Skip navigation.

Log in | Sign up

Để đầu tư CK thành công cần kiến thức, thông tin, nghệ thuật và may mắn

Welcome to Hoang Tam- Ngoc Tu blog: Nơi trao đổi những kiến thức về Tin Học & Tài Chính

Posts tagged with "tips"

Sửa chữa Kim Từ Điển

Sửa chữa Kim Từ Điển

Trung tâm sửa chữa các thiết bị điện tử gia dụng, máy tính, thiết bị điện thử cá nhân VIỆT HOA:
Nằm ngay mũi tàu gia giữa đường Bùi Thị Xuân và Lê Thị Riêng.

1. DVD là gì?

1. DVD là gì?

DVD là thế hệ mới của công nghệ đĩa mềm lưu trữ quang học. Về cơ bản, DVD là CD lớn hơn & nhanh hơn, có thể lưu phim ảnh như video, tốt hơn Audio CD, cả hình ảnh và dữ liệu máy tính. DVD nhắm tới mục đích hoàn thiện giải trí tại nhà, máy tính và thông tin thương mại với dạng kỹ thuật số. Nó thay thế đĩa laser, băng video, băng video-game & thậm chí thay thế cả Audio CD & CD-ROM. DVD được sự ủng hộ rộng rải của hầu hết tất cả các công ty điện tử, công ty máy tính, công ty điện ảnh & âm nhạc. Với sự ủng hộ chưa từng thấy này, DVD trở thành sản phẩm điện tử tiêu dùng thành công nhất sau 3 năm đưa vào thị trường. Trong năm 2003, sau 6 năm có mặt, đã có hơn 250 triệu thiết bị DVD trên thế giới, tính cả đầu máy DVD, DVD PCS & bàn giao tiếp DVD game mà hơn một nửa là đầu máy VCR với công dụng gây dựng DVD trở thành tiêu chuẩn mới cho nghề xuất bản băng đĩa.
Điều quan trọng là hiểu rõ sự khác biệt giữa dạng thức vật lý (như là DVD-ROM & DVD-R) và dạng thức ứng dụng (như là DVD-Video & DVD-Audio). DVD-ROM là dạng thức cơ bản để lưu dữ liệu. DVD-Video (thường gọi đơn giản là DVD) xác định rõ chương trình video như thế nào như là phim ảnh được lưu trên đĩa & chạy trên đầu máy DVD-Video hay máy tính có sử dụng DVD. Sự khác biệt tương tự đối với CD-ROM & Audio CD. DVD-ROM bao gồm các biến thể dữ liệu: DVD-R/RW, DVD-RAM & DVD+R/RW. Các dạng thức ứng dụng bao gồm: DVD-Video, DVD-Video Recording (DVD-VR), DVD+RW Video Recording (DVD+VR), DVD-Audio Recording (DVD-AR), DVD Stream Recording (DVD-SR), DVD-Audio (DVD-A), and Super Audio CD (SACD). Cũng có các dạng thức ứng dụng đặc biệt cho bàn giao tiếp game như là Sony PlayStation 2 and Microsoft Xbox.

2. Tính năng DVD-Video là gì?

• Video kỹ thuật số chất lượng cao với hơn 2 giờ (2 mặt đôi, đĩa 2 lớp đôi có thể giữ khoảng 8 tiếng cho video chất lượng cao hay 30 giờ cho video chất lượng VHS).
• Hỗ trợ cho phim màn ảnh rộng theo tiêu chuẩn hay TV màn ảnh rộng (tỷ lệ cạnh 4:3 & 16:9)
• Hơn 8 rãnh ghi âm kỹ thuật số (cho nhiều ngôn ngữ, dẫn giải, vv…), mỗi rãnh với 8 kênh.
• Hơn 32 rãnh phụ đề/karaoke.
• Video tự động liên kết nhánh (cho nhiều line hoặc nhiều loại trên một đĩa)
• Hơn 9 góc camera (có thể chọn lựa nhiều điểm nhìn khác nhau trong khi thu)
• Danh mục trên màn hình và tính năng tương tác đơn giản (cho game, chương trình thi đố, vv…)
• Text nhận dạng đa ngôn ngữ cho tên đầu đề, tên đĩa, tên bài hát, phân vai, ban nhóm, vv…
• ‘Tua đi tua lại’ khẩn cấp & nhanh chóng (không bị ngạnh & hư đĩa)
• Tìm khẩn cấp cho đầu đề, chương, bài nhạc & thời gian.
• Bền (không hao mòn khi sử dụng, chỉ hao mòn vật lý)
• Không bị ảnh hưởng từ trường. Có khả năng chịu nhiệt.
• Kích thước nhỏ gọn (dễ cầm, cất giữ & gửi đi; đầu máy có thể xách tay; việc sao chép rẻ hơn băng & đĩa lazer)

3. Các tính năng chuẩn?

Hầu hết các đầu đĩa có tiêu chuẩn cài đặt các tính năng:
• Lựa chọn ngôn ngữ (lưa chọn tự động của phim video, đề mục audio, phụ đề & danh mục)
• Thu hiệu ứng đặc biệt: tạm dừng, nhảy bước, nhanh, chậm & quét hình.
• Khóa tầng (cho việc từ chối thu đĩa với thiết bị không thích hợp)
• Lập chương trình (phát lại các mục đã lựa chọn theo mong muốn)
• Chạy ngẫu nhiên & lặp lại
• Đầu ra của âm thanh kỹ thuật số (máy âm thanh 2 kênh biến điện mã xung PCM & âm thanh kỹ thuật số chất lượng cao Dolby Digital)
• Nhận dạng & đầu ra của âm thanh kỹ thật số vòm DTS
• Thu phát CD audio.

4. Một vài tính năng phụ?

Vài đầu đĩa bao gồm các tính năng phụ trội:
• Cấu thành đầu ra video (component YUV hay RGB) cho chất lượng hình ảnh cao hơn.
• Cấu thành đầu ra quét lũy tiến (YUV hay RGB) cho chất lượng hình ảnh analog cao nhất.
• Đầu ra video kỹ thuật số (SDI, 1394, hay DVI/HDMI) cho hình ảnh kỹ thuật số hoàn hảo.
• Đầu ra analog 6 kênh từ bộ giải mã âm thanh nội tại.
• Thu phát của VCD hay Super VCD.
• Thu phát của CD MP3
• Thu phát của Picture CD and Photo CD
• Đảo khung bước đơn
• Chạy ngược (tốc độ bình thường)
• Đầu ra sóng vô tuyến RF (dành cho TV không có đầu vào video trực tiếp)
• Hiển thị đa ngôn ngữ
• Sức chứa đa đĩa
• Chế độ phóng đại kỹ thuật số (mở rộng hình ảnh 2x hay 4x). Đây là tính năng của đầu đĩa, không phải là tính năng của DVD.

5. Chất lượng của DVD-Video như thế nào?

DVD có khả năng đưa ra video có chất lượng tốt như thu ở phòng thu & tốt hơn CD Audio, videotape, đĩa laser. Tuy nhiên, chất lượng của nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố sản xuất. Những kinh nghiệm nén & cải thiện công nghệ đã làm tăng chất lượng & giảm chi phí sản xuất của DVD & phần mềm DVD trở nên phổ biến ở khắp nơi, kể cả những đĩa chất lượng kém. Một số ít các đĩa DVD cực rẻ dùng MPEG-1 mã hóa (chẳng hơn gì VHS) thay vì dùng MPEG-2 chất lượngcao.DVD thường được mã hóa từ băng gốc kỹ thuật số đến định dạng MPEG-2. Quá trình mã hóa sử dụng “nén chịu thiệt” để loại bỏ các thông tin dư thừa (đồng nhất các dữ liệu tương đối giống nhau) & thông tin không đọc được bằng mắt người. Băng đã sao chép, đặc biệt khi nó phức hợp & thay đổi nhanh chóng, thỉnh thoảng có thể chứa những lỗi có thể nhìn thấy, phụ thuộc vào chất lượng gia công & số lượng nén. Tốc độ dữ liệu video trung bình trải từ 3.5 đến 6 Mbps (triệu bit/giây). Tốc độ dữ liệu cao hơn có thể thu được chất lượng cao hơn, hầu hết không phân biệt được bản gốc & bản sao với tốc độ trên 6 Mbps. Với những cải tiến công nghệ nén MPEG, chất lượng tốt hơn sẽ đạt được ở tốc độ chậm.
Video từ DVD thỉnh thoảng thấy những lỗi như nhòe màu, mờ, nhiều chấm nhỏ, mất chi tiết & thậm chí những hiệu ứng như là bề mặt “động” sau phần tĩnh của phim. Quan trọng là hiểu rằng thuật ngữ “động” nói đến những thứ mà không được cho là trong phim. Lỗi đôi khi do mã hóa MPEG kém chất lượng, nhưng lỗi thường do điều chỉnh TV sai, dây cáp không tốt, nhiễu điện, giảm ồn tùy tiện, tăng hình ảnh không thích hợp, chuyển từ film sang video chất lượng kém, lỗi đầu đọc,vv…Một vài DVD thử nghiệm ban đầu không được tốt, nhưng đó đơn giản là sự chỉ ra DVD có thể tệ như thế nào nếu quy trình không hợp thức & sao chép không đúng. Những thử nghiệm trong tương lai có thể được chỉnh lại với “tính chất gian lận” kể từ khi hầu hết người bán không có khả năng điều chỉnh hợp thức TV.Hầu hết các TV có bộ chỉnh sắc nét quá cao cho độ rõ của DVD. Điều này phóng đại video cao tần & gây ra sự xuyên tạc, chỉ như bộ điều chỉnh tông cao quá cao trên máy stereo gây ra âm thanh chói tai. Để chất lượng tốt nhất, điều chỉnh độ nét thấp thôi. Độ sáng cũng không nên cài quá cao.
Chất lượng âm thanh của DVD rất tốt. DVD còn có option của PCM (pulse code modulation) âm thanh kỹ thuật số cùng một size nhưng cao hơn âm thanh CD.
Âm thanh của các bộ phim được lưu trữ riêng biệt, âm thanh nổi multi- channel sử dụng Dolby Digital hoặc DTS audio nén, giống như dạng âm thanh nổi digital sử dụng trong nhà hát. Cũng như hình ảnh, chất lượng âm thanh phụ thuộc vào cách xử lý và mã hóa như thế nào. Mặc dù bị nén nhưng chất lượng của Dolby Digital và DTS có thể tốt hơn CD.

6. Khuyết điểm của DVD là gì?

• Một số đĩa không thể mở ở một số máy.
• Đầu DVD đắt hơn VRCs.
• DVD có bản bảo vệ bên trong và cửa đóng từng vùng (mã vùng).
• DVD không có đầy đủ chức năng HDTV.
• Một số đầu DVD và ổ đĩa không thể đọc CD-Rs.
• Một số đầu DVD và ổ đĩa không thể đọc DVDs chép lại.
• Hầu hết các đầu máy DVD không thể đọc đĩa DVD-RAM.

7. Mã vùng, mã quốc gia, khóa vùng trên đĩa DVD là gì?

Những nhà sản xuất phim muốn quản lý phim của mình ở những nước khác vì các rạp chiếu phim không giới thiệu phim trong cùng một thời gian. Vì vậy các hãng phim bán bản quyền phát hành phim cho những nhà phát hành ngoài nước và muốn bảo đảm thị trường có chọn lọc. Chính vì thế họ yêu cầu trên đĩa DVD phải có mã (code) để chống lại việc giả mạo. Mỗi máy được gắn code của nơi bán. Điều này có nghĩa là đĩa mua ở nước này không thể mở trên máy mua ở nước khác. Mã vùng hoàn toàn không bắt buộc đối với các nhà sản xuất đĩa. Đĩa không có khóa vùng sẽ mở được trên bất kì máy nào. Đó không phải là hệ thống mã hóa, nó chỉ là một byte thông tin trên đĩa được máy kiểm tra. Mã vùng là phấn cố định trên giữa, nó không “bị khóa” sau một khoảng thời gian. Mã vùng không có trên DVD-Audio, DVD-ROM, hay DVD chép lại. 7 vùng được xác định và được đánh số. Máy và đĩa thường được xác định bằng số vùng. Nếu 1 đĩa được mở trên nhiều vùng thì có nhiều số trên toàn cầu chồng lên nhau.
1: U.S., Canada, U.S.
2: Japan, châu Âu, Nam Phi, và Trung Đông (kể cả Ai Cập)
3: Đông Nam Á và Đông Á (kể cả Hong Kong)
4: Úc, New Zealand, Đảo Thái Bình Dương, Trung Mỹ, Mexico, Nam Mỹ và Caribbian
5: Đông Âu (Liên Xô cũ), Tiểu lục địa Ấn Độ, châu Phi, Bắc Triều Tiên và Mongolia
6: Trung Quốc
7: Dành riêng
8: Vùng quốc tế đặt biệt (máy bay, tàu thủy ...)
Không có đĩa region zero hay máy region zero. Nhưng có đĩa all-region và máy all-region. Một số máy có thể bị thay đổi để mở những đĩa không có mã vùng. Bảo hành thường bị bỏ trống nhưng điều này không trái luật ở hầu hết các nước. Nhiều đại lý bán lẻ, đặc biệt là ở Nam Phi bán những máy đã được thay đổi để có multiple region, hay trong một số trường hợp họ cung cấp bản hướng dẫn để đi vào vùng “bí mật” thay đổi các chức năng đã có trong máy. Về mã vùng, còn có những đĩa khác nhau cho TV hệ PAL, và NTSC.

8. Đĩa DVD có được cài đặt chống sao chép không và như thế nào?

Một số đĩa DVD được chống sao chép (copy protection). CPSA là tên của toàn bộ hệ thống bảo vệ thiết bị DVD gia đình, phát triển bởi tập đoàn Copy Protection Technical Working (CPTWG) và 4C (Intel, IBM, Toshiba). Dưới đây là một số dạng chống sao chép của DVD:
Analog CPS (Macrovision)
Trong mỗi máy, băng video copy bị ngăn chặn bởi Macrovision 7.0 hay những mạch tương tự. Macrovision có thể xuất hiện như những đường viền màu, méo mó, hình trắng đen, hay những vòng sáng tối. Macrovision là vấn đề của hầu hết những TV kết hợp VCR và một số thiết bị high-end như dòng nhân đôi(line doublers) hay máy chiếu video.
Giới hạn chung của hệ thống ngăn chặn taping là APS (Analog Protection System) hay copyguard. Card video computer hay s-video (Y/C) output phải sử dụng APS. Macrovision thay đổi cấu trúc của video và s-video bằng 2 cách: công nghệ Colorstripe và công nghệ AGC. Macrovision không có ở những máy cũ, nhưng hiện nay đã được trang bị trên phần output(chỉ có AGC).
Trên các đĩa có “trigger bits” nói cho đầu máy biết có hay không có Macrovision AGC với Colorstripe 2-line hay 4-line không bắt buộc. Nhà sản xuất đĩa quyết định số lượng bản chống sao chép có thể và trả tiền bản quyền Macrovision.
Những thiết bị đắt tiền có thể đánh bại Macrovision như Video Clarifier, Image Stabilizer, Color Corrector, và CopyMaster. Một số máy DVD có thể bị thay đổi để tắt Macrovision output. Time-base corrector (TBCs) chuyên nghiệp có thể phục hồi dòng 21 để loại bỏ Macrovision. APS chỉ có tác dụng với video, không có tác dụng với audio.
CGMS
Trên mỗi đĩa có chứa thông tin ghi rõ nội dung có thể copy hay không. Đây là hệ thống quản lý phiên bản copy (SCMS) thiết kế để chống lại các bản copy và bản copy tiếp theo. Thông tin CGMS được ghi ở tín hiệu video phát đi. Để CGMS làm việc, thiết bị sao chép phải nhận ra và lưu ý thông tin CGMS. Analog chuẩn (CGMS-A) mã hóa dữ liệu trên NTSC dòng 21 hay dòng 20.CGMS-A được nhận dạng bởi hầu hết các digital camcorder và một số card ghi hình của computer. TBCs phục hồi dòng 21 và 20 sẽ loại bỏ CGMS-A từ analog signal. Digital chuẩn (CGMS-D) có thêm DTCP và HDMI cho kết nối digital như IEEE 1394/FireWire.
Content Scrambling System (CSS)
CSS là sự phối hợp của dữ liệu mã hóa và thẩm định quyền để chống lại các file video copy trực tiếp trên đĩa DVD-Video. Mỗi người đăng kí CSS sẽ được cung cấp một khóa trên mỗi đĩa CSS-encrypted. Thuật giải mã CSS hoán đổi khóa với ổ đĩa để tìm ra khóa mật mã, khóa này được sử dụng sau đó làm rối sự hoán đổi giữa disc key và title key cần thiết cho việc giải mã dữ liệu trên đĩa. DVD có mạch CSS giải mã dữ liệu trước khi được m73, ổ cứng decoder DVD của máy tính và phần mềm cần phải có module giải mã CSS. Tất cả ổ đĩa DVD-ROM có firmware bên ngoài để hoán đổi authentication và khóa giải mã với module CSS trên máy tính. CSS được quản lý bởi DVD Copy Control Association (DVD CCA). Cuối năm 97 bằng CSS được chấp nhận để mã hóa phần mềm.
Content Protection for Prerecorded Media (CPPM)
CPPM chỉ sử dụng cho DVD-Audio, được xem là sự cải tiến của CSS. Khóa được giữ trong vùng lead-in, nhưng không giống CSS, CPPM không có title key. Mỗi volume có dạng album 56-bit, tương tự disc key của CSS. Mỗi đĩa có media key block chứa trong file của đĩa. Dữ liệu media key block được sử dụng trong suốt quá trình xáx nhận để cho ra khóa giải mã. Media key block có thể được cập nhật để hủy bỏ việc sử dụng khóa của máy. Nếu khóa thiết bị bị hủy,bước xử lý tiếp theo của media key block không có hiệu lực. Một đĩa có thể chứa cả CSS và CPPM nếu đó là đĩa hybrid DVD-Video/DVD-Audio.
Content Protection for Recordable Media (CPRM)
CPRM là máy nối máy thu vào một phương tiện truyền thông. Nó hỗ trợ cho máy thu DVD, nhưng không nhiều. Mỗi khoảng trống của DVD thu lại có ID media 64-bit được khắc axit trên BCA. Khi chương trình bảo vệ được chép lên đĩa, nó có thể được mã hóa với thiết bị viết mật mã C2 56-bit (Cryptomeria). Trong khi đọc lại, ID được đọc từ BCA để tìm ra khóa giải mã nội dung trên đĩa. Nếu nội dung trên đĩa được copy từ media khác, ID sẽ bị sai và dữ liệu không được giải mã.

9. DVD-Video có phải là một tiêu chuẩn rộng khắp? Nó có thể hoạt động với hệ NTSC, PAL & SECAM?

Hình ảnh Video được lưu trữ trên đĩa DVD theo chuẩn nén MPEG2 so với VCD là MPEG1. Hình ảnh được định dạng cho một của hai hệ thống TV không tương thích lẫn nhau: 525/60 (NTSC) hay 625/50 (PAL/SECAM). Vì vậy, có 2 dạng DVD: "NTSC DVD" & "PAL DVD". Một vài máy đĩa chỉ chạy đĩa NTSC, các máy khác chạy đĩa PAL & NTSC. Các đĩa cũng có thể được mã hóa theo các khu vực khác nhau trên thế giới.
Khi chuyển film sang đĩa DVD, người ta thường sử dụng tốc độ 24 hình/giây, khi bộ phận mã hóa MPEG2 sẽ nhắc lại một số frame theo tỷ lệ 2-3 cho hệ 60Hz NTSC hay 2-2 với tăng tốc 4% cho 50 Hz PAL/SECAM. Vì độ phân giải hình ảnh PAL 720x576 cao hơn so với NTSC 720x480 nên độ lớn file hình ảnh trên PAL DVD cũng lớn hơn cỡ 15% so với NTSC DVD
Hầu hết các đầu đĩa DVD được bán trên các vùng PAL chạy cả hai dạng đĩa. Các đầu đĩa đa-tiêu chuẩn này chuyển một phần NTSC sang tín hiệu 60-Hz PAL (4.43 NTSC). Đầu đĩa sử dụng sóng phụ PAL 4.43-MHz màu mã hóa định dạng nhưng giữ tốc độ quét 525/60 NTSC. Hầu hết các TV PAL hiện đại có thể vận dụng tín hiệu “PAL giả”. Một ít đầu đĩa PAL đa tiêu chuẩn xuất đúng 3.58 NTSC từ đĩa NTSC. Một vài đầu đĩa có bộ chuyển để chọn lựa đầu ra 60-Hz PAL hay NTSC thật.
Có một vài đầu đĩa PAL chuyển đổi tiêu chuẩn mà nó chuyển từ một đĩa NTSC sang một đầu ra PAL tiêu chuẩn cho những TV PAL trước đây. Một bộ chuyển tiêu chuẩn hợp thức đòi hỏi phần cứng mắc tiền để điều khiển việc chia tỷ lệ, chuyển đổi thời gian & phân tích đối 2ượng chuyển động. Vì chất lượng chuyển đổi trong đầu đĩa DVD là kém, việc sử dụng đầu ra 60-Hz PAL (4.43 NTSC) với một TV tương thích cung cấp hình ảnh tốt hơn việc chuyển đổi từ 3.58 NTSC sang PAL. Âm thanh không bị ảnh hưởng bởi việc chuyển đổi này. Các công cụ phần mềm cuối cùng như là Adobe After Effects hay Canopus ProCoder làm khá tốt việc chuyển hệ giữa PAL & NTSC với chi phí thấp, nhưng chúng chỉ thích hợp cho môi trường sản xuất (chuyển đổi hệ video trước khi nó được mã hóa & ghi đĩa DVD).
Có 3 sự khác biệt giữa các đĩa dành cho việc phát lại trên hệ thống TV khác nhau: kích thước hình ảnh (720x480 NTSC đối với 720x576 PAL), tốc độ khung hiển thị (29.97hình/giây NTSC đối với 25 hình/giây PAL), và lựa chọn âm thanh nổi Dolby Digital.
Tất cả đầu đĩa PAL DVD có thể chạy âm thanh Dolby Digital, nhưng không phải tất cả đầu đĩa NTSC đều chơi được âm thanh MPEG. PAL & SECAM chia sẻ dạng thức quét chung, vì vậy, các đĩa này gống nhau cho cả hai hệ thống. Chì có một điểm khác biệt duy nhất là các đầu đĩa SECAM xuất tín hiệu màu trong dạng thức được yêu cầu bởi TV SECAM. Lưu ý rằng các TV hiện đại trong hầu hết các vùng SECAM cũng có thể đọc được tín hiệu PAL, vì thế bạn chỉ cần sử dụng một máy đĩa chỉ có đầu ra PAL. Chì có trường hợp mà bạn cần một đầu đĩa với đầu ra SECAM là dành cho TV riêng cho SECAM (và bạn có thể sẽ cần một kết nối SECAM).
Hiện nay có 3 dạng đầu đĩa DVD nếu bạn tính máy vi tính. Hầu hết các phần cứng & phần mềm máy tính có thể chạy được cả hai video NTSC & PAL, cả âm thanh Dolby Digital & MPEG. Một vài máy tính có thể hiển thị video đã được chuyển đổi lên màn hình máy tính, những máy khác có thể xuất ra ngoài như là tín hiệu video cho TV.
Đĩa NTSC với âm thanh Dolby Digital chiếm 95% hệ thống DVD trên thế giới còn đĩa PAL chơi rất ít trên các đầu đĩa bên ngoài vùng PAL.

10. Điều gì xảy ra khi tôi cào xước đĩa?

Các vết trầy xước có thể gây ra các lỗi dữ liệu nhỏ mà nó có thể được chỉnh sửa dễ dàng. Dữ liệu được lưu trữ trên các DVD mà có sử dụng kỹ thuật chỉnh lỗi đủ mạnh để có thể phủ các vết trầy xước lớn mà không làm mất dữ liệu. Một sự thiếu nhận thức chung rằng một vết xước sẽ tệ hơn trên đĩa DVD hơn là trên đĩa CD vì mật độ lưu trữ cao hơn và vì video được nén nặng hơn. Mật độ dữ liệu DVD thì gấp 4 lần CD-ROM về mặt cơ lý, vì vậy thật sự rằng một vết xước sẽ ảnh hưởng nhiều hơn đến dữ liệu. Nhưng việc chỉnh lỗi của DVD thì tốt hơn ít nhất là gấp 10 lần so với việc chỉnh lỗi của CD-ROM & làm tăng mật độ dữ liệu nhiều hơn. Quan trọng nữa là việc nén MPEG-2 and Dolby Digital một phần dựa trên việc chuyển dời hay giảm bớt thông tin không thể nhận thấy. Các vết trầy xước chính có thể gây ra các lỗi không thể sửa được là lỗi I/O trên máy vi tính hay dẫn đến việc chạy không đều nhất thời trên hình ảnh DVD-Video. Nghịch lý là các vết trầy xước nhỏ nhất lại gây ra các lỗi tệ hại nhất (vì sự định hướng & độ khúc xạ riêng biệt của vết xước nhỏ).
Cho rằng các đĩa laser, nhạc CD & CD-ROM cũng bị các vết xước như thế nhưng nhiều cửa hàng băng đĩa vẫn cho thuê chúng. Hầu hết các báo cáo về khả năng cho thuê đĩa là vẫn tốt nhưng dù vậy, nếu bạn có vấn đề với việc xem một đĩa thuê thì hãy kiểm tra lại các vết xước của nó.

11. Thế nào về hoạt ảnh trên DVD? Nó không phải là được nén kém quá chứ?

Vài người phản ảnh rằng, sự hoạt ảnh, đặc biệt là kỹ thuật hoạt ảnh kéo như là hoạt hình, không nén tốt với MPEG-2 hay thậm chí bản cuối còn lớn hơn bản nguyên thủy. Những người khác phản ánh rằng hoạt ảnh thì đơn giản nên nó nén tốt hơn. Không có điều nào đúng cả.
Giả sử rằng, sự căng thẳng giữa các khung hình ảnh được tạo ra do sự khác biệt trong việc kéo hay trong việc chuẩn trực gây ra vấn đề. Một chuyên gia hoạt hình ở Disney đã chỉ ra rằng nó không xảy ra với các kỹ thuật hoạt ảnh hiện đại. và thậm chí nếu nó xảy ra thì tính năng đánh giá chuyển động của MPEG-2 có thể đền bù về điều đó.
MPEG-2 làm ngắt/dừng hình ảnh vào trong các khối & chuyển chúng vào trong thông tin tần số mà nó có thể có vấn đề với các sắc cạnh chung trong việc hoạt ảnh. Việc mất thông tin tần số cao có thể xuất hiện tiếng chuông hay các vết mờ trên các cạnh (được gọi là hiệu ứng Gibb). Tuy nhiên, tại các tốc độ dữ liệu thường được dùng cho DVD, vấn đề này không thường xuyên xảy ra.

12. Tại sao với một vài phim trên DVD cho hình ảnh có vẻ gầy quá?

Lúc đó bạn đang xem một bộ phim với định hình dành riêng cho TV màn ảnh rộng (wide screen). Bạn cần vào menu cài đặt của đầu đĩa & biết rõ rằng mình có một TV chuẩn 4:3, không phải TV màn ảnh rộng 16:9. Sau đó nó sẽ tự động chuyển kích thước hình ảnh và bạn có thể xem phim với tỷ lệ hình bình thường.
Trên hầu hết các đầu đĩa, bạn phải dừng đĩa trước khi bạn đổi hệ số hình ảnh.

13. Có phải tất cả các phim DVD sử dụng Dolby Digital (AC-3)? Chúng đều có kênh 5.1?

Hầu hết các đĩa DVD-Video chứa rãnh âm thanh Dolby Digital. Tuy nhiên, một vài đĩa, đặc biệt là DVD audio, có rãnh ghi PCM. Nó có thể nhưng hiếm có loại đĩa 625/50 (PAL) để chỉ chứa MPEG audio. Một số đĩa có DTS audio và chứa thêm rãnh ghi Dolby Digital audio (trong một số trường hợp hiếm thì chúng có cả rãnh PCM audio).
Đừng cho rằng rãnh Dolby Digital đảm bảo các kênh 5.1. Một rãnh âm thanh Dolby Digital có thể là mono, mono đôi, stereo, Dolby Surround stereo, v.v. Ví dụ: đĩa phim Blazing Saddles & Caddyshack có rãnh ghi chỉ dùng 1 kênh âm thanh. Trên vỏ DVD có những chữ nhỏ hay biểu tượng nhỏ phía dưới để chỉ ra cấu hình của các kênh. Trong một vài trường hợp, có nhiều hơn một phiên bản của rãnh âm thanh Dolby Digital: một rãnh kênh 5.1 & một rãnh pha trộn đặc biệt cho stereo Dolby Surround. Một cách hoàn chỉnh cho đầu đĩa DVD để chỉ ra chế độ hoạt động rãnh âm thanh Dolby Digital trong khi tín hiệu nhận của bạn chỉ ra Dolby Surround. Điều đó có nghĩa là đĩa chứa được 2 kênh, tín hiệu Dolby Surround được mã hó trong dạng thức Dolby Digital.

14. DVD có dễ hư hỏng như đĩa laser không?

Đĩa laser dễ bị hỏng lớp tráng nhôm do sự oxy hóa hay các thay đổi hóa học khác. Điều này là kết quả từ việc dùng kim loại không nguyên chất cho việc phản chiếu lớp phủ được tạo ra trong quá trình sao chép, nghiêm trọng hơn đĩa laser có thể bị biến dạng cơ học do uốn cong, vênh hay do nhiệt (kích thước lớn của đĩa làm cho chúng mềm hơn, vì vậy các chuyển dịch theo bờ giữa các lớp có thể phá hủy niêm phong, được gọi là việc phân lớp. Việc làm hư hỏng lớp dữ liệu có thể bị gây ra do các chất hóa học trong lớp keo hay hơi ẩm thấm thấu qua chất nền nhựa.
Giống như các đĩa laser, DVD được làm từ 2 đĩa dán dính với nhau, nhưng DVD thường cứng hơn vì nó nhỏ hơn & sử dụng các loại keo mới hơn. DVD được định hình từ polycarbonate mà hấp thu độ ẩm kém hơn khoảng 10 lần so với hygroscopic acrylic (PMMA) thường được sử dụng cho đĩa laser.
DVD có thể có vấn đề phân lớp, một phần do đầu đĩa giữ quá chặt. Việc phân lớp tự nó ó thể gây ra vấn đề (bởi vì lớp dữ liệu không còn ở khoảng cách đúng trên bề mặt nữa) và cũng có thể bị oxi hóa.
Xa hơn, DVD bị một vài vấn đề. Đã có những báo cáo rằng một số đĩa rất tệ do bị tách lớp, keo không tốt, phản ứng hóa học & hay sự oxy hóa của lớp phản chiếu. Cũng đã có một số báo cáo về tình trạng mờ hay màu trắng đục trong DVD mà có thể bị gây ra do sao chép không đúng cách. Một ví dụ rằng khi mà nhựa được nấu chảy làm nguội quá nhanh hoặc không đủ áp lực để phủ hoàn toàn tất cả các góc trong khuôn. Vết mờ rất nhỏ không ảnh hưởng đến việc chạy đĩa, không giống như bị hỏng. Nếu bạn có thể nhìn thấy vài điểm bằng mắt thường của bạn, có thể đấy không phải là do sự oxi hóa hay các vết hỏng khác.
Nếu đĩa tệ quá thì phải chắc chắn rằng nó không dơ, không bị xước hay bị biến dạng. Thử lau sạch nó & thử chạy trên một đầu đĩa khác. Nếu đĩa vẫn bị vấn đề tương tự thì có thể nó đã bị hỏng & hãy yêu cầu nhà cung cấp thay một đĩa khác tốt hơn.

WHAT IS NTSC AND PAL STANDARD?

WHAT IS NTSC AND PAL STANDARD?

Although VHS video format is the same throughout the World, the video standard or electronic signal that is recorded on the cassette varies from country to country. The two most common video standards used are NTSC and PAL.

NTSC is the video system or standard used in North America and most of South America. In NTSC, 30 frames are transmitted each second. Each frame is made up of 525 individual scan lines.

PAL is the predominant video system or standard mostly used overseas. In PAL, 25 frames are transmitted each second. Each frame is made up of 625 individual scan lines.

NOTE: If you want VHS PAL standard and it is stated on the product page as available in PAL, type "Want in PAL Standard" in the comments field at the bottom of the ordering page.

To determine your video standard refer to the chart below:
PAL:
Afghanistan
Algeria
Argentina (N)
Austria
Australia
Bangladesh
Belgium
Brazil (M)
China
Denmark
Finland
Germany
Hong Kong
Iceland
India
Indonesia
Iraq
Ireland
Israel
Italy
Jordan
Kenya
Kuwait
Liberia
Malaysia
Netherlands
Nigeria
Norway
New Guinea
Pakistan
Singapore
South Africa
South W. Africa
Sudan
Sweden
Switzerland
Thailand
Turkey
Uganda
United Kingdom
United Arab Emirates
Yugoslavia
Zambia

NTSC:
Canada
Chile
Costa Rica
Cuba
Dominican Republic
Ecuador
Japan
Mexico
Nicaragua
Panama
Peru
Philippines
Puerto Rico
South Korea
Taiwan
U.S.A.

Chọn phần mềm ghi đĩa nào - Nero 7 hay Roxio 8?

Bài viết sẽ giới thiệu khái quát những tính năng nổi bật trong phiên bản mới của 2 phần mềm ghi đĩa hàng đầu hiện nay, vừa so sánh chúng với nhau để bạn lựa chọn theo yêu cầu sử dụng. Nói chung, Nero 7 nhiều tính năng hơn còn Roxio 8 dễ sử dụng hơn.
http://www.khoahocphothong.com.vn/uploadedfiles/1135648292_Nero1.gif
Ngoài ra, còn có bài hướng dẫn tạo ổ đĩa CD/DVD ảo cùng file ảnh đĩa, bằng phần mềm Nero phiên bản 6 trở lên, nhằm giải quyết vấn đề một số chương trình hay game đòi hỏi phải chạy trên CD/DVD.

Cho đến thời điểm này, trong tác vụ ghi đĩa thì có lẽ nero và roxio là hai phần mềm nổi bật nhất. gần đây cả hai đều tung ra phiên bản mới nhất của mình, cụ thể là nero 7 ultra edition và roxio easy media creator 8.

Phiên bản Nero mới có giao diện gần giống với các phiên bản trước với màu đỏ chủ đạo. Một số chức năng mới hấp dẫn được thêm vào, tuy nhiên theo nhận xét của nhiều người thì cách truy cập các chức năng còn hơi rối và khó nhớ. Về điểm này, có lẽ Roxio là người chiến thắng với việc không chỉ thêm vào những chức năng mới mà còn nỗ lực làm cho việc sử dụng các chức năng thật giản tiện.

Nero 7 Ultra Edition được trang bị thêm các chức năng mới như hỗ trợ chỉnh sửa định dạng video cao cấp, chỉnh sửa âm thanh surround 7.1, công cụ chỉnh sửa nhạc... Còn Roxio có giao diện mới giúp việc sử dụng được dễ dàng hơn, ngoài ra cũng có một số chức năng mới hữu ích như tạo đĩa nhạc DVD và chỉnh sửa video có độ phân giải cao...

- Ghi dữ liệu (Data): Nero tuy có giao diện không thật tiện lợi nhưng bù lại số tác vụ liên quan đến việc ghi dữ liệu thì khá phong phú. Các tác vụ ghi của Roxio tuy được sắp xếp để dễ sử dụng hơn nhưng số lượng không được phong phú bằng Nero. Để việc truy cập tới các chức năng căn bản như ghi CD/DVD, sao chép, xóa... được thuận tiện và nhanh chóng hơn, có thể bạn sẽ hài lòng với chế độ Home launch của Roxio vì các chức năng căn bản đều được sắp xếp ở đây. Nero cũng có chế độ này với tên gọi là StartSmart, tuy nhiên việc truy cập không được trực tiếp lắm nhưng cho phép bạn có thể điều chỉnh lại được theo ý mình

- Ghi Audio: ngoài các chức năng căn bản liên quan đến audio như rip, encode và burn thì cả 2 phần mềm đều được trang bị thêm những chức năng hữu ích. Người dùng sẽ đánh giá cao chức năng Nero’s SoundTrax cho phép chỉnh sửa âm thanh surround 7 kênh và khả năng thêm các hiệu ứng đặc biệt vào các track nhạc. Ngoài ra chức năng SoundBox rhythm box/sample synthesizer của Nero còn cho phép người dùng tạo ra các giai điệu sôi động... Về mặt này có thể xem Nero là người chiến thắng, tuy nhiên Roxio cũng có chức năng tạo đĩa DVD nhạc rất hữu ích. Ở chế độ này, Roxio tạo một đĩa phim DVD bình thường nhưng dành ra một khoảng trống để bạn có thể ghi các track nhạc. Như vậy với một đĩa DVD 4.7GB thông thường bạn còn có thể chứa thêm các bài nhạc yêu thích, và có thể thưởng thức trên các ổ đĩa hay đầu DVD gia dụng.
http://www.khoahocphothong.com.vn/uploadedfiles/1135648308_Nero2.gif
- Ghi Video: về chức năng này có thể xem cả 2 phần mềm là ngang ngửa nhau với việc cung cấp các chức năng bắt hình và chỉnh sửa rất hiệu quả. Về việc chỉnh sửa, ý kiến cá nhân của người viết bài này là chức năng VideoWave 8 của Roxio có phần nổi bật hơn vì dễ sử dụng cũng như cung cấp giao diện hợp lý hơn so với chức năng Vision 4 của Nero. Tuy nhiên khi phải thao tác với video có độ phân giải cao thì Nero có phần nhỉnh hơn. Cả hai chức năng VideoWave 8 của Roxio và Vision 4 của Nero giờ đây có thể chỉnh sửa và xuất ra các đoạn video độ phân giải cao lên tới 1920 x 1080 (còn được gọi là 1080i). Việc xuất video theo định dạng cao cấp tốn rất nhiều thời gian với cả hai phần mềm. Thử nghiệm encode lại một đoạn video 5 phút ở độ phân giải 1440 x 1080 quay bằng máy Sony DV mất tới hơn 2 giờ. Cả hai phần mềm đều có thể nén nội dung từ đĩa DVD hai lớp để chứa vừa vặn trên một đĩa DVD 4.7GB thông thường. Với tác vụ này thì chức năng Nero Recode cung cấp nhiều tùy chọn hơn.

- Backup: Roxio được tích hợp chức năng Backup MyPC 6 (một tiện ích riêng lẻ của hãng StompSoft có tên là Backup MyPC 2005), tuy nhiên lại không có chức năng Restore. Do đó bạn phải sử dụng chương trình Roxio Retrieve để phục hồi những dữ liệu đã backup. Ở mặt này Nero là người chiến thắng với việc hoàn thiện chức năng BackItUp. Với chức năng này, giờ đây không chỉ việc backup dữ liệu được thực hiện dễ dàng hơn nhiều so với trước đây mà còn cho phép nhiều người dùng có thể lên lịch cho việc backup thông thường cũng như backup qua mạng.

- Một số chức năng khác: ngoài các chức năng chính thì cả hai phần mềm đều cung cấp các chức năng bổ sung khá hữu ích khác như tạo đĩa phim DVD hay slide show có menu điều khiển từ các đoạn clip, hình ảnh và video. Về mặt này Roxio là người thắng cuộc với việc tích hợp chức năng MyDVD để hướng dẫn người dùng qua từng bước để việc thực hiện trở nên đơn giản nhất. Ngoài ra nó còn cung cấp một số tiện ích chỉnh sửa, quản lý và chia sẻ hình ảnh qua web (thông qua chức năng PhotoSuite và LiveShare).

Qua những so sánh trên có thể bạn đã tìm được phần mềm phù hợp với mục đích sử dụng của mình. Tuy hơi khó sử dụng đối với người mới làm quen nhưng nếu bạn quan tâm nhiều đến các chức năng thì nên chọn Nero. Trong khi đó, Roxio Easy Media Creator 8 lại dễ học và dễ sử dụng hơn Nero 7 nhờ giao diện thân thiện và trực quan.

Cấu trúc DVD-Video - Làm thế nào để ghi DVD-V an toàn.

Cấu trúc DVD-Video - Làm thế nào để ghi DVD-V an toàn.


I. Sơ lược cấu tạo của DVD-V đơn giản.

Một đĩa DVD-V bao gồm 2 thư mục:
AUDIO_TS
VIDEO_TS
Thư mục AUDIO_TS được sử dụng trong đĩa DVD-AUDIO (chuẩn đĩa ra đời sau DVD-V), bởi vì ta đang xét DVD-V nên thư mục này coi như bỏ qua.

Explorer thư mục VIDEO_TS, ta thu được một hệ thống dạng:
VIDEO_TS.BUP
VIDEO_TS.IFO
VIDEO_TS.VOB
VTS_01_0.BUP
VTS_01_0.IFO
VTS_01_0.VOB
VTS_01_1.VOB
VTS_01_2.VOB
VTS_01_3.VOB
VTS_01_4.VOB
VTS_01_5.VOB
VTS_01_6.VOB
VTS_02_0.BUP
VTS_02_0.IFO
VTS_02_0.VOB
VTS_02_1.VOB
VTS_02_2.VOB
VTS_02_3.VOB

Như vậy , có 3 loại file là :VOB , .BUP , .IFO

VOB.

VOB có nghĩa là Video OBjects.
Trong một đĩa DVD-V thông thường, ta thường có:
-Hình ảnh :MPEG-2
-Âm thanh : AC3, DTS, PCM, MPEG-1 layer 3...
-Phụ đề : mã hóa ở dạng bitmap
Những thành phần này được kết hợp lại với nhau trong một file duy nhất , đó chính là file VOB. Do những file VOB là những file lưu trữ main movie của đĩa DVD-V nên đây là những file có dung lượng lớn nhất trong cấu trúc.
Một file VOB có thể kết hợp được 1 main video với 9 stream âm thanh khác nhau, 32 phụ đề. Những thành phần này có thể thay đổi trong suốt quá trình playback.

Ngoài file VOB chứa mainmovie đã đề cập ở trên , còn có những file VOB nhỏ hơn, mở đầu mỗi title, chứa titleset.

Mỗi file VOB có dung lượng lớn nhất là 1 GB.

IFO
IFO là InFOrmation- file chứa những thông tin quan trọng của DVD-V:
-Chứa các chapter point
-Chỉ ra ID của các audio stream hay phụ đề

BUP
BUP có nghĩa là BackUP
Bởi vì IFO lưu những thông tin cần thiết để playback toàn bộ đĩa, nên nếu vì một lý do nào đó file này không thể đọc được thì player sẽ không có cơ hội sử dụng đĩa nữa. Tác dụng của file BUP là backup dữ liệu cho IFO. Khi player không đọc được IFO, nó sẽ tìm kiếm thông tin trong file BUP.



II. Ghi DVD-V như thế nào ?

Trên DVD có những khoảng trắng. Một ứng dụng quan trọng của những khoảng trắng này trên DVD-V là đảm bảo không cho một ECC block nào chứa cùng lúc cả tập tin IFO và tập tin backup cho nó BUP. Mỗi ECC block gồm 16 sector-tương đương 32KB.
Cách lưu trữ dữ liệu trên đĩa DVD-V tuân theo thứ tự: IFO - VOB - BUP
Ở đây VOB là những file có dạng VIDEO_TS.VOB hay VTS_xx_0.VOB ( những file VOB không chứa main movie).

Bây giờ, nếu trong hệ thống file IFO + VOB + BUP , file IFO không thể đọc được, player sẽ truy cập trong BUP để lấy thông tin cần thiết. Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu file VOB nằm giữa IFO và BUP nhỏ hơn 32K ? Khi đó rất có thể một ECC block sẽ chứa một phần tập tin IFO và một phần tập tin BUP (tất nhiên nó chứa toàn bộ tập tin VOB). Bởi vì cả IFO và BUP nằm trên cùng một ECC block nên có khả năng BUP cũng nằm trong phần bad block của IFO , và tập tin BUP cũng không thể sử dụng được (như IFO).

Nếu thay vì ghi liền BUP sau tập tin VOB ( tập tin VOB này nhỏ hơn 32K), khi ghi đĩa, ta để 32K trắng (khoảng trắng) giữa VOB và BUP thì sẽ có chắc chắn 2 tập tin IFO và BUP nằm trên 2 ECC block khác nhau, và chuyện hư hỏng IFO sẽ không kèm theo hư hỏng cho BUP và DVD-V vẫn an toàn cho việc sử dụng.

Xét tới cách ghi đĩa của Nero hay một số phần mềm thương mại khác, rất nhiều trong số những phần mềm này luôn ghi dữ liệu theo một dòng liên tục và không bao giờ để lại khoảng trắng nào. Mọi việc sẽ ổn với những DVD-V có tập tin VOB đầu mỗi VTS lớn hơn 32KB, nhưng sẽ tiềm ẩn mối nguy hiểm đối với những đĩa có VTS_xx_0.VOB nhỏ hơn 32KB.

Vậy làm cách nào để ghi DVD-V có VTS_xx_0.VOB nhỏ hơn 32KB một cách an toàn?


Những công cụ cần thiết:
Code:

http://www.videohelp.com/~r0lZ/pgcedit/index.html#download
http://www.imgburn.com/index.php?act=download

Cài đặt imgburn

Kích hoạt PGCEdit, vào File \ Open DVD (Ctr+O), chọn đường dẫn tới thư mục chứa DVD cần ghi.

Trên menu của PGCEdit, chọn Options \ Input/Output , đánh dấu vào “When saving, leave at least 32K of space between IFO and BUP”

Đặt tùy chọn cho ảnh đĩa: Options \ Input/Output \ Burn/Create ISO Setup
-Chọn đường dẫn tới những file .exe cần thiết.
-Nếu đang sử dụng ổ đĩa cứng với hệ thống FAT32, đánh dấu “Split ISO image into 1 Gb chunks”
-Chọn ổ ghi đĩa.

Chọn File \ Burn DVD/Create ISO
Tùy chọn một số thành phần tùy trường hợp, sau đó nhấn OK
Lưu ý nên chọn phân vùng đĩa cứng lớn còn trống để ảnh đĩa không phân mảng.

Sau khi tạo được ảnh đĩa (ISO), mount thử ảnh đó vào một ổ đọc DVD ảo (daemon-tool hay Alcohol) để xem thử kết quả.

Nếu kết quả thu được ổn định, kích hoạt ImgBurn
Chọn File \ browse để tìm tới ảnh đĩa vừa tạo được.
Cuối cùng, nhấn START để bắt đầu burn một đĩa DVD-V an toàn.

Chennai

Hướng dẫn sử dụng phần mềm bản đồ vệ tinh GOOGLE EARTH

,

Sức mạnh tìm kiếm của Google không chỉ thể hiện ở cỗ máy tìm kiếm quen thuộc tại website của Google. Nhằm đa dạng hoá loại hình thông tin tìm kiếm, năm 2004 Google đã mua lại phần mềm địa cầu ảo nổi tiếng là Keyhole để kết hợp nó với những tính năng của Google Maps. Đến năm 2005, sản phẩm này được đổi tên thành Google Earth và chạy được trên các hệ điều hành Linux, MAC OS và MS Windows.

Google Earth là một chương trình địa cầu ảo. Nó vẽ bản đồ trái đất là một quả địa cầu ảo 3D, trên đó là những hình ảnh địa lý được lấy từ ảnh vệ tinh, các ảnh chụp trên không và từ hệ thống thông tin địa lý GIS


CÀI ĐẶT

Để sử dụng Google Earth các bạn cần tải về bộ cài đặt phần mềm này tại website: http://earth.google.com Google cung cấp phiên bản miễn phí là Google Earth cho mục đích sử dụng cá nhân và gia đình, và các phiên bản trả phí cho các nhu cầu cao hơn là Google Earth Plus và Google Earth Pro.
Đối với phiên bản miễn phí Google Earth, các bạn chỉ đơn giản nhấn chuột vào liên kết Get Google Earth (Free Version) để tải về và cài đặt sử dụng.

Yêu cầu cấu hình PC và cài đặt

Trước khi cài đặt, bạn cần quan tâm đến yêu cầu về cấu hình của máy tính dùng để chạy chương trình Google Earth Pro. Máy tính này cần phải có cấu hình yêu cầu như sau:

Cấu hình tối thiểu:

Windows 2000 / XP

Pentium 3, 500Mhz

128MB RAM

400MB vùng đĩa trống

Tốc độ đường truyền Internet 128Kbits/sec

Card màn hình hỗ trợ 3D, VRAM 16MB

Độ phân giải màn hình 1024x768, "16-bit High Color"

Cấu hình khuyên dùng:

Windows XP

Pentium 4 2.4GHz+ / AMD 2400xp+

512MB RAM

2 GB vùng đĩa trống

Tốc độ đường truyền Internet 768 Kbits/sec hoặc tốt hơn (DSL/Cable)

Card màn hình hỗ trợ 3D, VRAM 32MB hoặc cao hơn

Độ phân giải màn hình 1280x1024, "32-bit True Color"

Bài viết này sử dụng Google Earth Pro với phiên bản dùng thử 7 ngày để làm minh hoạ, do đó trước khi tải bộ cài đặt về các bạn phải đăng ký nhận mã số sử dụng với Google. Các bước thực hiện như sau:

Trong phần Google Earth Pro, các bạn nhấn chuột vào liên kết 7-day free trial.

Trong cửa sổ tiếp theo, chọn nút Free Trial và nhấn Next.

Tại cửa sổ đăng ký, bạn sẽ được thông báo về yêu cầu cấu hình tối thiểu cho máy tính cài đặt phiên bản Pro. Bạn sẽ nhận được email từ Google gửi cho bạn mã số cho phép sử dụng 7 ngày Google Earth Pro (7-day License Key) sau khi điền đầy các thông tin vào mẫu đăng ký .

Bạn lần lượt điền đầy đủ các thông tin đăng ký vào các ô có đánh dấu sao như địa chỉ email, tên của bạn, v.v… Sau đó nhấn Next.
Nếu bạn khai báo đầy đủ, cửa sổ thông báo khai báo thành công xuất hiện, nhắc nhở bạn mã số sử dụng đã được gửi đến địa chỉ email mà bạn vừa khai báo trong phần đăng ký. Bạn sẽ sử dụng tên và mã số được nêu trong thư để đăng nhập vào chương trình Google Earth Pro. Sau đó, bạn hãy nhấn chuột vào liên kết Download Google Earth Pro để tải về bộ cài đặt chương trình. Việc cài đặt Google Earth Pro diễn ra rất nhanh và đơn giản. Bạn chọn chế độ Complete để cài đặt toàn bộ chức năng của phần mềm này.

SỬ DỤNG

Đăng nhập

Bây giờ bạn đã có thể khám phá các địa danh trên thế giới thông qua phần mềm địa cầu ảo 3D này rồi. Các bạn đừng quên vào hộp thư của mình để nhận tên đăng nhập và mã số sử dụng phiên bản Google Earth Pro trong 7 ngày do Google gửi đến cho bạn. Sau đó, tại màn hình Desktop, bạn nhấn chuột vào shortcut Google Earth Pro.

Tại cửa sổ đăng nhập, bạn nhập vào tên đăng nhập trong ô Username và mã số sử dụng trong ô License Key. Sau đó nhấn vào nút Login.

Chọn Server và Port như các giá trị mặc định và nhấn Login.

Theo khuyến cáo của phần mềm, bạn nhấn Yes để chọn chế độ DirectX.

Nhấn Exit để thoát ra và khởi động lại chương trình trong chế độ DirectX.

Sử dụng

Màn hình làm việc

Đầu tiên các bạn làm quen với màn hình làm việc chính của chương trình Google Earth Pro. Có thể chia màn hình làm việc này thành 3 phần:

Khung bên trái:

Phía trên cùng là thanh menu

Dưới thanh menu là các thẻ Fly To, Local Search và Directions có chức năng liên quan đến tìm kiếm vị trí trên địa cầu ảo.

Ô Places liệt kê các địa danh do người dùng hoặc chương trình đưa vào.

Ô Layers cung cấp đa dạng các loại dữ liệu thông tin địa lý mà bạn có thể chọn cho hiển thị trên bản đố, như dữ liệu đường bộ, địa hình, hay cao ốc.

Khung dưới màn hình:

Cho phép lựa chọn hiển thị một số thông tin thường dùng.

Các nút điều hướng để di chuyển hay thay đổi góc nhìn.

Các tiện ích như in, gửi email.

Khung hiển thị trái đất:

Chiếm phần lớn diện tích màn hình.

Thể hiện các thông tin địa lý bằng hình ảnh 2D hoặc 3D lấy từ ảnh vệ tinh, các ảnh chụp trên không và từ hệ thống thông tin địa lý GIS.


Sử dụng con chuột để xem bản đồ

Bạn chỉ cần sử dụng con chuột có nút cuộn ở giữa là có thể điều chỉnh và xem bản đồ ở mọi góc độ. Bạn nhấn giữ phím trái chuột (hình bàn tay mở chuyển sang nắm) và di chuyển con chuột để xem theo mọi hướng mà bạn muốn. Bạn có thể nhấn phím trái + di chuyển + thả nhanh chuột để hình ảnh trôi tự động hoặc xoay quả địa cầu tự động.

Để phóng to / thu nhỏ bạn có thể dùng nút cuộn.

Để xoay hình, bạn nhấn nút cuộn và kéo chuột sang trái hoặc sang phải.

Để thay đổi độ nghiêng, bạn nhấn nút cuộn và kéo chuột đến góc nhìn mong muốn.


Một số sử dụng cơ bản

Fly To: xem tổng quát địa hình của vùng từ trên cao.

Lưu vào Places: lưu lại những vị trí đã tìm thấy.

Local Search: tìm một vị trí theo tên địa danh.

Directions: tìm đường đi trong các thành phố

Tính khoảng cách, diện tích.


KẾT LUẬN

Google đã mang lại cho chúng ta một hình thức tìm kiếm thông tin mới, giúp chúng ta khám phá và hiểu hơn về trái đất chúng ta đang sống

Mua vé máy bay Tết sớm sẽ rẻ hơn

,

Mua vé máy bay Tết sớm sẽ rẻ hơn

Jetstar Pacific Airlines vẫn còn vé máy bay giá rẻ dịp Tết Nguyên đán chặng TP HCM - Hà Nội. Vietnam Airlines tuyên bố mở vé khuyến mãi từ đầu tháng 12. Hai hãng khẳng định nhu cầu đi lại dịp này rất cao nên hành khách phải đặt chỗ sớm mới mong mua được.

Jestar Pacific Airlines cho hay, hiện tại, một số chuyến bay trong dịp Tết đã được bán hết vé như TP HCM đi Vinh, Huế, Đà Nẵng... Một số chuyến bay vẫn còn vé giá rẻ nằm ở chặng TP HCM đi Hà Nội với giá vé thấp hơn mức trần quy định (1,7 triệu đồng cho một chiều bay).
Vietnam Airlines bỏ phụ phí xăng dầu

Hiện Jetstar Pacific Airlines có hai loại vé linh hoạt và loại tiết kiệm, khách hàng đặt chỗ sớm sẽ mua được các giá vé khuyến mãi. Đối với khách hàng mua vé máy bay linh hoạt nếu chậm chuyến sẽ được bố trí đi trong những chuyến bay (nếu còn chỗ). Khách hàng cần gọi điện tới tổng đài của hãng để thông báo kế hoạch đổi chuyến trước giờ khởi hành là 24 giờ. Tuy nhiên, hãng cũng khuyến cáo trong dịp Tết, mật độ đi lại cao nên khả năng còn chỗ là rất thấp, nên các khách hàng cần ra sân bay đúng giờ.

Đối với vé tiết kiệm, khách hàng phải giữ đúng lịch trình. Nếu thay đổi lịch trình bay phải đóng thêm lệ phí và phải báo trước tối thiểu 24 giờ.

Khách hàng có thể đặt vé máy bay trực tiếp qua:
Hãng Vietnam Airlines: Tổng đài 08.38320320 & 04.38320320 hoặc các đại lý của hãng.
Website: www.vietnamairlines.com.vn

Hãng Jetstar Pacific Airlines: Tổng đài: 08.39550550 & 04.39550550 hoặc các đại lý của hãng.
Website: www.jetstar.com
Nguyễn Thanh Sơn - Trưởng phòng Bán và Phân phối Jestar Pacific cho hay, do giá xăng dầu giảm đáng kể từ 10/11, hãng đã giảm giá bán vé cho khách hàng trên tất cả các đường bay nội địa với tất cả loại các mức giá. Trong đó đường bay TP HCM - Hà Nội, giá vé cao nhất hiện tại là 1,72 triệu đồng, giá cũ là 1,87 triệu đồng.

Vietnam Airlines cũng đang gấp rút các kế hoạch bán vé khuyến mãi và tăng tần suất chuyến bay để đáp ứng nhu cầu đi lại trong dịp Tết. Hãng cho biết các loại vé thông thường được bán quanh năm theo lịch bay sẵn, khách hàng có thể đặt mua bất kể thời điểm nào trong năm tại các cửa hàng và đại lý của hãng. Tuy nhiên, các loại vé giá rẻ linh hoạt cho một số chặng bay Tết đã gần như không còn, do vậy, từ đầu tháng 12, hãng sẽ bán vé máy bay khuyến mãi.

Trong đó, các chuyến bay "lệch đầu" như Hà Nội - Đà Nẵng, Hà Nội - TP HCM trước Tết và từ Sài Gòn ra Hà Nội, Sài Gòn Đà Nẵng... sau Tết sẽ được giảm giá. Tránh trường hợp các đại lý không thông báo cho khách hàng vé giá thấp nhằm ăn hoa hồng lớn, Vietnam Airlines khẳng định sẽ quảng cáo các chương trình khuyến mại rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hãng cũng sẽ kiểm soát chặt từ khâu khách đặt vé đến lúc xuất vé để hạn chế trường hợp vé ảo (khách đến sân bay hết chỗ).

Dự báo nhu cầu đi lại của hành khách có thể tăng lên 30% trong dịp Tết Nguyên Đán, các hãng hàng không đều thông báo kế hoạch tăng chuyến bay. Vietnam Airlines tăng thêm 832 chuyến trên các tuyến Hà Nội - TP HCM và TP HCM - Đà Nẵng bắt đầu từ 10/1 đến ngày 9/2/2009 (tức là từ 15 tháng Chạp đến 15 tháng Giêng Âm lịch). Trong đó đường bay Hà Nội - TP HCM - Hà Nội tăng 430 chuyến, tương ứng 110.000 ghế. Chuyến sớm nhất khởi hành lúc 5h và muộn nhất lúc 23h, từ Hà Nội.

Đường bay TP HCM - Đà Nẵng - TP HCM sẽ tăng thêm 402 chuyến, tương ứng 73.000 ghế. Chuyến sớm nhất khởi hành lúc 5h30 từ TP HCM và muộn nhất lúc 23h45 từ Đà Nẵng.

Với các đường bay quốc tế, Vietnam Airlines đã tăng chuyến từ trong năm nên hãng hoàn toàn có khả năng cung ứng đủ nhu cầu của bà con Việt kiều về ăn Tết.

Phía Jetstar Pacific Airlines cũng lên kế hoạch tăng chuyến bay trong dịp Tết và dự kiến sẽ công bố trong tuần này.

Hồng Anh

Tìm hiểu về các loại pin, cách sạc và bảo quản

,

Pin Zinc carbon, Điện áp 1.5V

Đây là loại Pin đã có từ rất lâu. Pin carbon kẽm có giá rất rẻ. Đây là lựa chọn tốt cho các thiết bị tiêu thụ ít điện năng (đèn pin và đồ chơi). Các loại pin trong nước sản xuất như pin con thỏ , con ó...thường thuộc loại này. Do có nội trở cao, bạn không sử dụng loại pin này cho các thiết bị như máy ảnh được. Pin có thể duy trì cho các thiết bị có dòng nhỏ như đồ chơi, bảng điều khiển. Chú ý rằng, nếu dùng lâu mà không kiểm tra, dung dịch điện phân trong Pin có thể sẽ chảy ra phá hỏng các tiếp điểm gá pin, nếu chảy vào mạch điện, có thể gây chập, hỏng mạch. Nên kiểm tra thường xuyên 2-3 tháng hoặc thay luôn khi thấy có hiện tượng vỏ pin ẩm hoặc phồng (Có thể pin vẫn còn cung cấp được điện, nhưng nếu để dùng tiếp, pin sẽ chảy) Mức tự xả của pin tròn carbon kẽm tối đa là 4%/năm.

Pin Alkaline (Pin kiềm) Điện áp 1.5V.
Có thể mua được pin loại này khá dễ dàng. Nếu bạn dùng với máy ảnh số thì thời gian sử dụng sẽ ngắn. Tuy vậy với giá khá rẻ pin Alkaline vẫn là lựa chọn của nhiều người. Pin Alkaline có chất lượng tốt trên thị trường do các hãng danh tiếng như Fuji hay Duracell sản xuất. Khi sử dụng điện áp và khả năng chịu tải của pin alkaline giảm dần dần . Nhờ vậy, người dùng có thể nhận biết được thời điểm hết pin.

Pin alkaline có nội trở nhỏ, khả năng chịu tải cao, có thể bảo quản trong nhiều năm, suy yếu trung bình 2%/năm. Pin có thể sử dụng tốt cho những thiết bị tiêu thụ dòng nhỏ như đồng hồ treo tường hoặc điều khiển các loại như Tivi, điều hòa... Chú ý về Pin như Pin Cacbon kẽm.




Niken Cadimi (Ni-Cd), điện áp 1.2V
Ni-Cd, là Pin có nội trở nhỏ do đó rất phù hợp khi dùng với máy ảnh số, đèn flash.... Pin này có số lần sạc lại nhiều nhất, lên tới 1000 lần, tuy nhiên bạn phải cẩn thận khi sử dụng vì pin Ni-Cd rất độc.

Một trong số các yếu điểm của pin Ni-Cd là điện thế giảm đột ngột ở cuối chu kỳ xả. Sự giảm đột ngột này không nhanh bằng pin Ni-MH nhưng thấy rõ so với pin Alkaline. Vì vậy, để tránh “cái chết đột ngột này” bạn nên có pin dự phòng khi đi xa hay làm những việc quan trọng.

Một đặc điểm Ni-Cd là hiệu ứng nhớ (memory effect). Đây là hiện tượng suy giảm tuổi thọ nhanh chóng nếu không sử dụng pin đúng cách. Hiện tượng này được giải thích như sau: khi bạn sạc pin Ni-cd với dòng sạc nhỏ hoặc dùng pin không kiệt đã sạc lại thì một số hợp chất hoá học sẽ tích tụ ở cực âm của pin. Nếu bạn tiếp tục sạc kiểu này, các hợp chất tích tụ ngày càng nhiều thêm và làm giảm khả năng tích lũy năng lượng. Cách tốt nhất để tránh hiện tượng này là dùng pin cho đến hết hay xả trước khi sạc. Các bộ sạc pin Ni-Cd tốt thường có nút bấm để xả pin rồi tự động sạc khi điện áp tụt đến mức thấp nhất.

+Pin Ni-MH (Nickel Metal Hidride) Điện áp 1.2V.
Pin Ni-MH dạng “AA” có thể dùng với hầu như tất cả các thiết bị đang dùng pin Alkaline và Ni-Cd. Pin Ni-MH có khả năng lưu trữ năng lượng tốt và nội trở nhỏ. Đây là lực chọn phổ biến vì pin Ni-MH có hiệu ứng nhớ ít hơn Ni-Cd và dung lượng pin cao hơn hai lần pin Ni-Cd. Với pin này bạn có thể sạc bất cứ lúc nào mà không cần phải xả pin.Tuy nhiên nếu dùng liên tục trong tình trạng đó, pin vẫn bị chai. Ngoài ra nó có thể bị hỏng vì nhiệt nếu sạc quá lâu. Bạn nên sử sụng bộ sạc pin chất lượng cao. Có điều khiển tự động để tránh điều này.Khi mua pin Ni-MH, bạn nên mua các loại có dung lượng cao (cỡ 1800mAh trở lên). Trên thị trường bạn có thể mua pin Ni-MH của các hãng như Sanyo, Panasonic, Sony... có dung lượng 2000-2500mAh với giá khoảng 140.000 - 250.000 đ/vỉ 4 viên cỡ AA. một lưu ý nữa là không nên dùng sạc của pin Ni-Cd cho pin Ni-MH để tránh cháy, nổ pin nhất là khi dùng bộ sạc nhanh. Sau khi sạc hãy bỏ pin khỏi bộ sạc để tránh hao điện trong pin.


Pin silver oxide (oxit bạc) Điện áp 1.5V.
Đôi khi ta thấy Pin này có điện áp 6V hoặc 12V. đó là do có nhiều pin nhỏ nối tiếp ở bên trong. Pin này hoạt động được trong môi trường nhiệt độ thấp, nội trở nhỏ và có khả năng chịu tải xung.

Pin silver có độc tính cao không thông dụng do giá rất đắt. Bạn có thể thấy loại pin này trong một số loại đồng hồ, máy trợ thính, và các máy ảnh tiêu thụ ít năng lượng. Ngoài ra, do Pin khi hết không chảy nước nên rất được ưa chuộng khi gắn trực tiếp lên bo mạch như Pin CMOS trong máy vi tính.



Pin Lithium-lon (Li-lon) Điện áp 3.7V
Pin Li-ion hiện nay được sử dụng trong nhiều trong các thiết bị cao cấp như điện thoại di động, PDA, máy ảnh đắt tiền và máy tính xách tay...nó có thể lưu trữ nhiều năng lượng hơn pin Ni-Cd và Ni-MH trên cùng một dung tích, nhưng cũng đắt hơn nhiều do công nghệ chế tạo và chất liệu được sử dụng. Trong mỗi viên pin Li-ion thường có mạch điều khiển quá trình sạc và bảo vệ pin. Một khối Pin máy tính xách tay có thể có nhiều viên Pin (Cell) ghép lại để có được điện áp và dòng đủ lớn. Ví dụ Pin có điện áp 14.8V tức là có 4 viên Pin 3.7V nối tiếp nhau (4 cells).

Pin Li-ion suy giảm chất lượng theo thời gian bất kể bạn dùng hay không dùng nó. Vì vậy khi mua pin, bạn cần được đảm bảo rằng pin mới được sản xuất. Bạn có thể sạc pin bất cứ lúc nào, đầy hay hết không quan trọng nhưng Pin sẽ giảm chất lượng sau mỗi lần sạc. đó là lý do tại sao các chương trình kiểm tra pin ( Batterymonitoring) trên máy tính xách tay đếm cả số lần sạc pin. Thường thì tuổi thọ của Pin khoảng 500 lần sạc, nhưng khi đó Pin chỉ còn 20-30% dung lượng so với ban đầu.(.Cấu tạo chi tiết.)

Pin Lithium-Polymer (Li-Po) Điện áp 3.7V
Là thế hệ pin mới và cũng đắt tiền nhất nên chỉ xuất hiện trong các thiết bị PDA và điện thoại di động cao cấp. Pin Li-Po có chất điện phân dạng rắn khác với điện phân lỏng như hầu hết các loại pin khác. Điều đó có nghĩa nó có trọng lượng nhẹ hơn nhiều so với các loại pin khác và nhà sản xuất có thể chế tạo pin Li-Po với bất kỳ hình dạng nào. Như Pin theo hình bên là Pin cho PDA SONY NR70V. Pin chỉ có chiều dày 2mm. Đựng trong túi Polimer và có dòng cung cấp tới 1200mAh.

Pin Li-Po nhẹ và có khả năng lưu trữ năng lượng nhiều hơn bất kỳ loại pin nào kể trên vì vậy rất được ưa chuộng và sử dụng phổ biến trong các thiết bị cầm tay hiện nay . Các chú ý về cách sử dụng cũng như các đặc tính Pin này cũng như Pin Li-ion.





Cách bảo quản pin sạc của máy ảnh số






Cách bảo quản và sạc pin của máy kỹ thuật số tượng tự như cách bảo quản và sạc pin nói chung:
1. Không để pin ở nơi có nhiệt độ quá nóng hay trong môi trường quá ẩm.
2. Không để pin quá lâu trong máy nếu không sử dụng (5 ngày hoặc lâu hơn). Tốt nhất là nếu không dùng máy thì tháo pin ra.
3. Không xạc quá lâu (không nên quá 24h liên tục). Các pin sẽ có hướng dẫn sử dụng. Ví dụ sạc lần đầu 5 tiếng, lần 2 sạc 4 tiếng...
4. Một số pin yêu cầu phải "xả" hết điện (discharge) trước khi xạc. Nhiều bộ sạc có nút "xả" pin trước khi sạc. Tuy nhiên hầu hết các loại pin mới không yêu cầu điều này.
5. Không sử dụng lẫn lộn pin mới (xạc) và cũ.
6. Không sạc pin bằng bộ sạc không tương thích. Nhìn chung cần đọc kỹ và làm theo hướng dẫn sử dụng của pin và của các thiết bị nói chung.




Download Opera, the fastest and most secure browser
December 2009
S M T W T F S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31