Skip navigation.

Log in | Sign up

Để đầu tư CK thành công cần kiến thức, thông tin, nghệ thuật và may mắn

Welcome to Hoang Tam- Ngoc Tu blog: Nơi trao đổi những kiến thức về Tin Học & Tài Chính

Posts tagged with "Health"

Khi nào cơ thể suy yếu?

Khi nào cơ thể suy yếu?
(Dân trí) - Sau quá trình nghiên cứu kéo dài mười mấy năm, gần đây các chuyên gia tư vấn sức khỏe hàng đầu của Mỹ đã tiết lộ thời gian biểu về sự suy yếu của các cơ quan trên cơ thể.



Da mặt



Nữ giới: hơn 19 tuổi là bắt đầu xuất hiện những nếp nhăn đầu tiên.



Nam giới: Từ 35 tuổi trở lên da mặt bắt đầu hiện rõ những biểu hiện lão hóa như: khô rát, sần sùi, cơ mặt lỏng lẻo, không săn chắc, nét mặt không được rõ ràng.



Phổi



Nữ giới: 20 tuổi bắt đầu có dấu hiệu suy yếu, ở một vài người còn xuất hiện hiện tượng thở dốc, thở hổn hển hoặc hen suyễn.



Nam giới: Khi 30 tuổi, nam giới hít 946ml không khí/ lần thở. Tuy nhiên, đến 70 tuổi, con số này giảm xuống còn 473ml.



Não và hệ thống thần kinh



Nữ giới: bắt đầu có dấu hiệu lão hóa cơ quan này lúc 22 tuổi. Các tế bào thần kinh trong đại não có xu hướng giảm dần. Sau 40 tuổi, các tế bào thần kinh sẽ giảm dần khoảng 10.000 tế bào/ ngày, từ đó ảnh hưởng đến trí nhớ và chức năng của não.



Tóc



Nam giới bước sang tuổi 30 tóc bắt đầu có dấu hiệu bạc trắng, nữ giới khoảng trên dưới 35 sẽ có dấu hiệu này.



Sau 60 tuổi số lượng nang lông ít đi, tóc dần bị rụng với số lượng lớn. Sở dĩ tóc có màu đen là do trong tóc có chứa 1 loại hắc tố đặc biệt, cơ thể lại không có một tuyến riêng nào bài tiết đồng loạt hắc tố này, do đó hắc tố đen được sinh ra trong mỗi sợi tóc không giống nhau, kết quả là có sợi tóc đen, có sợi tóc trắng trong một chỉnh thể chung.



Ngực



Bộ phận này bắt đầu có dấu hiệu suy yếu chức năng hoạt động khi 35 tuổi. Cùng với lượng estrogen và hooc-môn sinh dục của phụ nữ ngày càng có xu hướng giảm, bầu ngực cũng dần suy yếu chức năng và biến dạng. Sau 40 tuổi, núm vú bị co rút lại rất nhanh.



Cơ bắp



30 tuổi bắt đầu suy yếu dần chức năng hoạt động và lão hóa. Cơ bắp không ngừng được hình thành và thoái hóa, cứ hình thành rồi lại thoái hóa dần. Sau 30 tuổi, tốc độ suy yếu, thoái hóa nhanh hơn tốc độ hình thành. Sau 40 tuổi, tốc độ hình thành cơ bắp mới sẽ giảm từ 0,5-2%.



Xương



Bộ phận chiếm phần lớn trọng lượng của cơ thể này bắt đầu có dấu hiệu suy yếu khi bước sang tuổi 35. Độ dày (mật độ) xương trên cơ thể trước 25 tuổi không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, đến 35 tuổi chất lượng của xương giảm dần, bước vào quá trình lão hóa tự nhiên. Khi 80 tuổi, chiều cao có thể bị giảm xuống 5cm.



Tim



40 tuổi bắt đầu lão hóa. Cùng với sự già yếu của cơ thể, khả năng co bóp đẩy máu cho toàn bộ cơ thể giảm đi.



Tỷ lệ mắc và phát bệnh tim ở nam giới trên 45 tuổi và nữ giới trên 55 tuổi khá cao.



Răng



40 tuổi, răng bắt đầu suy thoái chức năng hoạt động. Đây cũng là thời điểm lượng nước bọt tiết ra sẽ giảm dần. Nước bọt có thể cuốn trôi vi khuẩn. Lượng nước bọt giảm răng và lợi càng dễ bị sâu, thối rữa.



Mắt



40 tuổi có dấu hiệu lão hóa mạnh. Nhìn vật ở cự li gần vô cùng khó khăn. Tiếp đó, khả năng thích ứng của mắt đối với các loại ánh sáng giảm, vô cùng nhạy cảm với những tia sáng có cường độ mạnh, khó khăn khi lái xe vào ban đêm.



Thận



50 tuổi bắt đầu suy yếu chức năng. Chức năng lọc của thận bắt đầu suy yếu khi 50 tuổi, hậu quả là cơ thể mất chức năng giữ lại nước tiểu, luôn có nhu cầu đi vệ sinh. Ở người già 75 tuổi, thận hoạt động chỉ bằng một nửa người ở tuổi 30.



Tuyến tiền liệt



50 tuổi bắt đầu lão hóa. U xơ tiền liệt tuyến cũng dẫn tới hàng loạt những vấn đề về nội tiết trong cơ thể, phần đông đàn ông trên 50 tuổi đều mắc phải căn bệnh này. Tiền liệt tuyến ở trạng thái bình thường có kích thước khá nhỏ, tuy nhiên khi có dấu hiệu mắc u xơ hay lão hóa, nó có thể to gấp mấy lần bình thường.



Thính lực



Trên dưới 55 tuổi bắt đầu có dấu hiệu nghe kém, thính lực giảm rõ rệt. Phần lớn những người trên 60 tuổi giảm thính lực do tuổi già, do ảnh hưởng của quá trình lão hóa. Đó gọi là hiện tượng điếc ở người già. Màng nhĩ dày lên nên khiến người già khó khăn khi nghe những âm thanh có tần số cao.



Ruột



55 tuổi bắt đầu có dấu hiệu lão hóa. Đường ruột khỏe mạnh có khả năng tự cân bằng chức năng hoạt động của mình đối với những vi khuẩn có hại và có lợi xâm nhập vào cơ thể. Số lượng vi khuẩn có lợi cho đường ruột giảm nhanh chóng khi bước qua tuổi 55, điều này thường thấy rõ nhất ở ruột già. Kết quả là chức năng tiêu hóa của cơ thể giảm, nguy cơ mắc các bệnh về đường ruột tăng cao.



Lưỡi và mũi



60 tuổi bắt đầu thoái hóa. Có khoảng 10.000 tế bào vị giác phân bố đều trên đầu lưỡi. Sau 60 tuổi số lượng tế bào vị giác có thể bị giảm 1 nửa, chức năng của vị giác và khứu giác dần dần bị suy giảm.



Dây thanh (thanh đới)



65 tuổi bắt đầu suy giảm chức năng hoạt động, ngày càng có xu hướng khàn giọng. Nguyên nhân do tổ chức mô mềm ở cổ họng “lên lão”, ảnh hưởng đến mức độ kêu vang của âm thanh mỗi khi phát ra.



Giọng nói của nữ giới ngày càng có xu hướng khàn, chất lượng âm thanh giảm dần, âm lượng ngày một nhỏ hơn. Ở nam giới thì ngày càng yếu, âm lượng ngày càng cao hơn.



Bàng quang (bọng đái)



65 tuổi bắt đầu lão hóa. Ở độ tuổi này có thể bị mất chức năng kiểm soát nước tiểu, phải đi tiểu thường xuyên, liên tục. Thời điểm này, bàng quang đột nhiên co thắt lại ngay cả khi lượng nước tiểu chưa chiếm đầy diện tích.



Nếu 30 tuổi bàng quang có thể chứa được 2 phần nước tiểu thì khi bước sang tuổi 70, con số này giảm 1 nửa.



Khả năng co giãn của bàng quang giảm sẽ làm mất khả năng kiểm soát nước tiểu trong cơ thể cũng như không thể bài tiết hết lượng nước tiểu còn tồn đọng trong cơ thể, từ đó dẫn tới nguy cơ viêm nhiễm đường ruột.



Cơ quan sinh dục



Nam giới: 25% mắc chứng rối loạn cương dương ở độ tuổi 65.



Nữ giới: phần đông nữ giới ở độ tuổi 55 đều mắc chứng teo âm đạo, âm đạo khô, mất tính đàn hồi khiến “chuyện yêu” trở thành cực hình.



Gan



70 tuổi bắt đầu lão hóa. Có vẻ như gan là cơ quan thách thức duy nhất với quá trình lão hóa cơ thể. Khả năng tái tạo những tế bào gan vô cùng mạnh. Nếu cắt bỏ một phần nhỏ trên gan khi phẫu thuật, 3 tháng sau gan sẽ phát triển bình thường, vẫn hoàn chỉnh mọi chức năng.



Nếu như người hiến tặng gan không hút thuốc, uống rượu bia, không mắc bệnh di truyền nào thì gan của người 70 tuổi cũng có thể dùng để cấy ghép cho một thanh niên 20 tuổi.



Phạm Hằng

Bệnh tiêu chảy

Hiện tượng tiêu chảy chẳng qua là một hình thức tự bảo vệ của cơ thể chống lại những chất mà nó không thích, bằng cách tống những chất này ra ngoài.
Và đây cũng là lý do khiến đa số bác sĩ thường không cho thuốc men gì cả khi bạn đến khám về bệnh tiêu chảy. Hãy để cơ thể tự đề kháng, vậy sẽ tốt hơn. Đó là lý luận của đa số bác sĩ tại châu Âu trong kỷ nguyên y khoa hiện đại (khác với việc cho thuốc chống tiêu chảy của các bác sĩ ở thế hệ trước). Các bác sĩ hiện đại còn nói thêm rằng, việc dùng thuốc chống tiêu chảy có thể làm bệnh kéo dài lâu hơn. Chỉ nên dùng thuốc trong những trường hợp bất khả kháng như đang bận việc quan trọng.

Dù theo trường phái nào, cũ hay mới, các phương pháp dưới đây sẽ giúp bạn ứng phó một cách hữu hiệu với bệnh tiêu chảy.

Bạn có bị phản ứng với sữa không?
Đau bụng và tiêu chảy vì sữa là một trong những lý do phổ thông nhất. Vì thế, nếu bạn đang uống sữa mà bị tiêu chảy, hãy ngưng uống, bệnh sẽ tự động hết.

Bệnh tiêu chảy có thể bắt nguồn từ thuốc đau dạ dày
Các thuốc trị bệnh về dạ dày hoặc chống lại sình bụng (antigas) thường có magiê, chất này có tác dụng kích thích tiêu chảy sau khi uống. Hai loại thuốc thông dụng nhất là Mylanta và Maalox đều có magiê. Nếu bạn thường bị tiêu chảy vì lý do trên, hãy đọc kỹ nhãn hiệu của thuốc dạ dày, antacid hoặc antigas mà mình thường mua, tránh mua loại chứa magiê hydroxide.
Ngoài ra, các loại thuốc kháng sinh và ký ninh cũng có thể gây tiêu chảy.

Nên ăn uống như thế nào trong thời gian bị tiêu chảy?
1. Uống nhiều nước: Đây là việc quan trọng nhất trong thời gian này. Cơ thể bạn tống ra quá nhiều nước do tiêu chảy, cần được bồi đắp lại. Nếu không đủ lượng nước cần thiết, cơ thể có thể bị khô đi và dẫn đến những bệnh khác. Ngoài ra, nước có tác dụng như một chất súc rửa chất độc ra khỏi cơ thể bạn. Việc uống nước nhiều có thể sẽ làm bạn tiêu chảy nhiều hơn, nhưng bệnh sẽ mau khỏi hơn.

Chứng tiêu chảy cũng làm bạn mất đi một số đường và muối khoáng trong cơ thể. Song song với nước, bạn nên bồi bổ những chất này bằng cách pha một thìa cà phê đường cùng một chút xíu muối (cỡ bằng đầu đũa) trong một lít nước lọc. Dĩ nhiên, bạn có thể pha thêm nước cam hay nước chanh nếu cần hương vị thơm ngon.
Có một loại chất lỏng tuyệt đối không nên uống là sữa. Dù bạn có bị nhạy cảm với sữa hay không, chất này vẫn thường làm tiêu chảy nặng hơn. Các loại nước ngọt có hơi cũng không nên uống nhiều.

2. Tránh một số thức ăn làm tiêu chảy nhiều hơn như các loại đậu, bắp cải, giá... Nên tránh những loại trái cây có bột như lê, đào, mận... cùng những loại cám, khoai, ngũ cốc; ngay cả lúa gạo cũng không nên ăn nhiều quá .
Nhìn chung, khi bị tiêu chảy, bạn nên ăn ít và uống nhiều. Trường hợp sợ đuối sức vì không có chất bổ, có thể ăn những loại canh, súp có màu trong như xúp gà, nước phở; tránh những loại súp mầu đục như súp đậu hay khoai tây.

Nên uống thuốc gì?
Như đã nói ở trên, bạn không nên dùng bất cứ loại thuốc gì để chống lại cơn tiêu chảy, vì nó sẽ làm chất độc nán lại trong cơ thể lâu hơn và có thể gây những tác hại khác.
Dù sao, có đôi lúc bạn cần ngừng cơn tiêu chảy vì quá mệt hoặc quá bận rộn, có thể dùng các loại sau đây:
- Pepto-Bismol hoặc Kaopectate: tiêu chảy từ nhẹ đến trung bình.
- Imodium: tiêu chảy nặng.
Những thuốc này đều có bán tự do trong các tiệm thuốc tây.
Ngoài ra, những thực phẩm có khuynh hướng tạo bệnh táo bón như trà đậm, chuối... cũng có kết quả tương đối tốt với chứng tiêu chảy nhẹ.

Lưu ý: Bệnh tiêu chảy rất hay lây. Người bị tiêu chảy không nên nấu nướng vì vi trùng, vi khuẩn hoặc chất độc có thể bám vào thức ăn, gây truyền nhiễm cho người khác. Hãy rửa tay thật kỹ trước khi ăn và sau khi đi cầu.

Theo SKCĐ

Mat trai cua cafe

Bên cạnh những tác dụng có lợi của cà phê với sức khỏe, các nhà khoa học (anh) cũng đã khuyến cáo rằng không nên lạm dụng cà phê vì cà phê có những tác dụng phụ và việc sử dụng liều cao có thể có hại cho sức khỏe.


Cà phê có thể gây bệnh ung thư?


Đã tìm thấy dấu vết chất gây ung thư trong cà phê! Đó là một thông tin do các nhà khoa học đưa ra gần đây. Theo Reuters: Các nhà khoa học Đức cho biết, acrylamide thành phần được xem có thể gây ung thư ở súc vật đã tìm thấy trong tất cả 24 loại cà phê bột và 7 loại cà phê hơi (espresso) được thử nghiệm. Hàm lượng chất này trong cà phê pha thấp hơn nhiều so với trong cà phê bột. Chủ tịch Hiệp Hội cà phê Đức Winfried Tigges cho rằng acrylamide không có mặt ở cà phê chưa chế biến, nó chỉ hình thành trong quá trình rang. Ông cho biết, các nhà sản xuất cà phê đang nghiên cứu tìm cách tạo nên cà phê không chứa chất này. Một số nghiên cứu ban đầu đã cho thấy, acrylamide (được tìm thấy trong khoai tây rán, cà phê, nước và thực phẩm chứa hydrat cacbon như bánh mì nướng hoặc rán…) có thể gây ung thư ở động vật.


Cà phê gây rối loạn chuyển hóa đường


Cà phê có thể gây rối loạn chuyển hóa đường. Nghiên cứu mới đây của Mỹ và Hà Lan cho thấy, cà phê làm giảm độ nhạy cảm của cơ thể với insulin, một hormone có tác dụng điều hòa nồng độ đường trong máu. Việc sử dụng quá nhiều cà phê cũng làm tăng lượng hormone gây stress và khiến huyết áp tăng nhẹ. Ngoài ra lượng acid béo tự do trong máu của nhóm này cũng cao hơn bình thường.


Cà phê có thể gây tắc nghẽn mạch máu và tăng huyết áp


Người bị cao huyết áp không nên uống cà phê. Ly cà phê trong ngày sẽ khiến mạch máu bị nghẽn ít nhất 2 giờ, làm tăng huyết áp. Còn ly thứ 2 và thứ 3 tạm thời làm nghẽn động mạch. Đó là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học tại bệnh viện Henry Dunant (Hy Lạp), vừa được công bố tại cuộc họp của Tổ chức Tim mạch châu Âu. Theo bác sĩ Charalambos Vlachopoulos, người đứng đầu cuộc nghiên cứu, những bệnh nhân cao huyết áp nên chuyển sang uống loại cà phê không có caffeine, hoặc tốt nhất là không nên uống nữa.


Cà phê - một trong những nguyên nhân gây xơ vữa động mạch


Theo Pravda, uống thường xuyên cà phê có thể làm quá trình viêm nhiễm trong cơ thể diễn ra nhanh hơn, dẫn đến một số căn bệnh nghiêm trọng. Các nhà khoa học thuộc Đại học Harokopian tại Athens (Hy Lạp) đã cho biết như vậy sau khi nghiên cứu trên hơn 3.000 người khỏe mạnh. Theo đó, những ai uống hơn một tách cà phê/ngày thì những thành tố gây viêm nhiễm trong máu tăng cao hơn, mà trong nhiều trường hợp làm hại những tế bào khỏe mạnh và gây ra những căn bệnh kinh niên như chứng xơ vữa động mạch. Nguy cơ bị viêm nhiễm do việc uống cà phê gây ra đều như nhau đối với mọi đối tượng bất kể giới tính, độ tuổi cũng như thói quen hút thuốc.


Uống cà phê, hút thuốc lá sẽ tăng nguy hại với tim mạch


Theo BBC News, Reuters: Các chuyên gia Hy Lạp tiến hành nghiên cứu để tìm hiểu và kết hợp của cả, thuốc lá, cà phê đối với tim mạch. Nghiên cứu tiến hành trên 24 người trưởng thành cho thấy, tác động kết hợp của cà phê và thuốc lá làm tăng khả năng xơ cứng động mạch. Điều này có nghĩa thuốc lá và cà phê có thể tương tác lẫn nhau, tác động xấu đến động mạch.


Cà phê tác hại tới thần kinh


Theo Tổ chức Y tế Thế giới, các nhà khoa học đã kết luận: Lạm dụng cà phê sẽ gây những tác hại trên thần kinh, gây cảm giác bồn chồn, lo lắng, mất ngủ, căng thẳng nghiêm trọng hơn còn dẫn đến nôn mửa và rối loạn dạ dày. Do còn nhiều loại thực phẩm có chứa caffeine nên các bác sĩ đã khuyến cáo người tiêu dùng hãy đọc kỹ thành phần của tất cả các loại thức ăn có ghi nhãn mác trước khi sử dụng để điều chỉnh lượng caffeine hàng ngày cho phù hợp.


BS. Quách Tấn Vinh - Sức Khỏe & Đời Sống

10 bệnh gây mệt mỏi

10 bệnh gây mệt mỏi
(Dân trí) - Nhiều người mệt mỏi không rõ nguyên nhân tại sao. Dưới đây là 10 bệnh có thể làm bạn cảm thấy như vậy.


Trong số 20 - 30% trường hợp mệt mỏi thì có nguyên nhân là từ một bệnh dưới đây. Nếu bệnh tật gây cho bạn sự mỏi mệt thì bạn sẽ cảm thấy đột ngột mỏi mệt hoặc ngày càng mệt mỏi hơn.



Nếu cảm thấy quá mệt khi đi bộ, làm việc, tắm hay đơn giản là mặc quần áo thì hẳn đó là một bệnh nghiêm trọng. Vậy sự mệt mỏi của bạn có phải là triệu chứng của một bệnh nào đó?



1. Suy nhược và u sầu



Cứ 10 người thì có 1 người bị suy nhược trong một giai đoạn nào đó. Rất nhiều người suy nhược phàn nàn rằng họ thấy mệt mỏi. Sự mất cân bằng trong các chất dẫn truyền thần kinh như serotonin có thể gây ra mệt mỏi, thờ ơ và có cảm giác đau đầu.



2. Bệnh thiếu máu



Thiếu sắt hay hồng cầu có thể khiến lượng ôxy tới các tế bào giảm và nếu não, cơ bắp và một số bộ phận khác không đủ ôxy sẽ khiến bạn mệt mỏi, đặc biệt là khi bạn đi bộ, hay làm việc gì cần tới thể lực.



3. Bệnh về khớp



Đặc điểm của các bệnh này, kháng thể chống lại chính cơ thể. Sự tấn công của hệ miễn dịch gây suy kiệt năng lượng cơ thể. Bệnh về khớp gồm viêm khớp, thấp khớp, luput, sừng hóa da.



4. Trục trặc tuyến giáp



Tuyến giáp sản xuất ra các hormone quyết định tốc độ chuyển dưỡng của cơ thể. Nếu hormone tuyến giáp quá ít thì sẽ làm quá trình chuyển dưỡng chậm lại. Bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi, da và tóc trở nên khô, xỉn và bạn có thể tăng cân do cơ thể chậm “đốt cháy” calo. Chân có cảm giác bị sưng và nhịp tim chậm lại. Bạn có thể cảm thấy mệt mỏi đến mức mà cơ thể bị suy nhược.



5. Tiểu đường và kháng cự insulin



Nếu bạn bị tiểu đường typ 1 hay typ 2 thì các tế bào trong cơ thể sẽ không có đủ năng lượng để thực hiện chức năng cơ bản. Chỉ một sự cố gắng nhỏ cũng đủ để làm bạn thấy mỏi mệt vô cùng.



6. Có vấn đề về huyết áp

Huyết áp cao hay thấp đều gây mệt mỏi. Một số loại thuốc huyết áp cũng có thể gây mệt mỏi. Mệt mỏi cũng là 1 triệu chứng quan trọng cho thấy thận có vấn đề nào đó như chức năng lọc thải trục trặc khiến huyết áp tăng cao và gây ra bệnh thiếu máu, làm bạn thấy mệt mỏi.



Huyết áp thấp thường khiến người mang bệnh bị chóng mặt và lờ đờ.



7. Những bệnh liên quan tới sốt và viêm nhiễm



Hầu hết các viêm nhiễm đều làm bạn cảm thấy ốm yếu, mệt mỏi, đặc biệt là khi chúng có kèm theo sốt.



Nếu bệnh ở nội tạng như phổi, tủy xương hay cơ tim, tình trạng mệt mỏi sẽ rất trầm trọng. Ví như các bệnh viêm màng trong tim, viêm cơ tim, viêm phổi không triệu chứng (thường gặp ở người già), HIV (kèm thêm giảm cân, tiêu chảy, viêm phổi, thiếu máu), lao và viêm gan.



8. Ngừng thở khi ngủ và có vấn đề về tai mũi họng



Viêm mũi mãn tính (dị ứng), viêm xoang, sưng amidan, ngưng thở khi ngủ đều có thể gây rối loạn giấc ngủ và làm giảm lượng ôxy cung cấp cho các tế bào. Thậm chí bạn sẽ thường xuyên cảm thấy buồn ngủ, mệt mỏi và dễ cáu kỉnh.



9. Bệnh tim



Mệt mỏi có thể là dấu hiệu đầu tiên của một vấn đề nào đó ở tim, loạn nhịp tim, bệnh mạch vành và nhồi máu cơ tim.



Theo các nhà nghiên cứu ĐH Harvard (Mỹ), 71% phụ nữ mệt mỏi trong 1 tháng trước khi bị nhồi máu cơ tim và 43% trong khi có một cơn nhồi máu cơ tim nhẹ. Dấu hiệu quan trọng của chứng nhồi máu cơ tim ở bệnh nhân đái tháo đường là hơi thở ngắn, mệt mỏi và không đau đớn.



10. Những triệu chứng không nên bỏ qua



Một số triệu chứng kết hợp với những đợt mệt mỏi đột ngột có thể là dấu hiệu báo trước một bệnh nghiêm trọng nào đó. Đó có thể là tiếng chuông cảnh báo mà bạn cần hết sức lưu tâm khi đau ngực, thở gấp, các cơ bắp trở nên yếu ớt, có ý nghĩ tự tử.



Những biểu hiện này có thể là dấu hiệu của bệnh nhồi máu cơ tim, đột quỵ hay trầm cảm nặng. Hãy đến bác sĩ ngay lập tức. Hơi thở gấp, đặc biệt là khi bạn nằm xuống hay tập luyện, có thể là dấu hiệu của bệnh mạch vành hay các bệnh liên quan tới phổi.



Sụt cân đột ngột có thể là dấu hiệu của bệnh ung thư, tiểu đường, bệnh liên quan tới tuyến giám, viêm nhiễm mãn tính.



Sốt và đổ mồ hôi đêm có thể là dấu hiệu của một viêm nhiễm nghiêm trọng chẳng hạn như HIV, sốt Malta, tuberculosis, hay endocarditis.



Da vàng hay xám hoặc mắt vàng có thể biểu hiện của thiếu máu hay viêm gan.



Một số biểu hiện khác chẳng hạn như nhìn 1 hóa 2, mắt mờ, nổi gân ở cổ, da mất cảm giác, đau ở vùng dạ dày, yếu cơ, lõm ở tay/nách/háng, xuất huyết... cũng cần đi khám ngay.



Nhân Hà

Theo Health24

Sỏi thận ko lam YEU SINH LY

Sỏi thận và “yếu sinh lý”
Tôi 42 tuổi, siêu âm có sỏi thận 12 mm, nghe nói ăn thơm với đường phèn chưng cách thủy sẽ làm tan sỏi, xin hỏi điều này có đúng không? Sỏi thận có liên quan gì đến tình trạng “yếu sinh lý” của tôi không? Các bệnh này có điều trị hết không và phải chữa ở đâu? T.P.V (Q.3-TPHCM)

- ThS-BS Nguyễn Thành Như, Bệnh viện (BV) Bình Dân TPHCM, trả lời: Trong tây y không thấy nói đến phương thuốc “thơm + đường phèn” làm tan sỏi thận. Tây y có nhiều cách trị sỏi thận, xa xưa như mổ lấy sỏi hoặc hiện đại như bắn tan sỏi ngoài cơ thể (không mổ) hay qua nội soi (có mổ nhưng mổ nhẹ). Trường hợp sỏi urát (rất hiếm gặp ở VN) thì có thể dùng thuốc làm kiềm hóa nước tiểu để làm tan sỏi.

Nhìn chung, sỏi thận không làm “yếu sinh lý”, trừ khi lâu ngày bệnh dẫn đến suy thận hoặc sỏi gây sốt, đau nhức kéo dài làm người bệnh không còn ham thích chi nữa. Cả hai bệnh sỏi thận và “yếu sinh lý” có thể chữa tại khoa tiết niệu của các BV đa khoa hay chuyên khoa như: BV Chợ Rẫy, BV Bình Dân.

Bị sỏi thận phải kiêng thức ăn chứa canxi?

Bị sỏi thận phải kiêng thức ăn chứa canxi?

TTO - Chồng tôi bị sỏi thận và đã điều trị hết sỏi. Tuy nhiên tôi lo chồng tôi bị sỏi tái phát nếu không kiêng cữ ăn uống. Cho tôi hỏi chồng tôi phải ăn uống như thế nào để phòng ngừa bị sỏi tái phát?

Tôi nghe một số người nói là phải kiêng thức ăn chứa nhiều canxi, không được ăn tôm cua, kiêng uống sữa, kiêng ăn rau muống. Nhưng tôi nghĩ kiêng như vậy thì sẽ bị loãng xương mất! Không biết có đúng không? Xin phòng mạch cho lời khuyên.

Đỗ Việt Hòa

- Trả lời của Phòng mạch Online:

Chào chị,

Thắc mắc của chị rất xác đáng. Một người đã từng bị sỏi thận nếu kiêng cữ, không dám ăn thức ăn có chứa canxi thì cơ thể sẽ thiếu canxi, sẽ gây ra loãng xương. Và nếu thỉnh thoảng có dự tiệc, hoặc đi Vũng Tàu, Phan Thiết, Nha Trang mà phải kiêng, không được ăn tôm, cua thì cũng đáng để lên tiếng thắc mắc lắm chứ!

Đây cũng là câu hỏi của tất cả bệnh nhân bị sỏi thận.

Có nhiều loại sỏi thận. Trong đó thường gặp nhất (80-90%) là sỏi canxi, gồm canxi oxalat, canxi phosphate và canxi oxalat phosphat. Ngoài ra những loại sỏi ít gặp hơn là sỏi Struvit, sỏi Acid uric, sỏi Cystin. Vì đa số sỏi thận là sỏi canxi nên nhiều người nghĩ rằng cần kiêng ăn hoàn toàn canxi để tránh bị sỏi thận, thật sự là không phải vậy.

Quá trình hình thành sỏi thận là một quá trình phức tạp, do nhiều yếu tố gây ra chứ không phải chỉ là do bị dư canxi. Nhiều người ăn uống kham khổ kiêng cữ canxi vẫn bị sỏi thận, ngược lại nhiều người uống nhiều sữa, ăn nhiều tôm cua nhưng đâu có bị sỏi thận.

Vậy chế độ ăn uống như thế nào ở một người đã từng có sỏi thận để tránh bị tái phát? Dưới đây là 7 điều cần ghi nhớ về chế độ ăn mà các bác sĩ thường dặn dò bệnh nhân bị sỏi thận:

1. Uống nhiều nước (đây là điều quan trọng nhất trong 7 điều): Nên uống khoảng 2,5-3 lít nước lọc mỗi ngày (chia ra uống đều nhiều lần trong ngày) hoặc ăn uống làm sao để có lượng nước tiểu đạt trên 2,5 lít trong một ngày. Đi tiểu nước tiểu màu trắng trong chứng tỏ uống đủ lượng nước. Uống nhiều nước vừa giúp tránh bị sỏi thận vừa giúp tống xuất những viên sỏi nhỏ nếu có.

2. Ăn lạt, ăn ít thịt động vật: Ăn thực phẩm chứa ít muối, ăn ít các loại thịt. Có thể ăn cá thay cho thịt. Tôm cua có thể ăn vừa phải được.

3. Ăn uống điều độ thực phẩm chứa canxi (như: sữa, phomai…): Mỗi ngày có thể dùng khoảng 3 ly sữa tươi hoặc một số lượng tương đương các sản phẩm từ sữa như: bơ, phomai (khoảng 800-1.300mg chất canxi). Không nên kiêng cữ quá mức những thực phẩm chứa canxi vì như thế sẽ gây ra mất cân bằng trong việc hấp thu canxi, khiến cơ thể hấp thu nhiều hơn oxalat từ ruột và sẽ tạo sỏi thận, ngoài ra kiêng cữ thực phẩm chứa canxi sẽ bị loãng xương.

Những trường hợp bị sỏi thận tái phát nhiều lần, sau khi xét nghiệm kiểm tra có bằng chứng đa canxi niệu do tăng hấp thu canxi từ ruột thì cần kiêng canxi, nhưng không phải kiêng hoàn toàn, mà cần ăn khoảng 400mg mỗi ngày, tức tương đương 1,5 ly sữa tươi.

4. Giảm các thực phẩm chứa nhiều oxalat như: trà đặc, cà phê, chocolate, bột cám, ngũ cốc, rau muống…

5. Nên uống nhiều nước cam, nước chanh, nước bưởi tươi: những loại thức uống này chứa nhiều citrat giúp chống lại sự tạo sỏi thận.

6. Nên ăn nhiều rau tươi: giúp tiêu hóa nhanh, giảm hấp thu các chất gây sỏi thận.

7. Tránh ăn nhiều thực phẩm chứa chất purin gây sỏi thận như: cá khô, thịt khô, tôm khô, lạp xưởng, các loại mắm, lòng heo, lòng bò…

Cần lưu ý ở những người bị sỏi thận tái phát nhiều lần nên đi khám kiểm tra tìm nguyên nhân gây sỏi tái phát để có chế độ điều trị và chế độ ăn cụ thể phù hợp đối với từng nhóm nguyên nhân. Có nhiều nhóm nguyên nhân khác nhau gây sỏi tái phát như dị dạng, hẹp đường tiết niệu, do nhiễm trùng niệu, bệnh acid hóa do ống thận, đa canxi niệu do tăng thải canxi từ xương, đa canxi niệu do tăng hấp thu canxi từ ruột, đa canxi niệu do thận, đa oxalat niệu nguyên phát, đa oxalat niệu do ăn uống, đa uric niệu…

Bác sĩ CKI PHẠM NAM VIỆT

BV Đại học Y dược TP.HCM

Chuối hột chữa sỏi thận

Chuối hột chữa sỏi thận
Quả chuối hột (còn gọi là chuối chát) thường được dân gian dùng chữa bệnh sỏi thận bằng cách dùng hạt nấu nước uống trong vài tháng. Ngoài ra, nó cũng có tác dụng chữa một số bệnh khác như cảm sốt, táo bón, hắc lào.

Quả chuối hột lành, khi chín ăn ngọt, nhưng có nhiều hột. Để chữa sỏi thận, dân gian chọn chuối thật chín, lấy hạt phơi khô, tán nhỏ nấu lấy nước uống. Cho 7 thìa nhỏ (thìa cà phê) bột hạt chuối vào 2 lít nước đun nhỏ lửa, khi còn 2/3 nước là được. Uống hằng ngày như nước trà liền trong 2-3 tháng, cho kết quả khá tốt.



Cũng có thể lấy quả chuối hột đem thái mỏng, sao vàng, hạ thổ 7 ngày; mỗi ngày lấy một vốc tay (chừng một quả) sắc với 3-4 bát nước, uống vào lúc no.



Chuối hột còn được dùng trong các trường hợp sau:



Chữa bệnh tiểu đường



Đào lấy củ cây chuối hột, rửa sạch, giã nát ép lấy nước uống, dùng thường xuyên và lâu dài để ổn định đường huyết. Vì củ chuối không nhiều và việc đào củ phức tạp nên có thầy thuốc cải tiến cách làm và cũng thu được hết quả tốt.



Chọn cây chuối hột có bắp đang nhú, cắt ngang cây (cách mặt đất 20-25 cm) và khoét một lỗ rỗng to ở thân chuối, để một đêm, sáng hôm sau múc nước từ lỗ rỗng (do gốc thân cây chuối tiết ra) mà uống. Dùng thường xuyên sẽ ổn định được đường huyết.



Chữa cảm nóng sốt cao phát cuồng



Đào lấy củ chuối hột, rửa sạch, giã nát, vắt lấy một bát nước cho người bệnh uống, sẽ giảm sốt và không nói mê.



Chữa hắc lào



Lấy một quả chuối hột còn xanh tươi nhiều nhựa, cắt đôi, cầm xát trực tiếp vào nơi hắc lào, bệnh đỡ nhanh, dùng liên tục 7-8 ngày là khỏi.



Trẻ em táo bón



Lấy 1-2 quả chuối chín đem vùi vào bếp lửa, khi vỏ quả ngả màu đen, ruột chín nhũn thì lấy ra để nguội, cho trẻ ăn, khoảng mươi phút sau là đi đại tiện được.



Ngoài ra, lá và vỏ quả chuối khô còn được sắc uống làm thuốc lợi tiểu và chữa được chứng phù thũng; nước sắc quả chuối hột chữa đái rắt. Rễ cây chuối hột sắc uống chữa cảm mạo.



BS Vũ Nguyên Khiết

Sức Khỏe & Đời Sống

Thủy đậu vào mùa, nhiều người lớn mắc bệnh

Thủy đậu vào mùa, nhiều người lớn mắc bệnh
Ảnh: 60s.com.vn.

Thấy khắp người nổi những nốt sần nhỏ, đỏ lại hơi ngứa, Thanh (23 tuổi, Hà Nội) nghĩ mình dị ứng thời tiết. Thế nhưng chỉ sau một ngày mặt cô bắt đầu xuất hiện mụn nước - biểu hiện của bệnh thủy đậu.

Trong tháng 2, Bệnh viện Da liễu Hà Nội tiếp nhận 192 ca đến khám vì thủy đậu, tăng gần 20 ca so với tháng trước, trong đó có nhiều trường hợp là người lớn.

Bác sĩ Nguyễn Minh Quang, Trưởng khoa Khám bệnh, Bệnh viện Da liễu Hà Nội cho biết, hiện bệnh thủy đậu đang vào mùa nên số ca mắc tăng, chủ yếu là trẻ nhỏ và có cả người lớn. Người lớn đến bệnh viện khám thường là khi bệnh đã nặng, xuất hiện mụn nước dẫn đến tổn thương, như trường hợp của Thanh trên mặt đã có mụn bong mủ.

Thông thường, khi nói đến thủy đậu, nhiều người chỉ nghĩ đến trẻ nhỏ. Vì thế khi có những sốt sần đỏ nhỏ trên người, đa phần người lớn đều không nghĩ mình mắc thủy đậu mà chỉ bị dị ứng thời tiết hoặc một loại thức ăn nào đó.

"Thủy đậu là bệnh lành tính, nhưng người dân không nên chủ quan, đặc biệt với người lớn mắc. Vì người lớn bị bệnh thường nặng hơn trẻ con do bệnh chuyển biến rất nhanh, triệu chứng rầm rộ, 1-2 ngày mụn đã lên rất nhiều", bác sĩ Quang nói.

Bệnh chủ yếu xảy ra ở trẻ nhỏ vào mùa đông và xuân. Tuy nhiên, người lớn khi tiếp xúc với nguồn bệnh cũng có khả năng mắc nếu cơ thể chưa có kháng thể với bệnh.

Bệnh thủy đậu do virus Varicella zoster gây ra và lây qua đường hô hấp. Bệnh có thể lây ngay trong thời gian ủ bệnh (trước khi nổi mụn) 10-20 ngày. Lúc đầu người bệnh có thể cảm thấy mệt mỏi, đau đầu, hơi sốt, đau họng, đau cơ, sau đó xuất hiện những nốt mụn nhỏ.

Khi mắc bệnh người dân nên đến các cơ sở y tế khám để điều trị kịp thời, tránh những biến chứng nặng như viêm phổi, viêm não. Người chưa mắc bệnh nên hạn chế tiếp xúc, nói chuyện để tránh lây bệnh.

Biện pháp phòng ngừa thủy đậu tốt nhất hiện nay là tiêm văcxin. Trẻ đủ 1 tuổi trở lên có thể tiêm phòng thủy đậu với 1 liều. Trẻ từ 12 tuổi trở lên nếu chưa được tiêm ngừa lần nào thì phải tiêm hai liều, cách nhau 6-8 tuần.

Nam Phương

Nhiễm trùng đường tiểu

Nhiễm trùng đường tiểu

Bác Sĩ ĐẶNG PHÚ ÂN



• Nhiễm trùng đường tiểu nơi phái nữ có tần suất phát hiện nhiều gấp 10 lần hơn nơi phái nam.

• Đàn bà trong thai kỳ và đàn bà lớn tuổi sau thời kỳ mãn kinh cần thận trọng.

• Những lời khuyên thực tiễn cho phái nữ ở mọi lứa tuổi.Nhiễm trùng đường tiểu là một tình trạng bệnh lý rất thường gặp nơi phái nữ. Kinh nghiệm hành nghề trong việc tiếp xúc với bệnh nhân cho thấy một số không nhỏ phụ nữ Việt Nam ta thường hay đồng hóa nhiễm trùng đường tiểu với những bệnh về đường sinh dục, nên rất nhiều phụ nữ đã e ngại, cảm thấy ngượng ngùng khi phải khai ra những triệu chứng của đường tiểu. Chỉ khi nào thấy đau đớn quá mới đi khám thầy thuốc, thường là ở tình trạng đã quá nặng với nhiều biến chứng.


Nếu kể về tần suất phát hiện: nhiễm trùng đường tiểu ở phái nữ xẩy ra gấp 10 lần nhiều hơn ở phái nam (theo một tài liệu nghiên cứu của giáo sư Ralph E. Cutler thuộc Đại Học Y Khoa Loma Linda ở Hoa Kỳ) và trong một bài tường trình ở một Hội Nghị Quốc Tế về Niệu Khoa năm 2000 thì gần 25% phái nữ bị ít nhất một lần nhiễm trùng đường tiểu trong đời, khoảng 3% phụ nữ cứ mỗi năm bị ít nhất một lần nhiễm trùng đường tiểu, tần suất này cứ tăng 1% theo mỗi 10 tuổi lớn hơn.

Chúng ta biết rằng: bộ phận niệu ở phái nữ cũng như ở phái nam được cấu tạo bởi hai quả thận (nằm ở sống lưng, ngang với đốt xương sống lưng số 1 và số 2, ngay góc hợp bởi cột sống và xương sườn cuối cùng). Hai quả thận lọc máu thành nước tiểu. Nước tiểu chảy theo chiều từ hai quả thận xuống bọng đái qua hai ống dài gọi là niệu quản (uterère). Bọng đái nằm trong hốc xương chậu. Từ bọng đái nước tiểu thoát ra ngoài bằng ống thoát tiểu hay còn gọi là niệu đạo (urèthre). Niệu đạo của phụ nữ ngắn, chỉ dài khoảng 4 cm, ngắn hơn niệu đạo ở phái nam khoảng 4, 5 lần. Lỗ thoát tiểu ở phái nữ nằm ngay ở trên và sát âm đạo (vagin). Âm đạo lại rất gần với hậu môn (cách nhau bằng một vùng gọi là hội âm (périnée) dài khoảng 2-3 cm).

Vị trí có thể tương quan giữa lỗ thoát tiểu của một niệu đạo đối với hậu môn và âm đạo rất là gần kề như vậy giải thích được tình trạng nhiễm trùng rất thường xẩy ra do sự lậy lan từ hậu môn, bộ phận sinh dục (âm đạo, tử cung) qua hệ thống đường tiểu.

Ở phái nam, niệu đạo dài và khúc khuỷu quanh co hơn nhiều, phải đi qua hai lần cơ vòng trước khi gặp bọng đái và lỗ thoát tiểu ở đầu dương vật, tương đối xa với hậu môn và đặc biệt không có âm đạo (!), điều đó giải thích tại sao phái nam lại ít bị nhiễm trùng đường tiểu hơn phái nữ (tuy nhiên đàn ông về già lại bất lợi hơn ở chỗ có nhiếp hộ tuyến hay gây rắc rối!)


Nhiễm trùng đường tiểu do đâu mà có?

Nguyên nhân của 80% nhiễm trùng niệu là do cơ chế nhiễm trùng ngược chiều (infection ascendante), có nghĩa là ngược lại chiều của luồng nước tiểu. Nói một cách dễ hiểu hơn: Vi trùng như một đoàn quân từ ngoài (vùng hậu môn, âm đạo...) tiến vào lỗ tiểu, rồi kết tụ dọc theo niệu đạo (mécanisme de colonisation bactérienne) rồi tấn công vào bọng đái và từ đó bọng đái nhiễm trùng ngược lên thận (khi hệ thống chống ngược chiều (anti-reflux) bình thường ở chỗgần niệu quản và bọng đái bị bệnh hay bị hủy hoại).

- Tội phạm nào là nguyên nhân chính của nhiễm trùng?

- 75%-80% là vi trùng E. Coli.

- Những cuộc nghiên cứu gần đây nhất cho thấy ngoài yếu tố vi trùng gây bệnh, còn có các yếu tố khác như: kháng thể tại chỗ nơi đường tiểu bị giảm, hoặc sự gia tăng của những trung tâm tiếp nhận E. Coli trên niêm mạc (récepteurs épitheliaux pour E. Coli), hoặc các kháng sinh mới được phát hiện gần đây như HLA-A3...mà chúng tôi xin miễn bàn trong phạm vi hạn hẹp của bài này.

Những triệu chứng nào báo hiệu bị nhiễm trùng đường tiểu?

- Ngoài một số trường hợp nước tiểu có vi trùng nhưng bệnh nhân hoàn toàn không một triệu chứng gì cả gọi là tình trạng nhiễm niệu vô chứng (bactériurie asymptomatique).

- Phần lớn là có triệu chứng:

• Hoặc của viêm bọng đái cấp tính (cystiteaigue) hay viêm niệu đạo cấp tính (uréthrite aigue) thuộc hệ thống bộ niệu dưới:

- Tiểu khó, tiểu cảm thấy buốt nhiều khi rất đau.

- Bệnh nhân đi tiểu vặt luôn, khi mắc đi tiểu phải đi ngay lập tức, không thể cầm được.

- Nhiều khi thấy nước tiểu không còn trong nữa mà trở nên đục hoặc có máu.

- Bệnh nhân cảm thấy đau ở phần dưới rốn hay hai bên hốc chậu của bụng.

• Hoặc:

- Đau lưng dữ dội, ở hốc lưng.

- Sốt cao, nhiều khi thấy ớn lạnh đi kèm theo hoặc không các triệu chứng của viêm bọng đái vừa kể trên thì phải thận trọng là có thể đã bị nhiễm trùng ở bồn thận và thận cấp tính (pyélonéphrite aigue) thuộc hệ thống bộ niệu trên.


Khi có những triệu chứng nhiễm trùng đường tiểu phải làm gì?

- Uống nước nhiều, nếu có thể dùng nước cốt canneberges (jus de canneberges) là tốt nhất vì gần đây một số nghiên cứu cho thấy jus de canneberges vừa có tác dụng diệt trùng (anti-bactérienne) vừa làm lợi niệu.

- Đi thăm khám ngay thầy thuốc.

Đối với những triệu chứng hiển hiện vừa kể trên, thầy thuốc đã có một định bệnh tương đối rõ ràng là bệnh nhân bị nhiễm trùng đường tiểu dưới hoặc trên, tùy thuộc các dấu hiệu thăm khám lâm sàng.

- Thầy thuốc gia đình có thể cho làm thử nghiệm tại chỗ nước tiểu của bệnh nhân với một que thử (batonnets) để phát hiện các phản ứng nhiễm trùng lương tính và cho trị liệu tạm thời ngay.

Tuy nhiên nếu nhiễm trùng tái đi tái lại, thầy thuốc phải tiến xa hơn trong các thử nghiệm:

- Cho cấy vi trùng nước tiểu và khảo sát độ đề kháng của vi trùng với các thuốc kháng sinh.

- Cho chụp hình quang tuyến không sửa soạn bụng (plaque simple de l’abdomen) để khám sát xem có sỏi đường tiểu không?

- Và tùy trường hợp, các bác sĩ chuyên khoa niệu khoa có thể làm.

• Soi bọng đái (cystoscopie) thám sát tình trạng viêm bọng đái, sỏi bọng đái...

• Chụp siêu âm (échographie).

• Hay cho chụp X-quang bồn thận bằng phương pháp truyền chất cản quang qua tĩnh mạch (pyélographie intraveineuse) nhất là trong các trường hợp nhiễm trùng ở bồn thận - thận và để phát hiện các bệnh phối hợp chính như sỏi, bướu, các dị tật bẩm sinh...làm tắc nghẽn đường tiểu.

Nhiễm trùng đường tiểu

Nhiễm trùng đường tiểu
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nhiễm trùng đường tiểu (NTĐT) là một bệnh nhiễm trùng thường gặp xuất hiện khi vi khuẩn gây bệnh đi vào lỗ tiểu và nhân lên trong đường tiểu hoặc do vi khuẩn từ máu đến định cư tại nơi này. Đường tiểu, hay đường tiết niệu, bao gồm hai thận, niệu quản (hai ống dẫn nước tiểu từ thận đến bàng quang), bàng quang (hay bọng đái), và niệu đạo (ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra lỗ niệu đạo để ra ngoài khi tiểu). Bình thường nước tiểu vốn vô trùng. Cấu tạo đặc biệt ở vị trí niệu quản gắn vào thành bàng quang có tác dụng như một van chống trào ngược nhằm ngăn ngừa nước tiểu đi ngược từ bàng quang lên thận. Dòng chảy của nước tiểu cũng là một lực cơ học giúp tống xuất vi khuẩn nếu chúng xâm nhập vào đây. Tất cả các đối tượng đều có thể mắc nhiễm trùng đường tiểu.
Wikipedia tiếng Việt không bảo đảm tính chính xác pháp lý hay học thuật cho các thông tin có liên quan đến y học và sức khỏe con người.
Để có thể áp dụng bất kỳ thông tin nào mà Wikipedia tiếng Việt cung cấp, đề nghị liên hệ và nhận sự tư vấn của các bác sĩ hay các nhà chuyên môn về sức khỏe.
Mục lục
[ẩn]

* 1 Phân loại nhiễm trùng đường tiểu
* 2 Dịch tễ
* 3 Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ
* 4 Triệu chứng
o 4.1 Triệu chứng NTĐT ở trẻ nhỏ
o 4.2 Các triệu chứng NTĐT có thể gặp ở trẻ lớn
o 4.3 Nhiễm trùng đường tiểu dưới ở người lớn
o 4.4 Triệu chứng NTĐT trên ở người lớn
* 5 Biến chứng
* 6 Chẩn đoán
* 7 Điều trị
* 8 Phòng bệnh
* 9 Liên kết ngoài

[sửa] Phân loại nhiễm trùng đường tiểu

Nhiễm trùng đường tiểu thường xuất hiện đầu tiên ở phần thấp (niệu đạo, bàng quang) và nếu không được điều trị nó có thể diễn tiến nặng lên đưa đến nhiễm trùng đường tiểu trên (niệu quản, thận).

Sau đây là ba thể bệnh điển hình [1]:

* Viêm niệu đạo: viêm hay nhiễm trùng niệu đạo gây nên cảm giác bỏng rát khi đi tiểu và đôi khi có mủ. Với nam giới, viêm niệu đạo có thể gây nên chảy mủ ở lỗ sáo (lỗ niệu đạo) dương vật. Điển hình nhất là bệnh lậu: nam giới mắc bệnh này thường có mủ ở lỗ sáo (triệu chứng học gọi là "hạt sương ban mai").
* Viêm bàng quang: là NTĐT thường gặp nhất gây nên đau tức bụng dưới, nước tiểu rất khai và đôi khi tiểu máu.
* Viêm thận-bể thận cấp: có thể do nhiễm trùng ngược dòng từ bàng quang lên hoặc do từ dòng máu. Nhiễm trùng thận hay viêm thận-bể thận (cần phân biệt với viêm cầu thận) là một cấp cứu y khoa vì nó có thể nhanh chóng đưa đến suy giảm chức năng thận cũng như tử vong nếu không điều trị kịp thời và hiệu quả.

[sửa] Dịch tễ

Xấp xỉ 8 đến 10 triệu người Mỹ mắc NTĐT mỗi năm [2]. Phụ nữ thường dễ mắc NTĐT hơn nam giới vì những nguyên nhân không rõ mặc dù đường niệu đạo ngắn của giới này có thể là một yếu tố nguy cơ. NTĐT xảy ra ở khoảng 5% trẻ em gái và 1-2% ở trẻ em trai. Tỉ lệ mắc NTĐT ở trẻ sơ sinh vào khoảng 0,1-1% và tăng cao đến 10% ở trẻ sơ sinh nhẹ cân. Trước 1 tuổi, trẻ trai thương bị cao hơn trẻ gái. Sau lứa tuổi này NTĐT thường gặp ở trẻ gái nhiều hơn so với trẻ trai [3].

[sửa] Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Escherichia coli (E. coli) gây nên 80% trường hợp NTĐT ở người lớn [4]. Vi khuẩn này thường hiện diện trong đại tràng và có thể đi vào lỗ niệu đạo từ vùng da xung quanh hậu môn và cơ quan sinh dục. Phụ nữ có thể dễ nhiễm bệnh hơn do lỗ niệu đạo nằm gần với nguồn vi khuẩn từ phía sau (hậu môn, âm đạo) và niệu đạo của phụ nữ cũng ngắn hơn do đó vi khuẩn dễ dàng xâm nhập vào bàng quang. Các vi khuẩn khác gây NTĐT bao gồm Staphylococcus saprophyticus (5-15% trường hợp), Chlamydia trachomatis, Proteus và Mycoplasma hominis. Nam giới và phụ nữ nếu nhiễm Chlamydia trachomatis hay Mycoplasma hominis đều có thể truyền vi khuẩn này cho bạn tình trong khi giao hợp gây nên NTĐT.

Giao hợp cũng có thể gây nên NTĐT ở một số phụ nữ (mặc dù bạn tình không mắc bệnh) vì những lí do không rõ ràng. Phụ nữ sử dụng màng ngăn âm đạo (diaphragm) thường dễ nhiễm trùng hơn và bao cao su có chứa chất diệt tinh trùng cũng có thể làm tăng phát triển E. coli trong âm đạo. Vi khuẩn này sau đó có thể đi vào niệu đạo.

Thủ thuật thông tiểu (đưa một ống nhỏ theo niệu đạo vào bàng quang để dẫn lưu nước tiểu) cũng là yếu tố nguy cơ gây bệnh. Nếu ống thông lưu càng lâu ngày thì nguy cơ mắc bệnh càng cao.

Ở trẻ nhũ nhi, vi khuẩn từ tã lót dính phân có thể đi vào đường tiểu và gây bệnh. Ngay cả ở thiếu nữ nếu có thói quen lau hậu môn từ sau ra trước sau khi đại tiện cũng dễ mắc bệnh hơn.

Các yếu tố nguy cơ khác gồm:

* Tắt nghẽn đường ra của bàng quang do sỏi hoặc u xơ tiền liệt tuyến
* Các bệnh lý ảnh hưởng đến chức năng tống xuất nước tiểu của bàng quang làm bàng quang luôn có một lượng nước tiểu ứ đọng sau tiểu tiện (chấn thương cột sống)
* Những dị tật bẩm sinh của đường tiết niệu, đặc biệt là trào ngược bàng quang-niệu quản
* Suy giảm miễn dịch
* Đái tháo đường
* Hẹp bao quy đầu
* Có thai hoặc mãn kinh
* Sỏi thận
* Giao hợp với nhiều bạn tình
* Hẹp niệu đạo do bẩm sinh hoặc do chấn thương
* Bất động lâu ngày (chấn thương, bại liệt)
* Uống ít nước
* Chứng són phân

Một số nhóm máu tạo điều kiện cho vi khuẩn dễ bám vào tế bào lót bề mặt đường tiểu gây nên nhiễm trùng đường tiểu tái diễn.

[sửa] Triệu chứng

[sửa] Triệu chứng NTĐT ở trẻ nhỏ

* Tiêu chảy
* Khóc quá mức và không thể dỗ nín bằng các các thông thường như cho bú, ôm ấp...
* Chán ăn
* Sốt
* Buồn nôn và nôn mửa

[sửa] Các triệu chứng NTĐT có thể gặp ở trẻ lớn

* Đau thắt lưng hoặc đau bên mạn sườn (trong trường hợp nhiễm trùng ở thận)
* Tiểu rắt: tiểu nhiều lần nhưng mỗi lần chỉ được một ít nước tiểu
* Són nước tiểu
* Tiểu buốt: trẻ thường đau khi tiểu. Đặc biệt trẻ trai đang tiểu vì đau quá nên có thể đưa tay bóp lấy dương vật. Do vậy bàn tay trẻ thường bay mùi nước tiểu ("dấu hiệu bàn tay khai")
* Đau vùng bụng dưới
* Nước tiểu đục đôi khi có máu hoặc có mùi bất thường

[sửa] Nhiễm trùng đường tiểu dưới ở người lớn

* Đau lưng
* Tiểu máu
* Nước tiểu đục
* Tiểu khó mặc dù rất muốn tiểu
* Sốt
* Tiểu nhiều lần
* Cảm giác toàn thân không được khỏe
* Tiểu đau
* Giao hợp đau

[sửa] Triệu chứng NTĐT trên ở người lớn

* Ớn lạnh
* Sốt cao
* Buồn nôn, nôn mửa
* Đau vùng hạ sườn

[sửa] Biến chứng

* Viêm thận bể thận cấp
* Áp xe quanh thận
* Nhiễm trùng huyết
* Suy thận cấp
* Trẻ em có trào ngược bàng quang niệu quản có thể gây nhiễm trùng thận nhanh chóng đưa đến suy thận mạn
* Phụ nữ có thai bị NTĐT có thể gây đẻ non, sẩy thai, nhiễm trùng sơ sinh ... [5]

[sửa] Chẩn đoán

Tất cả những dấu hiệu nêu trên là những gợi ý để khám xét và làm các xét nghiệm. Que thử nước tiểu nhanh có thể là một test sàng lọc. Que thử này có thể phát hiện sự hiện diện của protein, bạch cầu, hồng cầu và một số chỉ số hóa sinh khác mang tính cách định hướng.

Các xét nghiệm khác cần làm có thể là:

* Phân tích nước tiểu: hóa sinh, tế bào
* Cấy nước tiểu
* Cấy máu
* Chẩn đoán hình ảnh: siêu âm hoặc chụp X quang để phát hiện các dị tật bẩm sinh của đường tiết niệu...

Vì rất nhiều trẻ em bị viêm bàng quang thường có một bất thường giải phẫu nào đó tạo điều kiện cho nhiễm trùng, vì các nhiễm trùng này có thể phòng ngừa được và cũng vì biến chứng lâu ngày của NTĐT tái diễn nếu không được kiểm soát là rất nghiêm trọng nên những trẻ này thường cần phải được khám xét thật kỹ lưỡng.

Các xét nghiệm này gồm siêu âm thận và đường tiểu cũng như chụp X quang có thuốc cản quang khi trẻ đi tiểu (chụp quàng quang niệu quản khi tiểu).

Các bác sĩ chuyên khoa khuyến cáo các đối tượng sau nên được khảo sát bằng các phương pháp trên [6]:

* Trẻ gái trên 5 tuổi có hai hoặc nhiều lần NTĐT
* Tất cả trẻ trai ngay khi bị NTĐT lần đầu tiên
* Tất cả những trẻ có sốt khi mắc NTĐT
* Tất cả trẻ dưới 5 tuổi bị NTĐT

[sửa] Điều trị

Những trường hợp viêm bàng quang nhẹ nhàng có thể tự lành mà không cần điều trị nào [7] tuy nhiên vì chúng có khả năng gây nên những biến chứng nặng nề nên tất cả các trường hợp nhiễm trùng đường tiểu dù nặng hay nhẹ đều được khuyến cáo điều trị kỹ càng. Thuốc điều trị thường dùng là các kháng sinh. Liệu trình cũng như loại thuốc tùy thuộc vào loại vi khuẩn cũng như vị trí nhiễm trùng.

Các kháng sinh thường dùng:

* Nitrofurantoin
* Cephalosporin
* Sulfonamide
* Amoxicillin
* Trimethoprim-sulfamethoxazole
* Doxycycline (không dùng cho trẻ dưới 8 tuổi)
* Quinolone (không nên dùng cho trẻ em)

Khi được điều trị, các NTĐT dưới có thể hết triệu chứng chỉ trong vòng vài ngày nhưng điều trị cần kéo dài từ 10 đến 15 ngày để đề phòng viêm thận bể thận.

Nhiễm trùng đường tiểu do các tác nhân Chlamydia trachomatis và Mycoplasma hominis cần điều trị với tetracycline hoặc doxycycline dài ngày.

Nhiễm trùng đường tiểu do bất thường giải phẫu hoặc có biến chứng tạo ổ mủ sâu cần phải phẫu thuật.

Nhiễm trùng đường tiểu tái diễn (3 hoặc nhiều lần NTĐT trong một năm) có thể điều trị kéo dài đến 6 tháng đôi khi đến cả 2 năm.

Theo dõi điều trị bằng xét nghiệm nước tiểu là biện pháp bắt buộc để đánh giá hiệu quả của điều trị.

[sửa] Phòng bệnh

Những biện pháp sau đây có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiểu [8], [9]:

* Biện pháp chung nhất là gìn giữ vệ sinh cá nhân thật tốt
* Tránh các chất có thể gây kích thích niệu đạo (nằm trong bồn tắm hòa xà phòng, chất khử mùi tại chỗ).
* Vệ sinh sạch vùng sinh dục trước khi giao hợp
* Thay tã cho trẻ ngay lập tức sau khi dính phân
* Uống nhiều nước nhằm tăng lượng nước tiểu để tống xuất vi khuẩn khỏi đường tiểu
* Không được nhịn tiểu (trừ trường hợp có lời khuyên của bác sĩ)
* Tắm vòi hoa sen chứ không nên tắm bồn tắm
* Đi tiểu trước và sau khi giao hợp
* Cần tập cho các bé gái thói quen lau hậu môn từ trước ra sau khi làm vệ sinh sau đại tiện tránh đưa vi khuẩn từ vùng hậu môn vào lỗ niệu đạo
* Vitamin C cũng có khả năng giảm nguy cơ NTĐT
* Nếu phụ nữ đang đọ tuổi sinh hoạt tình dục mà thường xuyên bị NTĐT thì nên xem lại tư thế giao hợp nhằm tránh bớt các tư thế gây tác động nhiều đến lỗ niệu đạo
* Với trẻ em cần tuân theo các hướng dẫn trong phần xét nghiệm ở trên để phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ nhằm kiểm soát NTĐT và các biến chứng lâu dài của nó

Phòng và trị viêm đường tiết niệu

Phòng và trị viêm đường tiết niệu
(Dân trí) - Viêm đường tiết niệu là do vi khuẩn gây viêm nhiễm được gọi là UTI (urinary tract infection). Sự viêm nhiễm này không đe dọa nghiêm trọng đến cuộc sống của bạn lúc đầu nhưng có thể nó sẽ gây đau rát và khó chịu.

Đặc biệt khi vi khuẩn kháng lại các thuốc thông thường thì tình trạng đau đớn, khó chịu sẽ càng khó chữa hơn. Thường thì phụ nữ gặp vấn đề viêm đường tiết niệu nhiều hơn nam giới.



Một số triệu chứng chung:



- Thường xuyên đi tiểu hoặc muốn đi tiểu



- Có cảm giác đau buốt khi đi tiểu



- Đau ở bụng dưới và lưng.



Khi sự viêm nhiễm phát triển mạnh thì sẽ tan toả đến thận và dạ con khiến bệnh nhân có các triệu chứng như đau lưng, ớn lạnh, sốt, buồn nôn và nôn.



Để chẩn đoán có phải bệnh viêm nhiễm đường tiết niệu hay không bạn cần phải làm test kiểm tra. Cách điều trị thông thường đối với bệnh này là sử dụng kháng sinh diệt vi khuẩn. Đặc biệt là cần phải chữa trị dứt điểm và vệ sinh đúng cách nếu không bệnh tái phát lại sẽ nặng hơn và khó chữa hơn.



Để phòng chống bệnh này, bạn có thể kết hợp dùng thảo dược và vệ sinh sạch sẽ để ngăn chặn vi khuẩn viêm nhiễm. Nhà vệ sinh sạch cũng là một nhân tố quan trọng để tránh mắc bệnh UTI. Cần uống nhiều nước mỗi ngày nhưng không được nhịn tiểu bạn nhé.



Một số loại quả quen thuộc giúp bạn phòng và chữa căn bệnh này:



1. Nước ép trái cây nam việt quất rất giàu các loại vitamin và chất chống oxi hoá sẽ chống lại sự viêm nhiễm ở đường tiết niệu. Người bệnh nên uống 3-4 cốc nước ép nguyên chất (không pha loãng) trong vài ngày sẽ thấy có tác dụng cải thiện ngay.



2. Nước cam cũng rất giàu vitamin C. Trộn nước cam với nước dừa non sẽ rất lợi tiểu trong trường hợp bạn ít đi tiểu, viêm nhiễm đường tiết niệu và các chứng đau khác do viêm nhiễm gây ra. Uống ngày hai lần sẽ rất tốt cho bạn.



3. Nước chanh pha với chút đường và muối cũng có tác dụng tương tự vì loại quả này rất giàu vitamin C.



4. Nho tươi giàu oxalic, recemic, axit malic, tartaric và chất ozolize. Ăn nhiều nho thường xuyên giúp bạn chống lại sự hình thành sỏi thận trong bàng quang, ngăn cản axit trong nước tiểu và đi tiểu ít. Khoảng 30g nước lá nho kết hợp với một lượng tương đương nước cà rốt uống hàng ngày sẽ ngăn cản sỏi thận.



5. Một quả chuối mỗi ngày sẽ giúp bạn tránh bí tiểu, viêm bàng quang, viêm thận… Tuy nhiên chuối không chữa trong trường hợp thận hư vì nó chứa hàm lượng kali cao.



6. Hạt dưa hấu, phương thuốc cổ truyền Ấn Độ, có chứa glucozit được gọi là Cucurbotrine, có tác dụng trị tiểu ít, đi tiểu buốt, đau…. Chế biến bằng cách xay nghiền hạt và lọc lấy nước, uống 2 lần/ngày, mỗi lần 1 thìa.



Ngay cả trong việc sử dụng kháng sinh theo chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoathì việc kết hợp với cách sử dụng các loại quả trên cũng sẽ giúp đạt được hiệu quả chữa bệnh tốt nhất. Đồng thời các loại quả này cũng giúp loại bỏ độc tố do kháng sinh gây ra.



Minh Anh

Theo JH

Viêm đường tiết niệu ở nam giới

Viêm đường tiết niệu ở nam giới
Theo Dân Trí (13/05/08)


Thông thường viêm đường tiết niệu thường xảy ra phổ biến ở nữ giới hơn là nam giới (20% phụ nữ mắc bệnh này). Tuy nhiên, cũng không thể loại trừ khả năng mắc căn bệnh này đối với nam giới.



Viêm đường tiết niệu không phải là căn bệnh quá nguy hiểm và nó hoàn toàn có thể điều trị được nếu đúng cách. Tuy nhiên, cũng xin nói thêm rằng, chứng viêm đường tiết niệu sau khi đã được điều trị khỏi, nếu không biết cách phòng ngừa tốt, vẫn có thể quay trở lại, nguy hiểm hơn có thể dẫn tới viêm thận.



Nhìn chung, những người già khi bị mắc căn bệnh này thường khó phát hiện do không có những biểu hiện rõ ràng.



Khi bị viêm đường tiết niệu thường có những biểu hiện như:



- Đi tiểu nhiều lần.



- Không thể nhịn tiểu được.



- Khó đi tiểu và có cảm giác đau rát "cậu nhỏ".



- Có thể sốt nhẹ.



- Nước tiểu vẩn đục với mùi khó chịu.



- Lẫn máu trong nước tiểu.



Nguyên nhân gây viêm đường tiết niệu ở nam giới là:



- Phì đại tuyến tiền liệt.



- Sỏi thận.



- Niệu đạo hẹp, không bình thường.



Để điều trị dứt điểm chứng bệnh này, bạn cần được phát hiện ra nguyên nhân tại sao bạn mắc chứng viêm đường tiết niệu.



Ngoài ra cần dùng một số loại kháng sinh theo chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa như Paracetamol hay ibuprofen.



Hơn thế nữa bạn cần lưu ý uống thật nhiều nước sẽ là cách hữu hiệu giúp bạn mau chóng khỏi bệnh và là cách phòng ngừa đem lại hiệu quả cao

Chữa sỏi nhỏ ở thận bằng y học cổ truyền

Câu trả lời hay nhất - Do người sử dụng bình chọn
Chữa sỏi nhỏ ở thận bằng y học cổ truyền

Có rất nhiều cây thuốc và bài thuốc chữa sỏi thận. Trường hợp sỏi còn bé thì có thể dùng các cây, lá lợi tiểu để tống sỏi ra, nhưng phải dùng dài ngày.

Các bài thuốc:

- Rễ cây dứa (thơm) rửa sạch, phơi khô, sao lên nấu nước uống hằng ngày. Hoặc: Dùng dịch ép lá và quả dứa chưa chín mỗi ngày 20-30 g. Có thể giã nát nõn dứa, vắt lấy nước hoặc sắc lên uống.

- Mỗi ngày dùng đọt non dứa dại 15-20 g, rễ dứa dại 6-10 g, chế biến như với rễ và nõn dứa thường.

- Đem 10 g râu ngô cắt nhỏ, đun sôi với 200 ml nước, để nguội, cứ 3-4 giờ uống 3 thìa canh. Hoặc chế thành cao lỏng, đóng vào lọ 20 g, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 30-40 giọt trước bữa ăn. Râu ngô giúp làm tăng lượng nước tiểu 3-5 lần.

- Rễ cỏ tranh rửa sạch, phơi khô, sao lên; mỗi ngày sắc 10-40 g uống (vừa tống sỏi vừa chữa được đái máu).

- Râu ngô 40 g, xa tiền tử (hạt mã đề) 25 g, rễ cỏ tranh 30 g, hoa cúc 5 g. Tất cả thái nhỏ, trộn đều, mỗi lần dùng 50 g hãm như chè, pha thành 750 ml, chia uống trong ngày.

- Xa tiền tử 10 g, cam thảo 2 g, nước 600 ml (tương đương 3 bát) đun sôi lên 30 phút, chia 3 lần uống trong ngày.

- Kim tiền thảo mỗi ngày lấy 10-30 g sắc uống.

- Quả chuối hột lành, khi chín ăn ngọt, nhưng có nhiều hột. Để chữa sỏi thận, dân gian chọn chuối thật chín, lấy hạt phơi khô, tán nhỏ nấu lấy nước uống. Cho 7 thìa nhỏ (thìa cà phê) bột hạt chuối vào 2 lít nước đun nhỏ lửa, khi còn 2/3 nước là được. Uống hằng ngày như nước trà liền trong 2-3 tháng, cho kết quả khá tốt.
Cũng có thể lấy quả chuối hột đem thái mỏng, sao vàng, hạ thổ 7 ngày; mỗi ngày lấy một vốc tay (chừng một quả) sắc với 3-4 bát nước, uống vào lúc no.

- Hoa quỳnh thu hái lúc mới nở, để tươi hoặc phơi, thái nhỏ, tẩm mật, sao vàng. Hãm với nước sôi như pha trà hoặc sắc với 200 ml nước còn 50 ml, uống 1 lần trong ngày. Liều dùng hằng ngày: 20-30 g, dùng liền trong vài tuần.
Có thể phối hợp với các vị thuốc khác theo công thức sau: Hoa quỳnh 30 g, kim tiền thảo 20 g, diếp cá 20 g, rễ cỏ tranh 10 g, thái nhỏ, sắc lấy nước đặc chia 3 lần uống trong ngày.

Tán thạch khiêm thang - phương thuốc trị sỏi thận hiệu quả :

"Lúc còn đau, tôi chỉ muốn chết cho thoát nợ. Nếu phải mổ thì không biết lấy đâu ra tiền. Nhưng giờ thì tôi không đau nữa, ăn uống cũng tốt hơn, một bên thận sỏi đã đẩy ra ngoài rồi", chị Trần Thị Oanh, bệnh nhân được điều trị sỏi thận bằng bài thuốc trên của Viện Y học Cổ truyền, phấn khởi nói với VnExpress.
Chị Oanh, 40 tuổi, công nhân Nông trường chè Sơn La, bắt đầu bị đau lưng, mệt mỏi triền miên từ 3 năm nay. Khi bị cơn đau quặn thận, gia đình đưa chị đến bệnh viện huyện. Ở đây, chị được phát hiện có sỏi thận cả 2 bên, có urê huyết tăng cao, thận bị ứ nước, và được chuyển thẳng đến Bệnh viện Bạch Mai. Không đủ tiền để mổ, chị Oanh đã chuyển sang Viện Y học Cổ truyền để điều trị. Sau 1 tuần sử dụng Tán thạch khiêm thang, một bên sỏi đã được đẩy ra ngoài, chị không còn sốt, ăn uống tốt, tinh thần lạc quan hơn. Chi phí đến nay mới hết vài trăm nghìn đồng.
Y học hiện đại đã có một số biện pháp điều trị sỏi đường tiết niệu, ưu việt nhất là tán sỏi siêu âm và phẫu thuật. Tuy nhiên, các phương pháp đắt tiền này (khoảng 2 triệu đồng/ca, chưa kể thuốc men) không chữa trị tận gốc nên bệnh dễ tái phát, lại thường gây biến chứng hay di chứng.
Bài thuốc Tán thạch khiêm thang được tiến sĩ Dương Minh Sơn, Trưởng khoa Ngoại của Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương (29 Nguyễn Bỉnh Khiêm, HN) bào chế từ một phương thuốc gia truyền của ông. Nó đã được thử trên chuột và thỏ, với liều cao gấp 6 lần điều trị, nhưng không phát hiện độc tính. Đến nay, có gần 2.000 bệnh nhân sỏi thận đã và đang được điều trị bằng bài thuốc này, hầu hết đều khỏi hẳn sau vài tháng, mà không cần mổ. Thuốc cũng không có tác dụng phụ, và không gây biến chứng hay di chứng...
Theo tiến sĩ Sơn, sỏi thận có nhiều loại, thường hình thành trong môi trường axít hoặc bazơ. Tán thạch khiêm thang, gồm các vị thuốc như râu mèo, hoạt thạch, uất kim..., có tác dụng đưa độ pH của nước tiểu về trung tính, khiến sỏi trong đường tiết niệu của bệnh nhân tan dần, cuối cùng bị thải ra. Hơn nữa, bài thuốc này còn làm mát gan, thận, có khả năng thay đổi cơ địa của bệnh nhân, là phương pháp điều trị tận gốc, giúp tránh được nguy cơ tái phát. "Tuy nhiên, để đảm bảo chắc chắn hiệu quả của thuốc, người bệnh cần chú ý ăn ít các thực phẩm giàu canxi như rau muống, trứng, sữa...", tiến sĩ Sơn lưu ý.
Tán thạch khiêm thang được chế biến dạng nước, đóng chai, khi sử dụng chỉ cần pha với một chút nước sôi để uống. Bệnh nặng thì điều trị khoảng 3-4 tháng, bệnh nhẹ chỉ vài tuần. Người thường cũng có thể sử dụng khoảng 15-30 ngày mỗi năm để phòng tránh bị sỏi thận. Hiện nay, chi phí điều trị cho một bệnh nhân là khoảng 120.000 đồng/tháng.
Việt Nam nằm trong "vành đai sỏi thận" (gồm các nước nhiệt đới), nên căn bệnh này rất phổ biến, chiếm 15-20% dân số. Người dân, chủ yếu là người nghèo, thường không đủ tiền để điều trị theo các phương pháp hiện đại. "Do đó, một bài thuốc chữa sỏi thận hiệu quả, không có độc tính, mà lại rẻ, có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn", giáo sư Trần Quán Anh, Tổng thư ký Hội Tiết niệu Việt Nam, nhận định.
(Các) nguồn
GS. Lê Sĩ Toàn, Sức Khỏe & Đời Sống

Sỏi thận rất dễ tái phát

Sỏi thận rất dễ tái phát
Sỏi thận lớn gây đau đớn dữ dội. Ảnh: Sức Khỏe & Đời Sống.

Bệnh sỏi thận có nhiều cách chữa như uống thuốc để làm tan sỏi, tán qua da, phẫu thuật. Tuy nhiên, có đến 50% số bệnh nhân xuất hiện sỏi trở lại sau đó.

Sỏi thận hình thành do lượng nước tiểu quá ít (mất nước do uống ít nước hoặc lao động quá sức), hay nồng độ các chất khoáng tăng cao như canxi, oxalat, muối urat, natri, cystine hay phốt pho tăng cao. Những chất này lắng đọng trong đài, bể thận và kết thành sỏi. Những viên nhỏ có thể tự ra ngoài theo nước tiểu mà không gây triệu chứng gì. Những viên lớn hơn có thể vẫn di chuyển được theo dòng nước tiểu nhưng gây đau đớn và chảy máu đường tiết niệu, hay mắc lại ở những chỗ hẹp của niệu quản, gây viêm tắc niệu quản.

Có những viên sỏi nằm lại trong đài bể thận hoặc trong bể thận rồi phát triển to dần, choán hết đài bể thận, gây ra những tai biến nghiêm trọng làm huỷ hoại thận và các chức năng của cơ quan này. Sỏi thận có bề mặt xù xì, lởm chởm, sắc nhọn nên rất dễ làm tổn thương thận tạo nên những vết sẹo, dẫn đến suy thận.

Có 4 loại sỏi thận chính

Sỏi canxi: Chiếm 80-90%. Lượng canxi thừa trong cơ thể được đào thải qua thận, nếu nồng độ quá nhiều, khó hòa tan hết trong nước tiểu, nó sẽ kết hợp với các khoáng chất khác tạo thành sỏi. Những người có lượng vitamin D cao, bị cường tuyến giáp, hay những người bị suy thận dễ bị sỏi canxi.

Sỏi phosphat ammonium magnesium: Do vi khuẩn lên men urê gây nên, thường hình thành sau khi bị viêm đường tiết niệu mạn tính do tăng lượng amoniac trong nước tiểu. Amoniac nồng độ cao làm vi khuẩn phát triển nhanh hơn, khiến sỏi khuẩn hình thành. Sỏi này thường có nhiều cạnh nhọn, kích thước lớn làm tổn thương thận.

Sỏi acid uric: Hình thành do quá nhiều axit uric trong nước tiểu. Người ăn nhiều đạm động vật, người bị bệnh gút có nguy cơ sỏi urat cao.

Sỏi cystine: Ít gặp, hay xảy ra ở người bị bệnh xistine niệu, khiến thận không hấp thu lại xistine (một loại amino acid). Chất này không được hòa tan tốt trong nước tiểu, khi nồng độ cao sẽ tạo thành sỏi.

Khi thấy đau là sỏi đã lớn

Quá trình hình thành sỏi không có triệu chứng nên bệnh nhân thường không biết mình bị sỏi thận. Chỉ đến khi sỏi lớn lên gây đau đớn, hay đi tiểu ra sỏi mới biết. Các triệu chứng thường gặp là:

- Cơn đau thận do sỏi gây tắc bể thận và niệu quản. Đau vùng thắt lưng, lan xuống hố chậu, bìu, kèm nôn hay trướng bụng. Có khi bệnh nhân chỉ đau âm ỉ vùng thắt lưng do sỏi không gây tắc.

- Tiểu ra máu do sỏi gây tổn thương đường tiết niệu hay do nhiễm khuẩn, làm thận chảy máu.

- Có thể có sốt cao 38-39 độ C, hoặc ớn lạnh, thận to đau, cảm giác bỏng rát.

- Đau khi tiểu, nước tiểu đục do nhiễm khuẩn.

Nhiều cách chữa nhưng hay tái phát

Để điều trị hiệu quả, việc xác định loại sỏi rất quan trọng. Có thể loại trừ sỏi thận nhỏ mà không phải phẫu thuật như uống nhiều trên 2 lít nước một ngày để sỏi tự ra. Ở cơ sở y tế, các bác sĩ có thể áp dụng các biện pháp như:

Tán sỏi ngoài cơ thể: Với sỏi đài bể thận đường kính dưới 20 mm, có thể dùng năng lượng siêu âm chiếu qua da vào các viên sỏi để phá vỡ chúng. Sóng siêu âm tán viên sỏi ra thành nhiều mảnh nhỏ đường kính dưới 4 mm để nó tự ra ngoài qua đường tiểu.

Tán sỏi qua da: Đưa một máy tán sỏi qua da vùng thắt lưng vào thận. Viên sỏi sẽ bị tán vỡ nhờ sóng siêu âm và hút ra ngoài qua ống. Cách này có thể tán được những sỏi lớn, rắn ngay trong bể thận đã giãn rộng, có thể rửa sạch, lấy hết cặn sỏi và dẫn lưu bể thận qua da.

Phẫu thuật: Áp dụng khi sỏi lớn đường kính trên 40 mm, sỏi san hô nhiều gai cạnh găm vào đài bể thận, đài bể thận giãn hay ứ nước...

Hơn 50% số người từng bị sỏi thận sẽ bị tái phát. Do đó dù đã điều trị, bệnh nhân vẫn cần:

- Uống 2-3 lít nước mỗi ngày.

- Giảm lượng thức ăn giàu oxalat, canxi như các loại quả hạnh nhân, sô cô la, nước chè, rau chân vịt, dâu tây. Ăn ít chất đạm động vật nếu bị sỏi acid uric.

- Uống một số loại thuốc giúp kiểm soát lượng khoáng chất phát triển trong nước tiểu.

- Người bị sỏi thận do tuyến giáp tiết ra nhiều hoóc môn cần điều trị triệt để bằng phẫu thuật tuyến giáp.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

SỎI THẬN

SỎI THẬN

Là một trong 5 bệnh Lâm của Đông y.

Đặc điểm của bệnh là sự kết hợp những cục sạn (to nhỏ tùy trường hợp) trong Thận và đường tiểu, tạo nên sự ngăn trở trong việc bài tiết.

Bịnh thường gặp ở phái nam nhiều hơn ở nữ.

Nguyên nhân

+ Do Tiểu quá ít: tạo nên sự đậm đặc của các chất tan trong nước tiểu, đến một độc đặc nào đó, các chất hòa tan trong nước tiểu sẽ đặc lại. Bình thường hàng ngày, mỗi người tiểu 1-2 lít nếu lượng nước tiểu vì một lý do nào đó không được bài tiết ra, những cạên bã lẫn trong nước tiểu sẽ dần dần đọng lại tạo thành sạn, sỏi. Có thể hiểu như sau, một ly nước quấy với đường, các tinh thể đường lẫn tan vào trong nước nhưng để một thời gian, nước bốc hơi còn chừng nửa ly thì đường sẽ kết tinh lại, động ở đáy ly. Vì vậy, những người ít đi tiểu dễ bị kết sạn.

+ Sự kết hợp của vi trùng khi chết bị đào thải qua đường tiểu hoặc của các chất cặn bã trong nước tiểu… tạo nên một khối cứng để cho các chất kết tinh lại tạo thành cục sạn. Trong công việc nuôi ngọc trai, người nuôi thường bỏ một hạt cát vào trong thân con trai, con Trai nhả chất ngọc bao bọc quanh hạt cát để làm cho hạt cát này thành vô hại đối với nó. Trong chứng sạn thận hoặc sạn đường tiểu cũng vậy, các xác vi trùng hoặc các tạp chất lãnh nhiệm vụ như hạt cát trong cơ thể con trai để tạo nên khối kết tinh trong đường tiểu thành cục sạn.

Chẩn Đoán.

Để xác định được bệnh một cách chắc chắn, khi tiểu đục, đau… nên:

. Xét nghiệm nước tiểu: để tìm các chất có thể kết tinh trong nước tiểu (có thể là oxalat de calcium, Phosphate, Ureate và Cystine…

, Chụp hình hoặc siêu âm để biết vị trí và kích thước của viên sỏi ở Thận, ở bàng quang hoặc ở ống tiểu… giúp dễ đề ra phương hướng điều trị.

Điều Trị

Khi điều trị, cần chú ý hai điểm sau:

+ Kích thước viên sỏi cỡ nào? Vì nếu sạn nhỏ dưới 10mm còn có thể uống thuốc cho tống ra còn nếu sạn quá lớn, phải phối hợp giải phẫu để lấy sỏi ra.

+ Cấu tạo của viên sỏi đó thuộc loại nào? Để có hướng điều trị cho phù hợp.

. Sỏi là chất Oxalate (thường gặp nhất là Oxalate calcium)

kiêng các chất có acide oxalique như Rau muống, Cacao, những chất có nhiều chất caclcium như sữa, trứng, tôm cua, sò, ốc, hến… Nên ăn ít cơm và bánh mì.

. Sỏi thuộc loại Phosphate

Ăn uống cần ăn nhiều thịt, mỡ, bánh mì. Kiêng các loại rau sống hoặc luộc chín. Nên uống nước chanh hoặc nước cam.

. Sỏi là chất Ureate

kiêng Chocolate, cà phê, nấm rơm, rượu, bia, tôm, cua.

. Sỏi là chất Cystine: Kiêng các loại rau sống và chín, ăn ít trái cây. Kiêng sữa, cà phê, chocolate…

Một Số Bài Thuốc Kinh Nghiệm

+ Giáng Thạch Thang (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Cam thảo tiêu 3g, Đông quỳ tử 10g, Giáng hương 3g

Hải kim sa 10g, Hoạt thạch 10g, Kê nội kim 10g, Kim tiền thảo 30g, Ngư não thạch 10g, Thạch vi 10g, Xuyên ngưu đằng 10g. Sắc uống.

- TD: Thanh nhiệt, lợi thấp. Trị hạ tiêu có thấp nhiệt, sỏi đường tiết niệu.

- TK: Dùng bài Giáng Thạch Thang trị mấy chục bệnh nhân bị sỏi đường tiết niệu đều đạt kết quả tốt (Thiên Gia Diệu Phương).

+ Tang Căn Tam Kim Nhị Thạch Thang (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Hải kim sa 30g, Hoạt thạch 30g, Kê nội kim (rang với cát) 10g, Kim tiền thảo 30g, Ngưu đằng 10g, Tang thụ căn 30g, Thạch vi 16g, Tỳ giải 10g, Vương bất lưu hành 10g. Sắc uống.

- TD: Thanh nhiệt, lợi thấp, thông lâm, chỉ thống. Trị thận hư, thấp nhiệt uẩn kết, sỏi đường tiểu.

- TK: Mấy năm nay trị sỏi tiết niệu theo phương pháp kết hợp Đông Tây y, tức là Tây y chẩn đoán rõ ràng chính xác (bao gồm kích thước, hình dáng, số lượng hạt sỏi, chức năng của thận tốt hoặc xấu, có bị nhiễm khuẩn không?…), rồi cho dùng bài thuốc thải sỏi thích hợp để thải sỏi ra 1 cách kết quả, giải trừ đau đớn cho bệnh nhân. Qua những tư liệu tích lũy được, việc thải sỏi quyết định dựa vào vị trí, kích thước và độ nhẵn của viên sỏi. Nếu các điều kiện trên thuận lợi, dùng bài thuốc này làm chính, có gia giảm thêm thì hiệu quả thu được khá tốt. Nói chung, sau khi uống thuốc, viên sỏi đều được thải ra ngoài (Thiên Gia Diệu Phương).

+ Tạc Thạch Hoàn (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Cam thảo (sao) 6g, Địa long 10g, Đông quỳ tử 16g, Hải kim sa 10g, Hoạt thạch 10g, Hổ phách 2g, Kê nội kim 10g, Mang tiêu 6g, Mộc tặc 10g, Phục linh 10g, Trầm hương 2g, Trạch tả 10g, Xa tiền tử 10g, Xuyên ngưu tất 10g, Xuyên uất kim 10g. Trừ Mang tiêu, Hoạt thạch và Hổ phách, các vị kia đem sao khô nhỏ lửa rồi tán với Hổ phách, rây bột mịn, hòa Mang tiêu vào nước và rượu, làm hoàn, to bằng hạt đậu xanh, dùng Hoạt thạch bọc ngoài làm áo. Phơi trong râm cho khô, cất để dùng dần.

Mỗi lần uống 10-16g, ngày 2 lần, với nước ấm, trước bữa ăn 1 giờ.

- TD: Thanh nhiệt, lợi niệu, thông lâm. Trị thấp nhiệt uẩn kết ở hạ tiêu, sỏi ở đường tiểu.

- GT: Mộc tặc, Đông quỳ tử, Xa tiền tử, Hoạt thạch, Cam thảo, Hải kim sa để thanh nhiệt, lợi niệu, thông lâm; Địa long cũng có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu; Ngư tất trị ngũ lâm, tiểu ra máu, dương vật đau, dẫn thuốc xuống; Trầm hương giáng khí, nạp thận, tráng nguyên dương, trị khí lâm; Hổ phách thông lâm, hóa ứ, trị tiểu ra máu; Mang tiêu hóa thạch, thông lâm. Các vị kể trên đều là những vị lợi tiểu, thông lâm, thanh nhiệt, vì vậy, bài này dùng trị sỏi ở niệu quản đạt kết quả lý tưởng (Thiên Gia Diệu Phương).

+ Thông Phao Thang (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Bại tương thảo 16g, Biển súc 6g, Cát cánh 4g, Cù mạch 6g, Lậu lô 10g, Mông hoa 16g, Thanh bì 10g, Trạch tả 10g, Vương bất lưu hành 15g. Sắc uống.

- TD: Hành ứ, thông lâm. Trị thấp nhiệt ở bàng quang, ứ trệ ở hạ tiêu, sỏi đường tiểu.

- TK: Đã dùng bài thuốc này trị cho 7 ca sỏi đường tiểu đều thu dược kết quả tốt. Lại dùng trị 1 trường hợp thận đa nang tiểu ra máu cũng thu được kết quả tốt (Thiên Gia Diệu Phương).

+ Tam Kim Hồ Đào Thang (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Kim tiền thảo 30-60g, Kê nội kim (nướng, tán bột, chia làm hai lần uống với nước thuốc) 6g, Xa tiền thảo, Hoạt thạch đều 12g, Sinh địa 15g, Thiên môn 9g, Ngưu tất 9g, Mộc thông 4,5g, Cam thảo (sống) 4,5g, Nhân hồ đào 4 hột (chia làm 2 lần nuốt). Sắc với 600ml nước nhỏ lửa trong 30 phút còn 400ml. Rót ra, lại cho thêm 500ml nước, sắc lần thứ hai như trên, còn 300ml. Đổ chung hai nước, sắc, chia làm hai lần uống.

+ Trân Kim Thang Gia Giảm (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Hải kim sa16g, Kê nội kim 12g, Lộ lô thông 16g, Mạch môn 10g, Phù thạch 16g, Tiểu hồi 10g, Trạch tả 12g, Trân châu 60g, Ty qua lạc 12g, Vương bất lưu hành 12g. Sắc uống.

- TD: Thanh nhiệt, lợi thấp, thông lâm, bài thạch. Trị thấp nhiệt hạ chú, uất kết lâu ngày làm cho tạp chất của nước tiểu đọng lại thành sỏi, đường tiểu có sỏi.

- TK: Qua thực tiễn lâm sàng cho thấy dùng bài Trân Kim Thang Gia Giảm trị bệnh kết sỏi ở các vị trí của hệ tiết niệu đều thu được kết quả tốt (Thiên Gia Diệu Phương).

+ Trục Thạch Thang (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Bạch thược 10g, Cam thảo (nhỏ) 4,8g, Hải kim sa đằng 18g, Hổ phách mạt 4g, Kê nội kim 6g, Kim tiền thảo 30g, Mộc hương 4,8g, Sinh địa 12g. Mộc hương cho vào sau, Hổ phách mạt để ngoài uống với nước thuốc sắc. Ngày một thang, chia hai lần uống.

- TD: Thanh nhiệt, lợi thấp, thông lâm, trục thạch. Trị thấp nhiệt uất kết, sỏi đường tiểu.

- GT: Kim tiền thảo thanh nhiệt, lợi thấp, trục thạch, làm quân; Hải kim sa đằng lợi thủy, thông lâm; Kê nội kim tiêu sỏi làm thần; Hổ phách khử ứ, thông lộ, chỉ thống; Mộc hương hành khí, giải uất, chỉ thống; Sinh địa, Bạch thược lợi thủy mà không gây tổn thương, làm tá; Cam thảo điều hòa các vị thuốc, làm sứ (Thiên Gia Diệu Phương).

+ Niệu Lộ Bài Thạch Thang (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Biển súc 24g, Chi tử 20g, Chỉ xác 10g, Chích thảo 10g, Cù mạch 15g, Đại hoàng 12g, Hoạt thạch 15g, Kim tiền thảo 30g, Mộc thông 10g, Ngưu tất 15g, Thạch vi 30g, Xa tiền tử 24g. Sắc uống.

- TD: Tiêu sỏi, thông lâm, hành khí, hóa ứ, thanh lợi thấp nhiệt. Trị thấp nhiệt hạ chú, sỏi ở đường tiểu.

- GC: Cần nắm vững bài thuốc này thích hợp với các chứng sau:

+ Sỏi có đường kính ngang nhỏ hơn 1cm, đường kính dài nhỏ hơn 2cm.

+ Hệ tiết niệu không có dị dạng về giải phẫu và những biến đổi bệnh lý.

+ Chức năng thận bên bệnh còn tốt.

+ Niệu Lộ Kết Thạch Thang (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Bạch vân linh 10g, Hải kim sa 15g, Hoạt thạch 12g, Hổ phách 3g, Kim tiền thảo 15g, Mộc thông 6g, Thạch bì 10g, Trần bì 10g, Xa tiền tử 10g, Sắc uống.

- TD: Lợi thấp, hóa ứ, trị sỏi ở bàng quang.

+ Nội Kim Hồ Đào Cao (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Hồ đào nhân (chưng) 500g, Kê nội kim 150g, Mật ong 500g. Kê nội kim, nướng, tán thành bột. Hồ đào đập nhỏ. Trộn chung với Mật ong thành dạng cao. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 10ml.

- TD: Tư thận, thanh nhiệt, thấm thấp, thống tán, hóa kết. Trị chứng sỏi ở đường tiểu.

+ Thược Dược Cam Thảo Thang Gia Vị (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Bạch thược, Trân châu mẫu 30g, Cam thảo, Đàn hương, Nga truật, Nguyên hồ, Hồi hương đều 10g, Điều sâm, Mạch môn, Bạch vân linh đều 12g. Sắc uống.

TD: Hoãn cấp, chỉ thống. Trị thận hư, lưng đau, khí âm đều suy, khí nghịch, sỏi niệu quản.

+ Phụ Kim Thang (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Kim tiền thảo 30g, Phụ tử 12g, Thục địa 20g, Trạch tả 10g, Sắc uống.

- TD: Ôn thận, hành thủy. Trị thận khí hư tổn, sỏi đường tiểu.

Kinh Nghiệm Điều Trị Sỏi Thận Của Nhật Bản

+ Đại Kiến Trung Thang: thích hợp với sỏi điển hình.

+ Thược Dược Cam Thảo Thang:hợp với những bệnh nhân nặng có cơn đau sỏi thận, sỏi bàng quang.

+ Đại Hoàng Phụ Tử Thang: có tác dụng đối với sỏi bị ứ đọng. Tính chất hàn nhiệt của các vị thuốc giúp cho dễ tan sỏi.

Điều Dưỡng:

+ Nên uống nhiều nước để tránh cặn sỏi động lại.

+ Khi muốn tiểu, không nên nín lại lâu ngày sẽ kết thành sỏi.

+ Theo ‘British Medical Journal’: các nhà nghiên cứu viện đại học California nhận thấy ở 110 người bệnh bị sỏi thận: 93 người bệnh luôn ngủ nghiêng về một bên, trong số đó có 76% có sỏi ở phía bên đó. Vì thế, khi ngủ, nên trở mình cả hai bên hoặc nằm ngửa để tránh sỏi thận (Courrier International số 554, 20.6.2001).

Bệnh Án Sỏi Tiết Niệu thể Thận Hư, Thấp nhiệt Uẩn Kết

(Trích trong ‘Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng’)

Giang X, nam, cán bộ. Tháng 9-1977, đang đi công tác, đột nhiên bị đau bụng, cứ hơi ngửa lên, cúi xuống là xương sống đau như gẫy, không chịu nổi. Mọi hoạt động bị hạn chế. Nước tiểu vàng, đỏ, có máu. Đã uống thuốc, chích thuốc nhưng không đỡ, lập tức đưa về điều trị. Bệnh nhân đau đớn, mặt trắng bệch, mồ hôi vã ra. Bệnh nhân cho biết lưng đau từng cơn lan xuống bụng dưới, cơn đau lan xuống bẹn. Xét nghiệm nước tiểu: Albumin +, hồng cầu +++, bạch cầu 6-9, rêu lưỡi vàng dầy, bẩn, mạch Trầm Huyền có lực. Chụp phim chẩn đoán là sỏi thận bên phải. Bệnh nhân xin uống thuốc Đông y. Cho uống 5 thang Tang Căn Tam Kim Nhị Thạch Thang (Hải kim sa 30g, Hoạt thạch 30g, Kê nội kim (rang với cát) 10g, Kim tiền thảo 30g, Ngưu đằng 10g, Tang thụ căn 30g, Thạch vi 16g, Tỳ giải 10g, Vương bất lưu hành 10g). sau đó bệnh nhân lại đến, mừng rỡ cho biết buổi sáng đi tiểu, bỗng thấy bị tắc, dòng nước tiểu bị ngắt, đau nhói không chịu được, đường tiểu như có vật gì kẹt lại. Liền dùng sức rặn mạnh, viên sỏi to bằng hạt đậu nành theo nước tiểu bắn ra, chợt cảm thấy người nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng, lưng dần dần hết đau. Chụp X quang lại, hai thận và niệu quản không còn sỏi. Cho dùng thuốc bổ Thận, kiện tỳ, trừ thấp để củng cố. Sau nửa năm hỏi lại, lưng không còn đau, xét nghiệm nước tiểu hàn toàn bình thường.

Bệnh Án Sỏi Thận Do Thấp Nhiệt Hạ Chú

(Trích trong Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng)

Hoạn X. sau khi kiểm tra, chẩn đoán là sỏi thận cả hai bên. Cho uống Trân Kim Thang gia giảm (Hải kim sa16g, Kê nội kim 12g, Lộ lô thông 16g, Mạch môn 10g, Phù thạch 16g, Tiểu hồi 10g, Trạch tả 12g, Trân châu 60g, Ty qua lạc 12g, Vương bất lưu hành12g. Sắc uống). Uống hết 5 thang, đi tiểu ra 12 cục sỏi to bằng hạt đậu nành. Mọi chứng đều tiêu hết. Qua nửa năm, hỏi lại tình trạng bệnh nhân đều tốt.

Bệnh Án Sỏi Thận Do Thấp Nhiệt Ưù Trở

(Trích trong Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng)

Lý X, nam, 43 tuổi, công nhân nông trường. Đến khám ngày 2-5-1974. bệnh đã hai năm, đau hai bên bụng dưới, lan ra lưng, đau nhói như kim châm, lúc phát lúc không. Đi tiểu bị đứt đoạn, khi tiểu, dương vật đau, muốn tiểu, đôi khi tiểu ra máu/ Ăn không ngon, cơ thể nặng nề, gầy ốm. Khát, không uống được nhiều. Rêu lưỡi bẩn, mạch Hoãn, mạch bên trái hơi Trầm. Kiểm tra nước tiểu âm tính. Chụp X quang xác định sỏi bàng quang, đường kính vài cm. Đây là chứng thấp trọc ứ trệ. Điều trị phải hóa thấp, hành khí, chỉ thống, thông lâm. Cho uống 7 thang bài Niệu Lộ Kết Thạch Thang (Bạch vân linh 10g, Hải kim sa 15g, Hoạt thạch 12g, Hổ phách 3g, Kim tiền thảo15g, Mộc thông 6g, Thạch bì 10g, Trần bì 10g, Xa tiền tử 10g). Uống 7 thang, các triệu chứng có giảm. Khám lại: bụng dưới hơi giảm đau, tiểu còn có lúc đau, cơ thể gầy ốm, rêu lưỡi và mạch vẫn như cũ. Dùng bài thuốc trên có gia giảm, uống thêm 7 thang. Tổng cộng 14 thang. Chụp X quang kiểm tra, sỏi đã bị tống ra ngoài.

Bệnh Án Sỏi Niệu Quản

(Trích trong Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng)

Lý X, nữ, 33 tuổi, cán bộ. Đến khám ngày 11-1-1976. từ ngày 29-12-1975, do bị đau lưng, tiểu gắt, tiểu buốt nên đến bệnh viện chụp X quang, phim cho thấy thận bên trái hơi to. Ngang ụ ngồi bên trái, trong tiểu khung có một đám mờ to bằng hạt đậu phộng, bên cạnh lại có đám mờ nhỏ bằng nửa hạt gạo. Chẩn đoán là sỏi ở đoạn dưới niệu quản trái, kèm theo ứ nước ở bể thận trái. Bệnh nhân sợ mổ nên yêu cầu trị bằng Đông y. lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng, hơi vàng, mạch Huyền Tế, hơi Sác. Cho uống 6 thang Trục Thạch Thang (Bạch thược 10g, Cam thảo (nhỏ) 4,8g, Hải kim sa đằng 18g, Hổ phách mạt 4g, Kê nội kim 6g, Kim tiền thảo 30g, Mộc hương 4,8g, Sinh địa 12g. Mộc hương cho vào sau, Hổ phách mạt để ngoài uống với nước thuốc sắc. Ngày một thang, chia hai lần uống). Khám lại: hết đau lưng nhưng thỉnh thoảng cảm thấy đau trong thời gian rất ngắn. Mấy ngày nay cảm thấy chỗ đau chuyển xuống dưới. Mỗi lần đi tiểu xong thấy đau ở lỗ tiểu. Lưỡi vẫn như trước, mạch Huyền, bộ thốn Nhược. Dùng bài thuốc trê, cho uống tiếp 4 thang thì tiểu ra 2 viên sỏi. Một viên to bằng hạt đậu phộng, một viên bằng nửa hạt gạo. Hoàn toàn phù hợp với kết quả X quang. Ngoài ra còn tiểu ra một số chất như cát mịn. Sau đó bệnh cơ bản đã tiêu. Khuyên người bệnh uống bài thuốc lợi thủy, thông lâm gồm: Trân châu thảo 12g, Tiểu diệp phong vĩ thảo 12g, Tiểu sinh địa 12g, Tiểu cam thảo 4,5g, Kim tiền thảo 18g, Quảng mộc hương 3g (cho vào sau). Uống thêm mấy thang để củng cố.

Bệnh Án Sỏi Thận

(Trích trong Chinese Herbal Medicine And The Problem Of Aging)

Một người đàn ông 38 tuổi cảm thấy đau bụng, nặng ở sau lưng và phía dưới, đến bệnh viện chúng tôi ngày 24 tháng 9 năm 1968. Bẩy năm trước đây đã có triệu chứng này và vào bệnh viện đa khoa, ở đó được chẩn đoán là sỏi thận. Do đau liên tục bệnh nhân đã đến bệnh viện đông y. Khám thấy bệnh nhân luôn có triệu chứng cứng vai và đầy hơi, thích ăn thực phẩm rán, không thích rau, không hút thuốc và cũng không uống rượu, thích Coca-cola và rượu táo, có xu hướng trở nên táo bón, tiểu tiện 5 hay 6 lần hàng ngày, thể trạng khỏe, cân nặng 68 kg, mạch Huyền, rêu lưỡi trắng. Phúc chẩn không có chứng trạng gì đặc biệt. Để loại sỏi bệnh nhân đã được dùng bài Đại Hoàng Phụ Tử Thang. Bài thuốc gồm Đại hoàng là loại thuốc hàn, Phụ tử là loại thuốc nhiệt và Thược Dược Cam Thảo Thang để làm giảm đau, thêm Xuyên tiêu để loại bỏ đầy hơi. Bệnh nhân dùng bài thuốc này được nửa năm, chứng cứng vai dần dần dịu đi và đã mang lại 4 hòn sỏi cỡ bằng hạt ngô cho tôi xem, vào lúc đó vẫn còn nhiều những hòn sỏi nhỏ bằng hạt cát, và bệnh đã không tái phát nữa.

Cổ họng vướng đàm

Cổ họng vướng đàm

TTO - * Trước đây khoảng hai tháng rưỡi tôi bị đau họng, tôi đến tiệm thuốc tây mua thuốc viêm họng uống. Sau khi uống xong thì không còn bị đau họng nữa, nhưng trong họng tôi đến giờ đàm cứ như bị đóng ngay họng, nuốt nước miếng vào bị vướng lại và ói ra, đặc biệt là những lúc uống nước có đá hay trời lạnh.

Tôi khạc nhưng không ra, có cảm giác đàm vướng ngay vòm họng. Xin bác sĩ cho tôi lời khuyên.

Nguyen thinh

- Trả lời của Phòng mạch Online:

Tình trạng của bạn là tình trạng viêm vòm mũi họng rất phổ biến. Trong trường hợp điển hình thường có khạc đàm vào buổi sáng, nuốt vướng, dễ có cảm giác ói, rất dễ viêm họng cấp, đặc biệt là sau khi uống nước đá.

Bệnh thường được chẩn đoán bằng cách nội soi vòm mũi họng sẽ thấy niêm mạc ở vùng này đỏ, phù nề, đôi khi có ít đàm ứ đọng.

Cách điều trị rất đơn giản: nhỏ nước muối sinh lý vào mũi hít thật sâu vào, sau đó khạc ra để nước muối đi một vòng từ mũi ngang qua vòm mũi họng và rửa sạch vùng này sau đó đi ra ngoài, mỗi ngày thực hiện 2 -3 lần, mỗi lần 4-5 lần cho mỗi bên mũi. Thường bệnh sẽ giảm hẳn trong tuần đầu tiên. Nếu không giảm thì cần hỗ trợ thêm thuốc kháng viêm, long đàm hoặc kháng sinh do bác sĩ chuyên khoa chỉ định.

Viêm xoang không chừa ai!

Viêm xoang không chừa ai!

Bác sĩ Trần Trọng Uyên Minh khám bệnh bằng phương pháp nội soi tại Bệnh viện Tai mũi họng TP.HCM Ảnh: HOÀNG THẠCH VÂN
TT - 57% bệnh nhân đến khám ở Bệnh viện Tai mũi họng TP.HCM vì viêm xoang là bệnh rất thường gặp ở người lớn cũng như ở trẻ em. Bệnh viêm xoang có rất nhiều loại.

Một người có thể nhận biết mình có bị viêm xoang hay không qua đánh giá năm triệu chứng chính và sáu triệu chứng phụ.

Năm triệu chứng chính gồm: nghẹt mũi; chảy mũi: chảy mũi trước, chảy mũi sau: khịt, khạc, ngửi kém, mất mùi; đau nhức mũi mặt (góc mũi mắt, vùng má, thái dương, vùng trán, vùng chẩm, đau sâu trong hố mắt); nhức đầu; sốt: thường ở viêm xoang cấp.

Sáu triệu chứng phụ gồm: nhức đầu (đỉnh, thái dương, chẩm gáy); ho dai dẳng (không có nguyên nhân ở họng hoặc khí phế quản); đau tai hay cảm giác đầy, căng, nặng trong tai; nhức răng; hơi thở hôi; mệt mỏi, không tập trung, ảnh hưởng đến sức làm việc trí óc.

Một người được chẩn đoán bị viêm xoang khi có hai triệu chứng chính trở lên, hoặc có một triệu chứng chính đi kèm thêm hai hoặc hơn hai triệu chứng phụ. Có thể nghi ngờ bệnh nhân bị viêm xoang khi có một triệu chứng chính hoặc có các triệu chứng phụ và các yếu tố khiến viêm xoang dễ phát triển như bệnh nhân có dị ứng, vẹo vách ngăn mũi, hút thuốc... Để xác định chính xác một bệnh nhân có bị viêm xoang hay không, chỉ cần chụp X-quang xoang thông thường, hoặc kết hợp chụp X-quang xoang với nội soi mũi xoang. Với những trường hợp khó hơn cần phải chụp CT-Scanner để chẩn đoán.

Tái phát sau mổ

Có nhiều phương pháp điều trị viêm xoang. Bệnh nhân có thể dùng thuốc giảm đau đơn giản; xông hơi; rửa mũi bằng nước muối sinh lý ấm; dùng thức ăn, uống nóng (trà, xúp); dùng thuốc chống sung huyết mũi (chống nghẹt mũi); nghỉ ngơi tối đa. Nếu các triệu chứng không cải thiện sau 48 giờ hoặc đau tăng thêm nên đến bác sĩ khám bệnh. Bác sĩ có thể sẽ cho dùng thuốc kháng sinh, kháng viêm. Khi uống thuốc hết toa, bệnh nhân tái khám theo hẹn của bác sĩ.

Chọc rửa xoang hàm được chỉ định trong một số trường hợp viêm bán cấp và viêm mãn. Một số trường hợp viêm xoang mãn cần được phẫu thuật khi bệnh nhân không đáp ứng với điều trị nội khoa. Tuy nhiên, sau phẫu thuật vẫn có 30-40% bệnh nhân tái phát. Việc tái phát viêm xoang tùy theo cơ địa, tùy loại viêm xoang bệnh nhân mắc phải và tùy thuộc việc bệnh nhân có tuân thủ các hướng dẫn điều trị, theo dõi của bác sĩ hay không.

Lưu ý nếu bệnh nhân bị bệnh viêm xoang không được điều trị đúng mức có thể dẫn đến một số biến chứng như: viêm phế quản mãn tính hay lao phổi giả: do mủ từ xoang viêm chảy xuống họng. Bệnh nhân có ho, khạc đàm đôi khi lẫn máu, sốt nhẹ về chiều…; viêm họng mãn: rát họng, vướng họng, thường phải nuốt liên tục nên đôi khi có cảm giác nghẹn thở; viêm dây thần kinh thị giác sau nhãn cầu: có thể do viêm xoang cấp hay mãn. Mắt bị mờ, thị lực giảm rất nhanh; viêm tấy ổ mắt, viêm mí mắt, viêm túi lệ; viêm xương sọ; viêm màng não: bệnh nhân nhức đầu, cứng gáy, nôn…; viêm tắc tĩnh mạch hang: sốt cao, rét run, nhức đầu, cứng gáy, lồi mắt, dãn tĩnh mạch vùng trán và mí mắt…; thậm chí bị áp xe não, viêm não.

Rửa tay thường xuyên

Để ngừa viêm xoang, chúng ta phòng tránh và điều trị sớm khi bị cảm cúm. Có thể chích ngừa cúm mỗi năm; rửa tay thường xuyên, nhất là sau khi bắt tay người khác; ăn nhiều trái cây, rau cải; giảm stress. Ngoài ra nhớ tránh gió, bụi, khói (thuốc lá, nhang trừ muỗi, nhang bàn thờ, khói xe…), hơi hóa chất, máy lạnh, quạt máy; không để nghẹt mũi kéo dài; điều trị dị ứng kịp thời và thỏa đáng.

Trên thực tế có những bệnh nhân không theo hướng dẫn điều trị của thầy thuốc ở hai dạng: yêu cầu mổ khi chưa cần mổ (tốn kém không cần thiết mà phải chịu tỉ lệ tai biến của phẫu thuật); không chịu mổ khi có chỉ định mổ (sẽ dẫn đến các biến chứng nêu trên). Về phía thầy thuốc, có khi bệnh chưa cần mổ vẫn chỉ định cho mổ. Có trường hợp bệnh nhân tự ý dùng thuốc, nhất là thuốc xịt mũi, nhỏ mũi để chống nghẹt mũi kéo dài hơn 10 ngày sẽ bị viêm mũi do thuốc, làm nặng thêm bệnh viêm mũi xoang đang có.

TS.BS TRẦN TRỌNG UYÊN MINH
(BV Tai mũi họng TP.HCM
Download Opera, the fastest and most secure browser
December 2009
S M T W T F S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31