Sài Gòn đẹp lắm! Sài Gòn ơi! Yêu Sài Gòn!

Chúc mọi người vui vẻ và hạnh phúc!

Sài Gòn qua các bản đồ

, ,

Người Việt đến khai phá đồng bằng Nam bộ từ thế kỷ 17, khi mà đất nước bị chia làm hai miền là Đàng Trong và Đàng Ngoài và bị chiến tranh Trịnh – Nguyễn chi phối. Cuộc chiến tranh kèo dài đã đẩy nhiều nông dân phải rời bỏ quê hương, xiêu tán vào vùng này lập nghiệp. Gia Định – Sài Gòn được hình thành từ đấy, và đã phát triển dần dần qua từng thời kỳ để thành một nơi đô hội như trong Gia Định phong cảnh vịnh ghi lại:

“Phủ Gia Định, Phủ Gia Định
Nhà đủ người no chốn chốn
Xứ Sài Gòn, xứ Sài Gòn
Ở ăn vui thú nơi nơi”

Sự phát triển đô thị của Gia Định được đánh dầu bằng những mốc lịch sử quan trọng, tương ứng với tính chất kinh tế và chính trị của mỗi thời kỳ. Căn cứ trên tình chất của từng thời kỳ phát triển, chúng ta có thể phân quá trình phát triển đô thị của Sài Gòn – Gia Định ra ba thời kỳ là:
1. Thời kỳ mới thành lâp cho đến khi Pháp vào xâm chiếm (1859)
2. Thời kỳ 1859 đến 1954, tương ứng với chính sách phát triển đô thị của Pháp.
3. Thời kỳ 1954 đến 1975, tương ứng với thời kỳ thực dân mơi của Mỹ.

Thời kỳ từ khi thành lập cho đến năm 1859

Các bản đồ được sử dụng là bản đồ của Le Brun 1795, Trần Văn Học 1815, bản đồ 1859.

Từ khi được thành lập cho đến 1795, mặc dù không có bản đồ được vẽ trong thời kỳ này, nhưng các tư liệu xưa vẫn cho ta thấy được rằng các yếu tố tiền đô thị đã xuất hiện ở tại địa phương này. Các yếu tố tiền đô thị ấy là sự tập trung dân cư, các chợ được thiết lập, cầu đường phát triển, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp xuất hiện, các cơ sở văn hóa tôn giáo xuất hiện.

1. Sự tập trung dân cư

Từ khi Nguyễn Hữu Cảnh đến (1698), một bộ mày hành chính đã được thiết lập tại đất Gia Định, có hệ thống quan lại để cai trị, có lực lượng quân đội để giữ gìn an ninh. Sách Gia Định thành thong chí cho biết về sự kiện ấy như sau: …Lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn. Mỗi dinh đặt chức lưu thủ, cai bộ và ký lục để quản trị. Nha thuộc có hai ty xá để làm việc, quân binh thì có cơ hội – thuyền thủy bộ tinh binh và thuộc binh để hộ vệ”. Sự xuất hiện của bộ máy hành chính đơn giản này chứng tỏ một sự tụ cư đã hình thành tại vùng Sài Gòn.

2. Sự hình thành các hình thức trao đổi hang hóa, các chợ, các đường giao thong quan trọng.

Hình thức trao đổi hang hóa quan trọng nhất vào thời kỳ này là việc buôn bán lúa gạo. Sài Gòn có một thị trường lúa gạo khá rộng lớn. Một con đường lúa gạo đã hình thành. Lái buôn đến Sài Gòn mua gạo bằng đường thủy. Thuyền buôn từ các nơi đển cửa bể Cần Giờ. Ở đâu cũng có cảnh buôn bán rộn rịp, “thuyền buồm mành đậu xúm xít kề nhau, tấp nập tại bến:

Sản xuất phi nông nghiệp cũng đã phát triển. Các nghề thủ công như dệt, nấu đường, rèn và đặc biệt là đúc đồng và đóng thuyền có mức tập trung người thợ cao với kỹ thuật điêu luyện. Một làng thợ đúc nổi tiếng được hình thành tại làng Nhơn Giang, tạo nên một địa danh nổi tiếng là Phường Đúc Chợ Quán. Còn nghề đóng thuyền thì có quy mô rất lớn với các cơ sở đóng thuyền chuyên nghiệp như xưởng sữa chữa ở ngã ba Nhà Bè, hay xưởng Chu sư được hình thành vào khoảng cuối thế kỷ 18 dài đến ba dặm, nằm dọc theo bờ sông Sài Gòn.

Từ nền sản xuất hang hóa khá phong phú, đã xuất hiện một chuỗi chợ. Chợ Nguyễn Thực ở phía tây trấn, ra đời vào năm 1727, chợ Điều Khiển nằm ở phía nam trấn, “thường năm đến ngày Nguyên đán, có cuộc chơi vân xa và đu tiên, đáng gọi là một chợ lớn”.

Một hệ thống giao thông đã thiết lập với con đường thiên lý cù ra phía bắc, thiên lỳ cú đến Phnôm Pênh, thiên lý cù đến các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, cùng các cầu được xây như cầu Thị Nghè, được bắt qua sông Bình Trị vào khoảng năm 1730, cầu Bông (có tên đầu tiên là cầu Cao Miên), được bắt qua rạch Thị Nghè vào năm 1736.

Năm 1772, có thể được xem là năm mà Sài Gòn xưa có được một sự quy hoạch đầu tiên với nhiều công trình quan trọng có tình chất đô thị. Đó là năm đào con kênh Ruột Ngựa tạo điều kiện cho con đường thủy về phía tây của Sài Gòn. Lũy Bán Bích cũng được đắp vào năm này. Rồi sau đó là kênh An Thông cũng được đào, làm cho con đường thủy ngày cáng phát triển.

3. Các cơ sở văn hóa, tín ngưỡng

Một số cơ sở tín ngưỡng được hình thành như chùa Giác Lâm, được xây dựng vào năm 1744, là nơi mà thi nhân thường rủ nhau đến “mở tiệc để thưởng hoa, chước chén mà ngâm vịnh, ngó xuống chợ búa rộn ràng xa cách ra ngoài tầm mắt”, chùa Kim Chưởng (1775) được xây ở phía tây, hoặc Minh Hương gia thạnh được thành lập vào năm 1789, là nơi lui tới của nhóm người Minh Hương.

4. Bản đồ Sài Gòn 1623 – 1679 (BẢO TÀNG TP.HCM)

Đây là giai đoạn hình thành, khẳng định Sài Gòn làm thủ phủ của Gia Định. Trên bản đồ có thể hiện: đường giao thông từ Sài Gòn đi miền Tây, Cao Miên, Đồng Nai cho thấy Sài Gòn lúc bấy giờ đã là một thị trấn, một đầu mối giao thông một địa điểm chiến lược khá quan trọng, với các cơ quan quân sự như Đồn dinh của quan Điều Khiển của tổng tham mư và quân trại hộ vệ, các cơ quan hành chính cho cai bộ và ký lục, có kho Quản thảo hay Đồn thu thuế lớn, đồn lũy dinh thự của phó vương Nặc Nộn, có phố chợ buôn bán, xóm làng mà lưu dân đã thành lập… dân số của Sài Gòn khi ấy có khoảng 10.000 người.

Đồn thu thuế (lập năm 1623, toạ lạc ngay bên bờ sông Sài Gòn cũ, nơi giao điểm của nhiều lưu dân Việt Nam đã khai thác quanh đó.

Doanh trại của phó vương Nặc Nôn: đặt ở Sài Gòn trong khoảng từ năm 1674 đến 1690, phỏng đoán gần chùa Cây Mai.

Đồn dinh ở Tân Mỹ: đồn lập đầu năm 1679 gần ngã tư Cống Quỳnh – Nguyễn Trãi ngày nay, làm chỗ cho quan Tổng tham mưu cư trú.

5.Thành Bát Quái (1790 - 1835)(BẢO TÀNG TP.HCM)

Vị trí thành Bát Quái so với sông Sài Gòn năm 1795 do Le Brun vẽ


Sơ đồ Thành Bát Quái Sài Gòn do Trương Vĩnh Ký vẽ, Nguyễn Đình Đầu lược dịch và chú giải


Thành được xây theo họa đồ của hai sĩ quan Pháp Olivier và Le Brun, sử dụng 30.000 dân phu, ngày 4 tháng 2 năm Canh Tuất (1790) bắt đầu xây dựng thành tại làng Tân Khai, hình hoa sen, mở ra 8 cửa, có 8 con đường ngang dọc, từ Đông đến Tây dài 648,55m, chiều Nam – Bắc cũng bằng vậy, tường cao 6,334m, chân tường dày 36, 554m, hào thành sâu 6,821m, hào rộng 75,525m, xây cầu ngang, ngoài đắp lũy bằng đất chu vi 3.829,118m. trên thành có trụ cờ Vọng đẩu cao 60,907m. còn gọi là thành Qui, nằm giữa 4 con đường hiện nay mang tên: Đinh Tiên Hoàng (đông), Nam Kỳ Khởi Nghĩa (tây), Lê Thánh Tôn (nam), Nguyễn Đình Chiểu (bắc).

Mặt tiền hướng về hướng Đông – Nam. Xây bằng đá tảng Biên Hòa, gạch nung, đắp bằng đất tùy theo chỗ kiến trúc cần thiết. Thành nội gồm nhiều cơ quan và công thự chính yếu: Thái miếu, dinh Hành tại, kho Từ ích, cuộc Chế tạo, kho Tiền bạc, kho Đồn điền, Trại súng, kho Hoả dược, các trại lính bố trí xung quanh. Ngoài thành có Xưởng thủy, Xưởng voi, Trường thuốc súng, Sứ quán, Trường tiền… xuất phát từ thành có 3 đường thiên lý quan trọng: đường ra Bắc, đường về Tây, đường đi Cao Miên.

6.Bản đồ Sài Gòn 1795


Giải thích các địa danh trên Bản đồ
Bản đồ Sài Gòn do Victor Olivier bố phòng năm 1790. Theo bản họa lớn do kỹ sư hoàng gia Brun vẽ năm 1795 do theo lệnh nhà vua, nay thu nhỏ lại bởi J.M. Dayot, 1799 (Plan de la ville de Saigon, fortifiée en 1790 par le Colonel Victor Olivier. Réduit du grand plan levé par ordre du Roi, en 1795, par Mr Brun, ingénieur de Sa Majesté par Mr Dayot, 1799).

A. Palais du Roi = Hoàng cung.
B. Palais de la Reine = Mẫu hậu cung.
C. Palais des Princes = Cung các hoàng tử.
D. Hôpital = Bệnh viện.
E. Magasin des Troupes = Kho quân đội.
F. Arsenal et Forges = Võ khố và lò rèn.
G. Charonnerie = Nhà xe.
H. Magasin à Poudre = Kho thuốc súng.
I. Corps de Caserne = Trại lính.
K. Place d'Arme = Võ sảnh.
L. Remises pour les pièces de Campagne = Trại tân tạo võ khí hành quân.
M. Mât de Pavillon = Cột cờ.
N. Maison de l'Evêque = Dinh Tân xá dành cho Bá Đa Lộc (Pierre Foseph Georges Pigneau de Béhaine - Giám mục người Pháp).
O. La Monnoye = Trường đúc tiền.
P. Magasin aux Vivres = Kho lương thực (Kho Quản Thảo).
Q. Bazard = Phố chợ (Đa Kao).
R. Chantiers de Construction = Xưởng Chu sư.
S. Bassin = Bể sửa chữa tàu thuyền.
T. Briqueterie = Lò gạch ngói.
U. Pagode = Chùa (Cây Mai).
V. Bazard chinois = Chợ người Hoa (Chợ Lớn).

Bản đồ này do Le Brun, một sĩ quan người Pháp của Nguyễn Anh vẽ năm 1795. Theo bản đồ này ta thấy một hệ thống đường bộ có hình bàn cờ và nhiều cơ sở hành chính, sản xuất, tín ngưỡng nằm bao quanh thành Bát Quái. Đó là kho hàng thực phẩm (P), xưởng gạch (T), xưởng đúc tiền (O), xưởng đóng thuyền (R), chùa Cây Mai (U), Chợ Lớn (V). Ngoài khu dân cư ở Sài Gòn còn có khu dân cư khá quan trọng ở Chợ Lớn hiện nay. Quận 4 đông đúc hiện nay vẫn còn là vùng đất hoang sơ, có một đoạn đường đất nối rạch Bến Nghé đến đồn Vàm Cỏ.

Ngôi thành Bát Quái được xây dựng năm 1790, bản đồ Le Brun cho thấy một con kênh khá nối liền thành Gia Định với sông Sài Gòn, tạo sự thuận lợi cho giao thông và vận tải bằng đường thủy vào trong thành.

7.Nguyễn Hữu Cảnh với sự thiết lập nền hành chính tại Đồng Nai – Gia Định

Mùa xuân tháng 2 năm Mậu dần (1698) Nguyễn Hữu Cảnh bấy giờ là trấn thủ dinh Bình Khang, được lệnh chúa Nguyễn dẫn quân lính lên đường vào Nam, kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn (tức đất Gia Định ngày nay). Mỗi nơi đều đặt chức lưu thủ, cai bạ, ký lục và các cơ đội thuyền thuỷ bộ tinh binh và thuộc binh. Từ năm 1698 – 1779 (Nguyễn Vương khôi phục phần đất Nam bộ) không có sự thay đổi nào về mặt hành chính. Tuỳ theo nhân khẩu hay hộ mà gọi là thôn, phường, lân, ấp.

Về cách đặt tên lúc ban đầu, Nguyễn Hữu Cảnh có dụng ý khi chọn các mỹ từ. Tên phủ Gia Định muốn nói lên vùng đất này từ nay đã được xếp đặt ổn định, tốt đẹp, không thay đổi, xáo trộn nữa, dân chúng được an cư lạc nghiệp. Khi đặt tên cho huyện Phước Long là huyện địa cầu của Nam bộ, ông mong muốn cho dân chúng ở đây được hưởng phước đầy, vĩnh viễn sống trong cảnh sung túc. Tên huyện Tân Bình nghĩa là vùng đất mới bình định xong, dân chúng từ nay được an cư lạc nghiệp. Bấy giờ Nguyễn Hữu Cảnh lấy sông Sài Gòn làm ranh giới thiên nhiên cho hai huyện Phước Long và Tân Bình lúc đó bao gồm các quận 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Tân Bình, Phú Nhuận, Gò Vấp, Bình Thạnh, các huyện Hóc Môn, Cần Giờ, Nhà Bè, Củ Chi, toàn tỉnh Tây Ninh, toàn tỉnh Tây Ninh, một phần tỉnh Long An ngày nay. Còn huyện Thủ Đức bấy giờ là tổng Bình An thuộc huyện Phước Long.

Công việc sắp xếp hành chính đi đôi với lập bộ đinh và bộ điền. Về bộ đinh do sự kê khai của hào lý từng thôn ấp, tổng kết lại toàn phủ Gia Định có trên 40.000 hộ ước tính khoảng 200.000 nhân khẩu.

8.Bản đồ Trần Văn Học 1815


Giải thích các địa danh trên bản đồ
1. Gia Định Tỉnh.
2. Lũy Cát Ngang.
3. Đồng Ngã Tư.
4. Lò Sành.
5. Cây Mai Tự.
6. Phước Lâm Thị.
7. Rạch Cầu.
8. Bến Củi rạch.
9. Sài Gòn xứ.
10. Cựu Lũy.
11. Rạch Dầu.
12. Chợ Quán rạch.
13. Rạch Ông Bé.
14. Chợ Quán.
15. Cầu.
16. Miếu Thánh.
17. Công Thần Miếu.
18. Kim Chương Tự.
19. Quản Thảo Khố.
20. Bàu Tròn.
21. Gò Bàu Tròn.
22. Giám Văn Quán.
23. Trường Súng.
24. Cầu Lão Hòa.
25. Thái Hòa.
26. Gò Tân Định.
27. Chợ Mới kiều.
28. Cao Miêu kiều.
29. Ngã Tắt Mụ Trị.
30. Thái Hòa thôn.
31. Ngã Tắt Mới.
32. Rạch Mụ Nghè.
33. Thủ Thiêm.
Ngã Tắt Mụ Trị nay là rạch Cầu Bông. Ngã Tắt mới nay là rạch Văn Thánh. Khi Trần Văn Học vẽ bản đồ Gia Định tỉnh năm 1815, thì chưa xây miếu Văn Thánh.

Những hoạt động phong phú về kinh tế, văn hóa của cư dân được thể hiện rất rõ trên bản đồ này. Nhiều khu dân cứ xuất hiện, rải rác theo các con lộ và các con kênh, quan trọng nhất là bờ Bắc của rạch Bến Nghé. Ta thấy Phường Đúc chợ Quán vẫn còn hoạt động và các xóm thủ công khác như Xóm Chiếu, xóm Đệm Buồm, Xóm Cốm, Xóm Lò Rèn, Xóm Chỉ, Xóm Dầu, Xóm Lò Gốm, chợ Bến Thành. Xưởng đóng thuyền đã có một bước phát triển rất lớn. Những chiếc thuyền lớn, chở cả trăm người cùng 36 súng thần công đã được đóng tại đây. Người nước ngoài vào đến Đàng Trong vào thời ấy đã cho biết rằng chỉ trong hai năm, Nguyễn Anh cho đóng 300 chiếc thuyền có trang bị thần công và trong 10 năm, số chiến thuyền của ông lên đến 1200 chiếc.

Sài Gòn - Gia Định thời ấy đã là một nơi đô hội, sầm uất. Không gian đô thị của Sài Gòn đã dần lan tỏa ra. Bản đồ này cho thấy không gian đô thị ấy có hai hạt nhân quan trọng là vùng quận 1 hiện nay và vùng Chợ Lớn. Hai hạt nhân nằm cách nhau khá xa nếu dựa các phương tiện giao thông thô sơ thời ấy, nhưng lại được nối với nhau bằng con rạch Bến Nghé huyết mạch, là con đường lúa gạo từ các tỉnh miền Tây đến cảng Sài Gòn.
Sau cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi, vua Minh Mạng cho phá thành Bát Quái (1835) và xây một thành nhỏ hơn là thành Quy.


9. Bản đồ 1859

Sơ đồ Sài Gòn và vùng phụ cận (Saigon et ses environs) do thiếu úy De Larclause vẽ ngày 1.3.1859. Chú thích:
Thành Gia Định (Citadelle), xưởng Chu Sư đóng tàu (Chantier de construction de jonquen), trại binh (caserne), dấu vết thành Bát Quái (Anciennes for tifications).


Đây là một phác thảo của De Larclause vào ngày 1 tháng 3 năm 1859 khi quân Pháp đang tấn công Gia Định. Bức phát thảo này không cho thấy được sự phát triển không gian đô thị Sài Gòn, nhưng cũng để lại dầu vết của thành Bát Quái và sự hiện diện của thành Quy, của xưởng đóng thuyền ở bên rạch Thị Nghè mà Nguyễn Ánh lập trước đây được chú ý. Sự chú ý này cho thấy tầm quan trọng của xưởng đóng thuyền này, mà sau này người Pháp đã phát triển lên thành xưởng đóng tàu Ba Son.

Ngày 6.3.1859, Pháp ra lệnh phá hủy tỉnh thành bằng mấy chục ổ thuốc nổ, đốt hết kho tàng dinh thự rồi rút ra ngoài thành đóng giữ pháo đài Hữu Bích (từ đây Pháp gọi là Đồn Nam) để tránh quân triều đình tấn công đánh chiếm lại tỉnh thành. Ngày 20.4.1859, Rigault de Genouilly giao quyền cho Đại tá hải quân Jauréguiberry rồi trở lại Đà Nẵng vì đi tham chiến ở Trung Quốc. Từ tháng 12, Jauréguiberry nới rộng khu chiếm đóng từ Sài Gòn sang Chợ Lớn và thiết lập phòng tuyến bằng cách biến các ngôi chùa thành pháo đài. Từ Sài Gòn sang Chợ Lớn là các chùa Khải Tường (Pháp ghi là Pagode des avancée, tức khuôn viên trường Lê Qúy Đôn, quận 3), Chùa Kim Chương (Pháp ghi là Pagode des Mares, ở gần ngã tư Nguyễn Trãi-Công Quỳnh, quận 1), chủa Kiểng Phước (Pháp ghi là Pagode des Clochetons, đường Thiên Phước, quận 10), chùa Cây Mai (Pháp ghi là Pagode chinoise, 26 đường Hùng Vương, quận 11).


Thời kỳ 1860 đến 1954

Sau khi đến Gia Định và dù chưa chiếm được vùng đất này, quân đội viễn chinh Pháp đã biến xưởng Thủy sư của Nguyễn Ánh thành một cảng quân sự, nằm bên bờ rạch Thị Nghè. Đồng thời người Pháp cho phá bỏ thành Quy.

Hãng vận tải Messageries Impériales, cũng đã có mặt, lập trụ sở ở ngã ba sông Sài Gòn – rạch Bến Nghé, tại địa điểm Nhà Rồng sau này. Trong khi chiến sự vẫn đang còn nóng bỏng, vào năm 1860, người Pháp đã cho mở cửa cảng Sài Gòn và hang ngàn tấn gạo được xuất cảng.

Phát triển đô thị Sài Gòn vào thời kỳ này có thể được xem như bắt đầu bằng bản quy hoạch của Koffyn, một sĩ quan trong quân đội viễn chinh Pháp thiết lập, khi cuộc chiến xâm chiếm vùng lúc tỉnh Nam Kỳ của Pháp chưa hoàn thành. Theo quy hoạch này thì hạt nhân phát triển đô thị của Sài Gòn là vùng cận kề sông Sài Gòn, tương ứng với quận 1 ngày nay.

Dân số dự kiến cho đô thị này là 500.000 dân. Ranh giời phía bắc của đô thị này là con rạch Thị Nghè, phía đông là con sông Sài Gòn, phía nam là rạch Bến Nghé, còn phía tây là con đường phỏng theo đồn Kỳ Hòa. Quy hoạch Koffyn được thực hiện vào năm 1865. Diện tích cảu Sài Gòn tương ứng với quận 1. Chung quanh đô thị này là vùng phụ cận nông thôn Thủ Thiêm ở bên kia bờ sông Sài Gòn, là làng Khánh Hội ở phía nam của rạch Bến Nghé. Chợ Lớn cách Sài Gòn bởi những làng mạc với cư dân làm vườn làm ruộng.


Quy hoạch Coffyn - Sài Gòn thành phố 500.000 dân (HCM CITY WEB)

Ranh giới thành phố[/B]

Bằng quyết định ngày 11 tháng 4 năm 1861, phó đô đốc Charner ấn định địa phận thành phố Sài Gòn với những ranh giới như sau: một mặt là rạch Bến Nghé và rạch Thị Nghè; mặt kia là chính sông Sài Gòn và một đường ranh nối từ chùa Cây Mai đến những tuyến cũ đồn Chí Hòa. Ranh giới ấy được phác họa khá rộn rãi, nhưng một thành phố đặt trong đường chu vi không đều như thế sẽ có hình dáng kỳ cục. Việc kiến thiết các tiện nghi cố định hầu như không làm được. Rồi việc phối trí các đường phố cùng những đoạn nối cũng sẽ đặt ra rất nhiều khó khăn.

Do đó, mặc dầu quan tâm đến những ranh giới trên, chúng tôi không nghĩ phải ép mình vào đó một cách nô lệ; tuy nhiên chúng tôi chỉ đi lệch khỏi nhữnh ranh giới ấy ít hết sức có thể, và chỉ khi nào những địa mạo đặc biệt và những địa hình gập ghềnh bắt buộc.

... Trên nửa phần chu vi, ranh giới được định rõ bằng các đường nước tự nhiên; và trên nửa phần còn lại, chúng ta cũng có một lợi điểm như thế khi phác vạch một kinh đào nối rạch Bến Nghé với rạch Thị Nghè, như vậy Sài Gòn sẽ nằm ở giữa các đường nước khắp xung quanh và thành một hòn đảo thực sự.

Diện tích và số dân thành phố

Thành phố với bản đồ tổng quát chỉ định như thế có một diện tích khoảng 2.500 hecta, diện tích đủ chứa thoải mái từ 5 đến 6 trăm ngàn dân.

Phụ thuộc thành phố, trên bờ trái sông Sài Gòn (vùng Thủ Thiêm) và trên bờ phải của rạch Bến Nghé (khoảng Q.4 và Q.8), sẽ là khu ngoại thành lớn dành cho xưởng thợ và nhà máy để thỏa mãn các nhu cầu sắp tới của thuộc địa...

Phân lô đất

Việc chia đất ra từng khoảng đã làm theo những căn bản được áp dụng cả ở Algérie lẫn Singapour. Chia thành 4 hạng lô như sau:

Hạng nhất: Nhà buôn nhỏ trên bến cảng
(10m x12m: 120m2)

Hạng nhì: Nhà buôn lớn trên bến cảng
(20m x 20m: 400m2)

Hạng ba: Nhà ở nội thành
(20m x 80m: 1.600m2)

Hạng tư: Nhà ở ngoại ô
(50m x 90m: 4.500m2)

Những diện tích như vậy kể là đủ.

Thành phố hành chính và thành phố doanh nghiệp

Vì lợi ích chung và lợi ích riêng của công chức cũng như lợi ích của giới công nghệ, chúng tôi chia thành phố làm hai khu vực lớn là khu hành chính và khu công thương nghiệp hay doanh nghiệp.

Khu thứ nhất được chọn ở phía đông đường lớn Impériale (Hai Bà Trưng nay) cho tới rạch Thị Nghè; diện tích khu này rộng khoảng 200 hecta. Tại đây đã đặt dinh Thống đốc, mấy cơ quan hành chính, các trại binh và hành dinh, bệnh viện quân đội, công binh xưởng, xưởng đóng tàu...

Còn tất cả khu nằm ở phía tây đường đó cho tới thành phố Hoa kiều và gồm cả thành phố này, rộng khoảng 2.300 hecta, dùng làm thành phố doanh nghiệp, và ngoài ra bao gồm cả những công sở dân sự và cơ quan quản trị thành phố Sài Gòn. Những cơ sở này được đặt hết chung quanh công trường bán nguyệt nằm ngay trước bến gọi là Primauguet (công trường Mê Linh nay). Những công thự khác như nhà thờ, nghĩa trang, chợ búa, nhà hát... được phân bổ thích hợp hết sức với chức năng của chúng và theo nhu cầu người dân.

Định hướng đường thẳng
Định hướng đường thẳng bao giờ cũng khó giải quyết; vấn đề đặt ra đây nhiều khó khăn đặc biệt. Bởi vì nói chung đất đai Sài Gòn thấp và sình lầy...

... Tuy đã cố hết sức dung hòa các lợi ích khác nhau, chúng tôi hầu như phải bỏ toàn bộ (bản tiền dự án), lý do vì những góc chéo của đường phố cắt ngang nhau; góc chéo gây thêm khó khăn cho việc xây dựng, nguy hiểm cho an toàn giao thông và làm cho việc phân lô đất vốn lâu dài và khó khăn, hầu như không thể thực hiện...

Đường phố và bến cảng

... Chiều rộng của các đường phố chính được ấn định là 40 mét, đường cấp hai là 20 mét. Đường cấp một có vỉa hè trước nhà cửa hai bên, rộng 4 mét với hai hàng cây mỗi bên. Đường cấp hai thì vỉa hè rộng 2 mét và mỗi bên chỉ có một hàng cây. Các bến sông Sài Gòn cũng như các bến rạch Bến Nghé và Thị Nghè đều rộng 40 mét giống như các đường chính. Những bến ấy có vỉa hè rộng 6 mét và hai hàng cây về phía có nhà cửa, ngoài ra, khi cần sẽ đặt thêm một đường sắt. Sau cùng, dọc theo kinh đào nối (từ rạch Bến Nghé phía chùa Cây Mai đến cầu rạch Nhiêu Lộc) kèm theo một đại lộ rộng như các đường đến sông và nối với các bến sông đó, nhờ thế dân chúng sẽ có một đường du ngoạn trồng cây dài khoảng 20 km.

Công trường

Các quảng trường công cộng và bến sông rất có ích cho sức khỏe cư dân thành phố, được nhân lên nhiều để mỗi khu phố như thế có thể nói một vườn cây kiêng của mình.

Giếng phun và vòi nước
Trong tất cả các trung tâm cư dân lớn, giếng phun và vòi nước là nhu cầu cần thiết bậc nhất, và trong các vùng khí hậu nhiệt đới thì làm giếng phun và vòi nước bao nhiêu cũng không dư thừa. Tiếc thay mặt đất bằng phẳng của Nam Kỳ không thuận lợi cho việc tạo các giếng phun tự nhiên; và đặc biệt các vùng lân cận Sài Gòn không có một nguồn suối nào đáng kể. Cho nên muốn có giếng phun, tất phải nhờ đến nước ngầm, dùng máy bơm lên đủ cao, rồi dẫn đến các địa điểm nhất định...

Việc cho thoát nước mưa và nước thải

... Việc cho thoát nước mưa và nước thải trong các thành phố thường gây ra nhiều khó khăn. Ở đây, những khó khăn đó lớn hơn bất cứ nơi nào khác, vì mặt đất Sài Gòn không cao hơn mực nước sông rạch bao nhiêu, nên không cho phép đặt những ống cống bình thường. Thay vào đó, phải nhờ đến ống cống với van đóng mở tự động...

Có lẽ như phó đô đốc Bonard đề nghị với chúng tôi, ta có thể bắt chước làm bể chứa như ở Calcutta, tức đào một hồ lớn ở trung tâm, từ đây chĩa đi bốn đường cống gom nước đưa ra rạch Bến Nghé, rạch Thị Nghè, sông Sài Gòn và kinh vành đai. Được đóng kín bằng các cửa ngăn, hồ chứa này có thể cung cấp nước đẩy qua từng cống và nhận nước qua chính bốn đường cống gom, cũng như nước thủy triều. Bằng cách đó có thể cho nước đẩy khứ hồi trong từng ống cống mỗi tuần độ hai lần. Dù sao, ta đã thiết kế những chiều dốc cho các đường phố, bến sông và đại lộ, ngõ hầu đảm bảo cho việc chảy thoát nước mưa, giếng phun và vòi nước qua các rãnh cống dọc theo vỉa hè...

Cửa ngõ thành phố

... Thành phố có sáu cửa, ba cửa ở phía Bắc, một ở phía Nam, một ở phía Đông và một ở phía Tây.

Việc phòng thủ

Về phía sông và rạch Bến Nghé, rạch Thị Nghè, nội thành được bảo vệ bằng chính các sông và rạch đó, ngoài ra còn bằng hai đồn và hai pháo đài. Đồn thứ nhất nằm về phía hữu ngạn sông Sài Gòn (gần cầu Tân Thuận nay) cách trung tâm khoảng 1.500 mét, đồn thứ hai nằm phía đối diện ở tả ngạn. Pháo đài thứ nhất đặt ở điểm góc của ngả ba sông Sài Gòn với rạch Bến Nghé (gần Nhà Rồng). Pháo đài thứ hai đặt ở điểm Nam của khoảng đất chùa vua cũ (tức Văn Thánh miếu, ở góc sông Sài Gòn với rạch Thị Nghè phía bên kia xưởng Ba Son). Đồn thứ nhất đã hoàn thành. Đồn thứ hai và các pháo đài sẽ phải làm. Về phía đất liền, việc phòng thủ trước hết là kinh đào vành đai, dọc theo bờ kinh sẽ có một chiến lũy phòng thủ với những đồn nhỏ các nhau từng quãng. Hệ thống này sẽ được tăng cường bằng những công sự bán nguyệt hoặc mũi nhọn tùy nhu cầu cửa mở của đồn bót.

Kết luận

Mặc dầu bản ghi chú này rất giản lược, thiết tưởng vẫn đủ cho ta một khái niệm trọn vẹn về thành phố Sài Gòn tương lai và có thể giúp tiến tới việc bán 896 lô đất mà phần đầu của dự án đã nghiên cứu, một cách bình thường hợp pháp...

(Ký ức lịch sử về Sài Gòn - NXB Trẻ 1997)

Địa phận Sài Gòn năm 1861 (HCM CITY WEB)

Ngày 11-4-1861, Phó Đô đốc Charner, Tư lệnh quân viễn chinh Pháp, ban hành nghị định quy định ranh giới Sài Gòn nằm trong khu vực giới hạn bởi một bên là rạch Thị Nghè (Arroyod' Avalanche) và rạch Bến Nghé (Arroyo Chinois) với một bên là sông Sài Gòn cùng con đường nối liền chùa Cây Mai với những phòng tuyến cũ của đồn Kỳ Hòa. Cụ thể nhất là Quyết định số 145 ngày 14-8-1862 của Đề đốc Bonard - Thống đốc quân sự đầu tiên - quy định tổ chức hành chính tỉnh Gia Định, trong đó có Sài Gòn. Đây là quyết định căn bản mở đầu cho việc tổ chức hành chính Sài Gòn thời Pháp thuộc. Bonard đã chia tỉnh Gia Định ra ba phủ, mỗi phủ có ba huyện, dưới huyện có tổng, dưới tổng có xã, thôn, lý, ấp. Sài Gòn lúc bấy giờ vừa là tỉnh của Gia Định vừa là phủ của phủ Tân Bình là huyện của Bình Dương, còn Chợ Lớn là huyện của huyện Tân Long, cùng phủ Tân Bình.

Về phương thức cai trị, trong thời gian đầu, thực dân Pháp tạm thời sử dụng các quan phủ, huyện của triều An Nam, cho điều hành công việc tại các phủ, huyện dưới sự chỉ đạo chung của Bố chánh tỉnh Gia Định là một viên chức Pháp ngạch thanh tra các công việc bản xứ (Inspecteur des affaires indigènes). Riêng người Hoa và những người châu Aá khác sống ở Chợ Lớn tuy thuộc huyện Tân Long nhưng được cai trị trực tiếp bởi một thanh tra các công việc của người Hoa (Inspecteur des affaires Chinoises) với sự giúp đỡ của Hội đồng các bang trưởng Hoa Kiều.

Thành lập Thành phố Sài Gòn
Năm 1864, Chợ Lớn được tách khỏi Sài Gòn về phương diện quản lý địa bạ, vì một trong những lý do chủ yếu là thành phố người Hoa (Ville Chinoise) đang trên đà thịnh vượng, việc quản lý và mua bán đất đai đòi hỏi phải tách Sài Gòn và Chợ Lớn ra thành hai thương điếm (emporium) riêng biệt. Tuy vậy, trước năm 1867, Sài Gòn chưa được chính thức xem như một thành phố.

Phải đến năm 1867, việc quản lý Sài Gòn mới được chính thức giao phó cho một tổ chức riêng biệt là Ủy ban thành phố, được thành lập do Nghị định số 53 ngày 4-4-1867 của Thống đốc Pháp De La Grandière. Uủy ban thành phố gồm 1 ủy viên và 12 hội viên. Ủy viên được chọn trong số những cư dân châu Á cũng như châu Âu cư trú tại Sài Gòn, không phân biệt quốc tịch.
Ủy ban thành phố biểu quyết về các vấn đề: quản lý tài sản công, ngân sách, biểu thuế, những quy định về việc thu thuế, các dự án xây dựng, sửa chữa lớn, bảo trì, mở mang đường sá, v.v. Ngoài ra, Ủy ban còn được hỏi ý kiến về một số vấn đề liên quan đến hoạt động của thành phố. Mọi hoạt động của Ủy ban thành phố đặt dưới sự giám sát trực tiếp của Đổng lý Nội vụ (Directeur de l'intérieur)- một chức danh quan trọng được thiết lập vào năm 1864, có nhiệm vụ phụ giúp viên Thống đốc trong việc điều khiển chung nền hành chính của những vùng đất đã nằm trong tay thực dân Pháp.

Đến ngày 8-7-1869, tổ chức thành phố Sài Gòn được sửa đổi bởi Nghị định số 131 của Thống đốc Ohier, theo đó, Ủy ban thành phố được cải danh thành Hội đồng thành phố với một chủ tịch hay ủy viên trưởng và 13 ủy viên. Ủy viên trưởng hội đồng thành phố được gọi là Đốc lý Sài Gòn (Maire de Saigon) do Thống đốc bổ nhiệm trong số những công chức Pháp. Thể thức cử nhiệm các ủy viên Hội đồng cũng thay đổi: 6 ủy viên do Thống đốc Nam Kỳ chỉ định, 7 do bầu cử trực tiếp. Nhiệm kỳ của Hội đồng nâng từ 1 năm lên 2 năm. Pétrus Trương Vĩnh Ký là người Việt Nam đầu tiên tham gia vào Hội đồng thành phố Sài Gòn do Nghị định đề cử số 210 ngày 27-9-1869 của Thống đốc Ohier. 8 năm sau, sắc lệnh ngày 8-1-1877 của Chính phủ Pháp thay đổi thành phần của Hội đồng thành phố gồm 13 hội viên: 7 do dân bầu và 6 do chính quyền đề cử: Viên đốc lý cũng do Thống đốc Nam Kỳ bổ nhiệm, có thể chọn trong số các công chức. Sở dĩ có thay đổi hệ thống cấp ban hành văn kiện sửa đổi tổ chức Hội đồng thành phố (sắc lệnh của Tổng thống Pháp thay vì Nghị định của Thống đốc Nam Kỳ) vì lần này sắc lệnh dự liệu việc người nước ngoài có thể tham gia vào Hội đồng thành phố lên 15 người gồm 11 hội viên là người Pháp, 4 hội viên là người bản xứ. Viên đốc lý và hai phụ tá do Thống đốc Nam Kỳ bổ nhiệm.

Trong thập niên 1860 và nửa đầu thập niên 1870, thành phố Sài Gòn vẫn nằm trong địa hạt hành chính tỉnh Gia Định. Năm 1880, ngoài Hội đồng thành phố Sài Gòn đang hoạt động, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh ngày 8-2-1880 thành lập một Hội đồng quản hạt (Conseilconlonia) trụ sở đặt tại Sài Gòn có chức năng bao trùm toàn thể thuộc địa Nam Kỳ. Và với sắc lệnh ngày 22-4-1880, Chính phủ Pháp đi thêm một bước nữa bằng cách áp dụng hình luật của Pháp trên toàn bộ Nam Kỳ. Hai năm sau (1882) là sự ra đời của các hội đồng hàng huyện (Conseild'arrondissement) do Nghị định ngày 12-6-1882 của Thống đốc Nam Kỳ. Với tổ chức này, thực dân Pháp đã tạm hoàn chỉnh bộ máy cai trị của họ tại Sài Gòn và các địa phương khác để có điều kiện toan tính nốt những phần còn lại của miếng mồi Đông Dương béo bở là Trung và Bắc Kỳ.

Quy hoạch thành phố.
Chỉ hai tháng sau khi Chí Hòa thất thủ, Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp đã ký nghị định ngày 11-4-1861 ấn định phạm vi thành phố Sài Gòn. Song quy hoạch này đã không thể thực hiện vì thiếu ngân sách.

Lần quy hoạch thứ hai, do nghị định ngày 3-10-1865, trên cơ sở thành thị Bến Nghé và Sài Gòn cũ. Sài Gòn chỉ rộng không quá 3 cây số vuông và Chợ Lớn chỉ hơn một cây số vuông. Sài Gòn bấy giờ nằm gọn trong quận 1 bây giờ, còn Chợ Lớn là quận 5 hiện nay. Giữa hai thành phố là vùng thuộc địa hạt Sài Gòn. Năm 1885 địa hạt được đổi tên là Gia Định và đến năm 1889 được gọi là tỉnh Gia Định.

Ngày 15-3-1874, Tổng thống Cộng hòa Pháp ký sắc lệnh chính thức thành lập thành phố Sài Gòn. Thành phố được điều hành bởi một viên thống lý, hai viên phó đốc lý và một hội đồng thành phố. Còn Chợ Lớn, chậm hơn hai năm được thành lập do nghị định của thống đốc dân sự đầu tiên là Le Myre de Vilers, ký năm 1879.

Theo thời gian phát triển, dân số tăng lên. Sài Gòn và Chợ Lớn xích lại gần nhau và thực sứ tiếp giáp ở khoảng đường Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thiện Thuật bây giờ vào năm 1910.

Trong thời gian nửa thế kỷ, Sài Gòn đã thay đổi, hình thành nên một thành phố Tây Phương. Đường sá được thiếp lập. Dinh thự, phố xá, các khu dân cư cùng với các chợ... được xây dựng. Từ thủ phủ của Gia Định ngũ trấn (Gia Long), Nam Kỳ lục tỉnh (Minh Mạng), Sài Gòn theo thời gian đã trở nên trung tâm của ba tỉnh miền Đông (1862), rồi thủ phủ của Nam Kỳ (1867) và dần trở nên một trung tâm chính trị, kinh tế quan trọng cho toàn Đông Dương

Trong thời gian đầu, Pháp xây dựng một khu hành chính làm trung tâm cho thành phố. Chung quanh có rào, bên trong là các dinh Thống đốc, các cơ quan hành chính, nhà dây thép, nhà thương, nhà thờ... tất cả đều làm bằng gỗ. Khu hành chính này ở gần Đồn Đất, trên gò cao. Phía sau là những trại lính, trước mặt nhìn ra sông Sài Gòn là các nhà kho của hải quân.
Dọc theo dông Bến Nghé, Pháp cho đào các kinh cũ sâu và rộng hơn lấy đất đắp lên bờ. Sau nữa ban đất trên các đồi cao xuống mé sông, lấp kênh đắp đường. Rồi nhà lá gỗ được thay bằng nhà gạch ngói. Chỉ trong hơn ba thập niên, đa số các kiến trúc tiêu biểu của thành phố Sài Gòn như dinh Toàn quyền, dinh Thống đốc, dinh Xã Tây, Nhà hát lớn, Nhà thờ... đã được xây dựng.


Bản đồ 1867


Tuy còn tạm bợ, các cơ quan công quyền có tính cách thống trị, nhưng đã khá đầy đủ (theo bản đồ Sài Gòn 1867 do Sở Cầu đường họa):

A. Dinh Thống đốc (Palais du Gouvernement) ở góc đường Nguyễn Du - Hai Bà Trưng, trong khuôn viên trường Trần Đại Nghĩa.
B. Bộ Tổng tham mưu (Etat Mjor Général - ở góc đường Nguyễn Du - Hai Bà Trưng, quận 1).
C. Nha Giám đốc nội vụ (Direction de l'Intérieur) ở góc đường Lý Tự Trong - Đồng Khởi, quận 1.
D. Toàn Giám mục (Évêché) ở góc đường Tôn Thất Đạm - Hàm Nghi, quận 1.
E. Nhà thờ lớn (Cathédrale) trong khuôn viên bốn đường Nguyễn Huệ - Tôn Thất Hiệp - Hồ Tùng Mậu - Huỳnh Thúc Kháng, quận 1.
F. Tòa án (Tribunaux) ở giữa ba đường Lý Tự Trọng - Hai Bà Trưng - Lê Thánh Tôn, quận 1.
G. Tòa Đốc Lý (Municipalité) ở góc đường Lê Thánh Tôn - Đồng Khởi, quận 1.
H. Ngân khố và Bưu chính (Tre1sor et Postes) ở Nguyễn Du cách Đồng Khởi 100 mét, quận 1.
I. Điện tín (Télégraphe) ở đường Lý Tự Trọng đâu lưng với Ngân khố và Bưu chính, quận 1.
J. Sở Công chính (Ponts et Chaussées) ở trong khuôn viên bốn đường Lê Lợi - Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Huỳnh Thúc Kháng - Pasteur, quận 1.
K. Trại lính bản xứ (Camp des Indigènes) ở trong khuôn viên bốn đường Lê Duẩn - Mạc Đĩnh Chi - Nguyễn Thị Minh Khai - Phạm Ngọc Thạch, quận 1.
K' Trại lính Trường Thi (Camp des Lattrés) ở trong khuôn viên 4 đường Lê Duẩn - Hai Bà Trưng - Nguyễn Thị Minh Khai - Phạm Ngọc Thạch, quận 1.
L. Trại pháo binh (Artillerie) ở trong khuôn viên các đường Thái Văn Lung - Lý Tự Trọng - Tôn Đức Thắng và sông Sài Gòn, quận 1.
M. Công binh (Ge1nie) ở trong khuôn viên bốn đường Lê Lợi - Hai Bà Trưng - Lý Tự Trọng - Thái Văn Lung, quận 1.
N. Bệnh viện (Hopital) ở trong khuôn viên 4 đường Hai Bà Trưng - Nguyễn Du- Chu Mạnh Trinh - Lý Tự Trọng, quận 1. Nay là Bệnh viện Nhi Đồng II.
O. Sở Liêm phóng cũng gọi Sen Đầm (Gendarmerie) ở góc đường Pasteur - Lý Tự Trọng, quận 1.
P. Văn phòng Giám thành (Bureau de la Place) ở đường Nguyễn Du trước mặt Ngân khố và Bưu chính, quận 1.
Q. Sở Cảnh sát (Commissariat the police) ở gần góc đường Nguyễn Du - Đồng Khởi, quận 1.
R. Sở Chỉ huy Bộ binh (Commandant des Troupes) ở góc đường Nguyễn Du - Đồng Khởi, quận 1.
S. Bồn phao chữa tàu (Dock flottant) trên sông Sài Gòn trước mặt xưởng Ba Son, quận 1.
T. Nhà in Hoàng gia (Imprimerie impériale) ở góc đường Hai Bà Trưng - Lý Tự Trọng, quận 1.
U. Lao xá (Prisons) ở góc đường Lý Tự Trọng - Nguyện Trung Trực - Pasteur, quận 1, nay là Thư viện Khoa học Tổng hợp.
V. Bãi chứa than (Parc aux charbons) ở bờ sông Sài Gòn bên Thủ Thiêm, nơi đối diện với xưởng Ba Son thuộc quận 2 ngày nay.
X. Nha Giám đốc Thương cảng (Direction du Port de commerce) ở góc Hàm Nghi - Tôn Đức Thắng, quận 1.
Y. Nha Giám đốc Quân cảng (Direction de Port de guerre) ở Bảo tàng Tôn Đức Thắng trên đường Tôn Đức Thắng đầu quân cảng, quận 1.
Z. Kho quân nhu (Subsistance) ở bờ sông Sài Gòn giữa Quân cảng đường Tôn Đức Thắng, quận 1.

1. Kho tổng hợp (Magasin général) ở trên đường Thái Văn Lung gần bờ sông Sài Gòn, quận 1.
2. Nha Hải đô (Hydrographie( ở góc đường Lý Tự Trọng - Hai Bà trưng, trong khuôn viên trường Trần Đại Nghĩa, quận 1.
3. Tòa án quân sự (Conseil de Guerre) ở góc đường Lê Thánh Tôn - Đồng Khởi, quận 1.
4. Chợ Bến Thành (Marché) ở khuôn viên 4 đường: Nguyễn Huệ - Huỳnh Thúc Kháng - Hồ Tùng Mậu - Ngô Đức Kế, quận 1. Nay là Ngân khố thành phố.
5. Sở thanh tra Nội vụ (Inspecteur des affaires indigènes) ở góc đường Pasteur - Lê Lợi, quận 1.
6. Trại kỵ binh (Caserne de Cavalerie) ở đường Lê Thánh Tôn gần ngã tư Thái Văn Lung, quận 1.
7. Trại lình đóng tàu (Caserne de Construction navales) ở góc ngã tư Tôn Đức Thắng - Lê Thánh Tôn, quận 1.
8. Công trường Đồng Hồ (Place de l'Horloge) ở đầu đường Đồng Khởi gần Nhà thờ Đức bà nay.
9. Cột báo hiệu (Sémaphore) tức Cột cờ thủ ngữ, nay ở gần đầu cầu Khánh Hội.
10. Nghĩa trang cũ (Ancien cimetière)ở mé đường Lê Duẩn gần ngã tư Tôn Đức Thắng.
11. Chủng viện Thánh Giuse (Séminaire)tại số 6 Tôn Đức Thắng nay.
12. Trương Sư huynh - Adran (Ecole des frères - Adran) ở phía sau Chủng viện.
13. Dòng Chúa Hài Đồng (Sainte Enfance) ở số 4 Tôn Đức Thắng.
14. Nơi giặt giũ của nhà thương (Buanderie) ở gần cầu Thị Nghè.
15. Nhà dòng Cát Minh (Carmelites) ở trước mặt Chủng viện trên đường Tôn Đức Thắng.

Ngoài ra, các công trình kiên cố được xây dựng còn tồn tại đến nay như Nhà Rồng trụ sở của hãng Messageries Impériales, sau năm 1870 đổi ra Messageries Maritimes, mà người mình gọi là hãng Đầu Ngựa, vì trên các ống khói tàu của hãng có vẽ hình đầu ngựa. Nhà nguyện với tháp nhọn vút của Dòng nữ Áo trắng (Couvent des soeurs de Saint Paul de Chartres) do Nguyễn Trường Tộ vẽ kiểu và đốc công, ở số 6 Tôn Đức Thắng. Nhà Dòng nữ Cát Minh (Carmélites) đối diện với chủng viện. Trường tư thục Ardan ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm sau chủng viện. Vườn Bách thảo đang thành hình rất phong phú và quy mô lớn. Xưởng đóng tàu Ba Son thì đã hoạt động bình thường. Cảng Sài Gòn chia ra 3 khu vực: Quân cảng (từ góc đường trước mặt xưởng Ba Son đến đầu đường Hai Bà Trưng), Thương cảng từ đầu đường Hai Bà Trưng đến cột cờ Thủ Ngữ, cảng Nhà Rồng ở bờ sông Sài Gòn từ cửa rạch Bến Nghé cả ba cảng đã đi vào hoạt động sôi nổi. Cảng Sài Gòn ngay từ buổi ấy làm nên bộ mặt đặc trưng của Sài Gòn. Sài Gòn là thành phố cảng vậy.

Bản đồ này cho thấy đô thị của Sài Gòn thời kỳ này không vượt qua con rạch Bến Nghé và cũng không vượt qua rạch thị Nghè, mà phát triển dọc theo kênh Bến Nghé, theo bờ bắc, quay lưng lại với dòng sông Sài Gòn. Xưởng đóng tàu thì hoạt động mạnh và những ngôi nhà của thợ thuyền xuất hiện gần đấy, phía bên kia bờ của xưởng.

Trong trung tâm của thành phố, nhiều kiến trúc quan trọng được hình thành. Đó là dinh Thống Đốc (A), phần đất được quy hoạch cho dinh Toàn Quyền, phần đất quy hoạc cho Thảo cầm viên, bưu điện (H và I), Tham mưu quân đội (B), nghĩa trang cho người nước ngoài, nhà tù (U), bệnh viện, trường dòng, trại lính. Hãng vận tải Messageries Impériales xây các kho hàng bên bờ sông và từ đó hình thành một khu dân cư thợ thuyền làm việc cho hãng này.


Bản đồ 1878

Theo bản đồ này, dinh Toàn quyền Đông Dương đã được hoàn thành (1875). Thảo cầm viên cũng thế. Một sốn nhà ở, xưởng xuất hiện bên bờ kênh Bến Nghé, kênh Tàu Hủ, tập trung nhiều ở Chợ Lớn và chuyên về nghề xay xát lúa gạo. Các khu dân cư dần dần hình thành vượt ra ngoài khung quy hoạch của Koffyn. Chợ Đũi xuất hiện.

Bản vẽ 1882

Bản vẽ này do một đại úy hải quân của Pháp vẽ và đoạt huy chương bạc trong cuộc thi “Congrès National de Géographi” tại Nancy vào năm 1881. Bản vẽ thể hiện cảnh quan sầm uất và ngăn nắp cảu đô thị Sài Gòn mang tính sông nước. Con kênh Lớn vẫn còn được sử dụng. Thuyền bè nhỏ qua lại đông đúc trên hai con kênh Thị Nghè và Bến Nghé, con trên con sông Sài Gòn thì tàu thuyền lớn cũng hoạt động mạnh mẽ. Ta còn thấy chiếc dock nằm trước ngã ba xưởng đóng tàu.

Đây là thời kỳ có nhiều xây dựng mang tính đô thị hiện đại như con đường sắt nối Sải Gòn với Mỹ Tho (1881), đường tramway Sài Gòn – Chợ Lớn (1882), Thư viện Sài Gòn (1882) và tòa Đô Chính (1898), nhà hát Thành Phố (1900).

Bản đồ năm 1898.(BẢO TÀNG TP.HCM)

Trong khoảng thời gian này người ta bắt đầu gọi Sài Gòn là “Paris của Viễn Đông”, Tổng thống ra sắc lệnh lấy Sài Gòn làm thủ phủ của toàn quyền Đông Dương và thiết lập Phủ Toàn quyền tại Sài Gòn, Sài Gòn biến đổi nhanh chóng. Các bản đồ thể hiện cảnh quan sầm uất và ngăn nắp của đô thị Sài Gòn. Con kênh Lớn đã được lắp trở thành đường Charner (1889).

Đây là thời kỳ có nhiều công trình xây dựng mang tính đô thị hiện đại như con đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho dài 71 km (chính thức khai thác ngày 20/7/1885), Nhà trưng bày sản phẩm xứ thuộc Nam Kỳ (nay là bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh 1890), đường dây thép Sài Gòn – Qui Nhơn – Đà Nẳng – Huế – Vinh – Hà Nội dài 2.000 km (22/3/1888), đường dây điện thoại, đường dây điện thoại đầu tiên ở Đông Dương (1889), đường liên lạc điện báo Sài Gòn – Băng Cốc được mở cho thương mại (16/7/1893), khởi công xây dựng Xã Tây (còn gọi là dinh Đốc Lý, tòa Đô Thành, khánh thành năm 1908).

Bản đồ 1905

Phát triển đô thị cảu Sài Gòn đòi hỏi phải xây dựng thêm cầu, nhất là cây cầu nối liền trung tâm đô thị với làng Khành Hội, nơi đặt trụ sở của hãng Messageries Impérials. Cây cầu mà người Pháp xây đầu tiên tại Sải Gòn là cây cầu Mống vào năm 1882 (L’Arc en ciel). Bản đồ 1905 cho thấy ga xe lửa ngay trung tâm thành phố với những trạm dừng nối đến bờ sông Sài Gòn, vòng xoay Mê Linh đã hình thành như ngày nay, Tòa án thành phố đã xây dựng xong, con kênh Lớn đã bị lấp (1889) để trở thành một đại lộ mà ngày nay là đại lộ Nguyễn Huệ. Thành Quy chỉ còn lại dấu vết, và ở trên mặt bằng đó xuất hiện các trại lính. Bên phía làng Khánh Hội, nhà cửa, kho hàng mọc lên dọc theo bờ rạch Bến Nghé và sông Sài Gòn.

Bản đồ tỉnh Gia Định 1918

Tỉnh Gia Định lúc bấy giờ bao gồm cả Sài Gòn – Chợ Lớn, các quận huyện Gò vấp, Bình Thạnh, Củ Chi, Cần Giờ không thuộc đô thị Sài Gòn, bản đồ không thể hiện rõ hai đô thị Sài Gòn, Chợ Lớn.

Cận ảnh bản đồ năm 1921

Cận ảnh cua bản đồ này thể hiện rõ sự thay đổi của làng Khánh Hội mà ngày nay là quận 4. Khu này có hình tam giác như ngày nay chỉ từ năm 1905, sau khi con kênh Tẻ được đào vào năm ấy. Việc buôn bán lúa gạo phát đạt, lượng ghe thuyền chuyên chở lúa gạo đi lại hàng ngày trên kênh Tàu Hủ, Bến Nghé ngày càng cao, tạo nên tắc nghẽn giao thông thủy, vì thế, người ta phải đào con kênh này để chia tải lượng và đồng thời, các kho hàng ở Nhà Rồng đã dần trải xuống phía nam, có thể tiếp nhận hàng hóa từ các thuyền buôn đêm đến. Hai bên bờ rạch Bến Nghé và kênh Tàu Hũ đã phủ đầy các khu dân cư, các khu sản xuất. Phía bờ Khánh Hội có mật độ dày hơn là phần sâu vào bên trong. Ta thấy xuất hiện một số làng có địa danh còn lưu lại ngày nay là Xóm Chiếu, xóm Ông Đội. Dọc kênh Tẻ, chưa xuất hiện nhà xưởng vì con kênh chỉ mới được đào chưa được bao lâu.

Bản đồ Chợ Lớn 1931[/ALIGN]

Con kênh Tẻ giải quyết được việc tắt nghẽn giao thông thủy ở đoạn từ ngã ba hai con kênh, chứ không giải quyết được toàn diện vấn đề này trên cả dọc tuyến kênh. Ghe thuyền chở gạo từ Đồng bằng sông Cửu Long tấp nấp đổ về kênh Bến Nghé và bị tắt nghẽn ở phía nam Chợ Lớn. Vì thế, 7 năm sau con kênh Tẻ được đào, một con kênh khác được hình thành, chạy song song với con kênh Tàu Hủ, được đặt tên là kênh Đôi. Từ đây, ba con kênh, Đôi, Tẻ, và Bến Nghé giải quyết được con đường lúa gạo ở phía Nam Sài Gòn.

Vai trò thương mãi của Chợ Lớn ngày càng quan trọng, vì thế vào năm 1932, chính quyền thuộc địa ra một nghị định sáp nhập Chợ Lớn vào hệ thống cảng Sài Gòn. Trên thực tế, hai hạt nhân đô thị này không còn ngăn cách nhau bởi những làng mạc thôn quê nữa, mà đã được nối với nhau bằng những khu dân cư dọc kênh Tàu Hũ và con đường giao thông nối liền hai điểm. Cuối cùng vào năm 1937, hai hạt nhân được tập hợp lại tạo nên thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn.


Bản đồ thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn 1954

Năm 1931 thành phố Sài Gòn và thành phố Chợ Lớn sát nhập thành địa phương. Thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn khi mới sát nhập có khoảng 300.000 dân, mà trong đó Chợ Lớn khoảng 140.000 người. Vùng nông thôn chia cách hai đô thị không còn nữa. Đường, phố xá xuất hiện chằng chịt. Những khu dân cứ lớn hình thành như khu Tân Định, khu Đa Kao (quận 1), Hoà Hưng (quận 3), Phú Lâm, Phú Thọ… Sài Gòn vào thời này đựoc mệnh danh Hòn Ngọc Viễn Đông.

Thời kỳ 1954 – 1975

Đây là thời kỳ mà các nhà nghiên cứu thường gọi là thời kỳ đô thị hóa cưỡng bức. Nông dân tránh bom đạn của Mỹ đã nhập cư vào Sài Gòn. Họ tìm đến sống ở những rẻo đất vô chủ nằm cạnh các con kênh, các đường rầy xe lửa, các vùng đất ẩm thấp ở phía nam Sài Gòn, những nơi còn sót lại của quận 4, quận 8 ngày nay. Các khi ổ chuột xuất hiện ngày càng nhiều. Các con kênh trở nên ô nhiễm. SÀI Gòn trở thành một thành phố quá tải về dân cư trong khi đó thì không có công trình xây dựng quan trong nào ngoài cây cầu Sài Gòn và xa lộ Biên Hòa (1858).

Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh đang trên quá trình đô thị hóa mạnh mẽ. Những bước đường chuyển biến đô thị trước đây ắt hẳn vẫn có dấu ấn đến Thành phố Hồ Chí Minh đô thị hóa hiện nay.[/ALIGN]

Nguồn:
Sài Gòn xưa và nay, NXB Trẻ, 2006, tr.31-44
100 câu hỏi đáp về GĐ - SG - TP.HCM, Địa lý, Nguyễn Đình Đầu
http://www.hcmc-museum.edu.vn/tintuc/default.aspx?cat_id=778&news_id=726#content
http://www.hochiminhcity.gov.vn/left/gioi_thieu/lich_su_van_hoa/lich_su/tp_chung_nhan_cua_dong_chay_ls/khang_chien_chong_phap/sai_gon_bien_doi_va_hinh_thanh_mot_thanh_pho_theo_kieu_phuong_tay
www.vi.wikipedia.org
[/ALIGN][/ALIGN][/SIZE][/COLOR][/ALIGN]

Những kênh rạch bị lấp và những kênh rạch có ích cho sưu lưu thông thoat nướcSài Gòn - Mỹ Tho, con đường sắt xưa nhất Đông Dương

Write a comment

New comments have been disabled for this post.

May 2013
M T W T F S S
April 2013June 2013
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31