Skip navigation.

SaRòM®'s blog

... trên đời này mọi thứ đều KHÔNG THỂ và CÓ THỂ...

Cô đơn trên mạng - Chương 10

SÁU TUẦN SAU. . .
CÔ: Cô mặc lại quần áo sau tấm bình phong thấp bằng vải với những bông hoa phương Đông. Trong phòng ngột ngạt kinh khủng. Bác sĩ phụ sản của cô, một người đàn ông đứng tuổi tóc bạc, đeo kính ngồi sau chiếc bàn kê ở giữa phòng, giữa tấm bình phong và bàn khám. Ông ghi chép gì đó vào một cuốn vở dầy.


Cô phân vân, không hiểu sao cô lại không cảm thấy xấu hổ khi nằm trên chiếc bàn kinh khủng kia, chân thì dạng ra, nhưng khi việc khám xét chỉ vừa xong và cô phải khỏa thân nửa dưới, đi từ bàn khám ra chỗ tấm bình phong cạnh bàn làm việc của ông, là cô đã cảm thấy thực sự xấu hổ và lúng túng.


- Cô đã có thai được sáu tuần - ông nói, vừa đứng dậy và đi ra chỗ cô ở phía sau tấm bình phong. - Cô cần phải thay đổi lối sống một cách triệt để, nếu như cô muốn sinh đứa con này. Sau lần sẩy thai gần đây nhất, chắc cô biết điều đó cũng như tôi, phải không?
Chồng cô cương quyết không muốn có con.


"Anh muốn được hưởng thụ một chút. Em cứ nhìn Aska mà xem, thật là tàn tạ vì đứa bé ấy. Không! Tuyệt đối không! Không phải lúc này. Chúng ta cứ chờ thêm vài năm nữa" - anh nói và quay lại với những bản thiết kế của mình, chúng giam anh ở trong phòng máy tính như thể những chấn song nhà tù.
Có lần cô không dùng thuốc mà không nói gì với anh. Đã qua tuổi ba mươi và cô cảm thấy thời gian cứ bỏ cô mà đi. Một phản ứng của người phụ nữ bị rút phép thông công, "đang già đi", người cảm thấy mình bỗng vô dụng về mặt sinh lý.


Khi đã được, anh sẽ phải chấp nhận - cô nghĩ.


Cô bị sẩy thai. Ông chồng thậm chí không biết. Cô bảo anh ra hiệu thuốc mua băng vệ sinh. Máu ra ướt đẫm cả mấy cái ga trải giường. Cô bảo anh là "kỳ kinh của cô lần này nặng quá". Anh chồng ngạc nhiên khi thấy cô nằm cả năm ngày trên giường. Khi cô khóc, anh ta nghĩ là do đau. Anh ta có lý. Nhưng anh ta nhầm giữa đau bụng dưới và đau một cái gì đó hoàn toàn khác.
Tiếng bác sĩ làm cô bừng tỉnh.


- Cô đừng lo. Lần này chúng tôi sẽ quan tâm đến cô và mọi chuyện sẽ tốt thôi.
- Vâng. Tất nhiên - cô bối rối trả lời, vừa cài lại cúc váy. - Bác sĩ có thể cho biết chính xác tôi bắt đầu có thai từ bao giờ được không?
- Tôi đã nói rồi. Theo ước tính của tôi, thì đang ở tuần thứ sáu. Cộng trừ bốn ngày.
Ông ta nhìn vào cuốn lịch trên bàn.


- Một tuần nữa cô đến đây. Cũng vào giờ này. Cần phải xác định kế hoạch chi tiết để giữ cái thai này. Cô phải tính đến chuyện mấy tháng cuối sẽ phải ở luôn trong bệnh viện.


Ông đứng dậy sau bàn, chìa tay cho cô và nói:
- Bây giờ cô phải tránh bị stress và ăn uống thật tốt.


Từ phòng khám của ông, cô đi thẳng ra cầu thang tối mù mịt khói thuốc lá.
Cô tựa lưng vào tường cạnh cửa vào phòng khám và nặng nhọc thở khó khăn lắm mới hít vào được. Một lát sau, cô lần theo tường đi về phía thang máy.


"Cộng trừ bốn ngày" - lời nói của bác sĩ phụ sản đi ra và trở lại tựa như tiếng vọng.




ANH: Thế là đã sáu tuần - anh nghĩ khi nhìn lịch. Đích thân viện trưởng gọi điện và đề nghị anh ấn định thời gian nghỉ phép. Thực chất là ông ta đưa ra quyết định đi công tác cho anh.


- Đã bốn năm rồi anh chưa nghỉ phép. Phòng tổ chức vừa gửi thông báo nhắc nhở cho tôi. Không thể như thế mãi được. Tôi sẽ gặp rắc rối với nghiệp đoàn đấy. Anh chỉ còn phải đi Princeton nữa thôi và sau đấy tôi không muốn nhìn thấy anh trong sáu tuần. Từ giờ đến trưa mai, đề nghị anh nộp cho tôi kế hoạch nghỉ phép của anh.
Đúng sáu tuần trước anh ôm cô tại sân bay ở Paris. Còn sau đấy anh hôn gáy cô khi ngồi trên cái ghế dài ở sân bay và nhìn vào cặp mắt đẫm nước mắt của cô. Còn sau đó vào buổi tối, cô đã khỏa thân. Hoàn toàn khỏa thân. Và mặc dù anh hôn khắp người cô, nhiều lần, nhưng dẫu thế anh vẫn nhớ gáy cô hơn cả.
Cô rất đẹp. Đẹp khiến ta phải bối rối. Cô cũng rất nhạy cảm, tinh tế, lãng mạn và thông minh. Quyến rũ. Anh nhớ, đếm hôm ấy, lúc gần sáng, khi nép sát vào anh, mệt mỏi, cô thì thầm:


- Anh biết không, ở bên anh, em nhớ lại tất cả những bài thơ đã làm em xúc động?
Anh ôm cô. Miệng anh vùi trong tóc cô. Cô mới thơm làm sao.
- Sau những gì xảy ra với chuyến bay ấy, anh tưởng như ngày hôm nay anh được ban tặng một cuộc sống mới – anh thầm thì.
Anh đưa bàn tay phải cô lên miệng mình. Và khẽ mút những ngón tay cô. Từng ngón từng ngón một. Anh khẽ mút và chạm lưỡi.
- Và em có mặt trong đó từ ngày đầu tiên.
Nước bọt của anh hòa với nước mắt. Kể từ ngày Natalia mất đi, anh khóc bằng những giọt nước mắt lớn.


- Và em sẽ mãi mãi ở đó, đúng không?
Cô không trả lời. Chỉ thong thả thở. Cô ngủ.
: Cô đi qua trước tòa nhà nơi có phòng khám của bác sĩ phụ sản. Rồi ngồi trên ghế đối diện với hố cát dành cho trẻ em chơi. Lấy di động ra, bấm số máy của Asia.
- Đến gặp mình nhé - cô nói, thậm chí không tự giới thiệu - Ngay bây giờ!
Asia không hỏi gì. Chỉ nghe thấy tiếng nó nói chuyện với ai đó. Một lát sau nó bảo:


- Sau hai mươi phút nữa mình sẽ có mặt tại Freta@Porter trên khu Phố Cổ. Chỗ mà lần cuối tụi mình đến cùng với Alicja ấy. Cậu nhớ chứ?


Cô nhớ. Bọn cô đã uống bia ở đấy và xem ảnh chụp ở Paris suốt buổi chiều. Họ cười và nhớ lại. Cô đã hạnh phúc thế. Đến một thời điểm, tất cả trở nên ít ý nghĩa hơn. Cô phải đi ra ngoài. Cô bấm số điện thoại văn phòng anh ở Munich và để máy ở chế độ thư ký tự động:


"Jakub, em đang say. Vì vang chỉ ít thôi. Cơ bản là vì những kỷ niệm. Cám ơn anh vì anh hiện hữu. Và vì em có thể hiện hữu".
Asia đã đến. Nó chiếm một chỗ ở ngoài vườn.
Nó ngồi. Khom người, ôm cái ví xách tay vào ngực.
- Cái lão Jakub ấy đã hại cậu rồi - Asia bắt đầu.
Cô lo lắng nhìn nó.
- Từ đâu mà cậu biết về Jakub?


- Khi trong mơ, minh gọi tên một người đàn ông nào đó, thì ngày hôm sau, cái thằng đểu ấy đã đi cưới một đứa khác. Nhưng chuyện xảy ra lâu lắm rồi - Asia kể, không hề có dấu vết của cảm xúc trong giọng nói.


Asia không ngừng làm cô ngạc nhiên. Ngược lại với vẻ ngoài, cô biết rất ít về nó.


- Không đâu. Jakub không thể làm hại được ai. Anh ấy là mẫu người như vậy. Do đó mà rất hay buồn.


Asia ngắt lời cô:


- Cậu kể xem nào. Kể hết. Tớ đã bảo vời ông xã là nửa đêm mới về nhà cơ. Gần đây thì lão đồng ý tất, không một cái nháy mắt.


Cô kể. Về tất cả. Đã quen anh ra làm sao. Anh là người như thế nào. Tại sao lại như thế. Về những gì cô cảm thấy khi có anh và những gì khi không có anh. Về những buổi chiều thứ sáu và những buổi sáng thứ hai. Khi cô kể xong về Natalia, Asia nắm lấy tay cô, bảo cô hãy ngừng lại một lát đừng nói gì cả.


Cô gọi người phục vụ bàn lại:
- Một jack daniels đúp và một lon red bull. Thật lạnh vào.


Asia nhìn người phục vụ và nói:
- Cho tôi cũng như vậy. Và anh không cần phải vội đâu.
Mãi đến khi người phục vụ mang đỏ uống quay lại, cô mới kể về chuyến bay của TWA và về những gì cô đã trải qua ở sân bay Paris. Asia xích lại gần cô và chạm vào mặt cô.
- Cậu có nhớ lúc chúng tình gặp nhau ở ga Warszawa trước chuyến đi Paris không? Ông chồng mình đã đưa mình ra ga bằng ôtô. Mình đã cáu ông ấy. Cậu có hỏi chuyện gì xảy ra. Mình bảo là mình không muốn nói về chuyện ấy.
Cô dừng lại một lát rồi cầm cốc.
- Đêm ấy lão đi dự tiệc của công ty về. Mình đã ngủ. Lão đánh thức mình dậy. Lão muốn yêu mình. Mình không thích một tí nào hết. Cả một tuần rồi mình không thích. Lão cũng không. Đó chỉ do rượu. Hơn nữa mình còn chưa sạch hẳn kinh. Lão bất ngờ dịch lại gần. Túm dây và chỉ bằng một động tác giật băng vệ sinh của mình ra. Lão cầm tay mình như cảnh sát chuẩn bị tra còng số tám. Mình không còn một cơ may nào nữa. Lão cho vào. Sau hơn chục động tác, mọi việc đã xong xuôi. Lão xoay người rồi lăn ra ngủ. Để tinh dịch của lão trong mình như thể con cá chình để dịch của nó trên trứng rồi ngủ.
Cô uống một ngụm to.
- Bốn đêm sau đó anh chở Jakub về khách sạn của anh ấy và mình đã nằm không mặc gì trên giường của anh ấy và đợi cho đến lúc anh cho vào. Anh ấy có dùng bao cao su, nhưng mình đã dùng miệng tuột nó ra. Mình không muốn phải cảm nhận anh ấy qua lớp cao su. Mình muốn cảm nhận đúng anh ấy. Đêm hôm ấy anh còn cho vào mấy lần nữa.
Cô bắt đầu nuốt.
- Asia, mình vừa ở chỗ bác sĩ phụ sản về. Mình đã có bầu ở tuần thứ sáu. Mình không biết đây là con của ai.


Asia chăm chú nhìn cô, im lặng. Cô kể tiếp:
- Ở Paris đợt ấy, có hai lần mình không dùng thuốc tránh thai. Lần đầu là khi chúng mình từ bữa tiệc có con lợn quậy ấy, lần thứ hai là vào ngày anh ấy bay đến Paris.
Asia giơ tay. Ngắt lời cô. Nó lấy di động ra. Bấm số.
- Anh có nhận cô ấy bây giờ được không? Không, việc này không thể chờ đến mai được. Không, em không giải thích cho anh được. Sau nửa tiếng nữa thì em sẽ đến - nó nói. - Tụi mình đến chỗ Mariusz. Đó là ông anh họ mình. Là tiến sĩ phụ sản. Anh ấy sẽ khám cho cậu ngay bây giờ. Cậu cần phải biết chắc chắn.
Cô gọi người phục vụ, trả tiền và nhờ gọi taxi.
Asia chờ cô ở quán cà phê đối diện với phòng khám của Mariusz.
- Anh ấy gặp nhiều trường hợp thụ thai vào những ngày hành kinh. Anh ấy cũng gặp nhiều trường hợp thụ thai ở những phụ nữ quên uống thuốc tránh thai hai ngày. Nhất là ở những phụ nữ phải trải qua những cú sốc như mình lúc ở sân bay Paris. Mặc dầu vậy anh ấy vẫn cho rằng, dựa theo độ lớn của thai, đây là con của chồng mình. Anh ấy gần như chắc chắn tuyệt đối là thai nhiều hơn bốn ngày tuổi.
Asia im lặng nghe cô. Một lát sau mới nói:
- Vậy ít ra chúng mình cũng biết được chắc chắn là cậu có thai. Đừng có tin quá vào anh họ mình. Anh ấy là một bác sĩ phụ sản rất ngoan đạo. Nếu cậu kể cho anh ấy nghe chi tiết toàn bộ câu chuyện, thì tối nay anh ấy sẽ mất ngủ mất. Rồi anh ấy sẽ gọi điện cho mình và sẽ "cảnh báo" tính trước những phụ nữ như cậu. Vợ anh ấy nặng đến gần một tạ, anh ấy là bác sĩ phụ sản, ba mươi hai tuổi và cho đến lúc này có năm con. Nhưng là một chuyên gia rất giỏi.
Nó ngừng một lát rồi hỏi nhỏ:
- Cậu định bỏ à?
Đôi khi cô ngạc nhiên bởi cái tính thực dụng ấy ở Asia. Nhưng đó chỉ là cái vỏ. Cô biết điều này kể từ hồi họ cùng ở Nimes.
- Không bao giờ! Nếu mình làm thế, thì mình sẽ phải quên trẻ con đi nói chung và mãi mãi. Anh Mariusz của cậu cũng nói thế. Mà không hề được hỏi.
Đúng lúc ấy chuông điện thoại di động của Asia reo.
- Không - nó trả lời rất nhanh: - Tụi em ngồi trong quán cà phê đối diện với phòng khám của anh và nói chuyện. Thôi sau đây anh không cần gọi nữa đâu. Em thừa biết anh định nói gì rồi. Em không quan tâm đến chuyện ấy đâu. Hoàn toàn không. Tạm biệt.


Nó tắt điện thoại rồi cất vào ví xách tay. Trầm tư.
- Thậm chí cậu không biết là mình ghen với cậu như thế nào đâu - nó thủ thỉ sau một lát. - Nếu ở địa vị của cậu, bây giờ mình sẽ về nhà, gói ghém mọi thứ vào cái vali to nhất, lấy hộ chiếu trong ngăn kéo ra và gọi taxi ra sân bay. Mình sẽ ngồi ở đó, trên cái ghế dài và chờ máy bay đi Munich. Kể cả có phải chờ cả tuần để có chuyến bay.
Nó gọi người phục vụ bàn.
- Vẫn như lúc nãy. Và cho thật nhiều đá vào. Cho chị này thì chỉ red bull thôi, không có whisky.
Nó lấy điện thoại ra. Bật máy rồi đưa cho cô, nói:


- Cậu gọi cho anh ấy đi.
- Cho ai?


- Jakub!




ANH: Cô viết là sẽ đi vắng mấy ngày. Hoàn toàn bất ngờ. Thường thì anh biết trước về những kỳ nghỉ phép hoặc những chuyến đi công tác của cô khá lâu. Thêm vào đó cô không gửi cho anh một e-mail bình thường, mà chỉ gửi tin nhắn qua SMS từ điện thoại di động. Như vậy có nghĩa là cô không lên mạng được.
Anh cảm thấy bị bỏ rơi. Anh đến cơ quan muộn hơn. Và sau nửa đêm mới rời cơ quan. Anh tưởng như một tuần chỉ gồm toàn những ngày thứ bảy và chủ nhật. Ngày nào anh cũng viết cho cô, và tấm bưu thiếp ấy như thể buổi cầu kinh tối. Anh nhớ lại hồi còn bé, mẹ anh, đã hai lần ly hôn, nhiều lần bị rút phép thông công đã dạy các con rằng buổi cầu kinh tối là lời cám ơn Chúa vì một ngày vừa được sống qua. Hai anh em quỳ trên những tấm thảm của mình, mặt hướng về những cây thánh giá được gắn vào tường bằng những cái đinh to. Người đóng những cây thánh giá ấy vào tường là cha anh, người đã gạch tên Chúa ra khỏi danh sách bạn hữu của mình từ lâu lắm rỗi, từ hồi ở Stuthof. Hai anh em chắp tay, nhìn vào những cây thanh giá nhỏ và đọc theo mẹ :
"Lạy Đức Chúa Thánh Thần, Thần hộ mệnh của chúng con, Người hãy luôn ở bên chúng con..."
Mẹ cùng cầu nguyện với hai anh em. Hàng tối. Đôi khi anh nhìn vào hai bàn tay nổi đầy gân xanh đang chắp lại của bà. Và anh nghĩ rằng mình chẳng cần đến một thiên thần nào hết. Với hai anh em, có mẹ là hoàn toàn đủ...


: Sau hôm gặp Asia, cô báo cho chồng biết. Cô chuẩn bị bữa tối. Làm bánh. Mua nến. Mở một chai vang để hít thở một chút. Cô chờ chồng từ trưa. Ngày hôm ấy cô không đi làm.
Anh vào nhà. Bật máy tính rồi vào phòng tắm. Đã như vậy từ hơn chục tháng nay. Khi đi qua cái bàn được phủ khăn long trọng, anh hỏi:
- Anh quên chuyện gì chăng? Kỷ niệm ngày cưới của chúng mình?
- Đúng, anh đã quên. Rất nhiều sự kiện. Nhưng lúc này điều đó không quan trọng. Anh ngồi xuống đi.
Anh ta ngồi đối diện cô. Đã lâu rồi anh ta không còn ngồi như hồi nào, cạnh cô. Bao giờ cũng ngồi đối diện. Cô đứng dậy và đưa cho anh ta một ly vang đỏ.
- Chúng mình sẽ có con - cô nhìn vào mắt anh ta, nói nhỏ.
Im lặng một lúc.
- Em đùa, đúng không? Mình đã chả thống nhất rồi là gì. Em không thề làm thế với anh được! Anh chưa được chuẩn bị. Em đã hứa rồi cơ mà. Em nghe này, anh đã nhận kế hoạch thiết kế cho cả một năm rồi. Em không thể làm thế với anh được!!!
Cô đứng lên. Bình thản đi vào phòng ngủ không nói một lời. Cô quỳ xuống thảm và lôi cái van dưới giường ra. Để nó dưới sàn nhà chỗ trước gương và thong thả sắp xếp. Đầu tiên cô gạt tất cả đố trang điềm từ trên bàn vào một cái túi nilon. Rối vứt cái túi vào vali. Cô ra tủ sách. Chọn và vứt vào vali. Rồi cô ra bàn, rót vang vào ly. Đề ly vang lên mặt tủ đầu giường và quay lại sắp xếp sách. Cô nghe thấy ông chồng đang gào vào điện thoại:
- Mẹ phải đến đây ngay! Cô ấy đang xếp vali thật rồi. Con không biết cô ấy muốn gì đây!
Anh ta bắt đầu đi quanh bàn. Vali càng đầy thì anh ta đi càng nhanh. Rồi anh ta hét lên:
- Em sẽ không làm thế, đúng không? Em đã chẳng có tất cả đấy sao. Anh làm việc như khổ sai suốt từ sáng đến đêm để em có tất cả. Chẳng lẽ em không nhìn thấy điều đó sao?! Chưa bao giờ em đánh giá đúng điều đó! Chưa bao giờ em tự hào về anh. Anh làm tất cả chẳng qua là vì chúng ta. Để em được sung sướng. Em là người phụ nữ duy nhất mà anh yêu. Anh không thể sống thiếu em được. Anh xin đấy, em hãy ở lại. Đừng bỏ đi. Chúng mình sắp có con cơ mà. Đó chẳng qua là vì anh quá mệt mỏi nên mới phản ứng như vậy. Ở lại đi. Anh xin đấy!
Anh ta đến chỗ cô. Ôm lấy cô.
- Anh xin mà, em hãy ở lại. Anh yêu em. Em là vợ anh. Anh sẽ chăm sóc em. Rồi em xem!
Đúng lúc ấy chuông cửa reo.
Anh ta im bặt, sau đó tắt hết đèn. Để ngón tay lên miệng ra hiệu im lặng.
- Chúng ta đâu cần đến họ - anh nói thầm vào tai cô.
Hồi mới quen nhau, anh rất hay nói thầm điều gì đấy vào tai cô. Cô rất thích hơi thở âm ấm của anh thổi vào tai mình. Giờ đây cũng thế. Anh đặt cô lên giường và cởi váy áo cô. Mấy phút sau, chuông cửa im.
Đúng. Cô là vợ anh ta. Cô đã thề nguyền! Đây là nhà của cô. Chồng cô đã cố gắng biết bao. Họ có những kế hoạch. Cha mẹ cô rất yêu quí anh ấy. Chồng cô là người chăm chỉ. Chí thú gia đình. Chưa bao giờ phản bội cô. Vợ chồng họ khá nhất trong đám bạn bè. Bây giờ họ sắp có con. Chồng cô sẽ làm tất cả cho cô. Cô biết chắc điều này. Anh ấy là người tử tế.
- Mai anh sẽ tìm cho chúng mình một căn hộ rộng hơn - anh hút thuốc lá và nói, khi họ đã xong.
Cô đã nguyện thề. Họ sẽ có con. Bố mẹ rất yêu quí anh ấy. Đó chỉ là Intentet. Chồng mình sẽ làm tất cả cho mình.
Cô thiếp đi .

Các bí quyết để học TIẾNG ANH tốt

Điểm 1
Cần hiểu rất rõ tại sao bạn muốn học tiếng Anh. Bạn cần tiếng Anh để phục vụ cho nghề nghiệp của mình hay để giúp bạn xin việc, hay để nói chuyện với những người nói tiếng Anh, hay để giúp bạn trong việc học ?

Điểm 2
Cần biết rõ bạn muốn tiếng Anh của mình giỏi tới mức độ nào. Bạn muốn giỏi tiếng Anh tới mức nào về các kỹ năng nói, nghe, đọc và viết ?


Điểm 3
Hãy thử hình dung và có khái niệm thật rõ về chính mình khi bạn đã đạt được trình độ tiếng Anh ở mức thành thạo mà bạn muốn. Liệu bạn sẽ nhìn và nghe thấy gìvà bạn sẽ cảm thấy như thế nào ?


Điểm 4
Nếu có thể hãy đăng ký theo học một khóa tiếng Anh. Nếu không thể làm được điều đó thì hãy tự đặt mình trong bối cảnh mà bạn cần phải dùng tiếng Anh...


Điểm 5
Hãy tìm kiếm các cơ hội học và sử dụng tiếng Anh. Hãy nói tiếng Anh bất cứ khi nào có thể. Hãy nghe đài và CD bằng tiếng Anh, đọc và viết bằng tiếng Anh. Nếu bạn tìm những cơ hội như vậy thì nhất định bạn sẽ tìm thấy.


Điểm 6
Hãy viết những từ ngữ mới vào một cuốn sổ ghi chép. Luôn mang cuốn sổ theo người và như vậy bạn có thể giở sổ ra xem bất kỳ khi nào bạn có chút thời gian rảnh rỗi.


Điểm 7
Luyện tập, luyện tập và luyện tập. Có một câu thành ngữ trong tiếng Anh. Nếu bạn không muốn mất thì hãy sử dụng nó. Câu thành ngữ này rất đúng nhất là khi áp dụng trong trường hợp học ngoại ngữ.


Điểm 8
Hãy kiếm một người có thể giúp bạn học tiếng Anh, có thể là đồng nghiệp của bạn. Tìm một người mà bạn có thể học tiếng Anh cùng. Hãy nói tiếng Anh với người đó hay các bạn có thể gửi tin nhắn bằng tiếng Anh cho nhau.


Điểm 9
Học một ít một nhưng thường xuyên. Hãy tạo ra một thói quen học tiếng Anh mỗi ngày chỉ cần 10 phút thôi. Như thế sẽ tốt hơn là học mỗi tuần chỉ có một lần dù với thời gian dài hơn.


Điểm cuối cùng
Khi bắt đầu buổi học hãy tự hỏi mình: "Mình muốn học gì hôm nay?" và vào cuối buổi học, tự hỏi mình: "Mình đã học được gì hôm nay ?"


Có câu chuyện về một thầy giáo nọ đã nói với học sinh rằng Các em có biết không, các em đang có tiến bộ trong việc học tiếng Anh khi mà các em nói bằng tiếng Anh, nghĩ bằng tiếng Anh và ngủ mơ bằng tiếng Anh.

Một hôm một học sinh tới lớp đầy phấn khởi và nói với thấy: Thưa thầy, đêm qua em nằm mơ bằng tiếng Anh. Thầy giáo nói: Thật tuyệt. Thế em nằm mơ về điều gì? Người học sinh đáp: Thưa thầy em không biết, vì nó bằng tiếng Anh ạ.

(BBC Vietnamese)

Cấu trúc câu với động từ HOPE

Động từ 'hope' là một động từ rất linh hoạt và nó thường được dùng ở thì hiện tại, với 'hope' ý nói tới tương lai - chẳng hạn:

"I hope that you have a good time."


Nó cũng giống như 'if' ở trong phần đầu của câu điều kiện -

"I'll call you if anything happens."


Nhưng chúng ta cũng có thể dùng 'will' trong những ngữ cảnh nhất định -

"I hope that you will be able to finish on time."

Hay là...

"I hope that you'll visit us again in the near future."


Trong phần lớn các trường hợp, 'will' có thể được thay thế bằng thì hiện tại mà không làm thay đổi hay thay đổi rất ít nghĩa của câu, nhưng lại không phải lúc nào cũng có thể làm được như vậy trong trường hợp ngược lại.

"I hope that he has his passport with him."

- không phải luôn có thể đổi thành:

"I hope that he will have his passport with him."

vì câu đầu có nghĩa cả về hiện tại lẫn tương lai, nhưng câu thứ hai chỉ có nghĩa về tương lai thôi.


Vì thế hope + the present tense có thể được sử dụng linh hoạt hơn là hope + will, nhưng đôi khi nó có nghĩa giống nhau.

Thêm một vài ví dụ khác như sau:

"They hope that you'll remember your promise"

thì cũng gần như giống như :

"They hope that you remember your promise", but -

"I hope that you agree to the proposal" -

có thể có nghĩa là bạn đã trông thấy hay nghe nói về đề nghị này rồi, nhưng nếu một ai đó nói:

"I hope that you will agree to the proposal" -

thì ít có khả năng là bạn đã nhìn thấy đề nghị đó hoặc đề nghị đó có thể còn chưa được vạch ra.


Thì hiện tại tiếp diễn cũng có thể được dùng với 'hope' và sự khác biệt giữa hiện tại và tương lai càng rõ ràng hơn khi dùng cấu trúc này. Nếu một người nào đó nói:

"I hope that you're thinking of me"...

thì người nói rõ ràng là mong người kia nghĩ tới họ ngay lúc này, nhưng -

"I hope that you'll be thinking of me"

rõ ràng là muốn nói tới một thời điểm trong tương lai.


Tóm lại, có lẽ tốt hơn là nên dùng hope + present, vì cấu trúc này linh hoạt hơn và chỉ dùng hope + will nếu bạn muốn nói rõ ý bạn là nói về tương lai.

I hope that you and your friends have enjoyed all my examples, Agata!

Good Luck Charm - Elvis Presley

Good Luck Charm - Elvis Presley magnify
<script type="text/javascript">yfla.wrap("This multimedia content requires Flash version 9 and above.", "Upgrade Now.", "http:\/\/www.adobe.com\/shockwave\/download\/download.cgi?P1_Prod_Version=ShockwaveFlash", "<\/embed>");</script>
(words & music by aaron schroeder - wally gold)

Dont want a four leaf clover
Dont want an old horse shoe
Want your kiss cause I just cant miss
With a good luck charm like you

Come on and be my little good luck charm
Uh-huh huh, you sweet delight
I want a good luck charm
A-hanging on my arm
To have, to have, to hold, to hold tonight

Dont want a silver dollar
Rabbits foot on a string
The happiness in your warm caress
No rabbits foot can bring

Come on and be my little good luck charm
Uh-huh huh, you sweet delight
I want a good luck charm
A-hanging on my arm
To have, to have, to hold, to hold tonight

If I found a lucky penny
Id toss it across the bay
Your love is worth all the gold on earth
No wonder that I say

Come on and be my little good luck charm
Uh-huh huh, you sweet delight
I want a good luck charm
A-hanging on my arm
To have, to have, to hold, to hold tonight

TIE A YELLOW RIBBON AROUND THE OLD OAK TREE

TIE A YELLOW RIBBON AROUND THE OLD OAK TREE magnify
<script type="text/javascript">yfla.wrap("This multimedia content requires Flash version 9 and above.", "Upgrade Now.", "http:\/\/www.adobe.com\/shockwave\/download\/download.cgi?P1_Prod_Version=ShockwaveFlash", "

H\u00e3y bu\u1ed9c m\u1ed9t d\u1ea3i ruy b\u0103ng v\u00e0ng l\u00ean c\u00e2y s\u1ed3i gi\u00e0<\/span><\/strong><\/p>


<\/span><\/strong> <\/span><\/p>

N\u01b0\u1edbc M\u1ef9. N\u0103m 1972. T\u1ea1i m\u1ed9t t\u1ec9nh v\u00f9ng n\u00fai xa x\u00f4i , trong 1 th\u1ecb tr\u1ea5n nh\u1ecf v\u00f4 danh c\u00f3 m\u1ed9t ch\u00e0ng trai b\u1ecb k\u1ebft \u00e1n t\u00f9. C\u1ea3nh s\u00e1t \u0111\u00e3 ch\u1ee9ng minh \u0111\u01b0\u1ee3c r\u1eb1ng anh ph\u1ea1m t\u1ed9i v\u00e0 3 n\u0103m l\u00e0 m\u1ed9t th\u1eddi gian v\u1eeba \u0111\u1ee7 \u0111\u1ec3 anh s\u1eeda ch\u1eefa l\u1ea1i m\u1ecdi chuy\u1ec7n. Nh\u01b0ng Mary - ng\u01b0\u1eddi v\u1ee3 s\u1eafp c\u01b0\u1edbi c\u1ee7a ch\u00e0ng trai th\u00ec kh\u00f4ng th\u1ec3 tin \u0111i\u1ec1u \u0111\u00f3 .<\/span><\/p>


<\/span><\/p>

I&#39;m comin&#39; home, I&#39;ve done my time<\/span><\/em><\/p>

Now I&#39;ve got to know what is and isn&#39;t mine <\/span><\/em><\/p>

If you received my letter telling you I&#39;d soon be free<\/span><\/em><\/p>

Then you&#39;ll know just what to do if you still want me<\/span><\/em><\/p>

If you still want me...<\/span><\/span><\/em><\/p>


<\/span><\/span><\/em><\/p>

<\/span><\/em><\/p>

Anh \u0111\u00e3 m\u00e3n h\u1ea1n t\u00f9 v\u00e0 s\u1eafp tr\u1edf v\u1ec1 nh\u00e0<\/span><\/em><\/p>

Gi\u1edd \u0111\u00e2y anh \u0111\u00e3 nh\u1eadn ra \u0111\u01b0\u1ee3c nh\u1eefng g\u00ec thu\u1ed9c v\u00e0 kh\u00f4ng thu\u1ed9c v\u1ec1 m\u00ecnh.
<\/span><\/em><\/p>

N\u1ebfu em nh\u1eadn \u0111\u01b0\u1ee3c th\u01b0 b\u00e1o anh s\u1eafp \u0111\u01b0\u1ee3c t\u1ef1 do<\/span><\/em><\/p>

Th\u00ec ch\u1eafc h\u1eb3n em bi\u1ebft m\u00ecnh n\u00ean l\u00e0m g\u00ec n\u1ebfu c\u00f2n y\u00eau anh<\/span><\/em><\/p>

N\u1ebfu em v\u1eabn c\u00f2n y\u00eau anh...<\/span><\/em><\/span><\/p>


<\/span><\/p>

Ng\u00e0y m\u1edf phi\u00ean t\u00f2a , m\u1eb7c cho ch\u00e0ng trai kh\u00f4ng ng\u1eebng quay v\u1ec1 ph\u00eda sau t\u00ecm ki\u1ebfm c\u00f4 v\u1eabn v\u1eafng m\u1eb7t.
<\/span><\/p>


<\/span><\/p>

Tr\u01b0\u1edbc khi l\u00ean chi\u1ebfc xe d\u00e0nh ri\u00eang cho c\u00e1c t\u00f9 nh\u00e2n, ch\u00e0ng trai nh\u1edd chuy\u1ec3n cho Mary m\u1ed9t l\u00e1 th\u01b0 r\u1ed3i b\u01b0\u1edbc \u0111i ngay. Anh kh\u00f4ng k\u1ecbp nh\u00ecn th\u1ea5y c\u00f4 \u0111ang \u0111\u1ee9ng khu\u1ea5t ph\u00eda sau, v\u1eeba kh\u00f3c v\u1eeba n\u1eafm ch\u1eb7t t\u1edd gi\u1ea5y v\u1edbi nh\u1eefng d\u00f2ng ng\u1eafn ng\u1ee7i: "Anh bi\u1ebft r\u1eb1ng anh kh\u00f4ng x\u1ee9ng \u0111\u00e1ng v\u1edbi t\u00ecnh y\u00eau c\u1ee7a em. Anh c\u0169ng kh\u00f4ng d\u00e1m hy v\u1ecdng em s\u1ebd c\u00f2n y\u00eau anh sau nh\u1eefng chuy\u1ec7n n\u00e0y. Nh\u01b0ng n\u1ebfu em tha th\u1ee9 cho anh, h\u00e3y bu\u1ed9c 1 d\u1ea3i ruy b\u0103ng v\u00e0ng l\u00ean c\u00e2y s\u1ed3i gi\u00e0 duy nh\u1ea5t \u1edf qu\u1ea3ng tr\u01b0\u1eddng c\u1ee7a th\u1ecb tr\u1ea5n v\u00e0o ng\u00e0y anh tr\u1edf v\u1ec1. V\u00e0 n\u1ebfu kh\u00f4ng nh\u00ecn th\u1ea5y d\u1ea3i ruy b\u0103ng, anh s\u1ebd ra \u0111i m\u00e3i m\u00e3i v\u00e0 kh\u00f4ng bao gi\u1edd qu\u1ea5y r\u1ea7y em n\u1eefa ".<\/i><\/b><\/span><\/p>


<\/i><\/b><\/span><\/p>

Whoa, tie a yellow ribbon &#39;round the ole oak tree<\/span><\/em><\/p>

It&#39;s been three long years
<\/span><\/em><\/p>

Do ya still want me ? (still want me)
<\/span><\/em><\/p>

If I don&#39;t see a ribbon &#39;round the ole oak tree
<\/span><\/em><\/p>

I&#39;ll stay on the bus, forget about us, put the blame on me<\/span><\/em><\/p>

If I don&#39;t see a yellow ribbon &#39;round the ole oak tree<\/span><\/span><\/em><\/p>


<\/span><\/span><\/em><\/p>

<\/span><\/em><\/p>

H\u00e3y bu\u1ed9c m\u1ed9t d\u1ea3i ruy b\u0103ng l\u00ean c\u00e2y s\u1ed3i gi\u00e0 nh\u00e9<\/span><\/em><\/p>

N\u00f3 \u0111\u00e3 \u1edf \u0111\u00f33 n\u0103m r\u1ed3i...<\/span><\/em><\/p>

Em v\u1eabn c\u00f2n y\u00eau anh ch\u1ee9 ?<\/span><\/em><\/p>

N\u1ebfu kh\u00f4ng c\u00f3 d\u1ea3i ruy b\u0103ng... <\/span><\/em><\/p>

Th\u00ec anh s\u1ebd ti\u1ebfp t\u1ee5c \u0111i v\u00e0 c\u1ed1 qu\u00ean nh\u1eefng g\u00ec ch\u00fang ta \u0111\u00e3 c\u00f3 v\u00ec anh l\u00e0 ng\u01b0\u1eddi c\u00f3 l\u1ed7i m\u00e0<\/span><\/em><\/p>

N\u1ebfu kh\u00f4ng c\u00f3 <\/span>d\u1ea3i ruy b\u0103ng bu\u1ed9c \u1edf c\u00e2y s\u1ed3i gi\u00e0 \u1ea5y... <\/span><\/span><\/em><\/span><\/p>


<\/span><\/p>

Trong su\u1ed1t ba n\u0103m ng\u1ed3i t\u00f9, d\u00f9 ch\u00e0ng trai c\u00f3 mong m\u1ecfi tin t\u1ee9c c\u1ee7a Mary \u0111\u1ebfn \u0111\u00e2u th\u00ec c\u00f4 v\u1eabn b\u1eb7t tin. N\u0103m \u0111\u1ea7u ti\u00ean anh t\u1ef1 nh\u1ee7 r\u1eb1ng c\u00f3 l\u1ebd c\u00f4 v\u1eabn ch\u01b0a th\u1ec3 quen \u0111\u01b0\u1ee3c v\u1edbi vi\u1ec7c ch\u1ed3ng s\u1eafp c\u01b0\u1edbi c\u1ee7a m\u00ecnh l\u00e0 m\u1ed9t ng\u01b0\u1eddi ph\u1ea1m t\u1ed9i. N\u0103m th\u1ee9 hai ch\u00e0ng trai nh\u1edd ng\u01b0\u1eddi h\u1ecfi han tin t\u1ee9c v\u00e0 ch\u1ec9 nghe phong phanh r\u1eb1ng c\u00f4 \u1ea5y \u0111\u00e3 \u0111i xa, xa l\u1eafm v\u00e0 ch\u1eb3ng bi\u1ebft khi n\u00e0o m\u1edbi quay tr\u1edf v\u1ec1. \u0110\u1ebfn nh\u1eefng th\u00e1ng cu\u1ed1i c\u00f9ng trong t\u00f9, anh \u0111\u00e3 kh\u00f4ng c\u00f2n ngh\u0129 g\u00ec t\u1edbi nh\u1eefng d\u1ea3i ruy b\u0103ng v\u00e0ng n\u1eefa. Nh\u1edb v\u1ec1 c\u00f4 g\u00e1i anh y\u00eau l\u1ea1i c\u00e0ng kh\u00f4ng. \u0110\u1ebfn ng\u00e0y ra t\u00f9, ch\u00e0ng trai quy\u1ebft \u0111\u1ecbnh nh\u1ea3y l\u00ean chuy\u1ebfn xe bu\u00fdt \u0111i th\u1eb3ng ra th\u00e0nh ph\u1ed1 ch\u1ee9 kh\u00f4ng ngang qua qu\u1ea3ng tr\u01b0\u1eddng nh\u01b0 anh \u0111\u00e3 h\u1eb9n. Nh\u01b0ng r\u1ed3i m\u1ed9t chuy\u1ebfn, hai chuy\u1ebfn \u0111\u00e3 d\u1eebng l\u1ea1i r\u1ed3i ch\u1ea1y ti\u1ebfp m\u00e0 ch\u00e0ng trai v\u1eabn ch\u1ea7n ch\u1eeb kh\u00f4ng leo l\u00ean. M\u00e3i t\u1edbi khi chuy\u1ebfn cu\u1ed1i c\u00f9ng \u0111\u00e3 ch\u1ea1y qua, anh m\u1edbi l\u1ea7m l\u0169i \u0111i b\u1ed9 t\u1edbi qu\u1ea3ng tr\u01b0\u1eddng. L\u00fd tr\u00ed b\u1ea3o anh h\u00e3y \u0111i theo h\u01b0\u1edbng ng\u01b0\u1ee3c l\u1ea1i nh\u01b0ng t\u00ecnh y\u00eau trong anh th\u00ec v\u1eabn b\u1eaft anh h\u01b0\u1edbng v\u1ec1 ph\u00eda tr\u01b0\u1edbc. R\u1ed3i 30 ph\u00fat sau, ng\u01b0\u1eddi trong th\u1ecb tr\u1ea5n ng\u1ea1c nhi\u00ean th\u1ea5y m\u1ed9t ch\u00e0ng trai kh\u00f3c n\u1ee9c n\u1edf d\u01b0\u1edbi t\u00e1n s\u1ed3i v\u00e0ng r\u1ef1c b\u1edfi h\u00e0ng tr\u0103m d\u1ea3i ruy b\u0103ng.<\/span><\/p>


<\/span><\/em><\/p>

Bus driver, please look for me<\/span><\/em><\/p>

&#39;cause I couldn&#39;t bear to see what I might see<\/span><\/em><\/p>

I&#39;m really still in prison, and my love, she holds the key<\/span><\/em><\/p>

A simple yellow ribbon&#39;s what I need to set me free<\/span><\/em><\/p>

I wrote and told her please<\/span><\/i><\/p>


<\/span><\/i><\/span><\/p>

B\u00e1c t\u00e0i \u01a1i, l\u00e0m \u01a1n nh\u00ecn h\u1ed9<\/span><\/i><\/p>

V\u00ec t\u00f4i kh\u00f4ng \u0111\u1ee7 can \u0111\u1ea3m \u0111\u1ec3 nh\u00ecn v\u1ec1 c\u00e2y s\u1ed3i gi\u00e0 \u1ea5y...<\/span><\/i><\/p>

T\u00f4i th\u1eadt s\u1ef1 l\u00e0 m\u1ed9t k\u1ebb c\u00f3 t\u1ed9i v\u00e0 ng\u01b0\u1eddi y\u00eau c\u1ee7a t\u00f4i \u0111ang n\u1eafm quy\u1ec1n tha th\u1ee9<\/span><\/i><\/p>

D\u1ea3i ruy b\u0103ng v\u00e0ng l\u00e0 s\u1ef1 th\u1ee9 tha t\u00f4i c\u1ea7n \u0111\u1ebfn<\/span><\/i><\/p>

L\u00e0m \u01a1n h\u00e3y \u0111\u1ec3 t\u00f4i vi\u1ebft v\u00e0 n\u00f3i cho c\u00f4 \u1ea5y <\/span><\/i><\/p>

Whoa, tie a yellow ribbon &#39;round the ole oak tree<\/span><\/em><\/p>

It&#39;s been three long years<\/span><\/em><\/p>

Do ya still want me? (still want me)<\/span><\/em><\/p>

If I don&#39;t see a ribbon &#39;round the ole oak tree<\/span><\/em><\/p>

I&#39;ll stay on the bus, forget about us, put the blame on me<\/span><\/em><\/p>

If I don&#39;t see a yellow ribbon &#39;round the ole oak tree<\/span><\/em><\/p>


(instrumental interlude)<\/span><\/em><\/p>


Now the whole damned bus is cheerin&#39;<\/span><\/em><\/p>

And I can&#39;t believe I see<\/span><\/em><\/p>

A hundred yellow ribbons &#39;round the ole oak tree

I&#39;m comin&#39; home, mmm, mmm<\/span><\/em><\/p>


(Tie a ribbon &#39;round the ole oak tree)<\/span><\/em><\/p>

(Tie a ribbon &#39;round the ole oak tree)<\/span><\/em><\/p>

(Tie a ribbon &#39;round the ole oak tree)

FADE

(Tie a ribbon &#39;round the ole oak tree)<\/span><\/em><\/p>

(Tie a ribbon &#39;round the ole oak tree)<\/span><\/em><\/p>

(Tie a ribbon &#39;round the ole oak tree)<\/span><\/em><\/p>


<\/span><\/em><\/p>

<\/span><\/em><\/p>

Th\u1ebf nh\u01b0ng th\u1ee9 ch\u00e0ng c\u0169ng nh\u01b0 c\u1ea3 chi\u1ebfc xe kh\u00e1ch h\u00f4m \u0111\u00f3 nh\u00ecn th\u1ea5y kh\u00f4ng ph\u1ea3i l\u00e0 m\u1ed9t gi\u1ea3i ruy b\u0103ng v\u00e0ng m\u00e0 l\u00e0 h\u00e0ng tr\u0103m gi\u1ea3i ruy b\u0103ng \u0111\u01b0\u1ee3c bu\u1ed9c tr\u00ean c\u00e2y s\u1ed3i \u0111\u00f3.Nh\u1eefng gi\u1ecdt n\u01b0\u1edbc m\u1eaft c\u1ee7a ch\u00e0ng tr\u00e0o ra v\u00ec sung s\u01b0\u1edbng, c\u00f2n ng\u01b0\u1eddi l\u00e1i xe nhanh ch\u00f3ng g\u1ecdi \u0111i\u1ec7n cho \u0111\u00e0i ph\u00e1t thanh v\u00e0 k\u1ec3 cho h\u1ecd \u0111i\u1ec1u n\u00e0y.

<\/span><\/div>

V\u00e0 c\u00e2u chuy\u1ec7n l\u00fac \u0111\u00f3 \u0111\u00e3 n\u1ed5i ti\u1ebfng kh\u1eafp n\u01a1i nh\u01b0 m\u1ed9t bi\u1ec3u t\u01b0\u1ee3ng c\u1ee7a s\u1ef1 chung th\u1ee7y. C\u1ea3m nh\u1eadn c\u00e1i \u0111\u1ef1\u01a1c t\u00ecnh c\u1ea3m c\u1ee7a 2 nh\u00e2n v\u1eadt ch\u00ednh trong c\u00e2u chuy\u1ec7n tr\u00ean, Tony Orlando v\u00e0 ban nh\u1ea1c Dawn \u0111\u00e3 s\u00e1ng t\u00e1c ra b\u00e0i h\u00e1t : " Tie an yellow ribbon round the old oak tree" v\u00e0o n\u0103m 1973 v\u00e0 n\u00f3 \u0111\u00e3 nhanh ch\u00f3ng tr\u1edf n\u00ean n\u1ed5i ti\u1ebfng kh\u00f4ng ch\u1ec9 trong ph\u1ea1m vi n\u01b0\u1edbc M\u1ef9. Ca t\u1eeb r\u00f5 r\u00e0ng v\u00e0 x\u00fac \u0111\u1ed9ng giai \u0111i\u1ec7u vui t\u01b0\u01a1i pha l\u1eabn \u00e2m h\u01b0\u1edfng \u0111\u1ed3ng qu\u00ea c\u1ee7a b\u00e0i h\u00e1t \u0111\u00e3 khi\u1ebfn n\u00f3 \u0111i v\u00e0o tr\u00e1i tim c\u1ee7a h\u00e0ng tri\u1ec7u ng\u01b0\u1eddi, m\u1ecdi th\u1ebf h\u1ec7. Ng\u00e0y nay ng\u01b0\u1eddi ta kh\u00f4ng c\u00f2n nh\u1edb \u0111\u1ebfn ch\u00e0ng trai trong c\u00e2u chuy\u1ec7n c\u00f3 th\u1ef1c n\u0103m n\u00e0o n\u1eefa nh\u01b0ng Tony Orlando v\u00e0 b\u00e0i h\u00e1t c\u1ee7a \u00f4ng s\u1ebd c\u00f2n m\u00e3i \u1edf trong tim m\u1ecdi ng\u01b0\u1eddi.<\/span><\/p> <\/embed>");</script>

ANCIENT ANGKOR (Books Guides)

ANCIENT ANGKOR (Books Guides) magnify

Michael Freeman has been photographing Southeast Asia intensively for twenty years, and Angkor for ten, producing many books on the art history and architecture of the region, including Palaces of the Gods and Angkor: Cities and Temples. He is also the author of the Guide to Khmer Temples in Thailand and Laos, and was the first photographer to have prolonged access to Angkor after the country’s two decades of war, genocide and civil wars.

Michael Freeman có 20 năm nay kinh nghiệm chụp ảnh về Đông Nam Á và 10 năm chụp về Angkor. Ông đã cho xuất bản rất nhiều tác phẩm về đề tài lịch sử nghệ thuật và kiến trúc của vùng, trong đó phải kể đến Palaces of the Gods Angkor: Cities and Temples. Ông cũng là tác giả của tác phẩm Guide to Khmer Temples in Thailand and Laos, và là nhiếp ảnh gia đầu tiên được phép ra vào Angkor dài hạn sau 2 thập kỷ chiến tranh, nội chiến và diệt chủng.

Claude Jacques, a long-standing member of the Ecole Française d’Extrême Orient, lived in Cambodia for nine years where he taught Khmer history at the Archaeology Department of Phnom Penh and pursued his research into Khmer civilization. He has been the Director of Studies at the Ecole Pratiques des Hautes Etudes for the last two decades, teaching the history of Southeast Asia. He is an expert in Sanskrit, Khmer and Cham scripts and is closely involved in the various restoration projects being at Angkor.

Claude Jacques, một thành viên kỳ cựu của Học viện Viễn Đông đã sống 9 năm ở Campuchia. Ông dạy về lịch sử Khmer tại Ban Khảo cổ của Phnom Penh và tiếp tục nghiên cứu về văn minh Khmer. Ông đã từng là giám đốc nghiên cứu của Học viện thực nghiệm cao học trong 2 thập kỷ trước, dạy về lịch sử Đông Nam Á. Ông là một chuyên gia về chữ Phạn, Khmer và Chăm, và có liên quan mật thiết với các công trình trùng tu khác nhau đang thực thi ở Angkor.

Cách dùng sở hữu cách 's

Trong tiếng Anh, chúng ta có thể dùng danh từ để bổ nghĩa cho một danh từ khác. Vì thế chúng ta có thể nói a computer expert - một chuyên gia máy tính.

Một người chịu trách nhiệm về một công ty là a company director. Một người làm chương trình phát thanh là a radio producer. Và cũng theo cách thức đó, một người là quản lý một nhà băng là a bank manager, và hiệu trưởng một trường là a school principal.

Trong một số ngôn ngữ, chúng ta không thể làm như vậy, nhưng trong tiếng Anh, bạn có thể đơn giản là đặt hai danh từ cạnh nhau và đó là cách chúng ta vẫn nói trong tiếng Anh.

Có bao giờ nói school&#39;s principal, bank&#39;s manager được không ?

Câu trả lời thực sự là &#39;Không&#39;, nhưng trong một vài ngữ cảnh rất hiếm bạn có thể muốn nói về thực tế hiệu trưởng của một trường này chứ không phải của một trường khác, thì trong trường hợp đó, bạn có thể nói: He&#39;s not your school&#39;s principal, he&#39;s my school&#39;s principal - Ông ấy không phải là hiệu trưởng của trường bạn, mà là hiệu trưởng của trường tôi.

Nên chú ý là trong trường hợp này chúng ta không phải nói tới chức vụ, nghề nghiệp của ông mà chúng ta đang nói tới tới thực tế ông thuộc về trường nào.

Những lỗi thông thường

Một lỗi thường gặp nhất hay phạm phải với dạng sở hữu cách &#39;s là tránh không dùng nó và dùng từ &#39;of&#39;. Vì thế thay vì nói the dog&#39;s bone, người ta nói the bone of the dog, hay the woman&#39;s husband, thì nói là the husband of the woman.

Đôi khi người ta nói The book is for my son, thay vì nói it&#39;s my son&#39;s book.

Với câu It&#39;s my son&#39;s book, phát âm dạng sở hữu cách &#39;s là khá thú vị, vì thế tôi cho rằng thường chúng ta không phát âm chữ &#39;s một cách rất rõ ràng, tách biệt, vì thế người nghe thường không nhận thấy âm này.

Một trong những vấn đề gặp phải khi khi học cách dùng nó là ta cần học cách nhận ra khi nó được dùng vì nếu nó được phát âm rất giống nhau, chúng ta dễ dàng không nhận ra nó và tưởng rằng không cần dùng nó.

Một điều đáng chú ý nữa là phát âm thay đổi, tùy thuộc vào âm cuối từ. Vì thế nếu từ kết thúc bằng âm /s/ hay /sh/ hoặc /ch/, /ge/ thì chúng ta phải thêm âm &#39;es&#39; vào cuối từ, như the judge nhưng the judge&#39;s wig hay the church, nhưng the church&#39;s congregation và đọc giống như nếu ta viết the churche&#39;s congregation.

Thế còn dạng sở hữu số nhiều thì sao ?

Những nguyên tắc này chỉ là cách khi viết xuống như thế nào. Nếu trường hợp là số nhiều, chúng ta đặt dấu &#39; ở sau chữ -s, thay vì ở đằng trước chữ -s như trong trường hợp danh từ số ít.

Vì thế nếu chúng ta nói the girls&#39; boyfriends, tức chúng ta đang nói tới các bạn trai của một vài cô gái, và trong trường hợp đó, nhớ để dấu &#39; ở sau chữ -s khi viết.

Còn nếu chúng ta nói tới a girl&#39;s homework, thì nhớ đặt dấu &#39; ở đằng trước chữ -s.

Quite là Partially hay Totally ?

Câu trả lời đơn giản là từ này trong tiếng Anh có cả hai nghĩa đó.

Nếu chúng ta nói: "I am quite happy"... Câu này có nghĩa là Bạn phần nào khá hài lòng, khá vui, nhưng không hoàn toàn hài lòng, không hoàn toàn vui. Mà nó cũng có nghĩa là hoàn toàn hài lòng, thực sự vui, 100% hạnh phúc.


Bạn có thể sẽ hỏi là thế thì làm sao biết được sự khác nhau này ?


Khi một người nào đó nói: "I am quite happy"... Làm sao chúng ta biết được người đó muốn nói họ hoàn toàn hạnh phúc hay họ khá hạnh phúc ?


Rất tiếc là nếu chỉ đọc câu đó trên giấy như vậy thì chúng ta không thể biết được.


Nếu tôi đọc câu &#39;I am quite happy&#39;, tôi thực sự không biết là nó có nghĩa &#39;partially&#39; happy hay &#39;completely&#39; happy. Tuy nhiên cũng đừng lo, có những yếu tố có thể giúp chúng ta giải quyết vấn đề này.


Trước hết chúng ta có một số tính từ trong tiếng Anh với nghĩa là &#39;very&#39;.


Ví dụ:


&#39;delighted&#39; có nghĩa là &#39;very pleased&#39;


&#39;exhausted&#39; có nghĩa là &#39;very tired&#39;


&#39;enormous&#39; có nghĩa là &#39;very big&#39;,


v.v.


&#39;Quite&#39; thường được dùng với một trong những tính từ này và trong ngữ cảnh đó nó có nghĩa là &#39;totally&#39; hoàn toàn.


Vì thế chúng ta nói:


"I am quite exhausted"... Trong câu này quite có nghĩa là absolutely, completely, 100% exhausted.


Bạn cứ thử nghĩ mà xem, về mặt lôgíc thì không thể có chuyện &#39;somewhat very tired&#39; - nó hoàn toàn không có nghĩa.


Thứ hai là chúng ta phải tìm hiểu ngữ cảnh của câu nói đó. Thường thường chúng ta có thể hiểu được nghĩa của từ &#39;quite&#39; mà người nói muốn diễn đạt khi nhìn vào nghĩa của cả câu


William đang có mặt ở đây với tôi chẳng hạn. Hãy thử tưởng tượng là William vừa mới ốm:


Alex: Are you feeling better now ?


William: Yes, I&#39;m feeling quite healthy, thank you. In fact, I feel great!


Trong ngữ cảnh này, William có lẽ muốn nói rằng anh đã hoàn toàn bình phục, anh cảm thấy 100% khỏe mạnh.


Nói một cách khác, chúng ta có thể có một cuộc đối thoại như thế này:


Alex: Are you feeling better now ?


William: Well, I&#39;m feeling quite healthy, but I still have a terrible headache.


Trong trường hợp này, William có lẽ muốn nói rằng anh cảm thấy khá khỏe, nhưng chưa hoàn toàn khỏe hẳn.


Ngoài ra khi nghe những câu này, chúng ta cũng sẽ có thể đoán được nghĩa là từ quite là partially hay totally qua giọng nói và ngữ điệu của người nói.


Nếu người nói với bằng giọng vui vẻ, và xuống giọng ở cuối câu, thì có lẽ nó có nghĩa là người đó cảm thấy hoàn toàn khỏe mạnh, vui vẻ.v.v.


Tuy nhiên nếu người đó nói với giọng nói có vẻ lưỡng lự, thiếu tự tin, và nếu lên giọng ở cuối câu, thì có lẽ người đó muốn nói họ khá vui, hay đã khỏe hơn - partially happy or healthy - nhưng không phải là hoàn toàn như vậy.


Trên thực tế, trong văn phong hơi cổ, người ta thường dùng &#39;quite&#39; để diễn tả ý &#39;totally&#39; hay &#39;completely&#39; - ít nhất là trong văn nói tiếng Anh.


Đôi khi người ta vẫn dùng cách này trong văn viết, đặc biệt là trong văn phong trịnh trọng, vì thế bạn có thể đọc trong một tiểu thuyết cách diễn đạt này. Nhưng trong tiếng Anh hội thoại hiện đại, &#39;quite&#39; thường có nghĩa là &#39;partially&#39;.

THINK OF và THINK ABOUT

Chúng ta cần phải nhìn xem từ nào phù hợp nhất khi đi với Think of và Think about.


Về cơ bản thì "think of" thường có nghĩa là "tưởng tượng" - imagine - trong khi "think about" thường có nghĩa gần hơn với "consider" - xem xét, suy nghĩ.


Vì vậy sự khác nhau giữa hai động từ kép này sẽ tùy thuộc vào ngữ cảnh.


Ví dụ, nếu tôi nói "I am thinking of a tropical beach, please don&#39;t interrupt me." Như vậy có nghĩa là tôi đang nghĩ tới, tưởng tượng ra hình ảnh bờ biển nhiệt đới, tôi đang mơ về nơi đó.


Còn nếu trong một ví dụ khác như "They are thinking about whether to agree to the sale" thì "think about" ở đây có nghĩa là đang suy nghĩ, xem xét - they are considering the sale.


Trong những trường hợp như trên, thì một cách dùng này thường hay được sử dụng thay cho cách dùng kia trong những ngữ cảnh nhất định nào đó, như hai ví dụ trên.


Tuy nhiên khi chúng ta noi về người, chúng ta thường dùng cả hai và đều có nghĩa tương tự như nhau.


Ví dụ, nếu bạn tôi bị tai nạn và phải vào bệnh viên, tôi có thể gửi hoa và một tấm thiếp tới cho bạn với lời nhắn gửi mà trong đó chúng ta có thể dùng cả hai Think of và Think about: "I&#39;m thinking of you," hay "I&#39;m thinking about you", và nghĩa của hai câu này không khác nhau là bao.

Afraid có những nghĩa gì ?

Đây là một câu hỏi thú vị, và I&#39;m afraid - tôi e rằng - có tới ít nhất bảy cách dùng khác nhau với tính từ &#39;afraid&#39; này !

Nghĩa thông dụng nhất của từ &#39;afraid&#39; là nghĩa mà tôi vừa đưa ra trong ví dụ trên - đó là khi chúng ta muốn nói với ai đó một cách lịch sự một điều gì đó có thể khiến người kia buồn hay thất vọng hay khó chịu hoặc lo lắng.


Về mặt ngữ pháp thì chúng ta có thể nói:


&#39;I&#39;m afraid that there are at least seven ways


HOẶC...


&#39;I&#39;m afraid there are at least seven ways&#39; - mà không cần dùng từ &#39;that&#39;.


Chúng ta thường nghe thấy từ &#39;afraid&#39; với nghĩa này trong tiếng Anh nói - spoken English.


Một nghĩa thông dụng khác của &#39;afraid&#39; là &#39;to be frightened&#39; - sợ, lo sợ.


Nhưng cần chú ý là tính từ &#39;afraid&#39; không thể dùng như bổ ngữ cho danh từ, tức là không bao giờ đứng trước danh từ trong tiếng Anh, vì thế chúng ta không thể nói về &#39;an easily afraid person&#39;. Afraid không được dùng như vậy trong tiếng Anh.


Mà thay vào đó chúng ta có thể nói :


&#39;He&#39;s an easily frightened person&#39;


hay đơn giản hơn chúng ta có:


&#39;He&#39;s easily frightened.&#39;


&#39;He&#39;s afraid of something&#39; - ví dụ : He&#39;s afraid of spiders.


&#39;He&#39;s afraid to do something&#39; - ví dụ: He&#39;s afraid to ask for help.


&#39;He&#39;s afraid of doing something&#39; - ví dụ: He&#39;s afraid of flying.


Cách dùng ít thông dụng hơn của tính từ &#39;afraid&#39; là khi nó được dùng thay vì nói &#39;yes&#39; hay &#39;no&#39;.


&#39;Afraid&#39; + not... được dùng với nghĩa là &#39;no&#39;


And &#39;Afraid&#39; + so... được dùng với nghĩa là &#39;yes&#39;.


Đây là một ví dụ về cách dùng &#39;afraid&#39; với nghĩa là &#39;no&#39;:


A: Are you doing anything nice this weekend, Femi ?


F: I&#39;m afraid not, I have to work - I need the money !


Hay khi một ai đó gọi điện thoại tới và người mà họ muốn nói chuyện với không có ở đó:


A: Could I speak to Sun Chen please?


B: I&#39;m afraid not, he&#39;s not available at the moment. Would you like to leave a message?


Còn đây là một ví dụ về cách dùng &#39;afraid&#39; với nghĩa là &#39;yes&#39;:


A: Are you leaving now, Yvonne?


Y: I&#39;m afraid so, I have to be home by 9 o&#39;clock.


Tóm lại, chúng ta có thể dùng &#39;afraid&#39; trong những cách thức sau đây:


Trước hết là để nói với ai một cách lịch sự một điều gì có thể khiến họ thất vọng.


Kế đến là nghĩa đơn giản: &#39;frightened&#39; - sợ, lo sợ.


Thứ ba là để nói &#39;yes&#39; khi chúng ta nói &#39;I&#39;m afraid so&#39; - và nói &#39;no&#39; khi chúng ta nói &#39;I&#39;m afraid not&#39;.

Download Opera, the fastest and most secure browser
December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31