Skip navigation.

Log in | Sign up

Để đầu tư CK thành công cần kiến thức, thông tin, nghệ thuật và may mắn

Welcome to Hoang Tam- Ngoc Tu blog: Nơi trao đổi những kiến thức về Tin Học & Tài Chính

Posts tagged with "SysNet"

Thiết kế mô hình mạng của Cisco

Một hệ thống mạng đơn giản dựa trên giao thức TCP/IP sử dụng classful 32-bit IP address và distance vector. Nhưng công nghệ thì liên tục thay đổi và phát triển yêu cầu hệ thống mạng cần phải có sự thay đổi, thiết kế lại, hay xây dựng một mô hình mạng mới, việc tạo ra một hệ thống mạng với tính tuỳ biến cao là cần thiết.

Mở rộng là khả năng của hệ thống mạng đáp ứng yêu cầu ngày càng phát triển với trọng tâm là thiết kế lại và cài đặt lại hệ thống. Nhưng việc phát triển của hệ thống mạng thì rất nhanh nhưng thiết kế lại hệ thống là một điều không hề đơn giản. Đáp ứng yêu cầu giá cả, và sự đơn giản trong quá trình quản trị và bảo dưỡng hệ thống mạng. Ngoài ra hệ thống mạng cần phải thiết lập sự ưu tiên cho những ứng dụng khác nhau.

Khi thiết kế hệ thống đáp ứng các yêu cầu phát triển trong tương lai bạn cần phải hiểu được cấu trúc vật lý và các giao thức mạng để thiết kế triển khai một cách hợp lý dưới đây tôi sẽ trình bày.

Thiết kế mô hình mạng ba lớp:


Với một hệ thống mạng được thiết kế có cấu trúc phân lớp nhằm tránh sự phức tạp hoá trong mạng, việc chia ra các lớp nhỏ giúp bạn nhóm những thiết bị, các giao thức kết nối, và tính năng cụ thể cho từng lớp một, giải quyết các sự cố một cách nhanh nhất liên quan trực tiếp tới một lớp nào đó. Tối ưu hoá hệ thống mạng.

Cisco giới thiệu mô hình mạng ba lớp bao gồm:Core layer,Distribution layer,Access layer


Khái niệm mô hình mạng ba lớp dựa trên vai trò của từng lớp đó trong hệ thống mạng, nó cũng tương tự như khái niệm mô hình mạng OSI chia ra dựa trên vai trò của từng lớp trong việc truyền dữ liệu.

Sử dụng mô hình mạng với cấu trúc phân lớp mang lại sự thuận tiện trong thiết kế, cụ thể trong triển khai, dễ dàng để quản lý và giải quyết sự cố. Và cũng đáp ứng được yêu cầu về tính mềm dẻo cho hệ thống mạng.

Nhưng trong cùng một thời điểm rất khó có thể tách biệt hoàn toàn thiết bị này thiết làm việc tại lớp nào. Nhưng mỗi lớp trong hệ thống mạng cũng có thể sẽ bao gồm các thiết bị như:

Router, Switch, Link, giải pháp tích hợp

Một vài hệ thống mạng có kết hợp các thành phần của hai lớp vào làm một để đáp ứng các yêu cầu riêng. Dưới đây là vai trò của từng tầng trong mô hình mạng:

Core Layer

Lớp Core Layer cung cấp tối ưu hoá và độ tin cậy trong quá trình truyền tin với tốc độ rất cao (high speeds). Nhưng không phải lớp Core Layer đáp ứng toàn bộ quá trình truyền thông tin trên mạng, nhưng đó có thể được coi như đường đại lộ liên kết các đường nhỏ với nhau, đôi khi các giao tiếp chỉ thực hiện ở một lớp duy nhất mà thôi. Lớp Core Layer đáp ứng các vai trò sau:

Kiểm tra Access-list

Mã hoá dữ liệu

Address translation

Các thiết bị hoạt động trong lớp Core Layer bao gồm các dòng:

12000, 7500, 7200, and 7000 series routers

Riêng dòng 12000 chỉ dành riêng cho các nhà ISP bởi giá cả và tính năng cao cấp của nó với mục tiêu hướng tới các ISP.

Tại lớp Core Layer với vai trò mang lại tốc độ truyền cao với độ ổn định cao nên việc kết nối chủ yếu sử dụng leased line như:

T1, T3, OC3, Anything better

Distribution Layer

Distribution Layer làm việc ở giữa Core Layer và Access Layer, với vai trò đáp ứng một số giao tiếp giúp giảm tải cho lớp Core Layer trong quá trình truyền thông tin trong mạng. Với tác dụng của lớp này cung cấp danh giới cho việc sử dụng access lists và các tính năng lọc khác để khi cần thiết sẽ gửi lên lớp core layer. Tuy nhiên lớp này cũng là lớp định nghĩa các chính sách cho mạng. Một chính sách có thể áp dụng các dạng cụ thể sau:

Routing updates

Route summaries

VLAN

Address aggregation

Sử dụng các chính sách để bảo mật mạng và chống các giao dịch không cần thiết.

Nếu một hệ thống mạng bao gồm hai hoặc nhiều routing protocol, như Routing Information Protocol (RIP) và Interior Gateway Routing Protocol (IGRP), toàn bộ các vấn đề trên làm việc tại lớp distribution.

Các thiết bị hoạt động tại lớp Distribution layer:

4500, 4000, and 3600 series routers


Access Layer

Mang đến sự kết nối của người dùng với các tài nguyên trên mạng hoặc các giao tiếp với lớp Distribution. Access layer sử dụng Access lists để chống lại những kẻ xâm nhập bất hợp pháp, trong lớp Access layer cũng mang đến các kết nối như WAN, Frame Relay, ISDN, hay Leased lines.

Các thiết bị hoạt động tại lớp Access Layer: 2600, 2500, 1700, and 1600 series routers

Dòng 2600

Quản lý rủi ro CNTT ngành ngân hàng

,

Quản lý rủi ro CNTT ngành ngân hàng

Thứ năm, 11/01/2008, 00:00 GMT+7

Tại hội thảo “An toàn hệ thống thông tin ngành ngân hàng” diễn ra ngày 5/12/2007 tại Hà Nội, công ty W&G Systemhaus für Informationstechnologien (W&G) và công ty ALLIANT đã công bố “Dự án an ninh CNTT”, trong đó bao gồm cả dịch vụ quản lý rủi ro. TGVT - PC World Việt Nam đã có cuộc trao đổi với ông Cao Kim Ánh, giám đốc ALLIANT và ông Heiko Willuweit, đại diện W&G tại Việt Nam (VN).

Thưa ông, “Quản lý rủi ro” có phải là một khái niệm mới trong lĩnh vực an ninh CNTT? Quản lý rủi ro CNTT bao gồm những nội dung gì?

Ông Cao Kim Ánh
Ông Cao Kim Ánh: Quản lý rủi ro là một lĩnh vực quan trọng có tính quyết định thành công của các dự án, đặc biệt đối với các dự án lớn và phức tạp như các dự án ứng dụng CNTT trong DN. Đây không phải một khái niệm mới nhưng luôn là vấn đề phải quan tâm hàng đầu của tất cả các dự án. Ở VN, rất nhiều cơ quan ứng dụng CNTT chưa coi trọng đúng mức vấn đề này, thậm chí chưa hiểu biết đầy đủ về nó.

Quản lý rủi ro bao gồm việc phòng ngừa rủi ro (nhận dạng nguy cơ và đánh giá khả năng xảy ra sự cố cùng thiệt hại, cơ chế để giám sát các nguy cơ đó...) và xử lý hậu quả nếu xảy ra rủi ro (chiến lược xử lý, các biện pháp và công cụ được áp dụng, phân bổ lực lượng để khắc phục....). “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, phòng ngừa rủi ro có ý nghĩa quyết định, tuy nhiên, cũng phải sẵn sàng các giải pháp và phương tiện để khắc phục nhanh và tốt nhất hậu quả nếu chẳng may rủi ro vẫn xảy ra. Quản lý rủi ro đòi hỏi phải dự đoán được các nguy cơ rủi ro và thiệt hại, đầu tư cho việc phòng ngừa và khắc phục chúng một cách thích hợp theo nguyên tắc: đầu tư phải tương xứng với giá trị cần bảo vệ.

Quản lý rủi ro CNTT trong các ngân hàng và tổ chức tài chính có điểm gì khác biệt cần lưu ý?


Một nền tảng CNTT hoạt động không vững vàng là lý do dẫn tới sự chậm trễ trong công việc, và nguy hiểm nhất là dẫn tới phá sản công ty


Ông Heiko Willuweit: Lĩnh vực ngân hàng và tài chính là một trong các lĩnh vực an ninh nhạy cảm nhất đối với cả nhà quản lý DN lẫn khách hàng của họ. Vấn đề quản lý rủi ro càng trở nên quan trọng hơn khi mà hầu như các hoạt động và dịch vụ chính trong các lĩnh vực này đều đã được số hóa và thực hiện trong các “không gian ảo” và “mở” ở mức độ cao (trên phạm vi toàn cầu). Đây cũng là lĩnh vực chịu sự tấn công liên tục và ngày càng tinh vi của các loại tội phạm tin học. Trong khi đó, an ninh thông tin không chỉ liên quan đến tài sản và tiền của, mà còn liên quan đến hạ tầng và huyết mạch của hầu như toàn bộ đời sống kinh tế và xã hội. Do đó, đảm bảo an ninh và phòng chống rủi ro phải là một yêu cầu rất cao, gần như tuyệt đối..

Nội dung và mục tiêu của “Dự án an ninh CNTT” là gì? Vai trò của ALLIANT và WG trong đó ra sao?

Ông Cao Kim Ánh: Đây là một thỏa thuận hợp tác giữa ALLIANT và W&G. Mục tiêu của dự án là đưa ra các chương trình đào tạo và thực hiện các giải pháp giám sát an ninh CNTT phù hợp cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác của VN. W&G là một công ty có nhiều kinh nghiệm về an toàn hệ thống thông tin tại CHLB Đức, rất quan tâm đến việc cung cấp các giải pháp an ninh “tuyệt đối” cho các tổ chức, bằng cách xem xét cụ thể các trường hợp ứng dụng và đưa ra các giải pháp phù hợp cả về tổ chức và công nghệ.

Riêng trong vấn đề quản lý rủi ro CNTT, W&G quan tâm đến việc nhận dạng các nguy cơ đối với an ninh hệ thống thông tin, cơ sở hạ tầng, cơ sở dữ liệu, các ứng dụng và các giải pháp để kiểm soát được các nguy cơ đó.

Ông Heiko Willuweit: Chúng tôi quan tâm không chỉ các yếu tố kỹ thuật và công nghệ, mà còn các vấn đề liên quan đến tổ chức và nhân sự. Ngoài các giải pháp an toàn mang tính kỹ thuật và vật lý, như chọn lựa địa điểm an toàn để triển khai hệ thống; thiết bị bền vững; các quy trình, thủ tục, việc đào tạo và giáo dục người dùng... là rất quan trọng. Trên thực tế, các hư hỏng và mất mát, sử dụng tài nguyên không đúng (do vô tình hay cố ý) hiện nay khá nhiều. Do đó, các giải pháp và công cụ này (tường lửa, mã hóa, xác thực, kiểm tra quyền hạn, sao lưu và phục hồi...) là các trợ thủ đắc lực để phòng ngừa và khắc phục rủi ro, nhưng chúng không thể thay thế vai trò chính yếu của con người.

ALLIANT phối hợp với W&G trong các hoạt động tiếp thị, khai mở thị trường, đào tạo và hỗ trợ tại VN. Chúng tôi sẽ giúp khách hàng đưa ra những phương pháp kiểm tra, còn ALLIANT đưa ra những phương án, điều kiện hiện có trong thị trường CNTT để sửa đổi các khiếm khuyết được phát hiện. Nghĩa là: mỗi khách hàng sẽ tự kiểm tra xem mình đã có một nền tảng CNTT phù hợp với nhu cầu thị trường chưa. Nếu họ có nhu cầu cụ thể trong lĩnh vực CNTT, họ sẽ là người quyết định cùng với ALLIANT và W&G tìm những giải pháp thích hợp.

Thu Nga- theo pcworld

Người viết : admin

Thế giới thiếu phương thức giảm thiểu rủi ro CNTT

, ,

Thế giới thiếu phương thức giảm thiểu rủi ro CNTT
Ảnh:
Ảnh:computerdoctor

Theo một nghiên cứu của Symantec kéo dài 12 tháng dựa trên thông tin thu thập từ hơn 500 lãnh đạo CNTT thuộc các tổ chức và doanh nghiệp trên toàn cầu thì đa số thừa nhận chưa có biện pháp kiểm soát lỗ hổng an ninh mạng.

Báo cáo quản lý rủi ro CNTT (IT Risk Management Report - IRMR) cho thấy phần lớn những người được hỏi cho rằng sẽ gặp một vài rắc rối dạng bảo mật hoặc tuân thủ chính sách trong vòng 1 - 5 năm nữa. Cụ thể, 66% trong số 500 CIO dự báo sẽ gặp lỗi lớn về tuân thủ quy định ít nhất 1 lần trong chu kỳ 5 năm. Bên cạnh đó, 58% khẳng định mỗi chu kỳ 5 năm, ít nhất có 1 lần bị mất mát dữ liệu lớn do các vụ việc như sập trung tâm dữ liệu, dữ liệu hỏng, lỗ hổng hệ thống bảo mật.

Quản lý rủi ro CNTT hiệu quả đòi hỏi sự kết hợp hài hòa của kinh nghiệm chuyên sâu và đầu tư trong vấn đề kiểm soát quy trình cũng như kiểm soát công nghệ. Những chương trình quản lý vấn đề này hiệu quả nhất thường sử dụng công cụ là sự kết hợp công nghệ được lựa chọn tốt nhất với các quy trình ưu việt. Những người tham gia cuộc điều tra cho IRMR thuộc mọi cấp độ trong tổ chức, ngành công nghiệp, quy mô, và có vị trí địa lý khác nhau nhưng đều chung quan điểm rằng khả năng tổ chức của họ về kiểm soát công nghệ là hiệu quả hơn so với kiểm soát quy trình.

Chỉ 38% người được hỏi đánh giá tổ chức của họ đạt hiệu quả trên 75% trong việc kiểm soát quy trình kiểm kê, phân loại và quản lý tài sản. Những biện pháp kiểm soát này cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng một chương trình quản lý rủi ro CNTT giúp thể hiện những ưu tiên của tổ chức. Nếu không đánh giá rủi ro cẩn thận, tất cả các tài sản có thể được đánh đồng về tầm quan trọng, khi đó sẽ có những tài sản được bảo vệ quá mức cần thiết, trong khi chỗ khác lại không đủ so với yêu cầu.

Jon Oltsik, chuyên gia phân tích cao cấp bộ phận chiến lược doanh nghiệp của Symantec, cho biết: "Các tổ chức bắt đầu nhận thấy giá trị việc sử dụng biện pháp chủ động hơn là bị động đối với quản lý rủi ro CNTT. Để hiệu quả, mỗi đơn vị phải đánh giá cả công nghệ lẫn các quy trình cũng như hiểu rõ về những rủi ro khác nhau có thể ảnh hưởng tới hệ thống".

Việt Thi

Thách thức và cơ hội cho CIO

, ,

Thách thức và cơ hội cho CIO
11:42-15/01/2008

Mất điện, bị tấn công khủng bố, gian lận tài chính, động đất, virus sinh học và virus máy tính chỉ là một số trong những thảm họa xảy ra cho các công ty và tổ chức khắp nơi trên thế giới trong những năm gần đây. Những hậu quả nặng nề và chi phí phục hồi cao đã khiến những khái niệm về quản lý rủi ro trở thành một vấn đề hàng đầu trong chương trình nghị sự của nhiều tổ chức. Điều này cũng đặt ra những thách thức và cơ hội cho các giám đốc công nghệ thông tin (Chief Information Officer – CIO).

itgatevn 0006944 - CIO.jpgNhững kế hoạch ứng phó (contingency plan), máy chủ ở xa, ứng dụng bảo mật tinh vi, công nghệ cho nhân viên lưu động, hệ thống sao lưu dự phòng và hệ thống an ninh là những hoạt động cơ bản trong lĩnh vực quản lý rủi ro. Tuy nhiên, đối với một CIO, chỉ đơn thuần triển khai và quản lý những giải pháp này thì chưa đủ.

Ngày nay, người ta mong đợi các CIO đóng một vai trò bao quát hơn và mang tính chiến lược nhiều hơn trong các tổ chức. Họ phải tư vấn cho tổng giám đốc, các thành viên trong ban giám đốc và hội đồng quản trị về những vấn đề khác trong tổ chức. Họ phải am hiểu nhiều loại rủi ro khác nhau, như rủi ro trong những hoạt động công nghệ thông tin (CNTT), rủi ro trong việc triển khai và sử dụng công nghệ, rủi ro trong việc mở rộng tổ chức và rủi ro về chiến lược.

Trong thế kỷ 21 này, các CIO phải là những nhà lãnh đạo chứ không còn là những người thừa hành mệnh lệnh nữa. Họ phải đảm nhiệm nhiều công việc mang tính quản lý bao quát hơn chứ không chỉ bó rọ trong lĩnh vực CNTT. Họ phải khai thác sức mạnh của công nghệ để đạt đến một cấp độ cao hơn trong việc quản lý rủi ro, điều hành và vận dụng lợi thế cạnh tranh. Nói tóm lại, họ phải trở thành một CIO biết quản lý các thông tin về rủi ro (risk intelligence).

Quản lý thông tin về rủi ro

Rủi ro thường được hiểu là điều không tốt, bất ngờ xảy ra. Tuy nhiên, trong quản trị kinh doanh, rủi ro là khả năng có thể xảy ra của một sự kiện nào đó tạo ra một hay nhiều tác động đối với việc thực hiện các mục tiêu của công ty. Tác động này có thể là xấu – mang lại thiệt hại cho doanh nghiệp – hoặc tốt – mang lại những cơ hội mới.

Từ “rủi ro” thường được gán cho một nghĩa xấu nên người ta thường chỉ tập trung vào việc nhận biết những yếu tố mang đến rủi ro (risk awareness). Thực ra, nếu biết khai thác tốt những thông tin về rủi ro, nhà quản trị có thể gặt hái được những thành quả tốt đẹp.

Một CIO biết quản lý tốt các thông tin về rủi ro là người phải tập trung sự chú ý và các nguồn lực vào ba lĩnh vực :
- Quản lý những rủi ro có tác động trực tiếp đến bộ phận CNTT.
- Ứng dụng công nghệ tại tất cả các bộ phận trong tổ chức để giúp các nhóm khác nhận biết và quản lý tốt những rủi ro của họ.
- Am hiểu những thông tin về rủi ro ở cấp độ doanh nghiệp.

Cách nắm bắt thông tin về rủi ro

Để quản lý tốt những thông tin về rủi ro, CIO phải là một nhà điều hành cấp cao trong tổ chức để có một quan điểm chiến lược tổng thể cho cả tổ chức. Họ cũng phải quan tâm đến các vấn đề liên quan đến kinh doanh và hoạt động chứ không phải chỉ quanh quẩn với các hệ thống CNTT để bảo đảm sự an toàn cho dữ liệu.
Dưới đây là bảy bước để trở thành một CIO biết quản lý tốt những thông tin về rủi ro :

1. Thực hiện các bước nhỏ.

Hãy đánh giá tình trạng quản lý rủi ro trong bộ phận CNTT trước khi bạn mở rộng sự chú ý của mình đến toàn thể doanh nghiệp bằng những câu hỏi, như : Tiến trình quản lý rủi ro hiện tại tốn kém ở mức nào ? Nhân viên trong bộ phận có hài lòng với quy trình quản lý rủi ro đó không ? Ta có biết những dạng rủi ro của bộ phận không ? Những dạng đó có tương đồng với các dạng rủi ro của toàn tổ chức không?

2. Thiết lập các ưu tiên dựa trên tác động.

Cách thiết lập là tập trung trước hết vào những sáng kiến có thể đạt tới và có tác động mạnh nhất đến hoạt động của tổ chức. Phân tích những tác động đó. Việc phân tích này sẽ giúp bạn nhận biết những khu vực có tiềm năng tạo ra nhiều lợi ích nhất.

3. Tự động hóa việc kiểm soát.

Việc tự động hóa và kết hợp các quy trình và các hệ thống không chỉ giúp bạn ngăn chặn các chi phí khác mà còn có thể thẩm tra một số lỗi do con người tạo ra.

4. Phân bổ và sắp xếp hồ sơ người sử dụng (user profile).

Phát triển những hệ thống hồ sơ này sao cho bạn có thể định rõ và phân phối thông tin phù hợp với từng vai trò của người sử dụng. Việc tùy chỉnh cấp độ truy cập thông tin phù hợp với vai trò và trách nhiệm của từng nhân viên, và việc cho phép những người có quyền ra quyết định phân phối những thông tin liên quan một cách có hiệu quả sẽ giúp bạn kiểm soát thông tin tốt hơn.

5. Cải thiện việc quản lý thông tin.

Khảo sát những chiến lược CNTT, những quy trình và công nghệ cần thiết để đáp ứng các nhu cầu thông tin của tổ chức. Khi đưa ra những công cụ, quy trình và cách kiểm soát mới để cải thiện chất lượng thông tin, bạn có thể gặp phải một vài sự chống đối từ người sử dụng. Để khắc phục tình trạng này, bạn có thể vận dụng những chiến thuật “mềm dẻo” như thu phục nhân tâm hoặc dùng các công cụ để giám sát chất lượng dữ liệu.

6. Điều chỉnh tài sản CNTT cho phù hợp với các nhu cầu quản lý rủi ro rộng hơn.

Trên con đường trở thành một CIO quản lý thông tin rủi ro, bạn phải từ bỏ một phần xu hướng tập trung vào những rủi ro của bộ phận CNTT và mở rộng tầm nhìn đến nhu cầu tổng thể của tổ chức trong việc quản lý rủi ro. Kế tiếp, bạn phải làm việc với những người lãnh đạo của các bộ phận khác để đưa ra những phương cách mới, có hiệu quả nhất để đáp ứng những nhu cầu của họ.

7. Đơn giản hóa vấn đề.

Một trong những hậu quả phụ của đạo luật Sarbanes-Oxley1 là sự vội vàng triển khai những cách kiểm soát cũng như những quy trình mới và thường là không cần thiết. Nay đã đến lúc loại bỏ sự phức tạp và dư thừa bằng cách đơn giản hóa cách kiểm soát.
Nói chung, một CIO quản lý thông tin rủi ro phải điều khiển được công nghệ để đưa việc quản lý rủi ro vào những hoạt động hằng ngày của tổ chức. Điều này đòi hỏi CIO phải làm cho mọi nhân viên cảm thụ được những khái niệm chung về rủi ro, và phải đưa ra những thông số chung để đo lường rủi ro. Nó cũng có nghĩa là CIO phải cộng tác tích cực với giám đốc điều hành và các nhà lãnh đạo khác trong tổ chức.

Eddie Leschiutta

Eddie Leschiutta là thành viên quản lý của Deloitte & Touche – một trong bốn công ty kiểm toán lớn nhất thế giới – ở Canada, phụ trách lĩnh vực các rủi ro của doanh nghiệp.
1 Sarbanes-Oxley là đạo luật tài chính Mỹ ban hành ngày 30-7-2002, do Thượng nghị sĩ Paul Sarbanes và Dân biểu Michael G. Oxley đề xuất. Đạo luật này ra đời nhằm nâng cao chất lượng và tính minh bạch của các báo cáo tài chính, tăng cường trách nhiệm của hội đồng quản trị, ban giám đốc và kiểm toán viên.

Tự đánh giá khả năng quản lý thông tin rủi ro
Dưới đây là bản câu hỏi giúp một CIO tự đánh giá khả năng quản lý thông tin rủi ro của mình. Những câu trả lời “có” được một điểm, và những câu trả lời “không” không có điểm.
1. Bạn có thừa nhận (hoặc cố gắng tác động đến) những ưu tiên chiến lược cao nhất của công ty không ?
2. Bạn có hiểu vai trò của CNTT trong toàn bộ tổ chức không ?
3. Bạn có giúp phát triển một quan điểm tổng hợp về những rủi ro của toàn bộ tổ chức, chứ không chỉ của bộ phận CNTT không ?
4. Bạn có đánh giá những hệ thống của tổ chức được chuẩn bị như thế nào để chống lại những tác động và các loại rủi ro khác nhau, và phát triển những phương cách để cải thiện khả năng phục hồi của tổ chức không ?
5. Bạn có am hiểu những luật lệ và quy định hiện hành mà công ty của bạn phải tuân thủ không ?
6. Bạn có điều chỉnh tài sản CNTT dựa trên những ưu tiên tuân thủ các quy định không ?
7. Bạn có kiểm tra những phần dư thừa hay những phần phức tạp không cần thiết trong hệ thống hiện hữu của công ty không ?
8. Bạn có biết những đồng nghiệp của bạn, ở trong và ngoài công ty, đang làm gì trong việc quản lý rủi ro theo kiểu mới không ?
9. Bạn có tập trung giảm chi phí khi tuân thủ các quy định thông qua việc tự động hóa, tiêu chuẩn hóa và hợp nhất không ?
10. Bạn có cải thiện những khả năng của tổ chức để phát triển, sản xuất và phân phối thông tin với những giải pháp, quy trình và hệ thống tốt hơn không ?
11. Bạn có tin rằng nếu bạn thiết kế một chương trình quản lý rủi ro ngay từ đầu, bạn sẽ vẫn làm theo cách như hiện nay bạn đang làm ?
12. Bạn có biết tổ chức của bạn đang phải chi trả bao nhiêu cho việc quản lý rủi ro, và kinh phí dự trù cho những quý và năm sắp tới không ?
13. Bạn có biết cách đo lường lợi nhuận mang lại từ sự đầu tư vào việc quản lý rủi ro trong toàn tổ chức không ?
14. Bạn có dùng tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư để lý giải cho khoản chi phí về quản lý rủi ro không ?
15. Bạn có biết thời gian xuất hiện và những động lực của những rủi ro trong tương lai không ?

• Cách tính điểm :
14-15 điểm : Bạn hoàn toàn có thể quản lý thông tin rủi ro.
10-13 điểm : Sự thông minh của bạn là
một lợi thế nhưng bạn cũng cần phải nghiên cứu thêm về lĩnh vực này.
6-9 điểm : Bạn chỉ mới hiểu sơ về lĩnh vực này, cần phải học hỏi nhiều
hơn nữa.
0-5 điểm : Tổ chức của bạn đang gặp nguy hiểm và bạn cần phải tham gia để tìm ra một giải pháp thích hợp. Cần phải hành động ngay lập tức !
NAL (theo TBVTSG)

5 bước quản lý rủi ro CNTT hiệu quả

,

5 bước quản lý rủi ro CNTT hiệu quả Các tổ chức ngày càng gặp nhiều rắc rối về vấn đề bảo mật, khả năng sẵn sàng, hiệu suất hoạt động, tính tuân thủ. Chúng tác động đáng kể tới doanh thu, danh tiếng, hiệu suất và cả chi phí.

Bao-mat.jpg
Các tổ chức đang gặp phải ngày càng nhiều rắc rối về những vấn đề bảo mật. Ảnh: T.S

Theo Viện Bảo mật Máy Tính và theo FBI, chi phí trung bình từng vụ truy nhập thông tin trái phép là khoảng hơn 85.000 USD trong năm 2006, và những chi phí về thời gian hệ thống ngừng hoạt động lên tới hàng chục nghìn đô la Mỹ mỗi giờ. Thậm chí bất cứ ai cũng không mất nhiều thời gian để nhận ra những phương thức quản lý rủi ro CNTT tốt cũng sẽ nhanh chóng chạm ngưỡng tới hạn của chúng.

Vậy làm cách nào mà các tổ chức có thể cải tiến từ phương thức quản lý rủi ro CNTT tốt thành một phương thức hoàn hảo? Thách thức nằm ở chỗ phải hiểu được những vấn đề rủi ro mà các tổ chức có thể có, liệt kê và phân loại chúng theo hồ sơ rủi ro, và xây dựng một chương trình giảm thiểu rủi ro một cách hữu hiệu. Quy trình 5 bước dưới đây có thể giúp các tổ chức đánh giá mức độ rủi ro CNTT trong doanh nghiệp mình, xây dựng lộ trình giảm thiểu rủi ro, và đặc biệt là xây dựng những kế hoạch quản lý rủi ro CNTT hiệu quả, liên tục.

Bước 1 – Tăng cường nhận thức về rủi ro CNTT

Quy trình giảm trừ những rủi ro CNTT bắt đầu từ việc khám phá tổng thể, toàn diện những rủi ro CNTT bao gồm: - Xác định phạm vi của chương trình (Phạm vi rủi ro CNTT như thế nào là phù hợp?) – mở một bản ghi rủi ro CNTT trong tổ chức theo những tiêu chí tổng thể – xác định những yếu tố then chốt của rủi ro CNTT.

Việc đánh giá này cũng nên xem xét những yêu cầu, khả năng và những lỗ hổng bảo mật hiện có trong tổ chức. Cuối cùng, giai đoạn này liên quan đến việc xác định và phân loại những mối đe doạ, những vấn đề bảo mật, những lỗ hổng an ninh và những điểm yếu kém trong hệ thống, đồng thời gán thứ tự ưu tiên cho rủi ro.

Bước 2 – Xác định những tác động ảnh hưởng đến kinh doanh

Xác định những tác động ảnh hưởng đến kinh doanh thường là bước khó khăn nhất và cũng là bước quan trọng nhất. Vai trò đầu tàu CNTT sẽ có thể không được các nhân viên quan tâm, hay không được cấp vốn cho các hoạt động giảm trừ rủi ro, trừ khi các doanh nghiệp xác định được những ảnh hưởng (tích cực hay tiêu cực) của việc giải quyết từng phần rủi ro CNTT.

Việc xác định những tác động đến kinh doanh thường đi theo hướng tiếp cận gồm 2 giai đoạn:

1). Phân mức ưu tiên những rủi ro dựa trên những tác động tiềm tàng của chúng tới hoạt động kinh doanh theo hồ sơ lưu trữ rủi ro và mức độ dễ hay khó của việc giảm trừ những rủi ro này, thời gian xử lý, nguồn lực nhân viên cũng như lượng vốn đầu tư sử dụng cho việc giải quyết vấn đề.

2). Xây dựng những tham số kinh doanh chi tiết cho những rủi ro mà được đánh giá thuộc những lĩnh vực có ảnh hưởng lớn tới kinh doanh.

Bước 3 – Lập phương án giải quyết

Giai đoạn này là khi tổ chức đã biết được quy mô và những phần cấu thành kế hoạch Quản lý rủi ro CNTT, hiện trạng của tổ chức, thứ tự ưu tiên và sự phân loại của từng mảng rủi ro CNTT.

Bươc tiếp theo là xây dựng một loạt những giải pháp giảm trừ rủi ro dựa trên những yếu tố cơ sở về con người, quy trình và công nghệ, mỗi yếu tố này lại gồm có những yêu cầu, đặc tả kỹ thuật, mục tiêu và chức năng riêng.

Bước này cũng gồm những phân tích về chi phí cụ thể nhằm đạt được sự hài hoà giữa chi phí và lợi ích của những sáng kiến đề xuất phù hợp với các mục tiêu đề ra.

Bước 4 - Xác định vai trò CNTT cùng với những giá trị kinh doanh; triển khai giải pháp

Việc triển khai sẽ xác định liệu những bước giảm trừ rủi ro có được triển khai thành công hay không trên phương diện con người, quy trình và công nghệ cùng với mối liên hệ chặt chẽ với những cổ đông của tổ chức. Bước này cũng đòi hỏi có những đánh giá thường xuyên, chặt chẽ, cải tiến liên tục nhằm đạt được phương thức giải quyết rủi ro hiệu quả dựa trên những thứ tự rủi ro ưu tiên khác nhau. Với một hệ thống chặt chẽ gồm những khả năng quản lý hiệu năng và chỉ tiêu đo lường, các tổ chức thiết lập giai đoạn thu thập dữ liệu cơ bản, theo dõi hoạt động, và đánh giá về hiệu quả của chương trình so với giai đoạn trước đó.

Bước 5 – Xây dựng và quản lý tính năng thống nhất

Khi bước đầu tiên của giải pháp giảm trừ rủi ro CNTT được triển khai, các tổ chức cũng cần xây dựng những kế hoạch về nâng cấp liên tục cũng như quản lý thường xuyên đối với chương trình quản lý rủi ro CNTT này.

Khi đã có được kinh nghiệm cũng như chương trình đạt hiệu quả, các tổ chức có thể tránh hoặc vượt qua những khó khăn lớn nhất về triển khai, chẳng hạn như là việc mày mò chưa định hướng, những dự án thụ động, và thiếu quy trình định lượng.

Khi không có một công thức hữu hiệu nào cho Quản lý rủi ro CNTT, quy trình này có thể giúp các tổ chức sắp xếp nguồn lực một cách hiệu quả để đạt được những cải tiến lâu dài, thực tế trong quản lý rủi ro CNTT, trong khi đó vẫn giảm độ phức tạp và chi phí hạ tầng CNTT.

Raymond Goh

Giám đốc Symantec Việt Nam

DNS server error: Can't find server name

NSLOOKUP: *** Can't find server name... / Default Server: UnKnown
Answer1: Because you should not have 202.102.128.68 listed in TCP/IP properties in
the first place.
Then it appears the server at 10.0.0.1 does not hanve a reverse lookup zone
for the 10.x.x.x subnet, or the PTR for 1.0.0.10.in-addr.arpa. is missing
from the zone.
Answer 2:
NSLOOKUP is a command line tool which comes with most operating systems and is used for querying DNS servers.
When NSLOOKUP starts, before anything else, it checks the computer's network configuration to determine the IP address of the DNS server that the computer uses.
Then it does a reverse DNS lookup on that IP address to determine the name of the DNS server.
If reverse DNS for that IP address is not setup correctly, then NSLOOKUP cannot determine the name associated with the IP address.
On Windows Vista/2008, it then says "Default Server: UnKnown".
On earlier Windows versions, it displays the error message "*** Can't find server name for address ...".
This does NOT indicate a problem with the actual domain name that you are trying to look up.
It only means that there is no reverse DNS name for the DNS server IP address, which in most cases may not be a problem at all.
To fix this you need to properly configure the reverse zone for the IP address of the DNS server, and make sure that the reverse zone is properly delegated to the server by your IP provider. See the reference article below for more details.
To create a reverse zone in Simple DNS Plus, click the "Records" button, select "New" -> "Zone", select "Reverse Zone...", and follow the prompts.

IBM: Các dòng máy server

,

* Blade servers
* Cluster servers
* Power Systems (System i, System p)
* Storage
* System x (x86)
* System z (mainframe)

System i : integrated=tích hợp mọi thứ vào 1 sản phẩm như OS, database, software, security, storage,...Có thể chạy đồng thời các ứng dụng Windows, AIX, Linux trên cùng 1 máy

System p : performance. Máy chủ thông dụng cho dòng UNIX của IBM, bây giờ hỗ trợ cả Linux. Chạy chíp PowerPC

System x : cross. Máy chủ thông dụng cho Windows hoặc Linux. Chạy chíp Intel hoặc AMD

System z : mainframe. Có thể hiểu đơn giản là máy chủ cực lớn, tích hợp mọi thứ vào



I. Tìm hiểu dòng IBM System X trước vì nó thông dụng và phổ biến với mọi người

1. Dòng IBM Tower Servers ( có 4 dòng )

+ System X3100
+ System X3200 M2
+ System X3400
+ System X3500

2. Rack Mount
- Rack - Optimized

+ IBM system X3250 M2
+ IBM system X3350
+ IBM system X3455
+ IBM system X3550

Dùng Rack Mount 1 U

+ IBM system X3650
+ IBM system X3655
+ IBM system X3650T
+ IBM system X3755
+ IBM system X3850

Dùng Rack Mount 2U và 4U

- Trong 9 sản phẩm IBM Rack - Optimized này thì có bao nhiêu dòng chạy 1 CPU , bao nhiêu dòng chạy 2 CPU , và bao nhiêu dòng chạy BXL Intel ?

- Sản phẩm chạy 1 BXL : X3250 M2 ; X3350 .
- Sản phẩm chạy 2 BXL : X3455 ; X3550 ; X3650 ; X3655 ; X3650 T
- Sản phẩm chạy 4 BXL : X3755 ; X3850

- Sản phẩm chạy BXL AMD : X3455 ; X3655 ; X3755

- Enterprise

+ IBM system X3755
+ IBM system X3850 M2
+ IBM system X3950 M2
+ IBM system X3950


II. Nghiên cứu từng dòng phù hợp vơi nhu cầu

1. Dòng IBM Tower Servers ( có 4 dòng )

+ System X3100

- Dòng này rẻ nhất và phục vụ những nhu cầu đơn giản, hoặc những công ty mới thành lập muốn có một chí phí rẻ nhưng lại muốn hiệu năng cao và ổn định
- Việc cài đặt dễ dàng và tự động thông qua IBM ServerGuide
- IBM System x3100 , phục vụ tốt những công việc như Domain Controller , Email Server , Firewell Server ,.... thậm chí Web Server .
- Việc gắn card mở rộng đơn giản với 2 khe PCI và 2 khe PCI-Express
- Có 2 khe SATA giúp khả năng mở rộng cao nhất 1.5 TB dung lượng

Hình dáng Server IBM System X3100

Giá tầm 800 $

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1600x1200.




Cấu hình chung ( dạng Tower )

CPU : Processor (CPU GHz/ L2 cache/front-side bus MHz max)
Dual-Core Intel Xeon® 3065 (up to 2.33 GHz/4 MB/1333 MHz) and Intel Pentium®

Dual-Core E2140 (up to 1.6 GHz/1 MB/800 MHz)

Hỗ trợ tối đa 1 CPU Soket 775 , Và Cache cao nhất 4 MB thôi


RAM : Hỗ trợ tối đa 8 GB DDRAM II 667 MHz với 4 khe cắm RAM


Khe mở rộng : 2 PCI, 2 PCI-Express (x8, x8)

HDD : 2 Serial ATA (SATA) , tối đa 1,5 TB Sata

CD/DVD : Có 1 khay dành cho DVDROM


Network : Integrated Gigabit Ethernet

Nguồn : Công suất chuẩn và tối đa 310 W ( nguồn đơn )


Hỗ trợ Raid : Mặc định không có hỗ trợ Raid , nếu muốn có Raid thì Option 0 và 1

Hỗ trợ các cổng
Phía trước : 2 cổng USB
Phía sau : 4 cổng USB , 1 cổng Lan 1 GB , 1 cổng seria , 1 cổng parallel , và một cổng VGA


Phần mềm quản lý hệ thống : IBM ServerGuide


Hỗ trợ các Hệ Điều Hành : Windows® Small Business Server 2003, Microsoft® Windows Server® 2003 Standard Edition/Enterprise Edition, Red Hat Enterprise Linux®, SUSE Linux Enterprise Server

Power System
Sức mạnh mới của dòng máy chủ IBM Power Systems chạy bộ xử lý Power6 gắn liền với công nghệ ảo hóa và việc tiết kiệm điện năng.

Trong năm 2007, IBM đã sắp xếp lại nhóm kinh doanh máy chủ. Theo đó, 2 dòng máy chủ System i và System p sẽ nhập vào nhóm kinh doanh máy chủ Power Systems trong khi dòng máy chủ System x (chạy bộ xử lý Intel) sẽ đứng riêng. IBM dùng tên “Power Systems” vì các máy chủ này có cùng điểm chung là chạy bộ xử lý (BXL) Power6 đời mới nhất do IBM sản xuất.


System x:

ICTnews - Công ty IBM ngày 17/4 đã công bố thế hệ máy chủ System x mới, sử dụng bộ xử lý Intel Xeon series 5500 thế hệ mới và phần mềm quản lý hỗ trợ điện toán ảo.

Thế hệ máy chủ System x mới của IBM sử dụng bộ xử lý Intel Xeon 5500 series, gồm có:

Máy chủ phiến IBM BladeCenter HS22: Là máy chủ phiến hai CPU và được thiết kế để chạy nhiều loại tải công việc khác nhau, IBM BladeCenter HS22hỗ trợ dung lượng bộ nhớ lớn hơn tới 3 lần so với phiên bản trước, cho phép HS22 xử lý số lượng giao dịch trên mỗi phút nhiều gấp hai lần. Dòng máy này có thiết kế hai ngăn chứa ổ lưu trữ trong có thể thay thế nóng, với các tùy chọn theo tiêu chuẩn SAS, SATA, hoặc lưu trữ thể rắn. IBM BladeCenter HS22 có độ tin cậy cao và hoàn toàn tương thích với tủ máy BladeCenter cho các doanh nghiệp và văn phòng.

IBM System x3650 M2 và x3550 M2: Có thiết kế thông minh về năng lượng hoàn toàn mới giúp đơn giản hóa việc phân phối nguồn và cắt giảm tổn thất năng lượng. Thiết kế quạt đối lưu, máy đo độ cao và quản lý nguồn tiên tiến sẽ hạ thấp mức tiêu thụ điện năng và giảm chi phí năng lượng cho trung tâm dữ liệu ở cấp độ doanh nghiệp. IBM System x3650 M2 và x3550 M2 có khả năng cung cấp tốc độ tính toán lên tới 6.4GT/s.

IBM System x iDataPlex dx360 M2: Được thiết kế chuyên biệt cho các trung tâm dữ liệu đòi hỏi hiệu năng cao nhưng lại hạn chế về diện tích sàn, về thiết kế nguồn cấp và làm mát. Ngoài ra, máy có khả năng cung cấp độ tính toán cao hơn 5 lần so với các máy chủ rack 1U trong trung tâm dữ liệu và với hiệu suất làm mát hệ thống cao tới hơn 70% nhờ công nghệ Đối lưu Nhiệt Cửa sau. Thiết kế này hạ thấp đáng kể chi phí hoạt động, dễ quản lý và được tính sẵn khả năng mở rộng nhanh chóng nhằm giải quyết những thách thức của CNTT hiện nay.

IBM cũng đồng thời công bố phần mềm quản lý mới Systems Director 6.1, giúp khách hàng quản lý một cách tự động các tài sản thực và tài sản ảo trên nhiều nền tảng thiết bị (máy chủ IBM Power Systems, máy chủ System z, thiết bị lưu trữ và những máy chủ khác của IBM) đồng thời tiết kiệm chi phí quản lý tới 44%.

T.S

Công ty chứng khoán 'lôi léo' khách bằng công nghệ cao

,

Công ty chứng khoán 'lôi léo' khách bằng công nghệ cao

Báo đất Việt - 25/08/2009

Một trong những tiêu chuẩn quyết định sự thành công của các công ty chứng khoán hiện nay là phương thức giao dịch trực tuyến. Theo thống kê từ Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM (HoSE), đến nay đã có 85 trong số 97 công ty chứng khoán giao dịch trực tuyến với Sở, trong đó 50 công ty cung cấp dịch vụ giao dịch trực tuyến cho nhà đầu tư.

Công ty chứng khoán Sacombank (SBS) vừa tổng kết giai đoạn đầu của hai cuộc thi Nhà đầu tư Sacombank - SBS và Dự đoán Vn - Index. Theo công bố của SBS, ngay khi triển khai chương trình, có trên 20.000 tài khoản mở mới tham gia. Đây được xem là thành công ngoài mong đợi bởi không chỉ kéo thêm số lượng đáng kể khách hàng, cuộc thi này còn là cơ hội cho SBS giới thiệu đến nhà đầu tư những công cụ giao dịch chứng khoán trực tuyến hiện đại thông qua hệ thống STrade, giải pháp giao dịch trực tuyến vốn đang được xem là xu hướng hiện nay.

Công ty chứng khoán 'lôi léo' khách bằng công nghệ cao
Với dịch vụ giao dịch trực tuyến, nhà đầu tư không cần phải đến sàn để đặt lệnh. Ảnh: TNLinh.

Tính năng nổi trội của STrade là giúp nhà đầu tư tạo lập bảng điện theo mã yêu thích từ sàn HoSE, HNX, UPCoM; xem bảng điện theo thứ tự khối lượng giao dịch, giá trị giao dịch lớn nhất, mã chứng khoán tăng - giảm nhiều nhất và mã có thay đổi tỷ lệ phần trăm tăng - giảm nhiều nhất. Ngoài ra, STrade còn cung cấp các dịch vụ như ứng trước tiền bán chứng khoán, đăng ký quyền mua chứng khoán phát hành thêm, chuyển tiền, xem danh mục đầu tư với độ chính xác cao; phân tích, đánh giá, so sánh các mã chứng khoán…

Với lợi thế về công nghệ phần mềm, Công ty chứng khoán FPT (FPTS) vừa ra mắt dịch vụ đặt lệnh và chuyển tiền qua điện thoại di động. Với dịch vụ này, nhà đầu tư có thể theo dõi diễn biến thị trường, đặt lệnh giao dịch chứng khoán và chuyển tiền trực tuyến ngay trên điện thoại di động dễ dàng.

Trước khi tung ra dịch vụ mới này, FPTS đã giới thiệu dịch vụ EzTradePro nhằm hỗ trợ cho các tổ chức đầu tư và các nhà đầu tư chuyên nghiệp tiện ích chia lệnh mà vẫn đảm bảo quản trị rủi ro. EzTradePro còn cho phép nhiều người cùng đặt nhiều lệnh trên cùng một tài khoản. Nếu khối lượng của một lệnh đặt lớn hơn hoặc bằng 20.000 đơn vị (với sàn HoSE) hay lớn hơn hoặc bằng 100.000 đơn vị (với sàn HNX), EzTradePro sẽ tự động bật ra cửa sổ "tách lệnh", cửa sổ này sẽ giúp cho khách hàng dễ dàng tách các lệnh nhỏ lô chẵn ở cùng một mức giá hoặc nhiều mức giá khác nhau. Tiện ích này giúp giảm thiểu thời gian soạn lệnh, tăng tốc độ nhập lệnh và cơ hội giao dịch thành công cho khách hàng.

Các công ty chứng khoán khác cũng đua nhau tung ra các dịch vụ tương tự để thu hút khách hàng.

Xu hướng tất yếu

Chị Tuyến, nhân viên giao dịch tại một công ty chứng khoán, cho biết, hiện nay số nhà đầu tư có mặt trên sàn đã không còn “xôm tụ” như trước, bởi phần lớn đều đặt lệnh ở nhà. Chính vì vậy, áp lực công việc của các nhân viên giao dịch cũng nhẹ bớt. Đa phần, nhà đầu tư công ty chứng khoán tìm hiểu có giao dịch trực tuyến không trước khi quyết định mở tài khoản. Chị Hà, một nhà đầu tư, nói: “Trước đây tôi phải trực tiếp đến sàn đặt lệnh, nay có thể ngồi ở nhà giao dịch qua internet, theo dõi thị trường, đặt lệnh mua bán. Phương thức giao dịch này giúp quản lý tài khoản dễ dàng, tiết kiệm thời gian...”.

Một chuyên gia chứng khoán cho rằng mô hình giao dịch trực tuyến đã trở nên khá phổ biến với các nhà đầu tư. Do vậy, doanh nghiệp buộc phải áp dụng mô hình này nếu không muốn lạc hậu và bị khách hàng “rũ áo”. Lãnh đạo một công ty chứng khoán thừa nhận để tồn tại trong bối cảnh có quá nhiều công ty chứng khoán như hiện nay, buộc phải “chạy đua” về công nghệ. Chỉ cần một doanh nghiệp nào đó tung ra dịch vụ mới lạ, hấp dẫn là nhà đầu rư sẵn sàng khoá tài khoản đang giao dịch để chuyển sang công ty chứng khoán đó. Việc áp dụng mô hình giao dịch trực tuyến cũng có lợi cho các công ty chứng khoán nhờ số lệnh được nhập vào hệ thống hơn và nhiều hơn nên phí thu được cũng cao hơn so với trước kia.

Theo ông Nguyễn Hồ Nam, Tổng giám đốc SBS, với dịch vụ mới này SBS sẽ dễ dàng mở rộng được đại lý giao dịch chứng khoán tại 64 tỉnh, thành trên cả nước. Hiện SBS triển khai được 30 đại lý giao dịch trực tuyến STrade dựa trên các điểm giao dịch của Sacombank. “Giao dịch chứng khoán trực tuyến toàn cầu với các tiêu chuẩn an toàn, nhanh chóng, bảo mật, hiệu quả đang trở thành xu hướng tất yếu hiện nay”, ông Nam nói.

Giao dịch qua mạng tăng mạnh

Theo các công ty chứng khoán, gần đây số lượng lệnh lẫn khối lượng giao dịch của nhà đầu tư qua Internet có xu hướng tăng lên. Theo thống kê của FPTS, sau hàng loạt những ứng dụng công nghệ, lượng nhà đầu tư đến mở tài khoản mới không ngừng tăng, trong đó hơn 60% đăng ký sử dụng các sản phẩm trực tuyến; mỗi phiên số lượng và giá trị lệnh giao dịch trực tuyến chiếm khoảng 70%.

Microsoft - Các chứng chỉ MCP-MCSA-MCSE là gì?

Microsoft - Các chứng chỉ MCP-MCSA-MCSE là gì?


MCP - viết tắt của Microsoft Certified Professional
MCSA - viết tắt của Microsoft Certified Systems Administrator - Chứng chỉ MCSA xác thực khả năng: Cài Đặt, Vận Hành, Bảo Trì Hệ Thống Mạng Máy Tính Trên Nền Tảng Microsoft Windows Server 2003 cho Doanh nghiệp ở mọi qui mô: nhỏ, vừa và lớn.
MCSE - viết tắt của Microsoft Certified Systems Engineer - Chứng chỉ MCSE xác thực khả năng: Thiết Kế, Cài Đặt, Vận Hành, Bảo Trì Hệ Thống Mạng Máy Tính Trên Nền Tảng Microsoft Windows Server 2003 cho Doanh nghiệp ở mọi qui mô: nhỏ, vừa và lớn.
Vượt qua một kỳ thi (bất kỳ) trong số các kỳ thi do Microsoft tổ chức, Thí sinh sẽ được Microsoft cấp chứng chỉ MCP
Vượt qua 4 kỳ thi (4 MCP - 3 kỳ bắt buộc, 1 kỳ tự chọn), Thí sinh sẽ được Microsoft cấp chứng chỉ MCSA
Vượt qua 7 kỳ thi ( sau khi có MCSA, Thí sinh cần thi thêm 3 MCP), Thí sinh sẽ được Microsoft cấp chứng chỉ MCSE
Các chứng chỉ MCP, MCSA, MCSE do Microsoft cấp có giá trị Toàn Cầu và do chính Bill Gates ký tên xác thực. Hồ sơ học tập của Thí sinh được lưu trữ tại Web site của Microsoft, có thể truy cập trực tuyến.
Nhiều người đã tường nghe nói về MCP ( Microsoft Certified Professional) nhưng chưa biết MCSA là gì .Tui xin đem ra đây một vài thông tin cho các bạn tham khảo.

Trên website cua Microsoft, thì MCSA (Microsoft Certified Systems Administrator) là chứng chỉ giúp nâng cao sự nghiệp của bạn thông qua việc khẳng định bạn có đủ kỷ năng để quản lý và chuẩn đoán hỏng hóc những hệ thống chạy HĐH windows. Nói nôm na là MCSA là chứng chỉ xác định khả năng quản trị mạng (của Microsoft). Hiện nay, bạn có 2 lựa chọn về công nghệ ( theo HĐH) windows 2000 hoặc windowns 2003 server. Ưng với hai công nghệ này, bạn có hai nhánh MCSA, mỗi nhánh yêu cầu những môn thi khác nhau. Mặc dù Microsoft vẫn công nhận MCSA on windows 2000 nhưng có lẽ các bạn nhắm đến công nghệ mới hơn, vì bản thân windows server 2003 chẳng bao lâu nữa cũng sẽ trở nên lạc hậu “ out of date”. Do đó, ở đây không đi sâu giới thiệu nhánh cũ( windows 2000).
Nhánh MCSA on windows server 2003 có ba hướng: MCSA tổng quát (gọi tắt là MCSA), MCSA chuyên biệt về truyền tin ( gọi là MCSA messaging), MCSA chuyên về bảo mật ( gọi là MCSA Security). Những hướng chuyên biệt (specialization) nhằm xác định những kỹ năng thuộc một lĩnh vực chuyên sâu nhất định,đồng thời phục vụ nhu cầu thực tế đang cần những chuyên gia thông thạo các kỹ năng ấy.Để lấy được chứng chỉ MCSA, bạn phải thi đậu bốn môn:
+ Hai môn thuộc nhóm Networking System gồm 70-290( Managing and Maintaining a Microsoft Windows Server 2003 Environment) và Exam 70-291 ( Implementing, Managing, and Maintaining a Microsoft Windows Server 2003 Network Infrastructure).
+ Một môn học nhóm Client Operating System là Exam 70-270 (Installing, Configuring, and Administering Microsoft Windows XP Professional).
+ Một môn tự chọn ( gọi là elective exam), bạn có thể chọn môn về ISA Server hoặc SQL Server hoặc Exchange Server đều được.
Tên các môn thi khá dài, do đó mã số từng môn thường được dùng thay cho tên. Ngoài ra, bạn có thể dùng chứng chỉ MCDST hoặc cặp chứng chỉ A+ và Network+ của CompTIA để thay thế cho môn tự chọn. Lệ phí thi tại Việt Nam hiện nay là khoảng 50 USD/môn, vậy ít nhất bạn fải chi ra 200 USD để rước anh ban MCSA về (với điều kiện là không ..hi..hi..hi.. rớt lần nào)
MCSA messaging: yêu cầu bạn thi đậu bốn môn tương tự như MCSA tổng quát , riêng môn tự chọn thì bạn không được tự chọn nữa mà fải thi Exam 70-284 (Implementing and Managing Microsoft Exchange Server 2003). Chứng chỉ này xác nhận bạn không chỉ đủ khả năng của một MCSA mà còn thông thao về máy chủ fục vụ thư điện tử (mail Server).
Riêng anh chàng MCSA Security thì đòi hỏi nhiều hơn: bạn fải thi năm môn, trong đó ba môn đầu giống MCSA. Hai môn tự chọn fải là: Exam 70-299 (Implemeting and Administering Security in a Microsoft Windows Server 2003 Network) và Exam 70-227 (Installing, Configuring, and Administering Microsoft Iternet Security and Acceleration Server 2000). Quả thật cụn từ “ môn tự chọn” không còn đúng trong trường hợp này nữa.

Nhu cầu thực tế về MCSA.
Nhiều bạn rất bối rối trước một rừng thông tin về chứng chỉ của Microsoft. Xin nói ra đây, nếu bạn thật sự quan tâm đến lĩnh vực quản trị mạng thì chỉ cần tìn hiểu về MCP (mạng), MCSA và MCSE. Khi bạn thi đậu môn đầu tiên( để đạt được MCSA, MCSE ), bất kể đó là môn nào bạn cũng được công nhận là một MCP. Như vậy, cấp độ MCP không đủ để quản trị một hay nhiều mạng quy mô vừa và lớn.
Mặc dù đa số các bạn khi theo học đều muốn đi đến cùng tức trở thành MCSE, nhưng điều đó không cần thiết cho số đông. Hiện nay các nhà tuyển dụng đang cần nhiều là kỹ năng của MCSA, và khả năng ấy là đủ. Thực tế chỉ cần một số lượng không nhiều MCSE, vì các doanh nghiệp cần người quản trị nhiều hơn là người thiết kế mạng.

Phạm vi và kiến thức của MCSA.
Căn cứ theo website của Microsoft, thì chứng chỉ MCSA dành cho “dân máy tính chuyên nghiệp” trong môi trường máy tính tương đối fức tạp của những công ty vừa và lớn. Cụ thể, thí sinh đi thi MCSA nên có từ sáu đến mười hai tháng kinh nghiệm quản lý hệ điều hành máy chủ (mạng) và hệ điều hành máy trạm, với những đặc tính như:
+ có từ 250 đến 5000 người sử dụng
+ có từ ba địa điểm trở lên; có từ ba domain controllers trở lên
+ có các tài nguyên và dịch vụ trên mạng như : e-mail, database, share Printer, firewall, remote access…
+ có các yêu cầu về kết nối, như người dùng truy cập từ xa vào mạng, mạng nội bộ nối với Internet…
Như vậy, chúng ta thấy có một số yếu tố vượt quá nhu cầu thực tế của mạng ở Việt Nam. Nói cách khác, kiến thức và kỹ năng của MCSA là hơi dư thừa với đa số mạng máy tính tại các doanh nghiệp ở nước ta. Nhưng điều đó cũng có nghĩa là chúng ta fải học một vài fần qua mô hình mô fỏng, nghiên cứu qua tài liệu sách vở, chứ không đủ điều kiện để “ luyện tay nghề” mọi thứ được học.
Liệu các bạn chưa hề có kinh nghiệm về mạng có thể học MCSA từ đầu được không ?? Câu trả lời là hoàn toàn đươc. Tuy nhiên, bạn sẽ khó theo học khoá học đúng chuẩn Microsoft (khoảng 30 giờ, nghĩa là 5 ngày liên tục cho một môn học) vì chúng được thiết kế cho “dân chuyên nghiệp”. Bạn nên học các khoá học kéo dãn ra để chúng ta có đủ thời gian “tiêu hoá” lượng kiến thức lớn và thực tập các kỹ năng. Hầu hết tại Hà Nội và TP.HCM đều theo mô hình này.
Nhưng cũng cần lưu ý, việc học tập có thể giúp bạn trang bị kiến thức tương đương như một người có kinh nghiệm, nhưng không có chương trình đào tạo nào giúp bạn có những trải nghiệm thực tế. Các khoá học tốt chỉ có thể rút ngắn giửa sách vở và thực tiễn mà thôi.nếu bạn học và thì đậu MCSA không có nghĩa là bạn đã thông thạo mọi điều về quản trị mạng Microsoft.
 Lưu ý: cho dù theo học bất kỳ khoá học nào thì bạn cũng đều fải tự học bằng cách tìm tài liêu học thêm và thực tập “ văn ôn võ luyện mà”, nếu không bạn khó mà tiêu thụ hết lượng kiến thức chuyển tải. Ngoài ra, các bạn cần lưu ý chứng chỉ MCSA gắn liền với công nghệ. Khi Microsoft đưa ra công nghệ mới, thì lập tức bạn fải cập nhật, chớ có tự mãn với những gì mình đang có kẽo “bánh xe lịch sử sẽ đằn chết bạn đó”. Một điều quan trong nữa là bạn fải có khả năng đọc hiểu tiếng anh chuyêng ngành một điều mà bạn fải luôn luôn rèn luyện.
Trên đây là những kiến thức mà mình thu lượm được về anh chàng MCSA “thân yêu của chúng ta” để các bạn tham khao thêm và đem những kiến thức mà bạn có đựơc để truyền đạt cho bạn bè mình.

Một câu hỏi đặt ra: Nên học MCSA hay CCNA trước?

Chương trình MCSA, MCSE học thiên về những Ứng Dụng và Dịch Vụ Mạng, phạm vi ứng dụng rộng rãi, quen thuộc.
Chương trình CCNA, CCNP học thiên về Cơ Sở Hạ Tầng Mạng, phạm vi ứng dụng không rộng rãi nhưng mang tính chuyên sâu.
Đối với người mới học hoặc chưa có kinh nghiệm về Mạng Máy Tính, chương trình MCSA phù hợp hơn.

Phân biệt đầu ghi hình KTS và card kết nối camera quan sát qua PC

Phân biệt đầu ghi hình KTS và card kết nối camera quan sát qua PC

Sẽ có 2 giải pháp chia hình và ghi hình cơ bản như sau:

1. Đầu ghi hình kỹ thuật số (Stand-alone Digital video recorder) hay còn gọi là DVR.

Đầu ghi hình này là một thiết bị hoạt động độc lập nó hiển thị, ghi hình vào ổ cứng và thực hiện chức năng quan sát qua mạng Lan và Internet.

Một số đầu ghi hình giá rẻ sẽ chỉ có chức năng simplex: Khi phát lại hình ảnh đã ghi thì phải tắt chế độ ghi hình và khi có người điều khiển từ xa qua mạng thì đầu ghi hình sẽ hiển thị theo sự điều khiển của người đó.

Đầu ghi hình Triplex (Thực hiện 3 chức năng cùng một lúc hiển thị, ghi hình, quan sát qua mạng): Đầu ghi hình này các chức năng hoạt động độc lập với nhau, khi phát lại hình ảnh đã ghi thì nó vẫn ghi hình vào ổ cứng. Khi có người điều khiển qua mạng thì dù người đó điều khiển như thế nào thì phần hiển thị tại trung tâm vẫn không thay đổi.

Đầu ghi hình có những ưu điểm và khuyết điểm như sau:

Ưu điểm:

Tiện dụng cho những nơi có bảo vệ hoặc những người không biết sử dụng máy vi tính

Là một thiết bị hoạt động độc lập về độ ổn định khá cao

Khuyết điểm:

Không dễ dàng khi nâng cấp.

Ví dụ: Bạn đang sử dụng đầu ghi hình 4 kênh, khi cần gắn thêm camera thì bạn phải đổi loại đầu ghi hình khác có số kênh lớn hơn như 8 kênh, 16 kênh.

Hình ảnh quan sát qua mạng chậm và không đẹp.

Giá thành cao hơn Card ghi hình.

2. Card kết nối Camera qua máy vi tính (Digital video recorder Board) hay còn gọi là DVR Board

Card ghi hình này là một thiết bị gắn vào main board của máy vi tính sau đó cài phần mềm vào máy vi tính. Nó sẽ hiển thị hình, chia hình thành nhiều khung, ghi hình và quan sát qua mạng Lan cũng như Internet.

Một số loại card rẻ tiền sẽ có những hạn chế sau:

Tính năng sẽ nghèo nàn

Màu sắc của hình ảnh hiển thị sẽ không thực

Hình bị vỡ khi quan sát tại chỗ và qua mạng

Truyền qua mạng tốc độ chậm

Kén phần cứng, dễ bị trục trặc

Một số loại card cao cấp hơn sẽ có những hạn chế sau:

Nhiều tính năng ưu việt

Màu sắc của hình ảnh hiển thị sẽ trung thực

Hình bị không bị vỡ khi quan sát tại chỗ và qua mạng, có chức năng zoom KTS

Truyền qua mạng tốc độ cực nhanh, hình ảnh sáng và rõ

Có phần mềm quản lý tập trung C.M.S (Quan sát được nhiều cửa hàng, chi nhánh cùng 1 lúc trên 1 màn hình)

Card ghi hình có ưu và khuyết điểm như sau:

Ưu điểm:

Dễ dàng khi nâng cấp (Gắn thêm camera quan sát)

Giá thành rẻ

Bạn có thể tận dụng máy tính ở văn phòng hay ở nhà để sử dụng. Chương trình camera quan sát sẽ thu nhỏ và nằm trên thanh công cụ. Trong lúc hệ thống camera hoạt động bạn vẫn có thể vừa dùng máy vi tính để làm những việc khác.

Chất lượng quan sát qua mạng cực nhanh và hình ảnh cực rõ.

Khuyết điểm:

Khi máy tính trục trặc hoặc tắt thì chương trình camera không hoạt động

Phải biết sử dụng máy vi tính một cách cơ bản thì mới sử dụng thành thạo được chương trình này.

Thông thường những đầu ghi rẻ tiền thì chức năng ít và khi quan sát hình ảnh chậm và không đẹp, hình ảnh hiển thị tại mà hình sẽ chậm và màu sắc không thực. Khi xảy ra sự cố thì không thể copy dữ liệu ra thiết bị lưu trữ khác được.

Về card ghi hình cũng vậy, một số loại Card rẻ tiền thì đòi hỏi cấu hình máy tính mạnh và rất khó cài đặt cũng như độ ổn định không cao. Khi quan sát qua mạng hình ảnh thường bị vỡ, hình ảnh không sáng rõ và chuyển động chậm cũng như không có những tiện ích nâng cao như những loại card đắt tiền khác.

Những nhận xét trên của chúng tôi chỉ có tính chất tham khảo và tương đối.

khi các bạn muốn trang bị hệ thống camera cho bảo vệ quan sát hoặc cho những người không biết sử dụng máy vi tính và không cần thiết đến tính năng quan sát qua mạng thì nên dùng đầu ghi hình kỹ thuật số (DVR).

Khi bạn muốn trang bị hệ thống camera để giám sát từ xa qua mạng là chủ yếu thì lời khuyên của chúng tôi là bạn bên sử dụng Card kết nối camera qua máy tính (DVR Board).

Hệ thống Camera giám sát dành cho nhà trẻ

Hệ thống Camera giám sát dành cho nhà trẻ


Các bậc phụ huynh – những ông bố bà mẹ với rất nhiều công việc bận rộn của mình. Vậy thời gian nào để bạn có thể quan tâm, chăm sóc và để ý đến con cái mình khi chúng còn quá nhỏ ? Bạn muốn biết con mình như thế nào ở trường mầm non khi bạn đang ngồi làm việc tại cơ quan?

HỆ THỐNG CAMERA QUAN SÁT DÀNH CHO NHÀ TRẺ




Với mức độ phát triển của xã hội hiện nay. Các bậc phụ huynh – những ông bố bà mẹ với rất nhiều công việc bận rộn của mình. Vậy thời gian nào để bạn có thể quan tâm, chăm sóc và để ý đến con cái mình khi chúng còn quá nhỏ ? Bạn muốn biết con mình như thế nào ở trường mầm non khi bạn đang ngồi làm việc tại cơ quan?
Trẻ thơ rất hiếu động, số lượng giáo viên mầm non trong 1 lớp không đủ để quan tâm đến tất cả các hoạt động chơi, ăn, ngủ và học của các bé suốt 1 ngày tại trường.
Ở Nhật Bản, Anh, Hoa Kỳ, Malaysia và nhiều nước khác trên thế giới…, trẻ em là mối quan tâm hàng đầu. Các bậc phụ huynh các nước này đang được chính phủ khuyến khích giám sát con cái bằng cách cài đặt công nghệ GPS (Global Positioning System - Hệ thống định vị toàn cầu) hoặc thiết bị vô tuyến giám sát trẻ nhỏ…v.v…
Còn ở Việt Nam, với tốc độ phát triển của nền kinh tế, sự phát triển nhộn nhịp của xã hội. Bạn không thể thường xuyên theo dõi con cái mình khi chúng ở trường còn bạn ở nhà hay đi làm. Ở trường giáo viên cũng không thể thường xuyên bên mỗi em mọi lúc, mọi nơi, do số học sinh thì đông mà số giáo viên có giới hạn.
Mặt khác đối mặt với tình trạng “bạo lực học đường”, qua phương tiện thông tin đại chúng rất nhiều các bài báo, bài phóng sự liên quan tới việc đánh đập học sinh. Chúng ta đã biết đây là hiện trạng mới và gây bức xúc với tất cả mọi người, đánh mất lòng tin của phụ huynh khi gửi con trẻ.
Với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc giúp Ban giám hiệu nhà trường cũng như phụ huynh học sinh theo dõi quá trình học tập, vui chơi của các cháu, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo và niềm tin của các phụ huynh, Công ty CP Đầu tư C&S trân trọng gửi tới Quý nhà trường giải pháp như sau:
Thiết lập hệ thống camera quan sát lắp đặt trên lớp học bao gồm camera quan sát và Mic thu âm để giám sát thường xuyên các hoạt động của các cháu.


Hệ thống bao gồm: Camera quan sát + Mic thu âm + Thiết bị nghi hình
Hệ thống camera và mic thu âm được lắp tại tất cả các phòng học hoạt động theo nguyên tắc sau:
-Tất cả các tín hiệu camera và mic thu âm đều được đưa về phòng trung tâm để theo dõi trên một màn hình.
-Từ phòng trung tâm có thể theo dõi được toàn bộ hoạt động giảng dạy của giáo viên và học tập, sinh hoạt của các bé.
-Từ phòng trung tâm có thể nghe được âm thanh một cách trung thực (bài giảng, phát biểu ý kiến và các âm thanh có trong lớp học...).
-Có thể xem hình ảnh và âm thanh từ bất kỳ một máy tính nào trong mạng LAN cũng như INTERNET khi có tài khoản đăng nhập hệ thống.


Sơ đồ hệ thống:



































































Thuyết minh sơ đồ:
-Camera được lắp tại tất cả các phòng học, camera có thể quan sát toàn bộ lớp học. Là loại camera chuyên dụng nên có thể theo dõi các hoạt động sinh hoạt cũng như giảng dạy của giáo viên thường trực 24/24. Camera được lựa chọn là camera có độ phân giải cao, độ nhạy sáng tốt và đặc biệt về hình thức không đem lại cảm giác có người theo dõi đối với giáo viên vì trông giống như một chiếc đèn gắn trên trần lớp học.
-Mic thu âm được lắp tại tất cả các phòng học, Mic có thể thu lại âm thanh trong lớp một cách trung thực. Mic được lựa chọn là mic điện động độ nhay cao
-Phòng trung tâm điều khiển: tại đây sẽ có máy tính và card ghi hình kết nối với toàn bộ hệ thống camera và Mic lắp tại các phòng học. Máy tính tại phòng trung tâm có khả năng lưu trữ hình ảnh và âm thanh trong khoảng thời gian tối thiểu là 1 tháng. Có thể sao lưu dữ liệu từ máy tính thông qua cổng USB, đĩa CD/DVD hoặc qua máy tính khác thông qua mạng LAN và Internet. Tại phòng trung tâm điều khiển bao gồm cả Moderm kết nối Internet tốc độ cao để đưa hình ảnh trực tiếp tới phụ huynh trong bất kỳ thời điểm nào họ muốn truy cập để quan sát hình ảnh con mình đang học và vui chơi.
-Dây dẫn tín hiệu: Camera sử dụng dây tín hiệu là cáp đồng trục 5C-FB, đây là loại cáp chuyên dùng trong việc truyền dẫn hình ảnh. Với các camera có khoảng cách từ nơi lắp đặt về trung tâm lớn ( d > 200m) để đảm bảo tín hiệu tốt cần phải sử dụng bộ chuyển đổi tín hiệu. Khi đó sẽ sử dụng dây tín hiệu là Cat 5e.
-Dây cung cấp nguồn: Sử dụng loại 2 x 0,75 mm, nguồn sẽ được cung cấp trực tiếp từ trung tâm tới các camera và Mic. Vì nguồn sử dụng cho camera và Mic là nguồn 12VDC nên bộ nguồn tập trung là giải pháp tối ưu nhất được lựa chọn.
-Dây tín hiệu Micro: là loại dây audio chuyên dụng, khi tín hiệu âm thanh truyền trên dây này sẽ giảm tối đa suy hao và nhiễu do các thiết bị khác gây ra.
-Phụ kiện: để đảm bảo hệ thông lắp bổ sung không mất mỹ quan của kiến trúc hiện tại, tránh trường hợp hệ thống trục trặc do điều kiện ngoại cảnh như (dây đứt do chuột cắn hoặc phá hoại cố ý) ghen luồn dẹt và ghen ruột gà bảo vệ dây được lựa chọn. Tùy từng vị trí mà lựa chọn sử dụng phụ kiện cho phù hợp nhất.
-Người sử dụng: Để tránh hiện tượng không kiểm soát trung tâm sẽ được bảo vệ bởi mật khẩu (password). Chỉ có người có quyền sử dụng mới có mật khẩu đăng nhập và điều khiển hệ thống.


Phương án lựa chọn thiết bị:
Với những yêu cầu trên chúng tôi đưa ra các loại thiết bị sau có thể phù hợp với tất cả các trường về tính năng kỹ thuật, giá thành sản phẩm và đặc biệt sự hoạt động ổn định của sản phẩm là điều chúng tôi muốn gửi tới khách hàng.

Lợi ích khi trang bị Hệ thống camera giám sát:
Khi sử dụng hệ thống camera giám sát và Mic thu âm sẽ đem lại những lợi ích như sau:
1.Đơn giản hóa quá trình quản lý của ban giám hiệu.
2.Luôn kiểm soát và biết được mọi hoạt động tại các lớp học.
3.Chất lượng dạy và học được kiểm soát chặt chẽ.
4.Đầu tư một lần, hiệu quả dài hạn.

Trên đây là khái quát về giải pháp và yêu cầu thiết bị để lắp đặt tại các trường. Hệ thống camera giám sát và mic thu âm đưa ra phù hợp với yêu cầu của tất cả các trường. Đề nghị quý trường xem xét và cho lắp đặt để sớm đưa hệ thống vào hoạt động hỗ trợ quá trình quản lý dạy học và nâng cao chất lượng giáo dục của trường mình.
Xin liên hệ với chúng tôi để được tư vấn chi tiết giải pháp.

Giữ nhà bằng internet

Giữ nhà bằng internet

Ngày nay, với hệ thống camera IP (camera qua mạng), người dùng có thể quan sát được mọi ngóc ngách trong ngôi nhà của mình thông qua mạng internet.



Với hệ thống IP (Internet Phone) camera, người dùng có thể quan sát được mọi ngóc ngách trong ngôi nhà của mình thông qua mạng internet.

Khác với một số hệ thống camera an ninh khác chỉ cho phép người dùng quản lý không gian cần theo dõi ở khoảng cách hạn chế. Với hệ thống IP camera, người sử dụng có thể ở bất cứ nơi nào cách xa nhà mình hàng ngàn cây số vẫn có thể từng giờ, từng phút theo dõi được những chuyển động, thay đổi nếu có trong ngôi nhà của mình.

Nhờ vậy, người dùng dù đang ở TP.HCM hoặc cả ở Mỹ, châu Âu... nhưng vẫn biết được tình hình công ty trụ sở đặt tại Hà Nội. Cũng có thể gắn ở nhà riêng nhằm theo dõi, trao đổi với người ở nhà hoặc chống trộm lúc vắng nhà.

Có máy tính

Với các thiết bị được cung cấp sẵn trên thị trường có thể sử dụng được ứng dụng này khá đơn giản. Chỉ cần gắn thêm vào máy tính đang sử dụng ở nhà một chiếc card DVR (digital video recorder) camera. Với đường truyền ADSL cùng hệ thống camera quan sát có thể kết nối bằng cổng PCI với card DVR camera này, cả hai được kết nối thường trực vào máy tính là có thể sử dụng trình duyệt web để truy cập hoạt động của hệ thống camera này.

DVR camera có nhiều loại, có loại 4 cổng, 8 cổng, 16 cổng hoặc lên tới 25 cổng. Tương ứng với mỗi cổng là một đầu thu camera độc lập. Và chúng hiện lên trên màn hình máy tính bằng một cửa sổ nhỏ. Với độ phân giải của hình ảnh là 1.024 x 768, người ta có thể phóng lớn hình ảnh lên nhiều lần để quan sát được chi tiết hơn.

Hiện trên thị trường có hai nhóm DVR với xuất xứ khác nhau. Một loại của Trung Quốc và một loại của Hàn Quốc.

Card DVR này giúp người sử dụng vừa theo dõi các hoạt động ghi được từ camera theo thời gian thực, vừa giúp lưu dữ liệu vào bộ nhớ của máy tính. Tốn khoảng 200MB đến 300MB dung lượng bộ nhớ cho một camera hoạt động trong một giờ.

Sau khi gắn card này vào máy, lúc cài đặt phần mềm sẽ tự động cài Web server và cung cấp cho người sử dụng địa chỉ IP để có thể truy cập từ xa thông qua internet. Bên cạnh đó sẽ tự tạo tài khoản và mật khẩu cho người dùng (có thể thay đổi được).

Khác với webcam, khi đưa hình ảnh lên máy tính, khi sử dụng card DVR hình ảnh đã được nén nên bớt giật hơn.

Không có máy tính

Trong trường hợp không muốn sử dụng máy tính vào mục đích này, vì khi camera hoạt động thì chiếc máy tính này phải đang trong tình trạng mở, người ta đã đưa ra những thiết bị IP camera không cần kết nối với máy tính.

Thiết bị chính của hệ thống IP camera quan sát loại mới là một server độc lập có cấu tạo nhỏ và gọn, hầu hết được tích hợp thêm một camera có cả đèn hồng ngoại dùng quan sát vào ban đêm. Với server này, người sử dụng chỉ cần kết nối server với đường truyền internet ADSL và bố trí chúng ở địa điểm cần quan sát là có thể ung dung từ xa, thông qua đường truyền internet để quan sát, theo dõi diễn tiến ở vị trí có lắp đặt camera.

Bên cạnh, một số thiết bị có thêm các cổng USB, để ngoài camera tích hợp sẵn, người dùng có thể kết nối thêm một số camera rời khác khi có nhu cầu quan sát cùng lúc nhiều địa điểm.

Với camera rời để kết nối với server nói trên, người dùng có nhiều lựa chọn các loại có những công dụng, tính năng khác nhau. Cụ thể như có thể chọn các loại camera có hình dáng là những loại thú nhồi bông, dạng máy báo khói... để khi cần trang trí, nguỵ trang. Cũng có thể chọn các loại camera có vỏ bảo vệ dùng ngoài trời, các loại camera có thể điều chỉnh góc thu hình theo ý muốn...

Ưu điểm của hệ thống mới này là tính bảo mật. Người sử dụng không cần phải thông qua các trang web mặc định cũng như thông qua địa chỉ IP... do các nhà sản xuất, phân phối cung cấp để truy cập khi muốn qua internet có thể xem được hình ảnh diễn tiến nơi đặt camera như những hệ thống camera có kết nối với PC khác. Với loại camera này, người dùng có thể truy cập thông qua trang web riêng hoặc địa chỉ IP riêng của mình, nhờ vậy sẽ thoát được lo lắng là tên truy cập và password của mình bị người khác quản lý.

Cũng tương tự như các hệ thống IP camera khác, trong quá trình truy cập, người dùng có thể phóng to, thu nhỏ hình ảnh đang xem, có thể điều chỉnh góc thu, hướng thu, tầm thu của camera nếu như đang dùng các camera có những chức năng này.

Một khuyết điểm của loại IP camera mới này là chúng không có bộ nhớ riêng để ghi lại những hình ảnh đã được quan sát. Khi truy cập từ xa để xem, người dùng chỉ có thể xem những gì đang diễn ra, không xem lại được những hình ảnh, diễn tiến đã diễn ra trước đó.

Để khắc phục thiếu sót này, người ta có thể chủ động cài đặt nhằm kết nối thiết bị với một server nào đó. Có thể đó là một máy tính đang nối mạng nhằm ghi dữ liệu vào ổ cứng của máy tính này. Cũng có thể đó là một ổ cứng ảo, là những "kho" lưu trữ dữ liệu có dung lượng tương đối lớn mà người dùng có thể sở hữu ở các địa chỉ mail như Yahoo!, Gmail...

Tuỳ theo chế độ phân giải của hình ghi khi cài đặt cho thiết bị hoạt động, mà những hình ảnh lưu lại sẽ chiếm dung lượng nhiều hay ít. Với độ phân giải 160 x 120, dung lượng lưu trữ mỗi một phút mất khoảng 5Mb. Để tiết kiệm, người ta có thể cài đặt thiết bị không ở chế độ lưu liên tục mà chỉ lưu thông tin khi phát hiện có chuyển động.

Truy cập từ xa thông qua ADSL

Bạn có thể truy cập đến internet camera của mình từ bất cứ nơi đâu trên thế giới, chỉ cần internet camera được kết nối ADSL. Người quản lý có thể quan sát các hoạt động trong văn phòng của mình khi đang đi công tác. Có thể hội thảo từ xa nếu cả hai phía đều có internet camera kết nối ADSL.

Những thuận lợi khi sử dụng IP camera:

- Có kích thước nhỏ gọn, có một cổng RJ-45 để kết nối đến hub/switch, hoặc được tích hợp chuẩn wifi để truy cập không dây thông qua Access Point.

- Mỗi thiết bị đều có một địa chỉ IP xác định, người sử dụng có thể truy cập trực tiếp đến thiết bị qua giao diện web bằng cách nhập địa chỉ IP của internet camera.

- Có khả năng hoạt động độc lập, không cần PC, không cần bất kỳ phần mềm điều khiển nào.

- Dùng cảm biến ảnh CMOS cho chất lượng hình ảnh có độ phân giải cao (640 x 480 pixels).

- Ngoài ra, thiết bị có kèm theo tiện ích IPView SP cho phép người sử dụng quan sát 4 camera cùng một lúc, quản lý từ xa, điều khiển hoặc lưu lại hình ảnh dạng tĩnh (image) hay động (video).

- Có thể quay được ban ngày và ban đêm.

Ngoài ra, hệ thống này còn có khả năng

- Truy nhập từ xa qua mạng WAN (ADSL, Lease line, Frame relay...) hoặc mạng hỗ trợ các thủ tục IPX và TCP/IP cho mạng LAN.

- Ghi và xem lại các đoạn video dưới dạng AVI.

- Chụp lại hình ảnh dạng JPG.

- Các kiểu ghi hình: xuyên suốt 24/24, chỉ ghi khi cảm biến được sự di chuyển trong vùng quan sát, ghi theo lịch hẹn trước. Tự động gửi email chứa hình ảnh trong một khoảng thời gian định trước.

- Cấu hình các thông số hình ảnh/video linh hoạt: chỉnh kích thước hình ảnh/video, độ nén ảnh/video, có thể đạt được 20 khung hình/giây, chỉnh độ sáng, độ tương phản, độ nhạy khi phát hiện di chuyển.

Hệ thống quan sát từ xa bằng các IP Camera có thể ứng dụng:

- Trông nom trẻ con, chống trộm.

- Điều hành, quản lý, hội họp từ xa.

- Gác thi không cần giáo viên.

- Theo dõi bệnh nhân từ xa.v.v...

Theo Baomoi

Kiến thức cơ bản về Camera giám sát




Thứ bảy, 31/5/2008|11:56 GMT+7
Kiến thức cơ bản về Camera giám sát

Cơ bản về Camera giám sát





Căn bản về camera

Bạn đã từng sở hữu một chiếc Camera và bạn không biết nó là loại Camera như thế nào, tốt hay không tốt? Hay bạn chưa từng biết gì về Camera? Và bạn đang băn khoăn không biết nên chọn loại Camera nào cho phù hợp với mục đích của bạn. Điều đó không quan trọng, bạn sẽ tìm thấy ở tài liệu này những kiến thức cơ bản nhất về Camera cũng như những lời khuyên bổ ích cho việc chọn lựa loại Camera thích hợp. Chúng tôi mong rằng bạn sẽ tìm được câu trả lời.

Vậy thì, khái niệm đầu tiên: Camera là gì?

Theo một định nghĩa đơn giản nhất thì Camera là một thiết bị ghi hình. Với một chiếc Camera, bạn có thể ghi lại được những hình ảnh trong một khoảng thời gian nào đó, lưu trữ và sau đó bạn xem lại bất cứ khi nào bạn muốn.

Với chức năng cơ bản là ghi hình, Camera được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực giám sát. Một hệ thống các Camera đặt tại những vị trí thích hợp sẽ cho phép bạn quan sát, theo dõi toàn bộ ngôi nhà, nhà máy, xí nghiệp hay những nơi bạn muốn quan sát, ngay cả khi bạn không có mặt trực tiếp tại đó.

Bạn đang công tác ở Mĩ, và bỗng dưng thấy nhớ căn nhà và những đứa con thân yêu của bạn, bạn muốn thấy cảnh chúng đang chơi đùa, chạy nhảy, rất đơn giản, bạn chỉ cần vào mạng Internet, với vài cái click chuột, thế là toàn cảnh ngôi nhà hiện lên, thoả mãn nỗi nhớ nhung của bạn. Điều đó thật đơn giản.

Bạn cần những gì để thực hiện mong muốn đó?

Một vài chiếc Camera, một bộ ghi hình kĩ thuật số, và mạng Internet. Và có thể còn đơn giản hơn nếu bạn dùng loại Camera mạng (Camera IP), khi đó thì bạn chỉ cần có 2 thứ là Camera và mạng.

Chúng tôi gọi đó là một hệ thống giám sát.



I. PHÂN LOẠI CAMERA

Bạn cần Camera vào mục đích gi ? Chúng tôi sẽ tư vấn giúp bạn chọn loại Camera cho phù hợp với mục đích của bạn. Xin hay theo dõi phần dưới đây để xác định đâu là Camera bạn muốn.

Đặc điểm:

Mỗi Camera thường có 3 dây:

- Tín hiệu hình.

- RS485.

- Dây cấp nguồn.

Có 3 cách phân loại Camera:

- Phân loại theo kĩ thuật hình ảnh.

- Phân loại theo đường truyền.

- Phân loại theo tính năng sử dụng.



1. Phân loại theo kĩ thuật hình ảnh:

Camera Analog:

Ghi hình băng từ xử lý tín hiệu analog, xử lý tín hiệu màu vector màu, loại Camera này hiện nay ít dùng.

Camera CCD (Charge Couple Device) (100% số):

Camera CCD sử dụng kĩ thuật CCD để nhận biết hình ảnh. CCD là tập hợp những ô tích điện có thể cảm nhận ánh sáng sau đó chuyển tín hiệu ánh sáng sang tín hiệu số để đưa vào các bộ xử lý. Nguyên tắc hoạt động của CCD có thể mô tả dưới đây:

CCD thu nhận những hình ảnh thông qua các hệ thống thấu kính của Camera. CCD có hàng ngàn những điểm ảnh sẽ chuyển đổi ánh sáng thành những hạt điện tích và được số hoá. Đây là một qúa trình chuyển đổi tương tự số.

Các thông số kĩ thuật của Camera CCD là đường chéo màn hình cảm biến (tính bằng inch ). Kích thước màn hình cảm biến càng lớn thì chất lượng càng tốt. (màn hình 1/3 inch Sony CCD sẽ có chất lượng tốt hơn 1/4 inch CCD, vì 1/3 > 1/4). Hiện nay chỉ có 2 hãng sản xuất màn hình cảm biến là Sony và Sharp. Chất lượng của Sharp kém hơn chất lượng của Sony.

Camera CMOS (complementary metal oxide semiconductor).

CMOS có nghĩa là chất bán dẫn có bổ sung oxit kim loại. Các loại Camera số sử dụng công nghệ CMOS. Các Camera số thương mại sử dụng công nghệ CMOS thì chưa đủ khả năng cung cấp trong thời điểm này khi so sánh chất lượng hình ảnh với Camera CCD. Các Camera thương mại dùng công nghệ CMOS có giá thành khoảng 500 USD đến 50000 USD.

Các Camera số sử dụng công nghệ CMOS và CCD có ưu điểm rất rõ rệt so với Camera analog về độ rõ nét và chất lượng hình ảnh.

Hiện nay sản phẩm chủ yếu của VIETSENS là loại Camera CCD.



2. Phân loại theo kĩ thuật đường truyền:

(Có 3 loại:Camera có dây, Camera không dây, IP Camera (Camera mạng)

Camera có dây.

Camera có dây có ưu điểm đó là khả năng an toàn cao, tính bảo mật tốt được sử dụng, truyền tín hiệu trên dây cáp đồng trục khoảng 75ohm -1Vpp, dây C5. Đây là giải pháp được đánh giá là an toàn, chúng tôi cũng khuyến khích các bạn nên dùng loại Camera có dây, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt khác.Chú ý rằng khi truyền với khoảng cách xa 300m thì cần có bộ khuếch đại để tránh việc tín hiệu đường truyền suy hao, dẫn đến chất lượng hình ảnh không tốt.

Camera không dây.

Giống như tên gọi, các Camera này đều không có dây. Nhưng rất tiếc là cũng không hoàn toàn như vậy.Các Camera này vẫn cần thiết phải có dây nguồn. Các loại Camera không dây có ưu điểm đó là dễ thi công lắp đặt do không cần đi dây, tuy nhiên Camera có hệ số an toàn không cao Có 1 số vấn đề cần quan tâm đối với thiết bị không dây. Đó là tần số bạn sử dụng.Camera không dây sử dụng sóng vô tuyến RF để truyền tín hiệu thường tần số dao động từ 1,2 đến 2,4MHZ. Camera không dây được sử dụng khi lắp đặt tại các khu vực địa hình phức tạp khó đi dây từ Camera đến các thiết bị quan sát, ví dụ như các ngôi nhà có nhiều tường chắn.

Đối với khoảng cách xa hàng ngàn mét chúng ta cần phải sử dụng những thiết bị đặc biệt hoạt động ở tần số cao và giá thành khá đắt.

Việc sử dụng Camera không dây được đánh giá là không an toàn dễ bị bắt sóng hoặc bị ảnh hưởng nhiễu trước các nguồn sóng khác như điện thoại di động.

IP Camera (Camera mạng)

Như đã đề cập ở trên, IP Camera được kết nối trực tiếp vào mạng, tín hiệu hình ảnh và điều khiển được truyền qua mạng.Với Camera IP người dùng có thể điều khiển và giám sát ở bất cứ đâu thông qua mạng internet.



3. Phân loại theo tính năng sử dụng

Dome Camera (Camera áp trần).

Camera có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau. Đây là loại Camera thường được đặt trong nhà, kiểu dáng rất trang nhã. Camera này có tính năng bảo mật cao do được bọc trong hộp kín.

Camera ẩn.

Giống như tên gọi, Camera này không thể nhận biết được. Nó có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau, có thể ngụy trang và tránh bị phát hiện.

Tuy nhiên khi sử dụng loại Camera này bạn cần phải đảm bảo tính hợp pháp khi sử dụng. Ở một số nơi như New York việc sử dụng Camera ẩn được coi là bất hợp pháp.Các Camera này có thể hoạt động giống như một thiết bị phát hiện khói. Một số các công ty hiện nay cũng đã bắt đầu xây dựng những hệ thống Camera trở thành các thiết bị phát hiện khói.

Box Camera.

Đây là loại Camera truyền thống thường được dùng trong các văn phòng siêu thị. Đây là loại Camera giá thành rẻ tuy nhiên thời điểm này ít dùng. Camera được bảo vệ trong hộp để bảo vệ trước tác động phá hoại hay điều kiện môi trường.

Camera PTZ

Pan:quét ngang

Tilt:quét dọc

Z:Zoom (Phóng to)

Pan/Tilt/Zoom hay những họ tương tự được biết đến với cái tên thương mại là PTZ Camera.Camera hỗ trợ khả năng quét dọc, quét ngang,phóng to thu nhỏ Camera này còn cho phép bạn kết nối vóí hệ thống sensor và cảnh báo để phát hiện đối tượng di chuyển trong vùng hoạt động của nó. Hơn nữa Camera có thể được lập trình để hoạt động, nên nó có thể làm tất cả các công việc cho bạn.

IR Camera và Exview (Camera có khả năng quan sát đêm)

Khoảng cách quan sát của Camera phụ thuộc vào công suất của đèn hồng ngoại. Khoảng cách quan sát của Camera dao động khoảng 10m đến 300m.

Camera IR có thể quan sát được trong điều kiện tối 100%

Camera Exview: Màn hình tự động khuếch đại ánh sáng làm rõ hình ảnh khi ánh sáng tối, tuy nhiên tối 100% sẽ không quay được.



THÔNG SỐ CẦN QUAN TÂM.



1. Camera Indoor, Outdoor.

Indoor: Camera đặt trong nhà.

Outdoor: Camera đặt ngoài trời.

Chú ý rằng, nếu Camera của bạn dự định đặt ngoài trời thì nên chọn Camera Outdoor để đảm bảo chịu đựng được các tác động bên ngoài như độ ẩm, thời tiết, nước, bụi, hay các tác nhân phá hoại khác.



2. IR Camera: Camera hồng ngoại. Tia hồng ngoại - Infrared rays

Với Camera hồng ngoại, bạn có thể ghi hình vào ban đêm, điều mà các Camera thông thường không thực hiện được. Với những ứng dụng quan sát 24/24, bạn cần chọn Camera có chức năng hồng ngoại. Cũng nên nhớ rằng, trong điều kiện đủ ánh sáng Camera, Camera này hoạt động không khác những Camera bình thường, chỉ khi đêm tối, đèn hồng ngoại được tự động bật, và Camera bắt đầu hoạt động với tính năng hồng ngoại. Có một số khách hàng thắc mắc tại sao Camera khi quay đêm hình ảnh lại chuyển sang đen trắng. Thực ra tất cả các Camera hồng ngoại dù có hiện đại đến đâu thì khi quay đêm hình ảnh cũng chỉ là đen trắng.

Trong bảng thông số, bạn cần quan tâm đến những thông số sau:

IR LED: Số lượng đèn LED hồng ngoại.

VISIBLE DISTANCE AT : Khoảng cách quan sát.

Khi hoạt động ở chế độ hồng ngoại, các đèn LED sẽ tự động bật lên, và đòi hỏi công suất khá lớn, đó là lí do tại sao nguồn cấp cho các Camera hồng ngoại thường là lớn hơn nhiều với các Camera thông thường.



3. Chất lượng hình ảnh.

Chất lượng hình ảnh của một Camera phụ thuộc vào nhiều thông số.

Image Sensor: Cảm biến hình

Hiện tại, chỉ có 2 hãng sản xuất cảm biến hình trên thế giới là Sony và Sharp. Tuy nhiên cũng có sự khác nhau về chất lượng dẫn đến khác nhau về giá cả. Ngoài thị trường, bạn có thể thấy 2 chiếc Camera giống hệt nhau về kiểu dáng, nhưng giá cả khá chênh lệch nhau. Xin đừng ngạc nhiên, vì thực chất 2 chiếc Camera đó chỉ khác nhau 1 điểm duy nhất là cảm biên hình của hãng nào. Nếu bạn muốn chất lượng hình ảnh tốt, có 1 lời khuyên là nên dùng cảm biến hình của hãng Sony. Kích thước màn hình cảm biến càng lớn thì chất lượng càng tốt. (tuy nhiên màn hình 1/3 inch Sony CCD sẽ có chất lượng tốt hơn 1/4 inch CCD).

Resolution: Độ phân giải

Độ phân giải càng lớn thì chất lượng hình ảnh càng nét. Thưòng thì trong các ứng dụng không cần thiết phải quan sát thật rõ nét thì độ phân giải 480 TV Lines là hoàn toàn có thể chấp nhận được.

CCD Total Pixels: Số điểm ảnh.

Thông số này nói lên chất lượng hình ảnh, số điểm ảnh càng lớn thì chất lưọng hình ảnh càng tốt, tuy nhiên, chất lượng hình ảnh càng tốt thì cũng đồng nghĩa với dung lưọng ảnh càng lớn, và sẽ tốn bộ nhớ lưu trữ cũng như ảnh hưỏng đến tốc độ đường truyền. Thông thường là với NTSC: 811 (H) x 508 (V), với PAL: 795 (H)x596 (V).



4. Điều kiện hoạt động.



Minimum Illumination: Cường độ ánh sáng nhỏ nhất.


Thường được tính bằng Lux. Thông số này nói lên rằng, Camera chỉ có thể hoạt động ở cường độ ánh sáng lớn hơn cường độ ánh sáng nhỏ nhất. Trong điều kiện quá tối, nếu không phải là Camera có chức năng hồng ngoại thì sẽ không hoạt động được.

- Ánh nắng mặt trời:4000 lux

- Mây:1000lux

- Ánh sáng đèn tuýp 500 lux,

- Bầu trời có mây: 300lux

- Ánh sáng đèn tuýp đỏ 500 lux, trắng (300 lux) trắng sáng 1lux

- Đêm không trăng 0.0001 Lux

Xin chú ý đến loại Camera có chức năng Auto Iris (Tự động hiệu chỉnh ánh sáng). Đặc điểm của Camera loại này là chỉ với 1 nguồn sáng nhỏ, nó có thể tự động khuyếch đại nguồn sáng đó lên để có thể quan sát được.

Power Supply: Nguồn cung cấp

Hiện nay đa số các Camera đều dùng loại nguồn 12VDC, chỉ một số ít các Camera dùng nguồn khác. Tuy nhiên, bạn không phải lo lắng đến vấn đề nguồn 12VDC, vì phần lớn các Camera đều đi kèm với bộ chuyển đổi nguồn, do đó bạn có thể sử dụng trực tiếp nguồn 220VAC.

Operatinon Temperature: Dải nhiệt độ hoạt động.

Phần lớn các Camera đều cho phép hoạt động trong dải nhiệt độ -100C – 500C, nếu Camera của bạn được sử dụng trong những điều kiện khắc nghiệt như trong công nghiệp, khu vực có nhiệt độ cao thì bạn nên sử dụng các loại Camera chuyên dụng trong công nghiệp.

Operational Humidity: Độ ẩm cho phép.

Thông thường, độ ẩm cho phép là 85% RH (độ ảm tương đối)


5. Góc quan sát.

Trong tài liệu kĩ thuật thường không ghi góc mở, mà ghi thông số d thay cho góc mở. Có thể sử dụng bảng quy đổi sau:



Tiêu cự


Góc mở

2.8mm


1050

3.6mm


900

4mm


850

6mm


700

8mm


550




0



Tuỳ vào ứng dụng của bạn mà nên chọn loại Camera có góc quan sát là bao nhiêu độ. Nếu bạn cần quan sát rộng, có thể chọn loại Camera có góc mở lớn (thường là 900). Còn nếu chỉ muốn quan sát trong một phạm vi rất hẹp thì cũng sẽ có những loại Camera phù hợp dành cho bạn.

Còn nếu muốn góc quan sát rất lớn, nên chọn loại Camera đặc biệt có chức năng Pan/ Tilt (quay ngang, quay dọc). Nếu bạn đã có một chiếc Camera nhưng không có chức năng Pan/Tilt, bạn hoàn toàn có thể cải tiến nó bằng cách lắp thêm một đế quay ngang, quay dọc, khi đó, bạn có thể điều khiển Camera của bạn quay theo bất cứ hướng nào bạn muốn.



6. Các thông số khác.

Những thông số trên cũng chỉ phản ánh được phần nào chất lượng của một chiếc Camera. Nhưng cũng xin nhắc với các bạn rằng một chiếc Camera tốt không có nghĩa là cả hệ thống của bạn cũng sẽ tốt. Vì hệ thống không đơn thuần chỉ là Camera.



DVR là gì?

Không như các thiết bị VCR(Video Cassette Recorder), DVR có nhiều ưu điểm hơn, cũng có thể hoạt động và quan sát từ xa tại bất cứ nơi nào trên thế giới qua Internet. Một DVR - Thiết bị ghi hình kĩ thuật số, khác với VCD ở những điểm sau:

Ngoài khả năng ghi hình và tiếng lên băng từ, DVR còn có thể ghi lên ổ cứng máy tính hoặc các thiết bị lưu dữ liệu khác như CD, DVD. Do đó:

- Thuận tiện hơn,

- Ghi với thời lượng lâu hơn,

- Chất lượng ghi tốt hơn,

- Hoàn toàn tự động.

Hình ảnh và âm thanh chứa trong DVR :

- Truy cập nhanh chóng,

- Quan sát và ghi lại tại chỗ hay từ xa qua Internet.

- Cùng một lúc có thể nhiều người quan sát được.

- Có thể dùng trong hệ thống cảnh báo, báo động.

PC hay không PC?

Có 2 loại DVR. DVR trên cơ sở máy tính (PC base DVR) và DVR độc lập (non PC base DVR). Cả 2 loại này cùng có chức năng có thể truy nhập qua Internet.

Các câu hỏi thông thường nhất là: Vậy thì tôi cần cái PC base DVR hay non PC base DVR?

Ngày nay, chức năng của PC base DVR và non PC base DVR gần như là hoàn toàn tương tự.

Nếu bạn đang dùng 1 DVR 4 kênh, bạn hoàn toàn có thế kéo dài thành 64 kênh bằng cách nối thêm các DVR khác có khả năng giao tiếp với DVR đó.

Chú ý rằng khi sử dụng từ “kênh”, là dùng với đầu vào là các Camera hay ghi âm. Do đó 64 kênh, nghĩa là có thế lên tới 64 Camera. Điều đó không có nghĩa là bạn phải sử dụng tất cả 64 Camera ngay lúc này, mà hoàn toàn có thể ghép nối thêm cho đến 64 Camera nếu cần thiết sau này.

Các DVR có thể được tổ chức sao cho hạn chế ảnh hưởng của lỗi có thể xảy ra (loại RAID5) thường được dùng trong các Casino, toà án, văn phòng chính phủ hay các nhiệm vụ đặc biệt khác. Một RAID5 là một DVR với nhiều ổ đĩa cứng, do đó nếu một ổ đĩa bị hỏng thì bạn sẽ không mất dữ liệu. Hệ thống RAID5 rất đắt tiền, có thể giá tăng gấp 3 -5 lần bình thường.

Một DVR non PC thì “cố định” về số lượng các kênh. Vì bạn sử dụng một PC có cắm DVR card. Bạn cũng có thể giải quyết vấn đề này bằng cách dùng cắm thêm Card DVR vào máy nhưng số khe cắm trên mỗi máy tính cũng là cố định. Hoặc dùng thêm một máy khác, hoặc các thiết bị điều khiển khác.

Trong môi trường khắc nghiệt, DVR đóng hộp có thể tốt hơn. Các PC truyền thống rất nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ bụi bẩn, sóng Viba, v.v.v

(Sưu tầm)
Theo http://www.daian.vn/news/view/5.html

Windows 2003 Terminal Services

Windows 2003 Terminal Services

Terminal Services là một dịch vụ trên Windows 2000, 2003 hỗ trợ người quản trị thực hiện các công việc trên Hệ điều hành Windows 2000, 2003 thông qua mạng mà không cần thiết phải ngồi trực tiếp tại máy có sử dụng dịch vụ đó. Terminal Service sử dụng RDP (Remote Desktop Protocol) dựa trên nên TCP/IP. Trên Windows XP cũng có dịch vụ Remote Desktop được coi là bản rút gọn của Terminal Services trên Windows 2003. Remote Desktop trên Windows XP chỉ hỗ trợ 1 session duy nhất. Còn trên Windows 2003 hỗ trợ nhiều session, mỗi session được nối vào một desktop riêng biệt.
Windows 2003 có nhiều phiên bản. Trong phiên bản 2003 Standard cũng đã có Terminal Services. Terminal Services trên Windows 2000 Server cũng được cấu hình tương tự.

1. Cài đặt Terminal Services trên Windows 2003
Để cài đặt Terminal Services trên Windows 2003, có thể dùng Add Remove Windows Components để cài đặt. Tuy nhiên trên Windows 2003 có công cụ Manager Server hỗ trợ việc cài đặt, cấu hình, quản lý thuận tiện hơn. Dưới đây sẽ hướng dẫn chi tiết.
Chạy Manager Your Server bằng cách click vào Start->Programs->Administrative Tools->Manage Your Server, xem hình 1.

Hình 1: Chạy Manage Your Server

Giao diện của Manage Your Server như Hình 2.

Hình 2: Giao diện Manager Your Server

Trong Hình 2, nhận thấy rằng Windows 2003 này chưa cài đặt dịch vụ dành cho Server nào. Nhắp Add or remove a role để thêm dịch vụ.

Hình 3: Configure Your Server Wizard – Preliminary Steps

Trong Hình 3, thông tin quan trong nhất là cần đĩa cài đặt Windows 2003. Nhắp Next để tiếp tục.

Hình 4: Configure Your Server Wizard – Server Role

Trong Hình 4 là danh sách các dịch vụ của Windows 2003. Chú ý đến phần Configured để biết được dịch vụ nào đã được cấu hình. Ở bước này, chọn Terminal Server và nhắp Next.

Hình 5: Configure Your Server Wizard – Summary of Selections

Hình 5 là danh sách các Server Role đã được lựa chọn như ở Hình 4. Để thay đổi danh sách này, có thể sử dụng nút Back. Ở bước này, nhắp Next để tiếp tục.

Hình 6: Configure Your Server Wizard – Applying Selections

Hình 6 yêu cầu việc khởi động lại máy sau khi cài đặt các dịch vụ. Nên chọn OK
Sau bước này, Manage Your Server sẽ tự động tiến hành cài đặt, cấu hình dịch vụ Terminal Service và sẽ tự độn reboot lại máy tính. Sau khi khởi động lại Windows 2003, đăng nhập vào hệ thống, sẽ có thông báo như Hình 7.

Hình 7: Configure Your Server Wizard – Finish Installation

Sau bước này, có thể sử dụng được dịch vụ Terminal Service. Khi đó trong cửa sổ của Manager Your Server sẽ có Terminal Services (xem Hình 8)

Hình 8: Manager Your Server – Terminal Services

Trong Hình 8, cần chú ý đến 2 lựa chọn là Terminal Services Configuration và Terminal Services Manager
2. Cài đặt Terminal Services License Server

Trong Hình 7, có thể nhận thấy thông báo về Terminal Services License Server. Nếu trên mạng cùng lớp với Terminal Server bạn đang cài đặt không có máy nào có Terminal Services License Server thì khi connect từ Terminal Client, sẽ có thông báo như Hình 9.

Hình 9: Cannot find Windows 2003 Terminal Server License Server

Khi đó ta cần cài Terminal Services License Server.
Click Start->Control Panel. Trong cửa sổ Control Panel, nhắp đúp vào biểu tượng Add or Remove Programs. Giao diện của Add or Remove Programs như Hình 10.

Hình 10: Add or Remove Programs

Trong Hình 10, nhắp vào biểu tượng Add/Remove Windows Components.

Hình 11: Windows Components Wizard – Step 1

Trong Hình 11, lựa chọn Terminal Service Licensing và nhắp Next để tiếp tục.

Hình 12: Windows Components Wizard – Step 2

Trong Hình 12, cho phép lựa chọn đường dẫn để lưu thông tin của Terminal License Server. Bước này để ngầm định và nhắp Next để tiếp tục.

Hình 13: Windows Components Wizard – Step 3

Sau bước trên, Windows bắt đầu cài đặt Terminal License Server. Nếu được hỏi đĩa CD cài đặt Windows 2003, cho đĩa CD vào ổ. Khi việc cài đặt hoàn tất, sẽ có thông báo như Hình 14

Hình 14: Windows Components Wizard – Finish.


3. Cho phép một account có quyền sử dụng Terminal Services

Sau khi cài đặt Terminal Services, Windows sẽ tạo một nhóm có quyền sử dụng dịch vụ này. Đó là nhóm Remote Desktop Users. Mặc định, các account thuộc nhóm Administrator cũng sẽ có quyền sử dụng Terminal Services. Các account khác cần phải add vào nhóm Remote Desktop Users mới được phép sử dụng dịch vụ đó.
Để add 1 account vào nhóm Remote Desktop Users, click Start->Programs->Administrative Tools->Computer Management. Giao diện của Computer Management như Hình 15.

Hình 15: Computer Management

Trong Hình 15, expand Local Users and Groups->Users, sau đó chuột phải vào account cần thay đổi (giả sử account centos4). Trên menu chuột phải, click vào Properties. Xem Hình 16.

Hình 16: Account Properties

Trong Hình 16, chọn Tab Member Of, sau đó nhắp vào Add để thêm nhóm mới.

Hình 17: Select Groups

Trong Hình 17, nhắp nút Advanced. Giao diện Select Groups ở mode Advanced như Hình 18.

Hình 18: Select Groups - Mode Advanced

Trong Hình 18, nhắp nút Find Now, kết quả trả về là danh sách các Group trên máy tính. Nhắp đúng vàp nhóm Remote Desktop Users. Sẽ quay trở lại hộp thoại Account Properties với nhóm Remote Desktop Users được thêm vào – Hình 19.

Hình 19: Kết quả sau khi thêm nhóm Remote Desktop Users

Trong Hình 19, nhắp OK để kết thúc việc thêm nhóm. Sau bưới này, có thể sử dụng account centos4 với Terminal Services.
Trả Lời Với Trích Dẫn
centos5f4vn
Xem hồ sơ
Gởi nhắn tin tới centos5f4vn
Tìm bài gởi bởi centos5f4vn
#4
Old 08-31-2007, 10:36 PM
centos5f4vn centos5f4vn vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member

Tham gia ngày: Aug 2007
: 98
Thanks: 0
Thanked 8 Times in 8 Posts
Default
4. Cấu hình và quản lý Terminal Services
Terminal Services Manager

Để chạy Terminal Services Manager, trong Hình 8, nhắp vào Open Terminal Services Manager, giao diện của Terminal Services Manager như Hình 20.

Hình 20: Terminal Services Manager

Trong Hình 20, Terminal Services Manager có thể theo dõi, quản lý thông qua các tab: Users, Sessions, Processes.
Tab User cho phép theo dõi user nào đang connect. Trong Hinh 20, có thể thấy user centos4 connect thông qua mạng, user Administrator đang connect ngay trực tiếp tại máy đó. Có thể sử dụng menu chuột phải với từng user để disconnect, reset, send message.
Terminal Services Configuration
Để chạy Terminal Services Configuration, trong Hình 8, nhắp vào Open Terminal Services Configuration, giao diện của Terminal Services Configuration như Hình 21.

Hình 21: Terminal Services Configuration

5. Terminal Client
Các chương trình sử dụng RDP để kết nối đến Terminal Services Server được cấu hình như nói trên được gọi là Terminal Client. Trên Windows có thể kể đến chương trình Remote Desktop Connection. Trên Linux, có thể kể đến rdesktop.
Remote Desktop Connection
Remote Desktop Connection được cài đặt ngầm định trên Windows XP. Để chạy Remote Desktop Connection, click Start->Programs->Accessories->Communications-> Remote Desktop Connection. Xem Hình 22.

Hình 22: Remote Desktop Connection, Tab General và Tab Display

Trong Hình 22, có 2 tab quan trọng là General và Display. Trước khi kết nối nên kiếm tra tab Display để xem Colors đặt bào nhiêu bit. Nếu không cần chất lượng hình ảnh từ Terminal Server, thì thay đổi giá trị ở ô Colors. Tab Geneal, cần nhập địa chỉ IP, username, password có quyền sử dụng Terminal Services (xem mục 3). Sau đó nhắp nút Connect.
Trên Windows 2000, cần phải cài thêm Remote Desktop Connection để xử dụng.
Code:

http://www.microsoft.com/windowsxp/downloads/tools/rdclientdl.mspx

rdesktop
rdesktop là tiện ích chạy trên Linux, giúp Linux có thể kết nối đến Terminal Server. Rdesktop có sẵn gói trong một số phiên bản của Linux như Redhat, SuSE. Có thểm tham khảo tại:
Code:

http://www.rdesktop.org/
download: http://www.rdesktop.org/#download

Việc cài đặt cũng tương đối đơn giản. Sau khi cài đặt, có thể dùng lệnh sau:
Code:

rdesktop ip_terminal_server
Ví dụ: rdesktop 12.168.0.100

Trên openSuSE có GUI của rdesktop là krdc. Krdc hỗ trợ RDP và VNC. Khi kết nối đến Terminal Server, sử dụng lệnh:
Code:

rdp://12.168.0.100


Hình 23: Krdc
Tham khảo Remote Desktop Connection for MAC
Code:

http://www.microsoft.com/mac/downloads.aspx?pid=download&location=/mac/download/misc/rdc_update_103.xml&secid=80&ssid=10&flgnosysreq=True

Hệ thống tên miền động (Dynamic DNS)

Hệ thống tên miền động (Dynamic DNS).

Nói một cách ngắn gọn, Dynamic DNS là phương thức ánh xạ tên miền tới địa chỉ IP có tần xuất thay đổi cao (do không phải mọi máy tính đều sử dụng địa chỉ IP tĩnh). Dịch vụ DNS động (Dynamic DNS) cung cấp một chương trình đặc biệt chạy trên máy tính của người sử dụng dịch vụ dynamic DNS gọi là Dynamic Dns Client. Chương trình này giám sát sự thay đổi địa chỉ IP tại host và liên hệ với hệ thống DNS mỗi khi địa chỉ IP của host (vốn được cung cấp bởi ISP bằng phương pháp động) thay đổi và sau đó update thông tin vào cơ sở dữ liệu DNS về sự thay đổi địa chỉ đó. Bằng cách này, cho dù máy chủ có thường xuyên bị thay đổi địa chỉ thì tên miền vẫn được hệ thống máy chủ DNS trỏ về đúng địa chỉ được cấp IP mới đó.

Vậy những ai cần đến dynamic DNS:

Như đã đề cập ở trên, những đối tượng không sử dụng dịch vụ kết nối Internet trực tiếp leased-line với địa chỉ IP tĩnh mà thuê kết nối Internet gián tiếp dialup hoặc dịch vụ ADSL có địa chỉ IP động, nếu đăng ký sử dụng Dynamic DNS hoàn toàn có thể tự duy trì máy chủ dịch vụ của mình.

Đặc biệt, các thuê bao ADSL với số lượng ngày càng tăng nhanh sẽ rất hưởng ứng dịch vụ dynamic DNS bởi vì với dynamic DNS, thuê bao ADSL (thường là các tổ chức) có khả năng tự duy trì máy chủ dịch vụ (mail, web, ftp…server), không phải thuê dịch vụ mail hosting, web hosting của ISP vốn rất tốn kém. Việc tự duy trì máy chủ trước đây vốn chỉ có thể đối với các tổ chức có kết nối trực tiếp leased-line vốn là một dạng dịch vụ kết nối giá thành cao.

Để sử dụng dịch vụ dynamic DNS khách hàng phải làm gì:

Để sử dụng dịch vụ Dynamic DNS khách hàng ADSL chỉ cần đăng ký sử dụng dịch vụ với VNNIC, VNNIC sẽ cấp tên miền, account để xác thực. Sau đó khách hàng download chương trình VNNIC Dynamic DNS Client về cài vào máy và thiết lập các thông số (tên miền, tên máy chủ, account). Chương trình này sẽ theo dõi và cập nhật vào hệ thống DNS của VNNIC khi có sự thay đổi IP của kết nối ADSL đó, đảm bảo tên miền của khách hàng luôn được trỏ đúng.

Địa chỉ đăng ký sử dụng: http://dyndns.vnnic.net.vn

Quản trị mạng LAN: Tắt máy từ xa với công cụ của Windows Server 2003

Quản trị mạng LAN: Tắt máy từ xa với công cụ của Windows Server 2003
Thứ năm, 02 Tháng 7 2009 06:22 wWw.it.vn9.vn
Email In PDF.

Nếu bạn đã từng quản lý phòng máy ở dịch vụ Internet hoặc giảng dạy thực hành ở phòng máy tính, chắc hẳn bạn đã từng khổ sở với việc thông báo hết giờ và... năn nỉ mọi người tắt máy dùm. Cuối cùng, bạn cũng phải đi kiểm tra từng máy xem đã được tắt chưa. Lý do đơn giản là không phải ai cũng "ngoan ngoãn" nghe lời bạn. Có nhiều cách để không phải "khổ" như trên. Bài viết này giới thiệu một giải pháp nhanh và đơn giản: sử dụng chương trình shutdown.exe (27 KB) có trong Windows Server 2003.

Quan Tri Mang Tu Xa

Hướng dẫn quản trị mạng từ xa:
http://www.vn-seo.com/huong-dan-cai-dat-cho-phep-quan-tri-mang-tu-xa/

Đã đăng ký tài khoản tại dyndns.org rồi.

Một số thông số kỹ thuật của Camera quan sát

Một số thông số kỹ thuật của Camera quan sát
1. Camera quan sát Indoor, Outdoor.

Indoor: Camera quan sát đặt trong nhà.
Outdoor: Camera quan sát đặt ngoài trời.
Các Camera quan sát trong nhà đều có thể đặt ngoài trời khi gắn trong hộp bảo vệ ngoài trời
Chú ý rằng, Nếu Camera quan sát của bạn dự định đặt ngoài trời thì nên chọn Camera quan sát Outdoor để đảm bảo chịu đựng được các tác động bên ngoài như độ ẩm, thời tiết, nước, bụi, hay các tác nhân phá hoại khác.
2. IR Camera: Camera quan sát hồng ngoại. Tia hồng ngoại - Infrared rays

Với Camera quan sát hồng ngoại, bạn có thể ghi hình vào ban đêm, điều mà các Camera quan sát thông thường không thực hiện được. Với những ứng dụng quan sát 24/24, bạn cần chọn Camera quan sát có chức năng hồng ngoại. Cũng nên nhớ rằng, trong điều kiện đủ ánh sáng Camera, Camera này hoạt động không khác những Camera bình thường, chỉ khi đêm tối, đèn hồng ngoại được tự động bật, và Camera bắt đầu hoạt động với tính năng hồng ngoại. Có một số khách hàng thắc mắc tại sao Camera khi quay đêm hình ảnh lại chuyển sang đen trắng. Thực ra tất cả các Camera quan sát hồng ngoại dù có hiện đại đến đâu thì khi quay đêm hình ảnh cũng chỉ là đen trắng.

Trong bảng thông số, bạn cần quan tâm đến những thông số sau:
Ir Led: Số lượng đèn LED hồng ngoại.
Visible Distance: Khoảng cách quan sát.
Khi hoạt động ở chế độ hồng ngoại, các đèn LED sẽ tự động bật lên, và đòi hỏi công suất khá lớn, đó là lý do tại sao nguồn cấp cho các Camera hồng ngoại thường là lớn hơn nhiều với các Camera thông thường.
Water Resistance: Sự chịu nước.
3. Chất lượng hình ảnh.

Chất lượng hình ảnh của một Camera phụ thuộc vào nhiều thông số.
Image Sensor: Cảm biến hình
- Hiện tại, chỉ có 2 hãng sản xuất cảm biến hình trên thế giới là Sony và Sharp. Tuy nhiên cũng có sự khác nhau về chất lượng dẫn đến khác nhau về giá cả. Ngoài thị trường, bạn có thể thấy 2 chiếc Camera quan sát giống hệt nhau về kiểu dáng, nhưng giá cả khá chênh lệch nhau. Xin đừng ngạc nhiên, vì thực chất 2 chiếc Camera đó chỉ khác nhau 1 điểm duy nhất là cảm biên hình của hãng nào. Nếu bạn muốn chất lượng hình ảnh tốt, có 1 lời khuyên là nên dùng cảm biến hình của hãng Sony. Kích thước màn hình cảm biến càng lớn thì chất lượng càng tốt. (tuy nhiên màn hình 1/3 inch Sony CCD sẽ có chất lượng tốt hơn 1/4 inch CCD).
Resolution: Độ phân giải

Độ phân giải càng lớn thì chất lượng hình ảnh càng nét. Thường thì trong các ứng dụng không cần thiết phải quan sát thật rõ nét thì độ phân giải 420 TV Lines là hoàn toàn có thể chấp nhận được. CCD Total Pixels: Số điểm ảnh. Thông số này nói lên chất lượng hình ảnh, số điểm ảnh càng lớn thì chất lưọng hình ảnh càng tốt, tuy nhiên, chất lượng hình ảnh càng tốt thì cũng đồng nghĩa với dung lưọng ảnh càng lớn, và sẽ tốn bộ nhớ lưu trữ cũng như ảnh hưỏng đến tốc độ đường truyền.

4. Điều kiện hoạt động.
Minimum Illumination:Cường độ ánh sáng nhỏ nhất.
Thường được tính bằng Lux. Thông số này nói lên rằng, Camera chỉ có thể hoạt động ở cường độ ánh sáng lớn hơn cường độ ánh sáng nhỏ nhất. Trong điều kiện quá tối, nếu không phải là Camera có chức năng hồng ngoại thì sẽ không hoạt động được.

* Ánh nắng mặt trời: 4000 lux
* Mây: 1000lux
* Ánh sáng đèn tuýp: 500 lux,
* Bầu trời có mây: 300lux
* Ánh sáng đèn tuýp đỏ 500 lux, trắng (300 lux) trắng sáng 1lux
* Đêm không trăng: 0.0001 Lux

Xin chú ý đến loại Camera quan sát có chức năng Auto Iris (Tự động hiệu chỉnh ánh sáng). Đặc điểm của Camera loại này là chỉ với 1 nguồn sáng nhỏ, nó có thể tự động khuyếch đại nguồn sáng đó lên để có thể quan sát được.

Power Supply: Nguồn cung cấp
Hiện nay đa số các Camera quan sát đều dùng loại nguồn 12VDC, chỉ một số ít các Camera dùng nguồn khác. Tuy nhiên, bạn không phải lo lắng đến vấn đề nguồn 12VDC, vì phần lớn các công ty bán camera quan sát đều bán bộ chuyển đổi nguồn, do đó bạn có thể sử dụng trực tiếp nguồn 220VAC.
Operatinon Temperature: Dải nhiệt độ hoạt động.
Phần lớn các Camera quan sát đều cho phép hoạt động trong dải nhiệt độ -100C ~ 500C, nếu Camera của bạn được sử dụng trong những điều kiện khắc nghiệt như trong công nghiệp, khu vực có nhiệt độ cao thì bạn nên sử dụng các loại Camera quan sát chuyên dụng trong công nghiệp.
Operational Humidity: Độ ẩm cho phép.
Thông thường, độ ẩm cho phép là 90% RH (độ ảm tương đối)

5. Góc quan sát.
Trong tài liệu kỹ thuật thường không ghi góc mở, mà ghi thông số tiêu cự thay cho góc mở. Có thể sử dụng bảng quy đổi sau:
Tiêu cự Góc mở
2.1 mm 138°36’
2.5 mm 100°24’
2.8 mm 85°36’
3.6 mm 79°36’
4 mm 61°36’
6 mm 46°12’
8 mm 34°24’
12 mm 22°42’
16 mm 21°30’

Tùy vào ứng dụng của bạn mà nên chọn loại Camera quan sát có góc quan sát là bao nhiêu độ. Nếu bạn cần quan sát rộng, có thể chọn loại Camera quan sát mà ống ính của nó có góc mở lớn. Còn nếu chỉ muốn quan sát trong một phạm vi rất hẹp thì cũng sẽ có những loại Camera quan sát gắn ống kính có tiêu cự phù hợp với nhu cầu của bạn.
Còn nếu muốn góc quan sát rất lớn, nên chọn loại Camera đặc biệt có chức năng Pan/ Tilt (quay ngang, quay dọc). Nếu bạn đã có một chiếc Camera nhưng không có chức năng Pan/Tilt, bạn hoàn toàn có thể cải tiến nó bằng cách lắp thêm một đế quay ngang, quay dọc, khi đó, bạn có thể điều khiển Camera của bạn quay theo bất cứ hướng nào bạn muốn.

6. Các thông số khác.
Auto White Balance: Tự động cân bằng ánh sáng trắng
Auto Gain Control: Tự động kiểm soát độ lợi
Backlight Compensation: Bù ánh sáng ngược
Auto Electronic Shutter: Tự động chống sốc điện.

Những thông số trên cũng chỉ phản ánh được phần nào chất lượng của một Camera quan sát. Nhưng cũng xin nhắc với các bạn rằng một chiếc Camera quan sát tốt không có nghĩa là cả hệ thống của bạn cũng sẽ tốt. Vì hệ thống không đơn thuần chỉ là Camera mà nó là 1 giải pháp ... Một giải pháp tốt, thiết bị đồng bộ thì sẽ hoạt động tốt.

Tìm Hiểu Về các giap thức SMTP,MIME,POP và IMAP

Tìm Hiểu Về các giap thức SMTP,POP và IMAP

--------------------------------------------------------------------------------

Chuẩn Internet cho e-mail là Simple Mail Transport Protocol (SMTP). SMTP là nghi thức cấp ứng dụng (application-level) dùng để điều khiển các dịch vụ thông điệp thông qua các mạng TCP/IP. SMTP được nói rõ trong RFC 321 và 822. SMTP sử dụng cổng TCP 25.

Bên cạnh SMTP, hai nghi thức khác dùng để phân phát mail đến client là POP3 và IMAP4.

MIME và SMTP

MIME (Multipurpose Internet Mail Extensions) bổ sung thêm cho SMTP để cho phép gắn kèm các thông điệp đa phương tiện (không phải là văn bản) bên trong thông điệp SMTP chuẩn. MIME sử dụng mã hóa Base64 để chuyển các file phức tạp sang ASCII. MIME được mô tả trong các RFC 2045-2049.

Các lệnh SMTP thường sử dụng:

HELO - Sử dụng để định danh máy gửi với máy nhận. Lệnh này phải kèm với tên máy tính của máy gửi. Trong nghi thức mở rộng (ESMTP), lệnh EHLO thay cho lệnh này.

MAIL - Khởi tạo một phiên gửi mail. Đối số bao gồm trường “FROM” và địa chỉ email của người gửi.

RCPT - Định danh người nhận thông điệp. Đi kèm với “TO” và địa chỉ email người nhận.

DATA - Thông báo bắt đầu gửi dữ liệu thực sự của mail (phần thân của message). Dữ liệu kết thúc bằng một dòng trống và một dấu chấm (.).

RSET - Hủy (reset) phiên gửi mail hiện hành.

VRFY - Sử dụng để xác nhận một người nhận mail.

NOOP - Viết tắt của “no operation”, lệnh này không làm gì cả.

QUIT - Đóng kết nối

SEND - Báo cho host nhận biết là message phải được gửi đến một terminal khác.

HELP - Yêu cầu thông tin trợ giúp từ host nhận.

Ví dụ một phiên giao dịch SMTP:

220 ntbooks-pro Microsoft ESMTP MAIL Service, Version: 6.0.2505.1 ready at Mon, 8 Jul 2002 17:44:12 -0700

HELO

250 ntbooks-pro Hello [192.168.0.1]

MAIL FROM : user1@mydomain.com

250 2.1.0 user1@mydomain.com....Sender OK

RCPT TO : user2@mydomain.com

250 2.1.5 user2@mydomain.com

DATA

354 Start mail input; end with .

mail test

ha ha ha


.

250 2.6.0 Queued mail for delivery

QUIT

221 2.0.0 ntbooks-pro Service closing transmission channel


Nội dung mail nhận được có dạng như sau:


Received: from ([192.168.0.1]) by ntbooks-pro with Microsoft SMTPSVC(6.0.2505.1); Mon, 8 Jul 2002 17:46:21 -0700

From: user1@mydomain.com

Bcc:

Return-Path: user1@mydomain.com

Message-ID:

X-OriginalArrivalTime: 09 Jul 2002 00:46:50.0836 (UTC) FILETIME=[1CDAC940:01C226E2]

Date: 8 Jul 2002 17:46:50 -0700


mail test

ha ha ha





Các mã trạng thái SMTP


Khi một sending host gửi một lệnh SMTP đến receiving host, host nhận trả về một mã trạng thái cho máy gửi biết là điều gì đã xảy ra. Danh sách bên dưới là code được nhóm theo số đầu tiên (5xx là lỗi, 4xx lỗi tạm thời, 1xx-3xx thành công):


211 Trả lời trợ giúp, trạng thái hệ thống

214 Help message

220 Dịch vụ sẳn sàng (Service ready)

221 Đóng kết nối

250 Hành động yêu cầu được chấp nhận

251 Người sử dụng không ở mạng cục bộ, chuyển đến

354 Bắt đầu nhập mail

421 Dịch vụ không sẳn sàng

450 Hành động không chấp nhận, mailbox bận

451 Hành động bị hũy, lỗi cục bộ

452 Hành động không chấp nhận, thiếu không gian lưu trữ

500 Không hiểu lệnh hoặc lỗi cú pháp

501 Lỗi cú pháp ở tham số

502 Lệnh không được hổ trợ

503 Sai thứ tự các lệnh

504 Tham số của lệnh không được hổ trợ

550 Hành động không chấp nhận, mailbox không có.

551 Không phải là người sử dụng cục bộ

552 Hũy lệnh do vượt quá không gian lưu trữ

553 Hành động không chấp nhận, tên mailbox không cho phép

554 Phiên dao dịch bị lỗi

Post Office Protocol (POP)

POP cho phép các mail client (UA – User Agent) ở máy cục bộ kết nối vào pop server (MTA – Message Transfer Agent) và lấy mail về máy tính cục bộ nơi mà người sử dụng có thể đọc và trả lời các message. POP được định nghĩa đầu tiên vào năm 1984, được nâng cấp trong POP2 vào năm 1988. Chuẩn hiện hành là POP3.

POP3 UA kết nối với TCP/IP đến server (cổng chuẩn 110). UA nhập vào một tên đăng nhập (username) và mật mã (password). Sau khi đăng nhập, UA sử dụng các lệnh POP3 để lấy và xóa mail.

POP3 là nghi thức chỉ để nhận mail. POP3 UA sử dụng SMTP để gửi mail đến server.

POP3 được mô tả trong RFC 1939.


Các lệnh của POP3


USER Chỉ rõ username

PASS Chỉ rõ password

STAT Yêu cầu trạn thái của mailbox (số lượng message, kích thước của các message)

LIST Liệt kê các message

RETR Lấy một message cụ thể

DELE Xóa một message cụ thể

NOOP Không làm gì cả

RSET Hủy hành động của các lệnh DELE (rollback)

QUIT Chấp nhận các thay đổi và cắt kết nối.




Internet Mail Access Protocol (IMAP)


POP3 là một nghi thức đơn giản. IMAP4 là một chuẩn mail khác có hổ trợ nhiều tính năng hơn.

IMAP4 được mô tả trong RFC 2060. IMAP4 sử dụng cổng TCP 143.


Các lệnh IMAP4


CAPABILITY Yêu cầu một danh sách các chức năng có hỗ trợ.

AUTHENTICATE Chỉ rõ cơ chế đăng nhập

LOGIN Cung cấp username và password

SELECT Chỉ rõ mailbox

EXAMINE Chỉ định mailbox ở chế độ chỉ đọc.

CREATE Tạo một mailbox

DELETE Xóa một mailbox

RENAME Đổi tên một mailbox

SUBSCRIBE Thêm một mailbox vào danh sách cho phép.

UNSUBSCRIBE Loại mailbox ra khỏi danh sách cho phép.

LIST Liệt kê các mailbox

LSUB Liệt kê các mailbox cho phép.

STATUS Yêu cầu trạng thái của mailbox

APPEND Thêm một message vào mailbox

CHECK Yêu cầu một mailbox checkpoint

CLOSE Chấp nhận các thao tác xóa và đóng mailbox

EXPUNGE Chấp nhận các thao tác xóa

SEARCH Tìm trong mailbox các message thỏa điều kiện cụ thể

FETCH Lấy một phần của một message cụ thể

STORE Thay đổi dữ liệu của message cụ thể

COPY Chép message sang một mailbox khác

NOOP Không làm gì cả

LOGOUT Đóng kết nối

Các lệnh RFC thực sự không phải là các lệnh ngôn ngữ lập trình, nó là các chuỗi dùng để gửi đến Server qua Socket được tạo với cổng tương ứng.Ví dụ, nếu muốn gửi mail, tạo một socket TCP cổng 25 với Server (ví dụ, Post Office) sau đó lần lượt gửi các lệnh RFC (kết thúc lệnh là ký tự ENTER) và nhận các trả lời từ server để gửi mail.
Cách nhanh nhất để thử các lệnh RFC là dùng chương trình Telnet. Ví dụ để gửi một mail, làm như sau:

Windows 2000: ở Command Prompt gõ lệnh:

Telnet mail.myserver.com 25

Sau đó gõ các lệnh như trong ví dụ đã nêu phần trước.

Nếu viết một Windows Application thì có thể dùng MAPI control của Windows, nếu viết (asp) Webmail có thể dùng CDO, các control này giúp cho người lập trình không cần biết RFC nhưng vẫn có thể viết được các ứng dụng mail bằng cách sử dụng các phương thức và các thuộc tính của chúng. Nhưng các control trên đều dùng các lệnh RFC để làm việc gửi và nhận mail thực sự.

Việc viết một ứng dụng bằng cách sử dụng trực tiếp RFC đòi hỏi người lập trình phải code nhiều (hầu như là mọi thứ), phải tìm hiểu nhiều chuẩn khác (MIME), các kiểu mã hóa (Base64, uuencode ,...), nếu viết Webmail phải tìm hiểu thêm upload file (để attach), cách tổ chức trên Webserver để quản lý mail đọc rồi và chưa đọc, hoặc tạo thêm các thư mục...

Workgroup and domain is disabled in windows xp?

Workgroup and domain is disabled in windows xp?
i m logged in as administrator in win xp.But workgroup and domain option are disabled in windows xp . how to enabled them?. kindely answer me
Answer:
I feel you should check the NetLogon service in your computer services. You can check this by right clicking on your My Computer and click on Manage option. Under the Manage window you will find the Services and Application tab. Under which you will find the Services option. If the Netlogon service is not started you need to start it manually and change the startup type to Automatic. You can do that by right clicking on the Netlogon serivce. Restart the computer atleast two times after doing that..

That would indicate one of 2 things.

1. You're really not logged in with admin access. The Administrator account may have had it's name changed and the account named Administrator now really doesn't have admin access.

2. The machine is a member of an Active Directory domain and changing domain membership has been restricted through Group Policy. In that case, even logging in with admin rights may not be enough to change it.

This assumes that you're using XP Pro. If it's XP Home, you cannot join it to a domain; all you can do is change the workgroup name.
Download Opera, the fastest and most secure browser
December 2009
S M T W T F S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31