào mạng, không ai có thể gọi điện đến khách sạn được. Cậu giả thiết rằng trong khoảng từ hai đến sáu giờ sáng, đằng nào thì cũng không thể có cuộc gọi quan trọng nào, vậy cậu là cho qua chuyện đó. Hôm nay cậu cũng sẽ không bận tâm về vấn đề này.
Như thường lệ, cậu bật modem và máy tính. Đầu tiên cậu kiểm tra toàn bộ các đăng ký phòng online. Những gì có thể, cậu xác nhận bằng e-mail.
Sau đó cậu kiểm tra thư đến của khách. Dịch vụ này mới được khách sạn đưa vào và cậu tự hào nhận thấy nó quan trọng và ngày càng trở nên quan trọng như thế nào.
E-mail đến từ khắp nơi trên thế giới và bằng mọi thứ tiếng có thể.
Cậu in những bức thư ấy, cho vào phòng bì màu ôliu có địa chỉ Internet của khách sạn và gần sáng, cậu nhẹ nhàng luồn qua khe cửa của người nhận. Sau mấy tháng thì thấy rằng họ đã có những khách cố định chỉ thông qua mạng và những phong bì màu ôliu ấy, ngay sau khi thức dậy.
Cậu cũng gửi những thư của khách để lại trên đĩa mềm. |
Sáng nay có ba cái phải gửi đi. Hai cái của cái chị Ba Lan xinh đẹp ở phòng mười tám trên tầng một ấy. Hai hôm trước đây lúc gần sáng chị ta đã kéo cậu ra khỏi máy tính lúc cùng với hai cô bạn từ vũ trường về. Họ rất vui nhộn và làm duyên với cậu. Họ đi vào khách sạn theo nhịp nhảy, ngồi chuyện phiếm ở sôpha trước lễ tân, một lúc sau một chị chạy lên phòng mình lấy champagne.
Chị để tóc xõa và rối, mặc chiếc sơmi màu xanh lá cây bó sát, cổ khoét sâu để hở viền đăng ten mỏng màu xanh lá cây của chiếc nịt vú. Cậu không thể xác định được màu mắt chị. Có vẻ như là chúng chuyển từ màu xanh lá cây sang màu nâu sẫm.
Khi đã uống champagne ngọt của Ý, chị đột nhiên đứng dậy và đi vào chỗ cậu sau quầy lễ tân, định vặn to đài vì đúng lúc Bryan Ferry đang hát. Lúc ấy chị nhìn thấy màn hình máy tính của cậu với trang của khách sạn và không vòng vo chị hỏi ngay có thể gìn e-mail được không.
Khi cậu trả lời đương nhiên là được, chị không nói không rằng, bỏ cậu đấy và ngồi vào bàn máy tính. Chị tự tìm được chương trình thư trong ổ cứng của máy tính khách sạn và bắt đầu viết.
Cậu có cảm tưởng như với chị, thế giới ngừng tồn tại ...
Khi cuối cùng thì chị cũng quay lại nhập bọn, cậu đã kịp cùng với hai cô bạn của chị uống hết chai champagne . Chị lặng lẽ. Không nói thêm một lời nào nữa.Cậu có cảm tưởng như với chị không còn gì tồn tại. Chi đột ngột đứng dậy, chúc mọi người ngủ ngon rồi đi ra. Hai cô bạn chị nhìn nhau đầy ý nghĩa nhưng không bình luận gì.
Chị trở nên bí hiểm.
Hôm nay, chốc nữa cậu phải gửi hai thư của chị để lại trên đĩa mềm trong ô của mình.
Sắp sáu giờ.



Cậu gọi chương trình thư, chuyển thư từ đĩa mềm sang hộp thư gửi và tự nhủ, rằng đây chỉ là ngoài ý muốn, rằng dù là mọi chuyện đã sắp đặt không may như thế nào đó, cậu bắt đầu đọc thư thứ nhất:
Paris ngày 16 tháng bảy
Em cảm thấy thiếu anh vô cùng, Jakub…
Từ ba ngày nay, em cảm thấy đến đau đớn, anh đã bước vào cuộc đời em sâu sắc biết bao và điều gì sẽ đến với em nếu anh rời bỏ nó. Em cảm thấy bị bỏ rơi ở giữa đám đông quanh mình trong cái thành phố Paris đen-trắng vô hồn này, lẽ ra nó phải rực rỡ sắc màu như người ta đã hứa trong catalog mà em đã nghiên cứu rất kỹ ở Warszawa.
Anh hãy đến đây đi, em xin mà, anh hãy đến...


Cậu gửi bức thư này và sung sướng mở thư thứ hai, "ngoài ý muốn":
Paris ngày 16 tháng bảy
Rất, rất, rất cám ơn anh, anh thông minh và tuyệt vời của em.


Cám ơn anh vì tất cả, vì anh đã nghĩ rằng chúng mình có thể gặp nhau, vì anh đến đây hôm nay.


CHỈ VÌ em, và anh sẽ chỉ cùng với em: Em biết là anh sẽ đọc những dòng này trên máy bay (em không thể hình dung ra, người khác thì không nói làm gì, nhưng anh lại không thể nhận thấy có ổ cắm modem ngay trước mắt mình!), và khi anh bắt đầu đọc những dòng này, thì em vẫn còn ngủ với giấc ngủ chập chờn của một cô gái mới lớn đang yêu.
Sáng mai, ở sân bay, môi em sẽ có màu gì nhỉ? Anh thích màu gì nhất?


Có phải có những màu có vị khác với những màu khác?
Chắc chắn cả điều này nữa anh cũng biết …


Cậu cười và nghĩ hôm nay mình rất, rất muốn được là Jakub...
Đã đến thời của "những bức thư trong khe".
Cậu khởi động chương trình thư một lần nữa và lấy tất cả mail từ máy chủ của họ.
Chỉ có hai cái. Một cái cho cậu, của ông anh ở Warszawa, và một cái cho chị, của tay Jakub ấy.
Ở đầu trang, được viết bằng tiếng Anh, anh ta yêu cầu người nhận thư này trong khách sạn ngay lập tức và tuyệt đối ưu tiên thông báo cho người có tên dưới đây về việc thay đổi thời gian bay của anh ta từ New York đến Paris, còn trong phần cá nhân, được viết bằng tiếng Ba Lan, và gửi cho chị, anh ta thông báo rằng sẽ không bay bằng TWA800 mà bằng DL278, và rằng chị hãy chờ anh ta muộn hơn nửa tiếng và ở cổng khác. Vì cho rằng người nhận e-mail của khách sạn không biết tiếng Ba Lan nên anh ta đã kết thúc bức thư bằng một đoạn khiến cậu thấy vui vui:


Em yêu, ở đó, ở sân bay ở Paris, khi chúng mình gặp nhau, hãy đừng cho phép anh quên. Hãy liên tục nhắc anh rằng chúng mình chỉ là bạn. Trừ khi cả em cũng quên. Nếu vậy, thì không cần phải nhắc anh nữa. Ngay cả những đôi bạn thân nhất vẫn có thể quên như vậy mà.
Jakub.


Cậu bỗng ngạc nhiên ý thức rằng chị đeo nhẫn cưới trên ngón tay bên phải. Cậu nghĩ ràng đó không phải là nhẫn của cái tay Jakub này. Bây giờ thì cậu cũng hiểu tại sao chị lại đăng ký báo thức và đặt taxi cho buổi sáng sớm đến thế. Cậu in bức e-mail ấy và quyết định sẽ tự tay đưa cho chị vào sáng mai, lúc cô xuống taxi.



CÔ: Cô đăng ký báo thức, đặt đông hồ báo thức của mình và lấy thêm một cái của Alicja. Để cho chắc.


Nhưng rồi tự cô đã dậy trước báo thức nửa tiếng. Cả hai cái đều réo chuông lúc sáu rưỡi và ngay sau đấy là điện thoại. Cô khỏa thân, cứ để nước chạy từ người như thế ra khỏi phòng tắm để tắt báo thức cứ nhắc đi nhắc lại. Cô có cảm tưởng như cả khách sạn đều biết là cô dậy.
Lúc này cô đứng dưới vòi tắm và phấn khỏi vì đã sắp rồi...
Họ sẽ gặp nhau, họ sẽ thực sự gặp nhau!
Cô mặc bộ đồ lót mới, xịt loại nước hoa mà anh thích, mặc chiếc váy mới mà cô mua ở Warszawa trước chuyến đi. Cô trang điểm. Cô muốn hôm nay mình phải thật độc đáo và đẹp ngay từ sáng sớm.
Liệu cô có thực sự yêu anh?


Cô mừng vì anh đến sớm như thế này. Cô sẽ không phải vật lộn với sự sốt ruột mà cô đã có từ khi họ đến đây. Các buổi tối khiến cô khổ sở nhất. Những lúc ấy cô mở rượu vang để "làm mềm" cảm giác đó, và rơi vào trạng thái lãng mạn-buông thả. Nếu không làm chủ được nó, cô sẽ bỏ tất cả đấy để chạy ra Cafe Internet ở gần khách sạn của họ để viết cho anh tất cả những gì cô cảm thấy.


Hôm nay chắc chắn cô cũng sẽ rơi vào trạng thái lãng mạn - buông thả ấy, nhưng hôm nay cô sẽ không đi đâu cả. Thậm chí cô không cả muốn trả lời cho chính mình, cô sẽ làm gì hôm nay nếu trạng thái ấy đến.


Sẽ đến...?!
Anh đã ở đây. Cô cảm thấy anh một cách chính xác. Vậy mà còn chưa đến tám giờ sáng. Khi đã chấp nhận hình ảnh của mình trong gương, cô ra khỏi phòng.
Taxi phải chờ cô trước khách sạn.
Khách sạn vẫn yên ắng và vắng vẻ. Đi qua gần chỗ lễ tân, cô cảm thấy mùi cà phê mới pha, nhưng không có cậu trực lễ tân người Ba Lan dễ thương ấy ở đó.
Taxi đã chờ sẵn. Đúng là xe này. Anh lái xe người Ả Rập bước vội ra, cúi chào và mở cửa xe...


Lúc quay xe, cô chợt thấy hình như cậu nhân viên lễ tân chạy từ khách sạn ra. Cô nói bằng tiếng Anh với người lái xe để anh ta dừng lại, nhưng anh ta không hiểu. Họ đột ngột rẽ sang phố ngách và cô không còn chắc liệu có phải chỉ là mình tưởng như vậy không.


Cô ngồi thoải mái.
Cô cười một mình. Một ngày nắng tuyệt đẹp của Paris, còn cô đến với anh.
Bây giờ thực sự là sắp - sắp rồi - cô nghĩ.
NHÂN VIÊN LỄ TÂN : Lúc sáu rưỡi cậu gọi điện để đánh thức cô. Cậu không nghĩ là giọng cô còn ngái ngủ.


Sau đó cậu gửi mail xác nhận theo địa chỉ của Jakub và sát bảy giờ, cậu ngắt modem. Nửa tiếng sau người ta đưa báo hàng ngày tới. Cậu phải phân phát báo trong khách sạn. Nhưng trước đó cậu quyết định phải uống cà phê cái đã. Cậu ra căn bếp nhỏ cạnh lễ tân và mở automat vào cà phê.
Sau đó cậu cho báo vào một cái túi riêng, quàng qua vai và đi thang máy lên tầng trên cùng. Cậu đi từ tầng này xuống tầng khác, để báo trước cửa những phòng có khách.


Khi ra khỏi thang máy ở tầng một, cậu nhận thấy cô đang đi xuống cầu thang.


Một lát sau đó, khi để báo, cậu nhìn thấy một tít báo.


Cậu quẳng túi và chạy quáng quàng xuống dưới. Cậu nhìn thấy cô vào taxi. Cậu gọi tên cô như điên, nhưng taxi đột ngột rẽ sang phố bên cạnh và cô mất hút khỏi tầm mắt cậu.


ANH: Anh chậm rãi nhấm nháp chianti trong lúc đợi trang CNN hiện ra trên màn hình của mình.


Anh cảm thấy dễ chịu và ấm cúng ánh sáng trong máy bay chỉ mờ mờ, trên màn hình vô tuyến ở đằng xa, những cảnh cửa một bộ phấn mà anh thậm chí không biết tên đang chạy, xung quanh là tiếng ồn dễ chịu của động cơ đang hoạt động.


Toàn bộ sự náo động của tuần vừa rồi, đầu tiên là trong thời gian hội nghị ở New Orleans, sau đó ở Princeton và New York, toàn bộ sự căng thẳng điên rồ hôm nay trên đường đi và ở sân bay, giờ đây dường như là một cái gì đó đã xảy ra lâu lắm rồi. Một cái gì đó vớ vẩn.
Anh nhắm mắt một lúc. Toàn bộ trang CNN đã hiện lên trên màn hình máy tính.


Bắt đầu là tin giờ chót, được hiển thị trên màn hình bằng chữ đậm. Anh bắt đầu đọc:


Ngày 17 tháng bảy năm I996, tại 2031 EDT, chiếc Boing 747-131 đã rơi xuống vùng biển Atlantic, cách Moriches, New York khoảng tám dặm về phía nam, sau khi rời sân bay John F. Kennedy Intertional Airport (JFK). Đây là chuyến bay theo lịch trình đến Charles de Gaulle Intertional Airport (CDG), Paris của Trans Word Airline Flihght TWA800. Chiếc máy bay đã nổ tung, bốc cháy và lao mạnh xuống biển. Tất cả 230 người đã thiệt mạng.


Càng đọc, anh càng run khắp người. Anh không cầm nổi cái ly và biết rằng nếu không đứng dậy ngay, anh sẽ bị lên cơn hen. Anh bắt đầu thấy khó thở. Anh biết cái gì sẽ đến. Bởi anh vẫn còn nhớ từ hồi Nataha.


Anh rứt cáp modem ra khỏi điện thoại, làm laptop rơi ra sàn, còn anh len ra lối đi giữa các hàng ghế. Anh giẫm lên mọi thứ, giẫm phải mọi người trên đường đi, kệ, với anh lúc này hoàn toàn dửng dưng.
Cô tiếp viên đột ngột xuất hiện ngay bên cạnh.


Anh vội túm lấy tay cô và nói nhỏ:
- Chị khóc, vì ... vì tất cả họ đã chết, đúng không?


Cô tiếp viên không tin và sợ hãi nhìn vào mắt anh hỏi:
- Từ đâu mà anh biết?


- Từ CNN, tôi vừa đọc trang của họ …
- À vâng - cô trả lời và nhìn vào laptop của anh nằm trên sàn dưới cửa sổ. - Tôi đã khóc … vì họ đã chết. Nhưng mong anh đừng nói cho ai biết. Họ sẽ tự biết tin này ở Paris. Anh nhớ nhé !
- Chị có biết là tôi … tôi ở trên máy bay này chỉ do tình cờ? Chị có biết là nếu không bị tắc đường ở New York, thì tôi đã cùng với họ... tôi đã... đã chết ở đấy??


Cô nhìn vào mắt anh, nghe và bỗng ôm lấy anh. Ngay sau đấy cô cảm thấy xấu hổ vì sự mềm yếu ấy và vội bỏ đi. Còn anh đứng và nhìn bằng ánh mắt vô hồn và phân vân, phải chăng anh sống là vì trên thế gian này còn có một điều gì đó quan trọng phải làm, hay chỉ vì sự lơ đễnh và không hoàn thiện của mình, hay vì người lái taxi nhát gan ở New York.
Cái chết đã chừa anh ra chỉ trong gang tấc, và ngoác miệng trong tiếng cười giòn tan từ câu chuyện tiếu lâm mà nó đã dựng lên cho anh ở Manhattan.
Cái chết …
Anh lại nhớ lại.
Cái chết khi mẹ anh mất.


Mẹ anh đã chết dần dần, không ngưng nghỉ. Cứ từng ngày từng ngày một.


Suốt mười tám tháng.
Một hôm, người ta bảo rằng không còn cách gì để cứu bà được nữa và họ đưa bà về nhà bằng xe cấp cứu. Và từ ngày ấy bà bắt đầu từ từ ra đi.
Anh về nhà sau các giờ học ở cả hai khoa mà bà đã tự hào về chúng biết bao, còn bà nằm trên giường, đợi anh và anh phải kể cho bà nghe.


Về tất cả. Về các bài thi, các bài kiểm tra, về cái nhà ăn sinh viên hôi rình và về các bạn nữ sinh viên mà anh thích.
Bà nắm tay anh, hồi hộp nghe anh kể bằng cái bóp tay ấy, anh biết rằng bà đang yếu dần đi.
Ngày nào cũng có một người đến tiêm cho bà, nếu không được tiêm thì bà sẽ ngạt thở. Dạo đầu ông ta chỉ đến ngày một lần. Đến thời gian cuối, có những ngày ông ta phải đến nhà anh đến năm lần.


Cha anh, mặc dù là nhân viên y tế đã qua đào tạo và đã hai mươi năm lái xe cấp cứu, nhưng chưa bao giờ dám tiêm cho bà. Có lần ông đã thử, vì bà bị khó thở mà họ thì không thể gọi điện được cho người tiêm. Thậm dù ông đã tìm được tĩnh mạch yếu ớt dưới những vết thâm tím mà từ mấy tháng nay không thể mất đi. Nhưng khi đã chọc được kim tiêm, ông lại không thể đẩy được thuốc vào mạch. Anh phải làm việc ấy.
Bà nhìn vào mắt anh và cười, mặc dù anh biết rằng bà đang phải chịu đau như thế nào.


Vào một tối tháng mười hai, một tuần trước Giáng sinh, bà khống chờ anh đi học về nữa. Bà ngủ, thở nặng nhọc hơn bình thường. Nhưng anh phải ở bên bà như một khi, cầm tay bà và kể về tất cả những gì xảy ra với anh trong ngày hôm đó. Anh tin rằng bà vẫn nghe thấy anh.


Đêm hôm ấy bà mất.
Anh không khóc. Anh không thể. Phải mấy ngày sau đám tang, khi anh từ nghĩa trang về và nhìn thấy cái khăn quàng, cái bàn chải đánh răng của bà trong phòng tắm và cái đánh dấu trang trong cuốn sách bà đang đọc dở nằm trên bàn ngủ cạnh giường, thì nước mắt mới trào ra.


Trong lễ Giáng sinh, anh cùng bố ra nghĩa trang, trồng một cây Noel cạnh mộ. Họ thắp nến, treo những quả bóng màu. Giống như ở nhà, khi bà còn sống.
Và vào lễ Giáng sinh ấy, hai bố con đứng ngoài nghĩa trang mấy tiếng liền, hút thuốc lá và khóc bên cạnh nấm mộ được phủ những bông hoa tê cóng và những ngọn nến lạnh giá, còn anh thì ngẫm nghĩ, liệu có ai có được một người mẹ như vậy, đã viết thư cho anh hàng ngày trong suốt năm năm.


Hàng ngày.



Sau đó anh nhớ về bố.


Có thể nói từ sau cái chết của mẹ, ông không còn sống nữa. Nghĩa là hàng sáng ông vẫn thức dậy như mọi người, ông dậy và cùng, đúng ra là cùng chết với bà. Trên mộ, ông cho khắc ở phía dưới phiến đá đen một câu dang dở. Và ngày vui sẽ đến . .
Họ ở cùng nhau nên anh nhìn thấy ông cô đơn và nhớ bà nhiều như thế nào. Thỉnh thoảng, khi về nhà vào buổi tối, anh bắt gặp ông ngồi trong căn phòng dày đặc khói thuốc, chai vodka đã cạn để trên mặt bàn phủ đầy ảnh mẹ anh.
Bố thắp nến, xếp ảnh của mẹ ra, xem chúng, nhớ và uống cho đến không biết gì nữa. Đến quên đi thì thôi.
Anh về nhà muộn và đưa ông lên giường, sau đó dùng dao cạo sạch sáp nến rơi trên mặt bàn và xếp lại những tấm ảnh đen trong vào album, anh nhìn chúng và nghĩ, không biết rồi mình có gặp được người phụ nữ đẹp và tốt như bố đã gặp hay không.
Sau đó bố bắt đầu ốm. Có thể thấy là ông phó mặc cho số phận và không hề tự vệ.
Khi anh có học bổng đi New Orleans, họ đưa ông đi viện.
Người anh trai biết rằng tình trạng của bố rất xấu.
Anh quyết định bay về Ba Lan.
Vào một chủ nhật của tháng ba, anh xuống sân bay ở Warszawa, và sau khi đi tàu về đến Wroclaw, anh đi thẳng từ ga vào bệnh viện.
Mang theo cam mà anh mua cho ông, cùng với một cái áo len dầy cho mùa đông, cùng với hai chương của luận văn tiến sĩ và một trăm đôla biếu các bác sĩ trong bệnh viện. Vì họ đã "quan tâm chăm sóc".
Bố đang chờ anh và ông đã sung sướng biết bao. Ông mừng kinh khủng và tự hào vì thằng con trai "sắp là tiến sĩ " từ Mỹ về.
Sáng hôm sau, người anh trai gọi anh dậy và nói rằng bố đã mất đêm qua.
Còn anh thì biết rằng bố đã chờ anh cùng với cái chết ấy.
Bởi từ ngày mẹ mất, bố luôn chờ anh.
Chỉ thỉnh thoảng lắm mới không. Khi ông thắp nến, mang cuốn album ra và uống.
Hai anh em đến bệnh viện. Ông nằm hoàn toàn trần truồng trên bệ xi măng ướt trong nhà xác ảm đạm và hôi hám vì ẩm ướt cạnh bệnh viện cùng với những cái xác khác.
Anh không thể chịu đựng nổi một sự xúc phạm như vậy. Anh cởi áo khoác, đắp lên người ông và tức giận túm lấy cái áo choàng bẩn của tay nhân viên vệ sinh, người đã đưa họ tới đây. Người này, mặt đỏ và toàn hơi rượu từ sáng sớm không hiểu mô tê gì. Anh kéo hắn về phía mình và bảo rằng hắn có mười phút để chuẩn bị đưa xác ông cụ đi. Một giờ sau, sau trận lôi đình với tay phụ trách phân khoa, anh đi trong chiếc xe tang nysa, được trả bằng đôla, là thứ có thể giải quyết được mọi việc ở cái đất nước này, với xác ông đặt trong quan tài, về nhà.


Lần đầu tiên những người sống trong khu tập thể của anh nhìn thấy người ta đưa quan tài cùng với thi thể từ ôtô lên nhà chứ không phải là ngược lại.
Ở bệnh viện người ta bảo là ông bị ung thư dạ dầy đã di căn sang tất cả các bộ phận khác. Không bao giờ anh quên được tay bác sĩ trẻ, rất tươi cười và bình thản nói thêm:
- Nhưng cụ đã may mắn khi lại chết vì nhồi máu cơ tim.
May mắn.
May mắn... Một từ mới đa nghĩa làm sao... - anh nghĩ và ghê tởm nhìn gã bác sĩ ấy.
Sau đó họ đến để mang đồ đạc của bố ở phòng bệnh, nơi mà ông đã mất, vế. Trên giường là chiếc áo len anh mới mua, dưới gối là những trang luận văn của anh đã nhàu, còn trên mặt bàn bọc kim loại là quả cam cắt dở. Anh mở ngăn kéo bàn. Ngoài bao thuốc lá đã bóc, mà ông đã hút hết, kể cả ở đây vài giờ trước khi mất, anh còn thấy vẫn những tấm ảnh mà anh thường xếp lại trên mặt bàn đầy sáp nến ở nhà.
Cho đến lúc đó, mặc dù anh đã muốn từ rất lâu trước đấy, anh mới ngồi xuống giường và khóc như một đứa trẻ.



Và ngày vui đã đến…
Những tấm ảnh trắng đen đã mờ, loang lổ với những vết nhăn ấy, cho đến hôm nay luôn là một cái gì đó nhắc với anh nhiều nhất về cha mẹ. Những lần ra nghĩa trang thăm mộ họ, anh rất hay mang theo. Có lần quên, anh phải đi taxi quay về nhà, lấy ảnh rồi mới ra nghĩa trang.
Natalia... Không, anh không thể nghĩ đến cái chết ấy. Không phải lúc này, không!
Cái chết. Phải chăng lúc này đó là một điềm báo, hay chỉ là một sự ngẫu nhiên vớ vẩn?


Anh không quay lại chỗ ngồi. Anh cần phải tĩnh trí lại. Anh bắt đầu đi dọc máy bay. Ánh sáng mờ mờ, vậy nên không ai có thể nhìn rõ nét mặt anh và hai con mắt đỏ của anh. Được một lúc, vẫn cô tiếp viên ấy đi đến chỗ anh, đưa cho anh valium( [2]) và một cốc nước.
Anh chợt nghĩ ra rằng không có gì để đảm bảo là cô biết KHÔNG CÓ ANH trong chiếc máy bay ấy. Anh cần phải biết chắc điều này.
Mình không thể làm được điều này cho cô... đơn giản là mình không thể - anh kinh hoàng nghĩ.
Ngay lập tức anh quay lại chỗ ngồi và bấm số điện thoại của khách sạn cô ở.


Máy bận.
Anh liên tiếp gửi đi ba e-mail bây giờ là với lời yêu cầu khẩn thiết và đề nghị khách sạn phải ngay lập tức và không chậm trễ báo cho cô biết về việc thay đổi giờ đến của anh.
Anh khởi động chương trình kiểm tra kết nối Internet với máy chủ của khách sạn. Tất cả đều hoạt động tốt, mail của anh không bị trả lại, trang web của khách sạn có thể vào được vậy thì anh nhận định rằng mail của anh nhất định phải đến nơi.
Tuy nhiên điều này không mang đến cho anh một mảy may yên tâm nào.
Anh có thể cho đi tất cả để cái số Paris chết tiệt ấy cuối cùng cũng hết bận!
Anh bắt đầu tìm những khách sạn gần đấy với ý định nhờ họ thông báo cho khách sạn của cô. Thậm chí anh đã gọi được cho một khách sạn, nhưng anh không thể hiểu được. Cô nhân viên lễ tân chỉ nói được tiếng Pháp.
Anh hỏi người ngồi cạnh xem anh ta có nói được tiếng Pháp không, nhưng anh ta không nói được.
Anh bực bội, valium nói chung chẳng có tác dụng gì, nhưng anh cảm thấy hơi thở của mình càng lúc càng ngắn và anh bắt đầu thấy hụt hơi.
Anh đứng dậy và bắt đầu đi dọc máy bay. Như vậy bao giờ cũng tốt hơn.
Một tiếng sau, anh quay lại chỗ và lại tiếp tục gọi điện.


Đã rất muộn. Ở Paris đã sắp tám giờ và anh bắt đầu sợ rằng sẽ quá muộn.
Bỗng anh nhận được tiếng tút dài. Anh áp chặt tai nghe và khi đầu dây kia bên vừa có người nhấc máy, anh đã gào lên bằng tiếng Anh, rằng họ phải nối ngay với phòng cô.
Không có cô. Anh đã bị chậm. Anh đã bị chậm khi bước vào tiểu sử của cô và giờ đây anh lại chậm - Anh cảm thấy mình có lỗi ghê gớm.
Anh dồn hết sức và điềm tĩnh hỏi họ có nhận được mail của anh không và họ có chuyển chúng cho người nhận không. Sau đó anh kể về vụ tai nạn của TWA và về việc lẽ ra anh đã ở trong chuyến bay đó và rằng có thể cô chưa biết điều này.


Cô nữ nhân viên lễ tân đã biết về thảm họa qua báo chí, mặc dầu vậy, khi nghe những điều anh muốn nói, cô lặng đi. Khi bừng tỉnh, cô nói rằng cô vừa mới nhận ca trực và không thể khẳng định cũng như phủ nhận điều gì, vì rằng người trực ca trước đó, là người luôn nhận mail, đã biến ngay trước lúc cô đến và mọi người đang đi tìm anh ta. Cô hứa là nếu tìm được anh ta, thì ngay tức khắc sẽ làm rõ toàn bộ vấn đề. Cô chỉ có thể khẳng định sau khi kiểm tra hộp thư đến, rằng các mail của anh đã được người trực ca trước đó đọc. Cô khuyên anh nên gọi lại sau nửa tiếng nữa.
Khi nói xong, anh nhận thấy hành khách ở mấy dãy ghế trước và sau anh đều nhìn anh rất lạ lùng. Chắc họ đã nghe hết câu chuyện, vì kết nối không được tốt lắm thành thử anh phải nói to. Anh hiểu ra rằng cho đến lúc này, anh là người duy nhất trong khoang biết về vụ tai nạn của TWA.
Cho đến lúc này. . .
Anh đã vi phạm lời hứa với cô tiếp viên, nhưng anh đã không có sự lựa chọn.


Một lát sau thì cả máy bay xì xào, rồi một cô gái, qua trọng âm thì anh đoán là người Mỹ, nói vu vơ rằng cố ta muốn biết người đã tránh được cái chết trong bối cảnh như vậy sẽ cảm thấy như thế nào. Anh trả lời cô ta một cách châm biếm rằng anh không trả lời phỏng vấn, hay có thể cô là người của Times và có mang theo séc. Cô ta hiểu sự châm biếm của anh, nhưng vẫn ngạc nhiên bỏ đi.
Nửa tiếng ấy mà anh tưởng như vĩnh cửu.
Anh ngồi với ống nghe trong tay và nhìn vào màn hình máy tính, trên đó có bản đồ với lộ trình của chuyến bay, vị trí hiện tại của máy bay và thời gian. Họ đã rất gần Paris, mà mỗi centimét dịch chuyển trên bàn đồ lại đẩy anh ra xa thêm sự chắc chắn rằng cô biết.
Nửa tiếng đã trôi qua, anh lại bấm số khách sạn ở Paris. Cô nhân viên lễ tân thanh minh ngay rằng họ chưa tìm thấy người trực ca trước đó. Đơn giản là anh ta biến mất. Cô ta bỗng nhiên nói với anh một điều kỳ diệu:
- Chúng tôi đã cử một lái xe đi bằng xe của khách sạn ra sân bay Roissy. Nếu không bị tắc đường, thì anh ta phải kịp đến sân bay trước ... vâng, anh biết đấy... trước chuyến TWA ấy. Bạn gái của anh chưa lấy lại hộ chiếu ở chỗ lễ tân, cho nên lái xe thậm chí còn có ảnh của chị ấy và sẽ cố tìm chị ấy. Đó là tất cả những gì tôi có thể làm được cho chị ấy...
Anh biết ơn cô ta vô cùng.

Cô đơn trên mạng - Chương 8

ANH: Đã ba giờ, khi cuối cùng thì anh cũng được ở trong phòng mình. Máy bay của anh cất cánh đi New York vào chín giờ sáng.
Mình hy vọng rằng ít nhất cũng có một phi công của chuyến bay đi New York này uống ít hơn mình đêm nay - anh nghĩ lúc đánh răng trong phòng tắm. Ngược lại với phần đông mọi người, anh thích tắm sau khi đã chải răng sạch sẽ.
Anh đứng dưới vòi tắm và nghĩ đến cô. Da thịt cô có hương vị như thế nào nhỉ? Khi cô gọi tên anh, nó sẽ vang lên ra sao? Họ sẽ nói gì với nhau trong những câu đầu tiên ở sân bay? Anh sẽ phải ôm cô như thế nào lúc gặp mặt? Bỗng nhiên qua tiếng nước chảy, anh nghe như có tiếng chuông điện thoại. Anh thả vòi tắm. Đúng là có điện thoại. Anh đẩy cánh cửa kính của ca bin tắm và không lau chùi gì, đi thẳng vào phòng ngủ. Christiane. Cô thư ký của Viện anh ở Munich.
- Jakub, anh đi đâu vào đêm hôm thế? Tôi gọi cho anh đã hai tiếng nay! Anh có thể ghi lại những điều tôi sẽ nói không? Okay, anh có thể. Vậy thì anh hãy nghe thật kỹ này. Hôm nay anh sẽ không bay đi New York nữa. Mà sẽ bay đi Filadelfia. Ở đó anh sẽ đi taxi đến Princeton. Chỉ mất bốn mươi nhăm phút, nếu không bị tắc đường. Ông giáo sư sinh học phân tử sẽ chờ anh Ở Princeton. Anh sẽ nhận vé điện tử cho chuyến bay đi Filadetha ở phòng chỉ dẫn cho hành khách. Số hiệu vé tôi đã fax đến lễ tân khách sạn. Chuyến bay từ New Orleans đi Filadelfia của anh khởi hành vào mười một giờ sáng giờ chỗ anh. Tất cả các chuyến bay tôi đã giải quyết đúng như anh muốn, ở Delta. Anh vui chứ? Sẽ được ngủ thêm hai tiếng nữa cơ mà! Tại Pricenton, anh sẽ cài đặt chương trình cho họ. Nhớ là chỉ demo (*) thôi đấy. Không được cài bất cứ một phiên bản hoàn chỉnh nào. Hợp đồng là như vậy. Demo sẽ kích thích đủ để họ mua phiên bản hoàn chỉnh của chúng ta. Anh sẽ chỉ cài đặt cho họ trong các máy tính của bệnh viện chuyên khoa. Hay nói thật hay vào, như anh vẫn nói ấy. Họ sẽ phải thấy là cái này là cực kỳ cần thiết. Tôi đã đặt phòng ở Hyatt tại Priceton cho anh. Đây là khách sạn ở ngay cạnh bệnh viện. Số đăng ký cũng ở trong fax. Jakub, thậm chí anh đừng có nghĩ đến việc để lại tôi ở Munich này và chuyển đến Priceton. Tôi biết là trong đầu anh vẫn lởn vởn ý đồ chuyển sang Mỹ, nhưng vì tôi, hãy đừng làm điều đó. Đừng để tôi lại đây, thật đấy, một mình với đám người Đức này!
Anh cười. Và mặc dù đó chỉ là câu đùa, nhưng trong đó có biết bao nhiêu là sự thật. Christiane là một phụ nữ Đức cực kỳ không điển hình. Thoải mái, không ngăn nắp, không kỷ luật, nhạy cảm, mãnh liệt và không giấu được tình cảm. Cô luôn chỉ trích anh rằng chính cô đã học được ở anh tính Đức khi anh bảo cô sao mà "bừa bãi" một cách Slavơ đến thế và cô cứ luôn để cho thời gian trôi qua kẽ tay. Anh biết mình là người bạn tốt nhất của cô. Anh khiến cô cảm động bằng đĩa dâu tây vào tháng hai, bằng những bông hoa trong ngày 8 tháng ba mặc dù chẳng có ai ở Đức tổ chức Ngày Phụ nữ, bằng bức e-mail trong ngày sinh của cô, mà nhất là bằng việc khuân cho cô những thùng giấy nặng ra chỗ máy in. Anh, một giáo sư, khuân giấy ra máy in cho cô thư ký. Một số bạn bè làm khoa học cảm thấy tức tối với hành động khoe mẽ của "sự phá vỡ cơ cấu quan hệ một cách thô bạo" này. "Thế đấy. Đó là một tên Ba Lan. Bọn chúng bao giờ cũng phải phá hoại một cái gì đấy và phá vỡ những nguyên tắc nào đấy" - hẳn họ nghĩ vậy. Chỉ có thời gian đầu là Christiane cảm thấy lúng túng. Sau đó cô vui sướng trong cái ngày mà người ta mang giấy đến máy in cho họ. Cô thích thể hiện một cách phô trương "cho những người Đức ấy biết, cần phải thực sự đối xử với phụ nữ như thế nào". Còn anh? Mặc dù hoàn toàn không muốn "phá vỡ các nguyên tắc", nhưng đơn giản là anh không thể làm khác.
Anh chú ý để trong các mối quan hệ vời Christiane không đi quá khuôn khổ của tình bạn. Anh biết là anh có thể đi xa hơn nhiều. Nhưng anh không muốn. Trước hết là vì Christiane đã có gia đình khi anh xuất hiện ở Viện này. Cô hấp dẫn anh. Thời gian đầu, cô là người gần gũi với anh nhất ở đất Đức này. Có rất nhiều khi, với cách sống của anh, với những phản ứng của mình, thậm chí cô đã khiến anh nhớ tới Natalia. Có thể chính vì thế mà anh không muốn vừa qua ranh giới ấy. Anh không muốn phá đi một cái gì đấy và anh không thể xây bất cứ cái gì mới lên chính chỗ đó. Anh coi quãng thời gian ở Đức như một cái gì đó chuyền tiếp. Một "phòng chờ" trên con đường đi đến đích. Đích của anh là Mỹ. Anh cho rằng trong phòng chờ - Christian đã cười vì tính cường điệu của nhận định này - không nên trong bất cứ cây gì. Anh đã có mấy năm đẹp đẽ trong phòng chờ ấy và đôi khi anh có cảm giác là Christiane chờ đợi ở đấy một điều gì đó cùng anh.
Thoạt đầu khi nghe về kế hoạch ở Princeton, anh đã định phản đối. Song nghĩ đến hai tiếng được ngủ thêm ấy anh trả lời:


- Chrissie - cô thích anh gọi tên cô âu yếm như vậy – anh có để em lại một mình với đám người Đức ấy đâu. Bây giờ, khi anh đã dạy em uống vodka như một người Ba Lan chính hiệu thì tiếc lắm. Anh hiểu. Hôm nay anh sẽ bay đi Filadelfia lúc mười một giờ. Em đưa lên máy chủ FTP dữ liệu cho Princeton cho anh nhé. Anh không có trong laptop đâu, vì anh tuyệt nhiên không ngờ tới chuyến đó lịch này. Em sẽ tìm thấy nó trong máy tính trong phòng làm việc của anh. Máy lúc nào cũng bật đấy. Chrissie, khi đã ở trong phòng làm việc của anh rồi, thì tưới hoa hộ anh với nhé. Em không quên chứ? Em sẽ cố để không vào ICQ của anh khi đã mở máy của anh chứ? Bởi đằng nào những gì em thấy ở đấy cũng sẽ bằng tiếng Ba Lan. Và em chớ có học tiếng Ba Lan chỉ vì thế.
Anh cười trong ống nghe. Mặc dù Christiane hứa là "sẽ cố gắng", nhưng anh biết rằng kiểu gì thì những cố gắng ấy cũng chẳng có kết quả gì. Chắc chắn cô sẽ xem tất cả nội dung trên ICQ của anh. Christiane thích biết tất cả về mọi người. Bao giờ cô cũng quan tâm đến anh nhất. Anh là người ở độ tuổi sinh sản tốt nhất, là giáo sư trẻ nhất của viện, anh hôn tay phụ nữ, còn cô thì thậm chí không thể xác định được anh ngủ với những ai hoặc với ai. Mặc dù Christiane khó có thề tin được nhưng từ lâu lắm rồi, anh chưa làm chuyện đó.
Khi anh đứng dậy, trên giương, chỗ anh ngồi nói chuyện với Christiane, có một đám to ướt sẫm. Ừ, anh đã chạy thẳng từ phòng tắm đến điện thoại. Bây giờ thì người anh đã khô. Anh ra phòng tắm để tắt điện. Lúc quay lại, anh thấy trên sàn nhà, gần cửa có một mảnh giấy. Anh cúi xuống nhặt. Fax của Christiane. Anh gọi xuống lễ tân và vặn báo thức thêm hai tiếng nữa.



Đi taxi từ khách sạn ra sân bay, anh đã tự hứa là sẽ không bao giờ uống nữa. Anh vẫn khó chịu khủng khiếp sau trận rượu. Anh đã không kịp cả nhấp một ngụm cà phê vì ngủ quên, radio trong taxi lại thông báo có một cơn bão sắp vào Bắc Carolina. Đến Filadelfia, bao giờ máy bay cũng bay qua Bắc Carolina!
Còn tồi tệ hơn là anh tưởng. Vừa qua New Orleans, sự nhộn nhạo đã bắt đầu. Anh nắm chặt thành ghế, như thể làm thế sẽ đỡ hơn. Mà đấy mới chỉ là bắt đầu. Bay được một giờ, khi họ rơi vào vùng lặng gió sau cơn bão ở Bắc Carolina, anh đã tự hứa thật to rằng sẽ kiêng tuyệt đối. Chỉ cần họ hạ cánh an toàn, anh sẽ không bao giờ đưa rượu lên miệng nữa. Anh nhớ lại những chuyến đi biển của họ ở trường trung cấp. Ruột gan cũng lộn ngược cả lên đến đau đớn. Không bao giờ anh quên được cảnh ánh mặt tái xanh như tàu lá cùng với mấy người khác nữa vắt người qua mạn tàu Ở Vịnh Biscayan, dừng nôn để trong sự đau đớn cùng cực ấy cười ông phụ trách neo tàu đang la hét ầm ĩ cố để át tiếng sóng:
- Anh em thủy thủ có biết cái gì là tốt nhất cho thời tiết như thế này không? Các anh em thủy thủ, mẹ kiếp, không biết! Tốt nhất cho thời tiết như thế này là nước ép anh đào, vì ở hai đầu nó đều có mùi vị như nhau. Các anh em thủy thủ hãy nhớ lấy điều đó. Hơn nữa, nôn mửa không phải là làm tình. Cần phải biết. Thằng thổ tả nào lại đi nôn ngược gió như vậy hả???


Chắc anh phải tái xanh như hồi ở trên tàu lần ấy, vì cô tiếp viên cứ chốc chốc lại đến chỗ anh và hỏi anh có cần gì không. Người ngồi ghế cạnh anh, một lão người Texas khổng lồ không lúc nào rời chiếc mũ cao bồi đội trên đầu đã tận dụng cơ hội đó. Trong khi anh đang chết dở sống dở thì lão hàng xóm ấy, như thể không có chuyện gì xảy ra, cứ mỗi lần cô tiếp viên đến là lại gọi rượu. Thỉnh thoảng lão thử mời anh. Anh từ chối với ánh mắt sợ hãi và ác cảm. Anh không thể tưởng tượng nổi một sự tra tấn ghê gớm hơn cái mùi whisky trong tình huống này.
Sự nhộn nhạo kéo dài cho đến phút cuối, và lúc máy bay hạ cánh cũng thật là khủng khiếp. Những bánh của máy bay va vào đường băng mạnh đến nỗi cả lão ngồi bên vốn dửng dưng với tất cả và đã say khướt cũng phải vừa hỏi vừa lúng búng:
- Chúng ta hạ cánh hay là bị người ta bắn đấy?
Lái xe của Đại học Tổng hợp Princeton do trường cử đi đang đợi anh ngoài cổng. Họ đi chừng một tiếng. Khi đã ở trong phòng mình, anh gọi điện ngay cho giáo sư xin hoãn cuộc gặp ba giờ. Anh đặt báo thức, đăng ký báo thức với lễ tân và đặt báo thức qua TV. Anh để tiếng cỡ to nhất. Anh không còn đủ sức để cởi quần áo nữa.


Anh tỉnh dậy ba lần, nhưng phải đến TV mới lôi được anh ra phòng tắm. Anh có mặt ở phòng của giáo sư trước giờ hẹn mấy phút. Anh biết ông khá rõ từ những cuộc gặp gỡ và hội nghị trước đây. Một ông già lập dị với mái tóc trắng. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Zurich - là điều mà ông nhấn mạnh đầy tự hào và nhắc đến Einstein một cách nồng nàn, bởi Einstein cũng tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Zurich - độ lượng với tất cả trừ việc không đúng giờ, hút thuốc lá và đàn bà làm khoa học. Chính xác theo thứ tự này.


Với anh bao giờ ông cũng nói tiếng Đức, hoàn toàn không đếm xỉa đến việc các cộng sự hay học trò của ông chẳng hiểu gì. Trong mỗi lần gặp gỡ ông đều khẳng định rằng viện của ông không hợp tác "với những nhà siêu sinh học ở Harvard, những kẻ vẫn không chịu biết rằng cá voi là động vật có vú". Sau mỗi lần - rất tiếc là đúng với sự thật - ông lại khẳng định với anh rằng chắc chắn họ không hợp tác với Đại học Tổng hợp Harvard. Tuy nhiên ông không nói thêm rằng đó là mục đích của họ từ mấy năm nay.
Sếp của khoa sinh học phân tử của Harvard, về điều này thì anh biết được trong một buổi dạ tiệc tại một cuộc hội nghị nào đó - là vợ cũ của giáo sư của Princeton. Vì môi trường của các nhà khoa học nói chung là một trong những môi trường lắm chuyện ngồi lê đôi mách nhất, nên anh được nói nhỏ rằng hôn nhân của giáo sư và vợ cũ của ông chỉ tồn tại, chính xác bốn mươi bảy giờ. Từ mười một giờ sáng thứ bảy đến mười giờ sáng thứ hai, vì rằng phải đến giờ này các tòa án ở Massachusetts mới mở cửa. Hình như chính xác bốn mươi bảy tiếng sau hôn lễ, vợ giáo sư, tiến sĩ khoa học về sinh học, tốt nghiệp Đại học Sorbone ở Paris, đã đệ đơn ly hôn. Bản thân anh chưa bao giờ tiếp xúc riêng với giáo sư nhiều hơn một tiếng, nhưng như thế cũng đủ để anh hiểu được vợ cũ của ông.


Việc giới thiệu trong phòng làm việc của giáo sư – đương nhiên là bằng tiếng Đức - kéo dài hơn một tiếng một chút. Khoảng mười bảy giờ họ chở anh đến trung tâm máy tính của bệnh viện thuộc Đại học Tổng hợp Princeton, nơi anh phải cài đặt và chạy thử phiên bản quảng cáo cho chương trình của họ. Sau ba giờ làm việc, khi đã gần xong, anh ra khỏi trung tâm máy tính để đi tìm máy bán coca lon tự động. Nhất định gần đấy phải có. Trong các trường đại học của Mỹ, có thể không có thư viện, nhưng máy bán coca tự động thì phải có. Từ trung tâm máy tính sáng ánh đèn neon, anh bước ra hành lang tối.


- Ôi anh làm tôi giật cả mình! Tôi cứ nghĩ là ma cơ đấy. Anh đi giống hệt Thommy. Anh làm tôi giật thót cả mình. Anh ta cũng hay làm tôi giật mình.
Anh quay đầu về phía có tiếng nói phát ra. Chị tạp vụ da đen hiện ra lờ mờ ở đằng xa trong hành lang tối. Trông chị ta giống như người nô lệ trong tranh của Teodore Davis đang lượm bông trên đồn điền gần New Orleans. Cũng những nếp nhăn sâu ở nửa phân dưới mắt ấy. Cũng những con ngươi mắt trắng, to, bị những lằn máu cắt ngang ấy.


- Tôi không muốn làm chị giật mình. Tôi đang tìm automat bán coca. Thommy là ai vậy chị?
- Thommy cũng hay đi tìm coca. Anh ta làm việc ở đây nhiều năm thế mà chẳng bao giờ nhớ automat ở đâu - chị ta trả lời.


- Hôm nay chắc chắn tôi cũng sẽ không nhớ. Chị dẫn tôi ra chỗ automat và trên đường đi chị sẽ cho tôi biết Thommy là ai chứ?


- Anh không biết Thommy là ai? Thommy làm việc cách đây bốn hành lang. Ai cũng biết anh ta sau cái vụ anh ta lấy trộm não của Einstein. Anh biết ông Einstein, cái ông người Mỹ Do Thái ở Thụy Sĩ ấy chứ?
Lúc này thì anh quan sát chị ta kỹ hơn. Chưa hề có ai gọi Einstein là "người Mỹ Do Thái ở Thụy Sĩ" cả. Anh không thể đoán được tuổi của chị ta. Thỉnh thoảng anh phân vân, có phải những người da đen cũng không thể đoán được tuổi của người da trắng, vì họ thấy ai cũng giống ai. Chị ta nhắc anh nhớ đến Evelyn trong nhà hàng ở New Orleans. Đồ sộ, vuông từ vai đến đất, chắc nịch, với bộ ngực như hai cái gối, che lấp toàn bộ lồng ngực từ xương đòn đến bụng.
- Sao anh ta lại lấy cắp não Einstein? Thommy là ai? - anh tò mò hỏi thêm.
Người phụ nữ da đen đặt cái xô xuống làm bột trào cả ra ngoài và ngồi lên cái ghế dài gần lối vào toilet.


- Thommy là bác sĩ. Nhưng chẳng chữa bệnh cho ai. Cho nên không một ai kính nể anh ta. Đã thế buổi sáng anh ta lại không chào hỏi ai. Liệu sáng ra anh có chào hỏi ai vui vẻ khi mà anh phải mổ xẻ hai cái xác trước bữa sáng và bốn cái sau đấy? Tôi thì tôi kính trọng anh ấy. Cả Marilyn cũng thế. Thommy yêu Marilyn. Vào cái thời ấy, đàn ông và đàn bà vẫn còn yêu nhau lắm. Marilyn là bác sĩ trên tầng ba. Tôi không quét dọn trên ấy. Cố ấy xinh lắm. Tôi có thể hút thuốc được không?


Chị ta lấy cái hộp đựng thuốc sợi ra và bắt đầu quấn thành điếu.


-Tất nhiên rồi, chị cứ hút đi. Mà chị có thể quấn luôn cho tôi một điếu được không? Ở automat bán coca có bia không?


Anh lại quên lời thề trên máy bay. Chị ta cười.


- Bia á? Không có. Không bao giờ có. Ở đây, trong khu vực trường này, mua cocain còn dễ hơn cả mua bia.


- Thommy là ai và Marilyn là ai? - anh hỏi và ngồi xuống ghế cạnh chị ta.


Vì chị ta to đến nỗi ngồi gần kín cả cái ghế dài nên anh phải ngồi sát vào chị. Chị ta đưa cho anh một điếu thuốc cuốn. Họ ngồi hút thuốc trong hành lang tối. Hai đốm sáng. Yên tĩnh, chỉ có giọng nói trầm trầm của chị ta vang kinh khủng trong bóng tối ấy và trong cái hành lang dội âm ấy.
- Đúng ra là Marilyn làm ở khoa nhi. Bọn trẻ yêu cô ấy lắm vì cô ấy lúc nào cũng cười. Chỉ khi nào có một đứa nào chết, mới thấy trong mắt cô ấy có nước mắt. Bao giờ cô ấy cũng khóc trong toilet. Để bọn trẻ không nhìn thấy Thommy nghiên cứu về bệnh học. Anh ấy mổ xẻ tử thi để tìm trong đó cái gì đấy quan trọng. Nhờ những cái mà anh ấy tìm thấy có thể cứu được mạng sống cho những người khác. Mặc dù anh ấy cần thiết như thế, nhưng không ai khâm phục anh ấy Ngoài Marilyn. Có lẽ anh ấy cảm nhận được như thế nào đấy. Chuyện đã lâu lắm rồi, nhưng tôi nhớ ôư2ng chi tiết. Người ta chở Einstein đến vào trước nửa đêm. Ông bị bất tỉnh. Và mất ngay sau nửa đêm. Hôm ấy là thứ hai, ngày mười tám tháng tư năm năm nhăm. Hồi ấy tôi là người thực tập trẻ nhất. Ở đây tôi cứ tưởng như chỉ vừa mới hôm qua. Dạo ấy tôi quét dọn tầng một, tầng trệt và tầng hầm. Tất nhiên là Thommy biết và rất ngưỡng mộ Einstein. Với anh ấy, ông ta là sự thông minh không thể với tới được. Ai ở Princeton cũng biết Einstem. Cho dù đấy chỉ là vì tất cả cái đám nhà báo cứ bám theo Einstein ở khu vực trường này như một bầy sói.


Khi Thommy đến trực thì Einstein đã nằm trên bàn. Đầu tiên Thommy không muốn làm cái việc cắt xén ấy. Anh ta lên chỗ Marilyn để nói cho cô biết, tỏ vẻ rất bực bội. Sau mấy phút thì anh xuôi xuôi và quay xuống tầng hầm. Những gì xảy ra sau đó dưới tầng hầm, tôi biết rất rõ từ Marilyn. Tôi nghĩ rằng Thommy đã làm như vậy là vì Marilyn. Đề cô khâm phục anh ta và tự hào về anh ta. Ai cũng bảo là không thể thế được nhưng tôi biết chứ. Tôi đã nhìn thấy anh ta nhìn Marilyn như thế nào. Thommy đã làm một việc khủng khiếp. Đầu tiên anh chỉ khám nghiệm tử thi bình thường và sau đó bỗng nhiên tình cảm ấy đến. Đây là cơ hội có một, duy nhất, không thể lặp lại trong đời. Anh ta lấy cưa, cưa sọ Einstein và moi não ra. Anh ta dùng dao mổ chia cái não ra thành hai trăm bốn mươi miếng bằng nhau, cho vào hai hộp loại ba lít có ghi chữ Costa Cider rỗi đổ fomanlin vào. Một cái anh ta đậy kín bằng nắp gỗ, còn hộp kia bằng nắp thủy tinh. Anh ta đưa cả hai hộp ra khỏi tầng hầm. Anh ta quyết định sẽ không trao chúng cho bất kỳ ai. Rồi anh ta nhét báo bọc nilon vào hộp sọ rỗng của Einstein và đóng lại sao cho không ai nhận ra. Anh có tưởng tượng được không? Thay vì não là những tờ báo nhàu nát trong sọ Einstein??? Khi Marilyn kể chuyện này cho tôi nghe, tôi không muốn tin. Làm sao mà anh ta có thể làm như vậy được?
Chị ta thở dài rồi im lặng một lúc,


Hình ảnh hộp sọ của Einstein bị nhét đềy báo như cảnh trong một bộ phim kinh dị. Anh đờ người ra vì sợ hãi và vì sự vô lý. Cho tới lúc ấy, Einstein với anh như một tượng đài. Tinh hoa của tri thức. Einstein không có não, với hộp sọ đầy giấy bỗng dưng như không còn quan trọng và bị hạ thấp. Không, đó không phải là phim! Điều ấy thì không một đạo diễn nào có thể nghĩ ra. Trong cái hành lang tối, ở ngay trên tầng hầm, nơi đã diễn ra nghi lễ cắt não Einstein của quỉ satăng ấy, anh cứ cảm thấy thế nào ấy. Anh thấy mừng vì cái ghế lại ngắn thế mà chị da đen lại to thế. Nhờ thế mà anh được ngồi sát vào chị ta.
- Tôi dừng lại ở đoạn nào ấy nhỉ? À, tôi nhớ rồi. Thommy biết về ý nguyện cuối cùng của Einstein, ông muốn sau khi mình chết sẽ thiêu xác và rải tro ở một nơi mà chỉ gia đình ông biết. Einstein không muốn có bất cứ một ngôi mộ nào hết... Anh có biết gì không? Tôi phải cuốn cho mình một điếu nữa. Dạo này tôi hút nhiều quá. Thật không tốt tị nào ở đây, trong cái nước Mỹ này.


Im lặng bao trùm. Chị ta lấy hộp đựng thuốc lá sợi từ cái túi tạp dề sâu thẳm ra và thoáng một cái chị đã nhấp nước bọt để dán điếu thuốc. Trong ánh sáng của ngọn lửa từ chiếc bật lửa, hai con ngươi trắng trên nền khuôn mặt đen như hắc ín của chị có vẻ như to một cách kỳ dị.


Những gì người phụ nữ da đen ấy kể thật bất ngờ. Anh không hề nghi ngờ một chút nào. Rất lâu rồi, hồi còn học đại học, anh đã có một giai đoạn say mê Einstein. Sự thật đúng là ông không có mộ. Điều này rất phù hợp với Einstein. Các vị thần không có mộ mà. Não của Einstein không bị thiêu cùng với phần còn lại của thi thể ông, cũng là sự thật, nhờ thế mà các nhà thần kinh học có thể nghiên cứu nó nhiều lần. Các nghiên cứu giải phẫu thần kinh đã khẳng định sự đặc biệt của nó. Tất cả những điều này anh đã biết từ lâu. Song anh tuyệt nhiên không có khái niệm, rằng phía sau đó lại ẩn chứa một câu chuyện ly kỳ đến vậy. Lần này thì người phụ nữ da đen nói:
- Việc mà Thommy làm không được ai ra lệnh, cũng không một ai cho phép. Anh ta cho rằng mình phải được phép, bởi như anh ta nói, "Einstein thuộc về tất cả mọi người". Thậm chí khi mọi việc đã rõ, anh ta vẫn không muốn trả lại bộ não ấy. Marilyn nói với tôi rằng Thommy làm việc đó vì mọi người chứ không phải vì tiếng tăm. Anh ta tin rằng có cái quan trọng nhất trong con người Einstein là bộ não của ông, thì có thể đến một lúc nào đó sẽ tạo được một Einstein nguyên vẹn. Anh ta là một kẻ gàn dở lập dị như vậy đấy. Ngày ngày mổ tử thi nhưng mặc dầu vậy, anh ta vẫn là một người lãng mạn nhất trong khu nhà này. Cho nên Marilyn mới thích anh ta đến thế. Nhưng điều mà anh ta làm với Einstein thì cô ấy không bao giờ tha thứ cho anh ta. Thommy rất đau khổ vì chuyện này.


Người phụ nữ da đen rít một hơi sâu và không nói nữa. Thommy bí ẩn đã rất có lý. Nhưng hồi ấy, vào năm 1955, cả anh ta, cả bất kỳ người nào khác đều không biết rằng để nhân bản người không cần phải moi nảo của bất cứ ai ra khỏi hộp sọ. Chỉ cần một chút máu, tóc hay da được bảo quản thích hợp là hoàn toàn đủ. Toàn bộ chất liệu gien của con người nắm trong nhân của mỗi tế bào riêng lẻ. Dưới góc độ này, các nơron của não không khác của các tế bào khác, "tầm thường" hơn. Có lẽ đơn giản là Thommy muốn chắc chắn và vì sự chắc chắn anh ta đã bảo vệ trên một kilôgam chất liệu cho nhân bản trong fomanlin. Và chắc anh ta cũng biết rằng trong tất cả các tế bào của Einstein, thì quan trọng nhất là những tế bào não.


- Thommy phải rời khỏi Princeton - người phụ nữ da đen tiếp tục câu chuyện của mình. - Nhưng kể cả thế anh ta vẫn không chịu trả những cái hộp đựng não Einstein trong fomanlin. Nửa năm sau khi anh ta đi, Marilyn lấy chồng và chuyển sang Canada. Tôi không biết rõ mọi chuyện với Thommy như thế nào. Có ai đó nói với tôi là mới gặp anh ta ở Đại học Tổng hợp Kansas.
Đúng lúc ấy một ai đó mở mạnh cửa phía cuối hành lang. Chùm sáng của chiếc đèn pin di chuyển chậm dọc theo tường. Chắc là ngrười bảo vệ. Người phụ nữ da đen đứng dậy rất nhanh và mất hút sau cửa toilet. Một lát sau ánh sáng đèn pin của người bảo vệ chiếu đến cái ghế Jakub đang ngồi. Người bảo vệ đứng đối diện anh và chiếu đèn pin thẳng vào mắt anh.
- Anh có biết là hút thuốc lá ở đây là một sự vi phạm nghiêm trọng không? Tôi có thể phạt anh đến một ngàn đôla - giọng nói phát ra từ phía sau luồng sáng của chiếc đèn pin và người kia cười, nói thêm: - Nhưng tôi sẽ không phạt, vì tôi thừa biết rằng Virginia đã xui anh hút. Chỉ có thuốc sợi của chị ta mới hôi kinh khủng như vậy. Khi nào chị ta ra khỏi toilet, nơi mà chị ta hiện đang trốn, anh hãy bảo chị ta ràng đây là lần cuối cùng đấy nhé, lần sau thì đừng có trách. - Anh ta cười oang oang và đi về phía cầu thang dẫn xuống tầng hầm.


Anh vẫn im lặng, hơi choáng váng vì câu chuyện của Virginia. Còn chị ta vẫn chưa ra khỏi nơi ẩn náu trong toilet. Mãi sau chị ta mới hé cửa hỏi nhỏ:


- Lão ta đi rồi à?


Khi anh bảo đi rồi, chị nhanh nhẹn ra khỏi toilet và túm lấy cái xô của mình.


- Tôi cũng phải đi đây. Mười lăm phút nữa lão ta sẽ quay lại để đóng cửa toàn bộ khu nhà. Mà hôm nay tôi lại quên chìa khóa. Anh biết không? Anh không chỉ đi giống Thommy mà giọng nói cũng giống - chị ta nói và khuất sau chỗ ngoặt hành lang.
Khi chị ta đã đi khỏi rỏi anh mới nhớ ra là chị ta chưa chỉ cho anh chỗ có automat bán coca. Anh gọi. Không thấy chị ta trả lời Anh vào toilet, nhìn thấy một vòi nước uống được bèn nghiêng đầu để cho dòng nước chảy lên mặt. Anh cứ đứng nghiêng người như vậy một lúc. Rồi không lau mặt, anh quay lại trung tâm máy tính. Anh kết thúc cài đặt chương trình, chuẩn bị bản hướng dẫn ngắn các bước khởi động chương trình gửi e-mail thông báo về những việc anh đã làm cho giáo sư và đặt taxi qua mạng. Anh tắt máy tính rỏi ra ngoài hành lang. Đi qua cái ghế dài cạnh lối vào toilet, anh cảm thấy bất an. Anh không thể gạt bỏ khỏi trí nhớ hình ảnh thi thể của Einstein với hộp sọ mở chứa đầy báo. Anh chạy đến cửa ra. Taxi đang đợi.
- Anh cứ đưa tôi đến một chỗ nào đó có thể uống bia được - anh bảo người lái taxi.


Quãng gần nửa đêm anh mới về đến khách sạn. Đêm ấy anh mơ thấy Thommy, Virginia, Marilyn bí ẩn và thuyết tương đối. Hôm sau ăn sáng xong, anh đi bằng chiếc Limousine của khách sạn ra ga, khi đi qua khu vực trường, anh nhớ lại sự kiện tối qua và quyết định sẽ tồn hiểu tất cả mọi điều có thể về con người đã cứu bộ não của Einstein khỏi bị thiêu. Anh sẽ bắt đầu ngay hôm nay, ở New York, nơi anh sẽ đến sau một tiếng nữa. Chuyến tàu của anh từ Penn Station đến Manhattanie có lẽ mất đúng chừng ấy.
Hơn nữa, anh không thể chờ thêm được nữa, phải kể cho cô nghe câu chuyện về bộ não của Einstein này sớm nhất. Kể từ ngày biết cô, anh nhận thấy là những sự kiện, cảm xúc và suy nghĩ chỉ có ý nghĩa khi anh chia sẻ thông tin về chúng với chính cô. Với Natalia cũng y như vậy.
Anh không viết cho cô về chuyện này. Anh sẽ kể. Chính thế. Anh sẽ ngồi trước mặt cô, nhìn vào mắt cô và kể. Chỉ còn một đêm và một ngày nữa. Sẽ qua nhanh thôi mà. Ngoài ra ở New York thời gian trôi nhanh hơn. Đây đương nhiên không phải là sự thật tuyệt đối, mà chỉ là tương đối. Rất tương đối và Einstein. Anh biết điều này từ thời gian của New Orleans, cũng lười biếng và lề mề hệt như của Texas. Khi ở New York bản tin đã sắp đến phần dự báo thời tiết, thì ở Texas mục quảng cáo đầu tiên sau lời chào của phát thanh viên còn chưa kịp kết thúc.
Đường chân trời của Manhattan hiện ra mờ mờ phía xa khi tàu của anh đi vào đường hầm dưới Hudson River. Chiều tối mai anh sẽ bay đi Paris, để gặp cô. N-G-À-Y M-A-I – anh đánh vần chầm chậm từ này trong ý nghĩ và nhâm nhi nó và sung sướng như một đứa trẻ.
CÔ : Jakub, đã có lần nào em nói với anh rằng em rất thích nghĩ về anh chưa? Chắc là rồi, nhưng em cũng thích nghĩ là em chưa nói. Hôm nay, em đã nghĩ về anh rất nhiều lần. Em nhất định phải kể với anh một điều gì đấy. Có lẽ Asia sẽ giết em mất, vì em bảo nó là em chỉ về phòng để sửa lại trang điểm, nhưng thực ra là em chạy đến quán Internet Cafe ở ga tàu điện ngầm này để viết cho anh. Asia, kể từ ngày bọn em quen nhau, đã giết em không biết bao nhiêu lần rồi, cho nên chắc chắn em sẽ có cách qua được.
Anh mê những chuyện như thế này, vì anh thích sự ngạc nhiên. Và xúc động. Hôm nay em rất ngạc nhiên. Cả xúc động nữa. Thật không thể tin được. Nhưng ngay từ đầu.
Anh chàng sinh viên xinh xắn ấy của Alicja (đây là em nói thêm, Alicja như thường lệ, cho rằng nó rất và "dứt khoát", cho dù điều này có ý nghĩa như thế nào cũng được, phải yêu sinh viên) có lần đã làm việc trong dịp nghỉ hè cho một phụ nữ Đức góa chồng, một nhà công nghiệp người Pháp đã đưa chị ta từ Đức sang và nhốt sau những song sắt bằng vàng của một ngôi nhà khổng lồ ở phần tây-nam của Paris. Anh nghĩ sao, một sinh viên xinh xắn từ Ba Lan sang có thể làm gì cho một phụ nữ góa chồng đã trên dưới bốn mươi tuổi, nhạy cảm, có ba đầu bếp, một lô một lốc tạp vụ, hai thợ làm vườn, lái xe và bác sĩ thú y "thường trực"? Alicja khi đã yêu thì không bao giờ đưa ra những câu hỏi vô nghĩa như vậy.
Chị góa mời chàng sinh viên, chàng sinh viên mời Alicja (bởi cậu ta có thể làm gì được khi Alicja không chịu rời cậu ta lấy nửa bước), còn Alicja thì mời tụi em. Với chị góa thì thế nào cũng được, vì điều chị ta muốn nhất là gặp lại chàng sinh viên của mình sau bao nhiêu năm.
Chị góa gọi hai xe Limousine đến khách sạn, vì chì ta tưởng rằng chàng sinh viên có đến cả tá bạn bè chứ không phải chỉ có ba cô bạn gái. Mặc dù chàng sinh viên đọc cho Alicja nghe thơ bằng tiếng Pháp, song tiếng Pháp của cậu ta hoàn toàn không ghê gớm gì. Chí ít thì cũng là nói. Ngôi nhà, nơi mà chị góa đang ngụ cư - bởi chính chị ta nói rằng chị ở Mauritius, còn ở Paris, chị chỉ ngụ cư - rất giống với Belweder, chỉ có điều to hơn. Chị góa là một phụ nữ tóc nâu với đôi mắt buồn, chúng có, cơ bản vì phải trải qua nhiều cuộc phẫu thuật, hình dạng không xác định. Chị góa mắc hai thứ bệnh, trong đó bệnh thứ hai đơn giản là dễ xúc động. Bệnh thứ nhất là cảm giác đến bệnh hoạn nhất thiết phải "chung sống với thế giới". Tự chị ta nói, nhưng phải sau chai vang thứ ba, rằng đó là một kiểu thôi thúc và mang ý nghĩa tinh thần. Trong mỗi phòng của chị (kề cả ở trại ngựa) đều có tivi. Chị cho rằng trên thế giới xảy ra biết bao nhiêu là vấn đề quan trọng và chị cần phải được thông tin về chúng. Do đó mà chị ta dậy từ năm giờ sáng để xem bản tin trên tất cả các kênh có thể và bằng tất cả các thứ tiếng có thể. Lúc tụi em đến, chị ta cũng đang xem một bản tin nào đấy và mãi ba mươi phút sau tụi em mới vinh hạnh được gặp chị ta. Đơn giản là chị góa lo lắng về thế giới và chị muốn biết chính xác nguyên nhân của những nỗi lo ấy.
Ngoài ra chị còn cho rằng, trên thế giới, loài vật chịu đau đớn nhiều nhất. Vì vậy mà chị có mấy con chó, mấy con mèo, hơn một chục con chim hoàng yến, mấy con chuột đồng và chỉ có một con lợn đen giống Việt Nam. Con lợn quả thực rất đen, to đùng như một tay đấm bốc có tiếng sống ở Mỹ, chỉ có điều đẹp hơn. Khi mọi người ngồi trong khu vườn mênh mông, con lợn chạy quanh như phát rồ, thỉnh thoảng lại chạy đến cho chị góa, dụi mõm vào chị, với làn môi hé mở, chị hôn vào cái mõm ấy rất tình cảm. Một hình ảnh không thể quên được. Con lợn vừa rít vừa chạy như điên, dụi mõm vào những đám cỏ được chăm chút cẩn thận, giẫm nát những bồn hoa hồng tuyệt đẹp, chạy đến chỗ chị góa như một đứa trẻ chạy đến chỗ mẹ nó để hưởng phần tình cảm và âu yếm của mình.
Con lợn đặc biệt quen với chàng sinh viên xinh xắn và cũng chạm cái mồm ướt của mình vào chàng. Alicja thì sợ hãi và không mấy thiện cảm nhìn những tình cảm ấy của con lợn.
Còn Asia lại thích thú vuốt ve con lợn chạy qua chạy lại giữa một người, câu chuyện của chị góa về loài vật bị "con người bắt chước" thì nó nghe như thể nghe dự báo về sự xuất hiện của một thế giới mới, tốt đẹp hơn, chủ yếu là dành cho loài vật. Trong mắt nó, em nhìn thấy, nếu có thề, thì nó đã ôm lấy chị góa.
Sau mấy lượt chạy như điên, con lợn biến mất vào trong nhà và không nhìn thấy nó thêm nữa. Việc ấy có vẻ khiến chị góa không yên tâm, những chị vẫn không rời khỏi chỗ.
Chị góa tỏ ra là một phụ nữ đặc biệt. Tất cả những gì tụi em nói, chị đều coi như những tin tức của dịch vụ chỉ dẫn và chị phản ứng bằng sự tức giận, hay nụ cười, hay sự cảm thông thực sự. Mọi người uống hết mấy chai bordeaux mà người đầu bếp mang ra, anh này bị giục giã đều đặn qua điện thoại để trên bàn ngoài vườn. Khi mọi người rời bàn, em ở trong tâm trạng hết sức hưng phấn. Đó là tại bordeaux Pháp, nó tác động đến em như một chất kích dục (anh hãy liên tưởng như thế nào thì tùy), và bởi vì rằng ngày mai anh sẽ bay từ New York đến Paris.
Khi ngoài vườn đã khá lạnh, mọi người chuyển vào trong nhà chị góa. Alicja quan sát chàng sinh viên giúp chị góa đứng dậy khỏi ghế và tựa vào vai cậu ta, sát vào người cậu ta, ôm ngang lưng cậu ta để đi vào nhà như thế nào với vẻ không yên và tức tối.
Sau khi vào phòng khách rộng mênh mông, mọi người nhìn thấy một cảnh tượng không thể tin nổi. Con lợn nằm duỗi người trên chiếc đi-văng trắng (làm từ da lợn, chắc thế) đặt cạnh tường được phủ gần kín bằng một bức tranh thủy mặc xám-đen với kích cỡ không lồ. Những mảnh báo đôi chỗ bị ngâm trong những vũng nước gì đó hôi mùi amôniắc phủ lên nền đá của phòng khách. Đi trên nền nhà, mọi người giẫm nát các hạt nâu-đen vương vãi rung tung. Bên được đi văng bằng da trắng có một chiếc rỗng nhỏ, cửa mở, xung quanh đặc biệt có rất nhiều hạt. Đó chắc phải là cái lồng chuột mà chi góa đã từng kể. Nó hoàn toàn méo mó và không có con chuột nào bên trong. Không để ý gì đến tất cả cái đám lộn xộn ấy trong phòng khách, chị góa đến chỗ điện thoại và với giọng rất điềm đạm, đặt một xe Limousine để đưa tụi em về khách sạn ở Paris. Tụi em đứng ở đó như trời trồng và nhìn con lợn đang nằm trên đi-văng. Nó thở khò khè và co giật, từ mõm nó một thứ nước vàng nhỏ giọt, và có thể nhìn thấy rất rõ, chảy thành dòng theo đi-văng bằng da trắng xuống nền đá. Chị góa chợt nhận ra chuyện gì đang xảy ra. Chị hét lên, bỏ ống nghe và lao ra để cứu con lợn. Em lùi lại s át tường. Anh chàng sinh viên chạy ra ngoài, còn Asia cùng với chị góa chạy ra đi-văng.
Jakub, nếu không nhìn thấy chuyện này, thì em không bao giờ tin. Nhưng em đế nhìn thấy đúng như Alicja, mà trong suốt quá trình m ọi việc diễn ra, đã cấu vào tay em và run như cầy sấy. Chị góa chạy đến đi-văng và làm hô hấp nhân tạo cho con lợn bằng phương pháp miệng-mõm. Chị ta xoa bóp và ấn vào vùng tim của nó, dùng sức để cậy mõm nó ra rồi bằng miệng mình bơm không khí vào phổi nó. Con lợn vẫn thở khò khè. Một lát sau nó phun ra một mảng lông mâu nâu lẫn với một mớ bao vụn đỏ những máu. Alicja chạy ra ngoài. Asia quay lưng lại đi-văng, chỗ con lợn đang nằm. Chị góa vẫn không ngừng dùng miệng bơm không khí qua mồm con lợn. Em không dám nhìn cành đó, phải nhấm mắt lại. Một lúc sau, con lợn hết khò khè. Nó trượt khỏi đi văng và chạy ra ngoài. Chi góa mệt lả, ngồi bệt trên nền đá, đầu tựa vào đi-văng với đám n ôn vàng vàng và một góc con chuột đỏ máu vừa được con lợn khạc ra. Asia đi đến chỗ em. Nó cầm tay em và hai đứa không nói gì bỏ ra ngoài. Chiếc Limousine đang đợi Alicja ngồi cạnh người lái xe, anh chàng sinh viên ở ghế sau. Em với Asia lặng lẽ chui vào. Taxi lăn bánh. Suốt đường đi, không một ai lên tiếng. Khi chiếc Limousine dừng lại trước khách sạn, tất cả xuống xe trong im lặng. Alicja cũng vậy. Thậm chí không cả chia tay với anh chàng sinh viên của mình. Lần đầu tiên kể từ hôm đến Paris, nó ngủ cùng với Asia.
Khi đã ở một mình trong phòng, em mở một chai vang, ngồi bên cửa sổ, nhìn ra mảnh vườn trước phòng và thật sự ngạc nhiên vì chị góa ấy. Vì sự trung thành với niềm tin của mình. Vì có vẻ như em đã không thể tin rằng chị ấy thực sự có thể yêu con lợn giống Việt Nam ấy. Nhất là sau khi nó đã nhai con chuột của chị ta.
Sau một lát, rượu vang mới đã làm mạnh thêm bordeaux của sáu tiếng trước đó. Em rời xa Paris để trở về với hàng trăm vấn đề. Em nghĩ về anh. Em nhớ anh.
Đã có lần nào đó anh hỏi, "nhớ anh" có nghĩa là gì.
Nói một cách gần đúng, thì đó là một kiểu lai giữa suy nghĩ, mong ước, âm nhạc, lòng biết ơn vì em cảm nhận được điều đó, niềm vui vì có anh hiện hữu và làn sóng ấm áp nơi tim.


Em sẽ chạm vào anh. Chỉ mai thôi. Em sẽ chạm...

Cô đơn trên mạng - Chương 7 (B)

Và không đợi anh trả lời, cô nói thêm, cười khúc khích:


- Em dám chắc là nếu các anh luyện tập được, thì các anh sẽ tự đưa nó lên miệng hàng ngày, đúng không?


Anh cười phá lên sau sự lưu ý cuối cùng ấy, quay mặt cô về phía mình và trước khi hôn, anh thầm thì:


- Từ hôm nay anh sẽ hút ít đi và sẽ ăn chủ yếu là dứa.


Kể từ cái đêm đáng nhớ đó, anh từ phòng thí nghiệm về phòng Jennifer hầu như hàng ngày. Một phần các phòng sinh viên, giống như phòng anh được gọi là phòng khách, là một căn hộ đơn có bếp và buồng tắm riêng.
"Nhỏ" là theo Jennifer. Phòng khách của anh còn lớn hơn toàn bộ căn hộ của bố mẹ anh ở Ba Lan nhiều.
Tất nhiên, những phòng như phòng của Jeumfer đang ở đắt hơn hẳn những phòng bình thường khác. Tuy nhiên việc này đối với cô không có ý nghĩa gì hết. Mặc dù chưa bao giờ họ nói chuyện về đề tài này, nhưng Jennifer có tất cả, trừ những khó khăn về tài chính. Một lần nhân thể anh gợi chuyện để Zbyszek nói về đề tài tài chính của Jennifer. Anh ta chỉ biết rằng bố Jennifer là chủ của mạng lưới phà nối đảo Wight, nằm gần Kornwalia trên kênh La Manche với Ports-mouth và Southampton. Có lần anh đủ can đảm để gợi chuyện về bố mẹ cô với cả cô. Jennifer nói giọng buồn buồn:


- Bố em là người Mỹ, xuất thân từ một vùng của Conneticut, nơi mà những người đàn ông ra đồng làm việc cũng đeo cravát, còn mẹ em là người Anh, xuất thân từ một gia tộc mà các bà mẹ khuyên các cô con gái của mình phải nhắm mắt và nghĩ về Anh quốc trong đêm tân hôn. Việc họ cho em, nếu đó thực sự là họ, cuộc sống, gần như là một phép màu. Em chưa từng bao giờ nhìn thấy bố em hôn hay động tới mẹ em. Bố cần phải giầu có, còn mẹ cần phải kiêu hãnh. Em có mặt trên cuộc đời này có vẻ như là do họ cần phải có người thừa kế. Đó không phải là một lý do lãng mạn, nhưng cũng có mặt tốt của nó. Nếu em đã không thể có được tình yêu của họ, thì ít ra cũng được thoải mái.


Cô kết thúc dứt khoát:


- Anh đừng bao giờ hỏi thêm về họ nữa. Nhớ chưa.


Cô chưa bao giờ nói chuyện với anh về tiền bạc. Đơn giản là cô có. Riêng bộ hi-fi đã đắt hơn cả chiếc Suzuki nhỏ mui trần màu bạc của cô, cái xe mà cô vẫn đỗ ở trước nhà sinh viên và thỉnh thoảng cô vẫn dùng nó đưa anh đi chơi. Chẳng có gì lạ: những sợi cáp dài mấy mét của các thùng loa của bộ dàn của cô được làm bằng hợp kim vàng. Mà vàng là chính.


Phòng của Jennifer có thể mò mẫm cũng tìm thấy. Anh rất hay phân vân, làm thế nào mà hàng xóm của cô có thể chịu nổi. Từ phòng cô, lúc nào cũng phát ra tiếng nhạc thật to. Thậm chí nếu đó có là Bach, Mozart, Chaikovsky hay Brahms thì anh cũng không thể chịu đựng được lâu. Họ là những người độ lượng thế nào đấy. Có thể phải là người Anh để có thể làm được vậy. Như đã thấy, sống trong những phòng bên cạnh, toàn là người Anh.


Thỉnh thoảng anh đến phòng cô từ sớm, họ cùng ăn tối và trò chuyện. Tiếng Anh của anh không ngừng tiến bộ. Cả hiểu biết về nhạc cổ điển cũng vậy. Sau mấy tuần anh đã khá đến mức có thể phân biệt được nhạc của Bach với nhạc của Beethoven, thậm chí cả Opera của Rossini với Opera của Prokofiev.


Ngoài ra, thế giới của nhạc cổ điển và các nhạc sĩ được Jennifer khám phá trước mắt anh, giống như một cuốn tiểu thuyết đầy tính dữ dội về tất cả những tội lỗi của thế giới này. Trước đây anh tưởng rằng thực sự phạm tội trong âm nhạc chỉ có thể là Mick Jagger hoặc tay trống Keith Richard, người lúc nào cũng đờ đẫn vì tất cả những gì có thể mút, uống hoặc chích. Không còn gì nhầm lẫn hơn! Đây hoàn toàn không phải bắt đầu từ rock and roll. Những tội lỗi trong âm nhạc còn xa xưa hơn cả những vở opera của Monteverdi, mà ông này đã soạn nhạc từ gần 300 năm trước đây. Tội lỗi chủ yếu là rượu chè và ngoại tình. Từ muôn đời nay. Mà nếu không phải từ muôn đời nay thì ít nhất cũng từ thời mà opera được chuyển từ lâu đài đến nhà hát và bắt đầu được bán vé và cần phải làm cho đám thường dân quan tâm đến một cái gì đó. Phần lớn những nhạc sĩ lớn của những thời kỳ ấy không chỉ bị nghiện âm nhạc, mà còn nghiện rượu, nghiện sự cô đơn vô tận và nghiện những người đàn bà của mình.
Ví dụ, Beethoven đã chết vì xơ gan. Ông uống bởi ông quá nhạy cảm, lúc nào cũng túng quẫn và thêm vào đó, ông còn bị điếc. Năm 1818 - cũng vào năm này, cậu bé Chopin tám tuổi đã chơi trước công chúng bản concerto đầu tiên của mình - ông bị điếc hoàn toàn, mặc dầu vậy ông vẫn tiếp tục sáng tác. Khi biết anh bị xơ gan, ông đã thôi không uống cô-nhắc và chuyển sang rượu vang sông Ranh vì cho rằng loại này có tính chữa bệnh đặc biệt. Tuy nhiên, ở Beethoveen, đây có lẽ mang tính di truyền. Bởi chromosom 21 ứng với chứng nghiện rượu là chromosom nhỏ nhất, có tính di truyền rất cao. Ông là đứa con thứ tám của mẹ ông, trong số đó có ba bị điếc, hai bị mù và một bị mắc bệnh tâm thần. Khi mang thai lần thứ tám, bà bị bệnh giang mai và nghiện rượu. Bà uống vì buồn, thì cũng như Ludvig thôi. Jennifer kể với anh với tình cảm như kề về tật nghiện rượu của chính cha mình. Thật may mắn vì hồi đó chưa có những phụ nữ đòi bình quyền, đấu tranh cho quyền được nạo thai của phụ nữ! Bởi chắc chắn họ sẽ khuyên mẹ của Beethoven nạo thai và nhân loại sẽ không có Bản giao hưởng số VII!!!
- Anh có hình dung được không, thế giới không có Bản giao hưởng số VII??? - cô hỏi đầy hưng phấn.
Anh hình dung ra rất rõ ấy chứ. Thế giới không có bản thứ nhất, cả từ bản thứ hai đến thứ sáu chứ chưa nói gì đến bản thứ bảy, anh cũng hình dung ra chẳng khó khăn gì. Nhưng anh không muốn chọc tức cô. Còn cô lại tiếp tục:


- Mà bản giao hưởng này cũng vĩ đại và quan trọng đối với nhân loại như Kim tự tháp, Vạn lý trường thành, bộ não của Einstein, chiếc bóng bán dẫn đầu tiên hay việc phát hiện ra ADN của anh. Nó thiên tài đến mức như một bản ký hiệu số bên cạnh ảnh của con người và hình vẽ sơ đồ hệ mặt trời nó đã bay vào Vũ trụ bằng một trong những đầu dò của Mỹ, và sau vài năm nữa sẽ tách khỏi hệ thiên hà của chúng ta và rất có thể sẽ được những nền văn minh khác nhận được. Còn trước hết nó đơn giản là đẹp: Anh có biết là chỉ vì một bản giao hưởng ấy mà người ta đã xây dựng ở Paris và Viên những phòng hòa nhạc lớn hơn?!


Jennifer còn biết nhiều chuyện hay ho khác của cái thế giới hư hỏng của những nhạc sĩ hàng đầu của thế kỷ trước. Ví dụ như về Brahms, bên cạnh Beethoven, là người hay có tên trong bảng xếp hạng của thời kỳ đó nhất.


Brahms, cũng như Beethoven, uống rất nhiều. Tuy nhiên ông không bao giờ uống cô-nhắc, bao giờ ông chỉ uống vang. Nhưng thay vì thế, ông chuyên đi ngoại tình. Một trong số người tình của ông là vợ của người bạn thân của ông, một mạnh thường quân của âm nhạc. Chuyện ngoại tình của ông đi vào lịch sử chủ yếu là do việc ông ngủ với Clara Vieck, vợ của Robert Schumann, một nhà soạn nhạc vĩ đại khác của thế kỷ XIX. Thế giới không bao giờ tha thứ cho ông về chuyện đó. Không phải vì ông đã ngủ với Clara. Điều này thậm chí còn tuyệt hợp với nghệ sĩ. Mà chủ yếu là vì bối cảnh đã dẫn tới chuyện đó. Vào năm 1854, Schumann bị đưa vào bệnh viện tâm thần sau một lần tự sát không thành, Brahms chuyển hẳn đến Dusseldorf, nơi có ngôi nhà của ông bà Schumann, để "an ủi" người vợ của kẻ tự sát không thành, Clara xinh đẹp. Từ kẻ an ủi ông đã trở thành người tình và thậm chí đã sống với cô ta hai năm. Và thời gian đó ông đã sáng tác được tác phẩm thực sự thành công của mình, Concerto số 1 cung rê thứ dành cho piano. Bản concerto này đã nằm trong bảng xếp hạng của các phòng hòa nhạc châu Âu suốt một năm dài. Khi Schumann qua đời trong trại tâm thần năm 1856, Brahms đã bỏ Clara và đi Dusseldorf. Ngay sau đấy ông bắt đầu uống. Thỉnh thoảng ông uống với cả Wagner, một nhạc sĩ nổi tiếng khác, người mà ông căm thù, người luôn ghen với ông không phải vì vinh quang, mà là sự thành công đối với phụ nữ.


Thực ra thì nói chung, thế giới của các nhạc sĩ kiểu Brahms và Liszt là thế giới của lòng hận thù, ghen ghét, trống rỗng và đủ các trò dan díu. Chỉ một người trong số họ được tất cả kính trọng và ngưỡng mộ vô điều kiện. Người mà Mozart và Beethoven đã chơi những tác phẩm của ông. Chopin đã học nhạc qua ông.
Nhạc sĩ này luôn luôn là en vogue (mốt) - trước đây cũng như bây giờ. Đó là Bach. Tuyệt đối evergreen. Nếu thời đó có MTV, thì chắc chắn họ sẽ mở những chủ của Bach như giờ đây mở nhạc của Pink Floyd hoặc Genesis.
- Eljot, anh về nguyên tắc, phải yêu ông ta hơn tất cả những người khác - Jennifer nói giọng xúc động. - âm nhạc của ông ấy là sự chính xác của toán học. Giống như những chương trình của anh ấy. Mặc dầu vậy, cả những người theo chủ nghĩa duy lý lạnh lùng và những kẻ lãng mạn tinh tế đều thích ông ta. Ngoài ra, không có ai ghét ông ta như những tay chơi nhạc jazz. ở Bach, có drive and swing. Thậm chí trong Bản ca ngợi Thánh GiăngBài kinh nguyện h-moll cũng có swing. Ngoài ra, Bach cũng như Chúa Trời. Người ta không thể yêu hay ghét Bach. Người ta chỉ có thể tin hoặc không tin Bach mà thôi. Hẳn Bach đã được lập trình trong thời điềm khởi đầu của vũ trụ. Có thể chơi Bach trên bất cứ một loại nhạc cụ nào và bao giờ cũng vẫn vang lên như Bach. Thậm chí trên ghita điện hay trên đàn organ điện tử.
Anh biết được tất cả những điều đó trong bữa tối ở chỗ Jennifer. Cô mở chai vang của anh mang đến, ngâm nga lời những vở nhạc kịch hoặc kể những câu chuyện lý thú về thế giới âm nhạc, cô đặt đĩa vào mâm của cái máy quay đĩa, ngồi lên đùi anh trong chiếc sô pha thoải mái và họ nghe nhạc trong im lặng. Thỉnh thoảng anh hút thuốc, xì-gà mà cô mua trong một cửa hàng đặc biệt ở Dublin. Thỉnh thoảng họ cùng hút. Iennifer thích xì-gà. Cô càng thích hơn khi nhận thấy hình ảnh điếu xi- gà trong miệng cô tác động đến anh như thế nào, nhất là sau khi đã uống vài ly vang.
Mọi cái với họ thật dễ chịu. Nếu giờ đây phải gọi tên cái giai đoạn cùng với Jennifer ở Dublin ấy, thì anh sẽ nói rằng họ hạnh phúc như một cặp uyên ương ngay sau ngày cưới. Song họ đã không bao giờ được gọi là một cặp và họ cũng chưa bao giờ nói về tương lai của mình. Đơn giản là họ cùng nhau tiêu thời gian. Anh không yêu cô: Chỉ rất thích cô. Và rất đòi hỏi. Có thể vì vậy mà họ đã cùng nhau tốt đến vậy.
Hôn nhân không nhất thiết phải được thiết lập trong trạng thái bệnh tật, là trạng thái được gọi là yêu này. Điều này đúng hơn phải bị cấm. Nếu không cả năm, thì ít nhất cũng từ tháng ba đến tháng năm, khi trạng thái này vì lý do nhiễu loạn của cơ chế tạo hoóc môn, trở nên phổ biến và những biểu hiện đặc biệt mãnh liệt. Trước hết cần phải loại bỏ thói quen, giải độc nghiêm chỉnh và sau đấy mới quay lại với ý nghĩ về hôn nhân. Trong trạng thái khi mà người ta yêu nhau, dopamina tràn qua các kênh suy nghĩ có lý trí và nhấn chìm não. Đặc biệt là bán cầu trái. Điều này đã được chứng minh đầu tiên là trên chuột sau đó trên tinh tinh và cuối cùng là trên người. Nếu trạng thái yêu kẻo quá dài, con người sẽ chết vì kiệt sức, rối loạn nhịp tim hoặc tán đập nhanh, vì đói hoặc hội chứng mất ngủ. Những người dù sao cũng không bị chết, thì trong trường hợp khá nhất cũng phải vào bệnh viện tâm thần.
Với Jenmfer, anh hoàn toàn kiểm soát được dopamina của mình, mặc dầu vậy, họ vẫn có bao nhiêu trải nghiệm không thể nào quên. Mối quan hệ của họ, cái mà sau này anh không thể có lại được với bất cứ người phụ nữ nào khác, là minh chứng cho sự chiến thắng của những ý nghĩ trong sáng thuần khiết tinh thần trước ý nghĩ được thể hiện trong hóa học của những hoóc- môn hoặc nơron vận chuyển nào đó.
Bởi âm nhạc là một đam mê lớn đến như vậy của Jennifer, nên từ ý thức về tình bạn, anh buộc phải, ít nhất cũng là giai đoạn đầu, củng nghe và thắp lên trong tình dù chỉ là chút ít lòng nhiệt tình. Suốt hai tuần đầu tiên là như vậy. Sau đó tự anh bắt đầu nhận ra rằng, sau cà ngày phân tích các chương trình của các bản sao gien, làm việc với các nucleosom và histonam thì những đĩa nhạc của Bizet, Ravel hay Wagner được thu thật tốt sẽ khiến anh dịu đi và thư giãn. Hoàn toàn ngược lại với Jennifer. Cô trải qua mỗi concerto như chính đám cưới của mình. Xúc động và bao giờ cũng hết sức hưng phấn. Đó quả là một chòm sao tuyệt vời cho cả hai. Khi đó họ lên giường, hoặc yêu nhau trên đi-văng hoặc trên sàn nhà. Với sự hưng phấn của cô và sự yên ả nơi anh, không có gì xảy ra quá sớm. Nhờ có âm nhạc mà họ đạt được đỉnh điểm gần như là đồng thời.
Ngoài ra, anh còn nhận thấy, tốt nhất đối với họ là sau khi nghe opera của Puccini. Do đó mà Turando, Tosca, Madame Buttterfly với anh không chỉ là tên của các vở opera, mà còn là bản ghi chép câu chuyện tình thầm kín của đời anh. Có hai vở opera của Puccini đặc biệt ghi sâu trong trí nhớ anh. Với Jennifer, Tosca là một sự trình diễn có thể được gọi là nỗi kinh hoàng về chính trị hoặc như cô tự gọi, "mối tương quan giữa opera với những phòng tra tấn". Cô cho rằng nếu nó được sáng tác vào giai đoạn hiện tại, thì chắc chắn phải ở Hollywood và chắc chắn sẽ được gọi như bộ phim với Schwarzenegger - Hãy chết từ từ. Jennifer có mấy đĩa Tosca, mỗi đĩa với một nữ diễn viên chính khác. Mặc dù anh chỉ biết mỗi tên Mang Callas, cô vẫn giải thích cho anh, rằng cô Renata Tebaldi nào đó hát mới thực sự tuyệt trần. Anh thì chẳng nhìn thấy sự khác nhau nào, nhưng Jennifer vô cùng ngưỡng mộ Tebaldi.
- Cô ấy hát như thể đang có mặt ở đây, trong phòng này, và nhìn vào mắt chúng ta. Anh có cảm thấy thế không? – cô hỏi.
Anh không cảm thấy. Với lại, anh không muốn cảm thấy có bất cứ ai khác trong phòng này ngoài Jennifer. Cavaradossi đã thực sự bị đội thi hành án bắn, Jennifer bắt đầu run. Một lát sau, khi Tosca thất vọng ngã xuống, Jennifer nép vào anh như một đứa trẻ đang sợ bão. Mấy phút sau, ở trên giường, cô đặc biệt tình cảm, nhẹ nhàng và im lặng. Sự im lặng này là bất thường. Bình thường, Jennifer đặc biệt ồn ào, điều mà anh rất thích.
Tiếp theo, Cyganeria của Puccini đã đưa Jennifer đến trạng thái gần như là mê đi. Cô đặc biệt hay nghe đĩa này. Chuẩn bị cho bữa tối, cô mặc hết sức trang trọng, lấy champagne, từ chối vang của anh, cô để điếu xì-gà Cuba loại ngon nhất cạnh đĩa trái cây tráng miệng và sau đó, khi đã ăn xong, cô đi đến chỗ anh trên đi-văng, không mặc đồ lót. Sau Cyganeria không bao giờ họ kịp vào được đến giường. Sau đó, khi tất cả đã xong xuôi, cô thích nói về vở opera này. Có lần cố nói với anh rằng, cô mơ ước viết phần hai cho Cyganeria. Một Cyganeria II như vậy thì chỉ có Jennifer mới có thể nghĩ ra. Ngoài ra cô còn nhận thấy rằng khi người đàn ông gặp người đàn bà thì mọi cái đều có thề xảy ra. Và Cyganeria là bằng chứng tốt nhất nói lên ràng đó là sự thật.
Những ngày anh làm việc đến khuya và họ không thể cùng nhau vào buổi tối được, Jennifer không khóa cửa phòng mình. Anh vào thẳng phòng tắm và cứ khỏa thân lên giường cô. Cô rất thích anh chui vào chăn, đánh thức cô dậy và chậm rãi hôn khắp người cô, đầu và miệng anh hạ cánh xuống giữa hai đùi cô.
Quãng thời gian cùng với Jennifer giống như một bộ phim truyền hình nhiều tập mà người ta sẵn lòng xem hàng ngày và trong đó không có nỗi buồn và sự nhàm chán, tình dục và nhạc thường chiếm ưu thế. Ngoài ra anh chăm chút cô như chăm chút người đàn bà của anh. Anh mua hoa, xoa bóp bàn chân sưng khi cô đi tập aerobic về, chịu đựng những cơn cáu giận vô cớ vào những ngày khó chịu trước kỳ kinh của cô, anh vặn lại vòi nước bị rò rỉ, hôn tay cô lúc tạm biệt để đi làm vào buổi sáng, cùng cô đi Dublin và đi hàng giờ với cô khắp các cửa hàng không một lời phản đối, uống trà xanh với cô và nói chuyện về âm nhạc, cũng học thi với cô, gọi điện để hỏi cô đã án trưa chưa. Ngoài ra, mặc dù không thành công lắm trong việc giảm hút thuốc lá, anh ăn dứa hoặc uống nước ép dứa đều đặn.
Và mặc dù không hứa cũng không đòi hỏi gì về lòng chung thủy, họ không thể hình dung được lại có thể khác đi. Anh nhớ chỉ có một lần Jennifer nói đến chuyện này. Và không phải là trực tiếp. Một cuối tuần nào đó cô bay về nhà trên đảo Wight qua London.
Anh nhớ cô. Anh cảm nhận một nỗi buồn thực sự, u uất vì thiếu vắng và xa cách cô. Hai ngay sau anh thấy một bưu thiếp trong hộp thư của mình. Ngoài năm dòng kẻ với mấy nốt nhạc bao giờ cũng có, và luôn luôn khác nhau mà bao giờ cô cũng thêm vào tất cả các thư hoặc bưu thiếp của mình còn có dòng chữ:



Eljot, em muốn anh biết (mặc dù em qua thật không biết sự hiểu biết này có ích gì cho anh không), rằng anh là người đàn ông duy nhất chạm vào em. Cả trong ý nghĩ của em nữa. Có thể em không muốn anh biết điều này nhưng đơn giản là em muốn nói với anh .


Jennifer



Khi đó lần đầu tiên anh hiểu rằng, cái đang có giữa họ không phải là bất cứ một bộ phim truyền hình nhiều tập nào đối với Jennifer. Sau khi quay lại, không bao giờ cô trở lại lời thú nhận này nữa và không bao giờ bình luận về tấm bưu thiếp kia. Ở bên Jennifer, anh biết thêm nhiều vở opera mới của nhiều nhạc sĩ, phân biệt được ngày càng nhiều các bản giao hưởng, hút loại xì-gà càng ngày càng ngon hơn, nói tiếng Anh ngày một tốt hơn và trải qua những sáng tạo tình dục ngày càng đáng mơ ước hơn. Bên cô anh thôi không còn ngạc nhiên trước bất cứ điều gì nữa. Cho tới tận buổi sáng hôm ấy, ba tuần trước khi anh trở về Ba Lan.
Thời gian ở Dublin đã sắp hết. Anh làm việc nhiều đến nỗi rất hiếm khi được ăn tối cùng với Jennifer. Đôi lần muộn đến mức nói chung anh không về phòng cô: Anh về phòng mình mệt rã rời và để nguyên quần áo đi ngủ. Song đêm hôm ấy anh đã về phòng cô. Lần ấy anh không phải mặc dù anh rất thích điều này, đánh thức cô bằng nhũng nụ hôn. Cô chưa ngủ khi anh rón rén chui vào chăn. Cô khỏa thân. Chờ anh.
Cả hai đều cảm thấy mọi chuyện sẽ kết thúc. Bây giờ họ yêu nhau khác hơn. Không còn sự hoang dại ấy, từ tốn và với đôi chút suy nghĩ. Như thể họ muốn trải qua tất cả thật chính xác, có ý thức và làm sao để nhớ nhiều nhất và lâu nhất Những kỷ niệm ấy phải đủ cho một thời gian dài. Thậm chí là cho suốt cuộc đời. Jennifer cũng trải qua đỉnh điểm khác hơn. Cô đã khóc vào một lúc ngay sau đó. Khi anh hỏi tại sao, cô không trả lời, chỉ dùng hết sức đề ôm anh thật chặt.


Sáng hôm sau thức dậy, anh cảm thấy có cái gì nằng nặng đè lên người mình. Thoạt đầu anh nghĩ là đang mơ. Anh từ từ mở mắt. Jennifer, hoàn toàn khỏa thân đang ngồi dạng chân lên người anh, hai tay xoa và nắn đầu vú mình, đầu ngửa ra phía sau và cô nhịp nhàng nhấc người lên. Cô thở mạnh. Của anh đang ở trong cô!
Một lát sau, khi cô thẳng đầu lại, anh nhìn thấy cô đeo bộ tai nghe to màu đen. Cô nghe nhạc. Anh không để cho cô biết là mình đang nhìn cô một lúc. Anh khép hờ mắt và quan sát cô. Cô nhấc người lên, nhanh hơn hoặc chậm lại, thở chậm hơn hoặc gấp hơn, thỉnh thoảng lại phát ra tiếng rên. Đó là một hình ảnh thật đặc biệt. Hai bầu vú nặng của cô nẩy lên rơi xuống. Miệng hé mở, thỉnh thoảng lại liếm môi. Rồi chắc cô phải cảm thấy sự cương cứng của anh dữ dội hơn. Cô mở mắt tìm anh. Cười. Cô đặt tay lên miệng, ra hiệu cho anh im lặng. Cô nghiêng người - vẫn liên tục nhún trên anh - để lấy cặp tai nghe nữa dưới gối. Cô nhấc tay anh ra khỏi ngực mình và đặt vào đó cặp tai nghe. Anh nhấc đầu, đeo tai nghe.
Nhà triết học Colline đã hát đúng aria nổi tiếng Vecchia zimarra. Rudolf tưởng là Mimi đã ngủ nên đi ra để kẻo rèm cửa sổ Jennifer không chỉ nhún. Lúc này cô còn chuyển mông dữ dội theo chiều ngang, khiến vùng hông làm thành những đường tròn nhỏ. Cô đưa tay Jakub lên miệng và cắn. Khi Rudolf quay lại với Schaunard, Colline và Musseta, nhìn ánh mắt của họ anh biết ràng Mimi đã chết. Jennifer khóc to. Cô kẹp đùi lại. Rudolf đến chỗ Mimi. Jennifer đột nhiên quay lưng lại Jakub, vẫn không ngừng nhún. Jakub nắm ngang hông Jennifer, nhịp nhàng ấn về phía anh. Rudolf quỳ xuống bên giường Mimi. Jennifer rú lên, vứt tai nghe.
Cyganeria kết thúc. Jennifer nghiêng rất nhanh người ra trước, những móng tay cô cắm vào đùi anh. Khi cô nhấc người lên, anh nhìn thấy trên mỗi bên chân anh ba rãnh sâu dài chừng mười centimét đang rớm máu.
Những vết sẹo sau Cyganeria "lúc gần sáng" sâu đến mức sau đó anh đã mang chúng theo về Ba Lan. Ngoài ra, lúc còn ở Dublin, chúng đã khiến anh bị lúng túng khi cởi quần áo trong các buổi tập squash hàng tuần với Zbyszek. Kể từ khi anh lui tới phòng Jennifer, Zbyszek lảng tránh anh. Đến giai đoạn cuối của anh ở Dublin, họ chỉ còn gặp nhau ở chỗ tập squash.
Những gì liên quan đến Jennifer, mãi cho tới buổi liên hoan chia tay do anh tổ chức vào rước ngày anh về nước, mới được bộc lộ rõ. Anh mời vài người quen ở viện, Zbyszek và đương nhiên là cả Jennifer. Cô dẫn theo cô bạn Madelaine, người Pháp, học cùng năm.
Không khí tối hôm đó thật khó để nắm bắt được. Nỗi buồn chia tay xen lẫn với niềm vui vì cuối cùng mình đã được về Ba Lan. Ngoài ra anh còn vô cùng hưng phấn vì những gì mình sẽ làm với những tài liệu khoa học mà anh thu thập được ở đây. Chỉ có một điều anh biết chắc chắn: sẽ nhớ Jennifer vô cùng.
Jennifer đã mua cho buổi tối hôm đó một chiếc váy trắng với những bông hoa to màu xanh thẫm. Cô khiến tất cả mọi người phải ngạc nhiên. Đó là lần đầu tiên một người nhìn thấy Jennifer mặc váy, mà cô đã học ở Dublin được bốn năm. Trông cô thật khác thường. Anh rất thích cô buộc tóc thành lọn để hở cổ. Cô đến hơi muộn, hút một điếu xì-gà không lồ, và tất nhiên là một người đều nhận thấy ràng bên dưới chiếc váy hơi trong, mỏng cô không mặc nịt vú, nhưng lại mặc chiếc quẩn lót đen khoét cao. Cô đã hơi ngà ngà say. Kẹp dưới nách mấy chiếc đĩa hát. Khi có một ai đó nói đùa với cô về chiếc quần lót không hợp với váy, cô trả lời:
- Hôm nay là ngày tang lễ đầu tiên sau Jakub. Mai tôi sẽ mặc nịt vú đen và bỏ quần lót..
Bữa tiệc sôi động dần. Cô gái người Pháp rô ràng là rất quan tâm đến Zbyszek, người đã hôn cô ta một cách phô trương khi đang nhảy, đặc biệt là khi Jennifer nhìn họ. Những lúc không nhảy, họ ngồi bên chiếc bàn đầy những vỏ chai phản chiếu ánh sáng từ những ngọn nến. Anh ta đã thuyết phục được Jennifer từ bỏ việc "tra tấn" mọi người bằng những opera mà cô mang đến. Họ ngồi nói chuyện bên bàn. Jennifer thỉnh thoảng chạm vào anh, lặng lẽ nghe lỏm câu chuyện của họ và nhặt những mẩu sáp nóng chảy xuống đế đựng nến để trên bàn.
Chợt có tiếng cười khúc khích. Jennifer đặt cạnh ly martini một chiếc dương vật kích cỡ bình thường đang cương cứng, được cô nặn từ sáp nến mà cô nhặt từ tất cả các đế đựng nến trên bàn.
Khi tiếng cười nhỏ đi, cô cầm chiếc dương vật bằng tay phải và đưa vào khe giữa hai bầu vú, nói với giọng mơ màng:
- Vật kỳ diệu này đã được nặn một cách hoàn toàn vô thức trong tay tôi. Nếu không phải là ý thức, thì chắc chắn tiếm thức sẽ phải lãnh trách nhiệm này. Bây giờ thì các bạn đã biết, tiềm thức của tôi quan tâm đến cái gì.
Cô nói và nép sát vào anh. Zbyszek bất thình lình rời khỏi bàn một cách rất khoa trương. Rõ ràng là anh ta cú. Thêm vào đó cô gái người Pháp hoàn toàn bỏ qua anh ta và vẫn ngồi lại. Jennifer làm như không nhận thấy tất cả những chuyện đó. Cô im lặng. Rồi cô nắm tay anh dưới gầm bàn và nói: - Mình đi đi. Hãy quay lại với ngày đầu tiên của chúng mình trong ngày cuối cùng này của chúng mình.
Cô lôi anh ra khỏi phòng và bắt đầu chạy dọc hành lang về hướng Viện anh. Khi họ đến trước giảng đường mà anh nhớ rất rõ kể từ lễ đặt tên anh ấy, cô dừng lại, và như lần ấy cô đưa anh vào phòng. Khi giống như lần ấy, cô quỳ trước mặt anh và như lần ấy, họ lách cách bật tắt đèn neon, anh nghĩ rằng tuy nhiên, đây không phải là deja vu, không phải là ảo giác. Lúc này, đây là Jennifer của anh. Sau đấy, khi họ đang ép sát vào nhau và khóc trong giảng đường tối om ấy, cô thì thầm:
- Jakub, em yêu anh vô cùng, em không thể hình dung ra ngày mai sẽ ra sao.


Một cái lắc vai kéo anh ra khỏi dòng suy nghĩ. Blues kết thúc. Cô gái nhảy ngồi trước mặt anh.
- Anh uống drink của tôi và ở chỗ ly mà tôi để lại dấu son môi.


Đó không phải là Jennifer.
- Xin lỗi. Tôi mải nghĩ quá. Rất xin lỗi. Tôi sẽ mua đền chị drink ngay. Tại tôi sơ ý. Tôi lơ đễnh như vậy đấy. Mong chị thứ lỗi.
- Có gì đâu. Anh không cần phải xin lỗi. Được quan sát anh, quả là điều đặc biệt. Anh ngồi, nhắm mắt và mút chiếc ly này.
Cô lấy chiếc ly ra khỏi tay anh và đi về phía quầy bar, cạnh đó dàn nhạc đang thu dọn nhạc cụ.
- Chị nhảy đẹp lắm. Có thể chị là người đảo Wight? – anh gào lên theo cô ta.
- Không phải đâu! - cô ta trả lời, mất hút sau cánh cửa dẫn ra khách sạn. Anh đứng lên và đuổi kịp cô ta.




CÔ :
Paris, ngày 16 tháng bảy 1996
Em thích anh. Rất thích. Và em còn mừng nhiều hơn vì em có thể thích anh. Mặc dù đó chỉ gần như là toàn bộ sự thật (hiện tại em không muốn đẩy vấn đề đi quá xa). Hôm nay anh đừng coi em quá nghiêm túc.
Chắc chắn trong em đang xảy ra một phản ứng sinh- hóa nào đấy. Em đã dùng một loại chất lỏng tuyệt vời có tên brandy Am, cô-nhắc Armenia, hình như đó là loại đồ uống duy nhất mà Churchill sử dụng. Em đã biết tại sao ông ta chọn chính loại đó. Em chỉ không hiểu, tại sao ông ta tại luôn luôn bị stress. Hẳn đó phải là lỗi của sương mù liên tục ở London.
Giờ đây em vô cùng biết ơn thế giới vì nó hiện hữu, và em hiện hữu. Em thích trạng thái này. Càng thích hơn vì sau 52 giờ và 36 phút nữa anh sẽ hạ cánh ở Paris. Ngoài ra hôm nay em hơi buông thả một chút. Và chắc chắn đây không phải vì Renoir. Cơ bản là vì Asia. Chính nó xui em đi thẳng từ d Orsay đến Bảo tàng ái tình ở gần quảng trường Pigalle. Đầu tiên một người của trường phải ấn tượng đã lên dây cho em, sau đó em bị hưng phấn bởi tất cả các thể loại nghệ thuật. Một bảo tàng như vậy không ở đâu có. Anh thử đoán xem, em nhớ cái gì hơn : Renoir hay tình ái?
Có xấu không, nếu là tình ái? Asia nói rằng không, vì thỉnh thoảng cũng cần phải cảm thấy sexy. Em hỏi nó phải làm gì để cảm thấy sexy, nếu không phải đang ở đúng Paris. Anh có biết Joanna Magdalena cực kỳ nhạy cảm một cách trí tuệ trả lời như thế nào không? Nó trả lời em chính xác như thế này :
"Mình mặc một chiếc váy chật và không mặc quần lót".
Ai mà có thể nghĩ được lại đơn giản đến thế.
Anh có biết em đã nhận thấy gì ở Asia khi đi thăm bảo tàng ấy không? Nó bị quyến rũ bởi tính nữ trong một tác phẩm. Theo em gần đây Asia bị đàn bà lôi cuốn. Từ những gì mà thỉnh thoảng nó kể, thì thấy rằng không có người đàn ông nào thực sự lọt vào được óc tưởng tượng của nó. Em biết từ chính nó rằng, nó có thể sung sướng với tình dục, nhưng em cũng biết rằng để có điều đó, nó không cần đến đàn ông.
Khi tụi em ra khỏi bảo tàng ấy, em muốn được một mình. Rất muốn. Tốt nhất là trong phòng mình ở khách sạn. Có thể có một lúc nào đó em sẽ nói cho anh biết, tại sao lại là chính ở đó. Em có mức oxytocin tương đối cao để có thể chịu đựng được bất cứ cái gì, trừ anh, ở gần. Như một đệ tử của thuyết hoóc- môn, tiện thể em chỉ thông báo để anh biết vậy thôi. Và đây chỉ để "cho vào cặp", như anh gọi thế. Có thể nó sẽ có ích cho anh trong nghiên cứu".
Em bảo Asia để em lại một mình. Nói chung nó không phản đối. Như em biết nó, thì nó cũng muốn được một mình. Em đến quán Café de Flore. Chủ yếu là để viết e-mail cho anh. Em chưa bao giờ viết gì cho anh trên giấy. Em nghĩ rằng trong Café de Flore em có thể thử. Camus, Satre và Prévert từng viết tại đây. Em đã thử. Một cảm giác rất lạ. Một bức thư bình thường, có thề có mùi và vết loang của rượu vang hoặc dấu môi ở mặt sau. Internet không thể thay thế cho những thứ đó được. Khó có thể nhay e-mail, mà em lại muốn nhay cái khăn giấy mà em dùng để viết cho anh trong Café de Flore ấy. Ngoài ra, sẽ rất nguy hiểm nếu viết e-mail cho anh khi đang nằm khỏa thân trong bồn tắm. Gần đây, đó là mơ ước lớn nhất của em. Viết e-mail cho anh trong bồn tắm. Có rượu vang trong máu, toàn thân được phủ một lớp bọt tắm thơm mùi lê, bách, mùi quýt và nghe và cảm nhận độ rung trong giọng ca của Morrison. Điều này chỉ có thể làm với sự hứng khởi mãnh liệt. Nhưng chắc chắn không phải là dòng điện. Do đó mà không thể mang Internet vào bồn tắm, tuy thế, em vẫn yêu quí nó.
Một nửa bức thư này được viết ở đó. Trong Café de Flore. Nửa kia ở cách đó rất gần. Trong một quán cafe khác, mốt hơn của Paris, quán Les Deux Magots. Em không biết tất cả các trí thức nhìn thấy gì trong quán cafe này. Cà phê thì thật kinh khủng. Sô-cô-la nóng thì có vị giống như zurek trong quán bar ở Plock. Đó là món zurek tuyệt hảo, nhưng nếu là sô-cô-la thì thật kinh khủng. Chỉ duy nhất có nội thất và rượu vang là có tác động. Nhưng từ mấy ngày nay, rượu vang ở đâu cũng tác động đến em. Em viết thêm mấy dòng của thư này ở đó, bức thư mà lúc này em đang gõ lại trong một phòng nhỏ ở phía sau quầy lễ tân của khách sạn. Đã gần nửa đêm. Người trực lễ tân đang đùa với Asia và Alicja, còn em thì được phép thoải mái trên ổ cứng máy tính của cậu ấy. Vì thế mà em hơi không nghiêm chỉnh và em nghĩ liệu tay lễ tân kia có nhận thấy Asia đúng là hôm nay không mặc quần lót bên trong chiếc váy bó sót kia không. Em thì thấy là không. Ngoài ra em cảm thấy an toàn vì không có ai, ngoài anh, đọc được thư nậy. Em sẽ gửi rồi xóa ngay. Chủ yếu là vì em chỉ muốn hư hỏng và buông thả với riêng anh thôi.
Em nhớ anh.
Em cảm thấy, biết gọi thế nào nhỉ, "dễ bốc cháy". Hôm nay trong bảo tàng tình ái ấy em đã nhận ra một qui tắc rất đặc trưng. Ở đó có rất nhiều tranh và tượng của các mụ phù thủy. Đó là điều lạ lùng và đặc trưng trong bảo tàng này. Anh nhất định phải đến đó nếu anh có ít nhất là 90 phút rảnh rỗi trong dịp đến Paris lần tới. Tức là em nhận thấy vô số các mụ phù thủy khỏa thân. Chính họ rất "dễ bốc cháy". Ví dụ như khi người ta thiêu sống họ trên đống lửa. Mặc dù đã rất xa xưa rồi, nhưng em vẫn tưởng như phù thủy, thật thà mà nói, đó chỉ là những phụ nữ vô tội bị trừng phạt một cách không thương tiếc. Bị trừng phạt bởi những người đàn ông không thể tha thứ cho sự phản bội của vợ mình, vậy là để giải tỏa mặc cảm, họ đã ra lệnh thiêu những người đàn bà lạ, mà thường họ phản bội vợ mình với chính những người đàn bà đó, và gọi họ là những mụ phù thủy. Anh có biết em nhận thấy điều gì trên những bức tranh đó, trên nhũng bức tượng đó? Những mụ phù thủy bốc cháy đang cười.
Những người đàn bà phản bội và bị thế mạng thường thoạt đầu là hóa đá, còn sau đó bị thiêu, họ bốc cháy và cười sung sướng...
Lúc này em thấy buồn bởi nghĩ đến những mụ phù thủy ấy trong bối cảnh. Nếu mà anh nghe thấy tiếng em trên mạng, thì lúc này anh sẽ nghe thấy bài thơ đã khiến em xúc động từ mấy tuân nay. Đã có lần em đọc nó, em không biết chính xác ở đâu, ở Warszawa. Em đã nhớ lại nó khi nhìn những mụ phù thủy bốc cháy trong bảo tàng gần quảng trường Pigall ở Paris:
Anh mơ thấy chúng ta cùng nhau, lạy Chúa
Trên rìa những chiếc đĩa khi em dọn bữa
Và trên mép của bộ ga hôn nhân đã nguội lạnh
Trong những nếp lằn sâu quanh mắt
Anh còn mơ thấy chúng ta ngoan cố cùng nhau
Và anh bện những bàn tay của chúng ta lại
Để không thể rời xa
Còn nếu không
Hãy đừng đưa chúng ta đến những cám dỗ
Cứ để cho mì sợi dành cho ngày chủ nhật
Quấn lên tôi
Hãy để tôi được thiếp đi
Và mỗi chúng ta -
Hãy chơi riêng
Amen
(Tác giả của bài thơ là Dorota Kiersztejn Pakulska)
Hẳn một mụ phù thủy hiện đại nào đó đã viết nó. Em không thể nhớ thậm chí là tên của bà ta. Em ngưỡng mộ bà ta, kể cả một bà không tên như vậy. Bài thơ này khiến em cảm động và buồn. Em biết là anh cũng thế. Em không biết tại sạo mình lại nhớ nó nữa. Em hoàn toàn không cho rằng Mười điều răn của Chúa là cuốn hướng dẫn tốt nhất trong cuộc sống. Bao giờ anh đến đây, em sẽ cho anh biết điều răn thứ mười một của em là gì.
TB: Anh có nghĩ rằng quá trình chờ đợi sẽ kéo dài bản thân sự chờ đợi. Em thì không nghĩ thế. Em đã cảm thấy rất chắc chắn.
Rốt cuộc, anh hãy đến đi.

Cô đơn trên mạng - Chương 7

ANH : Ngày cuối cùng của anh ở New Orleans đã kết thúc. Mai anh sẽ bay đi New York.
Ở đó sẽ chỉ còn một đêm và một ngày rưỡi nữa thôi. Hơn nữa, ở New York thời gian trôi nhanh hơn nhiều - anh nghĩ với tâm trạng tuyệt vời trong lúc ngồi đợi suất cà phê sáng bên chiếc bàn được đặt ngoài sân trời cạnh bể bơi của khách sạn.
Sau New York là Paris, còn ở Paris là cô. Cái mà anh cảm nhận lúc này khi nghĩ về cô là một nỗi buồn nhè nhẹ của nỗi nhớ, giống như sự căng thẳng và nóng lòng của đứa trẻ đang đợi cho bữa tối Giáng sinh kết thúc, để cuối cùng thì nó cũng được mở những gói quà dưới cây Noel kia. Chỉ cần phải làm sao để qua được bữa tối này và sau đó thì …
Hôm nay anh đã làm, không hề cảm thấy lương tâm bị cắn rứt, thậm chí còn với sự hài lòng thực thụ, hai việc, mà trong bất kỳ tình huống nào cũng không thích hợp với "một người làm khoa học" có trách nhiệm.
Thứ nhất, khoảng gần trưa, trước bữa cơm, anh đã chuồn khỏi phòng họp mờ tối nơi đang diễn ra phiên họp của anh mà không để ai biết để chạy sang tòa nhà cạnh trung tâm hội nghị. Anh nhất thiết phải được nghe bài thuyết trình của một nhà hóa-sinh học trẻ tuổi của viện nghiên cứu ở La Jolla gần San Diego. Anh đã gặp phải ý niệm trừu tượng của bài thuyết trình này một cách tình cờ trong khi nghiên cứu các tài liệu của hội nghị khi đang ngồi ăn sáng. Và nó lập tức khiến anh chú ý. Cái mà con người trẻ tuổi này với cái họ nghe rất điện ảnh Janda khẳng định, quả là một phát hiện đáng kinh ngạc. Bởi anh ta trình bày rằng, anh ta và Viện của anh ta đang đi trên con đường tốt nhất đến việc chế tạo ra vắc-xin phòng nghiện ma tay cho con người!
Janda không thể tìm cho mình một địa điểm tốt hơn để thông báo cho thế giới biết về phát minh của mình - anh nghĩ.
Ngoài ra thì những gì nhà khoa học trẻ này nói, quả là đẹp tuyệt vời trong sự giản dị của anh, đến mức anh thấy sởn cả gai ốc khi nghe anh ta trong cái phòng chật không còn một chỗ trống ấy. Mọi người cảm thấy đây thực sự là bài thuyết trình quan trọng nhất tại hội nghị này.
Anh không thể chờ để kể hoặc viết cho cô về điều này được nữa. Cô chia sẻ niềm say mê và nhiệt tình của anh bằng sự thông minh của mình như chưa một ai cho đến lúc này có thể. Ngoài ra, cô còn không xấu hổ vì mình không biết, sự tò mò và đòi hỏi bướng bỉnh của cô muốn hiểu tất cả đã khiến anh - vì buộc phải giải thích - nhìn rất nhiều vấn đề từ góc độ khác.
Cocain là một phân tử quá nhỏ để các bộ lọc của hệ miễn dịch của con người có thể ghi nhận nó và tống khứ như với một vị khách không mời. Không bị vào sổ, nó thâm nhập vào hệ thần kinh mà không gặp trở ngại gì. Hệ miễn dịch "không được thông báo" về cuộc đột nhập nên không cử bất cứ một kháng thể nào có thể chiến đấu với nó. Song nếu "treo" cocain lên những protein đủ lớn - và đây chính là ý tưởng thiên tài của Janda và nhóm của anh ta - thì hệ miễn dịch sẽ nhận biết được vật lai này như là kẻ thù và sẽ dùng kháng thể để tiêu diệt trước khi cocain đến được não. Janda khẳng định rằng hiện tại anh ta mới chỉ thành công việc này trên chuột và buộc hệ miễn dịch của chúng tạo ra kháng thể tiêu diệt cocain được định vào những protein lớn trước khi nó đến được các bộ thu nhận của nơtơron thần kinh trong não. Những kháng thể như vậy được tạo ra như một phản ứng của cơ thể đối với, ví dụ như sự có mặt của vắc-xin. Janda đã tiêm vắc-xin được chế tạo trong Viện của anh ta cho chuột rồi sau đó cho chúng cocain. Cocain không đến được các bộ thu nhận trên các nơtơron thần kinh trong não của các con chuột trong phòng thí nghiệm, và kết quả là chúng không cắn lẫn nhau. Đó là bằng chứng tốt nhất về tác dụng của vácxin, bởi những con chuột được tiêm cocain đều biến thành quái vật. Thực ra thì chả cứ gì chuột. Chó cũng hay bị kích động để đánh nhau bằng cocain.
Janda khẳng định rằng việc chế tạo ra loại vắc-xin như vậy đối với con người chỉ còn là vấn đề thời gian.
Vào thời điểm ấy anh không thể không nghĩ đến Jim. Và cả về mình và cuộc mạo hiểm với cocain. Khi ấy, hơn một chục năm trước đây, ở một khu vực khác của thành phố này, khi đã có cocain trong máu, đôi khi anh phân vân trước cơ chế hoạt động của nó. Cái mà nhà hóa học trẻ kia nghĩ ra, đặc biệt là các bộ thu nhận ở các tế bào thần kinh – các nơtơron thần kinh trong não, thỉnh thoảng cũng xuất hiện trong đầu anh. Những bộ thu nhận ấy ở các nơtơron - giống như là ổ khóa của não. Khi chìa không vừa, thì không gì có thể lọt vào trong được. Trừ khi dù nhỏ như phân tử cocain, là loại có thể đi qua bất cứ lỗ nào một cách dễ dàng. Khi ấy, ở Tulan, anh đã biết rõ cơ chế này. Nhưng chưa bao giờ anh có ý nghĩ là sẽ tăng kích cỡ của chìa khóa lên đến mức không vừa được với ổ khóa. Janda khôn ngoan đã nghĩ ra.
Ngoài ra, khi trong phòng hội nghị, "các bộ thu nhận ở các nơtơron" được trình bày rõ ràng, anh lại nhớ tới câu chuyện vô cùng buồn của nữ nghiên cứu sinh trẻ, Candace Pert ở Đại học Tổng họp Georgetown của Washington. Jim cũng biết chuyện này. Kể từ ngày anh kể cho gã nghe chuyện, bao giờ Jim cũng uống một lượt cho "Candace Pert, người phụ nữ biết rất rõ điều xảy ra phía sau màng nhầy".
Chính Candace Pert, trong những năm tám mươi khi nghiên cứu vế cơ chế hoạt động của morphin, rất có công trong cuộc chiến chống lại sự đau đớn, ngay khi còn là sinh viên đã phát hiện ra rằng, trên bề mặt của các notơron có những điểm, mà hình thù và kích cỡ của chúng phù hợp với phân tử morphin. Như thể chìa với ổ khóa. Morphin vào được tế bào chính là qua các điểm này. Và chính bằng cách này mà cơn đau dịu đi.
Từ đâu mà có vẻ như các nơron có cho riêng mình chìa khóa để đến một morphin nào đấy? Tại sao cơ thể lại chuẩn bị cho mình một ổ khóa, mà sự tồn tại chìa của nó lại không thể biết trước? Hay có thể tồn tại những hợp chất giống với morphin về mặt cấu trúc và hoạt động, được tạo nên bên trong cơ thể? Có. Đương nhiên là có. Cũng như morphin, chúng làm dịu cơn đau, tác động lên tâm trạng, tạo nên cảm giác dễ chịu, đôi khi thậm chí là phởn phơ. Chúng có tên là en-dorphin "nội morphin". Hiểu vấn đề này một cách tính ảnh, có thể nói rằng cực khoái, đó chính là sự nhấn chìm não trong các endorphin. Thực ra thì sự sợ hãi của kẻ tử tù ngay trước lúc thi hành án trên ghế điện cũng y như vậy. Trái với vẻ bên ngoài, trong cả hai trường hợp, thành phần hóa học của các hợp chất trong não là như nhau.
Ít người biết rằng, từ phát hiện của Candace Pert đã bắt đầu một câu chuyện hấp dẫn và liên tục cho đến nay về những phân tử xúc cảm. Thực ra là phát hiện của cô ấy đã cho phép nghĩ rằng, con người, đó là hỗn hợp của các nucle-otide, trí nhớ, khát khao và protein. Nếu không có các bộ thu nhận trên các nơron, chắc chắn sẽ không có thi ca.
Candace Pert, cô gái tóc nâu hấp dẫn của Đại học Tổng hợp Washington đã có ý tưởng về các bộ thu nhận như vậy ngay từ năm 1972. Câu chuyện tiếp theo về phát hiện của cô đó là bằng chứng tốt nhất cho thấy, thế giới khoa học có thể hão huyền, đố kị, tàn nhẫn và đầy rẫy âm mưu như thế nào. Anh biết điều này từ kinh nghiệm bản thân, nên câu chuyện của Candace không làm anh bị sốc.
Ngay trước phát hiện của mình, Pert đã bị sếp của dự án, với chức danh giáo sư, được thông báo đều đặn về công việc của cô, ra lệnh ngừng nghiên cứu vô điều kiện vì ông ta khẳng định rằng "những nghiên cứu đó là không có mục đích và dẫn đến con đường mù quáng". Tuy nhiên, chính vị giáo sư này cùng hai người bạn với chức danh không kém đã được đề cử cho giải Lasker danh giá của Mỹ - con đường đơn giản nhất dẫn đến giải Nobel - vì chính những nghiên cứu về các bộ thu nhận của các nơron. Nghiên cứu của cô! Ủy ban giải Lasker hoàn toàn bỏ qua sự có mặt của cô, thậm chí không hể nhắc đến tên cô.
Như chính Pert nhớ lại, cô có thể cho qua việc này và sống với sự hạ thấp đó trong im lặng, "biết rằng đằng nào thì vẫn là của mình", hoặc phản đối. Cô đã không cho qua việc đó. Cô nhớ quá rõ trường hợp của một phụ nữ khác, đã bị người ta ăn cướp kiến thức, uy tín và công lao. Và cô cũng nhớ quá rõ mọi việc đã kết thúc như thế nào.
Anh cũng biết rất chi tiết trường hợp bi thảm của Rosalind Franklin. Làm sao mà có thể không biết cho được. Bởi đó chính là cơ sở gien-sinh hóa của anh.
Rosalind Franklin, cử nhân của trường Cambridge nổi tiếng, đã sử dụng kỹ thuật tinh thể học siêu âm mà khi đó, vào đầu những năm năm mươi còn rất mới mẻ và phát hiện ra rằng ADN, đó là chuỗi xoắn kép giống như một chiếc thang và rằng hai thành của chiếc thang là phốt phát. Giám đốc viện cô, John Randall, đã trình bày kết quả nghiên cứu và cả những suy nghĩ chưa được công bố của người nữ cộng sự trẻ của mình trong một cuộc hội thảo nhỏ chỉ có ba người tham dự, trong đó có James Watson và Francis Crick. Không lâu sau đó, tháng ba năm 1953, Iames Watson và Francis Crick công bố một bài báo nổi tiếng mô tả chính xác cấu trúc của chuỗi xoắn kép ADN.
Tháng ba năm ấy, ngành gien học hiện đại bắt đầu được khởi xướng. Thế giới lặng đi vì ngỡ ngàng. Nhưng không phải tất cả. Khi Watson và Click trả lời phỏng vấn, kiêu hãnh đi vào lịch sử và giữ sẵn cho mình một chỗ trong bách khoa toàn thư thì Rosalind Franklin đau khổ trong im lặng. Không bao giờ cô phản đối và cũng không bao giờ nói trước công chúng về những gì mà cô đã cảm thấy.
Năm 1958, vốn luôn mạnh khỏe, không có bất cứ một xu thế mắc bệnh về gien nào, Franklin bỗng bị ung thư và qua đời sau mấy tuần.
Khi đó cô mới ba mươi bảy tuổi.
Năm 1962, Watson và Click nhận giải Nobel tại Stockholm.
Những phân tử xúc cảm? Những bộ thu nhận nỗi buồn dạng chuỗi mở đường đến đột biến tế bào ung thư? Theo Pert, và bây giờ thì cả các nhà miễn dịch học, thì nỗi buồn và nỗi đau có thể giết người chẳng khác gì virút.
Vậy là Candace Pert đã không bỏ qua được việc bị người ta ăn cướp mất những gặt hái của mình. Cô đã phản đối. Vị được gắn mác giáo sư đã không được giải Nobel và đã bị rơi vào quên lãng. Còn cô đã trở thành người có thẩm quyền.
Vừa nghe bài thuyết trình của Janda anh vừa nghĩ về chuyện ấy và phân vân, không biết Janda có biết rằng nếu không có Candace Pert thì cũng không có anh ở đây, trong phòng chật kín người này.
Ngoài việc trốn đi nghe bài thuyết trình về vắc-xin chống cocain, trong ngày cuối cùng của hội nghị ở New Orleans anh còn làm một việc nữa tồi tệ hơn nhiều: nói dối là bị ốm để không tham dự buổi dạ hội kết thúc hội nghị. Anh khống muốn lại thêm một lần phải nghe tất cả những bài phát biểu không thay đổi từ nhiều năm nay, rằng ai là người có nhiều công lao và ai đánh giá điều đó hoặc là "cuộc gặp gỡ đã thành công tốt đẹp" và "trước mắt chúng ta là những thách thức mới như thế nào". Hội nghị quốc tế về gien học ở New Orleans, về mặt này cũng chẳng khác gì một đại hội hợp tác xã địa phương ở Làng Mới.
Anh cũng không muốn một buổi tối với sự có mặt của những bà vợ khả kính và nhạt phèo của các vị giáo sư cũng chẳng khác gì các bà vợ của họ, đã từ lâu rỗi chẳng có gì để nói và họ cứ đi hết hội nghị này đến hội nghị khác và bằng cách đó cắt dần những ô phiếu vinh quang và huy hoàng của mình đã từ lâu vàng ố.
Anh muốn chia tay với New Orleans theo cách của mình. Ăn tối ở một nhà hàng nhỏ có tên Evelyn s Place ở chỗ cắt giữa phố Iberville và Charters Street. Đối với người hay lui tới thành phố này thì đây là một của hiếm thực thụ của ẩm thực địa phương. Chỉ có những người đặc biệt quan tâm mới biết. Ngoài ra, toàn bộ thời gian ở đó là Happy Hour. Gọi một tequille, sẽ được ba mà không phải trả cho hai chai còn lại. Điều này tác động tuyệt vời đến không khí của phần nội thất đúng ra là cáu bẩn. Sau lượt đầu tiên bạn sẽ không để ý đến điều đó nữa. Sau lượt thứ hai bạn bắt đầu thấy nó đẹp. Thỉnh thoảng ở Evelyn s Place xảy ra điều mà không xảy ra ở nơi nào khác của New Orleans, Evelyn kéo - chủ yếu là trước Mardi Gras - cô em của mình, là người duy nhất, theo như Evelyn, "rời bỏ gett bởi có não và không thích ẩm thực" đến. Sinh viên của nhạc viện Detroit, học lớp violin, đặc biệt tài năng, đã nhận nhiều giải thưởng trong các cuộc thi ở châu Mỹ. Khi đến cái câu lạc bộ đầy khói của bà chị, cô quên luôn các phòng hòa nhạc và Detroit. Cô tết tóc như một cô gái Rastaman (*) và chơi jazz và blues. Bằng violin! Nghe mà có cảm tưởng như Marvin Gaye hát blues.
Thực ra thì Evelyn, mà địa điểm này thuộc về cô, cũng là một hiện tượng. Một Phụ nữ Da đen đẫy đà với nụ cười của thiên thần chơi bộ gõ "ngoài giờ" trong nhóm nhạc jazz dixieland (thuộc về các bang miền Nam nước Mỹ). "Trong giờ" thì cô phải nấu nướng cho khách. "Phải" là một từ không hay. Bởi Evelyn cho rằng - anh biết điều này vì nghe lỏm được câu chuyện của Jim và Evelyn trong một lần họ cùng đến đây cách nay đã khá lâu - tốt hơn nghệ thuật nấu ăn chỉ còn có "nhạc jazz hay và những cuộc làm tình kéo dài". Ngoài ra, lần nào Evelyn cũng nhắc lại rằng thế giới có ý nghĩa kể từ khi có nhạc jazz, và đã trải qua ba cuộc cách mạng: Kopernik, Einstein và tìm ra gumbos, một loại súp rau cay từ rau có tên okra, được cho vào đậu đỏ cùng với gia vị cajun. Không đâu ở New Orleans nấu được món gumbos và đậu đỏ như ở Evelyn s Place. Tối đến, khi nhà hàng rộn ràng sống động và và quay cuồng trong tiếng cười, thỉnh thoảng có thể thuyết phục Evelyn chơi trống sớm. Khi ấy cô đeo găng tay trắng đến khuỷu, sửa lại trang điểm, ngồi trên ghế xoay cạnh lối vào bếp và đánh trống. Cô chơi cho đến khi có ai đó phải xin cô dừng lại. Khi Evelyn đánh trống, Jim thường hay ra sân phía sau nhà hàng. Gã không khoái jazz. Anh nhớ có lần gã đã nói đùa rằng "jazz là sự trả thù của những người da đen đối với người da trắng vì sự nô lệ". Mặc dâu vậy họ vẫn đến nơi này rất đều đặn.
Từ những ngày ấy, ở đây chẳng có thay đổi gì đặc biệt ngoài việc Evelyn béo hơn chừng mười lăm cân gì đó.


: Tiếng sột soạt ngoài cửa đã đánh thức cô dậy. Tiếng trẻ nô đùa ngoài vườn lọt qua cửa sổ để mở. Một ngày nắng.

Cô run vì lạnh. Cô nhận ra mình đã ngủ khỏa thân, không đắp gì trong khi điều hòa chạy suốt đêm. Chăn rơi trên sàn nhà cạnh cửa sổ. Cô dậy, đi ra cửa. Dưới khe cửa có một phong bì màu ô liu. Cô cúi người xuống nhặt. Cười, ép chiếc phong bì vào người và đi vội về giường. Khi cô vừa lôi ra bản in bức e-mail của anh thì có tiếng điện thoại. Asia.

- Như mình biết cậu thì vẫn nằm trên giường phải không? Tất nhiên là cậu không quên hôm này là ngày Renoir? – nó hỏi bằng một giọng rất lạ.

Tất nhiên là cô quên. Nhưng không tiết lộ và im lặng nghe Asia.
- Bây giờ thì cậu dậy đi, rồi ra ga Ecole Militaire và đi đến Solferino; cậu chuyển tàu ở Concorde. Khi nào xuống tàu và đi lên trên, cậu sẽ nhìn thấy trước mặt phòng đợi của nhà ga cũ ở đấy có bảo tàng d Orsay. Cậu nhớ hết chưa? Ga Solferino. Mình đang xếp hàng mua vé ở đây từ năm giờ sáng và đã làm quen với một tay ngrười Venezuela, một cô gái người Birma và bốn người Czech, đứng ngay sau mình. Dân Czech đến đây với một thùng bia. Khoảng bảy giờ sáng họ đã bắt đầu mở chai. Lúc đầu mình không thể nhìn cảnh ấy. Brr… Bia trước bữa sáng. Nhưng khoảng tám giờ, mình đã uống cùng với họ mà chưa ăn sáng. Chắc cậu nhận thấy qua giọng mình chứ? Ôi, Chúa ơi, mới tuyệt làm sao. Renoir ở khắp sảnh đợi trong nhà ga của Paris, còn mình; sau năm chai vào chín giờ sáng. mình muốn giữ mãi trạng thái này. Nhưng cậu đừng có mang theo máy ảnh.. Vì đằng nào thì cũng không được chụp ảnh đâu. Chỉ có điều cậu nhất định phải đến, mình muốn cậu cũng được tận mắt nhìn thấy cảnh này. Tụi mình sẽ có cái để mà nhớ cho đến cuối thế kỷ. Mình đã cố túm Alicja. Đã mấy lần gọi đến phòng nó. Cho đến khi tay thường trực người Ba Lan tiết lộ rằng nó không có ở đấy. Từ hôm qua, sau bữa tối. Bến Solferino, nhớ nhé. Cậu phải đến ngay. Bây giờ thì mình quay lại với mấy ông người Czech đây. - trước khi cúp máy, nó còn nói thêm: - Cậu phải nghe mình. Đừng có dừng lại dưới bất cứ hình thức nào ở quán cà phê Internet cạnh Militarie đấy. Lần cuối cậu bảo ra đấy năm phút, mà ở lại đến hai tiếng. Cậu sẽ viết cho anh ta sau, bất kể đó là ai, khi chúng mình đi xem triển lãm về. Cậu hứa không? Hứa đi!

Lại thêm một lần cô nghĩ rằng Asia quả thật độc đáo. Về nguyên tắc thì cô không muốn để Jakub biết Asia. ở một mức độ nào đó họ hợp nhau một cách nguy hiểm.

Cô chạy vào phòng tắm. Tắm rất nhanh. Cô mặc một cái quần lửng trắng, bó sát và áo phông đỏ hở rốn. Không mặc nịt vú. Thấy trước một ngày nóng không kém gì hôm qua. Cô nhét vào ví xách tay tóm lại là tất cả số đồ trang điểm.

Mình sẽ trang điểm trên tàu điện ngầm - cô nghĩ.
Tay trực lễ tân không thề rời mắt khỏi ngực cô khi cố chạy, tóc vẫn còn ướt, xuống cầu thang đến Restaurant để ăn sáng. Anh ta rời quầy lễ tân, đi theo cô đến Restaurant. Trong một khách sạn nhỏ như ở đây thì người trực lễ tân cũng là chạy bàn. Ít nhất cũng trong giờ ăn sáng.
Anh ta đang cầm bút chì và sổ để chờ cô gọi món. Cô gọi cà phê và bánh croissaint (*) với mật ong. Khi anh ta đi ra, cô để tất cả lại và chạy lên phòng. Lấy cái máy nghe CD xách tay của mình để trên bàn ngủ, tìm thấy trong vali đĩa mới nhất của Van Morrison rồi quay lại bàn ăn. Cà phê đang chờ cô. Bên cạch tách cà phê là số International Herald Tribune mới nhất.

Không có tay trực lễ tân. Cô đẩy vội tờ báo ra xa để không nhìn ngay cả các tiêu đề.
Mình không tự phá hỏng tâm trạng bằng những thông tin về thế giới - cô nghĩ.

Cô đeo tai nghe. Chọn Have I told lately that I love You, một đoạn Morrison yêu thích của mình.
Không chỉ Asia mời có thể được chuẩn bị về nội tâm để đến với Renoir - cô nghĩ.
Cô cũng thế. Âm nhạc có rồi. Giờ thì lo đến hóa học.
Tay trực lễ tân xuất hiện với croissaint nóng còn đang bốc hơi. Cô tắt nhạc và tháo tai nghe. Cô nhận thấy anh ta vẫn nhìn trộm ngực cô.
- Anh có thể cho thêm một tách cà phê nữa được không? Nếu được, thì anh có thể rót vào đó một ly whisky Ireland được không?
Anh ta cười hỏi:

- Hai mươi nhăm, năm mươi hay một trăm mililít? Nếu một trăm thì chị sẽ có cà phê trong whisky chứ không phải là ngược lại.
- Thế còn anh thì nghĩ sao, bao nhiêu thì tốt hơn cho tôi?

- Theo tỷ lệ hai mươi nhăm mililít whisky trong cà phê và một trăm champagne trong ly với dâu tây. Champagne là tôi mời dự. Renoir cũng uống champagne. Và thường là trong bữa sáng. Hôm nay ở Orsay chị hãy để ý xem có bao nhiêu chai trên bàn trong bức tranh nổi tiếng Bữa sáng của những người chèo thuyền của ông ta.
- Thế cơ đấy. Anh biết hết về tôi còn gì. Anh đọc và viết e-mail của tôi, anh biết rằng tôi cần Internet còn bây giờ anh biết cả việc một lúc nữa tôi sẽ đi gặp Renoir. Từ đâu vậy, nếu anh có thể nói?

- E-mail là tôi có của chị gửi đi hoặc gửi đến cho chị, Internet thì từ mấy tháng nay tôi cần như oxy nên tôi suy ra chị, vì chị hợp với người mẫu, còn Renoir? Tôi biết được từ bạn gái của chị. Trước khi tôi nối máy của chị ấy với phòng chị, chị ấy đã kể cho tôi nghe gần như tất cả về cuộc triển lãm ở d Orsay, sau đấy chị ấy còn dọa tôi rằng nếu chỉ không nhấc máy thì có thể chị bị xỉu ở trong phòng và tôi phải lập tức đến đấy. Chị ấy thật ngọt ngào khi nói dối. Chỉ có thể nói với chị ấy như vậy.
Nói xong anh ta ra quầy bar. Một lúc sau anh ta mang đến một tách cà phê, một ly với quả dâu tây bơi trong champagne sủi bọt và một đĩa thủy tinh dâu tây rắc bột dừa. Anh ta đặt tất cả trước mặt cô và nói:
- Chị có cả một ngày tuyệt đẹp ở phía trước. Hai hôm trước đây tôi đã nhìn thấy triển lãm này. Renoir là người theo trường phái ấn tượng duy nhất chỉ vẽ vì sự thích thú, vậy chị sẽ đặc biệt thích thú ở d Orsay. Nếu hôm nay không phải làm việc, tôi sẽ hỏi xem có thể đi cùng dự được không. Nhưng hôm nay tôi sẽ hoàn toàn không ngắm các bức tranh.

Trước khi đi, anh ta lại gần chiếc ghế chị đang ngồi, sửa lại những bông cúc trong chiếc bình gốm nhỏ cạnh ly champagne trên bàn chị và nói:
- Hơn nữa, trông chị tuyệt đẹp với mái tóc ướt và không trang điểm.
Thật tốt biết bao khi anh ta nói lên điều đó - cô nghĩ với lòng biết ơn.

Bởi cô đang muốn "trông tuyệt đẹp" và cho cả thế giới biết điều đó. Đặc biệt là lúc này, ở đây, ở Paris này trong mấy ngày sắp tới. Việc này đáng giá cả một gia tài, nhưng cô đã đăng ký từ Warszawa, tất nhiên là qua Internet, giờ đến thợ làm tóc ở Paris. Chỉ cách khách sạn của họ vài con phố. Một ngày trước khi anh đến.
Cô ăn hết croissaint. Cà phê rất ngon với vị đăng đắng của whisky. Sau khi uống cạn champagne, cô dùng ngón tay lấy quả dâu tây trong cốc và chậm rãi cho vào miệng. Cô cảm thấy nhờ tách cà phê thứ hai và ly champagne mà cách nhìn nhận thế giới của cô bắt đầu gần với của Asia. Điều này thật tuyệt vời cô nghĩ. Bởi họ sẽ có những kỷ niệm chung từ cuộc triển lãm này cho phần còn lại của thế kỷ sắp kết thúc.
Ôi Chúa ơi, lúc này cô muốn được chạm vào môi anh biết bao. Chỉ chạm thôi - cô nghĩ. - Lại bắt đầu rỏi. Mình uống cái thứ cồn này để làm gì cơ chứ?!


Cô đứng dậy rất nhanh, đeo tai nghe và xoay núm âm lượng của máy nghe. Lúc này cô cần nhạc to và nhất thiết phải là Van Morrison. Đi qua phòng ăn ra cửa, cô giơ tay và không quay đầu lại, vẫy những ngón tay để tạm biệt. Cô cứ cho rằng tay trực lễ tân đang quan sát cô. Đến cửa, cô bất ngờ quay lại. Cô đã có lý! Anh ta nhìn theo cô.
ANH: Sau bữa tối anh bắt đầu lang thang qua các câu lạc bộ, các quán bia và nhà hàng thuộc khu Pháp của New Orleans. Như ngày nào. Nhưng không còn như những ngày xưa nữa. Giờ đây anh phải tìm lại niềm vui và sự vô tư ấy. Thời đó lúc nào anh cũng cảm nhận được chúng.
Như hồi ấy, đi qua đèn neon ở cửa vào một trong số các câu lạc bộ ban đêm, anh dừng lại mở chai bia đã được cơ thể làm ấm lên trong túi quần sau. Cuộc sống đó là khát khao. Những gì còn lại chỉ là chuyện nhỏ - dòng chữ nhấp nháy từ chiếc đèn neon cong cong.


Anh nghĩ rằng thành phố này có thể được định nghĩa chính xác bằng nội dung từ cái đèn neon ấy. Quả là mọi người đến đây để dù là chỉ trong vài ngày thực hiện khát khao của mình. Thậm chí cả khi họ không ý thức được hết điều này.
Những gì còn lại chỉ là chuyện nhỏ - anh nghĩ và cười thầm.


Anh về khách sạn vui vẻ và phấn chấn. Khoảng một giờ sáng anh ra khỏi câu lạc bộ Razoo có máy lạnh trên góc phố Bourbone và Vaness và rơi ngay vào màn đêm ẩm và ngột ngạt của New Orleans. Mặc dầu vào ban đêm, nhưng vẫn nóng khoảng 36 độ với độ ẩm lên đến 93 phần trăm. Phố nhộn nhịp. Đám đông sặc sỡ những du khách hò la bằng tất cả các thứ tiếng có thể, di chuyển như một đám diễu hành trên Bourbone Street, dừng lại bên cửa các câu lạc bộ và nhà hàng có tiếng nhạc lọt ra .


Thế giới thay đổi, nhưng may mắn thay Bourbone Street không thay đổi. Vẫn điên cuồng y như trước - anh nghĩ. Hẳn vì thế mà ở đây bao giờ cũng biết bao là người.


Anh đi qua hai ngã tư, rẽ sang Conti Street và đến Dau-phine Street. Chẳng mấy chốc anh đã đứng trước khách sạn, một tòa nhà hai tầng theo kiểu thuộc địa, có nho leo và được trang trí bằng mấy lá cờ Mỹ lớn được chiếu sáng bóng đèn pha đặt trên sân thượng của ngôi nhà bên kia đường. Những ngôi sao trên cờ nhấp nháy bởi những bóng điện màu xanh. Anh cười một mình, lại thêm một lần nghĩ rằng người Mỹ đôi khi vui nhộn và nhắng nhít một cách ngây thơ trong chủ nghĩa yêu nước của mình.


Đi qua quầy lễ tân trong sảnh lớn có máy lạnh, lấy chìa khóa từ người trực lễ tân đang ngái ngủ, anh đã định lên phòng, nhưng đột nhiên nghe thấy tiếng nhạc từ hiên phía nam của khách sạn. Anh do dự một lúc, không biết có nên đến đó không. Sáng sớm anh bay đi New York. Anh đã hình dung ra nỗi khổ sở khi chuông báo thức reo. Mặc dầu vậy anh vẫn nghĩ rằng hôm nay mình sẽ đi uống lần cuối và nghe loại blues ấy. Chỉ một lúc thôi. Anh quay lại ở giữa chừng cầu thang và đi ra hiên.


Đó là một sân trời điển hình của những gia đình thuộc địa giầu có trong Khu Pháp, có đài phun nước nhỏ bằng đá ở giữa bể bơi hình ô-van được phủ một lớp đầy huệ trắng, là thứ hoa chỉ có thể mọc to đến thế trong khí hậu này. Dưới chân tường nhà là một quầy bar nhỏ, được chiếu sáng chỉ bằng những chiếc đèn mô phỏng những ngọn nến, xung quanh có mấy cái bàn tròn mặt đá trắng và những cái ghế kim loại nhỏ có phần tựa rất vui mắt. Một cây cọ to, tán lá che cho chiếc đèn dùng để chiếu sáng, một sàn nhảy nhỏ ở phía sau đài phun nước. Một chiếc đàn piano trắng ở phía quầy bar. Một thanh niên da đen trong chiếc kimônô đen và chiếc sơ-mi trắng được trang trí hình con ruồi đen đệm đàn cho một phụ nữ da đen đứng tuổi, đẫy đà, mặc chiếc váy óng ánh dài chấm đất. Mặc dù trời tối, chị ta vẫn đeo cặp kính râm to. Chị ta hát blues.
Bên cạnh piano là những chiếc trống của bộ gõ, không có ai ngồi ở đó, nhưng ngay gần đấy là một thanh niên da trắng muốt ngồi trên sopha, ghi- ta để trên đùi và uống drink.


Ngoài hiên, bản blues mẫu mực Bring it home to me đã kết thúc. Im lặng một lúc. Jakub đến chỗ quầy bar, gọi whisky với soda và đá rồi ra ngồi bên chiếc bàn gần piano nhất. Người chơi ghi-ta đột ngột đứng dậy, ra hiệu cho nữ ca sĩ, chị này rút micrô ra khỏi giá. Anh ta bắt đầu chơi. Jakub hiểu ngay, đó là gì.


Anh chậm rãi nhấm nháp whisky, nghe và tự nhiên bắt đầu lắc lư theo nhịp điệu của âm nhạc. Bỗng một cô gái da trắng mặc chiếc chân váy nâu sát đất, áo đen hở bụng đi ra sân khấu. Cô ta đi giầy đen cao gót, tóc đen dài ngang vai. Tay trái cầm một cái cốc thủy tinh to đầy một nửa.


Anh đã để ý thấy cô ta từ trước, lúc gọi đồ uống ở quầy. Bụng và mặt cô ta, da trắng như thạch cao hoàn toàn không được tắm nắng, đôi môi đầy đặn ngăn cách với mặt bởi màu đỏ sẫm của cô ta đã khiến anh chú ý. Cô ta ngồi tư lự, không nói gì ở bàn bên với một thanh niên mặc complê mặc dù trời nóng, tay cầm điện thoại di động. Họ ngồi cùng với một đôi khác. Cô gái thứ hai có mái tóc nâu dài đến vai với những lọn tóc được tết lẫn với những sợi len đủ màu sắc. Cô này mặc quần ngắn, để lộ ra cặp chân dài khác thường. Chiếc áo phông đen bo chật, căng trên bộ ngực của cô ta và kết thúc cách rốn một đoạn xa. Anh bạn trai của cô ta cao, mảnh dẻ, tóc nâu sáng, mặc áo phông thể thao trắng để hở những bắp thịt rất ấn tượng và một hình xăm màu xanh - đỏ bên bắp tay trái. Họ cầm tay nhau, thầm thì điều gì đó vào tai nhau và cứ chốc chốc lại phá lên cười. Nhìn họ có vẻ là người châu Âu và rõ ràng là bộ tứ ấy đi cùng nhau.


Cô gái trên sàn gỗ bắt đầu chậm rãi nhún nhảy. Mắt nhắm và cái cốc lúc nào cũng ở trong tay.
Rock me baby, rock me all night long...


Blues càng lúc càng nhịp nhàng hơn. Bỗng nhiên cô ta đến chỗ Jakub, nhìn vào mắt anh, cười, không hề hỏi xem anh có đồng ý không, đặt cốc của mình cạnh cốc của anh, và những ngón tay cô chạm nhẹ vào cổ tay trái anh. Cô ta trở lại sàn gỗ.
Rock me baby, and I want you to rock me slow, I want you to rock me baby till I want no more...
Mông cô ta nâng lên, hạ xuống, xoay vòng và uốn lượn. Thỉnh thoảng, để làm cho chuyển động của mông mạnh hơn, cô ta đặt tay lên chúng rồi đẩy ra phía trước. Miệng hơi hé và lưỡi khẽ đẩy ra.


Rock me baby, like you roll the wagon whell, I want you to rock me, baby, you don t know how it makes me feel…


Cô ta lại đến gần bàn anh, đứng đối diện anh. Không rời khỏi chỗ cô ta chỉ nhịp nhàng lắc mông. Tay phải đặt lên ngực trái, giống như lính thủy đánh bộ Mỹ khi nghe quốc ca, còn tay trái đặt lên môi. Anh nhìn rất rõ ngón tay đeo nhẫn chầm chậm đưa vào miệng rồi lại đưa ra của cô ta như thế nào.


Anh bỗng cảm thấy xấu hổ và theo bản năng, ánh mắt trốn chạy sang bên cạnh. Anh để ý thấy cố gái tóc vàng ngồi lên đùi cậu bạn trai xăm tay; cả hai lắc người theo nhịp điệu của âm nhạc. Cô ta duỗi cặp chân dài, thả dọc theo chân anh bạn và cọ xát hông anh ta khi nhảy blues cùng anh ta ở tư thế ngồi. Anh ta ốm cô ta ở đoạn bo của cái áo phông ngắn, rìa bàn tay chạm vào bộ ngực không có nịt của cố ta, nhô lên rất rõ dưới lần áo. Chỉ có người đàn ông trong bộ complê xám là không chú ý đến ai khác, chỉ mải nói chuyện.
Want you to rock me baby till I want no more...
Anh say sưa nhìn cô gái đang nhảy. Không nghĩ rằng lại có thể nhảy blues đẹp đến thế. Anh nhìn quanh. Tất cả đều nhìn cô ta. Đàn bà cũng như đàn ông, đều tò mò và ngạc nhiên như nhau.
Thông thường thì đàn bà rất ghét những phụ nữ gây sự chú ý của đàn ông bằng sự gợi tình rẻ tiền và dung tục. Họ cho rằng sự rẻ tiền và dung tục ấy sẽ dẫn tới việc thối phồng sự ganh đua chung đối với tất cả phụ nữ trong các mối quan hệ với đàn ông. Mặt khác, họ lại cực kỳ thống nhất trong sự ngạc nhiên, khi sự gợi tình ấy đạt được mức tinh xảo thực sự. Với cô gái nhảy với trí tưởng tượng như vậy thì không thể không nói đến sự tinh xảo ấy. Thậm chí cả khi phải ghen với cô ta vì sự chú ý, vì sự tưởng tượng mà cô ta tạo ra, dù có thể ngạc nhiên về cô ta mà thôi.


Anh nghĩ rằng những người đàn ông có mặt ngoài hiên không nghĩ đến việc cô ta có khiến họ ngạc nhiên hay không. Anh cho rằng nói chung họ chẳng nghĩ gì hết. Tối đa thì họ cũng chỉ tha hồ mà tưởng tượng. Và chủ yếu là về một chủ đề.
Bỗng nhiên cả anh nữa, cũng nghĩ về tình dục.
Với một ngoại lệ duy nhất - khi "dụ dỗ" cô trên mạng trong quán bar đêm của cái khách sạn ở Warszawa ấy - những buổi trò chuyện với cô chưa bao giờ đề cập trực tiếp đến tình dục. Cô đã có chồng - do đó mà anh không thể nói về đế tài này mà không cảm thấy có lỗi hoặc một sự bất an trong lòng. Anh không muốn rơi vào cái bẫy tầm thường của tam giác hôn nhân. Trên mạng, nơi không phải chịu những cám dỗ của sự gần gũi như mùi nước hoa, một bàn tay ấm áp hay giọng nói run rẩy, thì điều này dễ thực hiện hơn nhiều. Rất dễ để giữ mối quen biết ở mức độ một tình bạn đầy ắp thân thiện với những câu tán tỉnh mập mờ. Cô không cần phải tuyên bố gì hết trong khi vẫn giữ được, ít ra thì cũng về mặt hình thức, thân phận của một người bạn ảo "không làm điều gì xấu". Vế mặt hình thức, anh không có lý do để thất vọng vì không có ngoại lệ, khi kể về những sự kiện trong cuộc sống của mình, cô thường dùng số nhiều. Họ quan hệ với nhau theo một phương thức được kiểm soát sao cho có thể biểu thị sự sẵn sàng đi đến một tuyên bố, nhưng đã không có bất kỳ một tuyên bố nào cả. Vì sự thanh thản của lương tâm.


Nhưng trong mối quan hệ của họ, nhục thể xuất hiện hầu như trong mỗi câu chuyện trên ICQ và hầu như trong mỗi bức e-mail. Trong những đoạn viết về những sự kiện hay tình huống mang ý nghĩa kép, họ lén lồng vào những khát khao và mong ước rất đơn nghĩa của mình. Anh tin chắc rằng những cuộc gặp gỡ trên mạng của họ còn có nhiều những đụng chạm tình cảm hơn là những cuộc gặp gỡ của nhiều đôi gọi là bình thường trong những tối tháng năm trên ghế đá công viên. Họ nói về tình dục nhưng chưa bao giờ gọi theo tên của nó.


Bây giờ ở Paris, tất cả những điều này - cuối cùng - phải thuộc về quá khứ Một mặt, ý nghĩ về cuộc gặp, mà nó phải đến, kích thích như đoạn đầu của một giấc mơ tình ái, mặt khác nó lại, sinh ra cảm giác căng thẳng và bất an. Ở Paris, sau cánh cổng của sân bay, tưỏng tượng là có thể qua đi cùng với hiện thực. Những gì đã có giữa họ, phát triển trên cơ sở của sự mê hoặc bằng lời nói hoặc ý nghĩ được thể hiện qua những con chữ. Do đó mà hẳn nó luôn luôn mãnh liệt dữ dội đến thế là bởi không có cơ hội đề được thỏa mãn một cách thật sự.


Anh cảm nhận sự quyến rũ của cô mà không nhìn thấy cô. Không chỉ một lần anh đã hưng phấn đến mức độ bị cương cứng khi đọc những dòng cô viết. Tình ái đó luôn là tác phẩm của trí tưởng tượng, song với phần lớn mọi người thì là trí tưởng tượng được thôi thúc bởi nhục dục nào đó. Trong trường hợp của anh, phần nhục thể trong cô giống như những bài thơ tình ái của một tập thơ. Thêm vào đó, có một ai đó vẫn luôn viết tập thơ này.
Bao giờ anh cũng thích những bài thơ tình ái. Anh thích cả học thuộc chúng nữa. Từ thời học phổ thông trung học, anh đã nhớ hàng chục bài thơ Ba Lan, cộng thêm vài bài của Rilky. Bằng tiếng Đức! Những đấy là mãi gần đây, khi anh bắt đầu "cảm nhận" được tiếng Đức, thậm chí anh còn mơ bằng tiếng Đức. Trước đây anh cứ tưởng rằng tiếng Đức là để dành cho la ó hơn là cho thơ ca. Đó chắc là một hành trang lịch sử thừa của Ba Lan.


Anh nghĩ vậy khi uống những cốc whisky tiếp theo và nhìn cô gái nhảy trên hiên của Dauphine Hotel ở New Orleans. Anh hơi nhầm lẫn giữa tình ái và tình dục. Đấy chắc là bởi thứ rượu này, bởi cô gái này và bởi âm nhạc này.
- Đúng thế, cơ bản là bởi âm nhạc này! - anh nghĩ.
Từ hơn chục năm nay, âm nhạc, không nhất thiết phải là blues, thường khiến anh liên tưởng đến tình dục. Có một phụ nữ đã dạy anh điều này, lâu lắm rồi.
Thậm chí có khi còn trước cả khi anh đến New Orleans. Anh nhận được học bổng của Bộ cho các nghiên cứu trong khuôn khổ dự án chung của trường Wroclaw của anh với Đại học Tổng hợp Dublin ở Ireland.


Khi anh đến, đang là mùa xuân xám, lạnh và mưa ở Dublin. Anh làm việc trong trung tâm máy tính của khoa Gien học tại khu vực phía đông của trường, năm gần như giữa trung tâm Dublin. Anh ở phòng khách trong khu vực trường nó khiến anh nhớ đến một mê cung gớm guốc của những tòa nhà bằng gạch đỏ nối với nhau. Người ta bảo anh rằng từ phòng anh, có thể đi theo các hành lang để đến phòng thí nghiệm máy tính mà không cần phải ra ngoài. Một lần, vào buổi tối, anh thử làm điều đó, nhưng khi rơi vào phòng giải phẫu hôi mùi naptalin và ẩm ướt với những cái xác trần truồng trên những chiếc bàn kim loại của khoa y, thì anh quyết định sẽ để cho mình được yên thân.
Suốt tháng đầu, anh làm không kịp thở. Anh bị rơi vào trạng thái thôi miên đầy hưng phấn. Trong ba tháng, nhờ có tiền của ONZ, anh. để lại "bảo tàng" của mình ở Ba Lan, nơi mà muốn sử dụng máy photocopy phải viết đơn lên trưởng khoa, và đến với thế giới mà ở đó những chiếc máy photocopy có mặt trong sảnh của nhà ăn của trường. Làm sao mà có thể không hưng phấn cho được?
Về nguyên tấc, anh chỉ di chuyển theo một lộ trình, từ phòng làm việc của anh trong trung tâm máy tính, qua nhà ăn, ở đó anh ăn vội bữa trưa, đến phòng anh, nơi anh đi ngủ vào hai giờ đêm, mệt bã và hưng phấn vì ngây vừa qua, để rồi bảy giờ sáng đã dậy. Mãi sau một tháng, anh mới nhận thấy ngày càng có nhiều hơn những lúc mà anh cảm thấy cô đơn đến khổ sở. Anh cần phải thoát khỏi cái vòng sống khép kín và chỉ có công việc ở Dublin này.
Vào một kỳ nghỉ cuối tuần kéo dài nào đó, anh đi tàu đến bờ biển phía tây-nam của đảo, thành phố nhỏ Limerick, nằm trên một vịnh cách biệt, ăn sâu vào đất liền giống như vịnh Fio của Nauy. Suốt ngày anh lang thang ngoài bờ biển, chỉ dừng lại trong những quán rượu nhỏ Ireland, uống guinness và nghe rởm những câu chuyện của dân địa phương và cố hiểu lấy một chút gì đấy. Thực ra thì anh chẳng hiểu được tí gì và kể cả những cốc guinness tiếp theo cũng không làm thay đổi được tình hình. Dân Ireland không chỉ nói khác. Dân Ireland đơn giản là khác. Hiếu khách, bướng bỉnh, giấu sự nhạy cảm của mình sau những nụ cười. Trong cách nhìn nhận thế giới của mình, họ rất Ba Lan.
Anh dự tính chuyến đi sao cho được ngồi ngắm hoàng hôn trên một điểm nhô ra nhất phía dưới chân Chffs of Moher nổi tiếng. Bức tường đá lởm chởm trên hai trăm mét, lốm đốm những đám cỏ xanh và dốc thẳng xuống dưới. Mặt trời lặn theo nhịp của những con sóng biển đập vào bờ đá. Anh nhớ là khi đó ở đấy trên tảng đá ấy, bỗng nhiên anh thấy buồn vô cùng. Nhìn những đôi ôm nhau tựa vào vách đá, những ông bố bà mẹ dắt tay con, những toán bạn bè uống bia và trao đổi to với nhau những ấn tượng, anh chợt cảm thấy mình thực sự bị bỏ rơi và không cần thiết cho ai. Anh đi tàu về Dublin vào tối khuya. Ngoài anh, trong khoang còn có một phụ nữ đứng tuổi ăn vận lịch sự. Bà ta ngồi ở chỗ cạnh cửa sổ. Trong chiếc váy đen dài chấm đất, giầy buộc dây, cặp kính trễ xuống gần mũi và chiếc mũ che đi búi tóc muối tiêu được cài bằng những cái trâm bạc, trông bà ta như một hành khách đi tàu của thế kỷ mười chín. Nhìn bà ta đoan trang, khó gần và đẹp theo kiểu của mình. Bà ta cười khi anh hỏi liệu có thể ngồi trong khoang của bà được không. Sau mấy phút, anh lấy Playboy đã mua trong quầy báo ở nhà ga Limerick để trong ba-lô ra. Được một lúc, anh thấy mệt vì đọc nên để cuốn tạp chí sang bên cạnh. Anh định ngủ thì bà già hỏi có thể xem qua "Tạp Trí này" được không. Câu hỏi làm anh ngạc nhiên. Mặc dù đánh giá Playboy – anh có một bộ sưu tập không tồi ở tất cả các thứ tiếng được phát hành - là một tạp chí hấp dẫn, được làm có đẳng cấp, nhưng bà già này vẫn không hợp với nó thế nào ấy. Anh đưa cho bà ta không một lời bình luận. Bà già thong thả lật các trang, thỉnh thoảng dừng lại và đọc một vài đoạn.
Im lặng. Anh nhìn qua cửa sổ. Cảm nhận sự qua đi của cái mệt sau một ngày đầy ắp ấn tượng. Anh nghĩ rằng khi về đến Dublin, anh sẽ ngồi trước máy tính với cảm giác thoải mái. Sau nửa tiếng họ đi đến Port Laoise, một địa danh nhỏ nằm ở khoảng giữa Limerick và Dublin. Bà già đứng dậy chuẩn bị xuống. Khi tàu dừng, bà trả anh tờ Playboy và điềm đạm nói:
- Anh biết không, thậm chí **** (sự giao cấu) giờ đây cũng không còn mang ý nghĩa như ngày xưa nữa. Đúng là tiếc thật . Bà ta cười với anh và đóng cửa khoang.
Anh cười một mình, ngạc nhiên và buồn cười vì lời bình luận kia. Bà ta hoàn toàn có lý với cái sự **** ấy - một lát sau anh nghĩ.
Ngoài ra, khi bà ta xuống tàu, một cảm giác nuối tiếc lạ lùng ùa vào anh... Sẽ không bao giờ còn được gặp bà già ấy nữa. Bà xuất hiện trong cuộc đời anh trong vài khoảnh khắc và không bao giờ còn quay trở lại. Mà anh thì muốn gặp lại bà một lần nữa. Mọi người chuyển động theo những lộ trình đã được vạch sẵn bởi số phận hay định mệnh - tên gọi không quan trọng. Chúng giao cắt với lộ trình của chúng ta trong chớp mắt rồi lại đi tiếp. Còn hơn cả hiếm và chỉ rất ít ở lại lâu hơn và muốn đi trên con đường của chúng ta. Tuy nhiên cũng có những người xuất hiện đủ lâu, để người ta muốn giữ họ lại. Nhưng họ vẫn đi tiếp. Như bà già vừa xuống tàu ban nãy, hay như cô gái xinh đẹp mà anh say sưa ngắm nhìn lúc xếp hàng trong nhà băng. Bao giờ anh cũng buồn khi một điều gì đó như vậy xảy ra. Anh rất tò mò không hiểu những người khác có cảm nhận nỗi buồn như vậy không?
Ở Port Laoise, một người đàn ông thân hình cân đối, trạc tuổi anh tươi cười bước vào khoang. Ngay lập tức anh nhận thấy anh ta nói hơi nặng và sau vài phút trò chuyện anh nhìn anh ta chăm chú hơn. Một cái gì đó chạm vào anh và anh đột ngột mạo hiểm hỏi:


- Anh có nói được tiếng Ba Lan không?
Người này chỉ cười và trả lời ngay:
(*) Tộc người Rastaman ở Trung Mỹ. Phần lớn có tóc xoăn, hút cần sa và rất thân thiện, cởi mở với mọi người.


(*)Bánh sừng bò

- Tất nhiên... đúng rồi... đúng là anh! Đã có lần tôi nhìn thấy anh trong nhà ăn của đại học tổng hợp.
Thì ra anh ta tên là Zbyszek, đã ở đây được một năm, làm tiến sĩ và đi từ Warszawa. Họ chuyển ngay sang gọi ông tôi. Thì ra anh ta làm tin học, viết phần mềm thiết kế bán dẫn công suất lớn. Họ đang chọn trong câu chuyện về máy tính, điện tử và các kế hoạch của mình thì anh bắt buộc phải xuống Dublin.
Tình bạn của họ đã bắt đầu như vậy, và hai tháng sau đã chấm dứt một cách đột ngột và vô nghĩa.
Kể từ cuộc gặp gỡ trên tàu lần ấy, anh ta thường hay đến chỗ anh. Thực ra là họ gặp nhau hàng ngày. Họ quí mến nhau và cùng nhau suốt cả ngày. Một tối, họ đến quán rượu gần phòng thí nghiệm của anh. Đang ngồi thì Zbyszek đứng dậy và hôn chào một cô gái tươi cười. Họ trao đổi với nhau mấy câu bằng tiếng Anh và quay lại chỗ anh. Zbyszek giới thiệu cô ta:
- Cho phép tôi giới thiệu với ông cô bạn của tôi, Jennifer. Jennifer là người Anh và học kinh tế ở đây. - Anh ta cười nói thêm: - Cô ta thích tôi chắc là vì Chopin cũng là người Ba Lan.
Cho tới lúc ấy anh chưa bao giờ gặp người phụ nữ nào có hàng mi dài đến thế. Chúng phải là thật vì không có một loại trang điểm nào có thể kéo dài mi được đến như vậy. Đôi lúc anh cứ tưởng như cô ta nghe mà mắt thì nhắm lại. Lúc đầu trước khi quen với hình ảnh của chúng, anh không thể không tập trung nhìn vào mắt cô ta. Với hàng mi ấy, với mái tóc sẫm gần như đen dài ngang vai ấy, thì đôi mắt xanh thẫm của cô hoàn toàn không phù hợp vời khuôn mặt. Đã thế nhìn chúng lúc nào cũng như hơi thấm nước mắt. Người không quen biết có thể tưởng là cô đang khóc. Khi cô cười đầy thân thiện và những giọt nước mắt kia luôn long lanh trong mắt, trông cô tuyệt đẹp.
Cô ta mặc quần đen bó sát và áo len casmia cổ nhọn khoét sâu. Bộ tai nghe lớn, đương nhiên cũng màu đen của chiếc walkman được cài vào chiếc thắt lưng quần ôm sát vòng hông rộng, bao quanh cổ cô. Người mảnh dẻ, nên với chiều cao khiêm tốn của mình, cô tạo ấn tượng là một người rất mong manh. Thậm chí là dễ vỡ. Do đó mà phần hông rộng và bộ ngực to, nặng một cách không cân đối nhô cao dưới lần áo rất thu hút sự chú ý. Jennifer biết là bộ ngực của cô không để cho cánh đàn ông "được yên". Hầu như bao giờ cô cũng mặc đồ chật.
Cô ta chìa tay cho anh, đưa sát miệng anh. Nhìn vào mắt anh cô thầm thì:
- Anh hôn đi. Em rất ngưỡng mộ nhìn các anh, những người Ba Lan hôn tay phụ nữ khi gặp mặt.
Bàn tay cô thơm mùi hoa nhài pha một chút vani. Thật kích thích: sự thầm thì ấy, mùi thơm ấy. Và bộ mông ấy. Ngoài ra anh rất ngưỡng mộ những bộ ngực to và nặng của những phụ nữ mong manh.
Anh tự giới thiệu. Cô hỏi anh chữ viết tắt tên thứ hai của anh là gì và khi biết đó là "L" thì cô ta nói điếu gì đó mà lúc ấy anh hoàn toàn không hiểu.
- JL, giống như là Joni và Lingam. Chữ viết tắt của anh là hờn dỗi. Điều này hứa hẹn sự sung sướng.
Và khi anh phân vân, cô ta nghĩ gì với cái sự hờn dỗi kia, thì cô ta hỏi liệu có thể đổi lại và nối các chữ viết tắt lại và gọi anh là Eljot. Anh cười ngạc nhiên, nhưng đồng ý vì cho rằng nó rất thuần phác.
Anh đã làm quen với Jennifer người đảo Wight như vậy.
Kể từ lần ấy anh rất hay gặp gỡ với cô. Hầu như bao giờ cô cũng mặc màu đen và hầu như bao giờ cũng đeo tai nghe walkman quanh cổ. Bởi Jennifer, trên tất cả, có lẽ trừ tình dục, yêu âm nhạc và bất cứ lúc nào rảnh rỗi cũng nghe nhạc. Như về sau anh thấy, cô nghe nhạc cả vào những lúc mà bình thường không có cách gì để xác định là "rảnh rỗi" được.
Hơn nữa, Jennifer chỉ nghe nhạc cổ điển. Cô biết tất cả về Bach, cô có thể kể ngày này sang ngày khác về Mozart, vừa ngâm nga những đoạn menuet, concerto hoặc opera của ông ta, cô biết lời của hầu như tất cả các vở nhạc kịch, mà anh thậm chí đến tên của chúng cũng không biết. Cô là người nước ngoài duy nhất anh biết có thể đọc và viết họ của Chopin như người Ba Lan, là "Sz". Cô hỏi anh về Chopin và khi biết là anh không thể nói cho cô nhiều hơn những gì chính cô biết, thì cô thất vọng. Sau một thời gian, anh không thể không nhận thấy càng ngày Jennifer càng hay xuất hiện ở những nơi mà anh lui tới.
Có một cái gì đó rất kích thích trong bản thân cô. Hiểu biết một cách khác thường - tự cô khẳng định là "rất đáng ghét:. Điều này đã đẩy nhiều đàn ông ra xa cô, những người bị cô hấp dẫn bằng hình thức và sự gợi tình đầy khiêu khích, nhưng chỉ sau vài phút nói chuyện, những người ấy biết rằng, họ không đặc biệt có ý muốn vắt óc "đến vậy" để kéo cô ta lên giương. Phần lớn trong số họ thì đàng nào cũng không có một cơ may nào, còn những người có được cơ may thì lại mắc phải sai lầm lớn khi bỏ cuộc, bởi Jennifer là một phần thưởng lớn cho sự vắt óc ấy.
Cô thật bí ẩn. Cô đã gây ấn tượng mạnh đối với anh. Ngay từ giây phút đầu tiên. Cô biết lắng nghe, rất thẳng thắng có trí nhớ về hình ảnh. Có những khi cô đa cảm, nhút nhát và hay xấu hổ để rồi chỉ trong chốc lát đã trở thành thô tục hết cỡ. Trong vòng vài giây cô có thể chuyển từ phân tích các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán London - là một khách từ Ba Lan "cộng sản và bị đàn áp" bao giờ vấn đề này cũng khiến anh thích thú - sang câu chuyện thầm thì về việc tại sao cô lại khóc mỗi khi nghe Aida của Verdi. Cô cũng đã khóc thật bên bàn ăn trong nhà hàng, khi kể với anh về chuyện này. Anh còn nhớ là những người phục vụ bàn đã nhìn anh căm thù như thế nào vì họ nghi là anh đã xúc phạm cô ghê gớm lắm.
Cô là người khó gần. Anh thích cô, nhưng chưa đến mức để bỏ bê môn gien học của mình và "đầu tư" thời gian để chiếm được cô và kiểm tra xem thực sự cô khó gần đến đâu. Anh chấp nhận để Jeunifer khơi dậy trong anh những xao động và sự quyến rũ được giấu kỹ, chúng khiến anh muốn thử còn anh thì đơn giản là không cưỡng lại điều đó. Cho khoa học và Ba Lan - anh cười trong tâm tưởng.
Hôm ấy là ngày lễ đặt tên của anh. Cho dù không phải lịch nào cũng ghi tên Jakub vào hôm ấy, anh vẫn tổ chức lễ đặt tên của mình đúng vào 30 tháng tư. Như mẹ anh muốn. Vì rơi vào giữa tuần nên anh mời mọi người đến phòng mình vào thứ bảy gần nhất. Đã gần nửa đêm, nhưng anh vẫn làm việc không nghỉ trong phòng làm việc cửa mình. Bỗng anh nghe thấy tiếng gõ cửa rất khẽ.
Jennifer
Hoàn toàn khác. Không đeo tai nghe ở cổ và không mặc màu đen!
Cô mặc quần bó màu tím nhạt và chiếc áo hồng nhạt không cài cúc buông xuống quần. Không mặc nịt vú, điều này thì có thể thấy rõ với bộ ngực của cô qua lớp vải áo. Tóc buộc thành lọn rất nghịch bằng khăn lụa cùng màu với quần. Cặp mắt ướt long lanh được cô nhấn bằng màu tím nhẹ và môi được tô cũng màu ấy. Viền môi được cô vẽ bằng gam màu tím đậm hơn, cho ta cảm giác là miệng cô đặc biệt rộng. Anh nhìn cô như bị bỏ bùa mê, không giấu nổi sự ngạc nhiên.
- Anh có nghĩ là Chopin cũng tổ chức mừng lễ đặt tên không? Em không thể biết được điều này ở bất cứ nơi nào. Em muốn kịp chúc anh trước nửa đêm. Và đã kịp. Bây giờ mới là mười hai giờ kém tám phút.
Cô đến gần anh, đưa những ngón tay lên và lướt môi mình lên miệng anh. Cô ôm anh. Anh quyết định hỏi cô xem hãng nào trộn hương nhài với vani trong loại nước hoa cô dùng mà tuyệt vời đến thế. Cô thơm y hệt như lần đầu tiên anh gặp cô.
Nhìn thấy anh đứng, không biết làm gì với tay, cô lùi lại và nhìn vào mắt anh, đưa cho anh một con hổ nhỏ bằng nhung vàng, trên bụng có thêu dòng chữ bằng tiếng Anh màu đen Get physical . Cô nói:
- Đây là quà cho anh nhân ngày lễ đặt tên. Còn bây giờ thì anh thôi không làm việc nữa. Em mời anh sang bên em. Em hứa là sẽ không kiểm tra anh vế Chopin nữa đâu.
Anh cười, ngạc nhiên và cứ nghĩ mãi, không biết Get physical có chắc chắn có nghĩa là anh được chạm vào cô không. Anh muốn rằng nó đúng là có nghĩa như vậy. Hôm nay trông cô không bình thường. Nữ tính, bí ẩn, rất khác mọi khi. Cái

Pizza

Pizza magnify
Today's Spotlight is all about a special food eaten all around the world. It is pizza ! Very simply, pizza is a food made by putting meat and vegetables on top of bread. All around the world people enjoy different food toppings on their pizzas.

Chương trình Spotlight hôm nay sẽ tập trung nói về một món ăn đặc biệt được cả thế giới ưa thích, đó chính là pizza ! Nói một cách dễ hiểu thì pizza là một món ăn có thịt và rau đặt ở giữa bề mặt bánh bột mì. Cả thế giới thưởng thức các loại thực phẩm khác nhau trên bề mặt chiếc pizza của họ.
In Brazil, green peas are popular on pizza.

Ở Brazil, nhiều người thích ăn pizza với đậu Hà Lan màu xanh.

In Japan, food from the sea, like eel and squid are popular.

Ở Nhật, người ta thích các loại hải sản như cá chình và mực ống.

In Costa Rica, people enjoy the coconut fruit on top of their pizzas.

Ở Costa Rica, người ta thích ăn pizza có cùi dừa trên bề mặt.

In Italy, the crust, or bread, of the pizza is the most important part. It is more important than anything that goes on it!

Ở Ý, vỏ bánh, nói cách khác là bột mì là thành phần quan trọng nhất trong pizza. Nó quan trọng hơn bất cứ thứ gì !

But in the Netherlands toppings are very important ! A popular pizza in the Netherlands is called the "double dutch." It has two times the cheese, two times the onions, and two times the beef ! It has two times the toppings !

Nhưng ở Hà Lan, mặt trên của bánh lại cực kỳ quan trọng ! “Bánh đôi kiểu Hà Lan” là một loại pizza được ưa thích ở Hà Lan với gấp đôi pho-mát, củ hành và thịt bò ! Nó có mặt trên dày gấp đôi !

As you can see, there are many different ways to eat pizza. And each way is correct. The simple design of pizza is the same all over the world. But everyone likes something different on top of it ! Normally different cultures have their own kinds of food. A food that is popular in one culture will not always be popular in another culture. But pizza seems to cross all these barriers. Pizza is popular in almost every part of the world ! So, why is pizza so popular ? Where did it even come from ?

Như bạn thấy đấy, có nhiều cách để thưởng thức pizza và cách nào cũng đúng. Về mặt cơ bản thì pizza trên khắp trên thế giới đều giống nhau ở kiểu dáng nhưng mặt trên của nó thì mỗi người mỗi ý thích. Thông thường mỗi dân tộc có những loại thực phẩm riêng của họ. Một món ăn thông dụng trong dân tộc này thường sẽ không thông dụng trong dân tộc khác. Nhưng dường như pizza lại khác hẳn. Pizza gần như thông dụng ở mọi nơi trên thế giới ! Thế thì tại sao pizza lại thông dụng đến vậy ? Nó xuất phát từ đâu ?

Well, no one really knows where the idea for pizza started. But experts do agree that the design, or recipe, for pizza was probably put together using different ideas from different cultures. A few cultures already had a simple common recipe for pizza almost two thousand [2000] years ago !

Thật sự thì không ai biết rõ pizza xuất phát từ đâu. Nhưng theo các chuyên gia khẳng định thì hình dáng cũng như công thức là do sự kết hợp từ các ý tưởng khác nhau của nhiều dân tộc. Một số dân tộc đã có cùng một công thức chung để làm pizza cách đây gần 2,000 năm !

Even before that, Middle Eastern cultures had something like pizza. Babylonians, Israelites, and Egyptians liked to eat flat, cooked bread. They would add olive oil and good tasting seasonings to the bread. Then they cooked this flat, seasoned bread in hot ovens made of earth or on top of hot flat stones. It was a food that people ate between meals. Or they added it to a meal.

Ngay cả trước đây, các dân tộc ở Trung Đông đã có cái gì đó giống pizza. Người Babylone, Israel và Ai Cập thích ăn bánh bột mì dát mỏng nướng. Họ thêm dầu oliu và các loại gia vị ngon vào bánh. Sau đó, đem nướng trong những cái lò nóng được làm từ đất hoặc bên trên mặt cát nóng. Nó là thức ăn mà họ dùng giữa các bữa ăn hoặc thêm nó vào một bữa ăn.

Another version of this flat round bread was also popular in Greece. The Greeks called it "plankuntos." They put vegetables and meat on top of the flat bread.

Có một dạng bánh bột mì dát mỏng khác cũng được ưa thích ở Hy Lạp. Người Hy Lạp gọi nó là “plankuntos”. Họ cho các loại rau quả và thịt lên trên mặt bánh bột mì dát mỏng.

But many experts believe that the version of pizza that people know best today started in the city of Naples, in Italy. The people of Naples called this food "foccaccia." Most of the people in Naples considered foccaccia a food that only poor people would eat.

Nhưng có nhiều chuyên gia nghĩ rằng, kiểu pizza mà ngày nay người ta biết đến nhiều nhất đã xuất phát từ thành phố Naples ở Ý. Người dân ở Naples gọi món ăn này là “foccaccia”. Đa phần người dân ở Naples đều xem foccaccia là một món ăn của người nghèo.

In those times, people could not store food for a long time. If they did not eat the food quickly, it would go bad. So, people began to think of different ways to use and eat the food that would go bad. Bread was easy to make. So, people would put their extra food on top of a thin piece of bread. They could put vegetables, meat, or any other food on this bread, or crust. Then, they would put the seasoning on it to improve its taste, and cook it. This was the perfect food! People could hold it in their hands to eat it. It tasted very good. And it did not cost a lot of money to make !

Vào thời điểm ấy, người ta chưa thể lưu giữ thức ăn được lâu. Nếu họ không ăn nhanh, thức ăn sẽ bị hỏng. Vì thế, người ta bắt đầu nghĩ đến những cách khác để sử dụng và ăn thức ăn trước khi nó hỏng. Bánh mì là món dễ làm nên họ muốn thêm nhiều thực phẩm lên trên mặt chiếc bánh. Họ có thể đặt rau quả, thịt hoặc bất kỳ loại thực phẩm nào khác trên chiếc bánh hoặc vỏ bánh này. Sau đó, họ muốn cho gia vị để tăng thêm hương vị của nó và nướng. Đây là một món ăn tuyệt vời ! Người ta có thể cầm nó trên tay và ăn. Nó có mùi vị rất tuyệt mà lại rẻ.

But it took almost eight hundred [800] years for pizza to become a popular food. In 1830, the first pizzeria opened in Naples, Italy. This restaurant only sold pizza ! But the pizza of that time still looked a little different from the modern pizza we know today. In 1889, Don Raffaele Esposito created the first modern pizza. And he was one of the first people to put tomatoes on pizza. People still do that today ! The story goes like this.

Nhưng phải mất gần 800 năm để pizza trở thành một món ăn thông dụng. Vào năm 1830, cửa hàng bán pizza đầu tiên mở cửa tại Naples (Ý). Nhà hàng này chỉ chuyên bán pizza ! Nhưng pizza lúc đó vẫn khác đôi chút so với pizza hiện đại mà ngày nay chúng ta biết. Vào năm 1889, Don Raffaele Esposito đã làm ra chiếc pizza hiện đại đầu tiên và ông là một trong những người đầu tiên cho cà chua lên trên mặt của pizza. Ngày nay, người ta vẫn làm như vậy. Câu chuyện tiếp đó như thế này.

Queen Margherita Theresa was visiting Naples. She had heard of pizza, but she had never tried it. During her visit to Naples, she finally decided to try it ! Don Raffaele was a famous pizza maker. So, she asked him to make a special pizza for her. So, Don Raffaele designed a pizza especially for the Queen. He added three particular things to the pizza. First, he put mozzarella cheese on top of the pizza. Mozzarella cheese was made from local cows' milk. It is a white cheese. Then, he put red tomatoes on top of the mozzarella. Then Don Raffaele added basil leaves. Basil is a green plant with a good taste. These three toppings were white, red and green. These are the colors of the Italian flag! He called this pizza the Margherita Pizza. The Queen was very happy ! And the Margherita Pizza is still a very popular kind of pizza today !

Hoàng hậu Margherita Theresa đang thăm Naples. Bà đã được nghe về pizza nhưng chưa bao giờ nếm thử. Trong suốt chuyến đi đến Naples, cuối cùng bà đã quyết định nếm thử nó. Don Raffaele là một người làm pizza nổi tiếng. Vì thế, bà yêu cầu ông làm một chiếc pizza đặc biệt cho mình. Vậy là Don Raffaele dự định làm một chiếc pizza đặc biệt dành cho hoàng hậu. Ông thêm ba món đặc biệt vào chiếc pizza. Trước tiên, ông cho pho-mát mozzarella lên mặt trên của pizza. Pho-mát mozzarella là loại pho-mát có màu trắng được làm từ sữa bò địa phương. Tiếp đó, ông cho cà chua đỏ lên trên pho-mát mozzarella rồi Don Rafaele thêm vài lá húng quế. Lá húng quế là một loại rau có vị rất thơm. Ba lớp trên bề mặt này có màu trắng, đỏ và xanh lá cây – là màu cờ của nước Ý. Ông đã gọi chiếc pizza này là pizza Margherita. Hoàng hậu đã rất hài lòng và ngày nay pizza Margherita vẫn là một loại pizza được ưa thích.

After this event, people no longer considered pizza a poor person's food. Everyone, rich or poor, enjoyed this easy to eat, delicious food. As people began to travel more often, they began sharing the news about pizza.

Sau sự kiện này, người ta không còn nghĩ pizza là một món ăn của người nghèo. Mọi người dù giàu hay nghèo đều có thể ăn món này. Khi con người bắt đầu đi du lịch nhiều thì họ đã chia sẻ thông tin về pizza cho nhau.

Today, people all over the world buy more than five thousand million [5,000,000,000] pizzas every year. The recipe for pizza has changed a bit over the years. Today people usually make pizza by putting sauce, a kind of thick liquid, over the crust. The most popular kind of sauce is made from tomatoes. Then cheese and toppings of all kinds go on top of the sauce. But pizza makers have tried to put almost any kind of food you can imagine on top of a pizza! And different cultures have different tastes!

Hiện nay, mỗi năm cả thế giới tiêu thụ hết hơn 5 tý chiếc pizza. Công thức làm pizza được thay đổi chút ít qua nhiều năm. Ngày nay, người ta thường làm pizza bằng cách thêm nước xốt, một dạng nước sền sệt lên mặt trên vỏ bánh. Loại nước xốt thông dụng nhất là sốt cà chua, tiếp đó là pho-mát và các loại thực phẩm lên mặt trên của nước xốt. Nhưng những người làm pizza gần như đã cố cho bất kỳ loại thực phẩm nào mà họ cho rằng có thể lên mặt trên của bánh. Và các dân tộc khác nhau sẽ có những hương vị khác nhau.

Pizza is a great food because people all over the world can say that they helped to invent it. Pizza is a food that combines different foods from different countries. And it is probably one of the oldest foods you can think of !

Pizza là một món ăn tuyệt vời vì tất cả mọi người ở khắp nơi trên thế giới có thể nói rằng họ đã góp phần tạo ra nó. Pizza là một món ăn được kết hợp từ nhiều món ăn khác nhau của nhiều quốc gia và một điều chắc chắn bạn có thể nghĩ nó là một trong những món ăn cổ xưa nhất.

But one of the best things about pizza is this: you can create your own kind of pizza. You can put anything you like on it. You can mix different foods from different cultures and create something wonderful.

Nhưng một trong những điều hay nhất về pizza chính là bạn có thể làm pizza theo kiểu của mình. Bạn có thể cho bất cứ thứ gì bạn thích lên nó. Bạn có thể pha trộn nhiều loại thức ăn từ nhiều dân tộc khác nhau và tạo nên một cái gì đó rất tuyệt.

Often beautiful and good things can come from places we do not expect. Who would have expected that such an ancient and simple food would be popular today ? Pizza is just one example of how great things can happen when cultures come together.

Thường thì cái đẹp và tốt có thể đến từ những nơi chúng ta không nghĩ đến. Có ai nghĩ rằng một món ăn cổ xưa và đơn giản sẽ trở nên thông dụng ở ngày nay ? Pizza chỉ là một ví dụ về những điều tuyệt vời có thể xảy ra khi các dân tộc kết hợp lại với nhau.
(Spotlight Radio - Translator: sa sa)

Cô đơn trên mạng - Chương kết

Cô nhìn thấy mỗi hình hài bé xíu như được bôi một lớp hắc ín đỏ - xanh đen với cái đầu to không có tóc. Anh bác sĩ đặt đứa bé sơ sinh lên bầu ngực trần của cô.
Hầu như cô không cảm thấy gì khi họ khâu cho cô. Cô ép thằng bé vào người mình. Và khóc. Đã lâu lắm rồi cô không khóc như vậy. Chị hộ lý lau mồ hôi trên trán cho cô.
- Chị đừng khóc. Thế là mọi chuyện xong rồi. Chị có một cậu con trai mạnh khỏe. Cháu có cái đầu rất to, nó làm chị bị rách một tí, nhưng bù lại cháu sẽ rất thông minh!
Anh bác sĩ trẻ vẫn đang khâu cho chị, nói:
- Chị ghi đi này. Giờ sinh bốn giờ không tám phút sáng. Sau khi khâu xong, chị cho chị ấy loại nào mạnh một chút để chị ấy ngủ và chuyển sang phòng số mười bốn. Ngày mai, chiều muộn mới cho bú.
Nghe thấy tiếng nói, cô tỉnh giấc. Thoạt tiên, cô không biết mình đang ở đâu. Cô nhấc đầu. Bố mẹ và chồng cô đang ngồi cạnh giường. Cô thấy đau khủng khiếp vùng đáy chậu. Mọi người cười với cô. Cô ngồi dậy, sửa lại tóc.
- Cháu đâu rồi? - cô hỏi.
- Rồi người ta sẽ mang đến đây để con cho cháu bú - mẹ cô trả lời.
Chồng cô đứng dậy và đưa cho cô bó hoa cẩm chướng đỏ. Anh hôn vào má cô.
- Marcin nặng bốn cân rưỡi. Hồi mới đẻ anh cũng to thế đấy.
Cô ưỡn thẳng người. Cái áo bệnh viện bật cúc, để lộ ra bộ ngực đồ sộ sẵn sàng cho trẻ bú.
- Con sẽ có tên là Jakub - cô nói khẽ.
Chồng cô nhìn bố mẹ vợ, như thể muốn tìm chỗ dựa.
- Mình đã nói với nhau về chuyện này và anh tưởng là mình đã thống nhất đặt tên con là Marcin cơ mà.
- Đúng, mình đã nói về vấn đề này, nhưng mình chưa thống nhất gì cả. Marcin chỉ là một trong những tên mà anh thích.
- Anh cho rằng mình đã thống nhất. Sáng nay anh đã cho in tờ khai. Mất một ngàn zloty đấy. Bây giờ anh sẽ không thay đổi gì nữa. Đã quá muộn rồi.
- Con muốn gì nữa? - mẹ cô ngạc nhiên. - Marcin đang là một cái tên mốt hiện nay.
Cô không thể nghe nổi điều này. Cô duỗi chân, ngồi dậy. Xỏ chân vào dép. Mặc cho đang đau khủng khiếp, cô vẫn đi chậm ra tủ đựng quần áo cạnh chậu rửa. Lấy ví tiền từ áo khoác ra. Đếm. Chưa đủ một ngàn. Cô cho thêm tiền xu vào chỗ còn thiếu. Rồi quay lại giường. Cô để tiền phía dưới chân, chỗ chồng cô đang ngồi và nói:
- Đây là một ngàn zloty của anh. Con trai của em sẽ có tên là Jakub. Anh nghe thấy chứ?! Jakub!
- Con muốn gì nào, đừng có quá kích động - mẹ cô xen vào.
- Bây giờ mọi người có thể ra ngoài để con ở lại một mình được không? Tất cả.
Mọi người đứng dậy. Cô nghe thấy mẹ cô nói vời chồng cô gì đó về choáng sau sinh.
Cô không còn khóc nữa. Cô đi nằm. Đã rất tĩnh tâm. Gần như là vui vẻ Cô nhìn những bông cẩm chướng trên giường. Cô không thể chịu nổi hoa cẩm chướng cơ mà! Tại sao anh ấy lại không biết điều này nhỉ?!
Chị hộ lý kẻo cô ra khỏi trạng thái nửa thức nửa ngủ.
- Chị có muốn cho cháu bú không? - chị ta hỏi, ôm trên tay tấm chăn đề hở đầu con trai của cô ra.
- Có chứ. Tôi muốn. Rất muốn.
Cô ngồi dậy. Vạch vú. Đón tấm chăn dây bẩn cùng với thằng bé. Nó mở to mắt. Cô cười và nói với nó:
- Jakub ơi, nhớ quá.
Đứa bé sơ sinh sợ hãi, khóc.

LỜI BẠT


Người đàn ông đến ga Berlin ZOO trước nửa đêm khá lâu. Tàu đi Drezno qua ga Berlin Linchtenberg đúng 4.06. Còn nhiều thời gian. Anh ta bắt taxi đến khách sạn Mercure. Ở quầy bar, anh ta gọi một chai vang đỏ.
Bao giờ anh ta cũng thích Natalie Cole. Vì cái tên. Và vì cô hát như là kể những câu chuyện kỳ lạ. Nghe cô hát, người ta có được những trải nghiệm, mà những trải nghiệm là quan trọng nhất. Chỉ vì những trải nghiệm mà cần phải sống. Và còn vì điều này nữa, để có thể sau đó kể lại chúng với ai đó.
Bốn giờ kém mười lăm. Anh ta trả tiền. Và ra chỗ lễ tân.
- Chị có thể gọi hộ taxi được không? Đến ga Berlin Linchtenberg.
Hôm nay anh ta sẽ gặp tất cả những người mà anh ta yêu quí.
Gần như tất cả.

HẾT

Cô đơn trên mạng - Chương 11

SÁU THÁNG SAU

CÔ: Cô nằm viện một tuần, chỉ về nhà vào những ngày nghỉ cuối tuần. Người phụ trách là chỗ quen thân với bố cô nên đã giải quyết mọi việc sao cho cô có một phòng gần như là cho riêng mình...
Họ đã chuyển đến nhà mới. Hướng đông, nơi có ban-công, cửa số nhìn ra rừng. Họ dành phòng nhiều ánh sáng nhất để làm phòng trẻ con. Có thể nói phòng đã được xếp đặt xong. Cho con trai. Cô đã biết là sẽ sinh con trai. Cô đã nhìn thấy trên màn hình chỗ bác sĩ phụ sản và sau đó là bản in từ máy siêu âm ra.
Mọi người chăm sóc cô đến khó tin. Mẹ hứa là sẽ đến ở với họ trong vòng mấy tuần đầu sau khi cô sinh. Bà tốt với cô quá. Chỉ thỉnh thoảng lại hỏi:
- Sao con ít cười thế?
Thứ năm ấy Asia đến bệnh viện thăm cô. Biết là hôm nay không có chồng cô, thế là nó đến. Nhìn nó rất tuyệt. Gầy đi. Tóc cắt ngắn và nhuộm sáng. Cười luôn miệng.
Họ bắt đầu nhớ lại Paris. Họ cười. Như hồi nào.
- Thế cậu còn nhớ cái cậu trực lễ tân ấy không? – Asia hỏi. - Rõ ràng là cậu ta chỉ thích mỗi cậu. Alicja không thể chịu nổi điều đó. Thế cậu còn nhớ...
Cô nhìn quanh rồi ngắt lời nó:
- Asia, cậu sẽ giúp mình một việc chứ?
Asia nhìn cô chăm chú.
- Cậu có thể đến văn phòng mình và đọc những bức e-mail gửi cho mình trong máy tính được không? Mình biết là đã nửa năm rồi, nhưng mình chắc là Jakub đã viết cho mình một cái gì đó. - Cô cúi đầu và nói thầm: - Mình muốn được biết là anh ấy đã tha thứ cho mình.
Cô đưa cho Asia mảnh giấy ghi số code và mật khẩu vào hộp thư của cô.
- Mình có thể chắc là họ chưa đổi code mở cửa văn phòng mình. Cậu hãy đến đấy thật muộn, lúc không còn ai. Cậu đi chứ?
- Cậu có chắc đây là một ý tưởng hay không? - Asia hỏi bằng một giọng nghiêm túc.

- Có chứ. Từ mấy tuần nay mình đi ngủ với ý nghĩ ấy và thức dậy cũng với ý nghĩ ấy. Mình muốn biết anh ấy có tha thứ cho mình không. Cậu hiểu chứ? Chỉ có vậy thôi.
- Cậu đừng có khóc, vớ vẩn vừa chứ! Tất nhiên là mình sẽ đi. Mai là thứ sáu. Mình cho con bé ngủ rồi sẽ đi. Sáng thứ bảy mình sẽ gọi điện cho cậu.

Họ ôm nhau rất chặt lúc chia tay. Giống như ngày xưa.
- Gọi điện nhé. Đừng quên đấy. Mình sẽ chờ.


Joanna : Song, nếu họ dã đổi code rồi thì sao nhỉ? - cô nghĩ và cảm thấy mình giống như một tên trộm. Khi đứng trước cửa văn phòng cô muốn bỏ chạy. Cô đưa mảnh giấy lên mắt và đọc trong ánh sáng nhờ nhờ của bóng điện báo sự cố. Cô đi đến cánh cửa chấn song, nhắc thành tiếng các chữ số của code. Cô bấm tất cả. Cửa mở.
Thứ hai bên phải. Bàn đầu tiên. Đối diện cửa sổ.|
Cô để mảnh giấy cô ghi mật khẩu vào hộp thư cạnh bàn phím. Bàn làm việc hoàn toàn trống trơn. Chưa hề có ai làm việc ở đây.
Cô khởi động chương trình thư. Vào mật khẩu. Trong hộp đựng thư chưa đọc, có tới 150 tin! Hầu như tất cả là của Jakub. Mỗi tin đều có trong chủ đề từ "Bưu thiếp", sau đó là số thứ tự ngày, nơi gửi và trong phần lớn số tin, trong ngoặc đơn là một từ nào đó mô tả nội dung. Cô bắt đầu đọc.
Chị làm gì ở đây vào giờ này thế?! - một người đàn ông mặc đồng phục đen cầm đèn pin hỏi.
Cô mãi đọc nên không nghe thấy khi anh ta bước vào.
- Anh không nhìn thấy sao?! - cô ngẩng đầu lên, trả lời - Tôi đang khóc.
- Chị có giấy ủy nhiệm không?!
- Không- Tôi khóc không có ủy nhiệm.
Cả hai cùng bật cười như được ra lệnh.
Chị nhớ tắt hết điện trước khi về và tắt máy tính.
Không hỏi gì thêm, anh ta quay ra hành lang.
Cô chưa bao giờ đọc cái gì như thế này. Và chắc chắn sẽ không bao giờ đọc hết. Trò chuyện với một phu nữ mà người ấy đã không còn ở đây nữa. Người đã bỏ anh ta lại. Và xin được tha thứ. Anh tha thứ, nhưng không thể quên cô được. Vậy là anh viết mail cho cô. Hàng ngày. Như thể cô vẫn ở đây Không một lời nuối tiếc. Không một câu than phiền. Những câu hỏi không được trả lời. Những câu trả lời cho các câu hỏi mà cô không để lại, nhưng anh làm việc đó thay cô. Những bức e-mail được gửi đi từ những máy tính. Ở Wroclaw, New York, Boston, Lon don, Dublin. Nhưng nhiều nhất là từ Munich.
Những bức thư gửi cho người phụ nữ mà người ấy sẽ không đọc chúng. Đầy ắp tình cảm và sự săn sóc. Những câu chuyện tuyệt vời kể cho một người, là người quan trọng nhất. Không một chút phàn nàn, kêu ca nào. Chỉ đôi khi có những yêu cầu hay nài nỉ nào đó về một điều gì đó cho anh. Như một lần ngay trước Giáng sinh, anh viết từ máy tính của người anh trai ở Wroclaw:

Anh đã gói quà cho em. Anh sẽ để nó dưới cây Noel cùng với những gói quà khác. Anh rất muốn em có thể mở nó, còn anh có thể được nhìn thấy em vui thích như thế nào.
Bưu thiếp cuối cùng mang số 294. Gửi ngày 30 tháng tư từ máy tính ở Munich. Nó như một lời kêu cứu. Anh viết :
Tại sao tất cả mọi người đều bỏ anh? Tại sao?!
Hôm nay em hãy tìm thấy anh đi.
Như một năm trước đây.
Xin em, hãy tìm thấy anh. Hãy cứu anh!
Cô để bức e-mail cuối cùng này trên màn hình. Ngồi tựa khuỷu tay lên mặt bàn và nhìn vào câu này. Cô phân vân, không biết mình thương ai hơn.
Cô đứng lên. Tìm được một đĩa mềm ở bàn bên cạnh. Cô kiểm tra, đĩa trống. Cô copy tất cả các bưu thiếp của anh sang đĩa mềm, còn bản gốc thì xóa khỏi máy tính.
Đã rất muộn. Cô gọi taxi từ điện thoại trên bàn. Cô đóng cửa vãn phòng và đi thang máy xuống dưới. Một lát sau thì taxi đến. Trong radio Geppert đang hát Larynki (Kẹo trái cây). Lái xe đồng ý cho bật đèn. Cô chùi các vệt đen do nước mắt và sửa lại trang điểm.
Nếu không quá muộn và nếu kinh không quá sợ tối thì bây giờ mình sẽ đến cho cái cây của mình - cô nghĩ, vừa khẽ chạm vào cái đĩa mềm trong ví xách tay.
Sáng ra cô sẽ gọi điện như đã hứa. Cô sẽ nói rằng Jakub đã tha thứ. Như vậy sẽ tốt hơn cả. Vả lại thực tế cũng đúng như vậy. Thực tế đó là một khái niệm rất chung chung.


ANH: Anh còn bay về Ba Lan hai lần nữa.
Zaduszki. Trời lạnh ghê gớm và mưa. Anh ra mộ Natalia rất muộn. Gần như đã về đêm. Anh không muốn gặp bất cứ ai. Anh muốn kể với cô mọi chuyện. Tối nào anh cũng ra mộ cô. Có một số bát nến suốt ba ngày không tắt.
Anh ra mộ bố mẹ cùng với gia đình người anh trai. Sau đó họ ngồi nhà uống trà với rum do anh mang về và nhớ lại. Những bức thư của mẹ. Hàng ngày. Trong suốt năm năm...
Sau đó anh trở lại Munich và mấy hôm sau anh bay đi Princeton. Anh đã xong dự án với Warszawa.
Lần thứ hai anh về là vào Noel. Lễ Giáng sinh Ba Lan ở nhà anh trai. Tuyệt đẹp. Tuyết rơi. Họ đi dự đại lễ đêm Giáng sinh. Anh cầu cho nỗi buồn này qua đi. Và nỗi sợ hãi này. Anh sợ.
Anh viết cho cô. Chẳng có gì thay đổi. Ngày nào anh cũng viết. E-mail như là buổi cầu kinh tối.
Anh chú ý giữ gìn sức khỏe nhé, Jakub.

Cô đơn trên mạng - Chương 10 (B)

ANH: Anh mở vang. Đã là chai thứ hai trong ngày hôm nay, anh nghĩ. Nhưng thật ấm cúng và dễ chịu. Chiều thứ sáu. Những hành lang vắng vẻ và im ắng. Nhiều tầng nhà vắng lặng. Anh mở Grechuta.
Liệu người Đức có thể hiểu được anh cảm thấy gì khi Grechuta hát "bởi chỉ những ngày chúng mình chưa có mới là quan trọng" ? Gần đây, khi nghe câu này anh thấy sởn cả gai ốc.
Anh nghĩ, có thể giả vờ được đến đâu nữa, rằng một cái gì đó không tồn tại. Tuy nhiên có lẽ anh đã đẩy đi quá xa. Nhưng cô lại chấp nhận điều đó. Hẳn vì sợ rằng như vậy có thể sẽ phá vỡ mất một cái gì đó. Giờ đây, sau những ngày Paris, anh không thể thôi nghĩ về điều này. Cô không thuộc về anh. Cô thuộc về người khác. Cho tới lúc này, chưa có người phụ nữ nào anh cần mà lại thuộc về người khác. Chưa bao giờ!
Cái đang có giữa họ phải được gọi tên. Nhất thiết! Đây đâu phải là một chuyện yêu đương vớ vẩn nào đấy! Đây là một trăm tầng cao hơn. Chuyện yêu đương? Nghe mới lạ làm sao! Gọi cái đang có giữa họ là chuyện yêu đương thì có khác gì dùng Rolls-royce để chở xỉ-măng ra công trình xây dựng. Được thì có được, nhưng là sự hiểu nhầm.
Anh nhớ cô. Hai ngày nữa, lại đến thứ hai...



: Hôm chủ nhật họ đã nói cho bố mẹ cô biết. Chồng cô mới tự hào làm sao. Anh ấy sẽ có con trai! Trong gia đình anh, đứa bé đầu lòng bao giờ cũng là con trai. Cô đã nhìn thấy anh cùng với bố cô nâng ly vodka như thế nào. Cô phân vân không biết phải mất bao lâu nữa cô mới quên được rằng chỉ vừa mới chiều thứ sáu thôi, anh ấy còn nói: "Em không thể làm điều đó với anh được".


Họ dự định cô sẽ nghỉ không lương. Họ có kha khá tiền. Cô không cần phải đi làm. Mai cô sẽ đến văn phòng để giải quyết mọi thủ tục. Anh ấy sẽ tìm một căn hộ rộng hơn và sẽ không hút thuốc lá nữa.
Mẹ ngồi cạnh cô và chạm tay vào bụng cô. Rõ là bà đang vô cùng hạnh phúc. Rồi bà bảo:
- Hồi mẹ đẻ con, bố mẹ ở một góc nhà bên ông bà nội, toilet ở ngoài hành lang và mẹ chỉ được tắm mỗi tuần một lần trong chậu. Con thậm chí không biết là mình được sướng như thế nào đâu, con gái ạ.


Chưa bao giờ, kể cả ngày hôm ấy, kể cả về sau này bà hỏi tại sao họ lại không báo cho bố mẹ biết ngay hôm thứ sáu. Mẹ cố là một phụ nữ thông minh và giầu kinh nghiệm.


Thứ sáu, quãng gần trưa cô đến văn phòng. Cô thư ký không nói năng gì. Tất cả mọi người đều biết rằng đã từ mấy năm nay cô thường nói đến đứa con mà cô chưa thể có. Cô thư ký mang đơn của cô lên phòng tổ chức. Cô ngồi lại một mình. Trên ghế trước màn ảnh máy tính. Cô chạm nhẹ vào bàn phím.
Hôm nay là thứ hai - cô nghĩ và bật khóc.




ANH: Trước tám giờ anh gửi e-mail thông báo kế hoạch nghỉ phép của anh. Anh sẽ nghỉ vào tuần giữa tháng mười và tháng mười một. Anh sẽ đến thăm mộ bố mẹ và mộ Natalia. Lễ Giáng sinh anh sẽ ở chỗ gia đình ông anh ở Wroclaw, còn giáp Năm Mới, anh sẽ bay từ Warszawa sang Áo để trượt tuyết.
Chủ nhật đã qua mà anh vẫn chưa có e-mail của cô. Cô cũng không xuất hiện trên ICQ. Chiều, không yên tâm, anh gọi điện đến văn phòng cô ở Warszawa. Không ai trả lời. Cô không để lại bất cứ một thông tin nào.
Chắc chắn đã có điều gì đó nghiêm trọng xảy ra với cô - anh nghĩ và quay lại với công việc.




: Anh chở em đến văn phòng một lúc được không? - cô hỏi chồng, vừa nghe thấy anh hẹn hò với khách hàng qua điện thoại. Cô nghe thấy là anh sẽ vào phố để trả những bản thiết kế đã làm xong. - Em quên mang sách và một số đồ cá nhân về. Và em muốn xóa những e-mail riêng trong máy tính. Em không muốn ai đó sẽ đọc chúng.
Anh nhìn cô ngạc nhiên.
- Em nhận được e-mail riêng cơ à? - anh vui vẻ hỏi. - Chắc là Asia kể cho em nghe vế đỉnh điểm của cô ấy mỗi khi đọc xong một bài thơ nào đấy hoặc là những trò vớ vẩn khác kiểu như vậy.
Cô nhìn anh khó chịu.
- Rất tiếc là từ lâu rồi Asia không có đỉnh điểm nữa. Và không chỉ sau khi đọc thơ. "Những trò vớ vẩn khác kiểu như vậy" lại càng không - Cô biết là anh ấy không thích Asia. Có đi có lại mà. - Anh chở em chứ? Anh có thể đón em lúc từ cuộc gặp với khách hàng về. Em sẽ không cần nhiều thời gian đâu.


Giống như đêm hôm ấy, khi được biết về Natalia, cô cảm thấy bất an khi bấm số code và chờ tiếng loẹt xoẹt của cái nam châm điện trong ổ khóa cửa vào văn phòng. Bàn làm việc của cô trống trơn. Cốc uống cà phê - màu đen, của anh gửi từ Munich với dấu @ mạ bạc - bị để ra chỗ máy sấy, hộp đựng tài liệu được đưa sang bàn cô thư ký, những cái khay nhựa đề đựng thư đến và thư đi được chuyển sang tủ. Một sự trống không sạch sẽ và bóng loáng bởi độ phẳng của mặt bàn.
Nhưng nhìn trống trải nhất vẫn là cái màn hình máy tính của cô. Nó ở đấy như một thiết bị xa lạ mà cô không hề biết, bị bóc đi tất cả những tờ giấy công tác vàng mà cô đính lên đấy và ghi bằng bút bi màu không chỉ những gì cô cần phải giải quyết gấp, mà còn cả những gì cô nhất thiết phải kể với anh, hoặc những gì anh nói với cô còn cô nhất thiết phải nhớ. Kể cả dấu những ngón tay cô trên màn ảnh cũng đã bị ai đó lau sạch. Ai đó đã giúp xóa anh ra khỏi trí nhớ cô...
Ngăn kéo bàn được khóa lại, cô không thể tìm thấy chìa khóa ở chổ qui định.
Sáng mai mình sẽ phải đến - cô nghĩ và bỗng cảm thấy buồn. - Người ta cũng xóa cả những dấu vết của mình nữa.
- Còn bây giờ thì không ủy mị nữa - cô nói to và bật máy tính.
Cô đã chuẩn bị cho mình. Suốt tuần không nghe nhạc. Đọc sách về làm mẹ. Sau đó gọi điện cho mẹ cô. Họ nói chuyện suốt gần hai tiếng. Có nghĩa là mẹ cô nói là chủ yếu. Cô không gọi cũng như không nhận điện thoại của Asia. Asia bao giờ cũng gọi vào di động của cô. Chủ yếu là để tránh nói chuyện với chồng cô.
Alicja đích thân đến.
- Chúa ơi, mình mới ghen với cậu làm sao - nó bắt đầu ngay từ ngoài cửa- - Bao giờ thì các cậu đi mua giường cho em bé đấy? Nhưng, nhưng... cậu phải nhớ ghi nhật ký. Chính là bây giờ. Quan trọng lắm đấy. Cậu phải ghi lại từng ngày của thai. Sau đó, bao giờ con gái đầy mười tám tuổi cậu sẽ đưa cho nó đọc. Nhìn cậu thì trăm phần trăm chửa con gái.
Cô nhìn Alicja và nghĩ rằng cô không muốn cho con gái mình đọc những gì mẹ nó suy nghĩ trong tuần mang thai thứ bảy này. Hẳn nó sẽ kinh ngạc lắm.|
Chiều muộn thì chồng cô gọi điện về. Anh hẹn thứ tư sẽ đi xem một căn hộ rộng hơn. Gần như ở giáp ranh thành phố. Ven rừng. Anh đã ký thỏa thuận ban đầu. Căn hộ nhiều ánh sáng và tuyệt đẹp.
Cô đã chuẩn bị cho bức e-mail này.


Jakub,


Kể từ ngày em biết anh, anh luôn viết hoặc kể cho em về sự thật. Về sự thật trong khoa học, trong cuộc sống, ở mọi nơi. Tất cả trong anh đều chân thật. Do đó mà em tin là anh hiểu em. Anh hiểu là em không thể sống mãi như thế này được. Em đã có thai. Bây giờ em sẽ phải nói dối hai người. Em không thể làm điều đó.
Anh đã ban tặng cho em một cái gì đó, cái thậm chí rất khó gọi tên. Anh đã lay động trong em một cái gì đó, mà về sự tồn tại của nó thậm chí em cũng không biết. Anh đang và sẽ mãi mãi là một phần của cuộc đời em. Mãi mãi.
Jakub, anh đã nói với em rằng anh rất muốn em hạnh phúc, đúng không? Vậy bây giờ anh hãy làm một điều gì đó vì em, em xin anh đấy. Một điều gì đó hết sức quan trọng. Quan trọng nhất. Hãy làm điều đó vì em. Em xin anh. Em sẽ hạnh phúc nếu anh tha thứ cho em.
Anh sẽ tha thứ phải không?
Trong mấy tháng tới sẽ không có em. Em không còn làm việc ở đây nữa. Để giữ thai, em phải ở nhà, sau đó em sẽ vào bệnh viện mấy tháng.
Cám ơn anh vì tất cả.
Mong anh hãy giữ mình.


Cô cắn ngón tay đến phát đau và khóc. Cô cắn môi đến bật máu. Cô ra chỗ chai nước dùng để tưới cây để trên bậu cửa sổ đưa lên miệng uống.
Cô lại thấy bình tĩnh. Cô gọi chương trình thư điện tử. Thư từ của cả tuần trước và cái của sáng nay đang chờ cô. Không đọc cô chuyển tất cả sang "hộp thư đã bị xóa
- Bây giờ mình không thể đọc. Mình đã quyết định - cô nói thành tiếng, như thể tự ra lệnh cho mình Cô viết địa chỉ của anh: Jakub@epost.de
Đây là lần cuối cùng - cô nghĩ khi gửi e-mail. Cô cảm thấy nhẹ nhõm.
Đó chẳng qua chỉ là Intemet...
Cô mở folder mà trong đó cô cất giữ tất cả e-mail của anh gửi, và đánh dấu tất cả để xóa. Chương trình hỏi:


Bạn có chắc chắn là muốn xóa những thông tin này không?
(CÓ/Không)


Cô ngồi im một lúc, chăm chắm nhìn vào màn hình.
- Một câu hỏi điên rồ! - cô cáu kỉnh nghĩ.
Bỗng nhiên cô cảm thấy như thể phụ thuộc vào câu trả lời của cô cho câu hỏi điên rồ kia là cuộc đời của một ai đó.
Dây dẫn màu xanh hay đỏ?! Nếu cắt nhầm, tất cả sẽ biến vào không khí. Như là trong những bộ phim điên rồ mà ở đó một kẻ nửa điên nửa khùng đẹp trai, da rám nắng bao giờ cũng cắt đúng dây dẫn. Cô nhớ là chẳng có bộ phim nào mà trong đó anh ta lại cắt dây đỏ...
Có điện thoại. Chồng cô đang chờ dưới ôtô. Cô nháy vào "Có". Chẳng có gì xảy ra. Thế giới vẫn tiếp tục tồn tại. Khán giả thở phào.
Cô tắt máy tính. Đứng dậy. Chạm tay phải vào màn hình. Vẫn còn ấm. Tạm biệt, Jakub...
Cô tắt điện và đi ra.


Trước­ buổi trưa, bọn anh bị ngắt Intemet mất mấy tiếng. Thật khủng khiếp. Mọi người chạy quanh Viện không biết làm gì. Bỗng nhiên trong bếp, gần automat cà phê dồn lại một đám đông. Nhưng mục đích đã thanh minh cho khó khăn bất đắc dĩ này: họ sẽ có kết nối nhanh hơn gấp hai trăm lần.
Đến chiều anh nhận được mấy bức e-mail. Không có cái nào của cô. Anh sốt ruột quá.
Anh đã có hẹn đến hội nghị trực tuyến với đại học Princeton lúc hai mươi giờ. Ở chỗ họ, vùng bờ biển phía đông sắp mười bốn giờ. Anh phân vân, tại sao người Mỹ lại cho rằng có thể làm hội thảo trực tuyến vào hai mươi giờ ở châu Âu và mọi người vẫn còn ở trụ sở vào giờ ấy. Đây hẳn vì họ vẫn chưa bỏ được thói nước lớn - anh nghĩ.
Sau hội thảo trực tuyến, anh quay về văn phòng một lát. Đã sau hai mươi hai giờ. Anh dự định tắt máy tính rồi về. Cái hội thảo với người Mỹ ấy khiến anh mệt mỏi.
e-mail của cô! Rốt cuộc thì cũng có! Anh bắt đầu đọc.

: Cô hẹn với cô thư ký lúc mười hai giờ mười lăm. Chị ta mở khóa cho cô cả hai phía bàn làm việc.
- Chị mang hết đồ cá nhân về, còn thì để lại. Tôi sẽ xem qua rồi thu dọn sau - cô ta nói. - Ấy, chị không được ngồi lên sàn nhà! - cô ta la lên. - Bây giờ chị phải chú ý, để tôi mang cho chị cái ghế con bên phòng thư ký sang.
Cô thư ký chăm chú nhìn vào bụng cô, lúc này vẫn chưa thấy gì còn cô mang sọt rác ra gần cửa sổ. Cô mở ví xách tay. Thận trọng ngồi xuống cái ghế con được đưa từ phòng thư ký sang, bên phải cô là sọt rác, còn bên trái là một túi thể thao Nike to. Cô bắt đầu lấy dần các thứ từ các ngăn kéo ra. Hết cái này sang cái khác. Đây là cái quan trọng nhất. Cái của anh.
Đầu tiên cô lấy cây nến xanh đã cháy hết ra, đó là cây nến đã có lần anh gửi cho cô để họ có thể "ăn tối bên ánh sáng của những ngọn nến". Họ mở chat trên ICQ, họ mở vang, đặt pizza, anh ở Munich, cô ở Warszawa, họ thắp nến và bắt đầu ăn. Chính trong bữa tối ấy cô hỏi mẹ anh trông như thế nào. Anh bảo là bà rất đẹp. Anh nói nhiều điều kỳ lạ về bà. Ở thời hiện tại. Mãi một tháng sau cô mới biết là bà đã mất từ hỏi anh còn là sinh viên. Vào sọt rác.
Sau đấy cô vớ phải bản photo bằng tốt nghiệp phổ thông của anh. Anh muốn - chỉ đùa thôi - chứng minh với cô rằng anh thực sự đã tốt nghiệp phổ thông. Vào sọt rác.
Bưu ảnh từ New Orleans loang lổ vết rượu vang. Cô quay mặt sau và đọc:


Cám ơn vì em hiện hữu. Đã khá lâu rồi anh không làm việc này. Ở đây, trong thành phố này, điều này thật long trọng.
Jakub.


Vào sọt rác.
Cuốn sách về gien học. Đầy những ghi chú của anh bên lề được viết bằng bút chì. Ở trang 304, trong chương về gien di truyền, có một đoạn đã khiến cô như tê dại khi phát hiện ra nó vào mấy tháng sau. Tuy đã bị tẩy đi nhưng dưới ánh sáng vẫn có thể đọc được: Anh muốn có với em một đứa con. Anh rất muốn như vậy.
Vào sọt rác.|
Không! Cô không thể làm như vậy được. Cô không thế chịu đựng nổi điều này. Bằng một động tác, cô giật cái ngăn kéo ra và đổ tất cả mọi thứ trong đó vào sọt rác. Cô đẩy ngăn kéo vào chỗ cũ và cho đố của mình vào túi. Cô ngồi trên ghế, đầu rũ xuống, chờ cô thư ký về.
Tự nhiên cô nhìn vào sọt rác. Trên ủng là cái mô hình chuỗi xoắn kép bằng thủy tinh màu. Bùa may của anh dành cho cô.


Mình đúng là một người đàn bà xấu xa, tàn nhẫn, ghê tởm - cô nghĩ - sao mình lại có thể làm thế vời anh được?! Với chính anh?


Cô với sọt rác. Nhắm mắt lại. AT, CG, sau đấy lại CG và sau đấy là ba lần AT... C6 thư ký bước vào phòng.


- Chị đừng khóc. Chị sẽ quay lại với chúng tôi cơ mà. Chị sẽ sinh em bé, chăm sóc bé một thời gian rỗi quay lại đây.
Không. Mình sẽ không quay lại đây. Sẽ không bao giờ mình quay lại đây nữa - cô nghĩ. Cô đứng dậy. Xách túi.


Cô tạm biệt cô thư ký và đi ra.
Chồng cô đang chờ trong ôtô dưới nhà. Anh hút thuốc và đọc báo. Nhìn thấy cô, anh lập tức ra khỏi xe để giúp cô cho túi xách vào cốp xe. Xe lăn bánh.
- Em đã bao nhiêu lần nói vời anh là anh đừng có quay xe ở đây theo kiểu này! Anh chắn hết cả đường. Họ bấm còi inh ỏi thế là phải rồi.
- Họ thì liên quan gì đến anh? - anh trả lời, miệng vẫn ngậm điếu thuốc.
Họ dừng ở chỗ sang đường, chắn cả hai luồng đường. Chồng cô tăng ga và bánh xe rít lên, chuyển động.
- Em bảo anh dừng lại một lát. Anh dừng lại ngay đi!
- Anh không thể dừng ở đây.
Tuy nhiên chồng cô có giảm tốc.
Không. Đấy không thể là anh được. Đấy chỉ là một người nào đó giống anh thôi. Không thể thế được - cô nghĩ và nói:


- Anh đi tiếp đi. Em xin lỗi. Em cứ tưởng là mình nhìn thấy người quen.
Người chồng cho xe chạy nhanh hơn, lầu bầu gì đó trong miệng. Họ rẽ vào một phố nhỏ sau quầy báo.



ANH : Không có một máy bay nào bay từ bất cứ một sân bay nào của Đức đến Warszawa sau hai mươi hai giờ. Từ Zurich, Viene và Amsterdam cũng thế. Anh gọi điện đến Avis yêu cầu họ để xe rước Viện vào sau nửa đêm. Sáu rưỡi máy bay của LOT sẽ bay từ Frankfurt trên Men.
Khoảng năm giờ anh đỗ chiếc goft đi mượn ở bãi đỗ xe của cảng II sân bay Frankfurt.
Để em rời bỏ tôi dần dần, từng bước từng bước một để em xé tim tôi ra từng mảnh, từ từ, sẽ dễ hơn - anh nghĩ khi đi trên xa lộ từ Munich đến Frankfurt. - Tôi sẽ tha thứ cho em. Nhưng em hãy nói thẳng với tôi rằng tôi phải ra khỏi đời em. Không phải ở trên mạng cũng không phải trong e-mail. Em hãy đứng trước mặt tôi và nói. Mình đã một lần nhận được thư và sau đấy là thứ sáu và tất cả đã kết thúc.
Máy bay cất cánh đúng giờ mặc dù khu vực sân bay có sương mù.
- Anh dùng gì cho bữa sáng? Trà hay cà phê? - cô tiếp viên tươi cười hỏi.|


- Chị khỏi cần mang cho tôi bất cứ bữa sáng nào. Những chị có thể cho tôi bloody mary được không? Một vodka đúp, ít nước trái cây thôi. Nước sốt và hạt tiêu.
Cô ta nhìn anh, làm rơi mất nụ cười công vụ vốn được dán sẵn trên mặt sau đó mới lại cười và nói:


- Cuối cùng thì cũng có một thay đổi nào đấy sau cái câu "trà hay cà phê" nhàm chán ấy! Vodka đúp, ít nước trái cây. Thay vì bữa sáng.
Anh ngồi trên ghế dài trước văn phòng cô quãng mười giờ. Anh rất hay tưởng tượng nơi này trông như thế nào. Anh hơi say. Trước khi hạ cánh, cô tiếp viên còn mang cho anh một bloody mary. "Vodka đúp, ít nước trái cây. Sốt và hạt tiêu". Trên khay có hai cốc. Khi anh lấy một cái, cô ta cầm cái thứ hai và nói:
- Tôi sẽ uống với anh. Thay vì bữa sáng. Để cảm thấy như thế nào. Bởi đằng nào tôi cũng sắp hết giờ làm.


Họ chạm cốc.
Anh cảm thấy như mình bị mất cảm giác. Càng tốt – anh nghĩ bụng - mình sẽ không cảm nhận quá mạnh những vết thương ấy.


Trước lối vào tòa nhà của văn phòng cô là một cái cổng lớn được gắn các loại biển hiệu đủ màu sắc. Biển mang tên công ty cô cũng ở trong số đó. Anh đã biết chắc ngay từ sáng. Gần trưa, một chiếc ôtô địa hình to gắn kính sẫm màu choán gần hết cổng. Một người từ xe ra phía bên kia và đi vào bên trong tòa nhà. Lái xe đỗ xe đối diện với cổng, không thèm đếm xỉa đến biển cấm đỗ xe ở đấy. Anh ta mở cửa sổ, châm thuốc và bình thản đọc báo. Thỉnh thoảng lại nhìn đồng hồ. Rõ ràng là anh ta đang đợi ai đó.


Rồi anh ta ra khỏi xe và bắt đầu xem xét kỹ các lốp xe. Hết cái này sang cái khác. Xong, anh ta qua đường, đi về phía quầy báo. Đi qua ghế anh ngồi, anh ta cười. Ở quầy, anh ta mua thuốc lá rồi trở lại xe.
Một lúc sau, anh ta vội vàng ra khỏi xe và đi vòng qua để lấy cái túi của một người vừa đi từ cổng ra. Họ đi. Không thèm để ý gì đến các xe khác trên đường phố đang nườm nượp xe, anh ta quay đầu xe làm tắc nghẽn hoàn toàn dòng lưu thông, tạo nên một sự hỗn độn khủng khiếp.


Rồi chiếc xe ở ngay đối diện với ghế anh đang ngồi. Anh nhìn người lái xe. Cô ngồi ở ghế bên! Đúng lúc ấy xe tăng tốc. Một lúc sau nó mất hút trong con phố nhỏ sau quầy báo.


Tối hôm ấy anh quay về Frankfurt. Lúc xuống máy bay, anh đã khá say để có thề lái xe. Đành phải trả ôtô cho Avis tại sân bay ở Frankfurt và đi tàu về Munich. Anh cứ ở trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê như vậy, vì mệt mỏi và vì rượu. Lúc nào người lái cái xe ôtô kia cũng cười với anh.

Download Opera, the fastest and most secure browser
November 2009
M T W T F S S
October 2009December 2009
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30