Skip navigation.

Snopteck

Keep trying to break free for that blue sky !

EQ, SQ, CQ - những chỉ số của người thành đạt

Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ, như người ta thường nói "với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn". Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất.

Bắt đầu từ năm 1990, nhà tâm lý học Peter Salovey ở ĐH Yale và John Mayer ở ĐH New Hampshire đã đưa ra thuật ngữ Trí thông minh cảm xúc (Emotional Intelligence, hoặc Emotional Quotient - EQ). Thực tế cho thấy, cảm xúc chỉ đạo trí thông minh có lẽ còn hơn cả logic toán học. Bằng phân tích cấu tạo của bộ não và các xung thần kinh, người ta đã chứng minh được lý trí, mà đại diện là trí thông minh, không có ở dạng thuần túy mà được nuôi dưỡng bởi cảm xúc, và chính phần neocortex (phụ trách suy luận trên não) là nhạc trưởng, nó chỉ đạo, phối hợp, kiểm soát các cảm xúc đột ngột và gán cho chúng một ý nghĩa.

EQ thể hiện khả năng của một người hiểu rõ chính bản thân mình cũng như thấu hiểu người khác ít nhiều giống với khái niệm mà Gardner gọi là trí thông minh trong người và thông minh giữa người. Hơn thế, nó còn là khả năng chế ngự cảm xúc để thích ứng với hoàn cảnh và kiểm soát các cảm xúc. Người có EQ cao do vậy dễ thích nghi, luôn tìm được sự hòa hợp trong một tập thể, dễ dàng nhận được sự hợp tác hơn những "thiên tài đơn độc" (mà trong thời đại hiện nay, tính tập thể trong làm việc việc hết sức quan trọng). Sau đó, nhà tâm lý học Daniel Goleman xác định cụ thể và có hệ thống hơn trong tác phẩm của ông mang tên Emotional Intelligence.

EQ một phần là bẩm sinh nhưng cũng do giáo dục, rèn luyện mà có được. Việc giáo dục tình cảm phải được thực hiện từ khi trẻ còn nhỏ, hệ thần kinh chưa trưởng thành, có nhiều cơ hội tiếp nhận những cảm xúc mới. EQ không đối lập với IQ, mà mục đích của giáo dục là phát triển song song hai chỉ số này. Có những người được thiên phú cả hai, nhưng không ít người lại thiếu cả hai.

Khác với IQ đã xây dựng được một hệ thống trắc nghiệm, đo bằng con số cụ thể, EQ chưa có được một công thức tính toán riêng, vì trí thông minh xúc cảm là một phẩm chất phức tạp, biểu hiện qua những cái khó thấy như sự tự ý thức, sự thấu cảm, tính kiên trì, lạc quan, tính quyết tâm và khả năng hoạt động xã hội.

Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ, như người ta thường nói "với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn". Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất.

SQ - Thông minh xã hội

Rộng hơn nữa, khả năng biết dựa vào EQ kết hợp với sự nhạy bén trong nhận thức những cái mới nảy sinh trong xã hội để chủ động điều tiết cách ứng xử của mình trong cộng đồng được các nhà tâm lý học phát triển thành một khái niệm gọi là Thông minh xã hội (Social Intelligence, xác định bằng chỉ số thông minh xã hội Social Quotient SQ). Khái niệm này do Edgar Doll đưa ra từ năm 1937, với mục đích xác định mức độ hòa nhập vào một tập thể rộng lớn thông qua khả năng đánh giá đúng người, đúng việc, sự khôn khéo, cách xử lý có hiệu quả một cá nhân trước mỗi hiện tượng, sự kiện, mỗi tình huống cụ thể... Đa số câu hỏi trắc nghiệm chỉ số SQ dựa vào tính đối cực do Hans Eysenek đưa ra trên cơ sở các dữ liệu lâm sàng và thống kê. SQ được xem như chiếc chìa khóa để thành công trong cuộc đời, và nếu như các chỉ số khác đều cao, cá nhân đó chắc chắn sẽ là một người thành đạt trong xã hội.

CQ - "cái vỗ nhẹ" vào vùng não phải

Bất cứ hoạt động trong lĩnh vực nào cũng không chỉ dựa vào những cái có sẵn mà phải phát triển nó lên. Tuy nhiên cách phát triển ấy ở mỗi người một khác, có thể là sự tiệm tiến, nhưng cũng có thể là những bước đột phá, những bước nhảy vọt. Khi đó, sự sáng tạo được thể hiện. Có những người cho rằng chính sự sáng tạo mới phân biệt giữa người này với người khác và chính nó là cốt lõi của trí thông minh. Đó là lý do để người ta đưa ra một khái niệm mới, một tiêu chí đánh giá nữa, được gọi là Trí thông minh sáng tạo (Creative Intelligence và tương ứng CQ). Xét cho cùng, chính trí thông minh sáng tạo mới làm nên lịch sử khoa học kỹ thuật và công nghệ, mới xây dựng được một kho tàng văn hóa nghệ thuật khổng lồ, mới thúc đẩy sự tiến hóa của nhân loại.

Nhà tâm lý học người Anh Harry Adler lần đầu tiên đưa ra khái niệm này. Ông nghiên cứu vùng khu trú của những suy nghĩ sáng tạo và định nghĩa một cách đơn giản: "Khả năng sáng tạo là cái loé sáng vỗ nhẹ vào vùng não phải để làm bật ra những ý tưởng". Nói như vậy có nghĩa là tuy phần nào mang tính bẩm sinh, nhưng khả năng sáng tạo vốn có trong tư duy mỗi người và hoàn toàn có thể "rèn luyện" được. Adler đã chỉ ra rằng có thể nâng cao hiệu quả của não bộ bằng cách tập suy nghĩ, tìm ra những cái phi thường, cái "loé sáng" trong cái bình thường và đề xuất rất nhiều cách để tạo ra "cái vỗ nhẹ" đó. Cũng chính vì thế, mục tiêu giáo dục ở các nước tiên tiến là không chỉ cung cấp kiến thức đào tạo mà tạo ra những người biết suy nghĩ sáng tạo. Gần đây, người ta đã xây dựng cả một ngành khoa học mang tên 'Tư duy sáng tạo" nhằm mục đích này.

PC - Say mê quyền lực

Là bất cứ việc gì cũng chỉ thành công nếu toàn tâm toàn ý dành cho nó. Để đặc trưng cho phẩm chất này người ta đưa ra khái niệm Chỉ số say mê (Passion Quotient, viết tắt PQ) và cùng với nó là Chỉ số nghề nghiệp (Career Quotient CQ). Sự say mê trước hết do định hướng đúng vào công việc được lựa chọn, phù hợp với năng lực và sở trường của mình, vào trí thông minh của mình theo như phân loại. GS. Arindam Chaudhari - nhà quản lý nổi tiếng Ấn Độ - cho rằng những người có chỉ số PQ cao bao giờ cũng là tài sản quý của một cơ quan, tổ chức. Ông chỉ ra những phẩm chất của họ là: yêu thích công việc mình làm, họ luôn tận tụy, hoàn thành có chất lượng bất cứ việc gì có liên quan, thất bại chỉ kích thích họ suy nghĩ thêm thấu đáo, chứ không làm họ nản chí, họ làm việc không kể giờ giấc, hay ít ra cũng thường xuyên suy nghĩ về công việc cả trong khi nghỉ ngơi nên tìm ra những giải pháp độc đáo, sáng tạo. Họ luôn luôn nghĩ đến việc gì sẽ làm tiếp theo và tìm cách chạy đua với thời gian. Những phẩm chất đó khiến họ thành công trong nghề nghiệp của mình.

Nếu ca ngợi một nhà bác học say mê nghiên cứu, một doanh nhân say mê làm giàu thì cũng không thể phê phán một nhà chính trị say mê quyền lực, điều người ta thường nhìn theo khía cạnh tiêu cực vì quyền lợi mà quyền lực mang lại. Trước đây, trong việc đề bạt cán bộ lãnh đạo của Liên Xô, đã đưa tính chất "ham địa vị" như một tiêu chuẩn chọn lựa, xét về mặt tích cực.

Nhiều người còn đánh giá phẩm chất cá nhân theo Chỉ số đạo đức (Moral Quotient, MQ). Vấn đề này không cần bàn nhiều vì đã được thừa nhận chung. Bao giờ cụm từ "có đức có tài" cũng đi liền với nhau.

(Theo Khoa học và Đời sống)

http://forum.learnit.vn/showthread.php?t=68

Obama nhiều quyền lực nhất thế giới

Tổng thống Mỹ Barack Obama đứng đầu bảng xếp hạng gồm 67 người được đánh giá là có quyền lực nhất thế giới, do tạp chí Forbes mới công bố.

Đứng sau Obama là Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, số 2 và Thủ tướng Nga Vladimir Putin, số 3.

Danh sách này bao gồm 67 người, có quyền lực nhất trong 6,7 tỷ người của hành tinh. Họ gồm các nguyên thủ quốc gia, các nhà tài phiệt, những nhà làm từ thiện và cả tội phạm. Theo Forbes, đó là những người thực sự điều hành thế giới.

Đây là lần đầu tiên tạp chí Mỹ lập danh sách quyền lực này.

Bảng xếp hạng do năm nhà báo lớn của Forbes thực hiện. dựa trên bốn tiêu chí:

- người đó có ảnh hưởng tới nhiều người hay không;

- họ có kiểm soát một nguồn tài chính lớn hay không;

- họ có quyền lực ở nhiều lĩnh vực khác nhau hay không;

- và, họ có thực sự dùng quyền lực đó hay không.

Theo những tiêu chí có thể gây tranh cãi này, Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy, người đứng đầu nền kinh tế lớn thứ 5 thế giới, được xem là kém quyền lực hơn Dalai Lama, nữ hoàng talkshow của Mỹ Oprah Winfrey, chủ bút tờ New York Times Kill Keller và thậm chí Joseph Blatter, chủ tịch liên đoàn bóng đá thế giới FIFA.

Trong một năm khó khăn của tài chính, Forbes vẫn không coi nhẹ sức mạnh của đồng tiền. Tỷ phú Mexico Carlos Sim - người giàu thứ 3 thế giới - đứng thứ 6 trên bảng xếp hạng. Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ Ben Bernanke thì đứng thứ 4 còn ông trùm truyền thông Mỹ Rupert Murdoch đứng thứ 7. Tỷ phú Mỹ Warren Buffet đứng thứ 14.

Forbes cũng nhận thấy tầm quan trọng của Internet bằng việc trao vị trí thứ 5 cho nhà sáng lập Google Sergen Brin và Larry Page, trong khi nhà sáng lập Microsoft Bill Gates xếp thứ 10.

Người đứng đầu tập đoàn bán lẻ lớn nhất thế giới Wal-Mart Michael Duke xếp thứ 7, rõ ràng được coi là quyền lực hơn Quốc vương Ảrập Xêút Abdullah, người nắm giữ kho dầu mỏ lớn nhất thế giới.

Giáo hoàng Benedict XVI xếp thứ 11 trong danh sách; trong khi trùm khủng bố Osama bin Laden đứng thứ 37. Tỷ phú Ấn Độ Lakshmi Mittal đứng thứ 55 còn cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton xếp thứ 31. Đứng cuối cùng trong danh sách là Tổng thống Venezuela Hugo Chavez.

http://vn.news.yahoo.com/vne/20091112/twl-obama-nhieu-quyen-luc-nhat-the-gioi-79585cb.html

Trí thức và chế độ cộng sản

Phạm Việt Vinh
“...Một chế độ được dựng xây và bảo vệ bằng sự triệt hạ, nhục mạ trí thức chắc chắn không thể trường tồn. Chế độ đảng trị Việt Nam không thể là ngoại lệ. Vấn đề quan trọng là thời gian. Vì thời gian cũng có khả năng biến ‘sống hèn’ thành tập quán...”

Tiến sĩ A đã từng là một giáo sư người Ðức giỏi tại trường Ðại Học Kỹ Thuật thành phố E., một đô thị lớn thuộc Ðông Ðức cũ. Ông là giáo sư trưởng ngành khi tôi còn là một du học sinh Việt Nam tại E., vào giữa những năm 70 của thế kỷ trước. Ðối với giới sinh viên hồi đó, ông là một người thầy vừa được quý mến, vừa được kính trọng. Trong giờ ông lên lớp, giảng đường im phăng phắc, tất cả sinh viên từ người Ðức, người Hung đến người Việt đều chăm chú nghe, đều cắm đầu ghi chép hầu như lấy từng lời của ông vì mọi điều ông nói ra đều có vẻ như vô cùng quý giá. Vào cuối những năm 80, ông là người trực tiếp hướng dẫn tôi làm luận án nghiên cứu khoa học. Lúc này, ngoài vai trò giáo sư trưởng ngành, ông còn đảm nhiệm chức vụ chủ tịch công đoàn khoa. Vào giờ ăn sáng, ăn trưa, xung quanh ông lúc nào cũng có dăm bảy đồng nghiệp ngồi cùng với một thái độ nể trọng.

Tháng Mười, năm 1990, nước Ðức thống nhất. Tại tất cả các cơ quan ở Ðông Ðức, người ta tiến hành kiểm tra, phát giác hệ thống chân rết của bộ máy An Ninh Quốc Gia Stasi khét tiếng. Từ đó, vào giờ ăn sáng, ăn trưa, tôi thấy giáo sư A hầu như chỉ ngồi có một mình. Rồi tôi ngạc nhiên khi thấy nhiều đồng nghiệp của ông có vẻ như lảng tránh ông và đôi lúc nhìn ông với những ánh nhìn khinh ghét. Một thời gian sau, có người nói với tôi: giáo sư A là “IM” (viết tắt của tiếng Ðức: inoffizieller Mitarbeiter), là người ngầm cung cấp tin tức cho cơ quan An Ninh Quốc Gia. Tuy vẫn còn là giáo sư, tiến sĩ tại trường, nhưng tôi thấy ông càng ngày càng cô đơn hơn, buồn thảm hơn. Năm 1992, ông chủ động xin nghỉ hưu trước thời hạn. Với tư cách học trò cũ, tôi thỉnh thoảng vẫn đến thăm ông. Và ông kể với tôi: với vị trí là giáo sư trưởng ngành và chủ tịch công đoàn, ông vừa là nhà lãnh đạo chuyên môn, vừa là người có thể nhìn nhận được nhiều mặt trong cuộc sống của hơn 300 giáo viên, cán bộ khoa học và nhân viên trong khoa. Rồi một ngày, ông nhận được giấy mời của cơ quan Stasi. Tại trụ sở Stasi của tỉnh, người ta yêu cầu ông cộng tác. Việc cộng tác sẽ đảm bảo cho vị trí công tác và sự thăng tiến của ông. Việc chối từ sẽ được đánh giá là sự bất hợp tác với cơ quan bảo vệ quốc gia, sự trốn tránh trách nhiệm của một đảng viên cộng sản. Ðối với ông, lời yêu cầu đó là một sự bắt buộc. Và ông nhận lời. Nhiệm vụ của ông là thường xuyên báo cáo với cơ quan an ninh quốc gia về khả năng chuyên môn, và đặc biệt là về thái độ chính trị cũng như diễn biến tư tưởng của đồng nghiệp và cán bộ dưới quyền. Ông kể rằng ông đã không hề làm những báo cáo sai sự thật. Nhưng cũng vì những báo cáo của ông mà có những tiến sĩ không bao giờ được trao đề tài nghiên cứu quan trọng, có những giáo viên, nhân viên bắt buộc phải đổi nghề. Ngược lại, ông được bầu vào đảng ủy trường đại học, được cấp một khoảnh đất rộng rãi để xây lên một biệt thự khang trang bên cạnh các biệt thự của nhiều quan chức lãnh đạo thành phố.

Rồi cuộc đời đã không như ông tưởng. Nhà nước Cộng Hòa Dân Chủ (CHDC) Ðức sụp đổ. Hồ sơ bộ máy Stasi bị phanh phui. Nhiều đồng nghiệp, bạn bè ông đã được đọc những dòng ông ngầm viết về họ. Trong một buổi họp toàn khoa, ông đã đứng lên thành thật xin lỗi họ. Nhưng dù có muốn, họ cũng không có thể nhìn ông được như xưa. Ông không bị truy cứu hình sự, không bị trừng phạt, nhưng khi biết vào những lúc trao đổi ngày nào, bên cạnh con mắt một nhà khoa học, một người bạn, một người đồng nghiệp, ông còn có một con mắt khác để nhìn họ, soi họ dưới một góc độ khác, thì đối với họ, ông là một người hai mặt, và ngày nay họ không thể tin ông. Qua bàn tay (dù muốn hay không) của ông, có những người khác chính kiến với nền chính trị chính thống đã bị thiệt thòi. Ở một mức độ nào đó, họ có quyền coi ông là kẻ phản bội bạn bè. Là một người thông minh và học cao, có lẽ ông biết rõ điều đó, và ông cũng biết rõ uy quyền khủng khiếp của cơ quan an ninh chính trị. Nhưng có thể bản thân ông cũng không biết, khi nhận cộng tác ngầm với Stasi, trong tâm lý của ông có bao nhiêu phần trăm là lòng tin vào chế độ, bao nhiêu phần trăm là sự sợ hãi, và bao nhiêu phần trăm là ước muốn công danh, biệt thự, xe hơi. Kết cục là bên cạnh việc vẫn sử dụng ông với năng lực một nhà khoa học, chế độ cộng sản Ðông Ðức đã biến ông thành một người mật thám. Người ta đã dùng lòng tin, sự sợ hãi, nỗi ham muốn lợi quyền để bẻ cong tư cách trí thức của ông, để ông không còn được trung thực, không còn được ngay thẳng. Nhân danh việc bảo vệ chế độ, người ta đã đánh sụp ông hoàn toàn với tư cách một người thầy giáo, một nhà khoa học.

Có lẽ khi nhìn kỹ, tư chất trí thức chưa bao giờ là đồng minh của một chế độ cộng sản. Stasi Ðông Ðức là con đẻ của cơ quan an ninh Liên Xô. Các bài bản của Stasi phần lớn được học hỏi từ bộ máy an ninh Xô Viết. Lịch sử đã cho thấy rõ, ngay sau khi chính quyền Xô Viết được thành lập vào năm 1917, đối tượng bị cơ quan an ninh đánh phá khốc liệt và tàn bạo nhất là tầng lớp quý tộc và trí thức. Với tuyên bố xây dựng nhà nước công-nông, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, một thể chế công khai coi trí thức là một nhân tố phụ trong xã hội. Dưới lưỡi hái của các cơ quan “chống phản cách mạng”, “an ninh quốc gia” như Cheka, KGB, hàng trăm ngàn trí thức đã bị sát hại, tù đày, trục xuất. Những trí thức được đào luyện trong chế độ mới một mặt vẫn phải miệt mài sản sinh ra những thành quả khoa học, kỹ thuật diệu kỳ, mặt khác vẫn nằm trong sự giám sát nghiêm ngặt và khi cần vẫn bị sự khủng bố, triệt hạ sắt máu của bộ máy an ninh chính trị.

Người ta sẽ có lý khi cho rằng, do xuất phát từ chủ thuyết “vô sản”, do sức mạnh chính quyền ban đầu được dựa vào những thành phần xã hội đơn giản nên tất cả các chính quyền cộng sản đều có mối thâm thù với tầng lớp trí thức. Và do muốn dựng xây thế giới trên cơ sở một thứ tôn giáo trá hình, nên các đảng cộng sản phải coi tính trung thực, sự hoài ước “Chân, Thiện, Mỹ” - những đặc tính cần thiết của giới trí thức, là những liều thuốc độc. Biểu hiện căm thù trí thức đạt tới đỉnh cao với sự hình thành nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Cuộc cách mạng Cộng Sản Trung Quốc được lãnh đạo bởi Mao Trạch Ðông, con của một trung nông, và được dựa hầu như hoàn toàn vào sức mạnh “nông thôn bao vây thành thị”. Vì vậy, Tôn Dật Tiên, Quốc Dân Ðảng, với hậu thuẫn chính là tư sản, trí thức phải bị gạt bỏ, triệt tiêu. Trí thức được đánh giá cao hơn “cục phân” phải bị xử lý kỹ trước khi sử dụng, phải bị đội mũ lừa, bị cải tạo lao động tại nông thôn và phải bị tàn sát trong “Ðại Cách Mạng Văn Hóa Vô Sản”.

Là con đẻ, là đàn em của các chính quyền Cộng Sản Xô Viết, Ðông Ðức, Trung Hoa nên trong thực chất, chính quyền hiện nay ở Hà Nội cũng phải mang trong máu mối thâm thù trí thức. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông miền Bắc từ cuối những năm 60, người viết bài này cũng đã được dặn dò rất kỹ rằng tầng lớp trí thức là thành phần không kiên định, hay nghiêng ngả và dễ dàng đi với giai cấp tư sản. Ðối với chế độ hiện nay, chủ thuyết đấu tranh giai cấp, coi công-nông là nền tảng cách mạng, khẩu hiệu “trí phú địa hào - đào tận gốc, trốc tận rễ” có thể là những vũ khí đã lỗi thời, được cất làm cổ vật. Nhưng điều quan trọng là chính những vũ khí đó đã tạo ra nền tảng của chính quyền hiện nay; chính tâm thức công-nông, bài trí thức đó vẫn đang quyết định hành xử của các cỗ máy công quyền hiện đại. Nhiều đại biểu Quốc Hội có học vấn thực thụ vẫn trộm phàn nàn về sức mạnh áp đảo của thành phần “ít học” trong Quốc Hội. Những thứ trưởng, bộ trưởng trẻ ngóng mong được làm một giới “kỹ trị” mới vẫn đang phải chịu sự điều hành hay nấp bóng của các đại công thần xuất thân từ chiến trường, đồng ruộng hay thậm chí từ thành phần bất hảo. Những người gìn giữ và bảo vệ một chế độ như vậy đương nhiên sẽ căm ghét những phân tích, nhìn nhận tỉnh táo, khoa học. Khi bắt toàn dân phải nghĩ và đi theo “lề đường bên phải”, chính thể này không khác nhiều so với việc cách đây 50 năm, họ đã hành hạ những ai phản đối nhà nước muốn “đặt bục công an giữa trái tim người.” Trong khi đó, tận tìm sự hợp lý, vượt thoát vạch ngăn lại chính là tố chất cao nhất của người trí thức. Và điều này sẽ quyết định sức mạnh của một đất nước.

Chăng dây định lề đi cho trí thức là hành vi “phản tri thức”, phá hoại quốc gia. Khi thực thi chủ trương này, thì ngay cả với một đội ngũ khoa bảng cao trong bộ máy chính quyền, nhà nước Việt Nam ngày nay vẫn không vượt thoát được bản chất “công-nông” không thể gột rửa. Hơn nữa, khi xuất phát từ một quốc gia chưa có giai cấp công nhân, và một điền chủ với vài ba mẫu ruộng đã bị đem ra đấu tố, thì bản chất này có thể chỉ ở mức độ “tiểu nông” với những biểu hiện thiển cận trong nhìn nhận, giảo hoạt trong thái độ và tủn mủn trong hành vi. Với một chính quyền như vậy, giới trí thức có suy nghĩ độc lập phải được coi là hiểm họa. Tư tưởng chính trị mong manh có thể đã làm cho ban lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam lúc thì xác quyết “Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp”, lúc thì khẳng định “Trung Quốc là đồng minh chiến lược, toàn diện và lâu dài”, nhưng có lẽ, bản chất “tiểu nông” đã làm cho họ lúc nào cũng coi trí thức mãi mãi là đối thủ! Trong trận tuyến họ tạo ra với trí thức ấy, việc đàn áp, bắt trí thức suy nghĩ, hành động trong khuôn phép chắc chắn là một nhiệm vụ quan trọng của bộ máy an ninh cộng sản.

Trong hành xử chống lại một đối thủ bị căm ghét về tri thức và tư tưởng, việc tập trung đánh gục danh dự, nhân cách đối thủ là một đòn thông dụng của cơ quan an ninh chuyên chính.

Khi nhiều người Việt Nam yêu dân chủ hy vọng vào một Trung Tướng Trần Ðộ thì họ mang ông ra kiểm điểm về quan hệ nam nữ. Khi xã hội Việt Nam có vẻ như bừng tỉnh với những tiếng nói đối kháng thì họ trưng dẫn ra những bản kiểm điểm trong nhà tù của những người bị giam cầm nhằm chứng minh nạn nhân đã quỵ gối, đã phản lại chính mình. Không thể dùng lý luận để biện minh cho sự tồn tại của mình, họ gắng sức bôi nhọ các gương mặt phản kháng bằng những tình tiết riêng tư. Chỉ hai ba ngày sau khi bắt giữ Luật Sư Lê Công Ðịnh, họ tung lên các mạng thông tin bút tích và hình ảnh nạn nhân nói lời hối cải, xin tha thứ. Mọi phán đoán về sự khủng bố, ép cung của công an, hay về sự gục ngã về tinh thần của Lê Công Ðịnh cho đến nay vẫn chỉ là suy đoán. Ðiều chắc chắn là những phát biểu, bài viết, hành động của ông cho đến trước khi bị bắt là kết quả, là tinh hoa của một bộ óc trí thức cần thiết cho một xã hội văn minh. Khi không thể bẻ gẫy những lập luận của ông, nhà cầm quyền Việt Nam khoái trá đưa ra một Lê Công Ðịnh ảm đạm phủ nhận những suy nghĩ và hành vi trong lúc có thể được coi là tự do của mình. Trước và sau Lê Công Ðịnh, cơ quan an ninh Việt Nam đã và vẫn đang dùng mọi phương kế đàn áp, lừa phỉnh, nhiều khi giẫm đạp lên luật pháp của chính họ để bắt không biết bao nhiêu trí thức Việt Nam cúi mặt trước ống kính của công an để đọc lời chối bỏ những hành vi sáng suốt và đáng quý của mình. Ðó là đỉnh cao của sự lăng nhục, triệt hạ nhân cách nói chung và trí thức nói riêng.

Một trong những bằng cớ cơ quan công an đưa ra để buộc tội các cá nhân và tổ chức đối kháng là “bị tác động và nhận tiền của nước ngoài.” Các bằng chứng được viện ra hầu hết đều khiên cưỡng và bịa đặt. Chính quyền và ban lãnh đạo đảng Cộng Sản không tin, hoặc là cố tình không tin, nhưng lại muốn bắt cả dân tộc phải tin rằng không còn có những con người Việt Nam, trí thức Việt Nam sẵn sàng hy sinh lợi ích riêng tư vì đất nước. Họ muốn chứng minh rằng đất Việt đã hết những con người vì nghĩa. Ðó là sự phỉ nhổ vào nguyên khí quốc gia.

Trong cuộc “Thập tự chinh” hủy diệt nhân cách trí thức - của cả người có học vấn cao lẫn của người dân thường, này, từ bài học của đàn anh Stasi, chắc chắn cơ quan an ninh Việt Nam cũng đang có hàng chục, hàng trăm nghìn “IM” như giáo sư A, ở một mức độ nào đó, hoặc là đang phải tàn phá danh dự của chình mình, hoặc là phải “sống hèn” như lời nhạc sĩ Tô Hải mới đây trong “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn”. Rồi cuối cùng, CHDC Ðức cũng sụp đổ. Một chế độ được dựng xây và bảo vệ bằng sự triệt hạ, nhục mạ trí thức chắc chắn không thể trường tồn. Chế độ đảng trị Việt Nam không thể là ngoại lệ. Vấn đề quan trọng là thời gian. Vì thời gian cũng có khả năng biến “sống hèn” thành tập quán.

(Bài này được trích đăng từ trang mạng www.thongluan.org)


Phạm Việt Vinh

Tháng Tám, năm 2009



Thưa Bộ trưởng, có phải Bộ trưởng quy định thế này không?

LTS: Anh Hữu Tâm, hiện đang làm nghiên cứu sau tiến sỹ (postdoctoral) ở Mỹ đã gửi đến tòa soạn những bức xúc của mình khi trải qua quãng đường gian nan xin nhập học cho con ở Việt Nam. Xin giới thiệu để độc giả theo dõi và chia sẻ.

Tôi được một suất học bổng đi học Tiến sĩ ở Ấn Độ. Vì điều kiện gia đình, tôi mang cháu sang Ấn Độ từ lúc 3 tuổi. Mặc dù ở Ấn Độ trường dạy bằng tiếng Anh, nhưng chúng tôi cũng mang theo sách học của Việt nam để dạy cháu thêm vì sợ sau này về nước cháu không theo kịp.

Tôi hoàn thành luận án cũng là lúc cháu học hết lớp 2. Ở Ấn Độ, học sinh bắt đầu đi học vào đầu tháng 4 và kết thúc năm học vào cuối tháng 3. Về nước vào cuối tháng 3, tôi nhờ cô giáo gần nhà dạy thêm tiếng Việt cho cháu.

Tuy nhiên, mọi sự chuẩn bị đó dường như chưa đủ. Tôi phải trải qua hành trình gian nan, đầy bức xúc khi đi xin học cho con.



Số giấy tờ anh Tâm cần để xin cho con nhập học ở Việt Nam.

Bài 1: Nỗi khổ học bạ bằng tiếng Anh



Trước khi về Việt Nam, tôi đã đến trường con tôi học để hỏi xem những học sinh trước đây chuyển trường thì cần những giấy tờ gì và họ bảo chỉ cần học bạ và một giấy chuyển trường là đủ. Thế nhưng khi về nước, tôi mới biết đó là những thứ cần thôi chứ không đủ!


Tôi đem học bạ đến Phòng Công Chứng số I để dịch ra Tiếng Việt, họ yêu cầu phải có xác nhận của Đại Sứ quán Ấn Độ và có đóng dấu Sứ quán Ấn Độ tại Việt Nam vào trong học bạ.



Tôi đến Lãnh Sứ quán Ấn Độ ở TP. HCM (nơi tôi làm việc), sau một thời gian chờ đợi, tôi được nhân viên ở đây trả lời rằng, họ không làm chức năng này. Tôi nói với họ, như vậy con tôi sẽ không đi học được. Anh nhân viên có lẽ cũng nghĩ đến vấn đề nghiêm trọng, nên gọi điện hỏi ai đó. Sau đó anh ta nói rằng, muốn như vậy thì phải có giấy chứng nhận của Đại Sứ quán Việt nam tại Ấn Độ là con tôi đã học tại trường đó.

“Chẳng lẽ con tôi không thể đến trường?”, câu hỏi này cứ ám ảnh tôi. Vì như tôi biết, các Sứ quán làm gì có người đi xác minh xem có đúng là học sinh này đã học lớp 1 và 2 tại trường nào đấy không.

Cũng may, tôi có người bạn làm ở Đại Sứ quán Việt Nam tại New Delhi. Anh bạn rất bất ngờ khi tôi gọi điện trình bày sự việc nhưng cũng tận tình giúp đỡ, và sáng hôm sau tôi đã có giấy chứng nhận gửi bằng fax và email có đóng dấu của Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ, rằng con tôi đã học ở trường đó lớp 1 và lớp 2.



Tôi mang tất cả giấy tờ cần thiết, kể cả Hộ chiếu và Thị thực, để chứng minh là tôi và con tôi đã ở Ấn Độ trong thời gian con tôi đi học. “Như vậy là chắc ăn rồi”- tôi nghĩ. Khi gặp lại anh nhân viên hôm trước, anh ta bảo tôi đi photo 3 bản vì trong sứ quán không có máy photocopy.


Tuy nhiên, khi quay lại, anh ta lại có việc đi đâu đó nên tôi phải đợi rất lâu mới gặp được anh ấy. Anh ta bảo rằng lúc sáng quên nói với tôi là, theo quy định của Sứ quán, tôi phải trả mười mấy đôla cho mỗi con dấu, nghĩa là gần hai trăm nghìn tiền Việt nam. Như vậy với 2 học bạ và một giấy chuyển trường, tôi phải đóng hơn 500.000 đồng. Sau một chút do dự, tôi quyết định đóng số tiền đó và anh ta đóng dấu, viết biên nhận.



Tôi cầm tất cả giấy tờ về cơ quan để “khoe” với mọi người. Vấn đề bây giờ là phải ra công chứng, nghe đâu phải đợi đến mấy ngày. Có một chị bạn cùng cơ quan "mách nước" bằng cách giới thiệu người quen bên Sở Tư pháp để giúp tôi. Sau khi điện thoại, tôi đến Sở Tư pháp và tiếp tục được giới thiệu đến một người làm ở phòng công chứng số IV (quận Tân Bình). Tôi hy vọng sẽ có bản dịch và công chứng nhanh chóng để xin cho con tôi đi học.



Cũng trong những ngày này, tôi đang làm Visa để đến Mỹ làm nghiên cứu sau Tiến sĩ (postdoctoral). Cơ quan ở Mỹ họ đồng ý làm giấy tờ cho cả gia đình tôi, nhưng tôi lại muốn con tôi ở lại Việt nam học để cháu biết tiếng Việt và hiểu về đất nước, không thì sau này sợ cháu sẽ mất gốc.



Tôi đến Phòng công chứng số IV và găp được người mà tôi cần gặp. Sau một hồi xem xét giấy tờ, chị nhíu mày lại. “Lại có vấn đề rồi”-tôi nghĩ. Và quả đúng như vậy, chị đem giấy tờ, nói rằng Ấn Độ và Việt Nam chưa có thỏa thuận hay gì đó (tôi không nhớ chính xác lắm, vì lúc này đầu óc tôi đã quá sức chịu đựng rồi). Theo hướng dẫn của chị thì cần phải có thêm 3 con dấu nữa để hợp thức hóa 3 con dấu của Lãnh Sứ quán Ấn độ.

Để làm được điều này, cần phải đến Sở Ngoại Vụ để xin con dấu. Chị cũng nhắc tôi là một con dấu cũng đóng chừng đấy tiền như ở Lãnh Sứ quán Ấn Độ, để tôi nhớ đem theo.

Than ôi! con tôi mới học có lớp 2 phải cần đến những con dấu - mà mới nghe thì cứ nghĩ là đang làm giấy tờ để nhận nhiệm vụ tại Liên Hợp quốc!!!



Tôi thất vọng vô cùng, đầu óc lo lắng, chẳng lẽ “không thể", chẳng lẽ "con tôi không được đến trường”. Tôi hỏi địa chỉ Sở Ngoại vụ, nhiều người không biết. Mà chính tôi hơn 10 năm công tác tại Viện khoa học Việt Nam mà còn chưa biết nó ở đâu cả. Tôi chạy tà tà trên đường, gặp ai tôi cũng hỏi. Thế rồi tôi đi ngang qua Phòng công chứng số I (đường Paster), tôi nhớ mang máng là lần đầu tiên tôi đến đấy, cái ông có cái bộ mặt rất khó chịu chỉ đòi con dấu của Lãnh Sứ quán Ấn Độ thôi.

Tôi hy vọng ông ta quên hoặc không biết cái giấy tờ gì đó mà chị ở Phòng Công chứng số IV lấy ra để yêu cầu tôi phải tìm Sở Ngoại Vụ. Và rồi Chúa cũng giúp tôi! Với vẻ mặt hằm hằm, ông ta ghi ghi gì đó rồi bảo sang đóng tiền. Tôi không thể tin vào tai mình nữa. Hai ngày sau, tôi có bản dịch học bạ bằng Tiếng Việt.

Ôi chao! Không ngờ học bạ của học sinh tiểu học lại phải dịch ra Tiếng Việt, mà nó lại nhiêu khê đến như vậy. Chẳng lẽ ở Trường, Phòng, Sở không ai đọc được tiếng Anh? Trong khi bây giờ trường nào cũng có giáo viên Tiếng Anh cơ mà.

Tôi nghĩ, chắc không có nơi nào trên thế giới làm như Việt Nam chúng ta đâu. Thưa Bộ trưởng Bộ Giáo dục, có phải Bộ trưởng qui định như vậy không?



http://vietnamnet.vn/giaoduc/200910/Thua-Bo-truong-co-phai-Bo-truong-quy-dinh-the-nay-khong-873186/

Thủ tướng yêu cầu xử lý việc IDS tự giải thể

Sau cuộc họp về Quyết định 97 liên quan đến việc ban hành Danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ, ngày 14/10, Thủ tướng giao TP Hà Nội, Bộ KHCN có hình thức xử lý thích hợp, đúng quy định của Đảng, Nhà nước đối với việc tự giải thể của Viện nghiên cứu phát triển (IDS) và những phát biểu thiếu tinh thần xây dựng của một số cá nhân thuộc Viện này.

"Quyết định 97 là cần thiết"


GS Phạm Duy Hiển trao đổi với nhà giáo Phạm Toàn trong một seminar của IDS về giáo dục. Ảnh: VNN
Theo kết luận của Thủ tướng, sau khi Thủ tướng ký ban hành Quyết định 97/2009/QĐ-TTg (gọi tắt là Quyết định 97, dư luận chung hoan nghênh việc ban hành quyết định này, nhưng cũng có một số ý kiến cho là quyết định ban hành chậm và không tán thành, đề nghị hoãn thi hành vì không đúng pháp luật.

Thông báo kết luận của Thủ tướng cho hay việc ban hành Quyết định 97 là “cần thiết, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật và đã có hiệu lực thi hành”, đồng thời yêu cầu “các bộ, ngành, địa phương liên quan khẩn trương tổ chức thực hiện nghiêm quyết định này”.

Thủ tướng giao Bộ Khoa học và Công nghệ khẩn trương xây dựng, ban hành thông tư hướng dẫn điều kiện và thủ tục đăng ký hoạt động đối với các tổ chức khoa học và công nghệ, trong đó có tổ chức khoa học và công nghệ do cá nhân thành lập, theo đúng Quyết định 97 và các văn bản pháp luật có liên quan.

Xử lý đúng quy định

Trong thông báo kết luận, Thủ tướng “giao Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội chủ trì, cùng Bộ Khoa học và Công nghệ có hình thức xử lý thích hợp, đúng quy định của Đảng và Nhà nước đối với việc tự giải thể của Viện nghiên cứu phát triển (IDS) và những phát biểu thiếu tinh thần xây dựng của một số cá nhân thuộc Viện nghiên cứu phát triển (IDS)”.

Thủ tướng yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội chỉ đạo cơ quan chức năng thực hiện đúng các quy định của pháp luật hiện hành về việc chấm dứt hoạt động của Viện nghiên cứu phát triển (IDS) sau khi tổ chức này tự giải thể.

Quyết định 97 được Thủ tướng ký ngày 24/7/2009 ban hành danh mục gồm 7 lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ gồm khoa học tự nhiên; khoa học xã hội; khoa học nhân văn; khoa học kỹ thuật và công nghệ; khoa học y, dược và sức khỏe; khoa học nông nghiệp; dịch vụ khoa học và công nghệ.

Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9 vừa qua.

Viện nghiên cứu phát triển (Institute of Development Studies - IDS) được thành lập tháng 9/2007 tại Hà Nội. Đây là Viện nghiên cứu tư nhân đầu tiên và do các nhà khoa học tự góp vốn xây dựng.

Mục tiêu của Viện là thực hiện các nghiên cứu và tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn về chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển cho các cơ quan nhà nước và tổ chức kinh tế - xã hội, cá nhân.

IDS hoạt động trên cơ chế độc lập và mở, với hội đồng gồm 16 thành viên như GS Hoàng Tụy (Chủ tịch Hội đồng), TS Nguyễn Quang A (Viện trưởng), bà Phạm Chi Lan, các ông Nguyên Ngọc, Tương Lai, Lê Đăng Doanh, Trần Việt Phương, Nguyễn Trung, Chu Hảo...

IDS tự giải thể để phản đối Quyết định 97

Viện nghiên cứu phát triển (IDS), cơ quan nghiên cứu xây dựng theo mô hình think-tank đầu tiên ở Việt Nam, vừa quyết định tự giải thể để phản đối Quyết định 97 về phản biện của Chính phủ.

Thông cáo đăng trên trang mạng của IDS viết: " Ngày 14/09/2009, Hội đồng Viện IDS đã họp phiên toàn thể, quyết định tự giải thể để biểu thị thái độ dứt khoát của Viện đối với Quyết định 97".

Quyết định 97/2009/QĐ-TTg về việc ban hành Danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký hôm 24/07 và bắt đầu có hiệu lực ngày thứ Ba 15/09.

Văn bản này khi công bố đã gặp phản đối khá dữ dội của nhiều trí thức trong nước, cho dù ban soạn thảo quyết định giải thích đây chỉ là động thái minh bạch và cụ thể hóa hoạt động của các tổ chức KH&CN.

Điều 2, nói về ý kiến phản biện, quy định "không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học công nghệ".

Điều 4 thì yêu cầu "rà soát lại các tổ chức KH&CN do cá nhân đã thành lập để hướng dẫn đăng ký lại hoạt động".

IDS cho rằng Quyết định 97 đã có "sai phạm nghiêm trọng" và đã gửi thư kiến nghị ngày 06/08/2009 lên Thủ tướng. Bản thân ông Nguyễn Tấn Dũng cũng đã có hai cuộc gặp với lãnh đạo IDS về nội dung Quyết định.

Tuy nhiên thông cáo của Viện này cho hay " tất cả các kiến nghị của Viện IDS về Quyết định 97 đều không được chấp nhận".

Thông cáo viết: "Với một quyết định hạn chế đến mức vô lý quyền nghiên cứu của một tổ chức khoa học, Viện nghiên cứu phát triển IDS không thể tiếp tục hoạt động theo sứ mệnh đã xác định trong mục tiêu ghi vào Điều lệ của mình".

Sau khi giải thích rõ lý do giải thể, IDS cũng nói rõ: " Chúng tôi cũng giữ quyền sử dụng tiếp các công cụ pháp lý để bảo vệ sự trong sáng của luật pháp".
Đe dọa an ninh?

Viện nghiên cứu phát triển IDS được thành lập vào cuối năm 2007 tại Hà Nội. Đây là một Viện nghiên cứu 100% tư nhân và do các nhà khoa học, các thành viên sáng lập tư nhân, góp vốn xây dựng.

Nguyên tắc của Viện được nói là hoạt động trên cơ chế độc lập và mở. Độc lập cả về quan điểm nghiên cứu tới cơ chế tài chính, không chịu sự ảnh hưởng của kể các nhà nước, các hiệp hội, doanh nghiệp, cá nhân và các nhà tài trợ.

Hội đồng IDS gồm 16 vị, bao gồm các tên tuổi trí thức lớn như Hoàng Tụy, Nguyễn Quang A, Phan Đình Diệu, Tương Lai, Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, Nguyễn Trung, Nguyên Ngọc...

Trong hai năm hoạt động, IDS đã tổ chức nhiều cuộc tọa đàm khoa học về chính sách, chiến lược trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế tới giáo dục, y tế, thể chế...

Các thành viên IDS đã tham gia đóng góp nhiều ý kiến trong quá trình phản biện cho cải cách giáo dục Việt Nam và dự án khai thác bauxite tại Tây Nguyên.

Ban lãnh đạo Viện tự đánh giá là đã " làm được một số việc có ích cho đất nước, đóng góp ý kiến xây dựng đối với một số vấn đề hay chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, được dư luận xã hội, đặc biệt là giới nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm".

Tuy nhiên, thông cáo của IDS cho hay "trong thời gian qua, tồn tại dai dẳng một số nhận xét sai lệch của cơ quan an ninh về Viện IDS, thậm chí cho rằng Viện nhận tiền của nước ngoài và có hoạt động chống đối Nhà nước".

IDS nói ngày 16/01/2009 đã gửi thư lên lãnh đạo Đảng và Nhà nước phản đối "nhận định sai trái" này nhưng không được hồi âm.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/09/090915_ids_dissolving.shtml

Motivational Quotations


It was a high counsel that I once heard given to a young person, "Always do what you are afraid to do."
- Ralph Waldo Emerson -


Take calculated risks. That is quite different from being rash.
- George S. Patton -


If you do not hope, you will not find what is beyond your hopes.
- St. Clement of Alexandra -


We are all inventors, each sailing out on a voyage of discovery, guided each by a private chart, of which there is no duplicate. The world is all gates, all opportunities.
- Ralph Waldo Emerson -


Seek the lofty by reading, hearing and seeing great work at some moment every day.
- Thornton Wilder -


The only way of finding the limits of the possible is by going beyond them into the impossible.
- Arthur C. Clarke -


Without inspiration the best powers of the mind remain dormant, they is a fuel in us which needs to be ignited with sparks.
- Johann Gottfried Von Herder -


We are what we repeatedly do. Excellence, therefore,
is not an act but a habit.
- Aristotle -


Work spares us from three evils: boredom, vice, and need.
- Voltaire -


Experience is the child of thought, and thought is the child of action.
- Benjamin Disraeli -


You cannot plough a field by
turning it over in your mind.
- Author Unknown -


The best way out is always through.
- Robert Frost -


Do not wait to strike till the iron is hot; but make it hot by striking.
- William B. Sprague -


Nothing will ever be attempted if all possible objections must first be overcome.
- Samuel Johnson -


Fortune favors the brave.
- Publius Terence -


He who hesitates is lost.
- Proverb -


Our greatest glory is not in never falling but in rising every time we fall.
- Confucius -


Great spirits have always encountered violent opposition from mediocre minds.
- Albert Einstein -


Knowing is not enough; we must apply.
Willing is not enough; we must do.
- Johann Wolfgang von Goethe -


We are still masters of our fate.
We are still captains of our souls.
- Winston Churchill -


Nothing great was ever achieved without enthusiasm.
- Ralph Waldo Emerson -


For hope is but the dream
of those that wake.
- Matthew Prior -


Constant dripping hollows out a stone.
- Lucretius -


Nothing contributes so much to tranquilize the mind as a steady purpose--
a point on which the soul may fix its intellectual eye.
- Mary Shelley -

Obama Wins Nobel Peace Prize for Reviving Diplomacy

President Barack Obama won the 2009 Nobel Peace Prize for “extraordinary efforts” to strengthen global diplomacy and cooperation less than a year after taking office.

None of the organizations or analysts who follow Nobel prizes predicted the award to Obama, who is the third sitting U.S. president to have won the prize, following Theodore Roosevelt in 1906 and Woodrow Wilson in 1919. Former President Jimmy Carter won in 2002 and former Vice President Al Gore received the prize in 2007. Obama, who said he was humbled by his selection, took office less than two weeks before the Feb. 1 Nobel nomination deadline. Obama will deliver a statement on the award today.

“The Nobel Committee has in particular looked at Obama’s vision and work toward a world without atomic weapons,” Thorbjoern Jagland, chairman of the five-member Nobel committee, said. “Obama has as president created a new climate in international politics.”

Obama, 48, the first black U.S. president, was elected last year on a platform of extracting American forces from Iraq and changing the way the U.S. was perceived abroad after the presidency of George W. Bush, in particular by pledging to close the Guantanamo Bay detention camp. He has sought to improve relations with the Arab world, urged Iran to cooperate on its nuclear program and promoted a cut in atomic weapons held by Russia and the U.S. in a landmark speech to the United Nations last month.

‘Dangerous’ Decision

“It’s a dangerous thing to give Obama this prize after just nine months in office because what happens in the next three years could show him to have been undeserving of this prize,” said Shen Dingli, deputy dean of the Institute of International Affairs at Fudan University in Shanghai. “It takes decades to determine what scientific work is deserving of a Nobel prize.”

Italy’s Prime Minister Silvio Berlusconi said he “applauded the award,” U.K. Prime Minister Gordon Brown sent Obama a private message of congratulation and Norwegian Prime Minister Jens Stoltenberg called the decision “surprising, exciting” because “it can contribute to the realization of the president’s visions.” Japanese Prime Minister Yukio Hatoyama said now everyone should support Obama’s goal of a nuclear weapon-free world.

Princeton University presidential historian Fred I. Greenstein said awarding the prize to Obama “seems like premature canonization” and could bring scorn to the awards committee. “I don’t think it will bring him any political advantage in the United States, but I doubt that it will be damaging either,” Greenstein said.

Arms Control

Daryl Kimball, Executive Director of the Arms Control Association in Washington, said it was “an exciting morning” with the announcement of the prize for Obama’s work against nuclear weapons. “Before the election, Obama came out clearly in support of a broad, balanced agenda to reduce and eliminate the nuclear risk.”

Former U.S. ambassador to Germany John Kornblum said Obama has defined and positioned U.S. diplomacy and worldwide opinion differently. The prize “is part of this resonance.”

By contrast, former Nobel Peace Prize winner and Polish President Lech Walesa said the prize was handed out too quickly. “He hasn’t made such a contribution. He’s proposing things, getting started, but he still has to do something.”

Choosing Obama is “highly political,” said Nicole Bacharan, associate researcher at the National Foundation of Political Sciences in Paris. The Nobel jury “chose a symbol over completed actions.”

Cooperation on Afghanistan

Obama is also attempting to increase international cooperation on Afghanistan, where U.S. and other Western forces have been fighting since 2001. The president is currently mulling a shift in strategy in the country with his top military advisers.

“Obama is an inspirational leader,” said Ahmed Nader Nadery, a member of the Afghan Independent Human Rights Commission. “Afghans worry that his pragmatism may lead him to reduce the U.S. commitment as it becomes more politically difficult” Nadery said. The commission’s chairwoman, Sima Samar, was a leading candidate for this year’s prize, analysts said.

Previous winners include Finland’s Martti Ahtisaari in 2008 for promoting peace talks, Gore’s 2007 win was for his work on the environment while Bangladesh’s Muhammad Yunus and the Grameen Bank won in 2006 for giving loans to the poor. In 2005, the UN’s International Atomic Energy Agency and its head won for preventing the military use of nuclear energy and Kenya’s Wangari Maathai was the first environmentalist to win in 2004.

Diplomacy Center Stage

“Multilateral diplomacy is again central, with emphasis on the role the United Nations and other international institutions should play,” Nobel’s Jagland said of the Obama award. “Dialogue and negotiations are the preferred method to solve even the most difficult international conflicts.”

Obama used a June 4 speech at Cairo University to address Muslims, pledging to “seek a new beginning” for the U.S. and the Islamic world and end a “cycle of suspicion and discord.” The comments were an effort by Obama to lift U.S. standing with Muslims as the administration works to reignite the Middle East peace process, fight Islamic insurgents in Iraq and Afghanistan, and choke off support for al-Qaeda.

Working for Peace

“There’s a lot more that Obama needs to achieve for peace and for the Palestinian people in order to receive this award,” Fawzi Barhoum, Hamas spokesman in the Gaza Strip, said in a telephone interview. The U.S., European Union and Israel brand Hamas, which controls Gaza, a terrorist organization. “So far nothing has changed in the Obama administration’s policies from previous governments.”

Other Arab politicians said they hoped the award would strengthen Obama’s hand in Middle East peace negotiations. The decision may “provide a stimulus for peace,” said Lebanon’s foreign minister, Fawzi Salloukh.

“Very few leaders, if at all, were able to change the mood of the entire world in such a short while with such profound impact,” said Israeli President Shimon Peres, co-winner of the 1994 Nobel award.

The prize, along with other honors for literature, physics, medicine and chemistry, was created by Swedish industrialist Alfred Nobel in his will and first awarded in 1901. Past laureates include Martin Luther King Jr. and groups such as the International Committee of the Red Cross.

“We trust that this award will strengthen his commitment, as the leader of the most powerful nation in the world, to continue promoting peace and the eradication of poverty,” the Nelson Mandela Foundation said on behalf of its founder.

The peace prize is worth 10 million kronor ($1.4 million). Past laureates include Desmond Tutu and Mother Teresa.

Prizes for literature, chemistry, medicine and physics, are picked by the Stockholm-based Nobel Foundation.

http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=20601087&sid=aSPIBVj3JZvk

Nhật xử vụ quan chức PCI hối lộ

Hôm thứ 5 vừa rồi tòa án Tokyo đã đưa 3 cựu quan chức cấp cao trong vụ scandal hối lộ của Công ty tư vấn Thái Bình Dương PCI ra xét xử. Hình phạt dành cho các bị cáo này nhẹ hơn so với đề nghị trước đó.

Theo bản cáo trạng, PCI đã trúng thầu các dự án tư vấn xây dựng đường cao tốc tại TP HCM trong hai năm 2001 và 2003 với tổng trị giá 3,1 tỷ yen. Các dự án này đều được đầu tư từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA của Nhật Bản.

Trong hồ sơ, các quan chức PCI đã hối lộ ông Huỳnh Ngọc Sĩ, Giám đốc Giám đốc Dự án Đại lộ Đông Tây và Môi trường nước TP HCM để trả ơn cho việc trúng thầu với tổng số tiền hối lộ lên đến 2,43 triệu USD (khoảng 280 triệu yen theo tỷ giá thời điểm vụ việc diễn ra). Số tiền trên được đưa trong 7 lần kể từ tháng 1/2002. Trong đó, ba bị cáo trong phiên tòa lần này bị cáo buộc đưa cho ông Sĩ 600.000 USD vào 11/2003 và 220.000 USD vào tháng 8/2006.

Theo bản cáo trạng, việc đưa tiền mặt cho các quan chức nước ngoài đã trở thành một hành vi thường xuyên diễn ra tại công ty tư vấn này. Đầu tiên họ sẽ làm sai lệch các hóa đơn và sau đó dùng khoản tiền chênh lệch để hối lộ. Các bị cáo bị buộc tội vi phạm Luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Nhật Bản, trong đó có điều khoản cấm hối lộ các quan chức nước ngoài.

Thẩm phán Toshihiko Sonohara nói: “Các bị cáo đã làm ảnh hưởng đến niềm tin vào các dự án đầu tư ODA của Nhật Bản. Hành vi phạm pháp của các bị cáo làm cản trở tính cạnh tranh thương mại. Trong nỗ lực làm lành mạnh hóa môi trường kinh doanh quốc tế, chúng ta không thể bỏ qua vụ việc này".

Thẩm phán ra phán quyết ông Haruo Sakashita, 62 tuổi, nguyên giám đốc PCI 2 năm tù, hoãn thi hành án 3 năm. Ông Kunio Takasu, 66 tuổi, nguyên giám đốc quản lý PCI bị 20 tháng tù và hoãn thi hành án 3 năm. Ông Tsuneo Sakano, 59 tuổi, nguyên chủ nhiệm văn phòng PCI Hà Nội 18 tháng tù, hoãn thi hành án 3 năm. Tòa án buộc công ty tư vấn PCI tại Tokyo nộp phạt 70 triệu yen.

Phán quyết của tòa nhẹ hơn với đề nghị của công tố viên. Trước đó, các công tố viên đề nghị mức án hai năm rưỡi tù cho Sakashita, hai năm tù cho cả hai bị cáo Takasu và Sakano, và đề nghị phạt PCI 100 triệu yen.

Cựu chủ tịch PCI - Masayoshi Taga, 63 tuổi, bị truy tố liên quan đến vụ việc trên hồi tháng 8 cùng với ba cựu quan chức nhưng được xét xử riêng. Hai tháng trước đó, ông đã bị cáo buộc chiếm đoạt tài sản của Chính phủ Nhật với trị giá lên tới 141 triệu yen. Vụ việc này liên quan đến một dự án vô hiệu hóa các vũ khí hóa học bị bỏ lại trên lãnh thổ Trung Quốc từ thời cuối Thế chiến thứ 2.

Vụ việc PCI là vụ thứ hai tại Nhật Bản liên quan đến việc hối lộ quan chức nước ngoài. Trước đó năm 2007, tòa án Fukuoka đã cáo buộc công ty xây dựng Kyudenko Corp với tội danh hối lộ quan chức Philippines trong một dự án xây dựng sân golf trị giá 800.000 yen. Tuy nhiên, cho đến vụ PCI thì hình thức phạt tù mới được áp dụng cho loại hình phạm tội này.

Một ủy ban hợp nhất với sự tham gia của chính phủ hai nước Việt Nam và Nhật Bản đã được thành lập sau vụ PCI nhằm ngăn chặn việc tham nhũng nguồn vốn ODA. Ủy ban này sắp đưa ra một báo cáo vào cuối tháng 3 tới. Bản cáo cáo có thể đề nghị việc thành lập một bên thứ ba nhằm lập quy chế và giám sát các dự án sử dụng nguồn vốn này.

http://www.vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/Quoc-te/2009/02/3BA0AD2E/

No Blank Check: Japan Should Press Vietnam on Human Rights

Japan is Vietnam's single largest aid donor and third-largest investor. Major Japanese companies have flocked to Vietnam in recent years for hard-working, low-paid labor, as an alternative to China, where average monthly wages are more than double those in Vietnam.

The perception that Vietnam's young and industrious workforce will not erupt into political or social unrest, and thus provides a stable investment climate, is key to attracting overseas investment. But perception is one thing, reality is another.

Workers throughout Vietnam are feeling the effects of the global financial crisis. Spiraling inflation and increased costs of living are making it increasingly difficult to survive on factory wages of US$2-3 a day. Increases in the minimum wage by the government to US$62 a month at foreign-owned factories still leave most workers with a subsistence wage.

Japanese factories have been among hundreds of plants hit by waves of labor unrest in Vietnam in recent years. In May, 2008 for example, 1,000 Vietnamese workers walked off the job at the Panasonic factory in Hanoi to demand an increase in their monthly wages.

Vietnam remains an authoritarian, one-party state run by the Communist Party. Dissent leads to prison. Freedom of speech is highly circumscribed. In this environment, the government declares most strikes illegal and bans workers from forming unions that are independent. Activists who promote workers' rights and independent trade unions are jailed on dubious national security charges such as "abusing democratic freedoms."

As a leading democratic power in Asia, Japan has significant leverage with Vietnam. In its bilateral talks and trade negotiations, Japan should forcefully press Vietnam to uphold international labor and human rights standards.

This month, the UN Human Rights Council in Geneva will issue its outcome report on Vietnam's Universal Periodic Review, through which the rights records of all UN members states are examined every four years.

Vietnam already has indicated, though, that it intends to reject key recommendations from member states to strengthen freedom of expression and association, media freedom, and protection of human rights defenders.

Japan has resumed loans under its Official Development Assistance program after suspending them in December 2008 over a corruption scandal in one of its projects. But this should not be a blank check. Japan is uniquely placed to vigorously raise human rights concerns in its bilateral economic and trade relations with Vietnam.

For starters, Japan could link non-humanitarian aid to specific improvements in human rights. This is in line with Japan's Official Development Assistance contract, which calls for aid decisions, apart from humanitarian aid, to be made on the recipient country's protection of basic human rights. Japan could also link trade privileges to Vietnam's observance and protection of workers' rights.

Because Japan is one of Vietnam's main trade and investment partners, what it says carries weight in Hanoi. Japan should not squander its influential voice. Japan should insist that Vietnam take immediate, concrete steps to rectify its abysmal and unacceptable rights record.

Brad Adams is Asia Director for Human Rights Watch.

http://www.hrw.org/en/news/2009/09/05/no-blank-check-japan-should-press-vietnam-human-rights
December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31