Skip navigation.

Log in | Sign up

Để đầu tư CK thành công cần kiến thức, thông tin, nghệ thuật và may mắn

Welcome to Hoang Tam- Ngoc Tu blog: Nơi trao đổi những kiến thức về Tin Học & Tài Chính

Posts tagged with "MBA"

DHBK: Thong bao tuyen sinh cao hoc 5/2010

Công bố dạng thức, cấu trúc đề thi và tài liệu ôn tập môn Anh văn phục vụ thi tuyển sinh SĐH năm 2009

Công bố dạng thức, cấu trúc đề thi và tài liệu ôn tập môn Anh văn phục vụ thi tuyển sinh SĐH năm 2009 (cập nhật mới ngày 24/04/2009)


Căn cứ Quyết định số 1178/QĐ/ĐHQG-ĐH&SĐH ngày 23/10/2008 của Giám đốc ĐHQG-HCM. Căn cứ kết luận cuộc họp ngày 24/3/2009 giữa ĐHQG-HCM và các cơ sở đào tạo về việc chuẩn bị cho kỳ thi TS SĐH đợt 2/2009 (đợt Tháng 08/2009).



Trung tâm Khảo thí & Đánh giá Chất lượng Đào tạo – ĐHQG HCM đã phát hành 02 công văn số 88/KT-ĐG ngày 14/4/2009 & số 100/KT-ĐG ngày 21/4/2009 về “dạng thức đề thi môn tiếng Anh đợt 2/2009” như sau:



1. Hình thức thi: trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
2. Số lượng câu hỏi là 80 câu được đánh số liên tục từ 1 – 80 trong đó:

+ Kỹ năng Nghe: dự kiến sẽ là phần đầu tiên, đánh số từ 1- 10

* Phần Điền vào chỗ trống (Gap-filling) trong Kỹ năng Nghe: Điền bằng cách chọn các lựa chọn cho sẵn trong đề thi (tương tự Phần Cloze của Kỹ năng Đọc – Viết trong đề thi hiện nay)
* Phần lựa chọn Đúng – Sai: Lựa chọn theo 3 phương án A,B,C theo quy ước A= Đúng (True), B = Sai (False), và C = Không có thông tin (No Information). Điều này sẽ được nêu rõ trong phần Hướng dẫn làm bài (Instructions)

+ Kỹ năng Đọc – Viết: 70 câu đánh số từ 11 - 80



3. Thời gian làm bài 100 phút:

+ Phần Kỹ năng Nghe: 10 phút (mỗi phần được nghe 2 lần)

+ Phần Kỹ năng Đọc – Viết: 90 phút



4. Nội dung:

- Bài kiểm tra kỹ năng Đọc – Viết: hoàn toàn không thay đổi so với dạng thức đề thi hiện hành, sử dụng các tài liệu ôn như cũ.



- Một số tài liệu có thể tham khảo để ôn tập cho phần kiểm tra Kỹ năng Nghe:

+ Đối với dạng thức đề thi tuyển sinh cao học: sử dụng phần nghe trong các giáo trình tiếng Anh tổng quát ở cấp độ Intermediate, ví dụ cuốn 2 của giáo trình Know-How, hoặc các giáo trình khác ở cấp độ tương đương. (Tham khảo dạng thức đề thi cao học năm 2008) tai day

+ Đối với dạng thức đề thi tuyển nghiên cứu sinh: sử dụng phần nghe trong các giáo trình tiếng Anh tổng quát ở cấp độ Upper-Intermediate, ví dụ cuốn 3 của giáo trình Know-How, hoặc các giáo trình khác ở cấp độ tương đương.” (Tham khảo dạng thức đề thi nghiên cứu sinh năm 2008

Một Số Kỹ Thuật Nghiên Cứu Thị Trường Của PR


Một Số Kỹ Thuật Nghiên Cứu Thị Trường Của PR
Mar 24, 2008 Mục Kiến thức PR, PR - Quan hệ công chúng |

nghiencuu.gifHội nghiên cứu thị trường (Anh) định nghĩa nghiên cứu thị trường “là một phần khoa học xã hội, sử dụng các phương pháp khoa học để thu nhập thông tin về thị trường sản phẩm và dịch vụ”. Nó bao gồm tất cả các phương pháp nghiên cứu để tìm hiểu ý kiến, thái độ, lý do yêu thích và động lực…của khách hang.

Với người làm PR, nghiên cứu thị trường là việc hữu ích và cần thiết. Có thể chia nghiên cứu thị trường thành 4 loại sau:

+ Nghiên cứu dựa trên dữ liệu sẵn có

+ Nghiên cứu bằng phỏng vấn

+ Nghiên cứu không theo thể thức

+ Nghiên cứu thường xuyên

Mỗi phương pháp nghiên cứu đều có những ưu khuyết điểm riêng. Việc lựa chọn phương pháp nào sẽ phụ thuộc vào loại thông tin cần thu nhập, thời gian, mức độ tiếp vận với đối tượng phỏng vấn, nguồn ngân quỹ, hay mức độ chính xác có thể đạt được. Có thể thực hiện nhiều phương pháp cùng một lúc.

MỘT SỐ KỸ THUẬT NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG

Nghiên cứu ý kiến, thái độ hay sự thay đổi (opinion, atti-tude or shift surveys): Thường sử dụng các câu hỏi có câu trả lời là “có”, “không” hay “không biết”. Loại nghiên cứu này nhằm tìm hiểu xem mọi người biết, hiểu hay tin vào cái gì, đồng thời đo lường những thay đổi về sự nhận biết, ý kiến hay niềm tin.

Nhóm người tiêu dùng (consumer panel): Cho nhóm người điền vào bảng câu hỏi hay thử nghiệm sản phẩm. Việc nghiên cứu có thể diễn ra bằng cách đến gặp trực tiếp nhóm người này hoặc gởi bảng câu hỏi, hay cho người đến phỏng vấn họ thường xuyên. Phương pháp này nhằm tìm hiểu đối tượng nào thường mua sản phẩm nào, số lượng bao nhiêu, mức độ thường xuyên và ở đâu.

Nghiên cứu động lực (motivation research): Người khởi xướng dạng nghiên cứu dạng này là Tiến sĩ Ernst Ditcher. Bằng các phương pháp tương tự như cách kiểm tra lâm sàng hay trí thông minh, dạng nghiên cứu này nhằm tìm hiểu động lực tiềm ẩn, chứ không tìm hiểu những ý kiến hay ý thích đã được nêu sẵn.

Nhóm thảo luận (discussion group): Đây là một hình thức tìm hiểu động lực thúc đẩy ít tốn kém mà hiệu quả hơn. Nhóm người được chọn sẽ đưa ra ý kiến trước những câu hỏi mà người hướng dẫn đặt ra. Nhược điểm của phương pháp này là nhóm người nghiên cứu có thể quá nhỏ, không thể đại diện cho số đông. Ngoài ra, thành kiến của người hướng dẫn có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.

Trả lời câu hỏi qua điện thoại (telephone questionnaire): Các cuộc điều tra thăm dò ý kiến những người ở xa hay không tập trung ở một khu vực có thể được thực hiện qua điện thoại. Phương pháp này hữu dụng cho việc nghiên cứu của ngành công nghiệp. Ngoài ra, có thể dùng nó để thăm dò ý kiến nhanh trước những cuộc bầu cử. Phương pháp này phụ thuộc vào việc mọi người có điện thoại và vui lòng trả lời hay không.

Trả lời câu hỏi qua thư tín (postal questionnaire): Bảng câu hỏi sẽ được gởi đến một số đối tượng. Phương pháp này phụ thuộc vào người trả lời có hứng thú và có vui lòng hợp tác hay không. Nó ít tốn kém hơn những cuộc phòng vấn trực tiếp (vì phải trả công cho người đi làm công việc phỏng vấn) nhưng kết quả có thể gây thành kiến hay không có giá trị vì số lượng người trả lời quá ít. Phương pháp này có thể dùng để tìm hiểu về mức lương của giới chuyên môn.

Nghiên cứu qua phiếu trả lời (coupon survey): Bảng câu hỏi sẽ được đăng trên báo, nhưng rõ ràng điểm yếu của phương pháp này là chỉ có những người thật sự quan tâm mới gởi câu trả lời.

Kiểm tra nhà bếp (pantry check): Những nhà nghiên cứu sẽ đến kiểm tra nhà bếp của một nhóm “người nội trợ” – có thể được thuê để ghi nhận các nhãn hiệu, sản phẩm trong tủ chạn, tủ lạnh, phòng tắm…mà họ sử dụng.

Kiểm tra thùng rác (dustbin check): Một cách nghiên cứu bằng quan sát khác là những nhà nghiên cứu sẽ ghi nhận các nhãn hiệu đã được tiêu dùng có mặt trong thùng rác nhà để thu nhập thông tin.

Thu nhập thông tin từ các cửa hàng, và người bán (dealer,retail or shop audit): Là một hình thức nghiên cứu thường xuyên mà công ty AC Nielsen áp dụng và đã trở nên phổ biến. Họ sẽ kiểm tra định kỳ lượng hàng trong kho và hoá đơn của một nhóm người buôn bán (được thuê để làm cuộc nghiên cứu). Số lượng sản phẩm mua và còn tồn kho thể hiện hoạt động mua bán. Như vậy có thể thống kê các sản phẩm khác nhau được bán ra, so sánh với những sản phẩm cạnh tranh, thấy được thị phần của mỗi sản phẩm. Sau một thời gian, có thể quan sát sự phát triển hay suy yếu của sản phẩm, và những chuyển biến có thể được lý giải theo tác động của quảng cáo, khuyến mãi và những nguồn ảnh hưởng khác.

Nghiên cứu định tính (qualitative research): Tương tự như phỏng vấn có chiều sâu, hình thức nghiên cứu này đã khắc phục được những khó khăn vốn cản trở việc nghiên cứu ở các nước đang phát triển, nơi không có thiết bị đầy đủ như ở các nước công nghiệp. Cách thức thực hiện là tiến hành những cuộc phòng vấn có thể kéo dài đến 3 giờ và thu băng lại. Trong trường hợp này, nhóm đối tượng phỏng vấn tương đối nhỏ, tuy nhiên nếu đại diện cho nhóm khách hang điển hình và nhóm thiểu số, thì hình thức nghiên cứu này cũng sẽ thu được nhiều thong tin đáng giá. Ở Nigeria, người ta dùng phương pháp định tính để nghiên bia và thuốc trừ sâu.

Nghiên cứu về hình ảnh công ty (image study): Mục tiêu của cuộc nghiên cứu này là so sánh điểm yếu và điểm mạnh của một số công ty tương tự nhau, trong đó công ty thực hiện nghiên cứu sẽ không cho người trả lời biết họ là ai (để câu trả lời được khách quan). Thông qua kết quả nghiên cứu, công ty có thể khắc phục điểm yếu và phát huy điểm mạnh. Hình thức nghiên cứu này rất hữu ích cho ban lãnh đạo vì hình ảnh của công ty nhìn từ bên ngoài có thể rất khác biệt với hình ảnh nội bộ. để thực hiện cuộc nghiên cứu dạng này, đặc biệt là đối với những công ty công nghiệp cung cấp hoá chất, nhóm đối tượng có thể nhỏ và cuộc nghiên cứu có thể thực hiện bằng điện thoại hay nói chuyện trực tiếp.

Nghiên cứu thị trường là một đề tài lớn. Các phương pháp thường áp dụng trong PR là nghiên cứu những thông tin sẵn có, thăm dò ý kiến và nhất là nghiên cứu hình ảnh tổ chức đối với công chúng. Những nghiên cứu này có thể giúp ích rất nhiều trong việc lên kế hoạch chương trình PR (ít tốn kém hơn), và trong việc đánh giá kết quả..

(Theo Phá Vỡ Bí Ẩn PR)

Nghiên cứu thị trường

Nghiên cứu thị trường là gi?

Do trong marketing hiện đại, mọi quyết định đều bắt nguồn từ yêu cầu của thị trường, nên có thể nói nghiên cứu thị trường là động tác đầu tiên trong qui trình marketing.


InterviewS.gifNghiên cứu thị trường là một nghiệp vụ vô cùng quan trọng, nếu công tác nghiên cứu thị trường được làm tốt, nó cung cấp đầy đủ thông tin chính xác để giúp người làm marketing đưa ra một chiến lược phù hợp và do đó mang lại hiệu quả cao. Ngược lại, nếu công tác nghiên cứu thị trường thu thập về những thông tin không chính xác, không phản ảnh đúng tình hình thực tế thị trường, và do không dựa trên cơ sở thông tin vững chắc nên quyết định được đưa ra sẽ không sát với thực tế, dẫn đến hoạt động marketing sẽ không hiệu quả, lãng phí nhân vật lực.


Đối với các doanh nghiệp nước ngoài, trước khi quyết định thâm nhập một thị trường, tung ra một sản phẩm mới, hoặc thực hiện một chiến dịch quảng bá truyền thông, hay quyết định điều chỉnh một trong các yếu tố chiêu thị như tăng giảm giá, thay đổi bao bì sản phẩm, tái định vị v.v. họ đều thực hiện nghiên cứu thị trường trước khi xây dựng kế hoạch chi tiết.


Nhiều doanh nghiệp VN, hoặc do đánh giá không đúng tầm mức quan trọng của nghiên cứu thị trường, hoặc cũng có thể có nhận thức nhưng do hạn chế về ngân sách, đã không chú tâm đúng mực đến công tác nghiên cứu thị trường trước khi tung một sản phẩm mới, kết quả là họ đã phải trả giá đắt khi vấp phải những trở ngại khó có thể vượt qua trong quá trình triển khai thâm nhập thị trường.

Tại sao cần nghiên cứu thị trường?

Điều cơ bản nhất quyết định sự thành công của một sản phẩm là sự chấp nhận của người mua sản phẩm hoặc sự hài lòng của người sử dụng dịch vụ. Làm thế nào biết được khách hàng có thích hay không thích, chấp nhận hay không chấp nhận? Chỉ có cách duy nhất, chính xác nhất và cũng là một kỹ thuật xưa như trái đất là hỏi chính khách hàng người được cho là sẽ mua sản phẩm, hoặc/và người dù không trực tiếp mua nhưng có ảnh hưởng tác động đến quyết định mua sản phẩm. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, kỹ thuật nghiên cứu thị trường ngày càng được phát triển tinh vi hơn, người ta tranh thủ mọi cơ hội để thu thập thông tin khách hàng, thị trường.


Tại sao thông tin thị trường lại quan trọng đến vậy? Bởi vì:

* Thông tin là chìa khoá để am hiểu thị trường.
* Bạn cần phải hiểu thị trường hơn đối thủ cạnh tranh
* Bạn cần phải dự báo được những sự thay đổi của thị trường và nhu cầu của khách hàng.
* Bạn cần phải biết làm thế nào để ứng phó với những sự thay đổi đó.
* Bạn cần phải có phương pháp hệ thống hoá việc thu thập, phân tích và xử lý thông tin thị trường.


Nghiên cứu thị trường được chia ra làm hai dạng:


Nghiên cứu định tính

* Tìm hiểu động cơ, những yếu tố thúc đẩy
* Ai? Cái gì? Ở đâu? Khi nào? Bằng cách nào? Tại sao?
* Dựa trên số lượng nhỏ


Nghiên cứu định lượng

* Đo lường
* Phân khúc và so sánh
* Dựa trên số lượng lớn và nội dung phỏng vấn được sắp xếp có chủ ý

Theo http://www.marketingchienluoc.com/index.php?module=webpage&id=2



5 kỹ thuật cơ bản trong việc nghiên cứu thị trường
« on: August 21, 2007, 07:22:14 PM »

5 kỹ thuật cơ bản trong việc nghiên cứu thị trường

Nếu bạn chưa quen với việc nghiên cứu quảng cáo, dù bạn “outsource”nó hay tự mình thực hiện điều đó hay
không thì đây là năm cách để đảm bảo rằng một cuộc phỏng vấn đơn độc hay theo từng nhóm nhỏ
sẽ không có các kẽ hở, sau đó bạn sẽ có khả năng tập hợp những suy nghĩ thông suốt và sử dụng chúng tốt hơn.

Thứnhất, trước khi bạn thực hiện một cuộc phỏng vấn đơn lẻ hay theo một nhóm nhỏ, hãy viết
một danh sách câu hỏi thật cụ thể mà bạn muốn hỏi. Sau đó, khi bắt đầu cuộc phỏng vấn, hãy để
dành những câu hỏi đó và dàn xếp một cách đơn giản cho những người tham dự phỏng vấn
trong phạm vi chủ đề trao đổi. Nếu họ thông minh thì bạn sẽ không phải tra hỏi và đưa ra cho họ
một bản câu hỏi có sẵn, họ thích chu động hơn và sẽ đem lại cho bạn những câu trả lời chân thật
với những sự am hiểu đáng ngạc nhiên. Và đừng quên tiếp tục. Nếu người phỏng vấn buộc phải
tập trung theo bản câu hỏi có sẵn thì thường lo lắng khi đưa ra câu hỏi tiếp theo, những câu hỏi
này thường mang đến những câu trả lời hóm hỉnh thông minh.

Vào cuối cuộc thảo luận, hãy đưa ra bản câu hỏi để chắc chắn rằng bạn đã lấp đầy tất cả những
điểm quan trọng; nếu còn thời gian, hãy hỏi thêm vài câu hỏi nữa. Nhưng dù sao thì tốt nhất vẫn
là việc bạn lấp đầy được bản câu hỏi trong suốt cuộc phỏng vấn – hoặc phát hiện ra rằng chúng
là những câu hỏi không hay và không thích hợp.

Thứhai: hãy bắt đầu từ dưới lên. Sự thực thì khi bạn bắt đầu một chương trình nghiên cứu bạn
cần phải khẳng định điều này: với những ngành tưpháp cấp cao, bạn phải xác định được vị trí
công việc, ai là người mà bạn nên thảo luận và mục tiêu nghiên cứu là gì. Nhưng khi bạn bắt đầu
nghiên cứu một cách nghiêm chỉnh, hãy bắt đầu bằng cách nói chuyện với những người đứng
đầu của một tổ chức, trước khi bạn hướng tới cái bên ngoài (nhưthị trường) hay cái cao hơn
(nhưSuite C).

Thứba: đừng lo lắng nếu những “câu hỏi quan trọng” đó có thể làm cho bạn thấy đắn đo về sự
thiếu thông tin vềchủ đề trao đổi. Xét cho cùng nếu nhưbạn đã hoàn toàn am hiểu thì bạn sẽ
không cần phải thực hiện một cuộc nghiên cứu cơmà.
Và đôi khi những câu hỏi cơbản nhất, mà những người khác quên không hỏi bởi vì họ nghĩ rằng
mọi người đều biết câu trả lời lại là những câu mang lại những sự giải đáp vô cùng thú vị và
đáng ngạc nhiên.

Thứ tư đôi khi hãy học cách im lặng. Khi cuộc phỏng vấn mang lại cho bạn một câu trả lời mà
bạn nghi ngờ nó có thể được “học thuộc lòng” hay có vẻ hời hợt, không sâu sắc thì đừng nói bất
kì điều gì hết. Hãy để vài giây im lặng trôi qua. N gười ta ghét những khoảng trống trong giao tiếp
và sẽ vội vàng lấp đầy những khoảng trống đó.

Thứ năm đừng do dự khi hỏi đối tượng của bạn tới giây cuối cùng của cuộc phỏng vấn những
câu hỏi khác mà bạn cần phải hỏi. Bạn đã bỏ qua điều gì? Nếu bạn không hỏi những câu hỏi
này, đối tượng của bạn có thể sẽ không bao giờ thuật lại cho bạn nữa. Mặt khác mục đích của
một cuộc phỏng vấn có chất lượng không phải là để chứng minh cho đối tượng phỏng vấn của
bạn là bạn biết về vần đề sắp tới nhiều nhưthếnào.

Phân tích thị trường để lập kế hoạch kinh doanh

,


Mọi kế hoạch kinh doanh đều phải bao hàm phân tích thị trường. Phân tích thị trường là một trong những lý do đầu tiên và quan trọng nhất để lập kế hoạch kinh doanh. Bất luận việc bạn mới bắt đầu hoạt động kinh doanh hay xem xét lại hoạt động kinh doanh hiện tại, bạn đều cần phải có phân tích mới về thị trường, ít nhất một lần/năm. Thị trường luôn thay đổi và doanh nghiệp phải luôn theo sát những thay đổi đó để có những chiến lược, chiến thuật phù hơp và nhanh nhạy.

Thị trường bạn cần tìm kiếm là thị trường thị trường tiềm năng, chứ không phải là thị trường hiện tại. Thị trường mục tiêu của bạn lớn hơn nhiều so với số người mà bạn đã tiếp cận được. Đó là những người mà một ngày nào đó bạn có thể tiếp cận hoặc họ tự tìm đến với bạn.

Phân tích thị trường của bạn cần bao hàm những nội dung cơ bản sau:

1. Tìm kiếm thông tin

Bạn có thể tìm được các thông tin hữu ích để thực hiện một phân tích thị trường từ những nguồn khác nhau. Ví dụ, bạn có thể cần những thông tin về địa phương mà bạn có thể kiếm được từ các cơ quan chức năng. Hoặc bạn có thể tìm được các thông tin thị trường của bạn qua các website. Bạn cũng có thể cần tìm kiếm những thông tin từ số liệu thống kê, kết quả khảo sát…

Trên thực tế, không phải tất cả những thông tin bạn cần đều có thể được công bố một cách công khai và nhiều khi bạn phải đi theo con đường vòng, phải có những kỹ năng tính toán nhất định. Đôi khi bạn phải ngoại suy thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để có được thông tin bạn cần.

2. Phân khúc thị trường

Trong phân tích thị trường, bạn cần chia thị trường mục tiêu của mình ra thành các phân khúc khác nhau. Ví dụ, là một công ty sản xuất máy tính cá nhân, bạn cần chia ra các phân khúc thị trường như máy tính cá nhân sử dụng trong gia đình, sử dụng trong doanh nghiệp, các tổ chức giáo dục, các cơ quan nhà nước…

Việc chia thị trường mục tiêu ra những phân khúc khác nhau giúp công ty hướng vào những nhu cầu thị trường cụ thể hơn, có biện pháp quảng bá và cách tiếp cận hữu hiệu hơn, định giá phù hợp hơn.

3. Quy mô và triển vọng tăng trưởng của thị trường

Bạn cần đo lường và định lượng thị trường của mình. Ví dụ, nếu các hộ gia đình địa phương là một phần trong thị trường mục tiêu của bạn thì bạn cần định lượng cụ thể (từ tổng số dân, ước tính số người sẽ mua sản phẩm/dịch vụ của bạn) .

Về triển vọng tăng trưởng của thị trường, bạn cần đưa ra dự báo vè tốc độ tăng trưởng của thị trường đó. Thị trường đó sẽ tăng hay giảm, với tốc độ thế nào tính theo năm? Các dự báo thị trường cần bắt đầu từ tổng số người có thể mua sản phẩm trong từng phân khúc thị trường, sau đó dự kiến về tỷ lệ phần trăm thay đổi trong 3 - 5 năm tới.

4. Xu hướng thị trường

Bạn cần hiểu những gì đang diễn ra trong thị trường của bạn. Những xu hướng và trào lưu gì bạn cho là sẽ ảnh hưởng đến các phân khúc thị trường của bạn? Ví dụ, nếu bán ô tô, bạn cần quan tâm đến phản ứng của mọi người trước việc giá xăng dầu tăng cao, mối quan tâm đến ô nhiễm môi trường, các chính sách trong nước liên quan..

Thoi Khoa Bieu On Tap Mon Co SO

Thi cao học phải đạt TOEFL 400 điểm!

Thi cao học phải đạt TOEFL 400 điểm!

TT - Quy chế mới về đào tạo thạc sĩ vừa được Bộ GD-ĐT ban hành, song một số quy định trong đó đã vấp phải sự phản ứng của nhiều cơ sở đào tạo cũng như người học. Trao đổi với Tuổi Trẻ, Thứ trưởng thường trực Bộ GD-ĐT Bành Tiến Long (ảnh) cho biết:

- Để phù hợp với thực tế, đảm bảo quyền lợi của học viên cũng như có thời gian để các cơ sở đào tạo chuẩn bị điều kiện đáp ứng yêu cầu của quy chế đào tạo thạc sĩ mới, các quy định mới sẽ được bắt đầu áp dụng theo lộ trình.

Cụ thể đối với hai kỳ tuyển sinh tháng 8-2008 và tháng 2-2009, môn tiếng Anh thi theo quy định cũ, các môn khác thực hiện theo quy chế mới.

Đến khóa tuyển sinh tháng 8-2009, khâu tuyển sinh sẽ thực hiện hoàn toàn theo quy chế mới. Về chương trình đào tạo, học viên của khóa 2008 vẫn áp dụng theo chương trình cũ, từ khóa tháng 2-2009 sẽ đào tạo theo chương trình mới.

Theo quy chế mới, chương trình đào tạo thạc sĩ của chúng ta sẽ chuyển sang phương thức đào tạo tín chỉ. Riêng đối với quy định thực hiện thi môn ngoại ngữ tiếng Anh theo dạng thức TOEFL, IELTS sẽ được bắt đầu từ kỳ thi tháng 8-2009.

Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục sẽ chịu trách nhiệm xây dựng ngân hàng đề thi môn tiếng Anh cung cấp cho các cơ sở đào tạo. Từ nay cho đến kỳ thi tháng 8-2009, những thí sinh có điều kiện có thể đăng ký tham dự các kỳ thi tiếng Anh dạng thức TOEFL hoặc IELTS quốc tế hoặc nội bộ (Institutional), đạt mức độ nêu trên, nộp cho cơ sở đăng ký đào tạo để được xem xét miễn thi.

- Tổ chức tuyển sinh: hai lần/năm, vào tháng hai và tháng tám.

- Thời gian đào tạo: 1-2 năm (quy chế cũ là 2-3 năm).

- Chương trình đào tạo: thời lượng 30-55 tín chỉ (so với quy chế cũ là 80-100 đơn vị học trình).

- Phương thức đào tạo: đào tạo theo học chế tín chỉ.

(Theo quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ do Bộ GD-ĐT ban hành)
* Thưa ông, tại sao Bộ GD-ĐT lại chọn quy định thời gian tổ chức thi tuyển đào tạo trình độ thạc sĩ vào tháng hai và tháng tám hằng năm?

- Trong quá trình thực hiện theo quy chế tuyển sinh trước đây đã xuất hiện một số bất cập như nhiều SV khá giỏi tốt nghiệp ra trường có nguyện vọng và cần được đào tạo tiếp để có trình độ cao hơn, làm việc tốt hơn nhưng bị lỡ kỳ thi, phải đợi kỳ thi năm sau.

Thực trạng trên không chỉ dẫn đến sự “lỡ làng”, không tranh thủ được thời gian của SV khá giỏi mới tốt nghiệp, có nguyện vọng, đang háo hức, nhiệt tình và muốn tiếp tục học mà còn dẫn đến tình trạng một số cơ sở đào tạo không tuyển đủ chỉ tiêu hoặc tuyển đủ nhưng chất lượng đầu vào không thật như ý.

Xuất phát từ thực tế trên và để hòa nhập với các nước trong khu vực cũng như thế giới, quy chế lần này mở ra hai kỳ thi trong năm vào tháng hai và tháng tám, trong đó kỳ thi tuyển sinh đào tạo thạc sĩ vào tháng tám tạo cơ hội cho những người tốt nghiệp ĐH khá giỏi dự thi để học tiếp chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ. Theo đó, các cơ sở đào tạo sẽ có hai kỳ tiếp nhận học viên và tổ chức đào tạo, lệch so với tuyển sinh và nhập học bậc đại học.

Các học viên theo học chương trình đào tạo thạc sĩ quản trị kinh doanh quốc tế dành cho các nhà quản lý tại TP.HCM do Viện Công nghệ châu Á tổ chức - Ảnh: T.T.D.
* Cả cơ sở đào tạo và người học đều có ý kiến chưa đồng tình với quy định về môn ngoại ngữ trong kỳ thi tuyển thạc sĩ thay vì năm ngoại ngữ: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Đức, tiếng Trung, trình độ B, nay trong quy chế mới chỉ thi một ngoại ngữ là tiếng Anh, theo hình thức TOEFL.

- Quy chế tuyển sinh sau đại học ban hành năm 2001 quy định sử dụng năm ngoại ngữ trong tuyển sinh đào tạo thạc sĩ là tiếng Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung, trình độ B. Quy định trên tuy có đem lại một chút thuận lợi cho người dự thi nhưng không đáp ứng yêu cầu hiện nay trong hòa nhập và giao lưu quốc tế.

Trong hội nhập quốc tế hiện nay, tiếng Anh vẫn là ngôn ngữ được dùng phổ biến nhất và gần như chiếm địa vị độc tôn trong các diễn đàn hội nghị, hội thảo, trao đổi, giao lưu quốc tế. Vì thế, cán bộ khoa học có trình độ thạc sĩ trở lên, ở bất kỳ lĩnh vực, ngành, chuyên ngành khoa học nào, ngôn ngữ dùng trong đào tạo là gì, phải biết tiếng Anh ở mức độ nào đó.

Xuất phát từ ý tưởng đó, quy chế đào tạo thạc sĩ lần này buộc tất cả thí sinh thi tuyển vào học các chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ phải dự thi môn tiếng Anh, trình độ tối thiểu là TOEFL 400 và tiếp tục học thêm để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ phải có trình độ tiếng Anh tối thiểu TOEFL 450.

Đối với người dự thi vào học chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ về tiếng Anh như lý luận và phương pháp giảng dạy bộ môn tiếng Anh hoặc ngôn ngữ Anh, môn thi phải là ngôn ngữ khác, do thủ trưởng cơ sở đào tạo quyết định, trình độ tương đương với TOEFL 400 và khi tốt nghiệp có trình độ ngoại ngữ đó tương đương TOEFL 450.

THANH HÀ thực hiện

Thông tin tuyển sinh Cao Học Kinh Tế TpHCM (On thi cao hoc nua)

MBA-DHKT-Chương trình bồi dưỡng sau đại học (Danh cho TS ko thi dau dau vao)

Chương trình bồi dưỡng sau đại học là chương trình dành cho các bạn học viên thi đầu vào Cao Học chưa đạt ( điểm thi thấp hơn điểm xét tuyển) , được nhà trường bố trí cho học chung với các học viên trúng tuyển Cao Học. (Lớp Sachvang có khoảng 30%)

Đây là chương trình được thiết kế để nâng cao kiến thức chuyên môn phục vụ cho công tác

Học viên bồi dưỡng sau đại học , trong danh sách lớp ký hiệu là BD, được học nợ đầu vào trong vòng 5 năm, trong 5 năm đó phải cố gắng thi đậu đầu vào Cao Học.

Nếu trong 02 năm đầu tiên kể từ khi học bồi dưỡng, thi đầu vào không đậu, sẽ được nhà trường cấp giấy chứng nhận đã học chương trình bồi dưỡng sau đại học, với điều kiện đóng học phí đầy đủ

- http://caohockinhte.info/forum/showt...5961#post15961

- http://caohockinhte.info/forum/showt...5939#post15939

- http://caohockinhte.info/forum/showt...5928#post15928

Về thủ tục đăng kí nhập học thì khác 2 chỗ là:

- Học Bồi dưỡng thì phải đóng học phí nguyên năm ( 5tr9), còn đậu đầu vào thì được đóng từng học kì một

- Đậu đầu vào thì trong 5 ngày ( 18/8 đến 22/8) thích đi làm thủ tục ngày nào thì đi; còn đăng kí học Bồi dưỡng thì ko đi sớm là hết chỗ, vì số lượng có hạn

MBA-DHKTe ThongBao Chuyen Doi 2008

http://caohockinhte.info/forum/showthread.php?p=18028#post18028
BOÄ GIAÙO DUÏC VAØ ÑAØO TAÏOCOÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC KINH TEÁ TP.HCMÑoäc laäp - Töï do - Haïnh phuùc

Soá:............../TB-ÑHKT-SÑHTP. Hoà Chí Minh, ngaøy 03 thaùng 09 naêm 2008

THOÂNG BAÙO
V/v môû lôùp boå tuùc kieán thöùc daønh cho thí sinh döï thi cao hoïc kinh teá

Chuaån bò cho kyø thi tuyeån sinh cao hoïc Kinh teá naêm 2009, Tröôøng Ñaïi hoïc Kinh teá TP. Hoà Chí Minh toå chöùc lôùp boå tuùc kieán thöùc (daønh cho nhöõng thí sinh khoâng coù baèng Ñaïi hoïc ngaønh Kinh teá, nhöng coù baèng ñaïi hoïc khoái A, B hoaëc nhöõng thí sinh coù baèng ñaïi hoïc khoái khaùc nhöng ñaõ hoïc xong chöùng chæ sau ñaïi hoïc Fulbright), ñeå ñuû ñieàu kieän döï thi cao hoïc Kinh teá.
- Ñaêng kyù töø ngaøy : 15/09/2008 – 25/09/2008.
- Thôøi gian hoïc : töø 29/09/2008 (vaøo caùc buoåi toái trong tuaàn, töø 17h 30 ñeán 20 giôø 30)
- Hoïc phí : 1.800.000 ñ/ hoïc vieân ( hoïc vieân noäp hoïc phí taïi Ngaân haøng Phöông Ñoâng, chi nhaùnh 17 Phaïm Ngoïc Thaïch, ñoåi bieân lai thu hoïc phí taïi phoøng Keá hoaïch taøi chính, mang theo 1 baûn sao baèng ñaïi hoïc coù sao y ñeå laøm thuû tuïc nhaäp hoïc)

Moïi chi tieát xin lieân heä :
Phoøng QLÑT Sau ñaïi hoïc – Tröôøng Ñaïi hoïc Kinh teá TP. HCM
59C Nguyeãn Ñình Chieåu, quaän 3, TP. HCM. ÑT : 8.235.277 – 8.295.437



HIEÄU TRÖÔÛNG




Phaïm Vaên Naêng

Dai hoc Mo TpHCM- THÔNG BÁO CHIÊU SINH LỚP BỔ TÚC KIẾN THỨC nam 2008

THÔNG BÁO CHIÊU SINH LỚP BỔ TÚC KIẾN THỨC

Phòng Quản lý đào tạo ĐH&SĐH thông báo chiêu sinh lớp bổ túc kiến thức cho các học viên có nguyện vọng thi cao học Quản trị kinh doanh, cao học Tài chính – Ngân hàng nhưng tốt nghiệp đại học không thuộc khối ngành Kinh tế – Quản tri kinh doanh.

1. Mục đích:
Chương trình đào tạo nhằm bổ túc kiến thức cho các học viên có nguyện vọng thi cao học Quản trị kinh doanh, cao học Tài chính – Ngân hàng nhưng tốt nghiệp đại học không thuộc khối ngành Kinh tế – Quản tri kinh doanh.

2. Đối tượng:
Bằng cấp: tốt nghiệp đại học không thuộc khối ngành Kinh tế – Quản trị kinh doanh.

3. Chương trình:
Quản trị học căn bản: 45 tiết
Marketing căn bản: 45 tiết
Nguyên lý kế toán: 45 tiết
Quản trị tài chính căn bản: 45 tiết
Kinh tế vi mô: 45 tiết
Kinh tế vĩ mô: 45 tiết
Toán cao cấp: 45 tiết
Thống kê: 45 tiết

4. Học phí:
Học phí toàn khóa đối với học viên tốt nghiệp khối ngành khác: 1.500.000đ/ toàn khóa hoặc 300.000đ/1 môn.
Học phí toàn khóa đối với học viên tốt nghiệp khối ngành xã hội: 2.200.000đ/toàn khóa hoặc môn toán, môn thống kê 350.000đ/1 môn, các môn còn lại 300.000đ/1 môn.
Học viên nộp học phí tại phòng QLĐTĐH&SĐH (phòng 009)

5. Thời gian:
Ngày khai giảng dự kiến: 15/09/2008
Học từ 09/2008 – 03/2009, các buổi tối từ 18:00 - 21:00, các ngày thứ hai, ba, tư, năm, sáu.

6. Địa điểm học: Trường Đại học Mở TP.HCM, 97 Võ Văn Tần, Q.3, TP.HCM


Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ:
Phòng Quản lý Đào tạo Đại học và Sau Đại học (phòng 009)
97 Võ Văn Tần, Q.3, TP.HCM
Điện thoại: (08) 9300947 Website: http://www.ou.edu.vn

Dai Hoc Kinh Te-Hoc phi nam 2008-2009

Mới đọc được thông báo này trên website của trường, gửi mọi người để biết
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
Số : 382/ QĐ-ĐHKT-TCKT

QUYẾT ĐỊNH
V/v Quy định mức thu học phí năm học 2008 - 2009
HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
- Căn cứ Điều lệ trường đại học ban hành theo Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày 30/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 18/2004/TT-BGD&ĐT ngày 21/6/2004 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn thực hiện Điều lệ trường đại học;
- Căn cứ Quyết định số 70/1998/QĐ-TTg ngày 31/03/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thu và sử dụng học phí ở các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân;
- Căn cứ Quy chế đào tạo sau đại học ban hành kèm theo Quyết định số 18/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 08/06/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Căn cứ vào kết luận tại phiên họp ngày 16/07/2008 về việc thu học phí năm học 2008-2009;

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1: Quy định mức thu học phí năm học 2008-2009:

CẤP HỌC, TRÌNH ĐỘ, HÌNH THỨC ĐÀO TẠO MỨC THU HỌC PHÍ/TÍN CHỈ hoặc MỨC THU HỌC PHÍ/ NĂM/ NGƯỜI HỌC
1. Đại học chính quy: 1.800.000đ
2. Hoàn chỉnh kiến thức đại học: 3.800.000đ
3. Đại học tại chức:
- TP. HCM, Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương: 3.500.000đ
- Các địa phương khác: 3.300.000đ
4. Đại học bằng thứ hai (chính quy, tại chức):
- Theo niên chế: 3.800.000đ
- Theo tín chỉ: 110.000đ/tín chỉ
5. Cao học:
- Theo niên chế:
Lớp học trong giờ hành chính:
• Cán bộ công chức được cơ quan cử đi học: 2.000.000đ
• Đối tượng khác: 3.000.000đ
Lớp học ngoài giờ hành chính:
• Cán bộ công chức được cơ quan cử đi học: 3.000.000đ
• Đối tượng khác: 4.500.000đ
- Theo tín chỉ:
Lớp học trong giờ hành chính:
• Cán bộ công chức được cơ quan cử đi học: 100.000đ/tín chỉ
• Đối tượng khác: 150.000đ/tín chỉ
Lớp học ngoài giờ hành chính:
• Cán bộ công chức được cơ quan cử đi học: 150.000đ/tín chỉ
• Đối tượng khác: 225.000đ/tín chỉ
6. Nghiên cứu sinh (NCS):
- Từ cử nhân:
• Các môn học trong chương trình đào tạo: = Mức thu học phí cao học
• Thực hiện đề tài (3 năm): = Mức thu học phí NCS từ ThS
- Từ thạc sĩ (ThS): 7.000.000đ

Điều 2: Trường điều chỉnh mức thu học phí trong năm học 2008-2009 nếu có Quyết định mới của Thủ tướng Chính phủ thay thế Quyết định hiện hành về việc thu học phí.
Điều 3: Đối với người học (sinh viên, học viên cao học và NCS) nếu còn nợ học phí, phần học phí còn nợ tính theo mức thu học phí năm học 2008-2009.
Điều 4: Người học và các đơn vị chức năng có liên quan trong Trường thực hiện Quyết định này kể từ ngày ký.

Nơi nhận:
- Như Điều 4;
- Web site Trường;
- Lưu: TC-KT.

Công văn của Bộ GD&ĐT về việc thi tuyển sinh sau đại học năm 2008

Công văn của Bộ GD&ĐT về việc thi tuyển sinh sau đại học năm 2008
Nguyễn Lý Hữu Huấn [25/2/2008 10h 37' ]
http://www.husc.edu.vn/Modules/Index.aspx?page=NewsDetails&groupID=4&id=177
Ngày 25/01/2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có công văn số 694/BGDĐT-ĐH&SĐH thông báo về việc thi tuyển sinh sau đại học năm 2008 như sau:

Kính gửi: Các cơ sở đào tạo sau đại học

Triển khai thực hiện Luật Giáo dục 2005, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hoàn thiện dự thảo Quy chế đào tạo Thạc sĩ và Quy chế đào tạo tiến sĩ, đang trong bước thẩm định cuối cùng chuẩn bị trình Bộ trưởng ký ban hành. Theo dự thảo các quy chế này, việc tuyển sinh đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ dự kiến có hai đợt vào cuối tháng 2 và cuối tháng 8 hàng năm, phù hợp với kế hoạch đào tạo chung và nguyện vọng của đa số cơ sở đào tạo sau đại học.

Năm 2008, việc tuyển sinh sau đại học vẫn thực hiện theo Quy chế tuyển sinh sau đại học ban hành theo quyết định số 02/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 29/02/2001 và các quyết định sửa đổi bổ sung số 19/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 9/4/2002, số 16/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 9/4/2003 và số 11/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 21/4/2004 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tuy nhiên để chuẩn bị cho việc chuyển sang thực hiện theo quy chế mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn như sau:

- Kỳ thi tuyển sinh sau đại học năm 2008 sẽ thực hiện vào tháng 8 theo kế hoạch ghi trong phụ lục kèm theo công văn này.

- Đối với môn tiếng Anh trong tuyển sinh sau đại học năm 2008: trình độ và phương thức thi do Thủ trưởng cơ sở đào tạo quy định (khuyến khích các cơ sở đào tạo tổ chức thi theo dạng thức TOEFL) và xác định điểm tuyển phù hợp để sau một năm đào tạo, học viên chương trình đào tạo thạc sĩ phải đạt ít nhất TOEFL 400 điểm, khi kết thúc khóa học phải đạt TOEFL 450 điểm mới đủ điều kiện tốt nghiệp; nghiên cứu sinh phải đạt mức TOEFL 450 điểm và trước khi bảo vệ luận án phải đạt TOEFL 500 điểm.

Miễn thi ngoại ngữ khi dự tuyển đào tạo trình độ thạc sĩ cho người đã có chứng chỉ TOEFL 400 điểm hoặc IELTS 4.5; cho người dự tuyển đào tạo trình độ tiến sĩ đã có chứng chỉ TOEFL 450 hoặc IELTS 5.0. Các chứng chỉ tiếng Anh này có giá trị trong 2 năm kể từ ngày dự thi lấy chứng chỉ. Thí sinh có nhu cầu lấy chứng chỉ TOEFL có thể đăng ký trực tiếp với Viện Giáo dục quốc tế Hoa Kỳ (IIE) qua địa chỉ www.iievn.org để dự các kỳ thi TOEFL nội bộ do IIE tổ chức đều đặn hàng tháng.

- Các viện nghiên cứu có tuyển sinh đào tạo trình độ thạc sĩ lập danh sách thí sinh gửi đến cơ sở đào tạo phối hợp của viện để dự thi tuyển sinh; không gửi thí sinh dự thi ở cơ sở đào tạo khác.

Các cơ sở đào tạo trình độ tiến sĩ là viện nghiên cứu tự bố trí lịch bảo vệ đề cương nghiên cứu của thí sinh trong 3 tuần cuối của tháng 8/2008 và báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo biết.

- Cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh cần chú trọng đánh giá đề cương nghiên cứu của thí sinh về tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học, thực tiễn, tính khả thi của đề tài, triển vọng đóng góp vào lý thuyết hay thực tiễn của vấn đề nghiên cứu; trình độ chuyên môn của thí sinh thông qua việc trình bày vấn đề dự định nghiên cứu, tổng quan tình hình nghiên cứu, lý do chọn đề tài, những kinh nghiệm, kiến thức, sự hiểu biết cũng như những chuẩn bị của thí sinh trong vấn đề hay lĩnh vực dự định nghiên cứu; năng lực nghiên cứu và khả năng hoàn thành luận án của nghiên cứu sinh.

- Trong vòng hai tháng kể từ ngày kết thúc kỳ thi, các cơ sở đào tạo cần hoành thành việc chấm thi, chấm phúc tra (nếu có), báo cáo tình hình tuyển sinh, kết quả thi tuyển cho Bộ Giáo dục và Đào tạo và khai giảng khóa học theo kế hoạch.

Bộ Giáo dục và Đào tạo thông báo để các cơ sở đào tạo sau đại học biết và thực hiện.

KT. Bộ trưởng
Thứ trưởng thường trực
BÀNH TIẾN LONG
(đã ký và đóng dấu)

Học MBA Việt nam (TP.HCM)

Nếu muốn học MBA Việt nam (TP.HCM) thì có vài lựa chọn thế này:

1. Thạc sỹ Quản trị doanh nghiệp, Khoa Quản Lý Công Nghiệp - ĐHBL Tp.HCM. Nếu không phải là cử nhân kinh tế thì phải học chuyển đổi 6 môn (Kinh tế vi mô, vĩ mô, quản lý đại cương, kế toán đại cương...). Mỗi năm tuyển khoảng 70 học viên (1 chọi 4).

2. Khoa Kinh tế ĐHQG TP.HCM. Mỗi năm tuyển khoảng 80. Có các chuyên ngành như Kinh tế học, Tài chính Ngân hàng, Kinh tế chính trị, Quan hệ quốc tế... (học ở gần cầu Bông, 1 chọi 3). Yêu cầu là phải cử nhân kinh tế.

3. Đại học kinh tế: đương nhiên rồi. Phải là cử nhân kinh tế. Nhưng trường này tôi không biết nhiều lắm vì có một năm tới liên hệ định thi đầu vào, thấy bu đen bu đỏ đông quá, chen không lại bỏ về luôn.

4. Đại học Mở bán công: phải là dân kinh tế. Có lẽ thi đầu vào dễ nhất. Chẳng hiểu sao bắt học tới khoảng 25 môn và kéo dài tới 3 năm. Đóng tiền cũng không ít.

5. Thạc sỹ Quản trị kinh doanh: của Khoa Kinh tế và Quản lý DN trường ĐHBK Hà nội, tổ chức trong TP.HCM (địa điểm là trường Cao đẳng Công nghiệp thực phẩm). Có 2 ngành là Marketing và Tài chính. Học tại Sài gòn nhưng thi đầu vào và bảo vệ luận văn ở Hà nội. Nếu không phải là dân kinh tế thì phải học bổ túc kiến thức khoảng 5, 6 môn. Có thể thi đầu vào không khó lắm như ở BK TPHCM.

Học MBA Việt nam thì có lẽ chỉ mất hơn 1000 USD, nhưng phải ôn thi đầu vào mất nửa năm và thời gian học kéo dài. Rồi lại bao nhiêu vất vả khác. Nếu có tiền và Anh văn kha khá thì học MBA nước ngoài cho khoẻ.

MBA-Hình thức và cấu trúc môn thi ngoại ngữ tiếng Anh trình độ B và C trong kỳ thi tuyển sinh SĐH năm 2008

Hình thức và cấu trúc môn thi ngoại ngữ tiếng Anh trình độ B và C trong kỳ thi tuyển sinh SĐH năm 2008


Hình thức thi: trắc nghiệm.

Thời gian làm bài thi: 90 phút.

Số câu hỏi: 70 câu.

Thang điểm: 100 điểm.

Cụ thể như sau:

1. Từ vựng (10 câu, 10 điểm)

2. Ngữ pháp (10 câu, 10 điểm)

3. Điền từ (cloze test) (20 câu, 20 điểm)

4. Đọc hiểu (20 câu, 40 điểm)

5. Cấu trúc câu (10 câu, 20 điểm)
Download Opera, the fastest and most secure browser
December 2009
S M T W T F S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31