Posts tagged with "IT News"
Sunday, 25. October 2009, 16:02:36
IT News, SysNet
Quản lý rủi ro CNTT ngành ngân hàng
Thứ năm, 11/01/2008, 00:00 GMT+7
Tại hội thảo “An toàn hệ thống thông tin ngành ngân hàng” diễn ra ngày 5/12/2007 tại Hà Nội, công ty W&G Systemhaus für Informationstechnologien (W&G) và công ty ALLIANT đã công bố “Dự án an ninh CNTT”, trong đó bao gồm cả dịch vụ quản lý rủi ro. TGVT - PC World Việt Nam đã có cuộc trao đổi với ông Cao Kim Ánh, giám đốc ALLIANT và ông Heiko Willuweit, đại diện W&G tại Việt Nam (VN).
Thưa ông, “Quản lý rủi ro” có phải là một khái niệm mới trong lĩnh vực an ninh CNTT? Quản lý rủi ro CNTT bao gồm những nội dung gì?
Ông Cao Kim Ánh
Ông Cao Kim Ánh: Quản lý rủi ro là một lĩnh vực quan trọng có tính quyết định thành công của các dự án, đặc biệt đối với các dự án lớn và phức tạp như các dự án ứng dụng CNTT trong DN. Đây không phải một khái niệm mới nhưng luôn là vấn đề phải quan tâm hàng đầu của tất cả các dự án. Ở VN, rất nhiều cơ quan ứng dụng CNTT chưa coi trọng đúng mức vấn đề này, thậm chí chưa hiểu biết đầy đủ về nó.
Quản lý rủi ro bao gồm việc phòng ngừa rủi ro (nhận dạng nguy cơ và đánh giá khả năng xảy ra sự cố cùng thiệt hại, cơ chế để giám sát các nguy cơ đó...) và xử lý hậu quả nếu xảy ra rủi ro (chiến lược xử lý, các biện pháp và công cụ được áp dụng, phân bổ lực lượng để khắc phục....). “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, phòng ngừa rủi ro có ý nghĩa quyết định, tuy nhiên, cũng phải sẵn sàng các giải pháp và phương tiện để khắc phục nhanh và tốt nhất hậu quả nếu chẳng may rủi ro vẫn xảy ra. Quản lý rủi ro đòi hỏi phải dự đoán được các nguy cơ rủi ro và thiệt hại, đầu tư cho việc phòng ngừa và khắc phục chúng một cách thích hợp theo nguyên tắc: đầu tư phải tương xứng với giá trị cần bảo vệ.
Quản lý rủi ro CNTT trong các ngân hàng và tổ chức tài chính có điểm gì khác biệt cần lưu ý?
Một nền tảng CNTT hoạt động không vững vàng là lý do dẫn tới sự chậm trễ trong công việc, và nguy hiểm nhất là dẫn tới phá sản công ty
Ông Heiko Willuweit: Lĩnh vực ngân hàng và tài chính là một trong các lĩnh vực an ninh nhạy cảm nhất đối với cả nhà quản lý DN lẫn khách hàng của họ. Vấn đề quản lý rủi ro càng trở nên quan trọng hơn khi mà hầu như các hoạt động và dịch vụ chính trong các lĩnh vực này đều đã được số hóa và thực hiện trong các “không gian ảo” và “mở” ở mức độ cao (trên phạm vi toàn cầu). Đây cũng là lĩnh vực chịu sự tấn công liên tục và ngày càng tinh vi của các loại tội phạm tin học. Trong khi đó, an ninh thông tin không chỉ liên quan đến tài sản và tiền của, mà còn liên quan đến hạ tầng và huyết mạch của hầu như toàn bộ đời sống kinh tế và xã hội. Do đó, đảm bảo an ninh và phòng chống rủi ro phải là một yêu cầu rất cao, gần như tuyệt đối..
Nội dung và mục tiêu của “Dự án an ninh CNTT” là gì? Vai trò của ALLIANT và WG trong đó ra sao?
Ông Cao Kim Ánh: Đây là một thỏa thuận hợp tác giữa ALLIANT và W&G. Mục tiêu của dự án là đưa ra các chương trình đào tạo và thực hiện các giải pháp giám sát an ninh CNTT phù hợp cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác của VN. W&G là một công ty có nhiều kinh nghiệm về an toàn hệ thống thông tin tại CHLB Đức, rất quan tâm đến việc cung cấp các giải pháp an ninh “tuyệt đối” cho các tổ chức, bằng cách xem xét cụ thể các trường hợp ứng dụng và đưa ra các giải pháp phù hợp cả về tổ chức và công nghệ.
Riêng trong vấn đề quản lý rủi ro CNTT, W&G quan tâm đến việc nhận dạng các nguy cơ đối với an ninh hệ thống thông tin, cơ sở hạ tầng, cơ sở dữ liệu, các ứng dụng và các giải pháp để kiểm soát được các nguy cơ đó.
Ông Heiko Willuweit: Chúng tôi quan tâm không chỉ các yếu tố kỹ thuật và công nghệ, mà còn các vấn đề liên quan đến tổ chức và nhân sự. Ngoài các giải pháp an toàn mang tính kỹ thuật và vật lý, như chọn lựa địa điểm an toàn để triển khai hệ thống; thiết bị bền vững; các quy trình, thủ tục, việc đào tạo và giáo dục người dùng... là rất quan trọng. Trên thực tế, các hư hỏng và mất mát, sử dụng tài nguyên không đúng (do vô tình hay cố ý) hiện nay khá nhiều. Do đó, các giải pháp và công cụ này (tường lửa, mã hóa, xác thực, kiểm tra quyền hạn, sao lưu và phục hồi...) là các trợ thủ đắc lực để phòng ngừa và khắc phục rủi ro, nhưng chúng không thể thay thế vai trò chính yếu của con người.
ALLIANT phối hợp với W&G trong các hoạt động tiếp thị, khai mở thị trường, đào tạo và hỗ trợ tại VN. Chúng tôi sẽ giúp khách hàng đưa ra những phương pháp kiểm tra, còn ALLIANT đưa ra những phương án, điều kiện hiện có trong thị trường CNTT để sửa đổi các khiếm khuyết được phát hiện. Nghĩa là: mỗi khách hàng sẽ tự kiểm tra xem mình đã có một nền tảng CNTT phù hợp với nhu cầu thị trường chưa. Nếu họ có nhu cầu cụ thể trong lĩnh vực CNTT, họ sẽ là người quyết định cùng với ALLIANT và W&G tìm những giải pháp thích hợp.
Thu Nga- theo pcworld
Người viết : admin
Sunday, 25. October 2009, 15:52:31
IT News, SysNet, Mangement
Thế giới thiếu phương thức giảm thiểu rủi ro CNTT
Ảnh:
Ảnh:computerdoctor
Theo một nghiên cứu của Symantec kéo dài 12 tháng dựa trên thông tin thu thập từ hơn 500 lãnh đạo CNTT thuộc các tổ chức và doanh nghiệp trên toàn cầu thì đa số thừa nhận chưa có biện pháp kiểm soát lỗ hổng an ninh mạng.
Báo cáo quản lý rủi ro CNTT (IT Risk Management Report - IRMR) cho thấy phần lớn những người được hỏi cho rằng sẽ gặp một vài rắc rối dạng bảo mật hoặc tuân thủ chính sách trong vòng 1 - 5 năm nữa. Cụ thể, 66% trong số 500 CIO dự báo sẽ gặp lỗi lớn về tuân thủ quy định ít nhất 1 lần trong chu kỳ 5 năm. Bên cạnh đó, 58% khẳng định mỗi chu kỳ 5 năm, ít nhất có 1 lần bị mất mát dữ liệu lớn do các vụ việc như sập trung tâm dữ liệu, dữ liệu hỏng, lỗ hổng hệ thống bảo mật.
Quản lý rủi ro CNTT hiệu quả đòi hỏi sự kết hợp hài hòa của kinh nghiệm chuyên sâu và đầu tư trong vấn đề kiểm soát quy trình cũng như kiểm soát công nghệ. Những chương trình quản lý vấn đề này hiệu quả nhất thường sử dụng công cụ là sự kết hợp công nghệ được lựa chọn tốt nhất với các quy trình ưu việt. Những người tham gia cuộc điều tra cho IRMR thuộc mọi cấp độ trong tổ chức, ngành công nghiệp, quy mô, và có vị trí địa lý khác nhau nhưng đều chung quan điểm rằng khả năng tổ chức của họ về kiểm soát công nghệ là hiệu quả hơn so với kiểm soát quy trình.
Chỉ 38% người được hỏi đánh giá tổ chức của họ đạt hiệu quả trên 75% trong việc kiểm soát quy trình kiểm kê, phân loại và quản lý tài sản. Những biện pháp kiểm soát này cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng một chương trình quản lý rủi ro CNTT giúp thể hiện những ưu tiên của tổ chức. Nếu không đánh giá rủi ro cẩn thận, tất cả các tài sản có thể được đánh đồng về tầm quan trọng, khi đó sẽ có những tài sản được bảo vệ quá mức cần thiết, trong khi chỗ khác lại không đủ so với yêu cầu.
Jon Oltsik, chuyên gia phân tích cao cấp bộ phận chiến lược doanh nghiệp của Symantec, cho biết: "Các tổ chức bắt đầu nhận thấy giá trị việc sử dụng biện pháp chủ động hơn là bị động đối với quản lý rủi ro CNTT. Để hiệu quả, mỗi đơn vị phải đánh giá cả công nghệ lẫn các quy trình cũng như hiểu rõ về những rủi ro khác nhau có thể ảnh hưởng tới hệ thống".
Việt Thi
Sunday, 25. October 2009, 15:46:37
IT News, SysNet, Mangement
Thách thức và cơ hội cho CIO
11:42-15/01/2008
Mất điện, bị tấn công khủng bố, gian lận tài chính, động đất, virus sinh học và virus máy tính chỉ là một số trong những thảm họa xảy ra cho các công ty và tổ chức khắp nơi trên thế giới trong những năm gần đây. Những hậu quả nặng nề và chi phí phục hồi cao đã khiến những khái niệm về quản lý rủi ro trở thành một vấn đề hàng đầu trong chương trình nghị sự của nhiều tổ chức. Điều này cũng đặt ra những thách thức và cơ hội cho các giám đốc công nghệ thông tin (Chief Information Officer – CIO).
itgatevn 0006944 - CIO.jpgNhững kế hoạch ứng phó (contingency plan), máy chủ ở xa, ứng dụng bảo mật tinh vi, công nghệ cho nhân viên lưu động, hệ thống sao lưu dự phòng và hệ thống an ninh là những hoạt động cơ bản trong lĩnh vực quản lý rủi ro. Tuy nhiên, đối với một CIO, chỉ đơn thuần triển khai và quản lý những giải pháp này thì chưa đủ.
Ngày nay, người ta mong đợi các CIO đóng một vai trò bao quát hơn và mang tính chiến lược nhiều hơn trong các tổ chức. Họ phải tư vấn cho tổng giám đốc, các thành viên trong ban giám đốc và hội đồng quản trị về những vấn đề khác trong tổ chức. Họ phải am hiểu nhiều loại rủi ro khác nhau, như rủi ro trong những hoạt động công nghệ thông tin (CNTT), rủi ro trong việc triển khai và sử dụng công nghệ, rủi ro trong việc mở rộng tổ chức và rủi ro về chiến lược.
Trong thế kỷ 21 này, các CIO phải là những nhà lãnh đạo chứ không còn là những người thừa hành mệnh lệnh nữa. Họ phải đảm nhiệm nhiều công việc mang tính quản lý bao quát hơn chứ không chỉ bó rọ trong lĩnh vực CNTT. Họ phải khai thác sức mạnh của công nghệ để đạt đến một cấp độ cao hơn trong việc quản lý rủi ro, điều hành và vận dụng lợi thế cạnh tranh. Nói tóm lại, họ phải trở thành một CIO biết quản lý các thông tin về rủi ro (risk intelligence).
Quản lý thông tin về rủi ro
Rủi ro thường được hiểu là điều không tốt, bất ngờ xảy ra. Tuy nhiên, trong quản trị kinh doanh, rủi ro là khả năng có thể xảy ra của một sự kiện nào đó tạo ra một hay nhiều tác động đối với việc thực hiện các mục tiêu của công ty. Tác động này có thể là xấu – mang lại thiệt hại cho doanh nghiệp – hoặc tốt – mang lại những cơ hội mới.
Từ “rủi ro” thường được gán cho một nghĩa xấu nên người ta thường chỉ tập trung vào việc nhận biết những yếu tố mang đến rủi ro (risk awareness). Thực ra, nếu biết khai thác tốt những thông tin về rủi ro, nhà quản trị có thể gặt hái được những thành quả tốt đẹp.
Một CIO biết quản lý tốt các thông tin về rủi ro là người phải tập trung sự chú ý và các nguồn lực vào ba lĩnh vực :
- Quản lý những rủi ro có tác động trực tiếp đến bộ phận CNTT.
- Ứng dụng công nghệ tại tất cả các bộ phận trong tổ chức để giúp các nhóm khác nhận biết và quản lý tốt những rủi ro của họ.
- Am hiểu những thông tin về rủi ro ở cấp độ doanh nghiệp.
Cách nắm bắt thông tin về rủi ro
Để quản lý tốt những thông tin về rủi ro, CIO phải là một nhà điều hành cấp cao trong tổ chức để có một quan điểm chiến lược tổng thể cho cả tổ chức. Họ cũng phải quan tâm đến các vấn đề liên quan đến kinh doanh và hoạt động chứ không phải chỉ quanh quẩn với các hệ thống CNTT để bảo đảm sự an toàn cho dữ liệu.
Dưới đây là bảy bước để trở thành một CIO biết quản lý tốt những thông tin về rủi ro :
1. Thực hiện các bước nhỏ.
Hãy đánh giá tình trạng quản lý rủi ro trong bộ phận CNTT trước khi bạn mở rộng sự chú ý của mình đến toàn thể doanh nghiệp bằng những câu hỏi, như : Tiến trình quản lý rủi ro hiện tại tốn kém ở mức nào ? Nhân viên trong bộ phận có hài lòng với quy trình quản lý rủi ro đó không ? Ta có biết những dạng rủi ro của bộ phận không ? Những dạng đó có tương đồng với các dạng rủi ro của toàn tổ chức không?
2. Thiết lập các ưu tiên dựa trên tác động.
Cách thiết lập là tập trung trước hết vào những sáng kiến có thể đạt tới và có tác động mạnh nhất đến hoạt động của tổ chức. Phân tích những tác động đó. Việc phân tích này sẽ giúp bạn nhận biết những khu vực có tiềm năng tạo ra nhiều lợi ích nhất.
3. Tự động hóa việc kiểm soát.
Việc tự động hóa và kết hợp các quy trình và các hệ thống không chỉ giúp bạn ngăn chặn các chi phí khác mà còn có thể thẩm tra một số lỗi do con người tạo ra.
4. Phân bổ và sắp xếp hồ sơ người sử dụng (user profile).
Phát triển những hệ thống hồ sơ này sao cho bạn có thể định rõ và phân phối thông tin phù hợp với từng vai trò của người sử dụng. Việc tùy chỉnh cấp độ truy cập thông tin phù hợp với vai trò và trách nhiệm của từng nhân viên, và việc cho phép những người có quyền ra quyết định phân phối những thông tin liên quan một cách có hiệu quả sẽ giúp bạn kiểm soát thông tin tốt hơn.
5. Cải thiện việc quản lý thông tin.
Khảo sát những chiến lược CNTT, những quy trình và công nghệ cần thiết để đáp ứng các nhu cầu thông tin của tổ chức. Khi đưa ra những công cụ, quy trình và cách kiểm soát mới để cải thiện chất lượng thông tin, bạn có thể gặp phải một vài sự chống đối từ người sử dụng. Để khắc phục tình trạng này, bạn có thể vận dụng những chiến thuật “mềm dẻo” như thu phục nhân tâm hoặc dùng các công cụ để giám sát chất lượng dữ liệu.
6. Điều chỉnh tài sản CNTT cho phù hợp với các nhu cầu quản lý rủi ro rộng hơn.
Trên con đường trở thành một CIO quản lý thông tin rủi ro, bạn phải từ bỏ một phần xu hướng tập trung vào những rủi ro của bộ phận CNTT và mở rộng tầm nhìn đến nhu cầu tổng thể của tổ chức trong việc quản lý rủi ro. Kế tiếp, bạn phải làm việc với những người lãnh đạo của các bộ phận khác để đưa ra những phương cách mới, có hiệu quả nhất để đáp ứng những nhu cầu của họ.
7. Đơn giản hóa vấn đề.
Một trong những hậu quả phụ của đạo luật Sarbanes-Oxley1 là sự vội vàng triển khai những cách kiểm soát cũng như những quy trình mới và thường là không cần thiết. Nay đã đến lúc loại bỏ sự phức tạp và dư thừa bằng cách đơn giản hóa cách kiểm soát.
Nói chung, một CIO quản lý thông tin rủi ro phải điều khiển được công nghệ để đưa việc quản lý rủi ro vào những hoạt động hằng ngày của tổ chức. Điều này đòi hỏi CIO phải làm cho mọi nhân viên cảm thụ được những khái niệm chung về rủi ro, và phải đưa ra những thông số chung để đo lường rủi ro. Nó cũng có nghĩa là CIO phải cộng tác tích cực với giám đốc điều hành và các nhà lãnh đạo khác trong tổ chức.
Eddie Leschiutta
Eddie Leschiutta là thành viên quản lý của Deloitte & Touche – một trong bốn công ty kiểm toán lớn nhất thế giới – ở Canada, phụ trách lĩnh vực các rủi ro của doanh nghiệp.
1 Sarbanes-Oxley là đạo luật tài chính Mỹ ban hành ngày 30-7-2002, do Thượng nghị sĩ Paul Sarbanes và Dân biểu Michael G. Oxley đề xuất. Đạo luật này ra đời nhằm nâng cao chất lượng và tính minh bạch của các báo cáo tài chính, tăng cường trách nhiệm của hội đồng quản trị, ban giám đốc và kiểm toán viên.
Tự đánh giá khả năng quản lý thông tin rủi ro
Dưới đây là bản câu hỏi giúp một CIO tự đánh giá khả năng quản lý thông tin rủi ro của mình. Những câu trả lời “có” được một điểm, và những câu trả lời “không” không có điểm.
1. Bạn có thừa nhận (hoặc cố gắng tác động đến) những ưu tiên chiến lược cao nhất của công ty không ?
2. Bạn có hiểu vai trò của CNTT trong toàn bộ tổ chức không ?
3. Bạn có giúp phát triển một quan điểm tổng hợp về những rủi ro của toàn bộ tổ chức, chứ không chỉ của bộ phận CNTT không ?
4. Bạn có đánh giá những hệ thống của tổ chức được chuẩn bị như thế nào để chống lại những tác động và các loại rủi ro khác nhau, và phát triển những phương cách để cải thiện khả năng phục hồi của tổ chức không ?
5. Bạn có am hiểu những luật lệ và quy định hiện hành mà công ty của bạn phải tuân thủ không ?
6. Bạn có điều chỉnh tài sản CNTT dựa trên những ưu tiên tuân thủ các quy định không ?
7. Bạn có kiểm tra những phần dư thừa hay những phần phức tạp không cần thiết trong hệ thống hiện hữu của công ty không ?
8. Bạn có biết những đồng nghiệp của bạn, ở trong và ngoài công ty, đang làm gì trong việc quản lý rủi ro theo kiểu mới không ?
9. Bạn có tập trung giảm chi phí khi tuân thủ các quy định thông qua việc tự động hóa, tiêu chuẩn hóa và hợp nhất không ?
10. Bạn có cải thiện những khả năng của tổ chức để phát triển, sản xuất và phân phối thông tin với những giải pháp, quy trình và hệ thống tốt hơn không ?
11. Bạn có tin rằng nếu bạn thiết kế một chương trình quản lý rủi ro ngay từ đầu, bạn sẽ vẫn làm theo cách như hiện nay bạn đang làm ?
12. Bạn có biết tổ chức của bạn đang phải chi trả bao nhiêu cho việc quản lý rủi ro, và kinh phí dự trù cho những quý và năm sắp tới không ?
13. Bạn có biết cách đo lường lợi nhuận mang lại từ sự đầu tư vào việc quản lý rủi ro trong toàn tổ chức không ?
14. Bạn có dùng tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư để lý giải cho khoản chi phí về quản lý rủi ro không ?
15. Bạn có biết thời gian xuất hiện và những động lực của những rủi ro trong tương lai không ?
• Cách tính điểm :
14-15 điểm : Bạn hoàn toàn có thể quản lý thông tin rủi ro.
10-13 điểm : Sự thông minh của bạn là
một lợi thế nhưng bạn cũng cần phải nghiên cứu thêm về lĩnh vực này.
6-9 điểm : Bạn chỉ mới hiểu sơ về lĩnh vực này, cần phải học hỏi nhiều
hơn nữa.
0-5 điểm : Tổ chức của bạn đang gặp nguy hiểm và bạn cần phải tham gia để tìm ra một giải pháp thích hợp. Cần phải hành động ngay lập tức !
NAL (theo TBVTSG)
Sunday, 25. October 2009, 11:01:04
IT News, SysNet
5 bước quản lý rủi ro CNTT hiệu quả Các tổ chức ngày càng gặp nhiều rắc rối về vấn đề bảo mật, khả năng sẵn sàng, hiệu suất hoạt động, tính tuân thủ. Chúng tác động đáng kể tới doanh thu, danh tiếng, hiệu suất và cả chi phí.
Bao-mat.jpg
Các tổ chức đang gặp phải ngày càng nhiều rắc rối về những vấn đề bảo mật. Ảnh: T.S
Theo Viện Bảo mật Máy Tính và theo FBI, chi phí trung bình từng vụ truy nhập thông tin trái phép là khoảng hơn 85.000 USD trong năm 2006, và những chi phí về thời gian hệ thống ngừng hoạt động lên tới hàng chục nghìn đô la Mỹ mỗi giờ. Thậm chí bất cứ ai cũng không mất nhiều thời gian để nhận ra những phương thức quản lý rủi ro CNTT tốt cũng sẽ nhanh chóng chạm ngưỡng tới hạn của chúng.
Vậy làm cách nào mà các tổ chức có thể cải tiến từ phương thức quản lý rủi ro CNTT tốt thành một phương thức hoàn hảo? Thách thức nằm ở chỗ phải hiểu được những vấn đề rủi ro mà các tổ chức có thể có, liệt kê và phân loại chúng theo hồ sơ rủi ro, và xây dựng một chương trình giảm thiểu rủi ro một cách hữu hiệu. Quy trình 5 bước dưới đây có thể giúp các tổ chức đánh giá mức độ rủi ro CNTT trong doanh nghiệp mình, xây dựng lộ trình giảm thiểu rủi ro, và đặc biệt là xây dựng những kế hoạch quản lý rủi ro CNTT hiệu quả, liên tục.
Bước 1 – Tăng cường nhận thức về rủi ro CNTT
Quy trình giảm trừ những rủi ro CNTT bắt đầu từ việc khám phá tổng thể, toàn diện những rủi ro CNTT bao gồm: - Xác định phạm vi của chương trình (Phạm vi rủi ro CNTT như thế nào là phù hợp?) – mở một bản ghi rủi ro CNTT trong tổ chức theo những tiêu chí tổng thể – xác định những yếu tố then chốt của rủi ro CNTT.
Việc đánh giá này cũng nên xem xét những yêu cầu, khả năng và những lỗ hổng bảo mật hiện có trong tổ chức. Cuối cùng, giai đoạn này liên quan đến việc xác định và phân loại những mối đe doạ, những vấn đề bảo mật, những lỗ hổng an ninh và những điểm yếu kém trong hệ thống, đồng thời gán thứ tự ưu tiên cho rủi ro.
Bước 2 – Xác định những tác động ảnh hưởng đến kinh doanh
Xác định những tác động ảnh hưởng đến kinh doanh thường là bước khó khăn nhất và cũng là bước quan trọng nhất. Vai trò đầu tàu CNTT sẽ có thể không được các nhân viên quan tâm, hay không được cấp vốn cho các hoạt động giảm trừ rủi ro, trừ khi các doanh nghiệp xác định được những ảnh hưởng (tích cực hay tiêu cực) của việc giải quyết từng phần rủi ro CNTT.
Việc xác định những tác động đến kinh doanh thường đi theo hướng tiếp cận gồm 2 giai đoạn:
1). Phân mức ưu tiên những rủi ro dựa trên những tác động tiềm tàng của chúng tới hoạt động kinh doanh theo hồ sơ lưu trữ rủi ro và mức độ dễ hay khó của việc giảm trừ những rủi ro này, thời gian xử lý, nguồn lực nhân viên cũng như lượng vốn đầu tư sử dụng cho việc giải quyết vấn đề.
2). Xây dựng những tham số kinh doanh chi tiết cho những rủi ro mà được đánh giá thuộc những lĩnh vực có ảnh hưởng lớn tới kinh doanh.
Bước 3 – Lập phương án giải quyết
Giai đoạn này là khi tổ chức đã biết được quy mô và những phần cấu thành kế hoạch Quản lý rủi ro CNTT, hiện trạng của tổ chức, thứ tự ưu tiên và sự phân loại của từng mảng rủi ro CNTT.
Bươc tiếp theo là xây dựng một loạt những giải pháp giảm trừ rủi ro dựa trên những yếu tố cơ sở về con người, quy trình và công nghệ, mỗi yếu tố này lại gồm có những yêu cầu, đặc tả kỹ thuật, mục tiêu và chức năng riêng.
Bước này cũng gồm những phân tích về chi phí cụ thể nhằm đạt được sự hài hoà giữa chi phí và lợi ích của những sáng kiến đề xuất phù hợp với các mục tiêu đề ra.
Bước 4 - Xác định vai trò CNTT cùng với những giá trị kinh doanh; triển khai giải pháp
Việc triển khai sẽ xác định liệu những bước giảm trừ rủi ro có được triển khai thành công hay không trên phương diện con người, quy trình và công nghệ cùng với mối liên hệ chặt chẽ với những cổ đông của tổ chức. Bước này cũng đòi hỏi có những đánh giá thường xuyên, chặt chẽ, cải tiến liên tục nhằm đạt được phương thức giải quyết rủi ro hiệu quả dựa trên những thứ tự rủi ro ưu tiên khác nhau. Với một hệ thống chặt chẽ gồm những khả năng quản lý hiệu năng và chỉ tiêu đo lường, các tổ chức thiết lập giai đoạn thu thập dữ liệu cơ bản, theo dõi hoạt động, và đánh giá về hiệu quả của chương trình so với giai đoạn trước đó.
Bước 5 – Xây dựng và quản lý tính năng thống nhất
Khi bước đầu tiên của giải pháp giảm trừ rủi ro CNTT được triển khai, các tổ chức cũng cần xây dựng những kế hoạch về nâng cấp liên tục cũng như quản lý thường xuyên đối với chương trình quản lý rủi ro CNTT này.
Khi đã có được kinh nghiệm cũng như chương trình đạt hiệu quả, các tổ chức có thể tránh hoặc vượt qua những khó khăn lớn nhất về triển khai, chẳng hạn như là việc mày mò chưa định hướng, những dự án thụ động, và thiếu quy trình định lượng.
Khi không có một công thức hữu hiệu nào cho Quản lý rủi ro CNTT, quy trình này có thể giúp các tổ chức sắp xếp nguồn lực một cách hiệu quả để đạt được những cải tiến lâu dài, thực tế trong quản lý rủi ro CNTT, trong khi đó vẫn giảm độ phức tạp và chi phí hạ tầng CNTT.
Raymond Goh
Giám đốc Symantec Việt Nam
Saturday, 17. October 2009, 08:43:59
IT News
Wi-Fi Direct báo hiệu ngày tàn của Bluetooth
Ảnh: NewsFactor.
Ảnh: NewsFactor.
Hiệp hội Wi-Fi Alliance công bố thông số mới cho phép điện thoại, máy tính, máy in... chia sẻ dữ liệu ngang hàng mà không cần đến thiết bị định tuyến (router) hay điểm truy cập không dây (hotspot).
Wi-Fi Direct, tên mã Wi-Fi P2P (peer-to-peer), sẽ sớm chuẩn hóa và dự kiến bắt đầu được triển khai từ giữa 2010. "Đây là bước tiến của công nghệ không dây. Giải pháp đơn giản này giúp truyền tải nội dung, chia sẻ ứng dụng nhanh chóng và dễ dàng giữa các thiết bị ngay cả khi chúng không nằm trong điểm truy cập Wi-Fi", Giám đốc Edgar Figueroa của Wi-Fi Alliance khẳng định.
Bluetooth hiện rất phổ biến trong điện thoại, tai nghe, máy nghe nhạc.... Chúng tiêu thụ điện năng thấp nhưng có phạm vi phủ sóng ngắn và trao đổi dữ liệu chậm. Wi-Fi Direct đảm nhiệm vai trò như Bluetooth nhưng lại có độ phủ rộng (khoảng 100 mét) và đạt tốc độ truyền tải lên đến 250 Mb/giây, tương đương Wi-Fi hiện tại. Điều này khiến không ít chuyên gia công nghệ cho rằng Bluetooth sẽ sớm lỗi thời.
Bên cạnh đó, Wi-Fi Direct tìm kiếm và kết nối thiết bị theo cặp hoặc nhóm và chỉ đòi hỏi một thiết bị hỗ trợ công nghệ này. Chẳng hạn, điện thoại với Wi-Fi Direct có thể kết nối máy tính không có Wi-Fi Direct để truyền tải file.
Châu An
Monday, 28. September 2009, 11:57:44
IT News
'Thị trường CNTT toàn cầu đã bật dậy'
Cập nhật lúc 07:55, Thứ Hai, 28/09/2009 (GMT+7)
,
Gã khổng lồ máy tính của Mỹ - HP dự đoán, ngân sách rót vào thị trường IT toàn cầu sẽ tăng trở lại vào năm 2010.
Mô tả ảnh.
(Nguồn: tgdaily.com)
Vượt đáy nhưng không đột phá
Tuy nhiên, mức dự đoán doanh thu của năm tài khóa 2010 mà HP đưa ra lại thấp hơn so với kỳ vọng của phố Wall. Chính vì vậy, giá cổ phiếu của hãng vẫn giảm 1,9% xuống còn 46 USD trong phiên giao dịch mới nhất.
Chia sẻ với cử tọa tại cuộc họp thường niên với giới phân tích, Giám đốc Điều hành Mark Hurd cho biết: "Chắc chắn các ngài sẽ hỏi chúng tôi về khả năng tăng trưởng của thị trường. Chúng tôi tin ngành công nghiệp IT sẽ bật trở lại vào năm tới, và chắc chắn, chúng tôi sẽ chạy nhanh hơn những người khác".
Nhiều hãng công nghệ đang mong mỏi chờ đợi chu kỳ nâng cấp và thay thế phần cứng mới trong khối khách hàng doanh nghiệp, tập đoàn, dự kiến sẽ mở màn kể từ năm tới. Những cỗ máy cũ sẽ được thế chỗ bằng thiết bị đời mới nhất, khi mà sức ép cắt giảm chi phí không còn đè quá nặng lên đôi vai của các giám đốc tài chính.
Tuy nhiên, dù giả định rằng sẽ có một sự cải thiện về sức mua, song HP không nghĩ đây sẽ là một đợt "hồi trào mạnh mẽ" của cả thị trường. Họ sẽ vẫn quan sát và chờ đợi xem "điều gì thực sự diễn ra", như lời của Giám đốc Tài chính Cathie Lesjak. Mà theo truyền thống thì HP vốn có tiếng là lập kế hoạch một cách "dè chừng và bảo thủ".
Dự đoán khiêm tốn
HP dự đoán lợi nhuận của hãng trong năm tài khóa kế tiếp sẽ đạt từ 4,2-4,3 USD/cổ phiếu, trên tổng doanh thu 117 tỷ - 118 tỷ USD. Trong khi đó, giới phân tích hy vọng lợi nhuận của hãng sẽ đạt 4,23 USD/cổ phiếu trên tổng doanh thu 118,1 tỷ USD.
HP cũng đặt mục tiêu cho bộ phận dịch vụ của hãng tăng trưởng 2-4% trong năm tới, thấp hơn một chút so với tốc độ tăng trưởng 3-5% của khối PC (mảng chiếm một phần năm doanh thu hàng năm).
Hãng dự kiến doanh thu của bộ phận máy in sẽ đứng yên so với năm nay, trong khi máy chủ tăng nhẹ từ 2-4%.
Cách nhìn của HP về triển vọng kinh doanh trong thời gian tới tỏ ra tương đồng với không khí tích cực, lạc quan ngày càng tăng trong giới quan chức công nghệ. Hôm qua, Giám đốc Điều hành Dave Dewalt của hãng bảo mật McAfee cũng tuyên bố "sức mua của các doanh nghiệp đã hồi phục".
Mặc dù vậy, nhiều người vẫn giữ cho mình một thái độ cẩn trọng. RIM đưa ra dự đoán doanh thu và lợi nhuận thấp hơn so với kỳ vọng của giới phân tích, bởi lo ngại các tập đoàn sẽ chọn giải pháp hoãn nâng cấp thiết bị di động cho nhân viên.
Hàn thử biểu
Không chỉ là hãng sản xuất máy tính lớn nhất thế giới, HP còn đang kinh doanh rất nhiều mặt hàng khác từ dịch vụ cho tới máy chủ và máy in. Vì thế, những lời bình luận của họ thường được giới phân tích coi như hàn thử biểu của thị trường.
Mô hình kinh doanh đa dạng và các kênh doanh thu ổn định đã giúp HP chống chọi lại được với đà suy thoái kinh tế toàn cầu. Trên thực tế, thị phần của hãng trên cả hai địa hạt là PC và máy chủ đều tăng. Một điểm nữa cũng khiến các doanh nghiệp đối thủ rất ghen tỵ, là việc HP quản lý chi phí trong thời kỳ khủng hoảng quá tốt, vì vậy mà lợi nhuận điều hành của họ cũng tăng.
Năm ngoái, HP đã chi ra 13 tỷ USD để mua lại hãng EDS, trong một thương vụ giúp biến HP trở thành nhà cung cấp dịch vụ IT lớn thứ hai thế giới, chỉ sau mỗi IBM. Quan trọng hơn, hãng đã "nuốt chửng" EDS một cách suôn sẻ, tích hợp hai nền văn hóa doanh nghiệp với nhau một cách trơn tru.
"Sự bật dậy của ngành công nghiệp PC chủ yếu là nhờ sức tiêu thụ mạnh của notebook, một lĩnh vực lợi thế của HP", chuyên gia Ronald Gruia của Frost & Sullivan nhận định.
Trọng Cầm (Theo AP)
Wednesday, 16. September 2009, 09:54:52
IT News, Stock
XHTTOnline: Ngày 19/6, tại TP Hồ Chí Minh, IBM Việt Nam và đối tác Calgie International phối hợp tổ chức buổi Hội thảo “Giải pháp Sàn Giao dịch Vàng” giới thiệu các giải pháp công nghệ thông tin dành cho các doanh nghiệp chứng khoán Việt Nam. Tới dự buổi hội thảo có hơn 150 đại diện là giám đốc điều hành (CEO), giám đốc công nghệ thông tin (CIO) của các ngân hàng và doanh nghiệp chứng khoán trong và ngoài nước đang hoạt động tại thị trường Việt Nam. Các ngân hàng và các doanh nghiệp chứng khoán hiện nay đang cần những công nghệ có thể đáp ứng đồng thời nhiều nhu cầu như tối đa hóa các khoản đầu tư, nâng cao mức độ đáp ứng của hệ thống và con người, và liên tục cập nhật những tiến bộ công nghệ mới nhất để liên tục đổi mới dịch vụ dành cho khách hàng. Hội thảo Sàn Giao dịch Vàng được tổ chức để giới thiệu những dịch vụ và sản phẩm công nghệ mới để đáp ứng được những nhu cầu đó. Tại Hội thảo, IBM đã giới thiệu các sản phẩm về hạ tầng phần cứng và giải pháp phần mềm giúp phục vụ triển khai các giải pháp Sàn giao dịch vàng. Các sản phẩm đáng chú ý nhất là máy chủ IBM System p 520 dành cho các cơ sở dữ liệu nhỏ và các ứng dụng rời rạc, máy chủ IBM System p 550 Express với hạ tầng x86 nâng cấp dành cho các doanh nghiệp tầm trung, và máy chủ phiến mỏng IBM BladeCenter JS22. Ngoài ra, một danh mục các phần mềm ảo hóa có tính năng duy trì sự liên tục dịch vụ và tăng hiệu quả dành cho Power Systems được giới thiệu như IBM Systems Director for Power, IBM Active Energy Manager for Power, IBM Power Security Software, và IBM Power Availability Software. Đặc biệt, phần mềm IBM Power VM, nền ảo hóa tối ưu dành cho các hệ điều hành UNIX, i5/OS và Linux và giải pháp phần mềm WebSphere Commerce 6.0 dành cho hệ thống thương mại điện từ (e-commerce). Hội thảo này sẽ được tổ chức tại Hà Nội sáng ngày 26/6/2008 tại Khách sạn Hanoi Hilton Opera.
Wednesday, 16. September 2009, 09:27:57
IT News, Stock
Giải pháp công nghệ cho Công ty chứng khoán (Thời báo kinh tế Việt Nam)
Chỉ mục bài viết
Giải pháp công nghệ cho Công ty chứng khoán (Thời báo kinh tế Việt Nam)
giai-phap-cong-nghe-ky2
giai-phap-cong-nghe-ky3
Tất cả các trang
Giải pháp công nghệ cho công ty chứng khóan
Ðường đua công nghệ chứng khoán hiện nay đã ðông hõn, thay vì chỉ một vài công ty chứng khoán nay đã có rất nhiều công ty tham gia và khá nhiều trong số đó đã hùng hồn tuyên bố về ðích thành công (hoàn thành việc kết nối với Sở GDCK Tp.HCM -HoSE). Cùng với các công ty chứng khoán, hàng lọat các nhà cung cấp giải pháp công nghệ nýớc ngoài cũng ðã đến Việt Nam và týõng ứng với ðó là hàng lọat các giải pháp ðýợc chào mời.Thực trạng công nghệ của các CTCK
Ông Nguyễn Thanh Nam, Giám đốc CNTT Cty CK SME – một công ty chứng khoán ðýợc ðánh giá là chi khá mạnh tay trong việc đầu tý công nghệ giao dịch trực tuyến cho rằng, việc kết nối trực tuyến với HOSE mới chỉ là býớc khởi đầu, chýa phải là thýớc đo khẳng định một công ty chứng khóan đã "về ðích” hay chýa. TTCK Việt Nam mới đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển. Công ty chứng khoán có công nghệ tốt phải luôn sẵn sàng cho nhu cầu phát triển quy mô cả về lýợng và chất của thị trường chứng khoán.
Thực tế, rất nhiều công ty công bố rằng đã đầu tý thành công công nghệ. Tuy nhiên, theo các chuyên gia chứng khoán, xét kỹ ra thì trong hõn 100 công ty chứng khóan hiện tại chỉ có 70 công ty có kết nối giao dịch trực tuyến với HOSE, trong 70 cty đó lại chỉ có 32 công ty đồng thời giao dịch ðýợc từ xa với HASTC, chỉ có 36 công ty có thể giao dịch trực tuyến qua Internet sử dụng website, và chỉ có duy nhất 2 công ty trong số ðó có thêm giao dịch trực tuyến qua Internet bằng phần mềm chuyên dụng Home Trading System (nhý phần mềm S-Pro của Chứng khoán SME đang được nhiều nhà ðầu tý quan tâm hiện nay).
Số đầu mục thông tin cung cấp cho nhà ðầu tý qua các phần mềm giao dịch cũng rất khác nhau, có phần mềm chỉ cung cấp các chức năng giao dịch trực tuyến, nhýng cũng có phần mềm cung cấp thêm tới vài ngàn ðầu mục thông tin phân tích kèm theo ðể hỗ trợ nhà ðầu tý. Bên cạnh đó, còn nhiều yếu tố khác nhý: an toàn thông tin khi giao dịch qua Internet, sự ổn định tốc độ giao dịch khi số ngýời sử dụng tãng lên, khả năng kết nối trực tiếp qua tài khoản cá nhân tại ngân hàng … cũng rất khác nhau. Ðó là chýa kể đến khả năng cung cấp thêm các dịch mới nhý: giao dịch OTC, giao dịch trái phiếu chuyên biệt, giao dịch margin, giao dịch futures/options … sắp tới sẽ ðýợc cung cấp trên thị trýờng. Chi phí sử dụng công cụ công nghệ cũng khác nhau: có công ty miễn phí, có công ty thu vài triệu đồng.
Chính vì vậy, nhà ðầu tý cần đánh giá kỹ các yếu tố đó khi lựa chọn. Phần mềm nào càng cung cấp nhiều thông tin và chức năng với sự ổn định cao, thì công nghệ của nó mới thực sự tốt.
Theo ông Nam, tại SMES, phần mềm S-Proðang ðýợc áp dụng hoàn toàn khác với các công cụ trực tuyến khác vì ðýợc xây dựng thành công cụ giao tiếp hoàn hảo giữa SME với toàn bộ các nhu cầu của một nhà ðầu tý chứng khoán, dù ðó là Nhà ðầu tý Cá nhân hay Tổ chức hoặc các Quỹ đầu tý. Với phần mềm S-Pro cài ðặt vào máy tính, thì dù đang ở bất kỳ ðâu, nhà ðầu tý sẽ có cảm giác đang ngồi đối diện một nhà tý vấn đầu tý ðầy kinh nghiệm của Chứng khoán SME, và sẽ không bỏ sót bất kỳ một cõ hội nào trên thị trýờng.
"Chúng tôi không khẳng định công nghệ của mình là tốt nhất, mà điều ðó nên ðể nhà ðầu tý kiểm chứng sau một thời gian sử sụng. Tuy nhiên, điều tôi có thể khẳng định là trên thực tế S-Pro - kênh giao dịch trực tuyến HTS (Home Trading System) cùng với S-Web – kênh giao dịch trực tuyến WTS (Web Trading System) là hai công cụ trực tuyến tiên tiến nhất thế giới hiện nay, ðang ðýợc sử dụng để xử lý 80% khối lýợng giao dịch tại các thị trýờng chứng khoán phát triển nhất nhý Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc. Hõn nữa, ðây là phần mềm ðýợc phát triển và hậu thuẫn bởi Tong Yang – HPT (Liên Doanh giữa Tập ðoàn Tong Yang của Hàn Quốc và Công ty HPT Việt Nam) – với hõn 40 nãm kinh nghiệm. Vì vậy, chúng tôi không thể không tự tin vào giải pháp công nghệ này và những tiện ích đem lại cho nhà ðầu tý", ông Nam chia sẻ.
Giải pháp nào là phù hợp?
Trên TTCK VN hiện nay, có rất nhiều công ty cung cấp giải pháp phần mềm giao dịch trực tuyến cho các CTCK, các giải pháp này triển khai tại các CTCK và phần lớn đều đạt yêu cầu của HOSE (bằng chứng là 70/100 công ty chứng khoán hiện tại đều đáp ứng yêu cầu của HOSE, trong số
70 này có 38 cty có phýõng thức giao dịch qua Internet). Trong số này, phần mềm Freewill của Thái Lan dýờng nhý có lợi thế hõn cả, ðýợc ít nhất 5 công ty đã sử dụng.
Bên cạnh Thái Lan, còn phải kể tới các nhà cung cấp giải pháp phần mềm của Hàn Quố
c nhý Tong Yang HPT – nhà cung cấp giải pháp công nghệ cho khách hàng ðầu tiên tại Việt Nam là CTCK SME). "TTCK Hàn Quốc đã trải qua những thăng trầm lên xuống nhất là từ năm 1997, tạo đáy 277,37 điểm vào ðầu nãm 1998 nhýng ngýợc lại khối lýợng giao dịch lại tãng lên ðáng kể. Yếu tố góp phần chủ yếu trong việc tăng khối lýợng giao dịch trên thị trýờng trong những nãm này chính là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giao dịch trực tuyến. Hiện giải pháp của Tong Yang ðang ðýợc các công ty chứng khoán hàng ðầu tại Hàn Quốc sử dụng nhý: Daewoo, GoldenBridge, Korea Securities, Mirae Asset, KB Asset Management, Daehan Investment, Meritz…, ông Hồ Trần Tuấn – CEO của TYHPT (liên doanh giữa Tong Yang Systems và HPT) – Công ty phát triển bộ giải pháp phần mềm cho CTCK SME cho biết.
Gói giải pháp T-Web và T-Pro dành cho các nhà ðầu tý và các công ty quản lý quỹ chuyên nghiệp, trong đó T-Bos mang đến cho công ty chứng khoán sự hoàn chỉnh về quy trình xử lý nghiệp vụ back-office, hỗ trợ công ty xử lý tất cả những vấn đề quản lý trong công ty chứng khoán với những chức năng hiện đại thông suốt đảm bảo tối thiểu hóa rủi ro do có sự can thiệp bởi ngýời dùng.
Cũng theo ông Tuấn, những đặc điểm khiến hệ thống của Tong Yang khác biệt và có sức cạnh tranh một cách thuyết phục với các hệ thống khác, chính là giải pháp giao dịch trực tuyến online-trading hiện đại, thông minh, thân thiện vớ
i ngýời dùng ðã và đang mang lại cho nhà đầu tý những tiện ích về giao dịch và về các kiến thức chuyên môn hỗ trợ việc ra quyết định đầu tý mà các sản phẩm khác không có. Ngoài khả nãng giúp nhà ðầu tý chủ động quản lý tài sản của mình một cách minh bạch, chủ động đặt và kiểm tra lệnh khớp của mình ngay lập tức, tải những thông tin tài chính, biện động kinh doanh…liên quan ðến những công ty mà mình quan tâm. Hệ thống còn cho phép lập hàng trãm danh mục đầu tý riêng biệt với hàng trãm cổ phiếu trên mỗi danh mục…Ngoài ra, hệ thống còn hỗ trợ đặt lệnh qua ðêm trýớc thời gian thị trýờng mở cửa, quản lý tài khoản theo hệ thống…giúp cho dễ dàng cho nhân viên môi giới quản lý danh mục đầu tý của khách hàng một cách hiệu quả nhất.
Điều đặc biệt hơn là hệ thống T-Pro với hàng trãm tính nãng không những có tác dụng cập nhật thông tin giao dịch mà còn cập nhật khối lýợng khớp lệnh qua biểu đồ phân tích kỹ thuật một cách liên theo thời gian thực (realtime) kể cả khối lýợng giao dịch của nhà ðầu tý nýớc ngoài. Biểu đồ phân tích kỹ thuật theo mỗi lần khớp lệnh, theo ngày, tháng, nãm với nhiều kiểu đa dạng sẽ đáp ứng ðýợc yêu cầu khắt khe của các nhà ðầu tý chuyên nghiệp. Bằng sự tích hợp này, nhà ðầu tý không phải tìm kiếm thông tin để tồng hợp, phân tích trên nhiều kênh nữa mà sẽ kết hợp ðýợc tất cả trên cùng một giải pháp công nghệ mà công ty chứng khoán đã đầu tý…Ngoài ra hệ thống còn
ðýợc tích hợp sẵn giải pháp nhận-dạng-ngýời-dùng-hai-nhân-tố (two-factor authentication: what you know and what you got) sử dụng thẻ ma trận đảm bảo an toàn tuyệt đối cho tài khoản của khách hàng và tiết kiệm chi phí đầu tý cho các công ty chứng khoán không phải đầu tý một giải pháp týõng tự từ một hãng thứ ba.
Giải pháp hay khi đã được kiểm chứngTheo ông Tuấn, khi các công ty chứng khoán tiến hành tìm kiếm và lựa chọn giải pháp cho mình thì điều đầu tiên khi ðánh giá một giải pháp công nghệ thông tin tài chính, nên tìm hiểu xuất xứ của giải pháp đó. Nếu giải pháp ðýợc phát triển và ðã kiểm chứng qua thực tiễn hoạt động ở một quốc gia có nền công nghệ thông tin và tài chính tiên tiến điều này có thể đảm bảo kiến trúc của hệ thống ổn định và sẵn sàng cho các nghiệp vụ và sản phẩm tài chính trong týõng lai ở những thị trýờng mới nổi nhý Việt Nam. Sau đó sẽ xem xét đến bề dày kinh nghiệm của nhà cung cấp giải pháp trong lĩnh vực mà bản thân phần mềm cung cấp lời giải, ở ðây là lĩnh vực kinh doanh, đầu tý chứng khoán, tài chính.
Thực tế đã chứng minh, rất nhiều dự án phần mềm thất bại vì sự thiếu kinh nghiệm, kiến thức của nhà cung cấp giải pháp trong lĩnh vực hoạt động của khách hàng, chứ không phải vì công ty phần mềm thiếu năng lực trong lĩnh vực CNTT. Sau khi có những nền tả
ng cõ bản trên, công ty cung cấp giải pháp phần mềm còn phải chứng minh ðýợc giải pháp của họ có thể hoạt động và thích nghi ðýợc với thị trýờng chứng khoán hiện tại và týõng lai ở Việt Nam. Có một khoảng cách khá xa giữa những gì họ có thể làm ðýợc ở nýớc ngoài và những gì có thể làm ðýợc ở Việt Nam…
"Ở thời điểm hiện nay, các công ty chứng khoán không phải khó khăn lắm khi tìm hiểu vấn đề này, vì hiện nay hầu hết các công ty phần mề
m nýớc ngoài ðều đã có ít nhất một vài khách hàng ở VN. Thông qua các mối quan hệ, công ty chứng khoán có thể tìm hiểu mức độ đáp ứng của phần mềm đối với hoạt động của công ty chứng khoán (hệ thống back-office) và khách hàng của công ty chứng khoán (hệ thống front-office và giao dịch trực tuyến). Theo tôi, khi tìm hiểu đánh giá các giải pháp phần mềm nên phân biệt rạch ròi vai trò chức năng cấu thành của giải pháp.", ông Tuấn nói.
Hệ thống back-office là hệ thống lõi, phục vụ tối ưu hoạt động của các phòng ban nghiệp vụ, giảm thiểu thao tác bằng tay từ đó giúp ngăn ngừa rủi ro có thể có do sai sót từ con ngýời. Hệ thống giao dịch trực tuyến và front-office nên ðýợc xem là công cụ cạnh tranh thu hút khách hàng tãng doanh thu, giảm chi phí do đó hệ thống giao dịch trực tuyến phải có nội dung phong phú, có nhiều giá trị gia tăng, thân thiện với nhà ðầu tý và ðặc biêt là vấn đề bảo mật phải ðýợc ýu tiên xem xét.
Một vấn đề khác cũng hết sức quan trọng đối với sự thành công của một dự án phần mềm công nghệ
thông tin ðó là vấn đề trao đổi thông tin trong quá trình làm việc. Đối với các công ty phần mềm nýớc ngoài, trở ngại lớn nhất đối với quá trình triển khai là rào cản ngôn ngữ. Các công ty chứng khoán khi tìm hiểu, đánh giá các công ty phần mềm nýớc ngoài nên ðánh giá ðội ngũ chuyên viên, chuyên gia ngýời Việt Nam cũng nhý các chuyên gia ngýời nýớc ngoài, tối thiểu họ nên có vãn phòng chi nhánh (không phải văn phòng đại diện) và tốt nhất là họ có một pháp nhân hoàn chỉnh ở Việt Nam. Đối với các chuyên gia ngýời nýớc ngoài, nếu các công ty phần mềm quyết tâm cam kết mạnh mẽ vào thị trýờng Việt Nam, họ sẽ cử một vài chuyên gia cao cấp sang sống và làm việc lâu dài ở Việt Nam, ít nhất 3 đến 5 năm. Có một đội ngũ nhý thế thì công ty phần mềm mới có đủ khả năng đảm bảo phần mềm có thể đáp ứng ðýợc những thay đổi của môi trýờng kinh doanh kịp thời. Việc sử dụng các chuyên gia ngýời nýớc ngoài bay sang triển khai dự án sau đó bay về là không khả thi đối với một phần mềm có nhiều thay đổi nhý phần mềm cho các công ty chứng khoán, vì nhý thế chi phí sẽ rất cao và khi výợt quá các khoản phí có thể thu, họ sẽ không thể tiếp tục hỗ trợ ðýợc.
Và cuối cùng là vấn đề tích hợp hệ thống. Nếu ðýợc, các công ty chứng khoán nên tìm kiếm một giải pháp hoàn chỉnh từ một công ty phần mềm duy nhất. Việc tích hợp các hệ thống giữa các hãng phần mềm khác nhau luôn là một vấn đề rất khó khăn trong quá trình vận hành vì sẽ rất khó phân biệt rõ ràng phạm vi trách nhiệm của mỗi bên.
Đối với nhà ðầu tý, giữa rất nhiều giải pháp mà công ty chứng khoán ðýa ra, nên tìm hiểu kỹ để tránh trýờng hợp phải chuyển đổi phức tạp khi muốn chuyển từ giao dịch ở công ty chứng khoán này sang công ty chứng khoán khác. Vấn đề cần lýu ý các nhà đầu tý là khi nghiên cứu công nghệ giúp mình an tâm khi giao dịch trực tuyến thì công nghệ đó phải đáp ứng ðýợc hai yêu cầu: Thứ nhất là ðảm bảo yêu cầu bảo mật, tốc độ xử lý lệnh nhanh và chính xác, nhiều tiện ích khi đặt lệnh và quản lý giao dịch (đặt lệnh chờ, tính toán tài sản và danh mục thật chi tiết…). Thứ hai là vấn đề rất quan trọng để hỗ trợ việc ra quyết định đầu tý: Các thống kê giao dịch, các báo cáo tổng hợp trên thị trýờng phải ðýợc thực hiện đầy đủ, cập nhật kịp thời theo thời gian giao dịch thực, các biểu đồ kỹ thuật đa dạng cũng không thể thiếu để xác định xu hýớng giao dịch của nhà ðầu tý trong và ngoài nýớc. Một hệ thống với đầy đủ thông tin sẽ giúp nhà ðầu tý không mất nhiều thời gian cho việc tìm kiếm và xử lý, từ đó tạo nhiều cõ hội thành công hõn cho chính mình.
Wednesday, 16. September 2009, 09:17:53
IT News
IBM giới thiệu dòng máy chủ IBM System P Express
Ngày đăng: 23/3/2007 16h16
Ban inGui tinPhan hoi
Tối ngày 19/3/2007 tại khách sạn Sheraton – Hà Nội và tối ngày 21/3 tại khách sạn Sofitel Plaza – TP.HCM, công ty IBM Việt Nam đã phối hợp cùng công ty Phân Phối FPT – trung tâm Phân Phối – Hỗ Trợ Dự Án thực hiện buổi ra mắt các sản phẩm IBM máy chủ hệ thống P đặc biệt (IBM System P Express model).
Giới thiệu dòng máy chủ IBM sytem p express tại TP.HCM.
Dòng máy chủ IBM p5-Entry Express (p5-510, p5-520, p5-500 và p5-550Q) cung cấp cho doanh nghiệp tất cả các tính năng ưu việt của bộ vi xử lý thế hệ mới Power 5+ do hãng IBM sản xuất, với nhiều lựa chọn cho bộ xử lý 1-way, 2-way hoặc 4-way với dual-core (lõi kép) tốc độ 2.1GHz và quad-core (4 lõi) tốc độ 1.65GHz ở mức giá cạnh tranh, là giải pháp chọn lựa phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài ra, tất cả các chi tiết sản phẩm đều do IBM sản xuất và kiểm định nhằm đảm bảo có được sự đồng bộ và sai số hư hỏng thấp nhất cho từng sản phẩm.
Định hướng cho dòng System P này, đại diện hãng IBM Việt Nam, bà Nguyễn Hoàng Cẩm Linh – Country Manager System IBM Vietnam & IndoChina phát biểu: “Trước đây, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ phải phụ thuộc vào các máy chủ chạy trên Wintel. Điều này không đáp ứng được yêu cầu phát triển về quản lý và khả năng mở rộng hệ thống của nhiều doanh nghiệp. Do vậy, giải pháp IBM System p5 trên nền tảng UNIX-AIX và Linux với mức giá cạnh tranh sẽ mang lại nhiều lựa chọn hấp dẫn với các dòng máy chủ mạnh, linh hoạt dành cho các doanh nghiệp, kể cả những doanh nghiệp đặt ưu tiên hàng đầu cho yếu tố chi phí và ổn định trong kinh doanh”.
Trong dịp này, công ty Phân Phối FPT – trung tâm Phân Phối & Hỗ Trợ Dự Án cũng công bố chương trình bán hàng đặc biệt (express seller) nhằm mục đích phát triển việc bán hàng đặc biệt cho dòng sản phẩm máy chủ hệ thống P nhắm vào thị trường tầm trung, được hỗ trợ bằng một chính sách giá dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chương trình được xây dựng với sự hỗ trợ đặc biệt của IBM.
Ông Hàn Quốc Ân – phó giám đốc trung tâm Phân Phối và Hỗ Trợ Dự Án – công ty Phân Phối FPT cho biết: “Trong thời gian tới, với nhiều chương trình khuyến mãi và hỗ trợ dịch vụ giá trị gia tăng đặc biệt trong năm 2007 từ công ty Phân Phối FPT và hãng IBM, chúng tôi hy vọng đáp ứng và mở rộng được nhu cầu hiện tại của các khách hàng chiến lược – các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời cũng hỗ trợ hệ thống đại lý hiện có trong việc thiết lập các giải pháp và dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật, cùng các chương trình ngay trong quý 2 và quý 3 tới của năm 2007”.
Quang Hải
Wednesday, 9. September 2009, 08:38:56
IT News
Góp ý đề án đưa Việt Nam thành nước CNTT mạnh
(Dân trí) - Bộ TT&TT đang lấy ý kiến của người dân đóng góp nhằm hoàn thiện Đề án tăng tốc sớm đưa VN trở thành quốc gia mạnh về CNTT.
Theo dự thảo đề án này, đến năm 2015, Việt Nam đứng thứ 70 trở lên trong các bảng xếp hạng của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) về CNTT, có tổng doanh thu lĩnh vực CNTT chiếm tỷ trọng 17 - 20% trong GDP, và tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm gấp từ 2 - 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP.
Đến năm 2020, Việt Nam đứng thứ 60 trở lên trong các bảng xếp hạng của ITU về CNTT, có tổng doanh thu lĩnh vực CNTT chiếm tỷ trọng 20 - 23% trong GDP, và tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm lớn hơn 2 lần tốc độ tăng trưởng GDP.
Dự thảo đề án cũng đặt ra 6 nhiệm vụ chủ yếu gồm tiếp tục phát triển và hoàn thiện hạ tầng viễn thông; Đưa điện thoại, thiết bị nghe nhìn, máy tính đến hộ gia đình; Đưa điện thoại, thiết bị nghe nhìn, máy tính đến hộ gia đình; Phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước, phục vụ các nhu cầu đời sống xã hội của người dân; Phát triển công nghiệp CNTT; Phát triển nguồn nhân lực CNTT; và xây dựng các tập đoàn CNTT làm chủ quốc gia vươn ra quốc tế.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, dự thảo đề án đưa ra 4 giải pháp, đó là:
- Tích cực xã hội hóa đầu tư cho CNTT, đặc biệt là phát triển hạ tầng viễn thông
- Đầu tư đột phá có trọng tâm, trọng điểm.
- Xây dựng và hoàn thiện các thể chế
- Một số cơ chế đặc thù và chính sách đột phá.
Theo Bộ TT&TT, thời gian lấy ý kiến cho dự thảo đề án này sẽ kéo dài trong gần một tháng, từ ngày 4/9/2009 đến 30/9/2009. Bạn đọc có thể góp ý tại đây.
P. Thanh
Sunday, 30. August 2009, 21:27:30
IT News
CNTT-TT Việt Nam phát triển đáng kinh ngạc
Nhiều đại biểu quốc tế tại WITFOR 2009 cho rằng sự phát triển của CNTT Việt Nam là “đáng kinh ngạc” và là một mẫu hình phát triển mà họ cần học hỏi.
Sự xuất hiện của hàng loạt những doanh nghiệp tại WITFOR 2009 đã khiến không ít đại biểu quốc tế ngạc nhiên về tốc độ phát triển của CNTT Việt Nam. - Ảnh: ICTNews
Ông Houlin Zhao, Phó Tổng thư ký Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) trong bài phát biểu lễ khai mạc Diễn đàn CNTT Thế giới (WITFOR 2009) lần thứ tư hay bên lề Diễn đàn này thường xuyên nhắc đến CNTT-TT Việt Nam như “một sự phát triển đáng kinh ngạc”.
Từ ngày 26 - 28-8-2009, Diễn đàn CNTT Thế giới 2009 (WITFOR 2009) đã diễn ra tại Hà Nội với chủ đề “CNTT-TT vì sự phát triển bền vững”. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng là Chủ tịch danh dự Diễn đàn đã đến dự và phát biểu khai mạc sáng ngày 26/8.
WITFOR là sự kiện được tổ chức theo sáng kiến của Liên hiệp quốc tế về Khoa học CNTT-TT (IFIP) với mục tiêu tăng cường hợp tác, hỗ trợ các nước đang phát triển, thúc đẩy ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội. Diễn đàn năm nay diễn ra trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế đang diễn ra là cơ hội để “thảo luận một cách toàn diện và sâu sắc về các chính sách, kinh nghiệm, cơ hội hợp tác phát triển, ứng dụng CNTT trong việc giải quyết các thách thức đối với sự phát triển bền vững, trong đó có phát triển nông nghiệp và nông thôn, cơ sở hạ tầng truyền thông, giáo dục, y tế, chính phủ điện tử, đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu, dịch bệnh, đói nghèo…”, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu.
Tốc độ phát triển CNTT - TT Việt Nam “gần như là số 1” trong khu vực
Đến Việt Nam trong vòng vài ngày, Phó Tổng thư ký ITU, ông Houlin Zhao đã có dịp đến thăm một số doanh nghiệp CNTT-TT của Việt Nam như VTC, Viettel. Cảm nghĩ ban đầu của ông là nguồn nhân lực ở đây trẻ, năng động như VTC và phát triển nhanh chóng, khát vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu như Viettel.
Tin bài liên quan
>> VN phấn đấu thành quốc gia mạnh công nghệ thông tin
>> 7 năm nữa Việt Nam sẽ thành nước mạnh về CNTT
>> 2013: Việt Nam dẫn đầu thế giới về tăng trưởng giải trí, truyền thông
>> Việt Nam ra khỏi top 10 vi phạm bản quyền phần mềm
>> Trao giải Huy Chương Vàng và Top 5 ICT Việt Nam 2009
Theo ông Zhao, hiện Việt Nam ở phía trước Indonesia và đang rút ngắn khoảng cách với Philippines về phát triển CNTT. Tại lễ khai mạc WITFOR 2009, ông Zhao nói 5 năm trước đây, Việt Nam thua xa các nước trong khu vực về phát triển CNTT nhưng nay Việt Nam đã thu hẹp khoảng cách và trong một số lĩnh vực như truy cập Internet và sử dụng CNTT, Việt Nam thậm chí còn vượt cả Phillippines. “Sự phát triển CNTT-TT (gồm ĐTDĐ, cố định và Internet, băng rộng) ở Việt Nam đã vượt qua nhiều nước châu Á khác”, ông Zhao nhận xét.
Theo số liệu chính thức cung cấp tại Diễn đàn WITFOR 2009, năm 2008, doanh thu ngành CNTT-TT Việt Nam đạt trên 10 tỷ USD, tỷ lệ sử dụng Internet đạt khoảng 25% và phổ cập điện thoại ở mức độ cao. Người dân ở các vùng nông thôn có thể dễ dàng truy cập Internet và các dịch vụ viễn thông khác với giá cả phải chăng.
Trả lời hãng tin AFP, ông Zhao nói Việt Nam “gần như là số 1 trong khu vực” về tốc độ phát triển CNTT nhưng Thái Lan, Malaysia vẫn còn ở phía trước trong khi Indonesia đã tụt lại sau, thậm chí “Việt Nam còn phát triển hơn nhiều”.
Đa số các đại biểu tham dự WITFOR 2009 đến Việt Nam lần đầu tiên. Nhiều đại biểu được hỏi cho biết một trong những mối quan tâm hàng đầu của họ tại WITFOR 2009 là thiết lập mạng lưới (networking – một hoạt động bên lề của WITFOR). Nhưng được chứng kiến các doanh nghiệp CNTT-TT Việt Nam (tham quan Triển lãm quốc tế về CNTT-TT), nghe các bài thuyết trình về chính sách và sự phát triển CNTT-TT Việt Nam, họ có thêm ưu tiên nữa là tìm hiểu kinh nghiệm của Việt Nam về phát triển CNTT-TT.
Việt Nam sẽ là nước mạnh về CNTT-TT
Tại lễ khai mạc WITFOR 2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết Chính phủ Việt Nam đang xây dựng Chiến lược tăng tốc để sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT. Nội dung chiến lược tập trung vào việc hoàn thiện môi trường pháp lý, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng thông tin, phát triển công nghiệp CNTT, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT trong các ngành kinh tế-xã hội, đặc biệt chú trọng việc phát triển nguồn nhân lực CNTT đông đảo và có chất lượng cao.
Hiện nay, CNTT-TT được ứng dụng rộng rãi trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Việt Nam. Theo ông Frank Donovan, Giám đốc Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tại Việt Nam, có 4 thành tố chính trong chính sách CNTT-TT Việt Nam đã và đang được thực hiện tốt nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội. Đó là giá cả dịch vụ, thiết bị rẻ; truy cập dễ dàng; nội dung phong phú và cuối cùng là con người.
WITFOR 2009: Cơ hội học hỏi kinh nghiệm và tìm kiếm cơ hội hợp tác
Phát biểu tại lễ khai mạc WITFOR 2009, Bộ trưởng Bộ TT&TT Lê Doãn Hợp nhấn mạnh Diễn đàn là cơ hội tốt để Việt Nam học hỏi kinh nghiệm quản lý và tìm kiếm những cơ hội hợp tác phát triển, kêu gọi đầu tư và tranh thủ sự hỗ trợ của các nước và tổ chức quốc tế trong lĩnh vực CNTT-TT. “Đây cũng là dịp rất tốt để các Bộ, ngành của Việt Nam rút kinh nghiệm, tìm hiểu công nghệ và nắm bắt nhu cầu, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của mỗi ngành nhằm đầu tư cho ứng dụng CNTT một cách hiệu quả đối với từng lĩnh vực cụ thể”, Bộ trưởng nói.
Trong những năm gần đây, ông Donovan quan sát Chính phủ Việt Nam đã có những động thái khuyến khích cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông – yếu tố quyết định giúp giảm giá cả dịch vụ. Thực tế, xu hướng giá viễn thông, Internet tại Việt Nam liên tục giảm, ngày càng tạo điều kiện truy cập cho mọi người dân.
Về nội dung, các cơ quan công quyền đã quen với cập nhật thông tin chính sách, chủ trương trên website của mình. Và động thái mạnh mẽ gần đây nhất của Chính phủ là buộc tất cả các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương công bố bộ thủ tục hành chính trên mạng để người dân dễ dàng truy cập. Tiến tới, các cơ quan công quyền sẽ cung cấp dịch vụ công trên mạng. Như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói, “CNTT giúp chính phủ nâng cao năng lực quản lý điều hành, người dân dễ dàng tiếp cận với thông tin và tri thức, doanh nghiệp giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động”.
Về yếu tố con người, lãnh đạo các tổ chức, phái đoàn quốc tế công nhận Việt Nam có một lợi thế đáng kể là nguồn nhân lực trẻ, dồi dào, thông minh. Ông Houlin Zhao nói thế hệ trẻ hôm nay chính là tương lai của ngành CNTT Việt Nam – một ngành chắc chắn là động lực phát triển của Việt Nam về lâu dài.
CNTT là tốt nhưng những mối đe dọa của CNTT là có thật
WITFOR 2009 diễn ra từ 26-28/8 với lịch trình nghị sự dày đặc (gồm 7 phiên họp toàn thể và 32 phiên họp song song của 8 Ủy ban chuyên môn), thảo luận về các vấn đề chiến lược, chính sách vĩ mô liên quan tới vai trò của nhà nước, doanh nghiệp và xã hội trong thúc đẩy ứng dụng và phát triển CNTT; xu hướng công nghệ tương lai; chính phủ điện tử; hạ tầng viễn thông, thương mại điện tử...
Chia sẻ kinh nghiệm của mình, các đại biểu đến từ Việt Nam, Bangladesh, El Salvador, Ethiopia… cho biết dù ở mức độ phát triển khác nhau, CNTT-TT đã trở thành một thành phần thiết yếu của cuộc sống, từ trong giáo dục đào tạo, cung cấp dịch vụ y tế cho đến các hoạt động điều hành của chính phủ, thỏa mãn nhu cầu thông tin của người dân. Tuy nhiên, đi cùng với đó là những mối đe dọa có thật.
Ông Alexander Ntoko, Trưởng phòng chiến lược doanh nghiệp, Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) nói bên cạnh mặt tích cực, ứng dụng CNTT, đặc biệt là Internet đặt ra những mối đe dọa không chỉ đối với riêng ai, riêng quốc gia nào mà là thách thức mang tính toàn cầu. Đó là tình trạng lạm dụng trẻ em trên mạng, sử dụng CNTT để phạm tội như đánh cắp thông tin riêng tư, tài khoản ngân hàng, phát tán thư rác…
“Đây là những vấn đề cần sự phối hợp giữa các doanh nghiệp, các tổ chức và cơ quan chính phủ để giải quyết”, ông Ntoko nói. “Tuy nhiên, cũng không thể có một chính sách toàn cầu cho những vấn đề này bởi hoàn cảnh mỗi quốc gia về kinh tế, văn hóa, xã hội… là khác nhau”.
CNTT-TT là công cụ quan trọng hàng đầu và là ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia
Phát biểu khai mạc Diễn đàn WITFOR 2009, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: “Việt Nam coi CNTT-TT là một công cụ quan trọng hàng đầu và là ngành kinh tế mũi nhọn để thực hiện các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, xây dựng xã hội thông tin, rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước. Trong nhiều năm qua, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều cơ chế chính sách và tập trung nguồn lực để phát triển CNTT – TT”.
Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT, bên cạnh vai trò của Nhà nước trong việc tạo ra môi trường thuận lợi cho việc ứng dụng và phát triển CNTT, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các nhà quản lý, các nhà khoa học và các doanh nghiệp CNTT. Đây cũng là trách nhiệm chung của mỗi tổ chức, mỗi công dân trong mỗi quốc gia, đồng thời cũng đòi hỏi sự liên kết, hợp tác giữa các quốc gia, khu vực và trên quy mô toàn cầu.
Với quyết tâm của Nhà nước, sự nỗ lực của người dân, doanh nghiệp, sự hợp tác quốc tế có hiệu quả, Thủ tướng bày tỏ tin tưởng rằng CNTT sẽ góp phần tích cực vào sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, sự phồn vinh và thịnh vượng chung của khu vực và trên thế giới.
Thủ tướng khẳng định: “Việt Nam sẽ làm hết sức mình, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đẩy mạnh hợp tác với các nước về CNTT. Tại Diễn đàn này, chúng tôi muốn chuyển đến thông điệp là Việt Nam mong muốn là thành viên tích cực của cộng đồng CNTT thế giới vì hoà bình, hợp tác và phát triển bền vững; Chính phủ Việt Nam sẽ dành sự quan tâm đặc biệt cho các tập đoàn CNTT đa quốc gia, xây dựng, triển khai và khuyến khích việc ứng dụng CNTT trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội và tạo ra một thị trường CNTT năng động; doanh nghiệp CNTT Việt Nam là những đối tác tin cậy, mong muốn hợp tác với nước ngoài trong các dự án kinh doanh, ứng dụng CNTT của mình”.
Sunday, 30. August 2009, 04:10:21
IT News, LaoDongViecLam
Trao đổi tại diễn đàn, Vụ phó Vụ CNTT, Bộ TT&TT Nguyễn Thanh Tuyên cho hay, trong chiến lược phát triển CNTT và truyền thông trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Việt Nam rất chú trọng khâu đào tạo để chuẩn bị nguồn nhân lực với hơn 200 cơ sở đào tạo, giảng dạy.
Tuy nhiên, nguồn nhân lực đáp ứng tại chỗ cho ngành CNTT đang đứng trước thách thức thiếu cả nhân lực từ tay nghề cho đến quản lý, nhất là thiếu hụt các chuyên gia hàng đầu. Kỹ năng nhân lực CNTT của Việt Nam vẫn còn thấp, thiếu kinh nghiệm, ngoại ngữ, dẫn đến sự thiếu hụt nhân lực chất lượng cao nói chung.
Do đó, một trong những chương trình hành động đó là chú trọng việc phát triển nguồn nhân lực CNTT đông đảo và có chất lượng cao.
Ông Tuyên cho hay, Việt Nam đang tiến hành đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT trong các ngành kinh tế - xã như hội, đẩy mạnh Chính phủ điện tử, theo đó giúp củng cố năng lực quản lý cho các bộ ngành, xây dựng, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng thông tin...
Với cơ cấu và quy mô thị trường CNTT nội địa còn nhỏ, ông Tuyên cũng cho rằng dù có nhiều văn bản pháp lý tạo điều kiện cho ngành CNTT phát triển nhưng tiến trình cải cách thủ tục hành chính chậm cũng là một trong những thách thức lớn hiện nay. Do đó, việc đẩy nhanh cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính đang được Chính phủ chỉ đạo ráo riết sẽ sớm góp phần tháo gỡ thách thức cho ngành CNTT.
Chính phủ đã phê duyệt khoản ngân sách cho giai đoạn phát triển 2009-2015 khoảng 900 tỷ đồng, đồng thời khẳng định Việt Nam sẽ nỗ lực giải quyết những thách thức để trở thành một điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư CNTT nước ngoài.
Chia sẻ những kinh nghiệm, bài học phát triển CNTT 40 năm qua của Hàn Quốc, Cựu Bộ trưởng Thông tin - Truyền thông Hàn Quốc Yang Seung-taik cho hay nước này đã sớm hoạch định 4 giai đoạn phát triển rõ ràng, bắt đầu từ thập niên 80.
Hiện nay, đóng góp của ngành CNTT cho tăng trưởng GDP của Hàn Quốc khoảng 30%, số điện thoại di động nước này hiện có hơn 43 triệu, 90% tổng số hộ gia đình ở Hàn Quốc sử dụng băng thông rộng internet.
Để đạt được thành quả này, ngay từ đầu, Hàn Quốc đã xác định xây dựng một nền tảng công nghệ bền vững. Chính phủ điện tử của nước này đã bắt đầu được thực hiện từ năm 1984. Hàn Quốc là quốc gia đầu tiên thành công trong việc biến ADSL thành một sản phẩm thương mại, trong đó, việc cung cấp mạng băng thông rộng thông qua điện thoại đã trở thành một nhiệm vụ hoàn toàn khả thi.
Với những thành công, Hàn Quốc đang mong muốn sáng tạo ngành công nghiệp số mới, trong đó thúc đẩy sự tham gia của mọi công dân, xây dựng hệ thống giáo dục trong kỷ nguyên thông tin.
Tại diễn đàn, đại diện quan chức cấp cao các nước trong khu vực cũng trao đổi các vấn đề, chia sẻ kinh nghiệm việc thực hiện tốt các chính sách liên quan đến CNTT và truyền thông ở mỗi nước.
*
Linh Thư
Tuesday, 28. July 2009, 04:00:26
Hack, IT News
Cơ quan điều tra gặp khó với tội phạm công nghệ cao
Giải quyết các vụ án có sử dụng công nghệ tin học, cơ quan tố tụng gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ.
Trước việc gia tăng hiện tượng sử dụng công nghệ tin học vào các hoạt động phạm tội, VKSND tối cao vừa cung cấp nội dung các vụ án đã xét xử để cơ quan tố tụng địa phương tham khảo khi giải quyết các vụ tương tự.
Đầu tiên là vụ Nguyễn Anh Tuấn cùng đồng phạm xâm nhập vào website bán hàng trực tuyến ở nước ngoài lấy thông tin thẻ tín dụng của khách ngoại rồi in vào thẻ ATM giả. Dùng thẻ giả, Tuấn cùng đồng phạm đã rút được tổng cộng hơn 1,6 tỷ đồng từ các máy ATM của Vietcombank.
Vướng mắc của vụ này là lần theo thông tin trên các thẻ ATM giả, cơ quan điều tra không xác định được cá nhân, tập thể nào là nạn nhân của vụ án. Vietcombank cũng cho rằng “việc các bị cáo rút tiền tại các máy trên không ảnh hưởng tới quyền và nghĩa vụ của ngân hàng trong việc làm đại lý quản lý máy”.
Như vậy, hành vi của các bị can có dấu hiệu trộm cắp tài sản nhưng nếu không xác định được người bị hại thì liệu đã thỏa mãn cấu thành tội phạm? Liên ngành tố tụng trung ương đã trao đổi và TAND tối cao có văn bản nhận định: “Việc chưa xác định được nạn nhân không làm ảnh hưởng đến việc xác định bản chất vụ án nên truy tố các bị cáo về tội trộm cắp là hoàn toàn có căn cứ pháp luật”.
Trên cơ sở đó, trong hai năm 2007-2008, tòa hai cấp sơ, phúc thẩm đã xét xử Tuấn và đồng phạm về tội trộm cắp, đồng thời tuyên sung công quỹ hơn 1,6 tỷ đồng do không xác định được nạn nhân.
Hình minh họa. Ảnh: Corbis
Tương tự, đầu năm 2009, TAND TP Hà Nội đã xử Cham Tack Choi (quốc tịch Malaysia) và đồng phạm về tội trộm cắp tài sản dù không thể xác định được người bị hại. Các bị cáo này được đối tượng nước ngoài cung cấp 23 thẻ VISA giả, yêu cầu sang Việt Nam rửa tiền bằng cách mua hàng thời trang đắt tiền, đồng hồ hiệu, nước hoa... mang về. Sau vài lần giao dịch, Vietcombank phát hiện có gian lận mới phối hợp với công an bắt quả tang.
Vietcombank xác minh thì thấy 23 thẻ VISA giả trên do 9 ngân hàng ở 7 nước khác nhau phát hành. Thẻ mang tên các can phạm nhưng thông tin ruột lại là các cá nhân nước ngoài không xác định được tên thật, địa chỉ. 9 ngân hàng phát hành thẻ cũng không có kiến nghị gì về việc xử lý các giao dịch bằng thẻ giả. Vietcombank và những nhà hàng, khách sạn chấp nhận thẻ cũng không bị mất tiền vì có đủ chứng từ thanh toán, đồng thời đã thực hiện đúng các quy định mà ngân hàng phát hành thẻ đề ra.
Dụ đổi tiền thật lấy điểm ảo là lừa đảo: Thời gian qua, tại Việt Nam xuất hiện hàng loạt vụ lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người dân để quảng bá các website như Colony Invest, Forex... thu hút hàng trăm người đổ tiền thật mua điểm ảo. Mạng lưới đầu tư đa cấp lan rộng theo cấp số nhân nhờ chiêu lãi suất 2%-3%/ngày tùy mức đầu tư và hoa hồng chót vót cho các trưởng nhóm thứ cấp. Hóa ra chỉ là chiêu lấy tiền của người này bỏ vào túi người kia khiến nhiều nạn nhân cũng trở thành thủ phạm.
Những tháng đầu năm nay, tòa án nhiều tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã đưa ra xét xử các nhân vật chủ chốt trong các vụ này. Nhận thức thống nhất của các cơ quan tố tụng là cho dù bị cáo không biết hoạt động đầu tư trên website là thật hay giả thì việc họ giới thiệu, lôi kéo người khác bỏ tiền thật mua điểm ảo, hưởng lãi suất tính theo điểm tích lũy... đã đủ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Về quá trình giải quyết các vụ án có sử dụng công nghệ tin học, VKSND tối cao cho biết cơ quan tố tụng các cấp đã gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ. Giữa các cơ quan tố tụng còn những nhận thức chưa thống nhất về thủ đoạn phạm tội cũng như cách vận dụng pháp luật để giải quyết án.
Những khó khăn đó bắt nguồn từ tính “phi truyền thống” của những vụ án này: Từ việc can phạm và nạn nhân không tiếp xúc trực tiếp với nhau, thậm chí không có liên hệ nào dẫn tới không thể thu thập tố cáo của nạn nhân. Chứng cứ vật chất lại hạn chế, thường chỉ là thẻ tín dụng giả, tài khoản ngân hàng ảo. Quan trọng nhất là dữ liệu máy tính thể hiện phương thức, thủ đoạn phạm tội thì đến nay chưa đương nhiên được coi là chứng cứ nếu không xử lý tốt bằng các biện pháp tố tụng, chuyển hóa.
Theo VKSND tối cao, về lâu dài phải sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự, ban hành thông tư liên ngành hướng dẫn việc xử lý tội phạm sử dụng công nghệ cao. Trong khi chưa đủ dữ liệu thực tiễn để tổng kết, việc cung cấp nội dung các vụ án đã xét xử sẽ giúp các cơ quan tố tụng địa phương tham khảo với tính chất như là “tiền lệ” để giải quyết các vụ tương tự.
(Theo Pháp Luật TP HCM)
Thursday, 9. July 2009, 07:44:56
IT News
Ngành công nghệ thông tin thế giới xuống dốc
Đức Anh
VnEconomyGửi email Bản in
02:25' PM - Thứ ba, 25/11/2008
Trong hai tuần vừa qua, liên tục các báo cáo từ các tập đoàn hàng đầu thế giới về công nghệ thông tin cho thấy sự sụt giảm đáng kể về lợi nhuận, lượng bán hàng trong ngành.
Ngành công nghệ thông tin không thoát khỏi sự càn quét của cơn khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay. Đầu tiên là cú sốc thị trường từ dự báo giảm doanh thu quý 4 của Intel được đưa ra vào ngày 12/11/2008. Công ty đang sản xuất đến 80% lượng chip máy tính trên thế giới này dự báo là doanh thu của mình chỉ đạt trên dưới 9 tỷ USD trong quý 4, giảm khoảng 1 tỷ USD so với mức dự báo được chính hãng này đưa ra vào tháng 10.
Sự tụt giảm dự báo này nặng hơn nhiều mức mà nhiều nhà đầu tư mong đợi. Việc này đã dấy lên lo ngại là chi tiêu cho công nghệ thông tin toàn cầu sẽ giảm mạnh hơn nhiều và có thể kéo dài hơn. Ngay sau khi dự báo này được đưa ra, giá cổ phiếu của Intel trên thị trường chứng khoán giảm 7%, xuống mức thấp nhất trong vòng 12 năm qua.
Đồng thời, hãng này cũng thông báo sẽ cắt giảm ngân sách cho nghiên cứu và phát triển trong quý 4.
Chỉ một ngày sau khi Intel đưa ra dự báo này, các chuyên gia phân tích thị trường công nghệ thông tin giảm mạnh dự báo doanh số và lượng bán hàng của toàn ngành, đặc biệt là của hai hãng máy tính hàng đầu thế giới là Dell và HP.
Chuyên gia phân tích Richard Gardner ở Citigroup dự báo thị trường máy tính cá nhân (PC) ở Mỹ trong năm 2009 sẽ giảm 10% so với năm 2008 và thị trường toàn cầu giảm 3%.
Chuyên gia Chris Whitmore ở Deutsche Bank cũng đưa ra dự báo giảm 5% trên thị trường PC toàn cầu trong năm 2009. Cả hai chuyên gia này đều có chung dự báo ảm đạm về việc giảm giá cổ phiếu của Dell và HP.
Đặc biệt, Dell bị lo ngại nhất do việc phần lớn khách hàng của họ là các công ty, chính phủ và tổ chức giáo dục ở Mỹ. Giá cổ phiếu của Dell lập tức giảm 4% và HP giảm 2%.
Trước đó, ngày 6/11/2008, hãng cung cấp thiết bị và giải pháp quản lý mạng Internet hàng đầu thế giới, Cisco System Inc, cũng dự báo doanh thu của hãng trong quý 4 sẽ giảm 5%-10% so với cùng kỳ năm ngoái.
Cũng trong ngày 12/11/2008, giá cổ phiếu của các nhà sản xuất phần mềm và nhà cung cấp ứng dụng dịch vụ trên Internet cũng sụt giảm kỷ lục. Cổ phiếu của Microsoft giảm 2% xuống mức thấp nhất trong vòng 10 năm qua. Cổ phiếu của Google giảm xuống dưới mức 300 USD/cổ phiếu lần đầu tiên kể từ 2005.
Trong khi đó, Microsoft lại quyết định một bước đầu tư táo bạo để đón đầu sự trỗi dậy của thị trường một khi kinh tế hồi phục. Ngày 13/11/2008, hãng này tuyên bố sẽ chi 1 tỷ USD cho việc nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Trung Quốc trong vòng 3 năm tới. Khoản chi này sẽ bao gồm cả việc đầu tư 300 triệu USD để xây một trung tâm R&D.
Trung Quốc là nhánh R&D lớn thứ hai của Microsoft trên toàn cầu, chỉ sau trung tâm R&D ở Mỹ. So với các dự chi èo uột lẻ tẻ do các hãng khác đưa ra trong năm tới, đây là khoản dự chi lớn nhất.
Nguồn: VnEconomy
Thursday, 9. July 2009, 07:18:50
IT News
Xác định lại hướng phát triển ngành CNTT
Đại diện của ban tổ chức Việt Nam Computer World tại buổi họp báo hôm 7-7. Ảnh: Thu Hiền
(TBKTSG Online) - Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, công nghệ thông tin là ngành có mức ảnh hưởng thấp nhất so với các ngành khác. Thậm chí, gia công phần mềm (outsourcing) vẫn có cơ hội phát triển và tăng trưởng. Tuy nhiên, Việt Nam cần xác định lại hướng phát triển cho công nghiệp này trong thời gian tới.
Đó là thông tin tại cuộc họp báo công bố sự kiện Toàn cảnh công nghệ thông tin - truyền thông (CNTT –TT) Việt Nam và Triển lãm quốc tế CNTT- TT Việt Nam tại TPHCM hôm 7-7. Đây là sự kiện hàng năm do tập đoàn Dữ liệu Quốc tế IDG, Hội Tin học TPHCM và Vietcham Expo tổ chức từ 15 đến ngày 19-7 tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (quận 7, TPHCM).
Ông Chu Tiến Dũng, Chủ tịch Hội Tin học TPHCM cho biết tại cuộc họp báo rằng: ngành CNTT có triển vọng phát triển trong thời gian tới, tuy nhiên Việt Nam cần xác định lại vai trò của CNTT và những đóng góp thực chất của ngành này đối với nền kinh tế.
“Việt Nam đã xác định CNTT là ngành mũi nhọn từ năm 2000. Tuy nhiên, những đóng góp của ngành trong phát triển kinh tế còn khá khiêm tốn. Ví dụ, gia công phần mềm (outsourcing) mới chỉ đóng góp 0,4% tổng GDP của cả nước và con số này còn nhỏ so với tiềm năng và cơ hội phát triển của ngành”, ông Dũng nói.
Để định hướng cho ngành CNTT phát triển trong thời gian tới, các diễn giả đến từ chính phủ, các tổ chức nước ngoài và các công ty sẽ tập trung phân tích định vị lại ngành CNTT trong chiến lược phát triển nền kinh tế.
Thêm vào đó, Hội Tin học Việt Nam, Hội Tin học TPHCM sẽ công bố các khảo sát về doanh nghiệp CNTT Việt Nam, các phân tích về hiện trạng công nghiệp phần mềm….
Cùng với hội thảo toàn cảnh CNTT-TT Việt Nam, Triển lãm Quốc tế CNTT-TT và Điện tử sẽ có 300 doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia trưng bày các sản phẩm mới tại 400 gian hàng. Ban tổ chức dự kiến sẽ thu hút 240.000 lượt người tham gia.
Hội thảo quốc gia về Chính phủ điện tử lần thứ 7 cũng sẽ diễn ra trong ngày 16-7 tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn. Sự kiện này sẽ tập trung đề xuất các giải pháp gắn kết giữa ứng dụng CNTT và cải cách hành chính tại địa phương, an ninh cho chính phủ điện tử và ứng dụng phần mềm nguồn mở trong xây dựng chính phủ điện tử.
Các thông tin chi tiết thêm về sự kiện này được đăng tải trên website: www.vcw.com.vn
Thursday, 21. May 2009, 07:32:27
IT News, Marketing, Business
Một số con số về thị trường dịch vụ IT tại Việt Nam
http://telecom-it.vn/mot-so-con-so-ve-thi-truong-dich-vu-it-tai-viet-nam/226/235.dialooseHơn 50% dân số Việt Nam dùng ĐTDĐ
Theo các con số thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT), tổng số thuê bao di động tại Việt Nam tính đến tháng 6/2008 là 48.023.785 thuê bao, không bao gồm các thuê bao cố định không dây sử dụng hạ tầng mạng thông tin di động như GPhone, HomePhone. Cụ thể, số thuê bao di động của Viettel là 19.426.006 thuê bao, MobiFone có 13.341.217 thuê bao, VinaPhone có 12.108.310 thuê bao, mạng S-Fone có 3.148.252 thuê bao. Bộ Thông tin và Truyền thông cũng công bố hiệu suất sử dụng kho số của các mạng di động. Mạng Viettel đạt hiệu suất sử dụng kho số tới 76% và là mạng di động đang có hiệu suất sử dụng kho số cao nhất. Tiếp đến là VinaPhone với hiệu suất 74%. MobiFone là 70%, đứng cuối cùng là S-Fone đạt 43%.
Internet Việt Nam qua những con số
2003: 1,7 triệu người sử dụng Internet – 2,1% dân số
2004: 4,7 triệu – 5,8% dân số
2005: 7,5 triệu – 9,1% dân số
2006: 14,7 triệu – 17,7% dân số
2007: 18,5 triệu – 22% dân số
2008 (đến tháng 4/2008): 19,4 triệu - 23% dân số
Năm ngoái, Việt Nam vừa kỷ niệm 10 năm Internet.
Nguồn: Trung tâm thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông
Ứng dụng thương mại điện tử tại Việt Nam
Theo kết quả khảo sát của Bộ Công Thương tại hơn 2.000 doanh nghiệp ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng trong năm 2007, việc ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp đang có xu hướng tăng và mở rộng trên nhiều lĩnh vực. Tỉ lệ doanh nghiệp có website tăng từ 31% năm 2005 lên 38% năm 2007. Gần 65% doanh nghiệp cho biết doanh thu từ các đơn đặt hàng qua phương tiện điện tử chiếm trên 15% trong tổng doanh thu, trong khi năm 2005, con số này chỉ là 8%.
Nhiều doanh nghiệp đã có kế hoạch ứng dụng sâu rộng hơn thương mại điện tử vào hoạt động sản xuất kinh doanh và quản trị doanh nghiệp. Trên 28% số doanh nghiệp được khảo sát cho biết có kế hoạch xây dựng website, tham gia sàn giao dịch điện tử, nâng cấp hoặc tăng cường an ninh cho hệ thống thương mại điện tử hiện hành và tin học hóa các quy trình kinh doanh trong nội bộ doanh nghiệp.
Công nghiệp nội dung số ở Việt Nam
Theo dự thảo chương trình phát triển công nghiệp nội dung số của Bộ Thông tin và Truyền thông, các lĩnh vực phát triển nội dung số của chương trình gồm: phát triển nội dung cho internet như báo chí điện tử, website, tra cứu thông tin...; phát triển nội dung cho mạng điện thoại di động như tin nhắn, tra cứu thông tin, dự đoán kết quả, bầu chọn; thương mại điện tử; học tập điện tử; giao dịch trực tuyến...
Theo dự thảo, mục tiêu đến năm 2010, ngành công nghiệp nội dung số có tốc độ tăng trưởng trung bình đạt khoảng 50%/năm và doanh thu toàn ngành đạt 400 triệu USD. Bên cạnh đó, ngành này phải đào tạo và phát triển được đội ngũ trên 30.000 chuyên gia về nội dung số. Ngành này phải làm chủ được công nghệ sản xuất, nhất là đối với sản phẩm trọng điểm như phim số, hoạt hình, giải trí trên truyền hình, trò chơi trực tuyến, trò chơi tương tác.
2008: 30% thị trường PC Việt Nam là laptop
Công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu IDC nhận định thị trường máy tính cá nhân (PC) Việt Nam sẽ phát triển vững chắc trong năm nay dựa trên tiềm năng kinh tế và nhận thức về CNTT được nâng cao trong tất cả các phân khúc thị trường, từ khối các cơ quan chính phủ tới người dùng cuối. Nếu thị trường máy tính cá nhân ở Việt Nam đã tăng trưởng 43% trong 3 quý đầu của năm 2007 thì con số này sẽ là 29% cho toàn năm 2008.
Cuối năm 2007, doanh số laptop xấp xỉ 20% tổng lượng máy tính được bán ra trong nước. Nhưng theo tính toán của các doanh nghiệp, đến hết năm 2008, miếng bánh thị phần của laptop tại Việt Nam sẽ đạt 25-30%.
Trên thế giới, hãng phân tích In-Stat dự đoán thị trường máy tính để bàn sẽ đi xuống vào cuối 2008 hoặc đầu 2009 khi sản lượng chip dành cho notebook sẽ lần đầu tiên vượt desktop.
Sự bất ổn của nền kinh tế Mỹ và những tác động của nó đến toàn cầu khiến cho tốc độ phát triển máy tính để bàn sẽ ở dưới mức 1% trong khoảng thời gian ngắn hạn (đầu 2009). Sau đó, mảng máy tính để bàn sẽ tiếp tục đạt tỷ lệ tăng trưởng một con số vài năm nữa. Dù sức mua laptop đang tăng, hệ thống máy tính để bàn sẽ vẫn được ưa chuộng một thời gian dài nữa tại các nước đang phát triển, lý do chính là vì giá cả.
Nội dung đa phương tiện và sự thay đổi phương thức sử dụng sẽ tác động lớn đến thị trường tương lai.
Quảng cáo trực tuyến trên thế giới
Theo Trung tâm quảng cáo Tương tác (IAB) và công ty PricewaterhouseCoopers, từ tháng 1 đến tháng 3 năm nay, chi phí quảng cáo trên Internet tại Mỹ chỉ đạt 5,8 tỷ USD, giảm từ mức cao kỷ lục 5,9 tỷ USD của quý IV/2007. Đây là lần đầu tiên suốt 3 năm qua thị trường kinh doanh quảng cáo online đánh mất đà tăng trưởng của quý trước đó.
Điều đáng mừng là doanh số đầu năm nay đã tăng 18% so với cùng quý năm 2007. David Silverman, một đối tác tại PricewaterhouseCoopers, cho rằng sự sụt giảm này là do nền kinh tế toàn cầu suy thoái. Mặc dù vậy, theo ông này, thị trường quảng cáo tương tác sẽ tiếp tục phát triển và có nhiều dấu hiệu tích cực.
Người tiêu dùng ngày càng dành nhiều thời gian lên mạng vì thế các công ty quảng cáo và các nhà maketing sẽ tìm được nhiều cách để tiếp cận với khách hàng thông qua kênh truyền thông số.
Quảng cáo trên các Website trên Internet hay các phương tiện truyền thông kỹ thuật số khác như video game đã trở thành một ngành kinh doanh lớn và đang trên đà phát triển khi các phương tiện truyền thông khác như truyền hình và sách báo đã mất đi lượng khách hàng và các nhà quảng cáo. Theo hãng nghiên cứu eMarketer, chi phí của quảng cáo trực tuyến năm 2008 trên toàn thế giới ước tính đạt 49,5 tỷ USD, tăng 22% so với năm trước đó. (CNET và IHT)
Thị trường tìm kiếm di động
Google chiếm 61% thị phần tìm kiếm di động Mỹ trong 4 tháng đầu năm 2008, Yahoo! xếp thứ 2 với khoảng cách khá xa là 18%. MSN đứng số 3 với chỉ 5%.
Những số liệu trên do hãng nghiên cứu thị trường Mỹ Nielsen Mobile đưa ra.
Trong khi đó, theo hãng tin Reuters, Yahoo cho biết dịch vụ tìm kiếm di động oneSEARCH của Yahoo đã có 60 đối tác di động trên toàn thế giới. Mới đây, họ đã hợp tác với 6 hãng viễn thông châu Á. David Ko, Giám đốc điều hành Yahoo châu Á và là Phó giám đốc bộ phận di động của Yahoo nói: “Giờ đây chúng tôi đã có thể đến với 600 triệu thuê bao di động”.
Tại Việt Nam, Yahoo! và mạng di động MobiFone cũng đã công bố oneSEARCH - dịch vụ tìm kiếm trên ĐTDĐ vào ngày 8/5/2008.
MobiFone đã mở rộng dung lượng hệ thống GPRS lên đến 3.500K với khả năng đáp ứng nhu cầu truy cập dữ liệu của hơn 15 triệu khách hàng cùng một lúc. Ông Đinh Việt Hưng, Trưởng phòng Giá cước Tiếp thị MobiFone, cho biết “MobiFone đang thực hiện kế hoạch mở rộng dung lượng GPRS lên 6.000K từ nay đến cuối năm nhằm đáp ứng nhu cầu của 25 triệu khách hàng tại một thời điểm”. Tốc độ truy nhập dữ liệu trên mạng MobiFone về mặt ly thuyết hiện đã đạt đến 384Kb/s và bảo đảm sử dụng ổn định các dịch vụ email, lướt web, xem truyền hình trực tuyến...
MobiFone đã ký kết hợp tác với gần 170 đối tác quốc tế trên các lĩnh vực khác nhau nhằm cung cấp đa dạng dịch vụ, sản phẩm cho khách hàng.
ĐTDĐ sẽ thay thế Internet cố định
Theo các chuyên gia, năm 2010 mạng lưới ĐTDĐ sẽ “vượt” băng thông rộng tại nhà và trở thành phương thức kết nối web hàng đầu.
Các chuyên gia về băng thông rộng cũng dự đoán rằng mạng lưới điện thoại di động có thể sẽ thay thế dây nối internet như một phương thức chính giúp mọi người truy cập internet trong ít nhất hai năm nữa.
Máy tính xách tay có thể được kết nối internet từ điện thoại di động, việc mở rộng các hệ thống di động tốc độ cao và giảm giá kết nối đã làm tăng sự thu hút của hệ thống băng thông rộng di động.
Theo một nghiên cứu mới đây của tổ chức You Gov, nối mạng internet vào máy tính qua hệ thống di động chiếm một phần ba. Một phát ngôn viên của Top 10 Broadband nói rằng: “Chúng tôi dự đoán đến năm 2010 băng thông rộng di động sẽ “vượt qua” băng thông rộng tại nhà trong việc kết nối internet tại Anh”.
Thế giới đang dùng hơn 1 tỷ PC
Theo hãng nghiên cứu Gartner, với mức tăng trưởng mạnh tại các thị trường mới nổi, con số đó sẽ là 2 tỷ vào năm 2014.
Hiện nay, các thị trường của các nước phát triển chiếm 58% trong con số 1 tỷ PC đầu tiên, nhưng họ sẽ chỉ chiếm 30% trong 1 tỷ thứ hai, Gartner cho biết.
Gartner cũng dự tính trong năm nay sẽ có hơn 180 triệu máy tính bị thay thế. (Reuters)
Băng thông rộng di động có thể kết nối hệ thống tốc độ cao 3G và chuyển dữ liệu như tốc độ truyền tải của internet có dây tại nhà với tốc độ 1,5 megabits/giây.
Tổ chức You Gov phát hiện ra rằng băng thông di động phổ biến nhất với sinh viên và những người không muốn “thắt chặt” vơi những hợp đồng internet có dây tại nhà. Ian Fogg, một nhà phân tích của viện nghiên cứu Jupiter nói rằng, sự thu hút này là do việc sử dụng ngày càng phổ biến của máy tính xách tay. Ông cũng nói thêm rằng: “Nếu bạn ra ngoài với máy tính xách tay, khi bạn muốn tải những bức ảnh thì bạn phải đợi đến khi về hay tìm một nơi có máy wifi, điều này vừa mất thời gian và tiền, nhưng so với hệ thống di động, bạn có thể kết nối mạng ngay lập tức với tốc độ cao HSDPA hay hệ thống 3,6G.
Hệ thống internet nối dây vẫn là sở thích của những người muốn xem nhiều đoạn quay video hay tải những file lớn qua Internet. Theo nghiên cứu của Broadband Expert vào tháng 3/2008, tốc độ trung bình của băng thông di động hiện nay trên thế giới là 1,46 Mbps. (Times/ Vitinfo)
Tuesday, 5. May 2009, 10:05:22
IT News
Công ty CNTT giúp doanh nghiệp vượt khó
Ngày đăng: 26/4/2009 9h5
Ban inGui tinPhan hoi
Khủng hoảng kinh tế có thể đang trở thành cơ hội để ngành CNTT phát triển. Nhiều tín hiệu cho thấy các công ty CNTT đang thích nghi nhanh với môi trường kinh doanh mới.
Yahoo Việt Nam lạc quan trước những cơ hội kinh doanh mới.
Ở thời buổi mà tiết kiệm chi phí trở thành mối quan tâm hàng đầu của mỗi doanh nghiệp cũng như của người dùng cuối, các công ty CNTT-TT cố tận dụng cơ hội bán các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng được các yêu cầu kinh doanh mới. Đây cũng là cơ hội để người dùng cơ cấu lại danh mục trang thiết bị CNTT sao cho đảm bảo hiệu suất làm việc của hệ thống nhưng lại tiết kiệm được tối đa chi phí vận hành, cùng nhiều các khoản chi phí khác.
Cơ hội cho kinh doanh Internet
Tại sự kiện công bố nghiên cứu về thói quen sử dụng Internet ở Việt Nam - Net Index 2009 do Yahoo công bố đầu tháng 4/2009, ông Vũ Minh Trí, tổng giám đốc Yahoo Việt Nam cho biết, các tín hiệu mà Yahoo thu thập được cho thấy, trong thời điểm quý 1/2009, có khá nhiều doanh nghiệp chuyển ngân sách quảng cáo trên các phương tiện truyền thống (mà chủ yếu là từ TV) sang quảng cáo trên Internet. Theo ông, quảng cáo trên Internet sẽ tăng đáng kể trong năm 2009, với doanh thu khoảng 5 triệu USD.
Ông Trí cũng cho biết, khủng hoảng kinh tế giúp ngành quảng cáo trên Internet phát triển khả quan hơn các dự đoán trước đây, và nguyên nhân chính là do giá thành quảng cáo trên Internet rẻ hơn rất nhiều so với việc quảng cáo trên TV. Đặc biệt, các doanh nghiệp Việt Nam tham gia quảng cáo trên các Internet ngày càng nhiều hơn so với thời điểm năm 2008, khi chủ yếu các tập đoàn lớn thuộc các ngành ngân hàng, du lịch, tài chính, hàng tiêu dùng... của nước ngoài chọn Internet làm phương tiện quảng cáo.
Không cho biết cụ thể doanh thu quảng cáo của Yahoo tại Việt Nam trong thời điểm vừa qua nhưng ông Trí cho biết hầu hết các nhãn hiệu lớn trên thị trường hàng tiêu dùng đã tham gia quảng cáo trên các ứng dụng Internet của Yahoo.
Tất nhiên không chỉ có Yahoo, tại Việt Nam, chỉ trong quý 1/2009, nhiều website thương mại điện tử hay rao vặt đã hoạt động trở nên nhộn nhịp hơn khá nhiều so với thời điểm từ năm 2008 trở về trước. Rất nhiều doanh nghiệp nhỏ cũng như các cá nhân đã cho chọn các website mua bán làm phương tiện kinh doanh chủ yếu từ đầu năm đến nay. Chúng ta có thể thấy rõ điều này khi vào chodientu.com, enbac.com, 123Mua v.v...
Thời của tiết kiệm phí
Theo một nghiên cứu từ IDC, tổng chi phí sở hữu máy chủ vào năm 2010 nổi lên 3 điểm chính đó là: giá máy không tăng, chi phí vận bảo trì tăng, và phí cho năng lượng vận hành tăng. Nhiều chuyên gia trong ngành CNTT cho rằng, khủng hoảng kinh tế, khiến cho các thiết bị có khả năng giảm chi phí vận hạnh, bảo trì và tiết kiệm năng lượng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Và cũng là điều dễ hiểu khi chỉ trong quý 1/2009 vừa qua, nhiều công ty CNTT đã công bố các công nghệ giúp các sản phẩm có khả năng tiết kiệm phí vận hành, như: máy chủ, máy trạm, máy in..., giúp các doanh nghiệp sở hữu những sản phẩm này tiết kiệm được nhiều chi phí cả trong quá trình đầu tư mua sắm lẫn vận hành. Theo một quan chức của IBM trong 1 lần giới thiệu sản phẩm mới gần đây, nếu cách đây vài tháng doanh nghiệp phải bỏ ra 5.000 USD để mua một hệ thống máy chủ, thì ở thời điểm hiện tại, với số tiền này, doanh nghiệp sẽ mua được hệ thống máy chủ có sức mạnh gấp đôi.
Cũng liên quan đến vần đề tiết kiệm chi phí, các số liệu của viện nghiên cứu Springboard cho thấy, năm 2007, các doanh nghiệp tại châu Á - Thái Bình Dương (trừ Nhật Bản) đã chi gần 600 triệu USD cho các phần mềm cộng tác, năm 2009 sẽ là trên 600 triệu USD và năm 2012 sẽ là 1,2 tỷ USD, các chi tiêu này chủ yếu là kết nối Internet, thoại trực tuyến, hội họp từ xa v.v...
Các ứng dụng CNTT này giúp doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều chi phí trong quá trình hoạt động. Và người tiêu dùng Việt Nam, chỉ trong thời gian quý 1/2009, đã có cơ hội tiếp xúc với nhiều công nghệ cộng tác giúp tiết kiệm chí phí như HP SkyRoom và Lotus Sametime của IBM... các giải pháp cho các hội nghị truyền hình và hội thảo chuyên nghiệp.
Ngoài ra, vấn đề tiết kiệm điện, giảm tiếng ồn, làm mát hệ thống thiết bị bằng các công nghệ mới, bảo vệ mội trường, "công nghệ xanh"... những vấn đề ít được nhắc đến khi nền kinh tế "khỏe mạnh" giờ đây đã được nhắc tới với tần suất cao trong nhiều buổi giới thiệu sản phẩm CNTT mới chỉ trong quý 1/2009 vừa qua.
Monday, 4. May 2009, 02:21:20
IT News
Xu hướng sản phẩm - công nghệ 2009
Năm 2009 được dự báo vẫn còn nhiều khó khăn và thị trường CNTT cũng không tránh khỏi. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, nếu thời điểm này ứng dụng tốt CNTT sẽ giúp doanh nghiệp (DN) nói riêng và nền kinh tế nói chung vượt qua khó khăn dễ dàng. Như vậy, CNTT vẫn còn nhiều cơ hội.
CNTT - ĐIỆN TỬ: TÍCH HỢP VÀ DỊCH VỤ
Phần cứng và công nghệ cao: Giá giảm
Ông Thân Trọng Phúc
Đầu tư phần cứng được dự báo sẽ bị trì hoãn, thậm chí sẽ bị cắt giảm nhiều nhất trong đầu tư CNTT. Để giúp cho người dùng không quay lưng lại với sản phẩm, các nhà sản xuất phần cứng và công nghệ cao đã không ngừng đưa ra những giải pháp phù hợp với thực trạng kinh tế toàn cầu.Ông Thân Trọng Phúc, tổng giám đốc (TGĐ) Intel Việt Nam và Đông Dương cho biết, năm 2009, Intel tiếp tục phát triển dựa trên kiến trúc core với giá cả thấp hơn. Cứ 2 năm Intel đưa ra vi xử lý (VXL) kiến trúc mới: năm đầu đưa ra VXL mới, năm thứ 2 sẽ tiếp tục phát triển với công nghệ sản xuất vi mạch tiên tiến hơn. Nếu năm 2008, Intel đưa ra kiến trúc 45nm thì năm sau công nghệ sẽ là 32nm hay dòng core i7 cho MTXT, máy chủ. Ngoài ra, hoàn thiện các dòng chipset, bo mạch chủ giúp các hệ thống máy tính trở nên mạnh mẽ hơn, gia tăng khả năng kết nối, tiết kiệm năng lượng và thân thiện môi trường cũng là những triết lý mà Intel luôn hướng đến.
Ông Phan Quốc Khánh
Ông Trịnh Thanh Lâm, TGĐ nhóm Máy Tính HP Việt Nam cho rằng: Trong xu thế phát triển của CNTT, máy tính mini sẽ được sử dụng như máy tính thứ 2 cho những người có nhu cầu thường xuyên phải di chuyển. Tuy nhiên, tại nhà họ vẫn dùng hệ thống MTXT hay máy tính để bàn. MTXT mini nhỏ gọn, thời trang, dễ dàng truy cập thông tin tức thời sẽ là phù hợp cho đối tượng này. Không những thế, các nhà sản xuất luôn đưa ra những công nghệ mới cho phép tối ưu hơn nhưng giá thì ngày càng rẻ hơn.
Phần mềm: Tăng tỉ trọng so với phần cứng
Tuy rằng chi tiêu phần mềm (PM) nói chung cũng sẽ giảm trong năm 2009, nhưng tỷ trọng chi tiêu PM và chi tiêu CNTT lại được dự báo có thể tăng 4%. Đây là xu thế rất tốt trong bối cảnh đầu tư CNTT Việt Nam còn mất cân đối giữa phần cứng chiếm tỷ trọng khá cao so với PM và dịch vụ CNTT khác.
Ông Trịnh Thanh Lâm
Nhu cầu người dùng là có thật, khả năng thiết kế PM của các DN trong nhiều năm qua đã đủ mức để đáp ứng. Đối với PM may đo, ông Trương Hồng Hạnh, chủ tịch hội đồng quản trị công ty PM Thủy Thiên nhận định: "Cần phải có nhiều năm kinh nghiệm. Các DN Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất PM may đo theo yêu cầu khách hàng. Tuy nhiên, sử dụng PM may đo khi quy trình sản xuất kinh doanh của DN có đặc thù riêng và thành công được nhờ quy trình đó. Đối với những PM không có đặc thù thì không nên dùng may đo".
Ông Phan Quốc Khánh, GĐ công ty cổ phần PM FAST cho biết, việc ký kết hợp đồng PM quý 4/2008 đã giảm so với cùng kỳ năm trước. Thông thường quý 4 là quý ký kết hợp đồng nhiều, kinh doanh tốt nhưng năm nay thì lại kém hơn.
Ông Phùng Hải
Theo một số GĐ các công ty, năm tới sẽ hạn chế ứng dụng các giải pháp PM. Việc ứng dụng PM đóng gói hay giải pháp tổng thể hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu của từng DN. Có những DN nhỏ cần PM đóng gói, còn các DN lớn thì cần giải pháp tổng thể. Đó là 2 nhu cầu khác nhau của 2 nhóm khách hàng khác nhau. Các công ty lớn sẽ điều tiết và xem xét, rà soát hệ thống cũ và chỉ mua khi thật cần thiết và cấp bách. Đây được xem là cơ hội cho các DN củng cố nội bộ, xây dựng và rà soát lại quy trình, đào tạo nhân viên.
ATTT: Hợp nhất các giải pháp trong một
Ông Nguyễn Văn Đạo
Theo ông Phùng Hải, trưởng tiểu ban An Toàn An Ninh Mạng và Hệ Thống – chi hội An Toàn Thông Tin phía Nam: Năm 2009, các hãng bảo mật sẽ tập trung khả năng tích hợp phần cứng và PM vào 1 thiết bị chuyên dụng. Điểm thứ 2 là xu hướng tích hợp nhiều giải pháp trong 1 hay còn gọi là UTM (Unified Threat Management), đa sản phẩm về ATTT. Một xu hướng được đánh giá cao hiện nay là dòng sản phẩm chống thất thoát dữ liệu. Nếu như trước đây, người dùng tập trung vào sản phẩm bảo mật: Tường lửa phía gateway thì trong năm 2009, người dùng sẽ đẩy mạnh các dòng sản phẩm bảo mật cho thiết bị đầu cuối (end-point security). Thiết bị đầu cuối ở đây có thể hiểu là những máy tính để bàn, MTXT, máy tính mini PC, PDA... đó cũng là xu hướng về công nghệ có nhiều thiết bị di động.
Điện tử: Tích hợp đa phương tiện
Ông Trương Hồng Hạnh
Ông Hồ Quang Hải, trưởng phòng bán hàng Sản Phẩm Máy Tính, LG Electronics Việt Nam cho biết, màn hình LCD hiện vẫn được thiết kế theo 2 hướng chính: căn cứ vào khung hình tỷ lệ 4:3 hay màn hình rộng (wide) 16:9, 16:10. Do người dùng chưa quên hình dáng cân đối của màn hình 4:3, nhưng màn hình 16:9 có hỗ trợ nhìn lâu ít mỏi mắt hơn sẽ được chọn mua nhiều hơn. Dự kiến, cuối năm 2009, các hãng sản xuất sẽ ngưng sản xuất màn hình CRT và sẽ tập trung vào sản xuất màn hình LCD vì lợi ích của màn hình này. Về giá thành, màn hình LCD và CRT tại thời điểm cuối năm 2009 sẽ không còn cao và người dùng hoàn toàn có thể chấp nhận. Hiện nay, màn hình tinh thể lỏng có mức giá từ 100-120 USD trong khi đó màn hình CRT mức giá từ 85-90 USD. Trong tương lai màn hình tinh thể lỏng sẽ có mức giá dưới 100 USD và người dùng sẽ dễ dàng chấp nhận nó.
Các nhà sản xuất hiện nay đưa ra sản phẩm nghiêng về 2 hướng: sản phẩm truyền thông đa phương tiện (multimedia) và khả năng kết nối, đó là lời nhận xét của ông Nguyễn Văn Đạo, phó tổng giám đốc công ty Điện Tử Samsung Vina. Hầu hết, các sản phẩm sắp tới sẽ mang đặc trưng của 2 tính năng này dù là tivi, điện thoại di động hay máy nghe nhạc.
T. Mạnh Tú (theo PCWorld)
Monday, 4. May 2009, 02:14:12
IT News
Xu hướng sản phẩm - công nghệ 2009
Năm 2009 được dự báo vẫn còn nhiều khó khăn và thị trường CNTT cũng không tránh khỏi. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, nếu thời điểm này ứng dụng tốt CNTT sẽ giúp doanh nghiệp (DN) nói riêng và nền kinh tế nói chung vượt qua khó khăn dễ dàng. Như vậy, CNTT vẫn còn nhiều cơ hội.
CNTT - ĐIỆN TỬ: TÍCH HỢP VÀ DỊCH VỤ
Phần cứng và công nghệ cao: Giá giảm
Ông Thân Trọng Phúc
Đầu tư phần cứng được dự báo sẽ bị trì hoãn, thậm chí sẽ bị cắt giảm nhiều nhất trong đầu tư CNTT. Để giúp cho người dùng không quay lưng lại với sản phẩm, các nhà sản xuất phần cứng và công nghệ cao đã không ngừng đưa ra những giải pháp phù hợp với thực trạng kinh tế toàn cầu.Ông Thân Trọng Phúc, tổng giám đốc (TGĐ) Intel Việt Nam và Đông Dương cho biết, năm 2009, Intel tiếp tục phát triển dựa trên kiến trúc core với giá cả thấp hơn. Cứ 2 năm Intel đưa ra vi xử lý (VXL) kiến trúc mới: năm đầu đưa ra VXL mới, năm thứ 2 sẽ tiếp tục phát triển với công nghệ sản xuất vi mạch tiên tiến hơn. Nếu năm 2008, Intel đưa ra kiến trúc 45nm thì năm sau công nghệ sẽ là 32nm hay dòng core i7 cho MTXT, máy chủ. Ngoài ra, hoàn thiện các dòng chipset, bo mạch chủ giúp các hệ thống máy tính trở nên mạnh mẽ hơn, gia tăng khả năng kết nối, tiết kiệm năng lượng và thân thiện môi trường cũng là những triết lý mà Intel luôn hướng đến.
Ông Phan Quốc Khánh
Ông Trịnh Thanh Lâm, TGĐ nhóm Máy Tính HP Việt Nam cho rằng: Trong xu thế phát triển của CNTT, máy tính mini sẽ được sử dụng như máy tính thứ 2 cho những người có nhu cầu thường xuyên phải di chuyển. Tuy nhiên, tại nhà họ vẫn dùng hệ thống MTXT hay máy tính để bàn. MTXT mini nhỏ gọn, thời trang, dễ dàng truy cập thông tin tức thời sẽ là phù hợp cho đối tượng này. Không những thế, các nhà sản xuất luôn đưa ra những công nghệ mới cho phép tối ưu hơn nhưng giá thì ngày càng rẻ hơn.
Phần mềm: Tăng tỉ trọng so với phần cứng
Tuy rằng chi tiêu phần mềm (PM) nói chung cũng sẽ giảm trong năm 2009, nhưng tỷ trọng chi tiêu PM và chi tiêu CNTT lại được dự báo có thể tăng 4%. Đây là xu thế rất tốt trong bối cảnh đầu tư CNTT Việt Nam còn mất cân đối giữa phần cứng chiếm tỷ trọng khá cao so với PM và dịch vụ CNTT khác.
Ông Trịnh Thanh Lâm
Nhu cầu người dùng là có thật, khả năng thiết kế PM của các DN trong nhiều năm qua đã đủ mức để đáp ứng. Đối với PM may đo, ông Trương Hồng Hạnh, chủ tịch hội đồng quản trị công ty PM Thủy Thiên nhận định: "Cần phải có nhiều năm kinh nghiệm. Các DN Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất PM may đo theo yêu cầu khách hàng. Tuy nhiên, sử dụng PM may đo khi quy trình sản xuất kinh doanh của DN có đặc thù riêng và thành công được nhờ quy trình đó. Đối với những PM không có đặc thù thì không nên dùng may đo".
Ông Phan Quốc Khánh, GĐ công ty cổ phần PM FAST cho biết, việc ký kết hợp đồng PM quý 4/2008 đã giảm so với cùng kỳ năm trước. Thông thường quý 4 là quý ký kết hợp đồng nhiều, kinh doanh tốt nhưng năm nay thì lại kém hơn.
Ông Phùng Hải
Theo một số GĐ các công ty, năm tới sẽ hạn chế ứng dụng các giải pháp PM. Việc ứng dụng PM đóng gói hay giải pháp tổng thể hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu của từng DN. Có những DN nhỏ cần PM đóng gói, còn các DN lớn thì cần giải pháp tổng thể. Đó là 2 nhu cầu khác nhau của 2 nhóm khách hàng khác nhau. Các công ty lớn sẽ điều tiết và xem xét, rà soát hệ thống cũ và chỉ mua khi thật cần thiết và cấp bách. Đây được xem là cơ hội cho các DN củng cố nội bộ, xây dựng và rà soát lại quy trình, đào tạo nhân viên.
ATTT: Hợp nhất các giải pháp trong một
Ông Nguyễn Văn Đạo
Theo ông Phùng Hải, trưởng tiểu ban An Toàn An Ninh Mạng và Hệ Thống – chi hội An Toàn Thông Tin phía Nam: Năm 2009, các hãng bảo mật sẽ tập trung khả năng tích hợp phần cứng và PM vào 1 thiết bị chuyên dụng. Điểm thứ 2 là xu hướng tích hợp nhiều giải pháp trong 1 hay còn gọi là UTM (Unified Threat Management), đa sản phẩm về ATTT. Một xu hướng được đánh giá cao hiện nay là dòng sản phẩm chống thất thoát dữ liệu. Nếu như trước đây, người dùng tập trung vào sản phẩm bảo mật: Tường lửa phía gateway thì trong năm 2009, người dùng sẽ đẩy mạnh các dòng sản phẩm bảo mật cho thiết bị đầu cuối (end-point security). Thiết bị đầu cuối ở đây có thể hiểu là những máy tính để bàn, MTXT, máy tính mini PC, PDA... đó cũng là xu hướng về công nghệ có nhiều thiết bị di động.
Điện tử: Tích hợp đa phương tiện
Ông Trương Hồng Hạnh
Ông Hồ Quang Hải, trưởng phòng bán hàng Sản Phẩm Máy Tính, LG Electronics Việt Nam cho biết, màn hình LCD hiện vẫn được thiết kế theo 2 hướng chính: căn cứ vào khung hình tỷ lệ 4:3 hay màn hình rộng (wide) 16:9, 16:10. Do người dùng chưa quên hình dáng cân đối của màn hình 4:3, nhưng màn hình 16:9 có hỗ trợ nhìn lâu ít mỏi mắt hơn sẽ được chọn mua nhiều hơn. Dự kiến, cuối năm 2009, các hãng sản xuất sẽ ngưng sản xuất màn hình CRT và sẽ tập trung vào sản xuất màn hình LCD vì lợi ích của màn hình này. Về giá thành, màn hình LCD và CRT tại thời điểm cuối năm 2009 sẽ không còn cao và người dùng hoàn toàn có thể chấp nhận. Hiện nay, màn hình tinh thể lỏng có mức giá từ 100-120 USD trong khi đó màn hình CRT mức giá từ 85-90 USD. Trong tương lai màn hình tinh thể lỏng sẽ có mức giá dưới 100 USD và người dùng sẽ dễ dàng chấp nhận nó.
Các nhà sản xuất hiện nay đưa ra sản phẩm nghiêng về 2 hướng: sản phẩm truyền thông đa phương tiện (multimedia) và khả năng kết nối, đó là lời nhận xét của ông Nguyễn Văn Đạo, phó tổng giám đốc công ty Điện Tử Samsung Vina. Hầu hết, các sản phẩm sắp tới sẽ mang đặc trưng của 2 tính năng này dù là tivi, điện thoại di động hay máy nghe nhạc.
T. Mạnh Tú (theo PCWorld)
Tuesday, 28. April 2009, 10:15:48
IT News, Business
What are IT services?
IT services listed by the Gartner Group are:
- Hardware maintenance and support services (services related to workstations, servers, saving systems, telecommunication systems/equipment, office equipment)
- Software maintenance and support services (services related to software applications, software systems, software infrastructure)
- Professional services (consulting services, services related to integrated systems, IT administration, process administration)
Two categories of IT services are currently expanding:
Information Technology Outsourcing (ITO) services, including software and hardware maintenance and support services.
-Professional services including IT-related consulting services, services related to integrated systems and business process outsourcing (BPO).
IT as a Service, hãy biến IT thành dịch vụ
Có một nghịch lý là hiện nay IT là một phần không thể thiếu với nhiều business nhưng dưới con mắt của các doanh nghiệp thì IT chỉ là một bộ phận ĐẢM BẢO, là nơi chỉ có tiêu tiền, mà không biết làm ra tiền. Nơi nào bộ phận IT hoành tráng thì được coi trọng một chút, nhưng các kế toán trưởng, CFO luôn luôn ném một con mắt nhìn hằm hằm với tụi IT vì tụi này tiêu lắm tiền nhưng chẳng thấy chúng nó làm ra tiền. Hiện nay đa số các công ty hàng năm chi phí cho IT theo TỈ LỆ PHẦN TRĂM tiền lãi hàng năm của cả doanh nghiệp chứ ít khi theo thực tế vì…có cái gì đo đâu mà theo thực tế. Cho nên là có năm đầu tư không đủ, và cũng đầy năm là không biết phải tiêu sao cho hết tiền đây . Đó là thực tế.
Vậy làm sao có thể “định giá” được bộ phận IT, làm sao tính toán được bộ phận IT hàng năm làm ra bao nhiêu tiền? số tiền làm ra có xứng đang với số tiền đầu tư hàng năm hay không? Câu hỏi này sẽ không bao giờ có lời giải đáp nếu bộ phận IT vẫn chỉ xem là một bộ phận ĐẢM BẢO là một thằng bé luôn nhỏ hơn 18 tuổi và luôn được bố mẹ chu cấp. Phải cho nó hoạch toán độc lập và chuyển biến mô hình hoạt động, xem bộ phận IT là một bộ phận làm dịch vụ cho các phòng ban khác, thay vì hàng năm cung cấp cho IT một số tiền nhất định, nay hãy để nó tự nuôi nó. Làm tốt thì ăn, làm dở thì nghỉ việc.
Các bạn sẽ đặt câu hỏi l: “làm sao để dịch vụ hóa bộ phận IT ?”. Tôi không dám chắc là có thể trả lời chính xác, nhưng chắc là vừa đủ.
Có thể chia làm 2 kiểu tính tiền dịch vụ:
•Tính theo user/year( or month)
•Tính theo transaction
Các dịch vụ sau có thể tính theo user/year:
•email: ví dụ mỗi mail-box tính phí $50/user/year
•HRM (quản lý nhân sự): ví dụ $100/user/year
•CRM (quản lý khách hàng): ví dụ $10/customer/year
•bảo trì PC: ví dụ $40/user/year
•Personal folder.
Còn các dịch vụ sau có thể tính theo transaction: Hệ thống đặt hàng, hệ thống giao dịch (ví dụ với ngân hàng và chứng khoán), hệ thống SMS, call center, hay hệ thống e-document nội bộ.
Tôi không chắc cách chia như trên là OK, nhưng riêng với kinh nghiệm của tôi chắc là đủ dùng.
Sau khi “dịch vụ hóa” IT thì việc còn lại là tính hóa đơn cho từng phòng ban mà thôi. Với phương án tổ chức linh động như vậy thì có thể giải quyết đựoc nhiều bài toán:
- Bài toán đầu tư (thu được nhiều tiền thì đầu tư nhiều, thu được ít tiền chứng tỏ là dịch vụ kém, thì vẫn có lý do để đầu tư để năm sau thu được nhiều tiền hơn)
- Bài toán nhân lực (nếu rõ ràng là tiền thu được từ các phòng/ban khác nhiều & nhu cầu cần phục vụ tăng thì IT có thể tuyển thêm người mà không phải lo việc giải trình gì).
- Bài toán hoạch toán kinh doanh.
Có thời gian tớ sẽ tiếp tục quay lại chủ đề này.
1 2 3 Next »
Showing posts 1 -
20 of 43.