Skip navigation.

Log in | Sign up

Để đầu tư CK thành công cần kiến thức, thông tin, nghệ thuật và may mắn

Welcome to Hoang Tam- Ngoc Tu blog: Nơi trao đổi những kiến thức về Tin Học & Tài Chính

Posts tagged with "Education"

TRÍ TUỆ CẢM XÚC (EQ) – NGHỆ THUẬT LÃNH ĐẠO THÀNH CÔNG

,

TRÍ TUỆ CẢM XÚC (EQ) – NGHỆ THUẬT LÃNH ĐẠO THÀNH CÔNG
Mục tiêu hướng đến:
* Cung cấp một sự hiểu biết tại sao EQ lại đóng một vai trò quan trọng trong lãnh đạo.
* Nhận thức được giá trị hiện tại của mỗi người; thái độ, hành vi và hậu quả của nó ảnh hưởng lên người khác.
* Học viên sẽ hiểu và ghi nhận giá trị các nguồn lực của riêng họ với tư cách là các nhà lãnh đạo và phương pháp sử dụng chúng theo phương pháp tối ưu nhất.
* Học viên sẽ có thể sử dụng các gợi ý và các kỹ thuật thực hành cho phép họ quản lý tốt hơn những cơn bốc đồng và luyện tập quản lý bản thân.
* Học viên sẽ thực hành kỹ năng lắng nghe và giao tiếp với sự thấu cảm, những tác động của nó khi giải quyết công việc với nhân viên.
* Học viên sẽ nhận biết được sự khác nhau của gia tăng tích cực và gia tăng tiêu cực và cách thức nó ảnh hưởng lên hiệu suất của nhân viên.
* Học viên sẽ học cách nhận ra giá trị của tính lạc quan, phương pháp thực hành và biến tính lạc quan trở thành một đặc điểm trong phong cách lãnh đạo của bạn.
* Học viên sẽ hiểu được “Mục đích cao quý” mà các nhà lãnh đạo cần hướng đến là giành được trái tim và tâm hồn của nhân viên


EQ-Từ cảm xúc đến nghệ thuật lãnh đạo thành công

( Bình chọn: 2 -- Thảo luận: 0 -- Số lần đọc: 3047)

Chỉ 25% các nhà lãnh đạo thành công có chỉ số IQ cao hơn trung bình. Không ít người sẽ băn khoăn "vậy thành công của 75% số người còn lại đến từ đâu?". Các công trình nghiên cứu đã khẳng định rằng, chỉ số EQ chính là yếu tố quyết định sự thành công trong cuộc sống và công việc của mỗi người.

EQ là gì?

inspire.gifEQ là khả năng quản lý cảm xúc giúp chúng ta đưa ra những quyết định sáng suốt hơn và để cải thiện các mối quan hệ của chúng ta đối với mọi người. Tất cả chúng ta đều có cảm xúc - bởi vì chúng ta đều là con người. EQ là một bộ những kỹ năng bao gồm: Biết mình, Tính lạc quan, Khả năng lựa chọn cách thức phản hồi cảm xúc phù hợp nhất cùng với sự Thấu cảm giữa mọi người.

Vai trò của nhà quản lý/ lãnh đạo là làm việc cùng với mọi người để đạt được mục tiêu. Điều này diễn ra ở hai đối tượng - với nhân viên vì ta cần họ thực thi các chỉ dẫn hoặc làm theo những chỉ đạo và đối tượng còn lại như là khách hàng, nhà cung cấp, và các đối tượng khác. Bởi vậy, con người là nguồn lực quan trọng nhất trong những tình huống này.

Một người lãnh đạo với năng lực EQ cao là người hiểu rõ bản thân và người khác, đặc biệt với những người họ thường xuyên liên hệ trong công việc. Một người lãnh đạo sở hữu các kỹ năng EQ mạnh mẽ biết cách ảnh hưởng tới người khác bằng sự lạc quan, họ chọn được cách đáp trả hay nhất trong các tình huống khác nhau, họ luyện tập sự thấu cảm với nhân viên, do đó giành được sự cam kết và ủng hộ của nhân viên. Thực tế cho thấy, mọi người thường tôn trọng và làm theo người lãnh đạo có kỹ năng con người giỏi - không chỉ trình độ học vấn hay kỹ thuật. Bên cạnh những lý do về kinh tế để làm việc thì hầu hết chúng ta làm theo vì người lãnh đạo ghi nhận và phát triển những khả năng tốt nhất của chính chúng ta.

EQ trong điều hành doanh nghiệp

EQ2.jpgĐể nâng cao cảm xúc bản thân trong điều hành doanh nghiệp, nhà quản lý/ lãnh đạo được yêu cầu cần phải “khách quan” - hãy tập trung và đừng đưa cảm xúc vào công việc. Điều này đặc biệt quan trọng ở các xã hội châu Á - nơi mà bất cứ sự thể hiện nào của cảm xúc đều được coi là “yếu đuối”.

Mặc dù vậy, tất cả chúng ta đều biết rằng thật khó khăn để hành động mà không có cảm xúc. Quyết định hàng ngày của chúng ta được cảm xúc điều hướng. Ví dụ, ra quyết định thuê một nhân viên chính là quyết định về kỹ năng của một ứng viên nhưng nó cũng bao gồm một cái nhìn tổng hòa các điểm tốt từ con người đó. Đàm phán một thương vụ đầu tư kinh doanh không chỉ là những con số mà còn bao gồm cảm nhận tinh tế về đối tác - cảm nhận về những người mà chúng ta sắp cùng làm việc.

“Học” EQ như thế nào?

Trong khi chỉ số IQ ít khi thay đổi theo thời gian, thì chỉ số EQ có thể được “học” và thay đổi vào bất cứ giai đoạn hay môi trường nào. Nguyên nhân là bởi EQ là các kỹ năng giống như các năng lực khác mà chúng ta học - chúng ta có thể tập luyện thường xuyên để đồng hóa chúng thành một phần trong tư duy của mình - nhưng quan trọng hơn cả - là nhận biết được hành vi EQ ảnh hưởng tốt hơn như thế nào đối với những người mà chúng ta cùng làm việc hàng ngày.

Nói về vấn đề này, thạc sỹ Bernard Law - chuyên gia huấn luyện được cấp Chứng chỉ Trí tuệ cảm xúc 6 giây (Hoa Kỳ) cho biết: “Nghiên cứu chỉ ra rằng EQ hay kỹ năng con người đóng vai trò quan trọng hơn các kỹ năng về mặt kỹ thuật trong việc quyết định một người lãnh đạo tài năng hay chỉ là một người đảm nhiệm vị trí tròn vai. Những người đã tham gia khóa đào tạo EQ đã cải thiện hiệu suất công việc và quan hệ với mọi người tốt hơn. Nhiều năm nghiên cứu đã tiết lộ rằng những tổ chức có nhà lãnh đạo sở hữu kỹ năng EQ mạnh mẽ thì đã giảm đi được tốc độ thay đổi nhân sự, năng suất cao hơn cũng như nhân viên tận tụy và vui vẻ hơn”.

Ông Bernard Law cũng nhận xét: “Trong quá trình làm việc với người Việt Nam nói chung, tôi nhận thấy họ là những người luôn luôn học hỏi - “đói“ những kỹ năng và kiến thức mới. Đây là một điểm cộng quan trọng vì nền kinh tế Việt Nam đang ở tư thế sẵn sàng phát triển theo cấp số mũ. Với mong muốn học các kỹ năng EQ, họ sẽ thu được thêm thuận lợi trong việc thu nhận được kiến thức kinh doanh cũng như kỹ thuật”.

Như vậy, tư duy người học đóng vai trò rất quan trọng đối với hiệu quả của khóa học về EQ. Học viên được yêu cầu phải cởi mở trước những thách thức mới trong suy nghĩ - sẵn sàng chia sẻ để phản ánh cũng như để liên hệ tới những khái niệm/ kỹ năng chủ chốt của EQ trong cuộc sống hàng ngày của họ - ở cả trong công việc và trong gia đình hay bạn bè.

Bên cạnh đó, điều đầu tiên trong phương pháp học là chấp nhận cảm xúc là một phần trong cuộc sống của chúng ta - chúng ta nên nắm lấy chúng và quản lý chúng để tạo ra lợi ích. Thứ hai, những cảm xúc chứa đựng thông tin hoặc hiểu biết về những tình huống, những con người hoặc về bản thân chúng ta mà chúng ta nên khơi nguồn để trợ giúp tư duy. Thứ ba, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng cần nhiều hơn những năng lực kỹ thuật hoặc tri thức để vượt trội và nó cũng đòi hỏi EQ như vậy hoặc những gì thường được nhắc đến như là kỹ năng con người để tạo ra sự khác biệt thực sự.

Ích lợi và hiệu quả của khóa học về EQ không hạn chế bởi kinh nghiệm làm việc của học viên vì cảm xúc là nhân tố luôn tồn tại trong mỗi con người. “Phần thưởng” dành cho những ai nhận thức sâu sắc cảm xúc là vấn đề nội tại của bản thân, cần được khơi nguồn và sử dụng trong công tác lãnh đạo tập thể.



Trí tuệ cảm xúc (EQ) – Yếu tố thành công
Posted on 12/11/2009 by admin

Có thể bạn đã từng gặp những con người có khả năng giao tiếp tốt, họ có thể giữ được bình tĩnh và ra quyết định đúng đắn trong bất cứ tình huống khó khăn nào. Họ hiểu rõ bản thân và nắm được cảm xúc của đối phương để có thể đưa ra thái độ và cách ứng xử hợp lý. Chính là nhờ họ có loại năng lực mà chúng ta gọi là trí tuệ cảm xúc – EQ (Emotional Quotient)

Trong giao tiếp ứng xử EQ là một kỹ năng sống còn trong công việc của nhà lãnh đạo EQ trở thành một yếu tố của sự thành công.

Điều đó lý giải tại sao có những nhà quản lý xuất sắc lại vấp phải thất bại không phải do năng lực chuyên môn yếu kém mà do họ thất bại trong việc sử dụng trí tuệ cảm xúc thông qua các mối quan hệ trong công việc, ứng xử với nhân viên…

Kể từ khi cuốn sách đầu tiên của Daniel Goleman viết về vấn đề này năm 1995 thì trí tuệ cảm xúc trở thành thuật ngữ nóng bỏng nhất trong các công ty Mỹ.

Ngày nay, trí tuệ cảm xúc đã trở thành một nhân tố hết sức quan trọng đối với những người giữ vai trò quản lý, thậm chí nó còn được đánh giá cao hơn cả kỹ năng chuyên môn, kinh nghiệm, hoặc chỉ số thông minh IQ. Và cùng với tầm quan trọng ngày càng được nâng cao, nó có xu hướng trở thành một trong những tiêu chí đánh giá năng lực con người khi tuyển dụng và đề bạt.

Điều đặc biệt ở đây là không giống như IQ, chúng ta có thể học tập, rèn luyện tư duy để có được EQ. Đó chính là lý do mà những khóa học đào tạo năng lực trí tuệ cảm xúc ra đời.

Trí tuệ cảm xúc – Nghệ thuật lãnh đạo thành công là một khóa học được tổ chức bởi Trung tâm Đào tạo Quản trị kinh doanh INPRO. Mục tiêu của khóa học là cung cấp những nhận thức ban đầu về trí tuệ cảm xúc và vận dụng nó trong vai trò lãnh đạo, nhắm tới đối tượng là các nhà quản lý ở tất cả các lĩnh vực, các cấp, các mô hình khác nhau.

Trí tuệ cảm xúc là khái niệm tương đối mới với ngành tâm lý học, do đó định nghĩa về nó luôn thay đổi. Khóa học này, trong một chừng mực nào đó, giúp cho học viên nắm được khái niệm và tầm quan trọng của trí tuệ cảm xúc. Thêm vào đó, học viên có thể rèn luyện các kỹ năng lắng nghe, giao tiếp và lý giải tại sao EQ lại có thể cải thiện khả năng lãnh đạo một cách hiệu quả.

Với phương pháp học độc đáo dưới sự giảng dạy của Bernard Law – một chuyên gia huấn luyện được cấp Chứng chỉ Trí tuệ cảm xúc 6 giây (SEI – Six seconds Emotional Intelligence), khóa học sẽ là nơi để các nhà quản lý rèn luyện và thực hành các kỹ năng về cảm xúc, áp dụng vào thực tiễn công việc.

Quản lý con người và các mối quan hệ là kỹ năng quan trọng của mọi nhà lãnh đạo và việc vận dụng trí tuệ cảm xúc trong công việc chính là thể hiện khả năng lãnh đạo của các nhà quản lý.
Nguồn: Trung tâm Đào tạo Quản trị Kinh doanh INPRO

Đăng trong: KINH DOANH

Phương pháp nghiên cứu khoa học

Phương pháp nghiên cứu khoa học

Monday, 20. August 2007, 07:29:05
Tham khảo từ Blog xã hội học
1. ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1.1. Khái niệm đề tài

Đề tài là một hình thức tổ chức NCKH do một người hoặc một nhóm người thực hiện. Một số hình thức tổ chức nghiên cứu khác không hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu khoa hoc, chẳng hạn như: Chương trình, dự án, đề án. Sự khác biệt giữa các hình thức NCKH nầy như sau:

* Đề tài: được thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, có thể chưa để ý đến việc ứng dụng trong hoạt động thực tế.

* Dự án: được thực hiện nhằm vào mục đích ứng dụng, có xác định cụ thể hiệu quả về kinh tế và xã hội. Dự án có tính ứng dụng cao, có ràng buộc thời gian và nguồn lực.

* Đề án: là loại văn kiện, được xây dựng để trình cấp quản lý cao hơn, hoặc gởi cho một cơ quan tài trợ để xin thực hiện một công việc nào đó như: thành lập một tổ chức; tài trợ cho một hoạt động xã hội, ... Sau khi đề án được phê chuẩn, sẽ hình thành những dự án, chương trình, đề tài theo yêu cầu của đề án.

* Chương trình: là một nhóm đề tài hoặc dự án được tập hợp theo một mục đích xác định. Giữa chúng có tính độc lập tương đối cao. Tiến độ thực hiện đề tài, dự án trong chương trình không nhất thiết phải giống nhau, nhưng nội dung của chương trình thì phải đồng bộ.

1.2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: là bản chất của sự vật hay hiện tượng cần xem xét và làm rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu.

* Phạm vi nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu được khảo sát trong trong phạm vi nhất định về mặt thời gian, không gian và lãnh vực nghiên cứu.

1.3. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

Khi viết đề cương nghiên cứu, một điều rất quan trọng là làm sao thể hiện được mục tiêu và mục đích nghiên cứu mà không có sự trùng lấp lẫn nhau. Vì vậy, cần thiết để phân biệt sự khác nhau giữa mục đích và mục tiêu.

* Mục đích: là hướng đến một điều gì hay một công việc nào đó trong nghiên cứu mà người nghiên cứu mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì mục đích khó có thể đo lường hay định lượng. Nói cách khác, mục đích là sự sắp đặt công việc hay điều gì đó được đưa ra trong nghiên cứu. Mục đích trả lời câu hỏi “nhằm vào việc gì?”, hoặc “để phục vụ cho điều gì?” và mang ý nghĩa thực tiển của nghiên cứu, nhắm đến đối tượng phục vụ sản xuất, nghiên cứu.

* Mục tiêu: là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà người nghiên cứu sẽ hoàn thành theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu. Mục tiêu có thể đo lường hay định lượng được. Nói cách khác, mục tiêu là nền tảng hoạt động của đề tài và làm cơ sở cho việc đánh giá kế hoạch nghiên cứu đã đưa ra, và là điều mà kết quả phải đạt được. Mục tiêu trả lời câu hỏi “làm cái gì?”.

Thí dụ: phân biệt giữa mục đích và mục tiêu của đề tài sau đây.

Đề tài: “Ảnh hưởng của phân N đến năng suất lúa Hè thu trồng trên đất phù sa ven sông ở Đồng Bằng Sông Cửu Long”.

Mục đích của đề tài: Để tăng thu nhập cho người nông dân trồng lúa.

Mục tiêu của đề tài:

1. Tìm ra được liều lượng bón phân N tối hảo cho lúa Hè thu.
2. Xác định được thời điểm và cách bón phân N thích hợp cho lúa Hè thu.

2. PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC

2.1. Khái niệm

“Khái niệm” là quá trình nhận thức hay tư duy của con người bắt đầu từ những tri giác hay bằng những quan sát sự vật hiện thực tác động vào giác quan. Như vậy, “khái niệm” có thể hiểu là hình thức tư duy của con người về những thuộc tính, bản chất của sự vật và mối liên hệ của những đặc tính đó với nhau. Người NCKH hình thành các “khái niệm” để tìm hiểu mối quan hệ giữa các khái niệm với nhau, để phân biệt sự vật này với sự vật khác và để đo lường thuộc tính bản chất của sự vật hay hình thành khái niệm nhằm mục đích xây dựng cơ sở lý luận.

2.2. Phán đoán

Trong nghiên cứu, người ta thường vận dụng các khái niệm để phán đoán hay tiên đoán. Phán đoán là vận dụng các khái niệm để phân biệt, so sánh những đặc tính, bản chất của sự vật và tìm mối liên hệ giữa đặc tính chung và đặc tính riêng của các sự vật đó.

2.3. Suy luận

Có 2 cách suy luận: suy luận “suy diễn” và suy luận “qui nạp"

2.3.1. Cách suy luận suy diễn

Theo Aristotle, kiến thức đạt được nhờ sự suy luận. Muốn suy luận phải có tiền đề và tiền đề đó đã được chấp nhận. Vì vậy, một tiền đề có mối quan hệ với kết luận rất rõ ràng.
Suy luận suy diễn theo Aristotle là suy luận đi từ cái chung tới cái riêng, về mối quan hệ đặc biệt. Thí dụ về suy luận suy diễn của Aristotle trong Bảng 2.1.

Bảng 2.1 Thí dụ về suy luận suy diễn

Tiền đề chính: Tất cả sinh viên đi học đều đặn
Tiền đề phụ: Nam là sinh viên
Kết luận: Nam đi học đều đặn

2.3.2. Suy luận qui nạp

Vào đầu những năm 1600s, Francis Bacon đã đưa ra một phương pháp tiếp cận khác về kiến thức, khác với Aristotle. Ông ta cho rằng, để đạt được kiến thức mới phải đi từ thông tin riêng để đến kết luận chung, phương pháp này gọi là phương pháp qui nạp. Phương pháp nầy cho phép chúng ta dùng những tiền đề riêng, là những kiến thức đã được chấp nhận, như là phương tiện để đạt được kiến thức mới. Thí dụ về suy luận qui nạp trong Bảng 2.2.

Bảng 2.2 Thí dụ về suy luận qui nạp

Tiền đề riêng: Nam, Bắc, Đông và Tây tham dự lớp đều đặn
Tiền đề riêng: Nam, Bắc, Đông và Tây đạt được điểm cao
Kết luận: Sinh viên tham dự lớp đều đặn thì đạt được điểm cao

2.4. Cấu trúc của phương pháp luận nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học phải sử dụng PPKH: bao gồm chọn phương pháp thích hợp (luận chứng) để chứng minh mối quan hệ giữa các luận cứ và giữa toàn bộ luận cứ với luận đề; cách đặt giả thuyết hay phán đoán sử dụng các luận cứ và phương pháp thu thập thông tin và xử lý thông tin (luận cứ) để xây dựng luận đề.

2.4.1. Luận đề

Luận đề trả lời câu hỏi “cần chứng minh điều gì?” trong nghiên cứu. Luận đề là một “phán đoán” hay một “giả thuyết” cần được chứng minh. Thí dụ: Lúa được bón quá nhiều phân N sẽ bị đỗ ngã.

2.4.2. Luận cứ

Để chứng minh một luận đề thì nhà khoa học cần đưa ra các bằng chứng hay luận cứ khoa học. Luận cứ bao gồm thu thập các thông tin, tài liệu tham khảo; quan sát và thực nghiệm. Luận cứ trả lời câu hỏi “Chứng minh bằng cái gì?”. Các nhà khoa học sử dụng luận cứ làm cơ sở để chứng minh một luận đề. Có hai loại luận cứ được sử dụng trong nghiên cứu khoa học:

• Luận cứ lý thuyết: bao gồm các lý thuyết, luận điểm, tiền đề, định lý, định luật, qui luật đã được khoa học chứng minh và xác nhận là đúng. Luận cứ lý thuyết cũng được xem là cơ sở lý luận.
• Luận cứ thực tiễn: dựa trên cơ sở số liệu thu thập, quan sát và làm thí nghiệm.

2.4.3. Luận chứng

Để chứng minh một luận đề, nhà nghiên cứu khoa học phải đưa ra phương pháp để xác định mối liên hệ giữa các luận cứ và giữa luận cứ với luận đề. Luận chứng trả lời câu hỏi “Chứng minh bằng cách nào?”. Trong nghiên cứu khoa học, để chứng minh một luận đề, một giả thuyết hay sự tiên đoán thì nhà nghiên cứu sử dụng luận chứng, chẳng hạn kết hợp các phép suy luận, giữa suy luận suy diễn, suy luận qui nạp và loại suy. Một cách sử dụng luận chứng khác, đó là phương pháp tiếp cận và thu thập thông tin làm luận cứ khoa học, thu thập số liệu thống kê trong thực nghiệm hay trong các loại nghiên cứu điều tra.

2.5. Phương pháp khoa học

Phương pháp khoa học (PPKH). Những ngành khoa học khác nhau cũng có thể có những PPKH khác nhau. Ngành khoa học tự nhiên như vật lý, hoá học, nông nghiệp sử dụng PPKH thực nghiệm, như tiến hành bố trí thí nghiệm để thu thập số liệu, để giải thích và kết luận. Còn ngành khoa học xã hội như nhân chủng học, kinh tế, lịch sử… sử dụng PPKH thu thập thông tin từ sự quan sát, phỏng vấn hay điều tra. Tuy nhiên, PPKH có những bước chung như: Quan sát sự vật hay hiện tượng, đặt vấn đề và lập giả thuyết, thu thập số liệu và dựa trên số lịệu để rút ra kết luận (Bảng 2.4). Nhưng vẫn có sự khác nhau về quá trình thu thập số liệu, xử lý và phân tích số liệu.

Bảng 2.4 Các bước cơ bản trong phương pháp khoa học

Bước Nội dung
1 Quan sát sự vật, hiện tượng
2 Đặt vấn đề nghiên cứu
3 Đặt giả thuyết hay sự tiên đoán
4 Thu thập thông tin hay số liệu thí nghiệm
5 Kết luận

3. THU THẬP TÀI LIỆU VÀ ĐẶT GIẢ THUYẾT

4.1. Tài liệu

4.1.1. Mục đích thu thập tài liệu

Thu thập và nghiên cứu tài liệu là một công việc quan trọng cần thiết cho bất kỳ hoạt động nghiên cứu khoa học nào. Các nhà nghiên cứu khoa học luôn đọc và tra cứu tài liệu có trước để làm nền tảng cho NCKH. Đây là nguồn kiến thức quí giá được tích lũy qua quá trình nghiên cứu mang tính lịch sử lâu dài. Vì vậy, mục đích của việc thu thập và nghiên cứu tài liệu nhằm:

- Giúp cho người nghiên cứu nắm được phương pháp của các nghiên cứu đã thực hiện trước đây.
- Làm rõ hơn đề tài nghiên cứu của mình.
- Giúp người nghiên cứu có phương pháp luận hay luận cứ chặt chẻ hơn.
- Có thêm kiến thức rộng, sâu về lĩnh vực đang nghiên cứu.
- Tránh trùng lập với các nghiên cứu trước đây, vì vậy đở mất thời gian, công sức và tài chánh.
- Giúp người nghiên cứu xây dựng luận cứ (bằng chứng) để chứng minh giả thuyết NCKH.

4.1.2. Phân loại tài liệu nghiên cứu

Phân loại tài liệu để giúp cho người nghiên cứu chọn lọc, đánh giá và sử dụng tài liệu đúng với lãnh vực chuyên môn hay đối tượng muốn nghiên cứu. Có thể chia ra 2 loại tài liệu: tài sơ cấp (hay tài liệu liệu gốc) và tài liệu thứ cấp.

4.1.2.1. Tài liệu sơ cấp

Tài liệu sơ cấp là tài liệu mà người nghiên cứu tự thu thập, phỏng vấn trực tiếp, hoặc nguồn tài liệu cơ bản, còn ít hoặc chưa được chú giải. Một số vấn đề nghiên cứu có rất ít tài liệu, vì vậy cần phải điều tra để tìm và khám phá ra các nguồn tài liệu chưa được biết. Người nghiên cứu cần phải tổ chức, thiết lập phương pháp để ghi chép, thu thập số liệu.

4.1.2.2. Tài liệu thứ cấp

Loại tài liệu nầy có nguồn gốc từ tài liệu sơ cấp đã được phân tích, giải thích và thảo luận, diễn giải. Các nguồn tài liệu thứ cấp như: Sách giáo khoa, báo chí, bài báo, tập san chuyên đề, tạp chí, biên bản hội nghị, báo cáo khoa học, internet, sách tham khảo, luận văn, luận án, thông tin thống kê, hình ảnh, video, băng cassette, tài liệu-văn thư, bản thảo viết tay, …

4.1.3. Nguồn thu thập tài liệu

Thông tin thu thập để làm nghiên cứu được tìm thấy từ các nguồn tài liệu sau:

• Luận cứ khoa học, định lý, qui luật, định luật, khái niệm,… có thể thu thập được từ sách giáo khoa, tài liệu chuyên nghành, sách chuyên khảo, ...
• Các số liệu, tài liệu đã công bố được tham khảo từ các bài báo trong tạp chí khoa học, tập san, báo cáo chuyên đề khoa học, ….
• Số liệu thống kê được thu thập từ các Niên Giám Thống Kê: Chi cục thống kê, Tổng cục thống kê, ….
• Tài liệu lưu trữ, văn kiện, hồ sơ, văn bản về luật, chính sách, … thu thập từ các cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.
• Thông tin trên truyền hình, truyền thanh, báo chí, … mang tính đại chúng cũng được thu thập, và được xử lý để làm luận cứ khoa học chứng minh cho vấn đề khoa học.

4.2. Giả thuyết

4.2.1. Định nghĩa giả thuyết

Giả thuyết là câu trả lời ướm thử hoặc là sự tiên đoán để trả lời cho câu hỏi hay “vấn đề” nghiên cứu. Chú ý: giả thuyết không phải là sự quan sát, mô tả hiện tượng sự vật, mà phải được kiểm chứng bằng các cơ sở lý luận hoặc thực nghiệm.

4.2.2. Các đặc tính của giả thuyết

Giả thuyết có những đặc tính sau:
- Giả thuyết phải theo một nguyên lý chung và không thay trong suốt quá trình nghiên cứu.
- Giả thuyết phải phù hợp với điều kiện thực tế và cơ sở lý thuyết.
- Giả thuyết càng đơn giản càng tốt.
- Giả thuyết có thể được kiểm nghiệm và mang tính khả thi.

Một giả thuyết tốt phải thoả mãn các yêu cầu sau:

- Phải có tham khảo tài liệu, thu thập thông tin.
- Phải có mối quan hệ nhân - quả.
- Có thể thực nghiệm để thu thập số liệu.

4.2.3. Mối quan hệ giữa giả thuyết và “vấn đề” khoa học

Sau khi xác định câu hỏi hay “vấn đề” nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu hình thành ý tưởng khoa học, tìm ra câu trả lời hoặc sự giải thích tới vấn đề chưa biết (đặt giả thuyết). Ý tưởng khoa học nầy còn gọi là sự tiên đoán khoa học hay giả thuyết giúp cho người nghiên cứu có động cơ, hướng đi đúng hay tiếp cận tới mục tiêu cần nghiên cứu. Trên cơ sở những quan sát bước đầu, những tình huống đặt ra (câu hỏi hay vấn đề), những cơ sở lý thuyết (tham khảo tài liệu, kiến thức đã có,…), sự tiên đoán và những dự kiến tiến hành thực nghiệm sẽ giúp cho người nghiên cứu hình thành một cơ sở lý luận khoa học để xây dựng giả thuyết khoa học.
Thí dụ, khi quan sát thấy hiện tượng xoài rụng trái, một câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để giảm hiện tượng rụng trái nầy (vấn đề nghiên cứu). Người nghiên cứu sẽ xây dựng giả thuyết dựa trên cơ sở các hiểu biết, nghiên cứu tài liệu, … như sau: Nếu giả thuyết cho rằng NAA làm tăng sự đậu trái xoài Cát Hòa Lộc. Bởi vì NAA giống như kích thích tố Auxin nội sinh, là chất có vai trò sinh lý trong cây giúp tăng sự đậu trái, làm giảm hàm lượng ABA hay giảm sự tạo tầng rời. NAA đã làm tăng đậu trái trên một số loài cây ăn trái như xoài Châu Hạng Võ, nhãn …, vậy thì việc phun NAA sẽ giúp cây xoài Cát Hòa Lộc đậu trái nhiều hơn so với cây không phun NAA.

4.2.4. Cấu trúc của một “giả thuyết”

4.2.4.1. Cấu trúc có mối quan hệ “nhân-quả”

Cần phân biệt cấu trúc của một “giả thuyết” với một số câu nói khác không phải là giả thuyết. Thí dụ: khi nói: “Cây trồng thay đổi màu sắc khi gặp lạnh” hoặc “Tia ánh sáng cực tím gây ra đột biến”, câu này như là một câu kết luận, không phải là câu giả thuyết.
Đôi khi giả thuyết đặt ra không thể hiện mối quan hệ ướm thử và không thể thực hiện thí nghiệm để chứng minh. Thí dụ: “tôi chơi vé số, vậy thì tôi sẽ giàu” hoặc “nếu tôi giữ ấm men bia, vậy thì nhiều hơi gas sẽ sinh ra”.
Cấu trúc của một giả thuyết có chứa quá nhiều “biến quan sát” và chúng có mối quan hệ với nhau. Khi làm thay đổi một biến nào đó, kết quả sẽ làm thay đổi biến còn lại. Thí dụ: Cây trồng quang hợp tốt sẽ cho năng suất cao. Có quá nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của cây
Một cấu trúc “giả thuyết” tốt phải chứa đựng “mối quan hệ nhân-quả” và thường sử dụng từ ướm thử “có thể”.
Thí dụ: giả thuyết “Phân bón có thể làm gia tăng sự sinh trưởng hay năng suất cây trồng”. Mối quan hệ trong giả thuyết là ảnh hưởng quan hệ giữa phân bón và sự sinh trưởng hoặc năng suất cây trồng, còn nguyên nhân là phân bón và kết quả là sự sinh trưởng hay năng suất cây trồng.

4.2.4.2. Cấu trúc “Nếu-vậy thì”

Một cấu trúc khác của giả thuyết “Nếu-vậy thì” cũng thường được sử dụng để đặt giả thuyết như sau:
“Nếu” (hệ quả hoặc nguyên nhân) … có liên quan tới (nguyên nhân hoặc hệ quả) …, “Vậy thì” nguyên nhân đó có thể hay ảnh hưởng đến hệ quả.
Thí dụ: “Nếu vỏ hạt đậu có liên quan tới sự nẩy mầm, vậy thì hạt đậu có vỏ nhăn có thể không nẩy mầm”.
Một số nhà khoa học đặt cấu trúc này như là sự tiên đoán và dựa trên đó để xây dựng thí nghiệm kiểm chứng giả thuyết. Thí dụ: Nếu dưỡng chất N có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của lúa, vậy thì bón phân N có thể làm gia tăng năng suất lúa.

4.2.5. Cách đặt giả thuyết

Điều quan trọng trong cách đặt giả thuyết là phải đặt như thế nào để có thể thực hiện thí nghiệm kiểm chứng “đúng” hay “sai” giả thuyết đó. Vì vậy, trong việc xây dựng một giả thuyết cần trả lời các câu hỏi sau:

1. Giả thuyết nầy có thể tiến hành thực nghiệm được không?
2. Các biến hay các yếu tố nào cần được nghiên cứu?
3. Phương pháp thí nghiệm nào (trong phòng, khảo sát, điều tra, bảng câu hỏi, phỏng vấn, …) được sử dụng trong nghiên cứu?
4. Các chỉ tiêu nào cần đo đạt trong suốt thí nghiệm?
5. Phương pháp xử lý số liệu nào mà người nghiên cứu dùng để bác bỏ hay chấp nhận giả thuyết?

Một giả thuyết hợp lý cần có các đặc điểm chính sau đây:
• Giả thuyết đặt ra phải phù hợp và dựa trên quan sát hay cơ sở lý thuyết hiện tại (kiến thức vốn có, nguyên lý, kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu tương tự trước đây, hoặc dựa vào nguồn tài liệu tham khảo), nhưng ý tưởng trong giả thuyết là phần lý thuyết chưa được chấp nhận.
• Giả thuyết đặt ra có thể làm sự tiên đoán để thể hiện khả năng đúng hay sai (thí dụ, một tỷ lệ cao những người hút thuốc lá bị chết do ung thư phổi khi so sánh với những người không hút thuốc lá. Điều này có thể tiên đoán qua kiểm nghiệm).
• Giả thuyết đặt ra có thể làm thí nghiệm để thu thập số liệu, để kiểm chứng hay chứng minh giả thuyết (đúng hay sai).

Tóm lại, giả thuyết đặt ra dựa trên sự quan sát, kiến thức vốn có, các nguyên lý, kinh nghiệm trước đây hoặc dựa vào nguồn tài liệu tham khảo, kết quả nghiên cứu tương tự trước đây để phát triển nguyên lý chung hay bằng chứng để giải thích, chứng minh câu hỏi nghiên cứu. Xét về bản chất logic, giả thuyết được đặt ra từ việc xem xét bản chất riêng, chung của sự vật và mối quan hệ của chúng hay gọi là quá trình suy luận. Quá trình suy luận là cơ sở hình thành giả thuyết khoa học.
Thí dụ: khi quan sát sự nẩy mầm của các hạt đậu hoặc dựa trên các tài liệu nghiên cứu khoa học người nghiên cứu nhận thấy ở hạt đậu bình thường, hạt no, vỏ hạt bóng láng thì nẩy mầm tốt và đều (đây là một kết quả được biết qua lý thuyết, tài liệu nghiên cứu trước đây,…). Như vậy, người nghiên cứu có thể suy luận để đặt ra câu hỏi đối với các hạt đậu có vỏ bị nhăn nheo thì nẩy mầm như thế nào? (Đây là câu hỏi). Giả thuyết được đặt ra là “Nếu sự nẩy mầm của hạt đậu có liên quan tới vỏ hạt, vậy thì hạt đậu có vỏ nhăn có thể không nẩy mầm”. Đây là một giả thuyết mà có thể dễ dàng làm thí nghiệm để kiểm chứng.

4.2.6. Kiểm chứng giả thuyết qua so sánh giữa tiên đoán với kết quả thí nghiệm

Bên cạnh việc kiểm nghiệm, một yếu tố quan trọng là đánh giá sự tiên đoán. Nếu như sự tiên đoán được tìm thấy là không đúng (dựa trên kết quả hay bằng chứng thí nghiệm), người nghiên cứu kết luận rằng giả thuyết (một phần giả thuyết) “sai” (nghĩa là bác bỏ hay chứng minh giả thuyết sai). Khi sự tiên đoán là đúng (dựa trên kết quả hay bằng chứng thí nghiệm), kết luận giả thuyết là “đúng”.
Thường thì các nhà khoa học vận dụng kiến thức để tiên đoán mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc. Thí dụ: giả thuyết đặt ra trên sự tiên đoán là “Nếu gia tăng phân bón, làm gia tăng năng suất, vậy thì các cây đậu được bón phân nhiều hơn sẽ cho năng suất cao hơn”. Nếu sự tiên đoán không dựa vào kiến thức khoa học, tài liệu nghiên cứu đã làm trước đây thì sự tiên đoán có thể vượt ra ngoài kết quả mong muốn như thí dụ ở Hình 4.1: Đáp ứng của năng suất theo liều lượng phân N cung cấp ở cây đậu.

BOM EDUCATION - Khai giảng khóa đào tạo “Lập kế hoạch kinh doanh bằng phần mềm”

,

BOM EDUCATION - Khai giảng khóa đào tạo “Lập kế hoạch kinh doanh bằng phần mềm”

Thông tin dịch vụ - Bom sẽ hướng dẫn bạn áp dụng phần mềm lập kế hoạch kinh doanh hàng đầu thế giới vào công việc lập một kế hoạch kinh doanh theo chuẩn quốc tế, mời gọi đầu tư, vay vốn ngân hàng.

Bên cạnh các thông tin cần thiết của một kế hoạch kinh doanh cần có theo chuẩn quốc tế, phần mềm còn tính toán chi tiết dự kiến lời lỗ (Profit and Loss), dòng tiền (Cash Flow) , bảng cân đối kế toán (Balance Sheet) và các chỉ số tài chính.

Vui lòng xem thông tin website: www.bom.edu.vn hoặc liên hệ: (08) 39.111.550

Sinh viên Việt Nam sử dụng tiếng Anh rất kém

Sinh viên Việt Nam sử dụng tiếng Anh rất kém

(Dân trí) - Trình độ tiếng Anh của sinh viên Việt Nam quá “í ẹ” so với các nước trong khu vực. Hầu như rất ít cử nhân tương lai đủ năng lực để sử dụng tiếng Anh làm phương tiện học tập, nghiên cứu, tham khảo tài liệu và giao tiếp hàng ngày.

Thông tin trên được đưa ra tại Hội thảo “Đào tạo tiếng Anh trong các trường ĐH không chuyên ngữ” do Bộ GD-ĐT phối hợp với Viện Khảo thí Giáo dục Hoa kỳ tổ chức sáng 5/12.

Theo báo cáo, trong 59 trường ĐH được khảo sát, chỉ có khoảng 49,3% sinh viên đáp ứng được yêu cầu về tiếng Anh, 18,9% sinh viên không đáp ứng được và 31,8% sinh viên cần đào tạo thêm.

Cũng theo kết quả khảo sát, phần lớn sinh viên ĐH sau khi tốt nghiệp chưa có khả năng sử dụng tiếng Anh trong môi trường làm việc.



Để khắc phục điểm yếu này, từ năm 2012, Bộ GD-ĐT sẽ triển khai giảng dạy bằng tiếng Anh đối với 4 chuyên ngành: Công nghệ thông tin, Tài chính - Ngân hàng, Quản trị kinh doanh, Du lịch. Và dự kiến đến năm 2020, các ĐH sẽ tổ chức dạy môn chuyên ngành có nhu cầu xã hội cao bằng tiếng Anh.

Pass4sure Cisco

,

Lập kế hoạch kinh doanh bằng phần mềm

, ,

BOM EDUCATION - khai giảng khóa đào tạo “Lập kế hoạch kinh doanh bằng phần mềm”

Thông tin dịch vụ - Khóa đào tạo “Lập kế hoạch kinh doanh bằng phần mềm” khai giảng với việc áp dụng phần mềm lập kế hoạch kinh doanh hàng đầu thế giới vào công việc lập một kế hoạch kinh doanh theo chuẩn quốc tế phục vụ kinh doanh, mời gọi đầu tư, vay vốn ngân hàng.

Bên cạnh các thông tin cần thiết của một kế hoạch kinh doanh cần có theo chuẩn quốc tế, phần mềm còn tính toán chi tiết dự kiến lời lỗ (profit and loss), dòng tiền (cash flow) và bảng cân đối kế toán (balance sheet) và các chỉ số tài chính.

Vui lòng xem thông tin website: www.bom.edu.vn hoặc liên hệ: (08) 9.111.550

Lập kế hoạch kinh doanh bằng phần mềm

,

BOM EDUCATION - khai giảng khóa đào tạo “Lập kế hoạch kinh doanh bằng phần mềm”

Thông tin dịch vụ - Khóa đào tạo “Lập kế hoạch kinh doanh bằng phần mềm” khai giảng với việc áp dụng phần mềm lập kế hoạch kinh doanh hàng đầu thế giới vào công việc lập một kế hoạch kinh doanh theo chuẩn quốc tế phục vụ kinh doanh, mời gọi đầu tư, vay vốn ngân hàng.

Bên cạnh các thông tin cần thiết của một kế hoạch kinh doanh cần có theo chuẩn quốc tế, phần mềm còn tính toán chi tiết dự kiến lời lỗ (profit and loss), dòng tiền (cash flow) và bảng cân đối kế toán (balance sheet) và các chỉ số tài chính.

Vui lòng xem thông tin website: www.bom.edu.vn hoặc liên hệ: (08) 9.111.550

Management information system

From Wikipedia, the free encyclopedia
(Redirected from Management information systems)
Jump to: navigation, search

Management Information System (MIS) is a subset of the overall internal controls of a business covering the application of people, documents, technologies, and procedures by management accountants to solving business problems such as costing a product, service or a business-wide strategy. Management Information Systems are distinct from regular information systems in that they are used to analyze other information systems applied in operational activities in the organization.[1] Academically, the term is commonly used to refer to the group of information management methods tied to the automation or support of human decision making, e.g. Decision Support Systems, Expert systems, and Executive information systems.[1]



Contents
[hide]

* 1 Background
* 2 Definition
* 3 Sources
* 4 See also
* 5 External links

[edit] Background

At the start, in businesses and other organizations, internal reporting was made manually and only periodically, as a by-product of the accounting system and with some additional statistics, and gave limited and delayed information on management performances.

In their infancy, business computers were used for the practical business of computing the payroll and keeping track of accounts payable and accounts receivable. As applications were developed that provided managers with information about sales, inventories, and other data that would help in managing the enterprise, the term "MIS" arose to describe these kinds of applications. Today, the term is used broadly in a number of contexts and includes (but is not limited to): decision support systems, resource and people management applications, project management, and database retrieval application.

[edit] Definition

'MIS' is a planned system of collecting, processing, storing and disseminating data in the form of information needed to carry out the functions of management. According to Phillip Kotler "A marketing information system consists of people, equipment, and procedures to gather, sort, analyse, evaluate, and distribute needed, timely, and accurate information to marketing decision makers." (Kotler, Phillip and Keller, Kevin Lane; Marketing Management, Pearson Education, 12 Ed, 2006)

The terms MIS and information system are often confused. Information systems include systems that are not intended for decision making. MIS is sometimes referred to, in a restrictive sense, as information technology management. That area of study should not be confused with computer science. IT service management is a practitioner-focused discipline. MIS has also some differences with Enterprise Resource Planning (ERP) as ERP incorporates elements that are not necessarily focused on decision support.

Professor Allen S. Lee states that "...research in the information systems field examines more than the technological system, or just the social system, or even the two side by side; in addition, it investigates the phenomena that emerge when the two interact." [2].

[edit] Sources

1. ^ a b O’Brien, J (1999). Management Information Systems – Managing Information Technology in the Internetworked Enterprise (in English). Boston: Irwin McGraw-Hill. ISBN 0071123733.
2. ^ Lee, AS (2001). "Editor’s Comments". MIS Quarterly 25 (1): iii-vii.

[edit] See also

* Bachelor of Computer Information Systems
* Business Intelligence
* Business Performance Management
* Business rules
* Data Mining
o Predictive analytics
o Purchase order request
* Enterprise Information System
* Enterprise Architecture
* Information technology governance
* Information technology management
* Knowledge Base
* Management
* Management by objectives
* Online analytical processing
* Online office suite

[edit] External links

* Computer and Information Systems Managers (U.S. Department of Labor)
* Index of Information Systems Journals
* MIS Web sites (Bournemouth University)
* MIS Links (University of York)
* Executive Information Systems: Minimising the risk of development

Information systems

Information systems
http://en.wikipedia.org/wiki/Information_system
From Wikipedia, the free encyclopedia
(Redirected from Information system)
Jump to: navigation, search

The term information system (BCIS, IS) sometimes refers to a system of persons, data records and activities that process the data and information in an organization, and it includes the organization's manual and automated processes. Computer-based information systems are the field of study for information technology, elements of which are sometimes called an "information system" as well, a usage some consider to be incorrect.
History of information systems

The study of information systems, originated as a sub-discipline of computer science, in an attempt to understand and rationalize the management of technology within organizations. It has matured into a major field of management, that is increasingly being emphasized as an important area of research in management studies, and is taught at all major universities and business schools in the world.

Information technology is a very important malleable resource available to executives.[4] Many companies have created a position of Chief Information Officer (CIO) that sits on the executive board with the Chief Executive Officer (CEO), Chief Financial Officer (CFO), Chief Operating Officer (COO) and Chief Technical Officer (CTO).The CTO may also serve as CIO, and vice versa.

[edit] Applications of information systems

Information systems deal with the development, use and management of an organization's IT infrastructure.

In the post-industrial information age, the focus of companies has shifted from being product-oriented to knowledge-oriented in the sense that market operators today compete in process and innovation rather than in products: the emphasis has shifted from the quality and quantity of production to the production process itself--and the services that accompany the production process.

The biggest asset of companies today is their information--represented by people, experience, know-how, innovations (patents, copyrights, trade secrets)--and for a market operator to be able to compete, he or she must have a strong information infrastructure, at the heart of which lies the information technology infrastructure. Thus the study of information systems focuses on why and how technology can be put into best use to serve the information flow within an organization.

[edit] Areas of work

Information Systems has a number of different areas of work:

* Information Systems Strategy
* Information Systems Management
* Information Systems Development

Each of which branches out into a number of sub disciplines, that overlap with other science and managerial disciplines such as computer science, pure and engineering sciences, social and behavioral sciences, and business management.

There are a wide variety of career paths in the information systems discipline. "Workers with specialized technical knowledge and strong communications skills will have the best prospects. People with management skills and an understanding of business practices and principles will have excellent opportunities, as companies are increasingly looking to technology to drive their revenue." [5]

[edit] Information technology development

The IT Department partly governs the information technology development, use, application and influence on a business or corporation. A computer based information system, following a definition of Langefors[6], is:

* a technologically implemented medium for recording, storing, and disseminating linguistic expressions,
* as well as for drawing conclusions from such expressions.

which can be formulated as a generalized information systems design mathematical program.

STUDY IS:
http://www.careercornerstone.org/infosys/infosys.htm

CHƯƠNG TRÌNH CỬ NHÂN BIÊN DỊCH TIẾNG ANH QUA MẠNG

Download Opera, the fastest and most secure browser
December 2009
S M T W T F S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31