Lúc đấy tôi đang tìm tư liệu để viết về thực trạng rối loạn tâm thần ở người già. Tôi thấy ông, ngồi một mình trên ghế băng, đầu nghiêng sang bên, thầm thì suốt một buổi chiều, giống như là đang kể chuyện cho ai đó. Đúng là một trường hợp điển hình để bắt đầu cho tập tư liệu này. Tôi quan sát ông hai buổi chiều như thế. Hôm nào ông cũng ra công viên đúng giờ ấy, ngồi trên đúng chiếc ghế băng ấy, ở đúng vị trí ấy, đầu nghiêng sang bên ấy, và thầm thì. Cuối cùng tôi quyết định lại gần. Tôi muốn nghe được câu chuyện của ông. Tôi đến trước mặt ông, im lặng chờ phản ứng, rồi từ từ, tiến về phía ghế trống. Ông, bỏ dở câu chuyện của mình, ngước lên nhìn tôi, vẻ thực là không hài lòng lắm. Trông ông hoàn toàn bình thường. (Tôi nghĩ, rối loạn tâm thần do tuổi tác khiến con người ta có thể trông hoàn toàn khỏe mạnh bình thường mà đầu óc tư duy lại đi theo hình chỉ rối). Cũng vì trông ông không có biểu hiện gì của bệnh nhân, khiến tôi hơi bối rối. Cuối cùng, tôi lên tiếng xin được ngồi cạnh ông. Ông ngần ngừ. Vẫn còn rất nhiều chỗ trống, cô không phiền tìm một chỗ khác giùm tôi được sao? - Bác có hẹn ạ? Ông im lặng. Một hồi. Cũng không hẳn là hẹn. Mà cũng gần như thế. - Cô nhất định phải ngồi chỗ này sao? Tôi xin ông chỉ ngồi ở đầu ghế, vẫn chừa lại một khoảng rộng ở chỗ cạnh ông. Ông ngẫm nghĩ, rồi lầm bẩm em có đồng ý không?
Tôi ngồi yên và giở sách báo của mình ra đọc. Nói đúng hơn là giả vờ đọc. Ông thì đã yên tâm quay lại câu chuyện của mình. Ông kể về cuốn sách mà ông đang đọc. Ông bảo hẳn em sẽ thích nó. Ông nói tiếp về cuộc hẹn với vài người bạn từ thưở nảo thưở nào của ông cách đây vài hôm. Ông bảo thằng Qua mà em đã gặp mấy lần rồi ấy, nó không đến được. Nó đã ốm lắm rồi. Ông kể về rất nhiều những điều linh tinh lặt vặt khác, giống như một cuộc trò chuyện thực sự, nhưng là cuộc trò chuyện một phía, nghĩa là chỉ có ông kể mà thôi. Tôi từng biết nhiều trường hợp người già cô đơn, thành ra luôn tự nói chuyện một mình. Nhưng ông không hẳn là thế. Ông ngồi nói chuyện thảnh thơi với chỗ trốngbên cạnh ông. Nhưng đến khi ông đứng lên, chào chỗ trống ấy, gật đầu chào tôi, và đi về, ông lại im lặng. Như tất cả những người già bình thường khác.
Hôm sau tôi đến sớm hơn và ngồi ghế ấy trước. Ông vẫn đến đúng giờ, có vẻ hơi bất ngờ khi nhìn thấy tôi. Rồi ông cất tiếng hỏi, xem tôi có phiền không nếu có thể nhường ông chỗ ấy Tôi thì muốn ông ngồi lại như buổi chiều hôm trước. Tôi hứa không làm phiền gì đến ông cả. Ông ngồi xuống. Im lặng. Suy nghĩ rất lâu. Vẫn dành ra một chỗ trống giữa đầu ghế của tôi và ông. Rồi ông cất tiếng, chậm rãi - Tôi đúng là có hẹn ở đây. Vào tất cả các buổi chiều. Tôi quay sang ông, chờ đợi. Ông tiếp -Tôi từng có hẹn ở đây. Vào tất cả các buổi chiều. Và ông bắt đầu câu chuyện của mình, không phải với chỗ trống, mà với tôi
Ông kể rằng ông từng có hẹn với một người bạn gái, ở đây, đúng vị trí này, mỗi đầu giờ chiều. Chỉ là để nói chuyện thôi. - Cô biết đấy, nói chuyện là một nhu cầu. Giống như ăn vậy. Nghe nhiều quá cũng có thể ứ nghẹn như bội thực. Nhưng không được nghe cũng có thể kiệt sức như chết vì đói. - Không thể biết được chúng tôi đã quen nhau bao lâu, từ khi nào. Khái niệm thời gian đã không còn rõ ràng nữa. Chỉ có cảm giác là còn lại. Có những khoảng dài trong cuộc đời chúng tôi không gặp nhau, không có tin tức của nhau. Giống như là tự biến mất trong cuộc đời của người còn lại. Nhưng rồi lại đến một hôm, lúc ấy là cuối của buổi tiệc lớn, tôi thậm chí không thể nhớ là tiệc vì lý do gì nữa. Khi tất cả mọi người đều đã ăn và đã uống, đã nói rất nhiều những câu chuyện với rất nhiều những người bạn khác nhau. Rồi bỗng dưng tôi ngồi lại trên ghế của mình. Im lặng. Nghe những người còn lại nói. Một buổi tiệc đông đúc và ồn ào, khi bắt đầu thì tất cả cùng nâng ly, lúc kết thúc lại tách thành những nhóm người nhỏ, nói những câu chuyện nhỏ, với nhau. Đấy là lúc con người ngồi lại trên ghế và nhìn nụ cười của những người khác, nghe câu chuyện của những người khác, con người đấy sẽ biết mình cô độc nhất. Vào thời điểm ấy, ngay lúc ấy, trên chiếc ghế ở bàn tiệc ấy, cô không tin được đâu, tôi đã nhìn thấy cô ấy, ở góc phòng bên kia. Cũng ngồi một mình. Nhìn nụ cười của những người khác. Nghe câu chuyện của những người khác. Chúng tôi đã gặp lại nhau như thế. Cùng tham dự một buổi tiệc mà không cụng ly với nhau. Chỉ ngồi lại khi mọi ly đều cạn. Và bắt đầu câu chuyện, của riêng chúng tôi
Sau đó, ông đã hẹn với người bạn ấy, để nói về tất cả những điều lặt vặt và li ti, nói về thời tiết, về công việc, về sách báo, về xã hội, tất cả, trừ về nhau. Chuyện đấy cũng không hẳn quan trọng. Chẳng nhất thiết phải nói về nhau mới hiểu được nhau. -Và chuyện hiểu nhau thực cũng chẳng quan trọng nốt. quan trọng nhất là có người để chia sẻ mỗi phút giây. Ông bảo. - Đấy, chúng tôi chỉ nói chuyện lặt vặt thế thôi. Cũng chẳng có gì đặc biệt. Nhưng đã thành thói quen và nhu cầu rồi, nên hôm nào tôi cũng phải ra đây, và kể những câu chuyện nhỏ nhỏ của mình. Hôm nào có những chuyện buồn rất buồn thì chúng tôi im lặng. Những chuyện buồn rất buồn không cần được nói ra. Chỉ cần ngồi cạnh nhau. Im lặng. Và bảo rằng hôm qua mới có một con kiến nữa lại chết đuối trong cốc nước cam. Vậy là đủ. Chúng tôi đã nói chuyện như thế trong suốt mười năm. Mười năm ba tháng hai mốt ngày. - Rồi sau đó?Tôi buột miệng hỏi. - Bà ấy bốc hơi. - Có lẽ cô không biết, vì thời ấy chắc cô chưa ra đời. có một năm cả thành phố bị bệnh dịch, ai nhiễm dịch sẽ bị bốc hơi. Đấy là căn bệnh kinh khủng hơn mọi bệnh dịch khác. Với dịch khác, người ta có thể chết, nhưng họ hàng người thân vẫn luôn nhớ đến họ. Căn bệnh này thì khác. Không ai xác định được nó lây lan theo đường gì. Cũng không ai biết làm sao đến một ngày bệnh dịch chấm dứt. Nhưng những ai mắc bệnh, họ sẽ bị bốc hơi, biến mất, không một dấu tích. Bốc hơi cả trong tâm trí những người còn sống, nghĩa là, không ai nhớ gì đến họ nữa. Hoàn toàn biến mất như chưa từng tồn tại. Chính vì thế tài liệu về đợt dịch này còn lại rất ít. Người ta không mấy ai có thể nhớ được về nó, cũng như những người từng mắc nó. Cùng với đợt dịch ấy có một căn bệnh khác xuất hiện, khó lây lan và rất ít người bị, đấy là bệnh kết tủa. Những người bị bệnh kết tủa có khả năng nhớ về mọi thứ, kể cả về những người đã biến mất do bốc hơi. Quan trọng nhất, đấy là, một khi đã mắc bệnh này, họ, sẽ rất khó chết.
Tôi xin phép ông về, ngay lập tức vào thư viện tìm hiểu về dịch bốc hơi và bệnh kết tủa. Không có một kết luận nào rõ ràng, có một vài nghiên cứu nhưng không có kết quả về hai căn bệnh ấy. Chỉ có duy nhất một số liệu chính xác: năm đại dịch bắt đầu cách đây bảy mươi ba năm.
Hôm sau tôi lại đến gặp ông, xin nghe tiếp câu chuyện đang bỏ dở. Ông hỏi tôi có tin không? Nếu không tin thì đừng nghe. Tôi bảo tin. Khi người ta trẻ, người ta tin mọi điều. - Như vậy là ông bị bệnh kết tủa? Ông gật. - Thật là tệ. Không ai biết bị bốc hơi hay bị kết tủa, điều nào đáng sợ hơn. Cũng như không ai biết bị tất cả mọi người quên lãng, tựa như mình chưa từng bao giờ tồn tại, hay phải nhớ tất cả mọi điều và không thể chết, điều nào đáng sợ hơn. Vậy là ông vẫn ra đây, đến chỗ hẹn này, bảy mươi ba năm nay ngồi nói chuyện với chỗ trống. - Như tôi đã nói đấy. Trò chuyện là một nhu cầu, thiết yếu như thức ăn nước uống. Chuyện là thực phẩm của tâm hồn Bỗng dưng tôi muốn hỏi về những người bị kết tủa. Họ sẽ ra sao? Làm sao con người ta có thể sống mãi và nhớ mãi. - Họ có thể tự tử ông nói. Tự tử, nghĩa là im lặng, không nói gì với ai nữa, không chia sẻ gì với ai nữa, tự cô độc mình lại, để quên đi. Đến khi họ có thể quên mọi điều, khi họ có thể không cần một ai để chia sẻ nữa, họ sẽ có thể chết. Đã nhiều người làm cách ấy, bởi sống trên đời mà tất cả người thân của mình đều đã ra đi thì thật buồn. Sống và phải nhớ tất cả những gì từng diễn ra cũng buồn chẳng kém. Nhưng tôi chưa chết được. Tôi vẫn có nhu cầu được kể chuyện, cho dù chỉ là tới chỗ cũ, và trò chuyện với một người đã bốc hơi, nhưng tôi vẫn cần điều ấy. Đấy là một thôi thúc mạnh hơn cả cái chết
Sau buổi trò chuyện ấy tôi đã để ông yên, để ông được trở lại với những câu chuyện dang dở của ông. Thỉnh thoảng buổi chiều qua công viên vẫn thấy ông ngồi trên chiếc ghế ấy, nghiêng đầu, thầm thì với chỗ trống bên cạnh. Bài viết về rối loạn tâm thần ở người già của tôi thế là hỏng. Thay vào đấy tôi viết một bài khác về tình yêu. Mà cũng chẳng hẳn là tình yêu. Nhưng biên tập đã gạch đi. Chuyện diễm tình thì thừa thãi quá rồi, không ai muốn nhắc đến nữa, ái tình, toàn ái tình! Vậy là tôi không có bài để nộp.
Cũng không hẳn có thể gọi là biển. Nước không trong và không xanh. Cát không trắng và không mịn. Không có tôm và cua và cá. Vùng biển này có tên là Ao. Thế nhưng Ao lại là một vùng du lịch rất nổi tiếng. Ai chưa đến Ao coi như chưa biết đến biển. Cho dù bạn từng đi hết biển Đen, biển Đỏ, biển Tím, biển Vàng đi chăng nữa, nhưng chưa đến Ao coi như bạn vẫn chưa đến biển. Cho nên vùng này khách du lịch tìm đến quanh năm, nhà hàng và khách sạn san sát, từ rẻ nhất đến đắt nhất. Ai cũng sẽ thấy một chỗ cho mình, một chỗ vừa vặn để ngồi đấy, ngắm biển: biển nước đục lờ nhờ và cát đen đầy những hà và sỏi vụn Nhưng vì là một khu du lịch nổi tiếng, nên các dịch vụ ở đây rất đầy đủ. Bên cạnh dịch vụ cho thuê áo tắm, phao bơi, vùng biển này còn cho thuê ủng. Ủng cao su đế dầy năm phân, vừa bảo vệ gót sen lại vừa thời trang làm điệu. Ai xuống biển cũng thuê một đôi ủng, tự nhiên như người ta thuê ghế gỗ kê trên bãi cát vậy Thế nhưng chị lại không thuê. Tôi thấy chị ngồi một mình trên bãi. Chị không xinh không xấu không già không trẻ không béo không gầy. Chị sẽ bị lẫn trong hàng trăm người trên bãi cát nếu không để chân trần xuống biển, trong khi xung quanh ai cũng đi một đôi ủng, làm bằng cao su và đế thì dầy năm phân Người đàn bà ấy ngồi ở một cái bàn nhỏ, gọi một suất pizza và một cốc nước lọc, ăn uống chậm rãi và từ từ. Cứ như thể thời gian của chị là bất tận, và cả ngày đẹp trời như hôm nay chị sẽ chỉ dành để ăn hết chiếc pizza, uống hết cốc nước lọc của chị thôi Người đàn bà ấy làm tôi tò mò. Chị xuống biển không mang ủng. Chị đến biển không ăn tôm cua ghẹ mực sò không uống nước dừa. Chị ăn pizza và uống nước lọc Hoặc có thể chị là dân ở đây. Chị đã có cả một đời để ăn hải sản uống nước dừa rồi, nên một ngày đẹp trời thế này chị sẽ cần đổi món Dù thế nào thì tôi cũng tò mò Tôi lại gần chị. Xin ngồi cùng Chị nhìn tôi, kỹ càng, khẽ hỏi xem chúng tôi đã gặp nhau ở đâu chưa nhỉ. Kể cũng ngại khi phải nói rằng đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy chị. Nhưng các bàn xung quanh đã chật hết rồi, nếu chị không phiền thì cho tôi ngồi chung với Thế rồi chị gật Chị vẫn ăn pizza của chị, uống nước lọc của chị. Pizza trước gió biển thì nguội rất nhanh. Pizza trước hơi ẩm của biển thì ỉu rất nhanh. Suất pizza của chị hẳn trở nên rất chán Tôi gọi một quả dừa cho tôi. Tôi là khách du lịch, nhìn đã thấy là khách du lịch : đi ủng cao su đế dầy năm phân và uống nước dừa Ngồi mãi không nói chuyện cũng thấy ngài ngại. Tôi bắt chuyện trước -Chị là người vùng này ạ? Chị quay sang, không đáp mà hỏi lại: - Tôi giống dân vùng này lắm sao? -Thực ra thì trông chị không giống dân vùng biển, nhưng vì cũng chẳng có dáng vẻ du lịch, nên tôi thật không biết xếp chị vào vùng nào Chị cười: -Bởi vì tôi không phải dân vùng biển, nhưng cũng chẳng đến đây để du lịch, nên đúng là không biết xếp vào vùng nào Chị đến đây cùng với chồng. Chồng chị có cuộc họp ở đây. Còn chị chỉ đi cùng. Có ba loại người có thể đi một quãng thật xa từ thành phố ra biển: những người đang yêu nhau, những người sắp hết yêu nhau nhưng muốn gia hạn thêm hợp đồng tình yêu ấy, và tất cả những người không dính dáng gì đến tình yêu. Chị thuộc trường hợp thứ hai. Hợp đồng tình yêu có thể được viết trên nhiều loại giấy, viết trên giấy ăn dùng một lần rồi bỏ thì trôi đi dễ dàng, chị lại trót viết trên giấy gói quà, loại có hoa ép và lá khô của Nhật, nên bỏ đi cảm thấy rất phí. Anh chị đã vượt qua cả khoảng cách và thời gian, để yêu nhau, và đến với nhau. Khi khoảng cách đã phải đếm bằng những múi giờ, ấy là khi người ta ở rất xa nhau. Xa rất xa. Có những khi chỉ ước được chạm tay, ngồi bên cửa sổ khi mùa đông đã trắng xóa bên ngoài, đưa ngón tay út ra và ước gì chỉ cần chạm được vào móng của ngón tay út của người mình yêu, đến khi chạm vào kính cửa lạnh và buốt, mới thấy quặn thắt đến thế nào. Thế mà vẫn yêu nhau, vẫn chờ đợi nhau, dắt tay nhau qua những múi giờ và những tháng và những năm. Đến khi ở cạnh nhau được rồi, những tưởng sẽ hạnh phúc thế nào, khi không chỉ có thể chạm vào móng tay út, mà có thể cầm tay nhau, có thể sưởi ấm cho nhau khi mùa đông lại trắng xóa tràn về. Những tưởng là như thế, mà tình yêu bỗng dưng lại hóa nước, bốc hơi dần. Chị bảo như thế thấy xót lòng quá Anh bận rộn với những công việc của anh, mải miết với sự nghiệp của anh, bị cuốn đi với những sếp mới và sếp cũ. Mong ước về một cuộc sống yên bình, sự nghiệp vừa đủ, tiền bạc vừa đủ, để còn dành thời gian cho nhau, giờ trở thành một mong ước cũ. Mong ước chưa kịp thực hiện đã mốc xanh và bị bỏ đi. Anh bảo quyền lực nào và tiền bạc nào rồi cũng để giữ cho gia đình hạnh phúc thôi. Nhưng chị thì đã thấy cái hạnh phúc đấy xa dần, khi một bữa cơm sớm cũng khó lòng thực hiện. Và có người đàn bà nào hạnh phúc được khi tin nhắn đầu tiên người đàn ông của mình gửi lúc máy bay vừa chạm đất sau một chuyến công tác, lại để báo cho một người đàn bà khác rằng anh đã trở về bình yên. Người đầu tiên anh nghĩ đến đã không còn là chị nữa. Cuộc sống khác đi, mục đích của con người ta cũng khác đi, chỉ có chị là không khác, vẫn chỉ mơ về những điều bình thường nhất. Những điều bình thường hóa ra lại thành khó thực hiện, khi lòng mơ của người ta đã khác đi rồi Anh bị cuốn đi với mơ ước và mục đích mới của anh, chị ở lại với mơ ước cũ của chị. Khi hai con người đã như hai bánh răng chệch bánh, không còn quay cùng một nhịp nữa, tình cảm lúc ấy giống như nước một ngày mùa hè, tự bốc hơi mà đi * Người đàn bà kể rồi dừng lại, hít một hơi dài. Chị không xinh không xấu không trẻ không già. Không cần phải xinh và phải trẻ để được yêu. Cũng không cần phải xấu phải già để bị phụ. Một người đàn bà bình thường nhất đã được yêu và được phụ như thế Nhưng dù sao thì cũng thấy xót lòng quá. Giá kể chưa từng vượt qua những khó khăn để đến với nhau, chắc người ta sẽ dễ buông xuôi hơn Người ta nói đến biển là một liệu pháp tốt. Đã có hẳn một công ty tổ chức tour du lịch biển để hàn gắn những cặp có nguy cơ chia lìa. Thế nên chị đồng ý cùng anh đến đây. Anh sẽ họp cả ngày, và buổi tối là dành cho chị. Có thể chỉ như thế cũng đủ, vì đây không chỉ là biển, đây là Ao, là một nơi kỳ diệu, có hàng trăm những truyền thuyết và cổ tích về nơi đây. Dù sao thì cũng đáng để chờ đợi Nhưng phép mầu không phải sỏi để vung vãi khắp nơi. Chị đợi mãi vẫn không thấy điều kỳ diệu đến với mình. Anh vẫn bận rộn, vẫn có công việc và bóng hình người phụ nữ khác. Không một buổi tối nào dành riêng cho chị. Hàng tối chị về khách sạn, nằm trước. Giường khách sạn rộng thênh thang. Khuya thật khuya anh sẽ về, sẽ khẽ hỏi sao chị chưa ngủ à? Chị tự hỏi sao phải đi ngần ấy quãng đường để ở một mình trong phòng khách sạn chờ chồng? Vì người ta vẫn thích chờ đợi vào những phép mầu, hơn là tự cựa mình để tìm chỗ đau rồi băng bó, nên chị vẫn bị đau
Ngày hôm nay rất đẹp, nắng rất vừa, không gắt và không ỉu. Biển Ao vẫn đục như mọi hôm và cát vẫn sạn đầy hà như mọi hôm, nhưng khách đổ ra bãi cát nhiều gấp bốn lần những ngày bình thường, trước mặt mỗi người là một đĩa hải sản và một quả dừa. Những ngày trời xấu người ta dành để buồn, những ngày trời đẹp nên tận dụng để vui. Và vì những ngày trời đẹp thường ít ỏi trong năm, nên khi trời đẹp nên vui gấp bốn, năm lần bình thường Tôi bảo chị thế, hôm nay là một ngày trời đẹp, nên tận dụng để vui bù tất cả những ngày trời xấu trong năm Chị bảo chị vẫn vui. Ngồi vừa vặn trong cái chỗ thực là của mình là vui nhất. Giữa muôn ngàn khách sạn và nhà hàng, từ đắt cho đến rẻ, có đủ chỗ cho tất cả mọi người; giữa muôn vạn món ăn hải sản sống tái chín, đủ khẩu vị cho tất cả mọi người, chị vẫn không tìm thấy chỗ của mình. Chị bảo, vì cái chị đến đây để tìm đã không tìm thấy nữa. Nghĩa là chị không có chỗ ở đây. Không có chỗ dành cho chị, không có món dành cho chị. Chị sẽ về, đi cùng anh hay không thì cũng thế. Khi người ta đã không thể dành trọn cho nhau một buổi tối, thì còn cứu vãn được gì? Tôi nghe kể có một nhà hiền triết đã nói: có hai thứ không thể kỳ vọng ở trên đời: thứ nhất là tình yêu, thứ hai là biển cả. Tiếc là chị đã không biết ông ấy sớm, ông chết hẳn rất rất lâu rồi. Chị bảo thôi biết cũng chẳng để làm gì. Đã đến đây rồi, hy vọng rồi và cũng thất vọng rồi. Không tìm lại được cái mình tìm kiếm, không có được một chỗ và một món của mình, thì phải tự sửa soạn thôi Chị bảo chiều chị sẽ về. Dù sao cũng là một ngày nắng đẹp, một ngày cần phải vui gấp bốn năm lần những ngày bình thường. Ngồi ở chỗ của mình, chọn những thứ đúng thực dành cho mình, sẽ cảm thấy vui nhất
truyện thực rất cũ rồi, cũ từ ngày viết cho tới ngày đăng. cũ cho tới cả cái sự thực trăm phần trăm để viết thành truyện nữa nhưng vì bạn mẹ có vẻ thích truyện này, mình thì lại có vẻ thích bạn mẹ, thế là mình bốt lại và cũng vì hôm trc gặp lại một vài nhân vật trong truyện. cảm giác vẫn y như thế. thấy lòng thật nhẹ nhàng
Mắt nhắm Bọn nó bảo em đẹp lắm phải không Khanh? - Cười. Thế nào là đẹp hả chị? - Giống tây. Bọn nó bảo em đẹp như vậy ý Khanh ạ. Mà… tây thì trông thế nào nhỉ? Chị đột ngột yên lặng. Tây là trông thế nào nhỉ? Trông là gì chị cũng đã bao giờ biết đâu… - Hôm trước, Khanh đèo chị ra chợ. Một hàng làm đầu nhỏ xíu và đông nghịt. Bên cạnh đó có đến mấy hàng vắng vẻ hơn. Nhưng chị nhất quyết chờ. Chị bảo mọi người ở đây thử hết rồi, thấy chỉ có hàng này là được nhất. Cắt cũng đẹp nhất mà lại phục vụ cẩn thận. Chị bảo thế, ừ thì Khanh biết thế. Khanh chờ chị. Chị ngồi chờ, vẻ mặt háo hức và rộn rã. Có phải con gái sinh ra để điệu không? Mắt chị đưa đi đưa lại. Những con mắt không nhìn được luôn luôn đưa đi đưa lại, rất nhanh. Những con ngươi nhờ nhờ chạy vòng quanh bờ mắt, đi, đi mãi, không thấy đường về. Những con ngươi mải miết. Khanh chờ chị cắt tóc và tỉa lông mày. Chị bấm đuôi tóc một tý đi cho nó đỡ chẻ. Tóc chị rất dài và rất mượt. Khanh cũng có một mái tóc, một mái tóc con gái mỏng dính, cụt lủn. Ngày trước, khi ông nội còn sống, ông không cho cắt tóc. Ông không cho ai động đến đứa cháu duy nhất của ông, đứa cháu gái mà ông đã muốn dạy dỗ nó trở nên dịu dàng và khéo léo. Nhưng ông mất, từ khi Khanh còn bé tý, bé đến mức cứ nhìn người ta buộc chặt ông trong lần vải trắng, rồi đưa ông đi, mãi mãi. Khanh nhìn như thế và không rơi nổi giọt nước mắt nào. Và lớn lên, Khanh cắt tóc. Mái tóc nham nhở cụt lủn theo những thứ mốt cứ ba ngày lại đổi một lần. Cho đến khi Khanh đi cùng đứa bạn thân thăm bà nó ốm. Bà gần như mất trí, bàn tay run rẩy và nụ cười trong trẻo, có thể gọi là trong trẻo không nhỉ? Nụ cười của một người đã quên hết sự đời. Nhưng bà vẫn mân mê mái tóc – mái tóc bạn Khanh rất dài và rất mượt. Bà yêu mái tóc ấy của bạn Khanh lắm. Trước đây, bà vẫn thường kể bà cũng có mái tóc dài thế và đẹp thế, không tết thành đuôi sam mà cuốn gọn hoặc búi trên đầu, cái thuở bà còn con gái ấy. Bây giờ bà ốm, tóc bà ngắn như tóc mọi người mẹ miền Trung khác. Nhưng tay bà vẫn mân mê, mái tóc rất dài, rất mượt. Bà gọi tên bạn Khanh. Đứa bạn không biết vì sao mắt Khanh đỏ hoe, không biết vì sao Khanh đột ngột bỏ ra ngoài lúc ấy và cũng không biết Khanh bắt đầu thôi cắt tóc từ bao giờ. - Nếu ông nội còn sống ông có vuốt tóc Khanh thế không nhỉ? - Chị ngồi lên chiếc ghế dựa để chị hàng cắt tóc môi bóng mắt đong đưa bấm đi đuôi tóc thừa, rồi nhẹ nhàng cầm chiếc dao lam tỉa hàng lông mày thành ra mảnh dính. Chị hỏi Khanh Có nên ép tóc không Khanh nhỉ? Tóc chị dài ép chắc tốn lắm, nhưng mà mượt. Tóc ép đẹp ghê cơ. Đẹp, khi mới quen chị, Khanh đã không dám nhắc đến từ ấy. Đẹp, người ta có thể biết thế nào là đẹp qua sự lần sờ của những ngón tay? Nhưng rồi cũng quen đi. Phải thản nhiên như cuộc sống vốn thế. Với một đôi mắt hỏng, chị vẫn hỏi Khanh áo này đẹp lắm phải không Khanh? Vải này là vải gì nhỉ? Thô à? Lụa à? Buộc tóc này mầu gì hả Khanh? - Về chứ chị? ép làm gì? hỏng tóc đấy. Tóc chị đẹp lắm rồi, em nói thật đấy! Về. Trường bé, rối loạn lên như cái mê cung. Lần đầu tiên vào đây Khanh đã lạc, lạc giữa những căn phòng mờ mờ, những cái cây sống mà đầy bụi như cây giả được bày đã cả ngàn năm. Nhưng cũng lần đầu tiên vào đây, Khanh bất ngờ thấy mọi người vui đến thế, líu lo đến thế. Đâu phải không nhìn được đã là không còn gì. Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay, nhưng niềm vui hình như cất lên từ nơi nào sâu lắm kia, nơi chẳng ai nhìn thấy nổi. - Chị muốn học cao hơn nữa Khanh ạ. Học xong chị muốn học tiếp lên đại học. Chị thích học đại học lắm. Mà hôm trước chị gặp một bà người Mỹ tốt lắm nhé, bà đưa chị đi ăn, ăn bao nhiêu là món. Rồi bà ý hỏi thăm chị. Xong bà hứa là sẽ cho chị tiền học đến hết đại học nữa cơ. Chị sẽ đi học đại học Khanh ạ! - Khanh thích nhìn chị những lúc chị như thế, khi chị nói về suy nghĩ, những suy nghĩ của chị, ước mơ của chị, những ước mơ nho nhỏ và con con. Đại học có vẻ là cái gì xa xôi quá. Khi người ta đã phải xếp mọi thứ vào ngăn của những ước mơ, ấy là khi người ta thấy nó cao vời vợi. Khanh đến đây, ban đầu vì tò mò. Sau đó là vì những lý do gì Khanh cũng không giải thích nổi. Một ngôi trường nhỏ cũ kỹ, trên con đường bụi mù và xa lắc lơ khỏi trung tâm thành phố. Những con người đi lại luôn vừa đi vừa gây một tiếng động gì đó, thay cho lời nhắc nhở “tôi đang đến đây”. Khác với những gì Khanh thấy trên phim. Không phải những người dò dẫm với cây gậy trên tay. Bọn chị chỉ phải dò đường ở những chỗ lạ thôi, còn trong trường thì quen rồi cần gì phải dò nữa! Như người ta vẫn nói, “nhắm mắt lại vẫn đi được” phải không chị? Luôn là thế. Con người ta thường chỉ sợ những gì lạ lẫm thôi. Không nhìn được, có phải là lạ lẫm so với những người khác không? - Từ khi quen chị và mọi người – Khanh gọi tất cả những người trong trường như vậy – mọi người, Khanh hay đến đây. Có hôm mưa, hôm ấy Hà Nội mưa to lắm. Cây đổ, điện mất. Nhưng vì mấy hôm trước Khanh đã hẹn là Khanh đến, Khanh không muốn sai lời, Khanh vẫn mặc áo mưa đi.Thực ra là Khanh đã chán nhà quá rồi. Mà mưa thế chẳng đứa bạn nào đủ nhiệt tình để đi cafe với Khanh, vậy là Khanh đi, một mình. Lúc Khanh vào, không thể diễn tả chị lúc bấy giờ. Chị vui mừng, rạng rỡ, hớn hở, và có phần tự hào nữa! Mấy chị khác nhìn chị như thèm thuồng. Gọi là nhìn, nhìn nhau qua âm điệu và những tiếng kéo dài rất nhẹ ở cuối câu, cái thở dài dường như ngắt quãng. Mấy người khác hẹn đến với các chị ấy, nhưng có lẽ mưa to quá nên không đến. Chị cứ nhắc đi nhắc lại Chị tưởng Khanh không đến cơ, mưa to thế mà! Ôi không ngờ em lại đến, em vẫn đến… Chị cứ nói mãi thế. Khanh đến, cũng chẳng có việc gì cả. Buồn cười thật. Đôi khi Khanh thấy mình ích kỷ. Khanh vào đây, nói chuyện với mọi người, thấy thanh thản và bình yên. Đơn giản vì thế mà Khanh hay vào, vậy thôi. Nhưng căn phòng mờ tối, những thứ cũ kỹ như vốn thế từ cả ngàn năm, những cái cây sống mà như đã hóa nhựa, cả cái cách người từ phòng này gọi ới sang phòng kia, tất cả toát lên rất đỗi thanh bình. - o O o -
Chị Thảo thì thầm nhờ Khanh đưa vào bệnh viện. Cái bệnh viện cũng cũ kỹ và hoang tàn như cái trường của chị. Chị Thảo ra trường rồi ở lại làm giáo viên, chị bảo chị bị đau dạ dày. Khanh chẳng đau ốm bao giờ cả, vậy mà vẫn gầy như xác ve, cũng trong suốt như thế, gió cũng có thể thổi bay đi bất cứ lúc nào. Những cơn gió của tâm tưởng luôn thổi Khanh bay về những nơi xa lắc. - Khanh dẫn chị Thảo lên những bậc nhỏ sứt sẹo, vào một căn phòng bé tý xíu. - Em muốn siêu âm, bác sĩ cho em siêu âm. Em có bầu mấy tháng rồi nhưng tình hình gia đình không ổn định nên em uống thuốc ba tuần nay rồi. Bây giờ thấy… bác sĩ cho em siêu âm… nếu nó còn chắc cũng tầm ba tháng rồi, hoặc nếu đã mất em cũng còn biết đường mà… - Người bác sĩ lẳng lặng ghi giấy. Lại vòng vèo những bậc thang. - Khanh đừng nói cho ai biết nhé! Chị và anh ấy yêu nhau, yêu nhau, em hiểu không? Nhưng gia đình anh ấy không cho phép. Anh ấy cũng mù, cho nên gia đình muốn anh ấy lấy một người sáng mắt để đỡ đần cơ. Nhưng chị và anh ấy yêu nhau, yêu nhau em ạ, nên bọn chị đã đăng ký kết hôn nhưng không cho gia đình biết. Bây giờ thì gia đình anh ấy giục quá. Giục anh lấy một cô vợ mắt sáng. Chị chẳng biết làm thế nào cả, nói thật với gia đình thì anh ấy chưa dám… cho nên chị mới… mà em đừng cho ai biết cả nhé… - Đường bệnh viện dài và sâu hun hút. Lạnh lẽo, áo trắng, khăn trắng, những cánh cửa trắng, rèm cửa trắng, trắng toát một màu. Cũ kỹ, và lạnh. - Con gái mù khó lấy chồng lắm em ạ! Cái thở dài vượt cả thời gian. Những cô gái quá lứa lỡ thì cố lấy một anh chồng không nhìn được có thở dài như thế? Bó sen cuối cùng của mùa hạ Khanh mang vào cho chị. - Sen hồng hay sen trắng hả em? Ôi sen hồng à? Chị thích sen hồng lắm. ừ sen hồng thơm nhỉ? Cánh mịn nhỉ? Chị thích sen lắm. - Khanh không hiểu sao mình vẫn hỏi chị thích sen gì? Sen trắng hay sen hồng? Chị đưa tay dịu dàng vuốt vuốt bông sen. Có phải là độc ác không khi bảo may mà chị không nhìn thấy, không nhìn được để không biết bông sen cuối mùa xác xơ, thâm dập và còi cọc thế nào. Chị chỉ vuốt thôi, đưa tay vuốt ve những cánh sen rất mịn, thơm một mùi thanh mát nhẹ nhàng, Khanh thích sen trắng, dù sen trắng bông thường nhỏ hơn, ít thơm hơn. Và hiếm hơn sen hồng nữa. Nhưng ấy là bởi Khanh có thể ngồi mà ngắm những cái cánh trắng muốt kia, để thấy nó đẹp, cái đẹp mong manh chóng mất. Còn khi không thể ngắm, người ta sẽ thích mùi hương. Thế cuối cùng thì vẻ đẹp và hương thơm, cái nào quan trọng hơn cái nào nhỉ? Có phải con người ta hay bị đánh lừa bởi cái đẹp bên ngoài? Cái nết đánh chết cái đẹp. Cái hương có đánh chết cái đẹp không? Tội nghiệp có khi nào người ta chết chỉ vì quá đẹp? - Chị chuyển nhà đến một chỗ gần trường mới của chị hơn. Ngôi trường phổ thông này không đủ cho ước mơ đại học của chị. Chị chuyển khỏi căn phòng nội trú nhỏ xíu một hôm không có Khanh, hôm Khanh đang mải mê với một niềm quan tâm nào khác, khi Khanh không đi tìm sự bình yên ở nơi cũ kỹ và lặng lẽ này. Hôm Khanh vào, chị Thảo thông báo ngắn gọn: “Cái Tình nó chào em đấy, bao giờ ổn định nó sẽ báo lại sau”. Chị Thảo không nói gì về đứa bé của chị. Khanh cũng không dám hỏi. Căn phòng nhỏ mùa này không kiếm đâu ra sen để trông ấm áp hơn một chút. Phòng nhỏ mà hóa thênh thang. - Tối. Khanh không bật đèn và đi thử trong phòng mình. Vấp. Bởi Khanh chưa bao giờ định nhớ nơi nào là chỗ của cái gì. Mọi thứ lộn xộn trong suy nghĩ của Khanh. Nhắm mắt. Và Khanh bước đi từng bước một, thận trọng. Khanh sẽ phải tập thói quen nhớ rõ vị trí mỗi thứ trong cuộc đời mình. Để nhắm mắt, vẫn có thể bước đi.
Mai gọi điện đặt mua một bộ rèm cửa mầu xanh. Lớp ngoài cùng mầu xanh nhạt, gần như là trắng, trong, gần như là suốt. Lớp thứ hai dầy hơn một chút, xanh cũng đậm hơn một chút. Lớp thứ ba là nhung. Thường thì không ai cần đến ngần đấy lớp rèm cửa. Cách tốt nhất khi không muốn nhìn thấy mọi thứ là nhắm mắt lại, đơn giản mà lại còn rẻ tiền nữa. Nhưng mà Mai đã thích bộ rèm cửa ấy ngay từ lần đầu tiên nhìn thấy, trên một trang bán hàng qua mạng. Thế là Mai gọi điện. Người ta sẽ đem rèm đến lắp cho Mai ngay buổi chiều Bộ rèm sẽ được lắp vào cửa sổ. Phòng Mai có một cửa sổ rộng, choán gần hết bức tường hướng ra sân chung. Dưới sân chung thường có rất nhiều người. Người già tập thể dục buổi sáng, người trẻ hẹn hò buổi tối, trẻ con thì chiếm giữ buổi chiều, thêm cả buổi trưa nữa nếu đang kỳ nghỉ hè. Mai thích nhìn qua cửa sổ xuống khoảng sân ấy. Nhìn thấy tất cả mọi người đi lại hoặc ngồi yên, hét lên hoặc im lặng. Nhìn qua cửa sổ mọi thứ có vẻ rõ ràng hơn, không gian rộng hơn, Mai sẽ thấy mọi việc. Nếu Mai đi vòng qua cầu thang và bước xuống sân, sẽ chỉ nhìn được một vài người phía trước mặt mình, mà Mai thì sợ bỏ lỡ những gì diễn ra ở sau lưng. Thế nên Mai ngồi trong phòng để yên tâm sau lưng mình chỉ có một cánh cửa, và trước mặt là khoảng sân bên kia cửa sổ. Hôm nào Mai cũng nhìn Mà đấy lại là những con người duy nhất Mai nhìn thấy, hằng ngày Dù sáng sáng Mai bước ra khỏi cửa và vội vàng đến cơ quan, chú thích là hôm nào cũng vội, dù giờ làm thì không thay đổi và chỉ cần hẹn chuông báo thức sớm hơn năm phút là sẽ hết vội, nên cứ như thể là Mai thích vội vậy. Mai hít đầy một buồng phổi khói xăng thì sẽ đến được cơ quan. Cơ quan nghe thì to chứ thực ra là một căn phòng bé tẹo, và Mai ở đấy để mỉm cười kéo ghế và hỏi han. Mai làm việc « nghe », tức là việc không cần nói thật nhiều. Ai đến gặp Mai cũng có vấn đề của mình cả. Mọi người sẽ nói hết với Mai, bao giờ cũng bắt đầu bằng câu hỏi mà văn học sẽ gọi là « tu từ ». Ai cũng nói « Mai bảo tôi phải làm gì bây giờ ? ». Câu chuyện nào cũng bắt đầu như thế. Mở bài nào cũng giống mở bài nào. Đến cả kết bài cũng giống nhau. Ai cũng đứng lên đi về mà không cần nghe câu nào từ Mai hết. Nhưng thân bài thì có đến một tỷ cái, mỗi người một chuyện, một tâm sự và một éo le. Người ta kể ra dễ dàng như là dốc một cái cốc. Bởi vì Mai là người lạ. Bởi vì Mai chẳng biết ai. Mai từng chờ gặp một người quen hay ít ra là một người Mai biết đến đây tâm sự. Thế mà Mai chưa gặp người nào. Thế mới biết thành phố này rộng đến thênh thang Vì yêu cầu của công việc nên hôm nào Mai cũng phải hóa trang thật kỹ, phải làm sao để thật không giống Mai. Để khi người ta kể xong chuyện của mình, Mai tẩy đi son phấn của mình, là chẳng ai nhận ra ai nữa. Việc thật cũng nhàn không cần nghĩ ngợi, không cần động tay động chân, cứ một người bước vào phòng là mỉm cười vẻ cảm thông, kéo ghế, rồi nghe. Mai không nhớ được mặt khách hàng của mình, lúc nào Mai cũng nhìn, nhưng chẳng bao giờ Mai thấy. Người ta bước khỏi cửa, là mang theo cả gương mặt lẫn câu chuyện của mình, cứ như Mai chưa bao giờ gặp và cũng chưa bao giờ nghe chuyện ấy vậy Mai đi làm về không bao giờ vội. Khi đi vội là đủ, khi về có thể thảnh thơi. Thế nên Mai hôm nào cũng nấn ná nhẩn nha mãi rồi mới về đến nhà. Mai thuê phòng này đã ba năm hai tháng mười bốn ngày, mà chưa bao giờ gặp mặt hàng xóm. Thỉnh thoảng nghe thấy tiếng lịch kịch lịch kịch là đủ để Mai biết nhà có người. Khu nhà gồm ba phòng liền nhau, chồng lên hai tầng, mỗi phòng cho một người thuê. Trong phòng có đủ bếp, tủ, mọi thứ khép kín. Mai chờ mãi để gặp năm người hàng xóm của mình, mà suốt ba năm hai tháng mười bốn ngày chưa bao giờ gặp được dù chỉ một người. Làm Mai thấy khu nhà này rộng, đến thênh thang Mai mới chỉ nghe thấy tiếng chân hàng xóm mình. Và Mai biết rất rõ tiếng chân thế nào là của ai. Người ở phòng bên phải đi nhẹ như mèo, không bao giờ nghe thấy tiếng chân mà chỉ nghe tiếng mở khóa lạch xạch. Người ở phòng bên trái tiếng chân to gấp bốn lần tiếng mở khóa. Ba người tầng trên Mai không phân biệt được tiếng mở khóa phát ra từ phòng nào, chỉ biết có một người khi đi chân phải và chân trái phát ra tiếng khác nhau, nghe giống như là nhạc ; một người đi lúc nào cũng lệt xệt, dù rõ ràng nhiều lúc là tiếng giầy bị kéo lê chứ không phải là dép (Mai nghĩ đây phải là một nghệ thuật, đi giầy mà lê được chắc phải mất nhiều công khổ luyện lắm) ; một người nữa đi lúc nào cũng vội, tiếng dậm lúc nào cũng gấp, và sau tiếng dậm gấp sẽ là tiếng chùm chìa khóa quay tít lúc mở cửa. Mai nghẹt thở khi nghe thấy tiếng chân ấy, tưởng như là không khí không trôi nổi vào đến phổi nữa. Và dù không chú ý nhưng không hiểu sao mỗi khi có một người về, tiếng chân đều vọng vào chỗ Mai rõ mồn một. Mai thích tiếng chân của một người tầng trên, khi bước đi chân phải và chân trái phát ra những tiếng không giống nhau, cứ như là nhạc Mai lắp rèm cửa mầu xanh xong lại thường xuyên vén lên để nhìn cuộc sống dưới sân chung. Mai nhớ được hết những gương mặt thường xuất hiện dưới khu sân ấy. Nhưng không biết nếu gặp trực tiếp Mai có nhận ra được không ? Như những khách hàng của Mai, Mai thường quên mặt ngay sau khi họ đứng lên, đẩy ghế, hoặc không đẩy ghế lại chỗ cũ, quay lưng, đi qua cửa, về. Một ngày Mai nhìn không biết bao nhiêu gương mặt như thế, nhìn nhiều đến nỗi chẳng thấy ai. Và trong khi nghe tâm sự, thỉnh thoảng thở dài một cái cho hợp cảnh. Mai cứ nghĩ nếu éo le mà đem chuyển thành năng lượng được chắc dầu khí rớt giá thê thảm, và ngành điện lực không còn kinh doanh được nữa chỉ có nước chuyển tên thành ngành khen thưởng. Tiếc là nỗi buồn chẳng thể chuyển thành gì, chỉ có cách kể ra để cho lòng nhẹ bớt Khi Mai nhận ra thế nào mình cũng nghe thấy tiếng chân của những người hàng xóm, dù chú ý hay không, thì Mai bắt đầu dừng lại khi nghe thấy tiếng chân ai đấy. Dừng lại và nghe chăm chú cho đến khi tiếng mở khóa lạch xạch kết thúc, và người kia bước vào phòng. Không phải hôm nào Mai cũng nghe được đủ năm tiếng chân khác nhau. Có khi cả ngày chẳng có tiếng chân nào, một ngày nghỉ chẳng hạn. Những ngày như thế Mai vén rèm lên và ngồi nhìn dưới sân chung, thấy tất cả mọi người và chẳng nghe thấy một ai hết Một ngày Mai quyết định dán tường bằng giấy mầu xanh. Với một căn phòng bé như căn phòng Mai thì nên để mầu sáng là tốt nhất, nhưng chẳng hiểu sao Mai lại quyết định dán phòng mầu xanh, không sáng. Mai tự ôm giấy về, tự xếp lại đồ, tự bôi hồ và tự dán giấy. Giấy tự dán thế nào cũng có chỗ nhăn nheo và xấu xí. Nhưng Mai không quan trọng chuyện đấy lắm. Xấu hay nhăn cũng chỉ mình Mai thấy, chẳng ai bước chân vào đây cả. Mà Mai thấy thì nhăn hay xấu cũng chẳng vấn đề gì, vì Mai chỉ cần biến phòng mình thành mầu xanh, tất cả, xanh, thế là Mai hài lòng rồi. Mai hì hục mất rất nhiều công sức và cả một cuối tuần trọn vẹn để bôi xanh được cái phòng mình. Xong xuôi Mai tự thưởng bằng cách vén rèm lên, nhìn xuống sân chung, và chờ đợi một tiếng chân quen thuộc nào đấy vô tình bước ra hành lang Nói là chờ đợi một tiếng chân nào đấy nhưng chính xác hơn là Mai chờ tiếng chân mà bên trái phát ra không cùng một âm thanh với bên phải. Mai thích nghe tiếng ấy. Dần dần hôm nào Mai cũng phải nghe tiếng chân trái phải không đều nhau, rồi mới làm gì thì làm được. Mai dậy thật sớm để chờ nghe tiếng xoay khóa lạch xạch, tiếng bước chân không đều, từ tầng trên bước xuống mỗi lúc một rõ dần, rồi sau khi rõ nhất, là đi qua trước cửa phòng Mai, thì tiếng chân ấy nhỏ dần nhỏ dần đến khi mất hẳn. Dậy sớm và Mai cũng về sớm hơn, bớt nhẩn nha để kịp về và chờ đợi tiếng chân phải trái không đều nhau ấy. Mỗi ngày tiếng chân về vào một giờ khác nhau. Mai không sao tính giờ nổi. Có những khi Mai lỡ, chờ đến tận đêm khuya thật khuya mà vẫn không nghe thấy âm thanh lộc cộc phát ra từ đế giầy, nghe cứ như là tiếng nhạc. Mai sẽ ngủ thiếp đi trong sự đợi chờ Người ta có rất nhiều kiểu bói trên đời. Nhưng bói gì thì cũng phải tương xứng. Nghĩa là bói tên thì phải ghép tên hai người với nhau, bói ngày sinh cũng phải có số liệu đầy đủ ngày sinh hai người. Mai không biết gì về người ta trừ tiếng chân đi phải trái khác nhau, nên bần thần không biết làm sao bói mình có hợp người ấy không. Mai chẳng bao giờ nghe được tiếng bước chân của mình. Mà nếu có đặt máy ghi âm lại Mai cũng không biết sao bói được tiếng chân mình và tiếng chân người ấy vậy có hợp nhau không. Mai bối rối đến độ một ngày đi làm, sau khi gặp rất nhiều người, rất nhiều câu chuyện lướt qua tai, bỗng dưng Mai cất tiếng hỏi khách hàng : làm sao để bói tiếng bước chân ? Người khách ấy đã rất giận. Bà nhận ra rằng Mai chẳng nghe gì câu chuyện của bà, chỉ ngồi đấy gật gù ra vẻ cảm thông, thỉnh thoảng thở dài một cái thườn thượt, bà gọi là thở - dài - nghề - nghiệp. Thực ra hôm ấy Mai không thở - dài - nghề - nghiệp. Mai thở dài thật sự, vì Mai đang bối rối trong lòng, mà Mai lại chẳng tìm đến văn phòng nào để trút ra câu chuyện của mình được Cuối cùng thì Mai sơn nốt cả cánh cửa vào phòng mình thành mầu xanh. Mai giống như sống như trong một cái hộp xanh, lặn vào một thùng xanh, thở không khí xanh. Mai ngồi nhìn qua tấm rèm cửa sổ vén lên, sân chơi đang rất nhiều nắng. Cuối tuần sân đông hơn, Mai thấy nhiều người hơn, nhưng không nghe được gì. Ngoài hàng lang cũng im ắng. Chẳng có tiếng chân nào qua lại, kể cả tiếng kéo lê loẹt xoẹt hay tiếng hấp tấp vội vàng. Mai chờ mãi tiếng chân phải trái không đều. Mai nhìn qua cửa sổ nhưng dường như chẳng thấy được gì nữa, bởi vì Mai đang chờ. Mai đã nghĩ nếu nghe thấy tiếng chân ấy, Mai sẽ chạy ra, sẽ mở cửa, chỉ cần để nhìn thấy người phát ra tiếng chân ấy. Phải là một người thế nào thì khi đi tiếng chân bước mới không đều nhau ? Mai không thể đoán được. Nên Mai nhất định phải mở cửa, ra hàng lang, để nhìn thấy. Mai chờ gần hết ngày cuối tuần. Sân chung nắng đã vơi đi nhiều, và sắp tắt hẳn rồi. Mà Mai vẫn kiên nhẫn ngồi chờ. Mai nhất định phải nghe thấy tiếng chân ấy, rồi Mai sẽ ra mở cửa, sẽ cười một nụ và chào một cái. Mai sẽ phải làm quen Khi nghe thấy lộp cộp tiếng bước chân mỗi lúc vọng lại một to hơn, Mai đã lao ra cửa, đúng như đã dự định, nhìn ra hành lang, nhưng không nói được lời nào và cười một nụ nào. Bỗng dưng, Mai xanh dần, mầu xanh lan từ móng tay út bàn tay trái, ra toàn bộ cơ thể. Mai xanh. Lơ. Và quên hết những gì định nói. Quên cả những dự định, những hồi hộp, những băn khoăn. Mai đi ra hành lang và quên sạch sẽ. Không nhớ điều gì nữa Bác sĩ khám và kết luận rằng Mai bị bệnh ngộ độc mầu xanh. Blue
Huyên bước vào và bảo cần một bàn cho hai người, người nữa sẽ đến muộn hơn một chút. Người phục vụ dẫn Huyên vào giữa cửa hàng rộng, các bàn khác hầu như đều đã kín chỗ, chỉ còn hai bàn ở giữa phòng. Một bàn có tấm thiếp nhỏ bên cạnh lọ hoa ghi « đã đặt ». như vậy chỉ còn duy nhất sự lựa chọn này cho Huyên. ừ thì Huyên ngồi xuống Hiệu ăn ở trên một con thuyền, gần trung tâm, là một chốn xa xỉ mà chắc chẳng bao giờ Huyên nghĩ có ngày mình sẽ bước chân vào. Thế mà Huyên đã bước. các bàn ở đây hầu như phải giữ trước, chỉ còn một số bàn sót lại thì sẽ ở vị trí chẳng ai thích, như chỗ Huyên đang ngồi. Mọi người thích ngồi sát tường, gần cửa sổ, để nhìn thành phố bên sông lấp lánh đèn. Nhưng những chỗ ấy đều phải đặt, mà Huyên thì không đặt, thậm chí, Huyên chỉ vừa mới quyết định sẽ bước vào đây. Hôm nay là sinh nhật Huyên Người phục vụ hỏi Huyên muốn uống chút gì trong khi chờ bạn đến không ? Huyên bảo thôi, đưa thực đơn để Huyên gọi món trước. người đó đến sau sẽ gọi món sau. Điều này thật không bình thường cho lắm. nhưng vì ở một chốn lịch sự, người ta không thắc mắc nhau, kể cả những chuyện không bình thường thế này. Người phục vụ vẫn đem thực đơn tới, mời Huyên. Huyên cầm thực đơn, đưa mắt đọc ba lượt từ đầu đến cuối, kể cả dòng chú thích nhỏ xíu ghi phía dưới của trang cuối cùng « đồ uống có cồn không có lợi cho sức khỏe của bạn ». rồi Huyên rút trong túi ra một tờ tiền, cộng tất cả các số trong seri của tờ tiền ấy lại, Huyên được số bảy mươi ba. Khi người phục vụ quay lại để chờ yêu cầu của Huyên, Huyên gọi món số bảy ba : đậu phụ tái Cái bàn trống ban nãy có tấm thiếp nhỏ ghi « đã đặt » giờ cũng có người ngồi. một đôi (có lẽ là) vợ chồng già vừa đến, ông kéo ghế mời bà ngồi, bà mỉm cười cảm ơn ông. Huyên thấy hình như mình là người duy nhất ngồi một mình trong hiệu. tất nhiên chẳng ai nhìn Huyên, ai cũng có người ngồi cùng bàn với mình để nhìn. Nhưng Huyên cứ có cảm giác như khi Huyên chỉ vừa rời mắt khỏi người ta thôi, là người ta sẽ nhìn mình rồi nói với người bên cạnh « ô hóa ra có người đi ăn một mình ». anh phục vụ đi lại bưng bê và nếu lướt qua chỗ Huyên thì cười với Huyên một cái, giống như trong người anh có chip cảm ứng vậy, đi qua là cười. Huyên thấy nhột nhột. Huyên lấy điện thoại ra và bấm số -Bao lâu nữa mới đến ? ừ Huyên đang ở đây rồi, Huyên gọi món trước nhé. ừ cố đến nhanh nhé, Huyên sẽ chờ Anh phục vụ đem món khai vị ra. Anh không hỏi nhưng Huyên tự nói, rằng bạn Huyên đang bị kẹt xe, sẽ đến muộn chút nữa. anh mỉm cười bảo vâng. Rồi anh chúc Huyên ngon miệng Huyên ăn món khai vị thật chậm rãi từ từ, dùng tất cả các giác quan để phân tích làm sao nó có thể đắt đến thế ? có gì đặc biệt trong miếng rau được đặt chéo đĩa này với những miếng rau khác ? vì là một cửa hàng sang trọng nên người ta dùng những cái đĩa rất to để đặt những món ăn rất nhỏ. Huyên giở túi và lấy kính ra để ăn cho rõ hơn. Huyên cũng thích đeo kính thế này dù Huyên cận rất nhẹ, không có kính vẫn nhìn thấy hạt tiêu rơi trên sàn nhà. Mỗi khi đeo kính Huyên lại có cảm giác mình đang nấp một chốn và nhìn được những người khác, mà những người khác không nhìn được mình. giống một người ngồi trong bóng tối nhìn về phía ánh sáng, rất rõ ràng, nhưng những con người trong ánh sáng ấy không nhìn được gì phía bóng tối cả. khi Huyên nhìn một người đeo kính khác, Huyên cảm giác như hai người ngồi nấp nhìn thấy nhau, thấy một cách im lặng. thấy, biết nhau đang ở đó, nhưng không nói ra Người phục vụ đứng từ xa xem khách bàn nào dùng xong món thì lại gần dọn đĩa đi. Huyên đã dùng xong món khai vị. có lẽ anh chuẩn bị lại gần. Huyên lại cầm điện thoại, lại bấm số, lại nói, có lẽ là hơi to so với không khí trong cửa hiệu -Sao lâu thế ? vẫn kẹt à ? Huyên chờ mãi. ừ, đến nhanh nhé, ừ, rồi, Huyên chờ Món đậu phụ tái số bảy mươi ba được dọn ra. Huyên lại huy động tất cả các giác quan để phân tích điều đặc biệt trong món ấy. có lẽ người ta phải dùng sữa tươi để tưới cho những cây đậu tương này, thì cái giá mới có thể cắt cổ trên trời đến như thế. Thực ra khi ăn thì không nên nghĩ đến tiền, nếu không sẽ rất dễ bị nghẹn. Huyên từng nghĩ đến một cái chết cho mình, Huyên thích những cái chết kỳ cục, như chết vì nghẹn là một cái chết Huyên ưa thích. Người ta chẳng ai chọn được cách mình sinh ra, nên nhiều người thích chọn cách để chết đi. ít nhất không tự quyết định cách bắt đầu được, thì cũng có thể quyết định cách kết thúc. Huyên tất nhiên không bao giờ nghĩ đến chuyện tự tử, chỉ là mong ước mình sẽ được chết theo cái cách mình thích. Cách Huyên thích nghĩa là một cách buồn cười, Huyên thích người khác khi nghĩ đến cái chết của Huyên sẽ phải bật cười, như thế thì thật thú vị. nhưng chỉ là nghĩ thế thôi, vì Huyên cũng không biết sau khi Huyên chết đi rồi có ai còn nhớ đến Huyên hay cái chết của Huyên nữa không. Nhưng dù sao thì cũng vẫn là muốn Huyên dùng xong đậu phụ tái thì lại cầm điện thoại lên bấm số. anh phục vụ vừa dọn đĩa vừa nghe được giọng Huyên đầy chán nản -Sao mãi không đến được thế ? Huyên chờ lâu lắm rồi mà … Huyên dùng cà phê sau món tráng miệng. Cà phê nhạt như nước sái thứ ba, nhưng thơm như vừa được rang xong. Đôi (hình như là ) vợ chồng già ngồi ở bàn gần đấy ăn một cách chậm rãi và nói những chuyện thầm thì. Cụ bà thỉnh thoảng lại cười một nụ, và khi cụ liếc cụ ông thì tưởng như tất cả những nếp nhăn trên mặt đều biến mất. Huyên tự dưng nghĩ không biết liếc có phải một phương pháp trẻ hóa không ? nếu điều đấy là sự thật thì Huyên sẽ liếc mỗi ngày mười người để tiết kiệm tiền kem dưỡng da, dù cũng chưa biết Huyên sẽ kiếm đâu ra mười người để mà liếc. Huyên làm việc một mình trong một căn phòng chung cư công ty thuê làm địa điểm. công ty có tất cả năm người tính cả giám đốc, trong đó có mình Huyên ở thành phố này, một người khác đang mắc kẹt bên kia địa cầu vì việc gia đình, hai người khác là một đôi, sống ở một thành phố khác, và giám đốc của Huyên thì đi đi về về mỗi tuần một lần ghé văn phòng. Công việc chủ yếu là về mạng máy tính nên thực ra nhân viên ở đâu cũng chắng quan trọng. Thế là Huyên hàng ngày đến văn phòng, tức căn hộ nhỏ ấy, ngồi tám giờ trước màn hình máy tính, giải quyết tất cả những vấn đề giám đốc chú thích « hoàn thành trong ngày », chần chừ trước những vẫn đề không có câu chú thích ấy. mặc dù, thế nào cũng sẽ đến một hạn mà đến lượt những thứ chưa được giải quyết kia, lại đeo chú thích « hoàn thành trong ngày » Huyên uống đã gần xong cà phê rồi. chiếc ghế đối diện vẫn trống. Huyên chẳng buồn gọi điện thoại nữa. còn một chút cà phê trong cốc, đã lạnh tanh. Huyên chần chừ nghĩ có nên để lại chút này không ? người ta ăn phở hay để lại một ít nước dùng, giống như là quy ước. nhưng Huyên không nhớ có quy ước nào trong việc uống cà phê phải để lại một chút không. Chần chừ mãi rồi thì Huyên cũng uống. Cà phê nhạt như nước sái thứ ba, lại nguội nữa thì uống giống như là nước lọc. nhưng Huyên tự nhủ gọi rồi thì phải uống hết chứ Người phục vụ lại gần hỏi Huyên có muốn dùng thêm chút gì nữa không ? anh không hỏi về người bạn mãi chưa đến của Huyên. Huyên cũng chẳng buốn cầm điện thoại lên bấm số nữa. Huyên bảo thôi đưa hóa đơn để Huyên tính tiền. bạn Huyên bị tắc đường giờ này không đến được nữa rồi Huyên trả hóa đơn bằng thẻ, nhẩm tính chắc trong tài khoản còn vừa đủ để trả khoản này. Ba hôm nữa Huyên sẽ lại có lương, tài khoản sẽ lại nhích khỏi con số không. Từ giờ đến ba hôm nữa thì Huyên đã có đồ ăn trong tủ lạnh. Người phục vụ cảm ơn Huyên và cúi người chào. Huyên cũng cười lại và bước đi. Thế là Huyên cũng đã có một bữa tiệc sinh nhật. bỗng dưng điện thoại Huyên kêu báo có tin nhắn. tin từ nhà cung cấp dịch vụ. không mở ra đọc Huyên cũng biết tin nhắn báo điện thoại đã hết tiền từ ba tháng nay, và nếu không nạp thêm thì Huyên sẽ bị khóa số máy này. Sim của Huyên đã không còn gọi mà chỉ nghe được từ ba tháng, nhưng Huyên cũng không biết có nên nạp thêm tiền chỉ để giữ số này không. Người duy nhất thường gọi cho Huyên là giám đốc, nhưng giám đốc cũng gọi về số cố định ở văn phòng chứ hầu như chẳng gọi di động bao giờ. Huyên chần chừ rồi thả lại máy vào trong túi. Rồi đi Huyên nhắm mắt, hít một cái thật sâu, rồi lẩm bẩm « chúc mừng sinh nhật Huyên » « Huyên cảm ơn » 20 jan 2009
Trời lạnh. Tầu đông. Xuân ngồi đối diện Phương, sát cạnh cửa sổ. lạnh đến mức tưởng như chỉ cần chạm tay vào kính cửa thôi, là lập tức người có thể bị đóng đá, từ từ, lan dần từ đầu ngón tay cho đến khi mẩu cuối cùng của ngón út bàn chân trái cũng bị hóa đá nốt. Xuân bảo khó nghĩ quá, chọn quà là một trong những điều mệt mỏi nhất. (nhưng nhận quà lại là một trong những điều mong đợi nhất). ngày mai sẽ là cuối năm, có thể coi như là cuối. ngày mai sẽ là ngày mà nhà nào cũng tụ họp, ăn một bữa tối ấm áp, cười đùa, nói chuyện, và thỉnh thoảng, có thể sẽ có cả những phút im lặng nữa. nhưng im lặng cũng vẫn ấm áp. Vì ngày mai là ngày Chảy. mọi trái tim chảy về một chốn : gia đình
Nói là mọi thì cũng không hẳn, vì sẽ vẫn có những trái tim như của Xuân và của Phương, xoay lòng vòng rồi chẳng biết sẽ chảy về hướng nào. Vì thế Phương rủ Xuân đi xem phim. ấm áp làm sao một ngày Chảy cuối năm trong rạp chiếu phim. Ngày mai sẽ ra hai bộ phim mới, hai, hoặc có thể nhiều hơn. Xuân và Phương sẽ ngồi trong rạp, xem liền một lúc hai, hoặc có thể nhiều hơn, những bộ phim mới, trong khi những người khác rộn ràng xúng xính chạy về nhà thơm lên má nhau và ngồi vào bàn tiệc nghi ngút khói. Phương bảo chẳng sao, vì mọi người đều ở nhà nên rạp sẽ bớt ồn ĩ hơn, mình sẽ được xem phim yên ổn hơn. Xuân bảo ừ
Hôm nay thì Xuân đi chọn quà cùng Phương. Quà cho những người khác. có biết bao nhiêu là người để tặng quà. Mỗi người một tính và một cách. Xuân cứ cầm lên đặt xuống suy đi nghĩ lại liệu quà này có hợp không, người này có thích không. Nghĩ một hồi rất lâu rồi thì không mua nữa. bất chợt Phương bảo Xuân này đôi khuyên tai đẹp nhỉ. Xuân không thấy khuyên tai đẹp mà thấy cái vòng tay rất đỏ và rất nhỏ bầy gần đôi khuyên đấy đẹp. rồi Phương bảo Xuân này hay Xuân tặng Phương đi. Xuân tặng Phương khuyên và Phương sẽ tặng Xuân vòng. Mình sẽ có quà cho năm mới. Phương nói bằng một giọng nghiêm túc nhất, và vì thế, sau đó, cả hai ra quầy tính tiền. Phương thích khuyên nhưng mua vòng, Xuân thích vòng nhưng mua khuyên. Và không mua được gì khác. chọn quà cho những người không có mặt là một điều khó khăn gần nhất cuộc đời này. Lúc chia tay ở bến tầu Phương bảo Xuân mai mới được tặng nhé. Mai mới là ngày Chảy, để sum họp, nói chuyện, cười đùa, và để tặng quà nhau. Rồi bất chợt Phương reo, đầy hạnh phúc : thế là mai mình sẽ có quà !
Ngày Chảy diễn ra đúng như thế, Xuân đi xem phim cùng Phương ở rạp, xem liền hai bộ phim mới ra, mỗi bộ dài hai tiếng ba mươi lăm phút, chưa kể mười lăm phút quảng cáo đầu phim. Người trong rạp rất thưa thớt. nhưng vì thế xem phim thích hơn hẳn, không có tiếng mở lon Coca tách tách và không có tiếng nhai bỏng ngô roạp roạp. yên tĩnh, kể cả trong mười lăm phút quảng cáo đầu giờ. Phương bảo xem phim thế này thật thích, đến xem quảng cáo cũng thấy thích hơn. Hay từ giờ Phương sẽ dành trọn ngày Chảy hàng năm để vào rạp xem phim, tất cả những bộ phim từ ca chiếu đầu đến ca chiếu cuối. phim dài hai tiếng ba lăm phút, có rất nhiều cảnh buồn cười và nhiều cảnh dễ rơi nước mắt. nhưng vì rạp rất tối và phim rất hay nên không ai nhìn xem người bên cạnh có đưa tay lên quyệt mắt không. Lúc ra khỏi rạp Xuân bảo giờ thì đi ăn tối nhỉ. Sẽ phải chọn một hàng mở cửa vào tối nay, tối Chảy. số hàng mở cửa hôm nay chắc đếm được trên đầu ngón tay. Nhưng Phương bảo Phương sẽ rất thích những cửa hàng đấy. chủ hàng sẽ giống như Phương, không có một bàn tiệc nghi ngút khói và những gương mặt chờ mong. Chủ hàng sẽ ở đấy, bán hàng. Phương sẽ đến đấy, ăn tối. không ai ngờ đâu, nhưng họ thật sự rất đồng cảnh với nhau : không có một chốn để chảy về, ngày hôm nay. Phương và Xuân lang thang rất lâu trước khi tìm được một hàng như thế. Trời thì không biết có lạnh lắm không, vì khi người ta cảm thấy cái lạnh từ bên trong lan tỏa ra khắp cơ thể, thì làn da sẽ khó nhận biết được cái lạnh bên ngoài. Xuân và Phương dù sao cũng tìm được một hàng ăn mở cửa trước khi bị đông cứng lại. đồ ăn không biết có ngon không, vì một ngày như ngày hôm nay thì người ta sẽ thèm được ngồi quanh một cái bàn rộng với rất nhiều gương mặt thân quen, thức ăn thực ra chẳng quan trọng nữa, đến nước lọc rồi cũng sẽ thành ngon. Nhưng Xuân và Phương vẫn ăn uống nói chuyện và cười đùa với nhau, trong một cửa hàng trống. Chủ hàng đeo một cặp kính mà Phương đồ là không phải vì anh cận hay viễn hay loạn, chỉ đơn giản là anh không muốn ai nhìn thẳng vào được mắt anh. Khi bữa ăn kết thúc là đến màn tặng quà. Phương đeo vòng cho Xuân và Xuân đeo khuyên cho phương. Cả hai lấy gương nhỏ trong túi ra soi rồi reo lên đầy hạnh phúc : đúng là món quà hợp ý mình !
Cả hai đi bộ ra khu trung tâm, nơi có nhiều người trẻ nhất và có nhiều khách du lịch nhất. có một quán cà phê rất rộng gần một đài phun nước rất nổi tiếng. loay hoay mãi thì cả hai cũng tìm được một chỗ trong quán ấy. quán đang bật kênh Fashion TV và mở nhạc to gần hết cỡ. không ai xem Fashion TV và cũng không ai nghe nhạc. mọi người hét lên để nói chuyện với nhau. Xuân bảo Xuân thèm hút một điếu thuốc nhưng trong quán cấm hút thuốc. Phương bảo thế thì khóac áo đứng ra ngoài cửa và mình sẽ hút thuốc cùng nhau. Không ai nhìn họ vì ở ngoài cửa rất cả mọi người cùng châm thuốc. giống như hai nhóm riêng biệt, trong quán người ta hét lên hết cỡ làm sao át được tiếng nhạc để nói với nhau vài câu chuyện. ngoài quán người ta im lặng dù ở đây không cần hét vẫn có thể nói chuyện được với nhau. Ngoài quán người ta chỉ châm thuốc cho nhau, đứng cạnh nhau, im lặng. Và kỳ lạ là, những con người ấy, khi chỉ vừa mới dụi thuốc đi thôi, mở cửa ra thôi, bước vào quán thôi, là đã thành những con người khác rồi, sẽ hét lên át tiếng nhạc của Fashion TV để kể với nhau vài câu chuyện con con
Xuân bảo vừa rồi Xuân nghe tiếng trả lời điện thoại vọng ra từ toilet nữ, nhưng lại là giọng đàn ông, mà âm có vẻ như giọng đàn ông da mầu. Xuân tự hỏi có phải báo chủ quán không? Phương bảo thôi đừng báo, mình đang ở miền đất lộn xộn nhất thế giới, nơi thị trưởng đổi giới tính ba ngày một lần còn tổng thống thì thay vợ mỗi hai ngày, và để đón mừng năm mới tổng thống sẽ cùng người vợ gần đây nhất lên ti vi trong một chương trình chuyện riêng nhà tổng thống. Rồi Phương bảo Phương sẽ phải chọn một cái lịch cho năm mới. năm nào Phương cũng mất rất nhiều công chọn lịch, hình ảnh thế nào phải thật hợp, thật thích. Rồi năm nào Phương cũng chỉ nhìn đúng những ô ngày và ô tháng, nhiều khi quên hẳn cái ảnh in trên lịch là ảnh gì. Nhưng rồi năm sau khi bắt đầu công việc chọn lịch ấy Phương cũng lại bắt đầu bằng việc chọn hình ảnh, những hình ảnh mà rồi cả năm sẽ chẳng bao giờ Phương nhìn tới. Xuân bảo tự chọn lịch là việc làm cô đơn nhất trên đời. người ta bao giờ chẳng được người này hay người kia tặng ít nhất một quyển lịch. Lịch giống như sợi dây, được tặng nhiều giống như có nhiều mối liên hệ. Phương bảo vậy thì Phương đang ở giữa biển rồi, và chẳng có sợi dây nào hết. Phương sẽ chọn một quyển lịch cho năm nay. Và dù biết rằng sẽ chẳng bao giờ ngắm những hình ảnh in trên lịch, nhưng chắc Phương sẽ vẫn chọn một bộ mà Phương thích, như bộ lịch tranh Vatsug Tmilk chẳng hạn. Xuân bảo nếu Xuân treo bộ lịch ấy, mười hai tháng của Xuân sẽ giống hệt nhau và sẽ là tháng ba. Bởi vì ở tờ lịch tháng ba có bức tranh mà Xuân thích nhất. và thế nào thì Xuân treo lịch cũng chẳng phải để nhìn ngày mà chỉ để nhìn tranh thôi. Bỗng dưng Phương hỏi nhìn lịch tháng ba cả một năm dài liệu Xuân có buồn không ? Xuân bảo tại sao phải buồn. Phương im lặng nhưng Xuân hiểu là vì Xuân mới chia tay người yêu. Và tháng ba trên lịch Vatsug Tmilk là một nụ hôn, Xuân sẽ kéo nụ hôn trải suốt mười một tháng còn lại. Và Xuân bảo có thể sang năm Xuân sẽ không đi xem phim và ăn tối rồi cà phê cùng Phương thế này nữa. lúc đấy hẳn Xuân có người yêu mới rồi
Ngày chảy thực ra không diễn ra hoàn toàn như thế. Bắt đầu từ đoạn Xuân và Phương đến một hàng cà phê đông đúc và ồn ào thực ra diễn ra vào một hôm khác, sau ngày Chảy ít lâu. Nhưng nếu để một ngày cuối năm khi mỗi người đều có một gia đình hay gần như một gia đình để về và để cảm thấy ấm áp, mà Phương và Xuân lại chia tay nhau ở bến tầu rồi lặng lẽ mỗi người rẽ một hướng của mình, chạm tay vào kính cửa sổ sát bên cạnh mình, đông đá dần dần từ đầu ngón tay đến mẩu cuối cùng ngón út bàn chân trái của mình, như thế Phương thấy chạnh lòng quá. Vì thế Phương đã cắt dán lại ký ức một chút. Dù sao cũng chỉ là lấy một phần của buổi tối khác dán lại vào phần gần như trống trơn của một tối đặc biệt như tối Chảy. đấy vẫn thực là ký ức của Phương, nên cũng chẳng có gì khác biệt nhiều lắm. chỉ là, nó làm Phương cảm thấy ấm áp hơn, ít cô độc hơn. Và như Xuân bảo, có thể đây sẽ là tối Chảy một mình cuối cùng Xuân chia sẻ cùng Phương. Sang năm mọi việc sẽ phải khác. ít ra, Xuân sẽ phải có một tình yêu mới rồi
có đôi khi tôi nghĩ, đọc một truyện ngắn (nói riêng, hoặc một truyện nào đó, nói chung) cũng như thưởng thức một bữa ăn. một bữa ăn đầy đủ sẽ có cả khai vị lẫn tráng miệng. một truyện đầy đủ sẽ có cả những phần ngoài rìa râu ria xung quanh câu chuyện ấy
trước khi dùng món chính, mời các bạn dùng món khai vị
món chính
Chuyến tầu AAF Cứ hai mươi phút lại có một chuyến tầu, hai mươi phút, vào mỗi phút thứ ba của một vòng hai mươi. Nghĩa là mười ba, ba ba, năm ba, từ một giờ mười ba phút sáng cho đến hai mươi tư giờ năm ba phút đêm. Không cần cố cũng có thể thuộc lòng giờ tầu, nếu bạn năm ngày một tuần, bốn tuần một tháng, mười hai tháng một năm, ngày nào cũng đi đi về về bến ấy. và còn dễ thuộc hơn sau năm lần nhỡ tầu, lần nào cũng đến vừa sát sạt kịp để chạy hộc tốc xuống bến và nhìn đoàn tầu to, dài, nặng nề sập cửa trước mắt rồi cựa mình trườn đi. Sau đó tất nhiên là mười chín phút năm mươi giây chờ tầu, một mình trong ga, vắng tanh, im lìm. Mọi người thường chỉ đến đông vào những phút thứ không, nghĩa là ba phút trước khi có tầu. dường như cả thành phố này đều thuộc giờ tầu. tầu là phương tiện di chuyển chính trong thành phố, và cả ngoài thành phố nữa, tất nhiên, có ba ga lớn để từ đó có thể lấy tầu đi các tỉnh xa. Nhưng ga mà cô thường chờ là một ga nhỏ, đôi chỗ có mái che, còn lại là trống. Gió có thể thổi hun hút mỗi khi tầu qua
Cô xuống đến bến vào phút thứ một, nghĩa là hai phút trước khi có tầu. người đàn ông ấy đang chậm rãi bước xuống gần chỗ cô. Bỗng dưng cô giở túi, tìm một cuốn sách để lấy ra. Cô có hai sự lựa chọn : một cuốn sách buồn cười và một cuốn sách buồn khóc. Lúc nào trong túi cô cũng có hai cuốn như thế, lúc nào chờ tầu cô cũng có hai sự lựa chọn : khóc hoặc cười. rồi cô rút ra : Cậu bé hắt xì, quyển sách trẻ con xưa nhất trên đời và cũng buồn cười gần nhất trên đời. người đàn ông đã lại gần cô, và không nhìn, nhưng cô biết ông đang mỉm cười, có thể nghe được tiếng môi khẽ mở ra và không khí rung lên ở đầu lưỡi : em đọc quyển gì thế ?
Đấy là cách vờ vịt cổ điển nhất của một người phụ nữ và cách bắt chuyện cũng cổ điển nhất của một người đàn ông. Nhưng hình như những gì cổ điển lại dễ thành vĩnh hằng, và lúc nào cũng có tác dụng. Thế là họ nói chuyện với nhau
Cô đã nhìn thấy người đàn ông này hàng tỷ lần, nếu không muốn nói là hàng tỷ tỷ. họ thậm chí còn làm việc cùng một chỗ, tuy công việc chẳng liên quan gì mấy, nhưng cũng đủ để thỉnh thoảng giao nhau ở hành lang. Họ cũng thường về cùng một chuyến tầu, thỉnh thoảng nói những chuyện linh tinh và nho nhỏ. Vì chuyến tầu thường rất dài và rất đông, nếu ngồi không thì sẽ rất nhàm chán, mọi người thường mang sách báo hoặc truyện đọc giết thời gian. nhưng nếu có người nói chuyện thì tất nhiên sẽ thú vị hơn : hai người cùng giết thì thời gian sẽ mau chết hơn một, hiển nhiên thế. Những chuyện họ nói với nhau thuộc dạng chuyện giấy ăn, dùng một lần rồi vứt, nghe một lần rồi quên. Họ cũng chỉ nói chuyện với nhau trên tầu. tầu, dường như là một không gian khác, khiến con người ta cởi mở hơn. Những lần chạm mặt ở hành lang, họ chỉ cười một nụ, rồi đi. Mỗi người bận rộn và nhăn nhó với công việc của mình. Thậm chí ở trên bến, dường như họ cũng chưa bao giờ nói với nhau một lời nào. Nếu có vô tình gặp, cũng lại chỉ cười một nụ, rồi đi Nhưng lần này thì khác. không hiểu sao cô có cảm giác muốn nói chuyện với người đàn ông ấy. và cũng không hiểu sao cô lại giở túi lôi ra một quyển sách, trong khi lẽ ra để nói chuyện người ta không cần đến sách. Nhưng thực tế chứng minh là cô đã làm đúng. Ông đã lại gần cô, mỉm cười, cô có thể cảm nhận được thế, và bắt chuyện. lần đầu tiên, ngoài tầu, họ nói chuyện với nhau
Không thể phân tích rõ ràng vì sao cô thích nói chuyện với ông. Ông có một cái mũi to, quá khổ, và khi nhìn thẳng vào mắt ông để nói chuyện, bao giờ cô cũng chỉ nhìn thấy cái mũi ấy, cái mũi không giống với ý thích thường ngày của cô. Cô bị hấp dẫn đặc biệt bởi hai điều ở một người đàn ông : mũi thanh và ngón thon. Một người đàn ông có thể xấu như Shrek mà có một cái mũi thanh cũng trở nên quyến rũ. Ông không xấu như Shrek, nhưng mũi thì thực sự quá khổ. Đã năm lần cô thấy ông chạy vội, nhẩy ba bậc thang một nhưng vẫn chỉ xuống bến kịp để thấy cửa tầu sập lại trước mắt, và đoàn tầu rùng mình trườn đi. Ông có lẽ là người duy nhất trong thành phố không thuộc giờ tầu. Và cô thì lại muốn nói chuyện với ông Cô ngẩng lên, mỉm cười, giơ quyển truyện trẻ con nhất thế giới, nhún vai, và nghe tiếng ông bật cười. như đã bảo, đấy là quyển truyện buồn cười nhất trên đời, nên chỉ cần nhìn thấy tên thôi cũng đủ để ông cười rồi. và cô thích tiếng cười ấy. cô thích nghe âm thanh bật ra từ cổ họng ông, nhìn những nếp nhăn nheo nheo trên mắt khi ông cười
Và tầu đến
Đấy là chuyến tầu ngắn nhất mà cô từng ngồi. để về nhà cô sẽ phải lấy tầu này, chuyến tầu vào mỗi phút thứ ba cứ mỗi hai mươi phút lại có một chuyến, từ cái ga lẻ hun hút, đổi ở một bến trong trung tâm, lấy một chuyến tầu khác đi về, một quãng đường dài và lê thê. nhưng hình như hôm nay thì khác. ông ngồi cạnh cô, hỏi một chuyện gì đó, cô không nghe rõ nhưng cũng trả lời. cô hơi xoay mình một chút, dựa vào cửa sổ, để có thể nhìn thẳng vào ông khi nói chuyện, và cho dù toàn bộ những gì cô nhìn thấy chỉ là cái mũi quá khổ của ông, nhưng cô cảm thấy thực sự hạnh phúc. Hạnh phúc, có nghĩa là cô muốn như thế, muốn được xoay mình, tựa lưng vào cửa sổ, nói với ông, nghe không khí rung lên ở đầu lưỡi ông, và ngắm những nếp nhăn nheo nheo mỗi khi ông cười
Ông bảo trên báo sáng nay đăng tin chim cánh cụt đang chết rét, và các nhà bảo vệ động vật thì kêu gọi tài trợ để có thể di chuyển toàn bộ chim cánh cụt về Madagascar. Trong khi đó nhiều loài cá ở hồ Baikal đang có nguy cơ tuyệt chủng vì bị chết đuối hàng đàn, chuyện này nan giải hơn, chưa ai đưa ra được phương hướng giải quyết. vì nơi họ làm là một tổ chức bảo vệ môi trường nên những chuyện này có thể coi là chuyện công việc, khác hẳn những chuyện giấy ăn thường nói. Cô im lặng, suy nghĩ. Mặc dù cô thực chẳng nghĩ được điều gì lúc này. Cô đang ở trên tầu, cạnh ông, người đàn ông mà cô cảm thấy muốn nói chuyện kỳ lạ dù ông có cái mũi không hợp ý cô. Tất cả những gì cô muốn là nghe ông nói và ngắm những nếp nhăn ở đuôi mắt khi ông cười. thật khó để bảo có thể đưa ra những giải pháp gì cho động vật vào giây phút này. Thế nhưng cô vẫn trả lời ông, một câu trả lời nào đó mà cô đã quên ngay sau khi nói. Chỉ biết là ông cười. và tất cả những gì cô cần chỉ là thế, nhìn những nếp nhăn hằn lên dịu dàng ở đuôi mắt và nghe họng ông rung lên những âm thanh ấm và giòn mà cô muốn nghe mãi không thôi. bỗng dưng cô nhận ra cô chẳng biết gì về ông, và ông cũng vậy. cô tự hỏi vợ ông là một người phụ nữ như thế nào ? dù thế nào đi nữa thì cô cũng tin chắc bà là người phụ nữ may mắn nhất trên đời, khi được nghe giọng nói ấm áp ấy mỗi bữa tối và nhìn thấy những nếp nhăn dịu dàng ấy mỗi sớm mai
Tầu dừng ở một vài ga lẻ, người lên tầu đông hơn, và nói chuyện lúc này khó hơn vì trong tầu vô cùng đông đúc ồn ào. Thế nên cô im lặng. Ông cũng im lặng. Họ ngồi cạnh nhau, cô bắt đầu giở Cậu bé hắt xì ra nhưng không đọc được một chữ nào. Ông giở tờ báo mang theo trong túi, và suốt hai mươi phút sau đó cô vẫn thấy ông dừng ở một trang, nơi có tin chim cánh cụt chết rét và hàng đàn cá chết đuối ở hồ Baikal. Tầu đi gần vào trung tâm và dừng ở nhiều ga lẻ hơn. Một số người xuống và một số người lên. Ông và cô vẫn ngồi cạnh nhau, mắt nhìn thẳng vào chữ. Bây giờ thì cô nghĩ thậm chí cô không cần nghe thấy giọng nói ấy ấm áp rung lên, không cần nhìn thấy những nếp nhăn ấy dịu dàng gập lại ở đuôi mắt. cô chỉ cần có cảm giác người đàn ông ấy đang ngồi đây, cạnh cô, trên chuyến tầu này, chỉ cần thế thôi. Và khi ông đứng lên nhường chỗ cho một đứa trẻ, lùi về phía góc tầu và đưa mắt nhìn cô mỉm cười, thì cô biết rằng, thậm chí, cô chỉ cần cảm giác ông đang ở đây, trong cùng một toa này, với cô, vậy thôi cũng đủ ấm áp rồi. thật khó để giải thích vì sao cô lại có tất cả những cảm giác ấy, với ông, người có cái mũi thật sự không hợp ý cô
Tầu dừng ở ga trung tâm. Ga này có những cái loa rè nhất thành phố, và thường không ai nghe được trên loa đang phát bài gì. Nhưng hôm nay không biết có phải hệ thống loa mới được thay không, mà cô nghe một giọng nam rất trầm và tha thiết
You should come with me to the end of the world Without telling your parents and your friends *
Cô phải xuống ga này, lấy một chuyến tầu khác để về nhà. Cô chần chừ đứng ở cửa tầu không bước xuống, cho đến khi nghe một hồi còi dài. Khi còi thổi nghĩa là tầu sẽ lại đi sau vài giây nữa. bất giác, cô lại góc tầu, nắm tay ông, thật mạnh, và kéo ông khỏi toa trước khi cửa tầu kịp sập lại. ông nhìn cô. Không ngạc nhiên. Không hỏi. không cười. không gì cả.
Trên loa giọng nam vẫn rất trầm và da diết
I would introduce you to my friend the bird Who sings and flies along the fairy strand *
Cô vẫn nắm tay ông không rời. bàn tay to gấp đôi bàn tay cô. Những ngón tay không dài. Người đàn ông có cái mũi quá khổ, những ngón tay thô, đã từng hơn năm lần chạy vội để nhìn cửa tầu sập trước mắt mình, người duy nhất ngoài cô trong thành phố không thuộc giờ tầu
Và cô kéo người đàn ông ấy đi, qua những đường tầu nội thị, sang bên kia sân ga, nơi lâu lâu lại nghe một tiếng còi dài và một đoàn tầu chập chạp chuyển bánh, cựa mình. Những chuyến tầu xa
Cô kéo ông về phía quầy bán vé. Vẫn không ai nói câu gì. Cô nắm chặt tay ông, bước đi, không nhìn lại. ông để yên tay trong bàn tay cô, sải bước theo. Người bán vé có lẽ quá mệt mỏi với công việc nhàm chán lặp đi lặp lại, thậm chí chẳng thèm ngước mắt lên hỏi cô:
-Điểm đến?
Cô bối rối, không biết mình định đi đâu. Nhà cô cách ga này ba bến tầu và hai bến buýt. Nhưng cô đang ở khu vực tầu xa, những chuyến tầu ra khỏi thành phố, đi về những miền đất khác nhau. Xa. Xa. Xa
-Đâu cũng được, hai vé, nơi xa nhất, chuyến khởi hành sớm nhất
Người bán chìa ra hai vé, hạng bét, tầu khởi hành sau năm phút nữa, đường ray số không
Cô lại đi. Mải miết. không buông tay ông. Chỉ cần buông tay thôi, cô sẽ mất, vĩnh viễn, mất một điều mà cô chưa bao giờ có. Và cũng chỉ cần để ông bước ra khỏi nhà ga này thôi, cô cũng sẽ mất, vĩnh viễn, một điều mà cô không bao giờ lý giải nổi. cô muốn nhìn thấy ông, nghe ông, ngồi cạnh ông, hoặc, chỉ cần, cảm thấy ông, đang ở đâu đây trong cùng một toa với mình thôi
Nhưng ông đã dừng lại ở bậc bước lên tầu. ông rút tay ra, đưa tay còn lại cầm lấy một chiếc vé, rồi dừng lại. cô đứng ở bậc bước lên tầu, nhìn ông.
Còn ba phút nữa tầu sẽ chuyển bánh. Cô vẫn đứng đấy. nhìn. Không nói.
Ông vẫn đứng đấy, tay nắm chặt chiếc vé, trên ga. Nhìn. Không nói
Còi đã hú một hồi dài. Tầu rung lên tại chỗ. Cô vẫn đứng đấy, nhìn ông. Chỉ cần đưa tay ra, là cô có thể chạm vào ông. Nhưng cô vẫn chỉ đứng yên trên bậc lên xuống, tay bám vào cửa tầu. cho đến khi đoàn tầu đã thực sự chuyển bánh và cô thấy ông thực sự muốn đứng lại đó, trên sân ga, cô mới từ từ đi về chỗ của mình
Trên vé ghi: Điểm đến: Khuông Cơ. Hành trình dài ba mươi lăm giờ mười một phút
Cô sẽ có ba mươi lăm giờ mười một phút để suy nghĩ trên tầu. rất có thể rồi cô sẽ tìm một vé quay trở lại, nhưng khi đấy nhà ga này chắc khác rồi, những đoàn tầu sẽ không đi từ bến hun hút vào những phút thứ ba mỗi hai mươi phút một chuyến nữa. và những cái loa sẽ không còn phát bài hát mà cô đang nghe, mỗi lúc một nhỏ dần
J’ai pensé qu’il valait mieux Nous quitter sans un adieu **
02 jan 2009
* End of the world – Aphrodites Child ** J’entends siffler le train – Richard Anthony
Những con mòng đã thôi rỉa lông để bay về phía biển. thế nghĩa là đã đến giờ ăn. Giờ ăn của mòng biển. thế cũng nghĩa là đã hết giờ ăn. Giờ ăn bình thường của các cửa hàng ở đây. Thành phố này nhỏ, ít dân, bé xíu, người ở lẫn với sỏi trong một mũi đá nhô về phía Ang. Ang là đất nước láng giềng, mà ngày xa xưa lắm đã từng dính với đất nước này. Rồi một ngày trái đất cựa mình, vách đá đứt ra, biển đẩy Ang vào lòng. Ang trở thành hòn đảo, còn mảnh đất này vẫn dính với lục địa già nua. Mỗi xứ mang một nửa vách đá, coi như là kỷ niệm
Thị trấn này nằm ở vùng ấy, nơi vào những ngày đẹp giời có thể đứng trên mũi đá và nhìn thấy xa mờ phía chân trời có một vệt tựa như cái quệt mực, đấy là Ang. Những ngày ấy dân tình đổ xô đến mỏm đá, mang theo ống nhòm loại cực tốt, dõi về phía vệt mực, đồn rằng có thể thấy rõ cả những thiếu nữ ngực trần nằm phơi nắng. Hôm ấy trời không đẹp. cũng không hẳn là xấu. nắng rất rỡ và gió rất ùa. Nhưng không ấm lắm. dù thế, đây cũng có thể là ngày cuối cùng còn nắng trước khi mùa đông bước về. năm nào cũng thế, mùa đông cứ lẳng lặng mà qua, không gõ cửa, không ồn ào. Một ngày ngủ dậy, mở cửa, và thấy mùa đông bước vào nhà. Thế thôi
Và vì có thể là ngày cuối cùng trước khi mùa đông trở lại, nên cửa hàng mở xuyên trưa. Bình thường nơi đây người ta ăn uống theo giờ. Nếu bạn đến vào lúc ba giờ chiều thì bữa trưa đã hết, bữa chiều chưa tới. tất cả những gì bạn có thể gọi chỉ là café. Nhưng hôm ấy thì khác. tôi nhẩn nha bữa trưa của mình từ khi những con mòng biển còn mê mải rỉa lông, tới khi lần lượt từng con sải cánh về phía biển, trong lúc ấy người vẫn bước vào tiệm không ngớt. đây là một hàng ăn nhỏ, quây kính chắn gió và kê bàn san sát tận dụng góc nhìn xuống bãi sỏi. biển ở đây không có cát. Sỏi mầu xám và nhiều vô kể. vào một ngày xấu trời, sóng xầm xì, gió hun hút, sẽ không phân biệt được đâu là trời, đâu là bãi, khắp nơi chỉ một mầu xám xịt. Nhưng hôm ấy trời nắng, biển xanh mầu mắt mèo, và người ngồi kín các cửa hiệu trông ra bãi Khi tôi chuẩn bị kết thúc món tráng miệng và nhắm mắt để hít đầy lồng ngực mùi biển, mùi nắng, mùi mùa hè rớt lại, để tích trữ và lôi ra gặm nhấm dần trong những ngày ảm đạm của mùa đông sắp tới, thì ông bước vào quán. ông đi chậm, có thể bởi vì ông chẳng thể đi nhanh. Nhưng điều đấy lại làm ông có một vẻ rất thảnh thơi. Một ông già hơi còng, không phải chống gậy nhưng đã phải chú ý đến từng bước đi, mặc lễ phục, bước vào quán. điều này thực ra chẳng có gì đặc biệt, nhưng vì ông tiến đến ngồi sau bàn tôi, trong góc nhỏ giữa hai bức tường kính, chính thế mới làm tôi biết ông đã vào quán, gọi món, vào giờ mà đầu bếp có lẽ cũng đã nghỉ ngơi. Chẳng còn món nào cho ông, trừ súp. ông già mỉm cười, ừ thì súp. Ông già có món ngay lập tức. ngày mà ai cũng phải ngồi chờ nửa tiếng mới được phục vụ, thì ông già lại có ngay món súp của mình. Chẳng phải ông được ưu đãi gì. Chỉ là, đến biển, không ai gọi món súp. người ta gọi hải sản nóng, hải sản lạnh, hải sản nướng, hải sản hấp, tất tần tật những thứ liên quan đến hải sản. nhưng chẳng còn lại gì cho ông già, ừ thì ông ăn súp. thế là ông có luôn, món mà người ta có thể chuẩn bị và để từ ngày này sang ngày khác
Trời chuyển dần về chiều. nắng đã xoay góc, nhưng vẫn còn rực rỡ. ông già chậm rãi ăn món súp của mình. Tôi thì đã xong món tráng miệng, chờ nắng xiên thêm chút nữa để đong đầy trong chiếc ly. Tôi nghe đôi bàn bên cạnh hỏi mượn ông lọ hạt tiêu. Cô gái cảm ơn ông. Xong thấy như chưa đủ, cô hỏi ông vài câu lịch sự xã giao. Vào những ngày nắng người ta thường thích nói chuyện. vào ngày nắng cuối cùng trước mùa đông nhu cầu nói chuyện càng tăng cao. ấy là bởi trong mùa đông nhu cầu nói chuyện sẽ giảm đến mức tối thiểu. thậm chí đã có những công trình nghiên cứu của liên minh Mỹ và châu Âu, vẽ biểu đồ nói chuyện của con người phụ thuộc vào nhiệt độ và lượng mây. Nhưng có một điều chưa công trình nào giải thích được, đấy là người Eskimô lại có nhu cầu trò chuyện đều đặn. trong những ngày lạnh giá, họ nói chuyện với những tấm da Cô gái hỏi ông sống có gần không, và sao ông lại đi một mình
Ông già không trả lời câu thứ nhất. Ông chỉ trả lời câu thứ hai. Ông muốn đi ra biển, vào những ngày đẹp trời. Và ông thêm những câu trả lời, cho cả câu chưa được hỏi
Ông bảo rằng ông trở về từ thế chiến thứ hai, lạ lùng là trên người không hề có dù chỉ một vết thương. Nhưng vì lý do nào đó, ông đánh rớt tấm biển kim loại ghi tên và mã số của mình, nên gia đình ông đã nhận được giấy báo tử. bố mẹ ông đã nhận tiền trợ cấp. tên ông thậm chí đã được khắc trong một nghĩa trang tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh trong thế chiến thứ hai ở nước láng giềng. Ông tận mắt đọc tên mình, ngày tháng năm sinh của mình, nguyên quán của mình, được khắc trên đá trong một nghĩa trang liệt sĩ. Ông trở về, đến một vùng mới, với giấy tờ mới. có hàng vạn giấy khai sinh của hàng vạn con người đã thành tro bụi trong cuộc chiến, và có hàng vạn giấy khai sinh được cấp lại cho hàng vạn con người sau cuộc chiến. thế nên ông chẳng khó khăn gì để có lại giấy tờ mới cho mình. Thế rồi ông lấy vợ, sống cuộc đời bé nhỏ cho đến khi bà ra đi. Ông đã đi qua cuộc chiến, bước qua những cái chết nối dài từ thành phố đến làng quê, để đi qua cả cái chết của người phụ nữ của mình. Từ đấy ông sống một mình. Và những ngày đẹp trời, ông mặc lễ phục, thắt ca vát, ngồi tiệm, và ngắm biển
-Tôi đã chết một lần, tên thậm chí đã được khắc lên bia mộ. Mỗi người có thể chết bao nhiêu lần ?
Đôi bàn bên cạnh im lặng nghe. Những mái đầu hai mươi tuổi ôm nhau ngồi dưới nắng khêu thịt trong những cái càng cua, đã lặng im nghe ông kể hết chuyện của mình, rồi lúng túng tìm lời để nói. Có lẽ cũng nên nói điều gì cho phải phép, mặc dù, ông, hình như đã không còn nghe nữa. sau khi kết thúc chuyện của mình, ông lại tựa lưng vào ghế, nhìn ra biển. bát súp của ông đã hết từ lâu. Chai vang ông gọi cũng cạn. nhưng một ngày như thế này người ta đến tiệm để ngồi nhiều hơn là để ăn. Những con mòng biển cũng đã quay trở lại bãi, thảnh thơi rỉa cánh
Tôi trả tiền suất của mình rồi đi về phía vách đá, trước khi nắng chùng lại. trời có mây nên dù nắng mấy và có đem theo ống nhòm tốt cỡ mấy cũng không thể thấy các cô gái Ang ngực trần bên kia bờ biển. nhưng tôi vẫn muốn trèo lên vách đá, dù sao bãi biển này cũng nổi tiếng nhờ cái vách đá ấy, mọi người đều đến đây vì nó. Vách đá trải dài một trăm năm mươi kilômét dọc bờ biển, vách đá dài nhất trên thế giới. người dân ở đây lúc nào cũng tự hào về điều đó, họ có một công trình khổng lồ của tự nhiên để cư dân mọi miền đất phải thèm muốn và đến để chiêm ngưỡng. Họ đặt một công trình nhân tạo khác bên trên cái công trình tự nhiên khổng lồ ấy. một mũi nhọn hướng lên trời, về phía biển. trong tất cả các quyển sách du lịch, chẳng có trang nào nói về công trình nhân tạo này. Tôi chẳng qua phát hiện ra nó khi đi lang thang ra xa mỏm đá. Khách du lịch làm nóng cả những cơn gió của biển. vì thế tôi muốn tìm một chỗ yên tĩnh hơn ở ngay sau một trong những mỏm đá nổi tiếng nhất trên thế giới, cách đấy chỉ vài chục mét, là một mũi nhọn hướng lên trời, về phía biển. bên cạnh có một tòa nhà vuông vức và tiết kiệm đến mức tối tiểu thẩm mỹ kiến trúc, đến mức tưởng như người ta đã dùng thước kẻ để xây tòa nhà này. Cửa kính nứt và trần sụp một góc. Sau khi đi vòng quanh hai vật thể chẳng liên quan gì đến tất cả những du khách ồn ào phía mỏm đá cách đấy vài chục mét, tôi nhận ra một tấm biển khiêm tốn : để tưởng nhớ những người anh hùng của phi đội Chim Trắng. Và tòa nhà xây bằng thước kẻ mái sụp một góc thì đề bảo tàng phi đội Chim Trắng
Ở nơi mà phi đội Chim Trắng thực hiện chuyến bay đầu tiên của mình, người ta đã xây bảo tàng, người ta đã dựng tượng, để nhớ về những người anh hùng. Và không biết bao lâu sau đó, người ta đã quên bảo tàng, người ta đã quên tượng, chẳng biết có quên những người anh hùng ?
Khách du lịch vẫn ồn ào ngoài mỏm. gió biển vẫn lộng vào. Gió không chạm vào đến đây. mái nhà không sụp vì gió. Có lẽ mái đã sụp vì thời gian. Tôi đi vòng quanh khu tưởng niệm ấy một lần nữa, rồi quyết định về. chiến tranh rất xa rồi. thời gian rất đầy rồi. và nếu đất nước người không còn muốn nhớ đến nữa, tôi cũng chỉ là một khách qua đường, biết mà để đấy thôi Tôi men theo mỏm đá quay trở lại bãi biển. sỏi lạo xạo dưới chân. Cái quán đông lúc trước cũng vãn khách nhiều. và nắng thì thật sự đã xoay hết một vòng của mình, tan dần vào trong biển. ông già không còn ngồi trong góc sau bức kính nữa. không hiểu sao tôi lại tiếc không hỏi ông một câu, dù chưa biết có thể hỏi ông câu gì nữa. mùa đông sắp bước qua cửa, và mỗi người thế là sẽ nói ít đi một chút
Mùa đông năm đấy quả thật lạnh và ẩm ướt. khác tất cả những mùa đông hanh khô khác, mùa đông này giá buốt và len lỏi đến từng cái hít hà. Nhưng tất cả những ngày trời hửng tôi đều đi ra biển, không phải để nghe sỏi lạo xạo dưới chân, mà để đi dọc bãi, tìm ông già. Không lần nào tôi tìm lại được cái lưng khòng tựa vào ghế. Chẳng biết ông có chậm rãi bước qua được mùa đông khắc nghiệt ấy, hay đã đi tiếp con đường của mình
Kể cũng tiếc vì tôi đã tìm được câu để hỏi ông mùa đông ấy. -ông nghĩ con người ta có thể chết bao nhiêu lần ? bao nhiêu là đủ cho một đời người
tất cả chỉ vì google quán Hà Nội Hà Nội tự dưng ra 1 link vào 1 diễn đàn cũ, gặp lại những nick cũ, phủi 1 lớp bụi đi, lại tự gặp lại truyện của mình, do người khác post lên cuộc sống đôi khi tình cờ thế. để người ta thèm được sống nốt ngày hôm nay, chờ đợi sự tình cờ gõ cửa vào buổi sớm mai ...
Cô gái bươm bướm
Cô gái chui ra từ cái kén. Cái kén nhỏ xíu, khẽ động đậy, rồi một vật mảnh dẻ vươn ra, đôi bàn tay be bé khẽ vẫy…cô gái vươn ra từ cái kén. Lũ bướm mỉm cười. Thế là lại một con bươm bướm mang hình người nữa tách kén chui ra, một con bươm bướm xinh xắn và mảnh dẻ. Đấy là sự nhầm lẫn của tạo hoá. Tạo hoá bận rộn và luôn nhầm lẫn. Các bà mụ không thế. Các bà mụ bận rộn nhưng luôn thực hiện nghiêm chỉnh công việc của mình. Vì thế, những bà mụ người không bao giờ lại bên một cái kén bướm còn các bà mụ bướm luôn mỉm cười chờ sẵn bên những cái kén be bé xinh xinh…Cô gái nhận được nụ hôn của các bà mụ bướm. Các bà thơm lên vầng trán bé tí tẹo, vuốt vuốt mái tóc tơ, và nói những lời chúc phúc. Con người luôn được chào đón khi hé mắt ra nhìn cuộc đời, cho dù đó là người - người hay người - bướm đi chăng nữa, thế giới luôn mỉm cười. Nhưng những đứa trẻ thì khóc còn cô gái - bươm bướm thì không. Cô nhìn, chỉ nhìn, lặng lẽ nhìn, vậy mà thôi. Những con bươm bướm mỉm cười với cô, chúng cũng lần lượt dạo một vòng, thơm lên vầng trán cô, chúc những lời tốt đẹp, và rồi nhẹ nhàng đập cánh bay đi. Dù sao đây cũng không phải một sự kiện gì quá long trọng. Thỉnh thoảng lại có những con bươm bướm như thế, những con bươm bướm mang hình dạng một con người. Đó là sự nhầm lẫn của tạo hoá, tạo hoá bận rộn và thường xuyên nhầm lẫn, đó cũng không phải một điều gì quá quan trọng, bởi mọi vật, rốt cục đều tìm được chỗ đứng cho mình. Tất cả những kẻ yếu ớt không đủ sức trụ lại tự rơi xuống những fần chỗ dành cho mình. Và thường thì chúng sẽ than khóc. Tuy nhiên chưa nói đến chuyện ấy vội, nhìn lại cô gái bươm bướm: cô xinh đẹp, đẹp rạng rỡ với thân hình mảnh dẻ và mỏng manh. Cô là một con bươm bướm trong hình dạng một con người - cô mang hình dáng của con người - nên không thể bay như những con bươm bướm khác. Tuy nhiên cô vẫn là bươm bướm, những bà mụ bướm chúc phúc cho cô, và vì thế cô vẫn có thể bay, nhưng cô bay bằng mắt. Khi những sợi lông mi dài chớp chớp, đôi mắt nâng cô lên, cô bay nhịp nhàng chẳng kém gì những con bươm bướm khác. Tuy nhiên cô rất yếu. Bay bằng lông mi thì hẳn nhiên là yếu hơn bằng cánh nhiều lần. Mắt cũng rất dễ mỏi, và vì thế, sau mỗi chặng bay cô lại phải dừng lại, nhắm mắt, thảnh thơi nhìn bầu trời. Cô có thể nhìn khi nhắm mắt, thực ra cô gái bươm bướm nhìn bằng những sợi tóc của mình, những sợi tóc rất dài và mỏng mảnh. Tóc cô có chức năng hệt như mắt con người, nhưng chúng không biết khóc, đấy là điểm khác biệt duy nhất. Chúng cũng biết nhìn, và thậm chí nhìn còn tốt hơn mắt người ấy chứ. chỉ có nước mắt là chúng không có được. Những bà mụ bảo đấy là sự ưu ái mà tạo hoá dành riêng cho con người. Vì thế cô gái - bươm bướm không biết khóc. Tuy vậy cô vẫn có thể buồn, cô chỉ có thể buồn mà thôi. Nhưng cũng vì thế nên nỗi buồn của cô mênh mang lắm, da diết và mênh mang… Những con bươm bướm khe khẽ lắc đầu. Những con bươm bướm thương cô gái mà không làm gì được. Thỉnh thoảng lại có những con bướm lạc loài như thế - những con bướm không thuần chủng, những con bươm bướm - người. Và chúng biết tất cả những con bướm – người đều yểu mệnh. Chưa một con bướm – người nào sống thọ được cả. Làm sao sống được khi chúng không thể bay như những con bướm và cũng không thể đi lại dễ dàng như những con người. Vả lại, cứ tưởng tượng đến cảnh phải sống giữa những con người to lớn ấy, khủng khiếp ấy, tất thảy bọn bướm đều rùng mình! Nhưng dầu sao cô gái vẫn là con người. Cô vẫn phải sống trong thế giới loài người, giữa những con người (theo như loài bướm là) to lớn và khủng khiếp. Thế nhưng lũ bướm thương cô lắm. Lâu lắm rồi mới lại có một cô gái bươm bướm xuất hiện. Có lẽ lâu rồi tạo hoá mới lại bận rộn đến thế…lũ bướm xót xa nhìn cô gái chuẩn bị bước vào thế giới loài người. Nhưng một con bướm già chợt bay đến cầu cứu những bà mụ. Con bướm duy nhất trong lũ bướm được chứng kiến cái chết của cô gái bướm cuối cùng, cô gái cuối cùng của họ nhà bướm trước khi cô gái này được sinh ra. Những bà mụ suy nghĩ mông lung. Các bà không thể làm trái với tự nhiên, cô gái phải trởi về với loài người, cô giống người nhiều hơn giống bướm. Thế nhưng các bà cũng xót xa lắm. Lâu rồi các bà mới lại được nhìn thấy một cô bướm - người xinh đến thế. các bà nhíu mày…suy nghĩ…ba ngày và ba đêm…rồi các bà quyết định dùng hết khả năng của mình để cô có thể trở thành một con người thật sự, một con người to lớn như những con người khác, một con người biết nói như những con người khác, một con người có đôi chân đủ khoẻ để bước đi…Và các bà lầm rầm cầu nguyện. Cái kén nơi cô gái chui ra được đặt trước một ngọn nến. Ngọn nến sưởi ấm cái kén và ánh nến phóng to bóng cái kén ra. Cô gái bước lại đó, những bước đi khó nhọc và mệt mỏi. Cô phải ngồi đó…suốt chín ngày và chín đêm…Khi cô bước ra, tất cả đều ồ lên, cô đã thành một cô gái thật sự, xinh đẹp và khoẻ mạnh. Các bà mụ tìm cho cô một số phận. Cô là một con bướm non nớt, nên các bà chọn số phận màu xanh. Ấy là màu xanh dương trong suốt và đẹp tuyệt vời. Lần đầu tiên các bà mụ nhầm lẫn. Cây số phận mùa này đang đổi lá. Chiếc lá xanh dương không còn mang ý nghĩa của ngày xưa…
Cô gái bươm bướm nhẹ nhàng bước đi. Cô đi như lướt trên mặt đất, lướt qua thảm lá, lướt qua những con đường. Số phận màu xanh dương cho cô được sinh ra một lần nữa trong một gia đình nhỏ. Thực ra không phải cô được sinh ra một lần nữa. Chiếc lá số phận chỉ giúp cô bước vào thế giới loài người một cách dễ dàng và tự nhiên hơn. Sau một cái chớp mắt, bỗng dưng tất cả mọi người trong gia đình đều nhớ rằng mình có một người con, một người em, một người họ hàng xinh đẹp nhỏ nhắn. Họ tiếp đón cô dịu dàng như thể cô đã là người trong gia đình từ mười bảy năm rồi vậy. Cô gái bươm bướm được sinh ra dưới hình dạng thiếu nữ mười bảy tuổi, thiếu nữ mười bảy xinh đẹp vô cùng. Chiếc lá số phận cũng cho cô tất cả những kiến thức cơ bản mà một cô gái mười bảy tuổi cần phải có. Cô có một chỗ trong trường học, một chỗ nhỏ hơn trong trí nhớ những người bạn cùng lớp và các thầy cô…Tất cả mọi người đều tưởng như cô đã hiện hữu từ cả mười bảy năm nay rồi vậy. Đó là điều kỳ diệu mà các bà mụ đã làm được. Chiếc lá số phận màu xanh dương trong suốt và đẹp tuyệt vời! Tuy nhiên cô gái bươm bướm vẫn rất yếu. Thực ra cô không nhỉnh hơn so với lúc mới sinh mấy tý. Những gì người ta nhìn thấy chỉ là cái bóng của cô mà thôi. Khi vỏ kén được đặt trước ánh nến, nến chiếu lên làm bóng của vỏ kén được phóng to lên nhiều lần. Cô gái ngồi dưới bóng ấy, chín ngày và chín đêm, bóng cô cũng trải dài. Và khi cô bước ra, cô mang theo cả chiếc bóng của mình. Chiếc bóng tạo thành lớp vỏ mới bảo vệ cô. Dưới lớp vỏ xinh đẹp cao lớn như một con người ấy, thực ra vẫn là cô gái – bươm bướm bé tý tẹo và yếu ớt vô cùng. Nhưng không ai biết điều đó cả. Tất cả mọi người đều coi cô như một cô gái bình thường. Lũ bươm bướm vui mừng thấy đứa con lạc loài của mình cuối cùng cũng được chấp nhận. Các bà mụ thì phát khóc vì hạnh phúc. Nói chính xác, chỉ các bà mụ là biết cái phần to lớn như con người ấy của cô gái là cái bóng mỏng manh. Nhưng các bà hy vọng với chiếc lá số phận màu xanh dương, cô có thể có được cuộc sống như một người bình thường. Không ai nhớ cây số phận đang mùa đổi lá… Cô gái bươm bướm rụt rè bước vào thế giới loài người, từng bước, từng bước, chậm rãi và nhẹ nhàng. Mọi người chào đón cô, mỉm cười với cô, vừa đủ độ lịch sự dành cho một người quen. Cô cũng mỉm cười, nụ cười làm nắng sáng hơn một chút. Không ai để ý rằng cô không bao giờ chớp mắt. Bởi khi cô chớp mắt, ấy là cô đang bay lên một chút, những chiếc lông mi dài nâng cô bay lên khỏi mặt đất, nhẹ nhàng. Nhưng theo đúng lời các bà mụ dậy, cô không được chớp mắt. Không một con người bình thường nào chớp mắt để bay lên. Mà cô lại phải làm một người bình thường. Để sống được, trước hết phải giống như những người khác. Và cô gái bươm bướm không chớp mắt. Cô đi lại, nói cười, cô cũng tập được thói quen như thể mình đã xuất hiện trên thế giới này từ cả mười bảy năm về trước, như thể mình đã quen hết những con người này từ cả mười bảy năm về trước. Chỉ một số việc cô không thể làm quen, cô không thể chơi đùa như tất cả những người bình thường khác. Cô không đủ sức. Cái thân hình bươm bướm mỏng manh không cho phép cô làm được nhiều việc như thế. Cho nên cô chỉ lặng nhìn, ngồi yên nhìn những người khác. Cuộc sống như thế đã là hạnh phúc lắm rồi. Cô còn muốn gì hơn? Được làm một con người, sống giữa những con người, nhận câu chào và cái mỉm cười mỗi buổi sáng, cảm thấy thời gian êm ả trôi qua kẽ tay, vậy cũng đã là hạnh phúc.
Một hôm, khi cô đang yên lặng ngắm những con người hối hả đi qua, bỗng một ai đó lại gần cô. Một người dừng lại trong những người hối hả bước đi. Một nụ cười rạng rỡ. Một câu chào ấm áp và dịu dàng. Một chàng trai dừng lại cạnh cô. Và họ nói chuyện đến lúc dường như cuộc sống đã bớt hối hả hơn. Cô gái vội vàng chạy về nhà. Lần đầu tiên cô chạy. Lần đầu tiên cô về muộn. Việc này quả là quá sức đối với cô. Nói chuyện suốt một buổi dài, và vội vã chạy qua ba con phố, từ cái vườn hoa cô vẫn tìm đến mọi ngày, cô mệt rã rời. Nhưng cô cảm thấy trái tim mình đang đập, dường như là trái tim của một cô gái – người con gái mười bảy tuổi, chứ không phải một con bươm bướm nhỏ xíu trốn sau cái vỏ đẹp đẽ kia. Nhiều ngày đi qua. Thời gian trôi qua kẽ tay đã không còn đều đặn và thảnh thơi nữa. Thời gian ngập ngừng lúc cô bước đến vườn hoa, chậm chạp uể oải như không buồn chảy nữa. Thời gian hối hả khi cô nói chuyện với chàng trai có nụ cười rạng rỡ và giọng nói dịu dàng – một người dừng lại trong những người bước đi. Cô gái mất thói quen nhìn những người đi qua. Cô hướng về một nơi khác, nơi ấy chỉ có một người ngồi bên, mỉm cười. Những câu chuyện có thể quên ngay tức khắc nhưng lại đem đến một sức mạnh mới mẻ. Cô gái đã nói nhiều hơn, đi nhanh hơn và không hề mệt mỏi. Cho đến khi cô có thể bước lên khỏi vườn hoa quen thuộc ấy, cô biết mình đã có trái tim của một con người, một con người thực sự không được sinh ra từ một cái kén bướm. Cô bước đi, qua những vườn hoa, những con đường, những hàng cây, cô sóng bước bên chàng trai nọ, người dừng lại giữa những người hối hả bước đi, đi rất nhiều và không hề mệt mỏi. Điều này thì đến các bà mụ cũng không lường trước được. Các bà chỉ mong cô được làm một con người, dù là một người yếu ớt, ở xã hội mà lẽ ra cô phải thuộc về nó. Khi các bà thấy quanh cô lấp lánh những li ti bụi hạnh phúc, một lần nữa nước mắt lại rơi, những giọt nước mắt mừng rỡ. Từ nay các bà không phải dõi theo cô nữa. Cô đã có người để chăm sóc ở bên. Đúng là cô gái – bươm bướm đang được quan tâm và chăm sóc. Chàng trai - người dừng lại là một chàng trai tốt bụng và phúc hậu. Chàng là người bạn tuyệt vời và cô gái – bươm bướm quả là may mắn khi gặp được chàng. Tuy nhiên, từ khi gặp chàng cô đã quên mất mình là một con bươm bướm. Dù gì thì cô cũng đã được sinh ra từ một cái kén bướm, núp dưới bóng một cái kén bướm và hái chiếc lá số phận màu xanh dương đúng mùa cây đổi lá…Cô quên mất điều đó. Cô ríu rít như một chú chim. Cô gái – bươm bướm ríu rít như một chú chim non. Cô chỉ nhớ ra mình hãy còn là một cô bươm bướm khi một ngày cô cảm thấy không thể thiếu chàng trai được nữa. Tuy nhiên cô chẳng biết gì về chàng cả. Cô đã nói với chàng bao nhiêu là chuyện. Cô đã đi với chàng qua bao nhiêu là con đường. Cô đã đếm với chàng bao nhiêu đàn bươm bướm bay qua…Nhưng cô vẫn không biết gì về chàng cả. Họ nói rất nhiều chuyện, nhưng không nói gì về nhau. Cô gái bươm bướm bắt đầu suy nghĩ. Thiên chức của phụ nữ là lo lắng rất nhiều chuyện và đặt những chuyện ấy dưới ánh nến để cái bóng hắt lên trở nên to đến nghiêm trọng. Cô gái – bươm bướm cũng là phụ nữ. Cô cũng lo lắng. Cô không biết bắt đầu từ đâu. Cô muốn nói thật với chàng trai rằng mình được sinh ra từ một cái kén bướm, được sự chúc phúc của các bà mụ bướm và thực ra mình chỉ là con bươm bướm nhỏ xíu sau cái vỏ to lớn bình thường này thôi. Nhưng cô không biết bắt đầu từ đâu. Mọi chuyện hoá ra khó khăn hơn cô tưởng. Cô bối rối. Hai ngày liền cô không bước nổi ra vườn hoa và chàng trai cứ chờ mãi, băn khoăn không hiểu người bạn mới của mình đi đâu. Cuối cùng, sau hai ngày trằn trọc suy nghĩ, cô nhớ ra rằng mình có khả năng đặc biệt của một người – bươm bướm. Cô có thể bay lên bằng những cái chớp mắt và nhìn vào rất sâu, cả trong tâm hồn người khác nữa, bằng những sợi tóc mảnh dẻ của mình. Và hôm sau, cô lại vườn hoa, hy vọng gặp được chàng trai. Cô sẽ nhìn sâu trong trái tim chàng trước khi quyết định nên nói thế nào với chàng về sự thật của cô.
Chàng trai không đến. Một ngày dài chờ đợi. Và chàng trai không đến. Bao nhiêu người đi qua. Hối hả. Thời gian chảy qua kẽ tay chậm chạp như ngừng lại. Chàng trai không đến. Cô gái – bươm bướm bồn chồn. Phụ nữ được sinh ra để lo lắng. Cô cũng là phụ nữ. Cô gần như đã mất hết sức lực khi một ngày sắp kết thúc. Bao nhiêu thứ đã đi qua suy nghĩ của cô. Bao nhiêu lo lắng đã đi qua trái tim cô. Cô không cất bước nổi nữa. Và dù đã được dặn rằng như vậy rất nguy hiểm, cô vẫn chớp mắt, bay lên. Thậm chí cô bay về đâu cô cũng chẳng rõ. Chỉ biết cô đang bay. Chớp mắt để bay lên. Trời gió nhè nhẹ và cô gái – bươm bướm bay theo làn gió ấy. Những sợi tóc rất dài và rất mượt nhẹ xoà ra trong gió. Đến khi những sợi lông mi dài cũng không đủ để nâng cô lên nữa, thì chợt cô nhìn thấy, một ai đó, một ai đó giống chàng trai. Cô giật mình. Và nếu không có gió thì hẳn cô đã ngã ngay xuống rồi. Cô run rẩy, rón rén, lại gần. Đó là một quán ăn nhỏ và chàng trai đang ngồi cạnh một cô gái khác, một cô gái - người thực sự, không xinh đẹp và cũng chẳng mỏng manh yếu ớt như cô. Cô run rẩy. Họ nói chuyện và cười đùa, rất vui. Lớp bụi hạnh phúc li ty vẫn bao xung quanh cô chợt tan đi hết. Cô gái – bươm bướm thấy tim mình đập mạnh. Nhịp tim át hết mọi âm thanh. Cô không nghe thấy gì nữa, ngoài tiếng thở hổn hển cất ra từ trái tim cô. Tai cô ù đi và cô run rẩy. Cô khép mắt lại, vét cạn chút sinh lực cuối cùng để những sợi tóc hướng về trái tim chàng trai. Cô đang ngắm nhìn chàng. Cô đang đọc tâm hồn chàng. Những sợi tóc chưa bao giờ phải nhìn sâu đến thế. Cô đã yêu chàng như một người bình thường và đây là lần đầu tiên cô nhìn chàng bằng cái nhìn của một người – bươm bướm. Những sợi tóc cũng khe khẽ run lên. Từ sâu thẳm trái tim chàng trai, cô gái thấy những hình ảnh hiện dần. Những buổi nói chuyện với cô, những buổi chiều rực nắng ở cái vườn hoa cách nhà cô ba con phố; những buổi dạo chơi với cô, những con đường rợp cây và ríu rít tiếng chim…tất cả hiện lên rõ nét. Nhưng sâu hơn nữa, thẳm sâu hơn nữa trong trái tim chàng, ấy là hình ảnh người con gái kia – ngưòi con gái không được sinh ra từ một cái kén bướm. Người con gái ấy có cùng nhịp đập với trái tim chàng trai. Cô gái – bươm bướm run rẩy. Và lẽ ra thì cô đã ngã xuống rồi. Một ngày mệt mỏi không cho phép cô bay xa đến thế và suy nghĩ nhiều đến thế. Lớp vỏ to lớn trở nên xanh xao và nhợt nhạt. Lẽ ra cô cần được nghỉ ngơi. Cô phải nghỉ ngơi ngay tức khắc, hoặc ra đi mãi mãi. Những bà mụ, với linh cảm tuyệt vời, vội đến bên cô, giục giã. Khuyên bảo, rồi năn nỉ, thậm chí cả doạ nạt…nhưng không gì có thể làm lay chuyển cô gái – bươm bướm. Cô vẫn đứng đó, mặc những sợi tóc chấp chới bay trong sâu thẳm trái tim chàng trai. Và, sau tất cả những lời khuyên của các bà mụ, cô gái nhỏ chỉ xin một ân huệ cuối cùng: hãy cho cô nghe một lần cuối lời nói của chàng. Cô biết mình không thể sống lâu hơn được nữa. Một ngày dài mệt mỏi là quá sức đối với cô. Những cô gái bươm bướm khác luôn biết nghe lời, ấy là bởi họ chưa gặp được chàng trai có nụ cười rạng rỡ và giọng nói dịu dàng. Những cô gái bươm bướm khác thường ra đi nhẹ nhàng sau những cơn cảm nhẹ. Cô gái bươm bướm chọn cho mình một con đường khác. Và, các bà mụ còn biết làm gì hơn là giúp đỡ cô. Giọng nói thân thuộc vang lên, vẫn rất đỗi dịu dàng. Chàng trai đang nói về cô. Chàng kể cho người bạn gái của mình về một cô gái kỳ lạ, một cô gái lặng yên ngắm nhìn người khác. Chàng kể với một giọng trìu mến và tình cảm chân thành. Bây giờ cô gái mới biết đó chỉ là tình anh em. Chàng trai kể cả nỗi lo lắng trước sự vắng mặt của cô. Người bạn gái lắng nghe, chăm chú. Người bạn gái có nhịp đập trái tim cùng với nhịp đập của chàng trai - những nhịp đập của con người thực sự, không phải tiếng trái tim của một bươm bướm - người. Lớp vỏ to lớn chuyển từ xanh xao đến trong suốt và gần như sắp tan biến đi. Đã có thể thấy lờ mờ bên trong hình hài cô gái – bươm bướm nhỏ xíu co ro. Bây giờ thì cô không còn gì nữa. Những gì cần nghe cô đều đã nghe đủ. Những bà mụ đưa cô về nhà, đặt cô lên giường. Và giấc ngủ mãi mãi đến với cô.
Chưa bao giờ có nhiều bươm bướm đến thế. Bươm bướm bay rợp trời. Bươm bướm ngập thành phố. Đám tang cô gái nhỏ và lặng lẽ. Nhưng đàn bươm bướm tràn ngập phố, nhịp nhàng vỗ cánh theo đám tang. Người ta đưa cô đến một nghĩa trang nhỏ. Những bó hoa đặt lại và đoàn người trở về. Đàn bướm đậu rợp nấm mồ ấy. Chín ngày và chín đêm, lớp vỏ tan đi và sâu dưới lòng đất, chỉ còn hình hài bé tý tẹo của cô gái – bươm bướm duy nhất có nhịp đập trái tim con người. Không ai biết điều ấy cả, người ta quên cô ngay sau đó. Chín ngày và chín đêm, cuộc sống trở lại bình thường. Không ai biết trên đời từng hiện hữu một người con gái yếu ớt và mỏng mảnh. Cả chàng trai - người dừng lại giữa những kẻ bước đi, cũng quên. Chỉ đàn bướm là nhớ mãi và những bà mụ không bao giờ đặt một cái kén bướm lên trước ngọn nến nào nữa.
Tôi đổi vé, lùi lại ba ngày Copen trời vẫn xám xịt, âm u, không vui mừng ko chào đón quyết định ấy của tôi
Chuyện đấy cũng chẳng quan trọng. Không ai đến Copen để phơi nắng tắm biển. Gió vẫn lộng vào từ bờ đá. Biển không tanh không có vị mặn, già nua nằm lặng, im lìm
Tôi đến quán café quen thuộc. Gọi là quen, nghĩa là quen từ ba ngày trước. Tôi không định ở lại Copen lâu đến thế. Chỉ định đến, đủ một cái chớp mắt, rồi đi. Đấy gần như là một sự ám ảnh. Từ một lúc nào đó, bỗng dưng, trong tôi có một ý nghĩ rằng phải đến Copen. Thế là đi
Việc đầu tiên khi tôi đến thành phố này là ra bờ đá. Sóng ầm ì uể oải. Tôi đi một vòng. Dừng lại. Nàng tiên cá nằm im. Tôi cũng chỉ đứng thế, lặng nhìn. Thế rồi về, thong thả, rẽ vào quán café gần nhất, ngồi ở cái bàn kê ngoài vỉa hè để nhìn người qua lại. Tôi đã làm quen với quán café ấy như thế Từ hôm sau trở đi mọi thủ tục lặp lại: đi ra bờ đá, nhìn nàng tiên cá lặng im, rồi thong thả về quán café ngồi ở cái bàn kê ngoài vỉa hè không ai thèm tranh chiếm Trời Copen lúc này đang lạnh. Người ta kê bàn sin sít trong quán, chỉ để một lối đủ để lách người vào. Và rơi bịch xuống ghế. Có hai cái bàn còn ở ngoài trời cho những ai muốn hút thuốc. Tôi không hút thuốc, nhưng cũng chiếm một bàn, một nửa quyền lợi của những người hút thuốc. Café nguội rất nhanh khi bạn ngồi vỉa hè, ở một thành phố biển, vào mùa mà gió thốc đến đâu rùng mình đến đó. Trời sáng một cách nhờ nhờ vài giờ một ngày. Tôi tận dụng đủ ngần ấy giờ để đi dọc bờ đá, ngắm nhìn nàng tiên của tôi. Và về quán uống cốc café nguội. Café rất nhạt nhưng rất thơm. Thỉnh thoảng có một người to lớn lại gần nói tiếng bản xứ, tôi tất nhiên không hiểu một từ nào nhưng cũng gật đầu kéo ghế. Vậy là họ ngồi xuống, châm thuốc, chờ cốc café của mình, uống hết trước khi café kịp nguội. Và dụi thuốc đứng lên. Chỉ mình tôi là ngồi lại, như một nghi thức của mình Chuyến du lịch thật là tẻ nhạt. Nhưng không hiểu sao tôi vẫn muốn ở thêm vài ngày nữa, ngắm nhìn nàng tiên cá của tôi vài lần nữa, trước khi đi và biết khó bao giờ có thể trở lại Không lý giải được tại sao tôi lại hành động như thế. Nhưng nếu mọi chuyện đều để mà lý giải thì cuộc đời kể cũng nhàm chán. Đôi khi sống chỉ để làm những việc không bao giờ giải thích được mà thôi
Tôi ngồi ở quán cafe ấy các buổi sáng sau lời chào nàng tiên cá. Sau đấy là bảo tàng, gallery, hoặc một vài điều lặt vặt khác mà người ta có thể làm khi đi nghỉ như thế này. Copen lạnh, xám, và già nua. Vì thế buổi tối chẳng có gì đủ hấp dẫn để kéo tôi khỏi giấc ngủ sớm, chuẩn bị cho lời chào nàng tiên cá sớm hôm sau *
Lần đầu tiên tôi ra khỏi nhà nghỉ buổi tối là đêm tôi mất ngủ Quán cafe quen thuộc có vẻ đông hơn, bàn trong nhà chật kín. Tôi ngồi ở bàn hút thuốc ngoài trời Chẳng có người to lớn nào đến nói tiếng địa phương và ngồi xuống hút thuốc cạnh tôi. Tôi một mình với hai cái bàn tròn đường kính ba mươi xăngtimét rộng thênh thang. Gió vẫn thốc không ngừng nghỉ. Biển ầm ì. Nàng tiên cá lặng im
Rồi một khuôn mặt châu Á nhỏ hiện ra, mỉm cười, hỏi tôi bằng tiếng Anh xem có thể ngồi cạnh được không. Tôi gật đầu Và chúng tôi ngồi thế. Im lặng. Không hút thuốc. Cafe đã hết từ lâu Trời ngày một sẫm hơn và gió ngày một thốc mạnh hơn. Châu Á nhỏ buông một câu tiếng Anh lơ đãng : -lạnh nhỉ -ừ, lạnh. Tôi cũng lơ đãng co ro Buổi tối trôi qua gần như chỉ có thế. Châu Á nhìn tôi mỉm cười. Tôi lúc nhìn Châu Á, lúc ngó ra biển, cố chờ âm thanh nào như tiếng tiên cá lẫn trong sóng ầm ì Chúng tôi đứng lên khi quán sắp đóng cửa. Hầu hết các quán ở đây không mở qua đêm. Tôi thì chưa buồn ngủ. Châu Á thì có vẻ ung dung. Chẳng hiểu sao tôi lại rủ Châu Á ra bờ đá. Thế là đi Biển buổi đêm mênh mông, đen kịt, vẫn ầm ì nhưng có vẻ giận dữ. Tôi dừng lại trước tiên cá của tôi, không hiểu sao lại bảo -tôi đến đây chỉ vì cô ấy Châu Á cười -tất cả trẻ con đều muốn đến đây chỉ vì cô ấy -ai cũng từng là trẻ con, tôi đáp bằng tiếng Việt. Không hiểu sao bỗng dưng tôi lại thèm nói tiếng Việt đến thế. Giữa đêm trên một bờ đá lạ, ở một thành phố lạ, với một người con gái lạ Cô gái quay sang nhìn tôi không ngạc nhiên. Mà mỉm cười Bỗng dưng tôi thèm được kể một vài chuyện vu vơ, những chuyện thơ ấu trẻ con, chuyện tôi từng ước mơ thành phi công nhưng lại không đủ chiều cao, hay chuyện tôi từng muốn có một bầy rùa nhưng con rùa duy nhất tôi nuôi trong đời đã bị chết vì ngã từ tầng 2 xuống vỡ mai, hoặc chuyện ngày xưa tôi có con lợn sứ ngày ngày ôm đi ngủ, đắp chăn cho nó khỏi lạnh. Hôm chị họ tôi lỡ tay làm vỡ nó tôi đã mất rất nhiều nước mắt… Đấy là những chuyện người lớn sẽ quên ngay sau vài ba ngày nhưng không hiểu sao trẻ con có thể nhớ rất lâu, và những chuyện mất việc mất người yêu sau này dường như ấn tượng chẳng thấm vào đâu so với chuyện lặt vặt thơ bé ấy Chúng tôi đi chầm chậm theo bờ đá, sóng liếm láp rì rầm ở rất xa. Tôi kể những chuyện ấy bằng tiếng Việt và cô thì cứ im lặng như là đang lắng nghe. Rồi cô khe khẽ nói điều gì đó, hay đọc thơ, bằng thứ tiếng xa lạ. Cô nhìn tôi chăm chú và giọng thì cứ đều đều. Chúng tôi đã đi bao nhiêu vòng như thế quanh bờ đá, nói cho nhau nghe bằng thứ tiếng của mình. Biển và đêm dài thăm thẳm Chúng tôi đi đến khi chân tê cứng vì lạnh, mặt gần như đã mất mọi cảm giác, đêm thì vẫn đen kịt mịt mùng như thể ngày sẽ không bao giờ trở lại Cô gái hỏi: tôi đi với anh được không? Tôi nhìn cô, rất lâu. Tôi nhìn một lượt, kỹ càng. Một cô gái châu Á không xinh không xấu tóc không dài không ngắn da không trắng không đen. Một cô gái châu Á mà tôi không phân biệt nổi có thể là người Hoa, người Sing, hay người Việt chẳng biết. Điều quan trọng là, tôi không thấy ở cô một mảy may phóng đãng, hay một dấu hiệu làm tiền. Tôi gật. Và cho đến tận mãi về sau, không bao giờ tôi hiểu vì sao tôi đã gật đầu như thế Chúng tôi đi về phòng trọ của tôi. Em nằm trên giường còn tôi đứng ở cửa sổ chờ cơn buồn ngủ thốc vào cùng với gió. Đấy là một đêm kỳ lạ. Sau một ngày phơi mặt ngoài trời, tê cóng, tôi vẫn tỉnh như sáo, cứ như thể vừa mới thức dậy sau một giấc ngủ dài và được uống một ly café Việt đặc sánh Tôi nhìn Châu Á nằm, bé nhỏ, chỉ hết một phần ba cái giường đơn và lọt thỏm trong chăn bông. Hình như tôi cũng từng có một châu Á bé nhỏ như thế, từng muốn che chở cho một châu Á bé nhỏ như thế. Nhưng chuyện rồi cứ tan đi như bọt biển. Chẳng có lý do gì. Mà thực ra không phải chuyện nào cũng cần lý do
Tôi lại bên, nằm xuống, ôm Châu Á vào lòng. Em vẫn nhắm mắt, thở đều Tôi muốn ôm em chặt hơn nhưng lại sợ em thức giấc, nên tay chỉ dám đặt hờ lên eo em, và vuốt tóc em. Tôi hôn em lên trán, lên tóc, lên môi, lên vai, và muốn hít thật sâu hương toả ra từ em Em nằm im, mắt mở to, nhìn tôi. Tôi đặt một nụ hôn nữa lên môi em, hít tóc em, cúi xuống hôn bàn chân bé nhỏ, và vòng tay ôm em thật chặt Chúng tôi nằm ôm nhau như thế, rất lâu Em không hôn lại tôi, không gạt tay tôi ra. Cứ nằm im ngoan ngoãn trong vòng tay tôi, rồi thiếp đi lúc nào không biết
Khi tôi tỉnh dậy đã thấy bầu trời nhờ nhờ như tất cả những buổi sáng khác. Em đang chải tóc và khe khẽ hát một bài bằng thứ tiếng tôi không hiểu. Tôi cứ nằm im như thế ngắm nhìn, cho đến khi em phát hiện ra tôi đã dậy, mỉm cười -chúc một buổi sáng tốt lành -chúc một ngày không lạnh, tôi đáp Đấy là buổi sáng cuối cùng của tôi ở Copen. Tôi muốn đi dạo quanh bờ đá, và đứng lại nói lời chia tay với tiên cá của tôi. Nhưng em châu Á bé nhỏ không muốn đi cùng. Em ngồi chờ tôi ở bàn hút thuốc ngoài trời của quán café quen thuộc Biển ầm ì như lúc nào cũng thế. Nàng tiên cá vẫn im lìm. Tôi loanh quanh không biết vì sao mình lại đến thành phố này, vì sao ở lại đây ngần ấy ngày, có phải thực sự vì một giấc mơ tuổi thơ mà giờ có với mãi tay cũng không thể chạm nổi
Lúc tôi đến quán thì café trong cốc của em đã hết. Tôi ngồi xuống chờ cốc của mình. Em ngồi đấy chờ tôi uống cốc của tôi Tôi lục tìm trong điện thoại mình tấm hình chụp hoa chuông. Ngày đầu tiên của tháng năm người Pháp thường tặng nhau cây hoa này như lời chúc hạnh phúc. Tháng năm trời ấm và đầy nắng. Giờ này ở Copen chẳng kiếm đâu ra hoa chuông được. Tôi chuyển sang máy điện thoại của em tấm hình ấy, kể lại phong tục của người Pháp và bảo để em lúc nào cũng hạnh phúc. Hoa thật một ngày sẽ héo còn hoa trong ảnh lúc nào cũng lấp lánh nắng. Em cười: đấy chỉ là ảnh của hạnh phúc thôi
Chúng tôi chào tạm biệt nhau lúc trời có vẻ sáng nhất, tôi đi về nhà trọ chuẩn bị đồ để rời Copen. Em thì muốn ngồi thêm một chút nữa. Tôi đứng lên trước, lẽ ra phải nói “ tạm biệt” không hiểu sao lại bảo “hẹn gặp lại”. Em cười: gặp lại là khi nào? -ngày đầu tiên của tháng năm, tôi đáp Em lắc đầu: -ngày đấy còn lâu mới đến -vậy bao giờ? -ba mốt tháng tư, em nghĩ một lúc rồi trả lời Tôi gật, định hôn em lên má rồi ngần ngừ lại thôi
Tôi xếp đồ đạc, ra sân bay, vội vàng quên không giở sổ đánh dấu ngày hẹn với em Tôi lỡ hẹn, và rồi cũng chẳng còn dịp nào quay lại Copen nữa