Skip navigation

Lost password? | Help

Thánh Tản Viên - www.thanhtanvien.com

Việt Nam - Cội nguồn tâm linh

PHONG THỦY ĐỊA LINH

PHONG THUỶ

Thuyết Phong Thuỷ là một thuyết cổ của Đông Phương có mục đích nghiên cứu địa thế cảnh quan, sử dụng địa thế cảnh quan để lựa chọn địa điểm cho các công trình kiến trúc:

Dương Trạch

Nhà ở, cung thất, chùa chiền, đô thị.

Âm trạch

Lăng, mộ

KHÍ: CƠ SỞ BẢN THỂ CỦA THUYẾT PHONG THỦY

Thuyết Phong Thuỷ dựa trên hai cơ sở sau:

Cơ sở 1: Khái niệm Khí, hay Sinh Khí, Nguyên Khí. Mối quan hệ giữa Khí và sông, núi.

Cơ sở 2: Nguyên lý Thiên-Địa-Nhân hợp nhất.

KHÍ

Khí hay Sinh Khí hay Nguyên Khí được xem là bản thể, nguồn gốc của vạn vật. Khí còn gọi là Long (Rồng).

(Gồm Khí Tiên thiên và Khí Hậu Thiên hiện nay được gọi là plasma sinh học)

Nguyên Khí được xem là gắn bó với nước: Nước giúp Khí di chuyển. Nước di chuyển thì Nguyên Khí cũng di chuyển, nước dừng lại thì Nguyên Khí cũng dừng. Sinh Khí tụ mạnh nhất tại các nơi giao hội của nước (nơi giao hội của các dòng sông chẳng hạn)

(Bạn đọc có thể liên hệ với tính năng của Sinh Khí là được hấp thu trong nước. Sinh Khí làm tăng sức căng mặt ngoài của nước)

Nguyên Khí cũng được xem là gắn bó với núi (hay Sa). Từ đó, quan sát hướng đi của núi (hay sơn mạch), ta có thể tìm được Nguyên Sinh.

Có khí lành (cát Khí) và có Khí dữ (hung Khí). Sự lành dữ của khí có thể phụ thuộc vào phương hướng.

Những điểm lớn tập trung Nguyên Khí (cát Khí) gọi là Địa Linh.

Loan Đầu

Phần đầu của thuyết Phong Thuỷ nghiên cứu HÌNH THẾ: SƠN MẠCH, HÀ LƯU để xác định hướng đi, chỗ tụ của Nguyên Khí hay Sinh Khí gọi kà Loan Đầu.

Thiên Tinh

Phần của thuyết Phong Thuỷ nghiên cứu lý luận về Sinh Khí gọi là Thiên tinh. Phần này còn gọi là LÝ KHÍ (lý luận về sinh khí).

Về Lý khí thì phải sử dụng một công cụ la bàn đặc biệt gọi là LA KINH, cốt để ĐỊNH HƯỚNG theo nhiều tiêu chuẩn cụ thể khác nhau trên cơ sở Hà Đồ, Lạc Thư, Ngũ Hành sinh khắc, Tiên thiên Bát Quái, hệ 64 Quẻ Hỗn Thiên, Lộc Tinh, Thiên Mã, Quý Nhân.

Tất nhiên, hai phần trên có quan hệ với nhau:

Hình thế không đẹp mà Lý khí quyết định tốt thì cũng dùng tạm được.

Hình thế đẹp mà Lý khí quyết định sai (đất tốt nhưng cách táng xấu), hay đồi núi bình thường và họ-nếu có thể-cần phải tìm cách xác định lý khí (phương hướng) cho tốt, để con cháu có cơm no, áo ấm, có cuộc sống bình an.

NGUYÊN LÝ THIÊN - ĐỊA - NHÂN HỢP NHẤT TRONG THUYẾT PHONG THUỶ

Thuyết Phong thuỷ với cả hai phần Âm trạch và Dương trạch, quan niệm con người có quan hệ hữu cơ với Trời Đất, cả khi sống, cả khi đã chết (ảnh hưởng đến con cháu còn sống, bạn đọc lưu ý đến các cơ thể vô hình của nhân thể):

Về Thiên, chấp nhận có Sinh Khí giáng xuống (Dương giáng) trên các đỉnh núi cao, chấp nhận tác động của các vì sao lên con người, như hệ Nhị Thập Bát Tú.

Về Địa, chấp nhận có Sinh Khí (gọi là Long) chảy theo các mạch nước, tụ lại, (như đã nói trên đây) và thăng lên (Âm thăng, Thăng Long-Hà Nội), có thể định được các phương hướng tốt xấu cho Dương Trạch, Âm trạch.

Về Nhân, có thể xác định được Dương phần, Âm phần, phúc hoạ, mệnh, thân. Người có đức lớn ắt sẽ gặp được cơ may tìm thế đất tốt.

Ý nghĩa của thuyết Phong Thuỷ về mặt khoa học rất lớn, vì dẫn đến những quan niệm chính xác, sâu xa hơn về Quả Đất, cái nôi của nhân loại chúng ta.

TẠI SAO DÙNG HAI CHỮ PHONG THỦY?

Người xưa dùng hai chữ Phong Thuỷ vì lý do phải tạo điều kiện tụ khí như sau:

Phong tàng (gió ẩn), Thuỷ hộ thì khí tụ

Phong phiêu (gió thổi), Thuỷ đăng (nước thoát tuỳ tiện) thì khí tán.

Khí đi với nước, như đã nói ở trên.

Còn về gió? Yếu tố này có khả năng thổi bạt khí, khí bị tản mát, không tụ được. Điều này cũng đóng vai nguyên tắc khi bảo vệ Khí tại Luân Xa Bách Hội:

Nếu chuyển động nhanh thì nên đội mũ để gió khỏi tán khí trên đỉnh đầu.

Khi ngồi thiền, không được để quạt chạy ngay trên đầu.


1. Điểm chính trong Phong thủy Địa linh

2. Vấn đề sinh khí trong thuyết phong thủy

3. Đất nước ta với địa linh

4. Văn chương và khoa học

5 Tầm quan trọng của Sinh khí trong đất đai

6. Cao Biền Tấu Thư Đại Lý Kiều Tự

7. Loan đầu

8. Một số thế đất (Phần 1)

9. Một số thế đất (Phần 2)

10. Một số thế đất (Phần 3)

11. Bác Hồ với vùng đất thiêng Tản Viên Sơn

12. Đất thiêng một giải nghiệm

13. Khu di tích Đá Chông (K9)

www.thanhtanvien.com

THIÊN ĐỊA NHÂN

Nguyên lý Thiên - Địa - Nhân hợp nhất PDF Print E-mail
Do sự tồn tại của Đại ngã trong cấu trúc và bản thể của mình con người hợp với “Trời, Đất “ thành Một . Đó là nội dung của nguyên lý Thiên Địa Nhân.

Về mắt sinh học nguyên lý đó biểu hiện như sau:

Năng lượng của trời đi xuyên qua luân xa 7 Bách hội, rồi chảy xuống theo con đường tủy sống. Mặt khác năng lượng của Đất đi qua luân xa 1 Hội âm, rồi chảy lên phía trên , cũng theo con đường tủy sống. Theo Phương Đông, Trời được coi là Dương còng Đất là Âm. Như thế trong con người Dương giáng Âm thăng. Chính hai quá trình Dương giáng Âm thăng này của năng lượng Trời Đất trong tủy sống của nhân thế đã tạo ra được mọi nguồn năng lượng cho sự sống của con người .Do các năng lượng này giao nhau nên người xưa nói rằng con người là vạch nối giữa đất và trời.

Nền văn hóa truyền thống Việt Nam đó đã mang trong long nó một tinh hoa nào đó. Và một số câu hỏi cần đặt ra một cách rất nghiêm túc. Những chiến công hiển hách của dân tộc chúng ta từ trước đến nay phải chăng là do một sức mạnh của một tinh hoa nào đó của chính dân tộc chúng ta,. Nếu vậy, tinh hoa đó là gì và tìm ở nơi đâu.?

Theo lịch sử, một trong những vấn đề có liên quan là vấn đề Địa Linh và Địa Linh sinh Nhân Kiệt.

Trong Văn Miếu Quốc Tử Giám Có Đoạn “Hiền tài là nguyên khí của đất nước …….”

Tất nhiên hiền tài với nhân kiệt là đồng nghĩa. Còn nguyên khí chính là bản thể của Địa Linh. Đất nước chúng ta có những Địa Linh như Núi Tản Viên, Tam Đảo , Ngũ Hành Sơn , núi Yên Tử , Hồ Tây , Hồ Hoàn Kiếm, Chùa Hương.

Điều quan trọng là đề ra một cách thực nghiêm túc các nguyên tắc , phương pháp bảo vệ các Địa Linh đó và tìm hiểu nghiên cứu về các địa linh này.

Địa Linh liên quan đến Núi và Sông

Philippin là án của Viêt Nam theo thế đất phong thủy


Chẳng hạn, nguyên khí từ Trời xuống trên rặng núi Hymalaya theo hình xoắn lốc, xem như một anten. Dẫy núi này vươn cao ở hai đầu giữa là Bình nguyên Tây Tạng. Về phía Ấn Độ là đỉnh Kailas, về phí Trung Quốc là đỉnh Côn Luân. Thiên nguyên khí sau khi xuống đỉnh Kailas, sẽ thấm vào một hố tròng gọi là hố tròn Manasovara , nước hồ là một trường hấp thụ nguyên khí đó. Nguyên khí này được 4 dòng sông Bramaputas, Indus, Kamakli ,Stulej mang theo và tạo nên nền văn minh Ấn Độ.

Còn Thiên nguyên khí xuất phát từ đỉnh Côn Luân sẽ thấm vào một hồ hình bán nguyệt tên là Raskatal và được hai dòng sông Hoàng Hà và Dương Tử mang đi để tạo nên nền văn minh Trung Hoa.

Cuối cùng dòng sông thứ năm xuất phát từ hồ Manasovara là Cửu Long Giang đi băng qua Vân Nam, Lào, Campuchie và chảy về Việt Nam suốt từ Bắc chí Nam dọc theo dẫy Trường Sơn ở đó nó lại mang them nguyên khí của dẫy núi này và tạo nên nền văn minh Việt.

Các địa linh lại liên quan đến một hệ thống nào đó gọi là Hàng rào tâm linh, quan hệ hữu cơ đến các hiền tài, các anh hùng dân tộc là một hệ thông tinh hoa tạo nên nền văn hóa dân tộc và che chắn cho dân tộc.

Chiến lược giáo dục tương lai cho con em chúng ta sẽ liên quan đến các vấn đề phát hiện, bảo vệ và phát triển Tinh hoa trên như thế nào?
www.thanhtanvien.com

Quy luat 4 ( Luật cố gắng tối thiểu )

“Lý tính của vạn vật đi con đường tự nhiên. Nó hoạt động với sự vô tư, hài hoà tình thương”

Có lẽ nên gọi định luật này là luật Bất Phản Kháng, vì theo ý chúng tôi, những từ “cố gắng tối thiểu” có thể gây hiểu lầm vì nội dung ươn lười, mặc kệ. Trong vũ trụ, định luật này cho phép mỗi vật có chỗ đứng của mình vào đúng thời gian qui định, vì nó cho phép vạn vật đơn giản ĐƯỢC HIỆN HỮU.

Nếu chúng tôi quan sát vạn vật đang vận hành, chúng ta thấy là vạn vật đi theo con đượng tự nhiên. Cỏ không cần cố gắng mọc, nó mọc. Cá không phải cố gắng để bơi, chúng bơi. Bông hoa không cần cố gắng để nở, chúng nở. Chim chóc không cố gắng để bay, chúng bay. Tất cả đều tuân theo qui luật nội tại. Trái Đất không cần cố gắng để xoay quanh trục, chính tính chất của Trái Đất làm cho nó quay với vận tốc chóng mặt, lao vào không gian. An nhiên là bản tính của trẻ thơ. Chiếu sáng là bản tính của mặt trời. Rực rỡ, nhấp nháy là bản tính các vì sao. Chấp cánh cho những ước mơ của mình trở thành hiển hiện và có dạng vật chất là bản tính của con người, điều này dĩ nhiên không cần phải cố gắng.

Trong nền minh triết Vệ - Đà của Ấn Độ, nguyên lý này được biết đến như là nguyên lý của sự tiết kiệm nỗ lực, hay “làm ít mà thành tựu nhiều”. Nguyên lý này đưa chúng ta đến giai đoạn cuối cùng là không làm gì hết mà lại thành tựu mọi thứ. Nó cho phép một ý tưởng mong manh nhất được biểu hiện mà không phải tốn chút nỗ lực nào. Điều mà ta thường gọi “phép lạ” thật ra chỉ là biểu hiện của Định Luật Cố Gắng Tối Thiểu.

Lý tính của vũ trụ vận hành không khó khăn, không va chạm, một cách tự phát. Nó không theo đường thẳng mà có tính trực giác, toàn bộ và phong phú. Cho nên khi chúng ta hài hoà với vũ trụ, khi chúng ta căn cứ và sự hiểu biết về chân Ngã, chúng ta có khả năng áp dụng Định Luật Cố Gắng Tối Thiểu.

Điều mà chúng ta nhận thấy là sự cản trở lớn lao nhất, làm tiêu hao nhiều năng lực nhất trong đời sống chúng ta là sự cản trở từ cái Ngã của mình. Sự thoả mãn cái Tôi này đòi hỏi một lượng năng lượng to lớn và nếu cái Tôi này bị què quặt, tất cả năng lượng để chúng ta sử dụng sẽ tiêu tốn vào cái vực không đày này.

Vũ trụ được tạo dựng bằng năng lượng của tình thương. Khi việc làm của chúng ta xuất phát từ tình thương, nó mở ra con đường của sự cố gắng tối thiểu. Nếu chúng ta đi tìm quyền lực và sự áp đặt đối với người khác, chúng ta huỷ hoại năng lượng. Khi chúng ta mong muốn tiền bạc hoặc quyền lực cho chính mình, chúng ta ngăn chặn dòng điện năng đến với chúng ta và can thiệp vào sự biểu hiện lý tính của vũ trụ. Nhưng khi việc làm của chúng ta bắt nguồn từ tình thương, năng lượng của chúng ta được nhân lên và tích luỹ.

Hãy xem thân xác của chúng ta như một thiết bị kiểm tra năng lượng nó có thể tạo ra năng lượng, tích luỹ và tiêu xài năng lượng. Nếu chúng ta biết tạo ra, tích lũy và tiêu xài năng lượng một cách có ích, chúng ta có thể tạo ra bất kỳ sự giàu có nào. Sự chú ý đến cái Tôi tiêu hao số lượng lớn về năng lượng. Khi điểm qui chiếu nội tại là cái Tôi, khi mong muốn có được quyền lực và kiểm soát người khác, hoặc đi tìm sự đồng tình của người khác, chúng ta hủy hoại hoàn toàn năng lượng.

Một khi được giải phóng, năng lượng có thể được tích trữ và sử dụng để tạo mọi thứ chúng ta mong muốn, Nếu điểm qui chiếu nội tại là tinh thần, nếu chúng ta miễn nhiễm với lời chỉ trích và an nhiên trước bất kỳ thử thách nào, chúng ta có khả năng để cho sức mạnh của tình thương cưu mang chúng ta, như vậy, chúng ta có thể sử dụng năng lượng một cách sáng tạo, thể nghiệm sự giàu có và sự tiêu hóa.

Hài hoà với định luật Bất Phản Kháng là không đối nghịch lại những gì đang xảy ra chung quanh ta, không sử dụng cái Tôi của mình chống lại diễn tiến đang phải xảy ra, là để cho mình xuôi dòng chớ không kháng cự lại.

Có ba phần tạo thành Định Luật Cố Gắng Tối Thiểu – ba cách hành động giúp cho việc thực hiện nguyên lý “Làm ít mà thành tựu nhiều”

Phần thứ nhất là sự chấp nhận. Nó chỉ đơn giản đòi hỏi chúng ta có quyết định sau đây: “Ngày hôm nay, tôi chấp nhận những con người, hoàn cảnh và tình huống xảy đến một cách tự nhiên” Tôi biết rằng giây phút này là phải như vậy, bởi vì toàn thể vũ trụ hiện hữu như nó phải như thế. Giây phút này, giây phút ngay đây mà chúng ta đang thể nghiệm, là đỉnh điểm của mọi phút giây mà chúng ta đã thể nghiệm trong quá khứ. Giây phút này là như vậy bởi vì toàn thể vũ trụ này là như thế.

Khi chúng ta phản kháng lại phút giây này, chúng ta phản kháng lại toàn vũ trụ. Vậy ngày hôm nay, khi quyết định không phản kháng lại giây phút hiện tại, chúng ta thôi không lên án vũ trụ. Việc chấp nhận của chúng ta trở thành toàn diện và đầy đủ. Chúng ta chấp nhận những sự việc như chúng đang xảy ra chớ không phải như ý chúng ta muốn vào lúc ấy. Điều quan trọng cần phải hiểu chúng ta có thể mong muốn sự việc khác hơn trong tương lai song vào lúc này, chúng ta phải chấp nhận chúng như đang xảy ra.

Khi chúng ta cảm thấy bị mất mát hay bực bội vì một người hay một hoàn cảnh, nên nhớ là chúng ta không phải đang phản ứng lại với người đó hay hoàn cảnh đó, mà là phản ứng lại với những tình cảm mà người đó hay hoàn cảnh đó làm nảy sinh ở chúng ta. Đó là những tình cảm của ta. Chúng không xuất phát từ một người nào khác. Khi chúng ta nhìn nhận và hiểu sâu xa thực tại này, chúng ta sẵn sang nhận lãnh trách nhiệm của những gì chúng ta cảm nhận và sẵn sàng thay đổi. Nếu chúng ta có thể chấp nhận sự việc như chúng đang xảy ra, từ đây trở đi chúng ta có đủ khả năng đảm đương toàn bộ trách nhiệm của hoàn cảnh chúng ta đối với mọi biến cố mà chúng ta xem là khó khăn, trở ngại.

Điều này đưa chúng ta đến phần thứ nhì của Định Luật Cố Gắng Tối Thiểu: trách nhiệm. Từ này có ý nghĩa gì? Nó muốn nói là không phê phán ai hết - kể cả chính mình hoặc bất cứ điều gì cho hoàn cảnh xảy đến cho chúng ta. Nếu chúng ta chấp nhận hoàn cảnh, sự kiện, vấn đề, việc nhận lãnh trách nhiệm này đem lại cho chúng ta khả năng tìm ra câu trả lời có tính sáng tạo cho hoàn cảnh đang xảy ra hôm nay. Mỗi khó khăn chứa đựng những hạt giống thuận lợi. Sự chú ý này cho phép nắm bắt phút giây và biến nó thành một thực tại hoặc một tình huống tốt đẹp hơn. Nếu chúng ta áp dụng nguyên lý này, tất cả các đao phủ và tất cả các nhà độc tài trở thành thầy của chúng ta.

Thực tại là một sự diễn dịch. Nếu chúng ta chọn việc diễn dịch thực tại theo nguyên lý này, chúng ta sẽ có nhiều vị thầy và nhiều cơ hội tiến hoá bao quanh ta. Mỗi lần chúng ta đối mặt với một kẻ độc tài, một đao phủ, một giáo viên, một người bạn hay một kẻ thù (thực ra chỉ như nhau), đừng quên là: “Phút giây này hiện có như nó phải thế”. Toàn bộ những mối liên hệ mà chúng ta lôi kéo về mình vào phút giây chính xác này thật ra là những mối liên hệ chúng ta đang cần. Đằng sau mỗi sự kiện đều che giấu một ý nghĩa. Ý nghĩa che giấu này nhằm giúp chúng ta tiến hóa.

Phần thứ ba của Định Luật Cố Gắng Tối Thiểu là sự buông xả. Sự buông xả nhắn nhủ chúng ta từ bỏ nhu cầu thuyết phục người khác rằng quan điểm của chúng ta là đúng đắn. Theo cách này, chúng ta lưu ý việc từ bỏ bảo vệ ý kiến của mình. Nếu quan sát những người chung quanh ta, chúng ta thấy là 90% thời giờ của họ được dùng để bảo vệ ý kiến của mình. Nếu chúng ta từ bỏ việc bảo vệ ý kiến, bản thân việc từ bỏ này giúp ta tiếp cận với một năng lượng to lớn, năng lượng mà đến giờ ta thường phung phí.

Khi chúng ta ở vị thế bảo vệ, khi chúng ta lên án người khác và không chấp nhận được việc buông xả vào phút giây hiện tại, đời sống của chúng ta sẽ vấp phải sự phản kháng. Mỗi lần gặp sự phản kháng, hãy ý thức điều này. Càng chống đối lại cảnh ngộ, sự đối kháng sẽ càng lớn. Ích lợi gì nếu chúng ta cứng nhắc như cây sồi để rồi bị gãy đổ trong bão táp? Hãy mềm dẻo như cây sậy, sở dĩ tồn tại được vì nó uốn cong trong giông bão.

Hãy hoàn toàn từ bỏ việc bảo vệ quan điểm của mình. Khi không có gì để bảo vệ, chúng ta ngăn chặn không cho các mối xung đột nảy sinh. Nếu chúng ta tinh tấn – không còn gây hấn và phản kháng – chúng ta sẽ sống trọn vẹn phút giây hiện tại. Đấy là món quà. Hãy nhớ tư tưởng này, mà tôi đã được nghe: “Quá khứ là lịch sử, tương lai là bí ẩn, hiện tại là tặng vật”. Chính vì thế mà phút giây này được gọi là hiện tại (trong tiếng Pháp, hiện tại là présent, món quà cũng gọi là présent).

Nếu chúng ta ôm hiện tại vào lòng và làm một với nó, nếu chúng ta căn cứ vào hiện tại, chúng ta sẽ biết được ngọn lửa, tia chớp và ánh rực rỡ của sự xuất thân bập bùng ở mỗi chúng sinh hữu tình.

Hãy đi con đường Bất Phản Kháng. Đó chính là đường đi của lý tính vạn vật, qua đó vũ trụ phô bày ra, không va chạm, không cần nỗ lực. Khi chúng ta sống trong sự phối hợp của việc chấp nhận, trách nhiệm và buông xả, chúng ta đi theo triều lưu của sự sống. Chúng ta không còn gì phải cố gắng.

Nếu chúng ta mở rộng ra với mọi quan điểm – không cứng nhắc chấp vào bất kỳ quan điểm nào - ước mơ và mong muốn của chúng ta sẽ tuôn chảy cùng một dòng với vũ trụ. Lúc ấy, chúng ta có thể giải thoát những ý tưởng của mình, bằng cách tự mình tách rời khỏi chúng, Chỉ cần chờ để những ý tưởng ấy nở hoa thành hiện thực. Khi giây phút ấy xảy ra, chúng ta biết rõ là những ước mơ của mình đã thành tựu. Đó chính là Qui Luật của sự Cố Gắng Tối Thiểu.
www.thanhtanvien.com

Quan điểm tâm linh 3

Tóm lược:

Định luật đầu tiên về Tiềm Năng Thuần Tuý cho phép chúng ta ý thức được rằng chúng ta đang đắm chìm trong trưởng của mọi khả năng: rằng những khả năng bẩm sinh là vô tận. Chỉ cần chúng ta nối với trường này là những khả năng ấy được hiển hiện.

Định luật thứ nhì giúp chúng ta hiểu rằng sự luân lưu của những của cải (vật chất và phi vật chất) trong vũ trụ tuần theo định luật Cho và Nhận và rằng chúng ta có thể tham gia vào sự vận động này bằng cách tham dự vào việc Cho và Nhận những của báu của đời sống, cho dù chúng thuần túy là vật chất như tiền bạc, quà cáp hay mang tính chất tinh thần hơn như sự quan tâm, lòng kính trọng và tình thương.



QUI LUẬT THỨ BA: LUẬT NGHIỆP BÁO

Karma là một từ có nguồn gốc Ấn Độ và có nghĩa là việc làm (hành động). Có lẽ cần phải thay thế tên của định luật này bằng một thuật ngữ để phương Tây hiểu dễ dàng hơn. Luật Nhân Quả. Một hành động chắc chắn gây ra một hậu quả: một nguyên nhân luôn luôn đưa đến một kết quả. Không một nguyên nhân nào mà không đưa đến kết quả và không kết quả nào mà lại không có nguyên nhân. Khi chúng ta dùng nắm tay đập vào bức tường, không thể nào chúng ta không cảm thấy đau. Sẽ thật ngây thơ mà tin rằng trong điều kiện bình thường, người ta có thể dùng sức mạnh đạp vào bức tường mà không cảm thấy chút đau đớn nào. Đó là hai khía cạnh của một thực tế: mặt phải và trái của cùng một trang giấy.

Vậy, nếu đi liền với nguyên nhân là kết quả - như trong trường hợp bàn tay đập vào tường – người ta chấp nhận mối liên hệ giữa chúng. Nhưng nếu giữa nguyên nhân xảy ra và kết quả nhận thấy được có một khoảng cách thời gian, con người bình thường cảm thấy vô cùng khó khăn để chấp nhận mối liên hệ. Đi đến cùng, người ta không thể chấp nhận ý tưởng cho rằng những khổ đau hiện tại là hậu quả của việc mình đã gây ra trong tiền kiếp. Chẳng qua vì người ta đã quên. Nhưng Luật Nhân Quả thì không quên. Thế gian này được điều hành bằng một sự công bằng tuyệt đối thuộc loại “vay-trả”

Định luật thứ ba của sự thành công là Luật Nghiệp Báo. Karma cùng lúc chỉ hành động và kết quả của hành động. Karma đồng thời là nguyên nhân và cũng là kết quả, vì mỗi hành động làm phát sinh một lực tác động ngược lại chúng ta, giống như hành động đã được thực hiện. Không có gì là trong Luật Nghiệp Báo. Mọi người đều biết câu: “gieo gì, gặt nấy”. Như thế, một cách hiển nhiên nếu chúng ta muốn tạo dựng sự an lạc trong nhiều đời, chúng ta cần học cách gieo hạt an lạc. Luật Nghiệp Báo đòi hỏi ở chúng ta một sự lựa chọn có ý thức.

Hiểu được Luật Nhân Quả đưa đến việc nhận thức một trách nhiệm cá nhân lớn lao hơn: chúng ta phải gánh chịu mọi hậu quả tốt và xấu từ việc làm của chúng ta, cho dù những hậu quả này diễn ra hàng chục năm, hàng trăm hoặc hàng ngàn năm sau. Và hệ quả của trách nhiệm này là sự cần thiết phải ý thức mọi việc làm của chúng ta bất kể bất kể tầm quan trọng của chúng.

Bạn và tôi, chúng ta có vô vàn sự chọn lựa. Vào bất kỳ lúc nào của cuộc sống, chúng ta ngụp lặn trong trường của mọi khả năng. Trường khả năng này đưa ta tiếp cận với vô vàn sự lựa chọn. Có những sự lựa chọn hoàn toàn có ý thức, có những lựa chọn không có ý thức. Cách tốt nhất để hiểu Luật Nghiệp Báo và sử dụng nó một cách tối ưu là trở nên có ý thức trong sự lựa chọn của mình.

Muốn hay không muốn, những gì xảy đến cho ta lúc này là kết quả của những lựa chọn chúng ta đã làm trong quá khứ. Khổ thay, nhiều người trong chúng ta có những quyết định không ý thức và do dó không nghĩ rằng mình đã thực sự chọn lựa. Thực ra, chính là họ đã chọn.

Nếu có người nào chửi mắng ta, có thể quyết định là mình bị xúc phạm. Nếu người khác khen ngợi mình, có thể chúng ta quyết định là mình sung sướng hoặc hãnh diện. Song hãy nghĩ điều này: chính quyết định là ở chúng ta. Có thể chúng ta bị xúc phạm, bị chửi mắng và chúng ta chọn là mình không bị xúc phạm. Chúng ta có thể đón nhận một lời khen và quyết định là chúng ta chẳng thấy hãnh diện.

Nói cách khác, nhiều người trong chúng ta – dù rằng tự do vô hạn – trở thành tù nhân của những phản xạ có điều kiện, những phản ứng có thể tiên đoán trước. Những phản xạ này giống những phản xạ mà Pavlov đã khám phá. Nhà khoa học này đã nổi tiếng bằng cách chứng mình rằng cứ mỗi lần rung chuông, người ta lại cho con chó ăn. Con chó chẳng mấy chốc bắt đầu chảy nước miếng khi nghe rung chuông. Nó đã liên kết hai sự kích thích với nhau.

Hầu như hết thảy chúng ta là nạn nhân của những điều được quy định. Những đáp ứng của chúng ta đối với những kích thích đến từ môi trường chung quanh thì lặp đi lặp lại và có thể tiên đoán trước. Phản ứng của chúng ta hình như tự động gây ra bởi con người và ngoại cảnh. Chúng ta quên những phản ứng này là những sự lựa chọn. Chẳng qua những lựa chọn này là vô thức.

Hãy lùi lại một chút và quan sát những quyết định mà chúng ta không ngừng thực hiện. Bằng động tác quan sát đơn giản, chúng ta sẽ đẩy toàn bộ tiến trình của phản ứng vô thức nghiêng về ý thức. Từ đó rút ra một sức mạnh to lớn. Khi có một quyết định – bất kể là loại nào – chúng ta phải tự mình đặt ra hai câu hỏi. Trước hết: “Những hậu quả của sự lựa chọn này là chung quanh tôi?” Kế đó: “Sự lựa chọn này có phải là nguồn hạnh phúc cho tôi cũng như cho những người chung quanh tôi?” Nếu câu trả lời là phải thì hãy tiếp tục. Bằng không, nếu sự lựa chọn này có khả năng gây ra nỗi thống khổ cho chúng ta cũng như cho người khác, hãy từ bỏ nó. Đơn giản là như thế.

Một sự lựa chọn duy nhất trong vô vàn những khả năng mà đời sống mang lại từng phút giây cho chúng ta sẽ tạo ra nguồn hạnh phúc cho mình cũng như cho người lân cận. Sự lựa chọn đó xuất phát từ cái người ta gọi là “hành động tự phát đúng” là hành động tốt đúng lúc, nghĩa là sự đáp ứng tốt nhất trong một hoành cảnh nhất định. Hành động tự phát đúng là hành động nuôi dưỡng cùng lúc người thực hiện và tất cả những ai được nó tác động đến. Hiểu được cơ chế lý thú này rất quan trọng: vũ trụ giúp chúng ta một cách tự phát có sự lựa chọn đúng. Cơ chế này lại liên quan đến những cảm giác của cơ thể. Cơ thể biết đến hai loại cảm giác: sự an ổn và sự bất an. Vậy thì khi phải chọn lựa, chúng ta hãy lắng nghe cơ thể. Hãy hỏi cơ thể của chúng ta: “Nếu tôi quyết định như thế, cái gì sẽ xảy ra?” Nếu cơ thể gợi cho chúng ta tín hiệu bất an, sự lựa chọn của chúng ta là không đúng. Ở một số người, những tín hiệu an ổn và bất an xuất phát từ vùng đám rối mặt trời (plexus solaire). Nhưng ở số đông khác, những tín hiệu này xảy ra ở vùng tim. Thế thì hãy lắng nghe trái tim mình và hỏi những gì cần phải làm. Rồi chờ câu trả lời, một câu trả lời của cơ thể, dưới dạng cảm giác. Tín hiệu có thể rất yếu ớt nhưng nó đang ở đấy, trong thân thể chúng ta.

Chỉ có trái tim mới biết câu trả lời đúng. Phần đông người ta cho rằng quả tim của mình yếu đuối và đầy cảm tính. Điều đó không đúng. Trái tim có tính trực giác, tính tổng thể, toàn diện và có mối liên hệ hữu cơ. Trái tim không có tâm trạng, tri giác tinh tuý và năng lực sắp xếp vô hạn – và xem xét mọi sự việc. Có lúc trái tim có vẻ phi lý nhưng thật ra nó có một khả năng phân tích vừa tinh tế vừa chính xác hơn nhiều so với những gì thuộc về tư tưởng thuần lý.

Theo chúng tôi, việc giải mã tín hiệu an ổn - bất an không phải dễ dàng như thế. Không nên lẫn lộn tín hiệu đích thực với tín hiệu nhiễu. Tín hiệu đầu tiên giúp chúng ta tự chọn có ý thức “hành động tự phát đúng” như tác giả đề cập trong khi tín hiệu thứ nhì nhiều khi biểu lộ sức ỳ, sự lười biếng mà chúng ta ai cũng có và làm chúng ta lẫn lộn sự an ổn tâm linh và sự bình yên ích kỷ. Các bạn hãy tỉnh giác nếu thực sự muốn tiến trên con đường này.

Bạn có thể sử dụng Luật Nghiệp Báo để thu hút về mình tiền bạc, sự dư giả và mọi điều tốt lành mỗi khi chúng ta muốn. Nhưng trước hết, cần phải ý thức rằng những quyết định ở mỗi phút giây hiện tại sẽ làm phát sinh tương lai của chúng ta. Nếu chúng ta xây dựng trên một nền tảng vững chắc thì chúng ta tận dụng được Luật Nghiệp Báo, Càng nâng sự lựa chọn của mình lên bình diện ý thức, những quyết định của chúng ta sẽ càng đúng và càng mang tính tự phát cho bản thân chúng ta cũng như cho người chung quanh.



Chúng ta có thể nói gì về nghiệp báo quá khứ và ảnh hưởng hiện tại của nó?

Về phương diện này, chúng ta có ba cách để hành động

Một là trả nợ nghiệp báo. Đó là cách mà phần đông chúng ta chọn – dĩ nhiên một cách vô thức. Những việc ấy cũng có thể là một sự lựa chọn có ý thức. Biết bao đau khổ đôi khi nó nằm trong sự trả nợ ấy vì theo Luật Nghiệp Báo không có món nợ nào ở thế gian này mà không phải trả. Trên thế gian này hiện hữu một hệ thống kế toán hoàn hảo.

Phương pháp hành động thứ hai là cải biến nghiệp báo thành một kinh nghiệm dễ chịu hơn. Đây là một tiến trình rất lý thú. Khi chúng ta đang trả nghiệp của mình, hãy đặt câu hỏi: Tôi có thể học được điều gì từ kinh nghiệm này? Vì sao điều này xảy đến cho tôi và thông điệp mà vũ trụ đang gởi cho tôi là gì? Làm thế nào, chúng ta đang tìm những nhân tốt và gắn chúng vào cứu cánh tối thượng của đời sống mà chúng ta sẽ đề cập đến trong chương nói về định luật tâm linh thứ bảy của sự thành tựu. Nỗ lực này giúp chúng ta biến đổi nghiệp báo ra một dạng khác.

Giả dụ chúng ta gãy chân khi chơi thể thao. Chúng ta có thể tự hỏi: “Tôi học được điều gì từ kinh nghiệm này? Thông điệp mà vũ trụ muốn gởi cho tôi là gì?” Thông điệp đó có thể là khuyên chúng ta chậm lại hoặc cần phải quan tâm hơn nữa đến cơ thể của chúng ta, cần phải thận trọng hơn trong tương lai.

Song nếu cứu cánh của sự việc là truyền lại cho người khác những điều ta đã biết thì khi tự đặt câu hỏi “Làm thế nào để biến kinh nghiệm này trở nên hữu ích cho người khác?, có lẽ chúng ta sẽ quyết định chia sẻ những gì mình đã học được. Chúng ta có thể viết một cuốn sách giải thích cách chơi môn thể thao ấy một cách an toàn. Hoặc thiết kế một loại giày hay một loại xà cạp quấn chân có thể làm giảm thiểu những rủi ro đưa đến tai nạn. Như vậy, trong khi trả nợ nghiệp báo chúng ta đồng thời có thể biến đổi nghịch cảnh trở thành lợi ích mang đến cho chúng ta sự giàu có và toại nguyện.

Việc biến đổi nghiệp báo thành một kinh nghiệm có ích diễn ra như thế. Chúng ta thực sự không rũ bỏ nghiệp báo của mình nhưng từ một giai đoạn của nghiệp, chúng ta tạo ra một nghiệp mới, tốt đẹp.

Phương cách thứ ba để tác động vào nghiệp báo là vượt lên trên nghiệp. Vượt lên trên nghiệp báo có nghĩa là trở nên độc lập. Để làm điều này, cần phải tiếp tục thể nghiệm sự khai mở, khai mở lòng mình, khai mở cái Tôi. Hãy tưởng tượng ta đang giặt đồ dơ trong một dòng nước. Cứ mỗi lần nhúng đồ vào nước và chà xát nó, những vết bẩn dần dần mất đi càng giặt thì quần áo càng sạch. Chúng ta gột rửa, vượt lên trên nhân của nghiệp bằng cách thâm nhập vào sự khai mở và trở về, về mãi trong sự khai mở. Điều này dĩ nhiên chỉ thực hiện được bằng Thiền định.

Mỗi hành động là một giai đoạn của nghiệp báo. Chẳng hạn như uống một tách cà phê. Hành động làm phát sinh ký ức, ký ức có khả năng tạo ra sự ham muốn. Đến phiên nó, ham muốn lại làm phát sinh hành động. Bộ máy điện toán điều hành linh hồn chúng ta được tạo từ nghiệp báo, ký ức và lòng ham muốn. Linh hồn là một gói ý thức bao gồm các nhân của nghiệp báo, ký ức và sự ham muốn. Linh hồn là một gói ý thức bao gồm các nhân của nghiệp báo, ký ức và sự ham muốn. Khi chúng ta ý thức được sự biểu lộ của các nhân, chúng ta trở thành người làm phát sinh thực tại có ý thức. Khi trở thành người quyết định, chúng ta thực hiện những hành động là nguồn tạo ra sự tiến hoá cho chúng ta cũng như cho người chung quanh. Đây là tất cả những gì chúng ta phải làm.

Ngày nào mà nghiệp báo còn là nguồn tiến hoá cho bản thân ta cũng như cho những ai được tác động – thì quả của nghiệp sẽ là an lạc và thành tựu.


Để áp dụng Luật Nghiệp Báo hay Luật Nhân Quả:

Tôi sẽ áp dụng Luật Nghiệp Báo bằng những quyết định sau đây:

1. Ngày hôm nay, mỗi lúc tôi sẽ là chứng nhân của những chọn lựa của mình. Chỉ qua quan sát, những sự lựa chọn này sẽ được tôi để ý đến tôi biết rằng cách tốt nhất để chuẩn bị tương lai là hoàn toàn ý thức về hiện tại.

2. Mỗi lần tôi có một quyêt định, tôi tự đặt cho mình hai câu hỏi: “Hậu quả của sự lựa chọn mà tôi đang làm là gì?” và “Sự lựa chọn này có mang đến sự hài lòng và an lạc cho chính tôi cũng như cho những người liên quan không?”
Tiếp theo tôi sẽ nhờ trái tim cố vấn và hướng dẫn cho mình qua tín hiệu an ổn hoặc bất an. Nếu sự chỉ dẫn mang lại sự an ổn tôi sẽ tuân theo. Nếu là cảm giác bất an, tôi sẽ dừng lại và quan sát hậu quả của việc mình làm bằng cách quán chiếu bản. Những lời khuyên này cho phép tôi có những chọn lựa tự phát đúng cho tôi cũng như cho người khác.

(Hiện tại – St)




Để hiểu rõ hơn về "Quan điểm tâm linh", bạn nên đọc các bài viết sau theo trình tự:

1. Quan điểm tâm linh

2. Qui luật thứ nhất: Luật tiềm năng thuần túy

3. Qui luật thứ hai: Luật dâng tặng

4. Qui luật thứ ba: Luật nghiệp báo

5. Qui luật thứ tư: Luật cố gắng tối thiểu

6. Định luật thứ năm: Luật chủ ý và ước mong

7. Qui luật thứ sáu: Luật xả ly

8. Qui luật thứ bảy: Luật thành tựu

9. Con đường hướng tới giải thoát (Phần 1)

10. Con đường hướng tới giải thoát (Phần 2)

11. Thông Ðiệp huyền diệu từ Nước
www.thanhtanvien.cm
thanhtanvi

Quan diem tam linh 2

Chúng ta đề cập ở đây định luật căn bản của Trường phái Năng Lượng Vũ Trụ mà nếu không có định luật này, Trường phái của chúng ta sẽ không tồn tại. Đoạn văn sau đây của diễn đạt rất rõ định luật này.

Qui luật tâm linh thứ nhì của sự thành công là Luật Dâng Tặng. Vì vũ trụ tác động thông qua những trao đổi đầy năng động tính, qui luật này còn được gọi là Luật Cho và Nhận. Không có một vật gì là tĩnh tại.

Thể xác của chúng ta ở tâm điểm của một sự trao đổi thường xuyên và năng động với trung tâm của vũ trụ, tinh thần của chúng ta tác động tương hỗ một cách tích cực với tinh thần của vũ trụ, năng lượng của chúng ta là hình thái của năng lượng vũ trụ.

Triều lưu của sự sống không là gì khác hơn tác động tương hỗ có tính hài hoà của những yếu tố và sức mạnh cấu trúc nên trường hiện hữu. Sự hài hoà này tác động trong đời sống của chúng ta như là Luật Dâng Tặng.

Thể xác cũng như tinh thần của chúng ta tham dự vào một sự trao đổi tích cực và thường xuyên. Chính vì thế, ngăn chặn sự luân lưu của năng lượng có nghĩa là ngăn cản sự lưu thông của máu huyết. Khi máu không luân lưu được, nó trở nên trì trệ, vón lại, cô cứng.

Vậy chúng ta cần phải cho và nhận để cho sự giàu có, dư dật - hoặc những công đức mà chúng ta mong đợi – có thể luân lưu trong đời sống của chúng ta.

Mỗi một quan hệ đều được hợp thành từ cho và nhận. Cho làm phát sinh nhận và nhận làm phát sinh cho. Cái gì lên sẽ phải xuống, cái gì ra đi phải trở lại. Trong thực tế, nhận cũng giống như cho, đó là những khía cạnh khác nhau của nguồn sóng năng lượng trong vũ trụ. Nếu chúng ta ngăn trở dòng động tác này, chúng ta đã can thiệp vào lý tính của thiên nhiên.

Trong mỗi hạt giống đang ngủ yên lời hứa hẹn của ngàn cánh rừng. Những hạt giống không phải để cất giữ. Hạt giống phải cung cấp lý tính của mình và cho mảnh đất phì nhiêu. Xuyên qua việc dâng tặng này, năng lượng không nhìn thấy của hạt giống nẩy mầm thành một vật chất hiển hiện.

Càng cho và để cho sự dư dật của vũ trụ luân lưu trong đời sống của chúng ta, chúng ta càng nhận nhiều. Thực ra, bất kỳ điều gì có giá trị của sự sống, qua việc dâng tặng, thì chỉ có nhân lên mà thôi. Nếu khi dâng tặng mà ta có cảm giác mất đi điều gì đó thì việc dâng tặng của chúng ta không phải là một sự dâng tặng thực sự và nó sẽ không lớn lên. Nếu chúng ta cho mà miệng càu nhàu thì sẽ không có năng lượng đằng sau sự dâng tặng này.

Điều quan trọng nhứt là tâm ý đằng sau việc cho hay nhận. Tâm ý này luôn luôn phải là tâm ý mang lại hạnh phúc, đối với người cho cũng như đối với người nhận, vì chính niềm vui mới cưu mang sự sống, nuôi dưỡng và làm cho nó nẩy nở. Khi việc dâng tặng là không điều kiện và xuất phát từ trái tim thì việc nhận trở lại sẽ trực tiếp tương xứng với nó.

Chính vì thế, động tác cho phải đầy hoan hỷ - chính trạng thái tinh thần đi kèm phải mang lại sự hoan hỷ cho chúng ta. Năng lượng chứa đựng trong hành động cho tự nó sẽ tăng lên gấp nhiều lần.

Thực hành Luật Dâng Tặng rất đơn giản: nếu ta muốn có niềm vui, hãy mang niềm vui cho kẻ khác, nếu muốn có tình yêu, hãy tập ban phát tình yêu, nếu ta muốn người khác quan tâm và khen ngợi ta, chúng ta hãy tập quan tâm và khen ngợi. Nếu ta mong được dồi dào về vật chất, hãy giúp người khác được giàu có. Thực vậy, con đường đơn giản nhất để có được những gì ta muốn là giúp người khác nhận những gì họ mong ước. Nguyên lý này áp dụng cho những xí nghiệp, những quốc gia cũng như cho các cá nhân. Nếu ta mong muốn thu hưởng những gì tốt đẹp của đời sống, hãy học cách âm thầm làm sao cho mỗi người được thụ hưởng điều đó.

Những ý nghĩ dâng tặng, những lời chúc hạnh phúc hoặc một lời cầu nguyện ngắn ngủi, tất cả đều có tác dụng.



Đời sống là một vũ điệu bất tận của tâm thức diễn đạt xuyên qua sự trao đổi đầy năng động của những thôi thúc và lý trí hoạt động giữa cái vi mô và cái vĩ mô, giữa thể xác con người và bản thể của vũ trụ, tinh thần của con người và tinh thần của vũ trụ.

Khi chúng ta học cách cho những gì mà chúng ta tìm kiếm, chúng ta kích động vũ điệu ấy, chúng ta trở thành nhà biên đạo múa của sự vận động lớn lao, đầy năng động và sự sống tạo nên lịch sử bất tận của cuộc đời.

Cách tốt nhất để áp dụng Luật Dâng Tặng - để thực hiện hoàn toàn tiến trình luân chuyển của năng lượng – là quyết định cứ mỗi khi chúng ta tiếp xúc với một người nào đó, chúng ta sẽ tặng cho họ một món gì. Tặng vật này không nhất thiết là tiền bạc: chúng ta có thể tặng một đoá hoa, một lời khen hoặc một lời cầu nguyện. Thực ra những hình thức có hiệu lực nhất của tặng vật đều phi vật chất. Tặng vật bằng sự quan tâm, sự trìu mến, lòng kính trọng và tình yêu là một vài món quà quý báu nhất mà ta có thể tặng mà không tốn kém gì.

Khi ta gặp gỡ một người nào đó, ta có thể gởi cho họ một lời chúc lành âm thầm, cầu mong họ hạnh phúc, hoan hỷ và tươi cười. Loại tặng vật âm thầm này rất có hiệu lực. Một trong những điều người ta dạy cho tôi khi tôi còn nhỏ và tôi đã dạy lại con cái của tôi là đừng bao giờ đi thăm viếng ai mà không mang một cái gì cho họ. Để trả lời cho câu hỏi sau đây: “Làm thế nào tôi có thể cho người khác khi mà chính lúc này tôi không có đủ cho chính tôi?”, bạn nên biết rằng bạn có thể tặng một đoá hoa. Chỉ đơn giản một đoá hoa. Bạn có thể tặng một lời khen hoặc đến với một lời cầu nguyện.

Hãy quyết định cho, ở bất cứ nơi nào bạn đến và cho tất cả những ai mà bạn gặp. Bao lâu mà bạn còn cho, bạn sẽ còn nhận trong ngần ấy thời gian.

Càng cho thì sự tin tưởng của bạn vào những kết quả kỳ diệu của định luật này càng lớn. Và bởi vì chúng ta sẽ nhận nhiều hơn nên khả năng cho của chúng ta cũng sẽ gia tăng nhiều hơn.

Bản tính đích thực của chúng ta là bản tính của sự dư dã, dồi dào. Bởi vì thiên nhiên đáp ứng cho mọi nhu cầu và mọi ước muốn, chúng ta đương nhiên là giàu có. Bởi vì bản thể của chúng ta là tiềm năng thuần tuý và khả năng vô hạn, chúng ta không thiếu bất kỳ thứ gì hết. Chúng ta cần biết rằng chúng ta vốn giàu có, rằng chúng ta có những khả năng quan trọng hay mọi nhu cầu trong đó có sự hoan hỷ, tình yêu, nụ cười, sự bình an, sự hài hòa và tri thức. Nếu chúng ta trước tiên tìm kiếm những mục đích này - chẳng những cho chính chúng ta mà còn cho người khác- mọi thứ còn lại tự chúng sẽ đến với chúng ta.



Để áp dụng Định Luật Dâng Tặng

1. Bất cứ nơi nào tôi đến, bất kỳ người nào tôi gặp, tôi sẽ tặng cho họ một cái gì đó. Món quà này có thể là một lời khen, một đoá hoa, một lời cầu nguyện. Ngày hôm nay tôi sẽ dâng tặng một món gì đó cho tất cả những ai tôi tiếp xúc và như vậy, tôi sẽ thể hiện, trong đời sống của mình và trong đời sống người khác, tiến trình luân lưu của sự hoan hỷ, sự giàu có và sự dồi dào.

2. Ngày hôm nay tôi sẽ nhận mọi tặng vật với lòng biết ơn, tôi sẽ đón nhận những tặng vật của trời đất: ánh sang mặt trời, tiếng chim hót, một cơn mưa Xuân hay lọn tuyết đầu tiên của mùa Đông. Tôi sẽ mở lòng ra với tặng vật của người khác, dù cho tặng vật ấy có hình dáng vật chất như tiền bạc, hoặc mang dáng vẻ tâm linh như một lời khen hay một lời cầu nguyện.

3. Tôi tuyên hứa giữ gìn sự giàu có luân chuyển trong đời sống mình, bằng cách cho và nhận những của cài quý báu nhất của cuộc đời: sự quan tâm, lòng trìu mến, sự quý trọng và tình yêu. Mỗi lần tôi gặp người nào, tôi sẽ âm thầm chúc họ hạnh phúc, hoan hỷ và tiếng cười.

Quan điểm về tâm linh

,


Khi nói về việc tự tập luyện, về mặt Tâm Linh, người ta thường đứng trước 2 tình huống hết sức oái oăm, hoặc là như đang ở trong sa mạc mà không có điểm mốc nào hết, hoặc đang đứng trước những gian hàng đầy ắp của siêu thị.



Trong trường hợp thứ nhất, người đối thoại nói với ta một cách trạng trọng. “Anh hãy tự tập luyện đi, nếu không sẽ chẳng thể tiến bộ được”. Nhưng khi chúng ta năn nỉ người ấy chỉ dẫn cách thức để tiến hành, anh ta trả lời cũng bằng một giọng không kém trang trọng: “Mỗi người phải tự tìm ra Con đường cho chính mình. Hãy nhìn vào bản thể mình và sẽ tìm thấy Nó” Để không tỏ vẻ là ngu ngốc chúng ta làm như thể đồng ý: “Được rồi, tôi sẽ đi sâu vào bản thể của mình và tôi sẽ tìm ra con đường cho tôi”

Trường hợp thứ hai, người đối thoại đặt lên bàn chừng 50 quyển sách và băng video. Tất cả đều đề cập đến: Bí quyết để đạt hỷ lạc. Ngoài ra còn có những quyển sách Thánh, tác phẩm tôn giáo, băng hình tĩnh tâm, băng thuyết giảng v.v. Cũng thế, để không có vẻ là đần, chúng ta nói một cách nghiêm trang: “Được rồi, tôi sẽ mang tất cả về nhà, tôi sẽ đọc, tôi sẽ xem, tôi sẽ nghe và tôi sẽ tìm ra Con Đường tập luyện” Điều khủng khiếp trong việc tìm kiếm này là phần lớn các hướng đề nghị cho chúng ta lại rất rối rắm.

Và người tu học chẳng mấy chốc nản lòng nếu tự mình mầy mò hoặc bị nhấn chìm trong mớ thông tin rồi rắm.
Cách thức tập luyện mà tôi đề nghị ở đây chưa hẳn là cách thức lý tưởng. Tôi chỉ cố gắng phối hợp một cách tiếp cận thực tế, dễ hiểu với những yếu tố rút ra từ tư tưởng Năng Lượng Vũ Trụ. Bảy quy luật trình bày ở đây giúp chúng ta đạt đến sự tự chủ và phát triển phần Thiên Tính có sẵn ở mỗi chúng ta.


Hiện tại (ST)

Đỉnh Ba Vì và Thần núi Tản Viên

, , , ...

1. Các đỉnh núi - Đền Thượng - Đền thờ Bác Hồ
Ba Vì được coi là ngọn núi tổ của nước Đại Việt. Đây là nơi ngự trị muôn đời của thần Tản Viên (tức Sơn Tinh) canh giữ cho cả vùng đồng bằng Bắc Bộ, một trong "tứ bất tử" theo tín ngưỡng của người Việt. Trong Tứ bất tử (Thần Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Công chúa Liễu Hạnh) thì nhân dân ta coi Thần Tản Viên là linh thiêng nhất, Đền Thượng trên đỉnh Tản Viên là ngôi đền rất linh thiêng, nhân dân truyền nhau rằng ai có điều gì muốn cầu xin Thần Tản Viên đều có ứng nghiệm.

“Thứ nhất đỉnh Vua, Thứ hai đỉnh Mẫu, Thứ ba đỉnh Nàng”. Dãy núi Ba Vì có ba ngọn, đỉnh cao nhất là đỉnh Vua, cao 1296m. Đỉnh giữa là đỉnh Tản Viên, cao 1281m. Đỉnh thứ ba là đỉnh Ngọc Hoa, cao 1120m.
Từ cổng Vườn Quốc gia Ba Vì phải đi 14km đường đèo thì đến một bãi đất rộng bằng phẳ ng có thể đỗ ô tô loại nhỏ. Rẽ phía bên phải, đi bộ 500 bậc đá dẫn đến đền Thượng, đỉnh Mẫu - nơi thờ Sơn Tinh.
Ngọn núi nổi tiếng nhất là Tản Viên (còn gọi là Ngọc Tản, Tản Sơn, hoặc Phượng Hoàng Sơn), gần đỉnh thắt lại, đến đỉnh lại xòe ra như chiếc ô nên gọi là Tản (傘),còn chữ Viên có nghĩa là tròn. Chân núi này có đền Hạ, lưng chừng núi có đền Trung, đỉnh núi có đền Thượng là nơi thờ Đức Thánh Tản.



Năm 1993 đền Thượng đã được xây dựng lại ngay dưới chân vách núi đá dựng đứng dưới đỉnh Tản Viên, mà người ta cho rằng trên dấu tích của ngôi đền cổ xưa. Đền Thượng được xây theo hướng Bắc-Nam, cửa đền trông về phương nam. Bên trong đền phía trên chính điện có bức hoành phi ghi bốn chữ đại tự: "Tản Lĩnh Linh Thần". Hai cột bên ngoài có đôi câu đối: "Núi Tản tựa trời cao, ba đỉnh lừng danh từ vạn cổ; Sông Đà trừ thác dữ, một dòng rực sáng đến mai sau".

Đền Thượng là nơi thờ tam vị thánh, chính giữa là nơi thờ Đức Thánh Tản, hai bên là hai tướng giỏi của Ngài là Cao Sơn và Quý Minh (cũng là hai người em họ của Ngài). Những năm gần đây, người ta phối thờ thêm Đức Thánh Trần ở bên phía phải ngôi đền.

Từ đền Thượng đi theo một con đường nhỏ, ta leo lên một hẻm núi nhỏ nhờ những bậc thang và hàng lan can tay để lên đỉnh Mẫu. Theo truyền thuyết, xưa trên đỉnh Mẫu có một bàn cờ tiên, nay không còn thấy dấu tích. Người ta xây một cây hương với cỗ ngai thờ, rồi chuông và tượng… Đứng tên đỉnh Mẫu, những ngày đẹp trời có thể quan sát được cả một vùng rộng lớn của đồng bằng Bắc Bộ với những dòng sông Đà, sông Tích chảy quanh, những cánh đồng lúa xanh tốt trù phú, những làng quê yên ả với những nếp nhà ẩn hiện sau luỹ tre làng…

Từ bãi đỗ ô tô rẽ trái, tiếp tục trèo 779 bậc đá phía Tây lên viếng Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm trên đỉnh Vua. Ngôi đền thờ Bác Hồ được xây dựng năm 1999, trong đền có tượng Hồ Chí Minh làm bằng đồng.

Ngoài đỉnh Tản Viên và đỉnh Vua, trên Ba Vì còn có các núi cao là Ngọc Lĩnh, Tương Miêu, U Bò, Núi Tre, Ghẹ Đùng, Trăm Voi, Ngọc Hoa (đặt theo tên của công chúa con vua Hùng thứ XVIII được gả cho Sơn Tinh.
Ở độ cao 400m và 600m là hai khu nghỉ mát do Pháp xây dựng từ năm 1940. Tại khu vực này, hiện nay có tới 200 biệt thự và khách sạn.

Thăm vườn quốc gia Ba Vì, du khách có thể leo lên các đỉnh núi như đỉnh Vua, đỉnh Tản Viên, đỉnh Ngọc Hoa. Từ đây có thể quan sát cả một vùng đồng bằng rộng lớn với đồng ruộng, thành phố, làng mạc, sông hồ. Sông Đà uốn lượn quanh chân núi ở phía tây, hồ Suối Hai mênh mông trải rộng ở phía đông tạo nên phong cảnh sơn thủy hữu tình. Những ngày quang mây nắng đẹp, khoảng ba, bốn giờ chiều, khi mặt trời chênh chếch hướng Tây, đứng ở đây có thể nhìn thấy rất rõ toàn cảnh thủ đô, trong đó, nổi bật những khối nhà chung cư hiện đại Linh Đàm, Nhân Chính đến hàng loạt cao ốc ở trung tâm.

2. Sự Tích Thần Núi Tản Viên

Ngày xưa, có một người tiều phu cứ sáng tinh mơ thì vác búa vào rừng đốn củi. Mọi lần, anh chặt một ít cây khô ở rừng, được nặng gánh thì trở về; nhưng lần này anh định chặt thêm một cây gỗ cứng để đem về chống túp lều tranh, nên anh phải đi vào rừng sâu. Ðang đi, anh chợt nghe có tiếng tre khóc. Anh đứng lại nghe xem tiếng khóc ấy ở đâu đưa lại thì thấy ở phía trước mặt, dưới một lùm cây to, có một con dê rừng rất lớn đang lấy chân trước bới một đống cỏ khô, tiếng tre khóc ở đống cỏ đưa ra.

Người tiều phu rón rén đến nấp sau một gốc cây lớn ở gần xem con dê làm gì. Con vật bới đống cỏ rất nhẹ nhàng, lòi dần ra một đứa trẻ còn đỏ hỏn, bụ bẫm, rồi nó nằm xuống cho đứa trẻ bú.Ðứa trẻ rít lấy rít để bầu sữa căng, một chốc con dê đứng dậy liếm mớ tóc bờm xờm của đứa trẻ rồi chạy đi. Con dê vừa đi khỏi thì một đàn chim bay đến phủ những cỏ khô lên người đứa bé, chỉ trong chớp mắt lại bay vù cả đi.

Người tiều phu lẩm bẩm một mình: "Số mệnh đứa trẻ này thật kỳ lạ." Anh đến bới đống cỏ khô, thì thấy là một đứa con trai. Anh bế lấy, đem về nuôi. Ðứa bé rất chóng lớn, người tiều phu chăm nom như con đẻ có một số mệnh kỳ lạ, anh đặt tên cho nó là Kỳ. Lớn lên, Kỳ rất khoẻ mạnh. Ngày ngày Kỳ vác búa theo cha nuôi vào rừng đốn củi. Một hôm, Kỳ chặt một cây lớn đến hai người ôm, chặt từ sáng tinh mơ đến nhá nhem tối mà vẫn chưa xong, nên đành bỏ dở ra về. Sáng hôm sau, đến gốc cây định chặt tiếp thì anh hết sức ngạc nhiên: Cái cây lớn chặt dở hôm qua bây giờ lại liền ruột liền vỏ như chưa có một vết búa nào chạm đến. Thấy thế, Kỳ không ngả lòng, anh lại giáng những nhát búa thật mạnh vào chỗ thân cây đã chặt hôm trước. Tuy anh gắng hết sức, nhưng đến nhá nhem tối anh vẫn chưa hạ xong cây, sáng sớm hôm sau, Kỳ lại vác búa định tiếp tục công việc còn bỏ dở thì anh thấy vết chặt hôm trước hôm nay lại liền như cũ. Anh không nản chí, lại bắt đầu chặt ,nhưng đến lúc nhọ mặt người, anh vẫn chưa chặt xong. Lần này anh không về. Anh leo lên một cây gần để rình xem ban đêm cây tự liền da liền thịt như thế nào.

Ðến nửa đêm trăng sao vằng vặc đầy trời, bỗng có một ông già chống gậy đi từ từ đến cái cây chặt dở. Ông cụ cầm gậy chỉ vào cây, trong chớp mắt vết chặt lại liền như cũ. Kỳ vội tụt từ trên cây xuống, chạy đến hỏi ông cụ:

- Tôi khó nhọc mới sắp hạ được một cây lớn, sao cụ lại phá hỏng công việc của tôi như thế?

Ông cụ đáp:

- Ta là Thái bạch tinh quân đây, ta không muốn người chặt cây cổ thụ này. Thôi ta cho ngươi cái gậy ngươi đi tìm cây nhỏ mà chặt.

Nói xong ông cụ trao cho Kỳ cái gậy chống ở tay rồi biến mất. Một hôm đi chơi men sông, Kỳ nhìn thấy con rắn lớn bị đánh dập đầu, đã chết từ lâu, Kỳ cầm gậy chỉ vào đầu rắn.Thốt nhiên rắn sống lại vẫy đuôi, ngẩng đầu lên nhìn Kỳ rồi bò xuống sông mất.

Một buổi tối Kỳ đang ngồi trong lều tranh thì một chàng thanh niên tuấn tú khăn áo chỉnh tề, đem châu báu đến tạ ơn Kỳ. Chàng xưng là Tiểu Long hầu con Long Vương ở biển Nam , bị trẻ chăn trâu đánh dập đầu chết ở bờ sông và được Kỳ cứu sống hôm nọ. Kỳ nhất định không nhận lễ vật. Chàng thanh niên có ý băn khoăn, cố mời Kỳ xuống thủy cung chơi. Chàng đưa cho Kỳ một ống linh tê để rẽ nước đi xuống. Ðược Kỳ xuống chơi, Long Vương rất lấy làm mừng rỡ, mở yến tiệc linh đình thết đãi. Ðến khi về, Long Vương đưa tiễn đủ các thứ vật lạ dưới biển, nhưng Kỳ nhất định không nhận. Sau Long Vương lấy ở tráp ra một quyển sách nói với chàng rằng:

- Ngài cứu sống con lão, lão không biết lấy gì đáp lại. Nay biếu vật gì ngài cũng không nhận, lão xin có quyển sách này tặng ngài. Dùng quyển sách này, ngài sẽ ước gì được nấy.

Kỳ nhận sách ước và trở lại trần gian. Từ đó, Chàng cầu được ước thấy, có phép biến hoá trở nên một vị thần cứu nhân độ thế. Thần đi qua cửa bể thần phù, theo dòng sông lớn, đổ ngược mãi lên, tìm nơi đất cao phong cảnh đẹp để cắm chỗ ở. Ðến một nơi thấy có một ngọn núi cao chót vót ba tầng, tròn như cái tán, thần hoá phép mở một con đường qua các động và các suối lên đỉnh núi và hoá phép thành lâu đài để ở. Khi đã định cư rồi thần thường xuống núi đi xem khắp phong cảnh đẹp và dùng phép cứu nhân dân rất nhiều. Ngọn núi thần ở là núi Tản Viên, nên người ta gọi thần là thần Tản Viên hay Sơn Tinh.

3. Chuyện Sơn tinh - Thủy Tinh

Sơn Tinh người động Lăng Sơn, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Hưng Hóa, xứ Sơn Tây. Bố là ông Nguyễn Cao Hạnh, mẹ là Đinh Thị Điên. Khi ông Hạnh 70 tuổi, bà Điên cũng đã hơn 50 mới sinh được con trai tướng mạo phi phàm, hình dung tuấn tú, dáng người hiên ngang khôi ngô gấp vạn người thường, đặt tên là Nguyễn Tuấn.

Lên sáu tuổi, bố mất, Nguyễn Tuấn đổi tên là Nguyễn Huệ. Năm lên bảy tuổi. mẹ con dắt nhau lên núi Ngọc Tản ngụ cư. Nguyễn Huệ được Ma Thị chủ núi Ngọc Tản nhận làm con nuôi, sau đổi tên thành Nguyễn Chiêu Dung. Một năm sau, mẹ mất Nguyên Chiêu Dung ở lại Ngọc Tản cùng Ma Thị. Một hôm Chiêu Dung vào rừng chặt phải cây thần gặp Sơn Tinh đại thần tên gọi Tinh Thần Tử Huy thiên tướng, được trao cây gậy đầu sinh đầu tú để cứu giúp đời. Từ đó, Nguyễn Chiêu Dung tự xưng thần sư, thường đi ngao du thiên hạ. Một hôm trên đường đến châu Trung Độ (còn gọi là châu Trường Sa), xã Ma Xá, ông bỗng thấy trẻ con chǎn trâu xúm đánh một con rắn bèn bỏ ra ba mươi đồng mua lại con rắn rồi dùng gậy thần cứu rắn. Rắn đen vốn là Thủy Tinh con trai Long Vương. Cảm tạ công ơn cứu Thủy Tinh, Long Vương ban cho Sơn Tinh sách ước.

Lúc bấy giờ, vua Hùng Vương thứ 18 (Hùng Duệ Vương) đóng đô ở Việt Trì sông Bạch Hạc, lấy hiệu nước Văn Lang, thủ đô là Phong Châu. Vua Hùng mở cuộc thi tài kén rể cho công chúa Mỵ Nương Ngọc Hoa. Nghe tin, Sơn Tinh và Thủy Tinh cùng xin được diện kiến.

Vua cả mừng bèn ngự giá sông Bạch Hạc xem tỷ thí. Lúc bấy giờ, Sơn Tinh đến đầu sông. Thuỷ Tinh trở về đáy sông. Khoảnh khắc bỗng thấy dòng sông mây mưa nổi lên. sóng cồn cuồn cuộn, ào ào gió cuốn, cá rùa lớp lớp, kình ngư vạn dặm, trời đất mịt mù, thiên hình vạn trạng xuất quỷ nhập thần. Người ngoài nhìn vào kinh hồn lạc phách. Sơn Tinh bèn tay trái cầm sách, tay phải cầm gậy, miệng niệm thần chú, tay chỉ một cái, bỗng thật kỳ quái, hốt nhiên ngũ nhạc bay đến giữa sông, núi cao vạn trượng, thú rừng chạy đến tấn công Thủy Tinh. Một tiếng trống nổi lên giữa sông, quân thủy tan tành, tiêu biến một cách huyền diệu.

Vua không biết gả công chúa cho ai bèn xa giá về cung rồi triệu hai vị Sơn Tinh và Thủy Tinh triệu kiến bảo rằng: Trẫm chỉ có một viên ngọc Lam Điều (một con gái) trước chưa kén được rể, nay cả hai khanh đều là anh hùng, không biết gả cho ai. Vậy ai có thể đem sính lễ đến trước thì trẫm gả con gái cho.

Sơn Tinh nhờ có sách ước chuẩn bị xong lễ vật đến đón công chúa trước. Thủy Tinh đến sau, nổi giận dâng nước tiến đánh Sơn Tinh. Do có sách ước lại có phép thuật bí mật của thần tiên cho nên Thủy Tinh không sao hại được. Đất nước được thanh bình.
Nhận xét. Qua 2 version về sự tích Thần núi Tản viên có một số điểm nhỏ là khác nhau: tên thời trẻ của Sơn Tinh là khác nhau, thời còn bé câu chuyện hơi khác nhau

Tham khảo
1. Sự tích Thần núi Tản Viên. Trang http://vanhoc.xitrum.net/truyencotich/vietnam/2006/147.html, truy cập 19/6/2009
2. Sự tích Tứ bất tử. Tác giả: thichmactien, trang http://www.vietlyso.com/forums/showthread.php?t=5278, truy cập 19/6/2009

Nguồn: http://vn.myblog.yahoo.com/tambuithe/article?mid=263

Vài hiểu biết căn bản về Thiền (Phần 3)

, , , ...


MŨI TÊN THỨ HAI
Chánh niệm trước hết là khả năng nhận thức đơn thuần (mere recognition) về sự có mặt của một đối tượng, không phê phán, không xét xử, không tham đắm vào đối tượng ấy, cũng không chán ghét xua đuổi đối tượng ấy, và nhất là không xem thường hoặc không quan trọng hóa nó. Ví dụ ta có một vùng đau nhức trong cơ thể. Ta chỉ đơn thuần nhận diện sự đau nhức ấy. Với năng lượng của định và tuệ ta có thể thấy và hiểu được tầm quan trọng và nguyên do đích thực của sự đau nhức ấy, và phương cách chữa trị sẽ được căn cứ trên tuệ giác mà niệm và định đem lại.



Nếu ta lo lắng nhiều quá, nếu ta tưởng tượng nhiều quá thì những lo lắng và những tưởng tượng ấy sẽ làm cho tâm ý ta căng thẳng, và sự đau nhức sẽ tăng lên. Nó không phải là ung thư mà ta tưởng tượng nó là ung thư và ta có thể lo lắng và sầu não đến mất ăn, mất ngủ. Khổ đau vì thế tăng lên gấp bội và sẽ đưa đến một tình trạng nghiêm trọng hơn. Trong Kinh Tạp A Hàm, Bụt đưa ra ví dụ về mũi tên thứ hai. Nếu một mũi tên thứ hai bay tới và cắm đúng ngay vào vết thương gây ra do mũi tên đầu, thì sự đau nhức sẽ không tăng lên gấp đôi mà tăng lên gấp mười lần. Vì thế ta đừng để cho một mũi tên thứ hai hay một mũi tên thứ ba (do sự tưởng tượng và lo lắng) bay đến và làm hại ta thêm.

TAI HỌA CỦA DỤC

Theo thiền quán, hạnh phúc chân thật là sự có mặt trong giây phút hiện tại, khả năng tiếp xúc được những mầu nhiệm của sự sống có mặt trong giây phút ấy và khả năng hiểu biết, thương yêu chăm sóc và làm hạnh phúc cho những người xung quanh. Đeo đuổi theo những đối tượng của dục như tiền tài, danh vọng, quyền hành và sắc dục, người ta đã không tạo dựng được hạnh phúc chân thật mà còn tạo ra nhiều khổ đau cho bản thân và cho kẻ khác.

Con người đầy rẫy ham muốn và ngày đêm chạy theo dục là con người không có tự do. Không có tự do thì không có thảnh thơi, không có hạnh phúc. Ít ham muốn (thiểu dục), bằng lòng với một nếp sống giản dị và lành mạnh (tri túc) để có thì giờ sống sâu sắc từng phút giây của sự sống hàng ngày và chăm sóc thương yêu cho những người thân, đó là bí quyết của hạnh phúc chân thật.

Trong xã hội bây giờ, quá nhiều người đang đi tìm hạnh phúc trong đường hướng của dục, vì vậy chất lượng của khổ đau và tuyệt vọng đã tăng trưởng rất nhiều. nói tới dục như một chiếc bẫy. Bị sập vào bẫy dục, ta sẽ sầu khổ mất hết tự do và không thể nào có được hạnh phúc chân thật. Sợ hãi và lo lắng cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự tạo tác khổ đau. Nếu ta có đủ tuệ giác để chấp nhận một nếp sống thiểu dục và tri túc thì ta sẽ không cần phải lo lắng và sợ hãi nữa. Chỉ vì nghĩ rằng ngày mai ta có thể mất công ăn việc làm và sẽ không có được lương bổng hàng tháng như bây giờ nên ta thường trực sống trong sự lo lắng phập phồng.

Do đó con đường tiêu thụ ít và có hạnh phúc nhiều, được xem như là con đường thoát duy nhất của nền văn minh hiện tại.
(Hiện tại – St)

SƠN TINH - THỦY TINH

, , , ...

Nguyễn Nhược Pháp

Ngày xưa, khi rừng mây u ám
Sông núi còn vàng um tiếng thần,
Con vua Hùng-Vương thứ mười tám,
Mỵ-Nương xinh như tiên trên trần...
Tóc xanh viền má hây hây đỏ,
Miệng nàng bé thắm như san-hô,
Tay ngà trắng nõn, hai chân nhỏ:
Mê nàng, bao nhiêu người làm thơ.

Hùng-Vương thường nhìn con yêu quá,
Chắp tay ngẩng lên trời tạ ân;
Rồi cười bảo xứng ngôi phò-mã,
Trừ có ai ngang vì thần-nhân.
Hay đâu thần tiên đi lấy vợ!
Sơn-Tinh, Thủy-Tinh lòng tơ vương,
Không quản rừng cao, sông cách trở,
Cùng đến Phong-châu xin Mỵ-Nương.



Sơn-Tinh có một mắt ở trán,
Thủy-Tinh râu ria quăn xanh rì.
Một thần phi bạch hổ trên cạn,
Một thần cưỡi lưng rồng uy nghi.
Hai thần bên cửa thành thi lễ,
Hùng-Vương âu yếm nhìn con yêu.
Nhưng có một nàng mà hai rể,
Vua cho rằng thế cũng hơi nhiều!
Thủy-Tinh khoe thần có phép lạ,
Dứt lời, tay hất chòm râu xanh,
Bắt quyết hò mây to nước cả,
Dậm chân rung khắp làng gần quanh.
Ào ào mưa đổ xuống như thác,
Cây xiêu, cầu gẫy, nước hò reo,
Lăn, cuốn, gầm, lay, tung sóng bạc,
Bò, lợn, và cột nhà trôi theo.
Mỵ-Nương ôm Hùng-Vương kinh hãi.
Sơn-Tinh cười, xin nàng đừng lo,
Vung tay niệm chú: Núi từng dải,
Nhà lớn, đồi con lổm-ngổm bò
Chạy mưa. Vua tùy con kén chọn.
Mỵ-Nương khép nép như cành hoa:
"Con đây phận đào tơ bé mọn,
Nhân duyên cúi để quyền mẹ cha!"
Vua nghĩ lâu hơn bàn việc nước,
Rồi bảo mai lửa hồng nhuốm sương,
Lễ vật thần nào mang đến trước,
Vui lòng vua gả nàng Mỵ-Nương.


* * *

Bình minh má ửng đào phơn phớt,
Ngọc đỏ rung trên đầu lá xanh.
Ngọn liễu chim vàng ca thánh thót,
Ngự giá Hùng-Vương lên mặt thành.
Mỵ-Nương bên lầu son tựa cửa,
Rèm ngọc lơ thơ phủ áo hồng.
Cánh nhạn long lanh vờn ánh lửa,
Mê nàng, chim ngẩn lưng trời đông.
Rừng xanh thả mây đào man mác,
Sơn-Tinh ngồi bạch hổ đi đầu
Mình phủ áo bào hồng ngọc dát,
Tay ghì cương hổ, tay cầm lau.
Theo sau năm chục con voi xám
Hục hặc, lưng cong phủ gấm điều,
Tải bạc, kim-cương, vàng lấp loáng,
Sừng tê, ngà voi và sừng hươu.
Hùng-Vương trên mặt thành liễu rủ,
Hớn hở thần trông, thoáng nụ cười.
Thần suốt đêm sao dài không ngủ,
Mày ngài, mắt phượng vẫn còn tươi.
Sơn-Tinh đến lạy chào bên cửa,
Vua thân ngự đón nàng Mỵ-Nương.
Lầu son nàng ngoái trông lần-lữa,
Mi xanh lệ ngọc mờ hơi sương.
Quỳ lạy cha già lên kiệu bạc,
Thương người, thương cảnh xót lòng đau.
Nhìn quanh, khói tỏa buồn man mác,
Nàng kêu: "Phụ-Vương ôi! Phong-châu!"
Kiệu nhỏ đưa nàng đi thoăn thoắt,
Hùng-Vương mơ vịn tay bờ thành.
Trông bụi hồng tuôn xa, xa lắc,
Mắt nhòa lệ ngọc ngấn đầm quanh...

Thoảng gió vù vù như gió bể,
Thủy-Tinh ngồi trên lưng rồng vàng.
Yên gấm tung dài bay đỏ chóe,
Mình khoác bào xanh da trời quang.
Theo sau cua đỏ và tôm cá,
Chia đội năm mươi hòm ngọc trai,
Khập khiễng bò lê trên đất lạ,
Trước thành tấp tểnh đi hành hai.
Hùng-Vương mặt rồng chau ủ rũ,
Chân trời còn phảng bóng người yêu,
Thủy-Tinh thúc rồng đau kêu rú,
Vừ uất vì thương, vừa bởi kiêu.
Co hết gân nghiến răng, thần quát:
"Giết! Giết Sơn-Tinh hả hờn ta!"
Tức thời nước sủi reo như thác,
Tôm cá quăng ngọc trai mà hoa.

* * *

Sơn-Tinh đang kèm theo sau kiệu,
Áo bào phơ phất nụ cười bay.
(Vui nhỉ mê ai xinh mới hiểu)
Thần trông kiệu nhỏ hồn thêm say.
Choàng nghe sóng vỗ reo như sấm,
Bạch hổ dừng chân, lùi, vểnh tai.
Mỵ-Nương tung bức rèm đỏ thắm,
Sơn-Tinh trông thấy càng dương oai.
Sóng cả gầm reo lăn như chớp,

Thủy-Tinh cưỡi lưng rồng hung hăng.
Cá voi quác mồm to muốn đớp,
Cá mập quẫy đuôi cuồng nhe răng.
Càng cua lởm chởm giơ như mác;
Tôm kềnh chạy quắp đuôi xôn xao.
Sơn-Tinh hiểu thần ghen, tức khắc
Niệm chú, đất nẩy vù lên cao.
Hoa tay thần vẫy hùm, voi, báo.
Đuôi quắp, nhe nanh, giơ vuốt đồng,
Đạp long đất núi, gầm xông xáo,
Máu vọt phì reo muôn ngấn hồng.
Mây đen hăm hở bay mù mịt,
Sấm ran, sét động nổ lòe xanh.
Tôm cá xưa nay im thin thít,
Mở quác mồm to kêu thất thanh.
Mỵ-Nương kinh hãi ngồi trong kiệu,
Bỗng chợt nàng kêu mắt lệ nhòa.
(Giọng kiêu hay buồn không ai hiểu,
Nhưng thật dễ thương): "Ô! vì ta!"

Thủy-Tinh năm năm dâng nước bể,
Đục núi hò reo đòi Mỵ-Nương.
Trần gian đâu có người dai thế,
Cũng bởi thần yêu nên khác thường!

Vài hiểu biết căn bản về Thiền (Phần 2)

, , , ...

KẾT SỬ

Kết Sử (tiếng Phạn là samyojana) là những gút thắt hoặc những khối đam mê, đè nén, sợ hãi, lo lắng, v.v…đã kết tụ lại trong chiều sâu tâm thức (đạo Bụt gọi là Tàng thức), có khả năng trói buộc và sai sử ta làm, nói và nghĩ những điều ta thật sự không muốn làm, muốn nói và muốn nghĩ đến. Kết sử được gieo trồng và nuôi lớn bằng nếp sống không chánh niệm hàng ngày. Chánh niệm có khả năng nhận diện chúng mỗi khi chúng phát hiện trên bề mặt của tâm thức (đạo Bụt gọi là ý thức). Những kết sử này đã được hình thành trong quá khứ, có khi dưới dạng thói quen ( tập khí) do ông bà cha mẹ trao truyền lại trong gia sản di truyền. Ta không cần đi về quá khứ để tìm kiếm, không cần phải đào bới trong ký ức (như trong Phân tâm liệu pháp) để tìm ra nguyên do của những rối nhiễu về tâm trí.



Năng lượng chánh niệm có khả năng nhận diện những kết sử khi chúng phát hiện và nhìn sâu vào chúng, ta đã có thể thấy được cội nguồn của những rối nhiễu kia. Thiền pháp chánh niệm chú trọng tới giây phút hiện tại, thấy rằng nhìn sâu vào hiện tại ta có thể thấy được cả quá khứ và tương lai.
Mười loại kết sử chính là: đam mê (tham), thù hận (sân), tri giác lầm lạc (si), tự cho mình là hơn người, kém người hay bằng người (mạn), nghi ngờ (nghi), cho rằng hình hài này là ta (thân kiến), nhận thức nhị nguyên (biên kiến), có những cái thấy sai lầm (tà kiến), cố chấp, không có khả năng buông bỏ nhận thức hiện tại để có thể vượt tới một nhận thức cao hơn (kiến thủ), và mắc kẹt vào các tư tưởng mê tín, dị đoan và hình thái nghi lễ (giới cấm thủ kiến).
Sức khỏe và hạnh phúc của ta tùy thuộc rất nhiều vào sự chuyển hóa mười kết sử nói trên.

MẠN

Thiền tập giúp ta thấy được tính tương quan tương duyên của vạn vật. Không có hiện tượng nào (người hay vật) có thể tự mình sinh khởi và tồn tại độc lập. Cái này phải nương vào cái kia mà sinh khởi và tồn tại. Đó là cái thấy duyên sinh, có khi gọi là tương tức hoặc vô ngã. Vô ngã nghĩa là không có một thực tại biệt lập và vĩnh hằng nào nằm trong lòng sự vật. Tất cả đều chuyển biến từng phút từng giây. Cha và con chẳng hạn, họ không phải là hai thực tại biệt lập. Cha có trong con và con có trong cha. Con là sự tiếp nối của cha (về tương lai), cha là sự tiếp nối của con (về nguồn cội ). Hạnh phúc của con có liên hệ tới hạnh phúc của cha: nếu cha không có hạnh phúc thì hạnh phúc của con cũng không thể nào toàn vẹn, Vì cái này liên hệ tới cái kia, cái này nằm trong cái kia, không có cái kia thì cái này không có ( “Thử hữu cố bỉ hữu, thử vô cố bỉ vô”) cho nên bản chất của vạn hữu là vô ngã. Người có tuệ giác không thấy có những cái ta riêng biệt và độc lập.

Trong giới tâm trị liệu, có mặc cảm mình thua kém người (low self-esteem) là một chứng bệnh. Trong thiền học, có mặc cảm hơn người hay có mặc cảm bằng người cũng vẫn còn là bệnh. Bởi vì cả ba thứ mặc cảm đều được xây dựng trên ý niệm về một cái ta riêng biệt. Cả ba thứ mặc cảm đều được gọi là mạn.
Những khổ đau do giận hờn, ganh tị, thù hận, tủi hổ, v.v… chỉ có thể được hoàn toàn chuyển hóa khi ta đạt tới cái thấy vô ngã. Đây là nền tảng sự thực tập trị liệu của thiền.

TÀNG THỨC

Thiền sư Thường Chiếu (đời Lý) dạy rằng nếu biết được đường lối vận hành của tâm thì sự thực tập thiền sẽ trở nên dễ dàng. Tâm lý học đạo Bụt rất phong phú. Duy Thức Tông của đạo Bụt nói tới tám thức: Năm thức cảm giác (Sắc, thanh, hương, vị và xúc), ý thức, mạt na thức và tàng thức. Mạt na là năng lượng bám víu vào ý tưởng của một cái “ta” riêng biệt, độc lập và thường tại, đối lập với những cái “không ta”. Tàng thức (alaya) là phần sâu thẳm nhất của tâm thức, chứa đựng tất cả những hạt giống (chủng tử, tiếng Phạn là bija) của tất cả các tâm hành như buồn, vui, giận ghét, v.v….Những hạt giống như này khi được tưới tẩm hoặc tiếp xúc thì phát hiện lên ý thức thành những vùng năng lượng. Tàng thức giống như một mảnh vườn chứa đủ các loại hạt giống, còn ý thức thì giống như người làm vườn.

Trong công phu thiền tập, ý thức làm việc nhưng tàng thức cũng làm việc âm thầm ngày đêm. Vô thức của tâm lý học Tây phương chỉ là một phần của tàng thức. Nhận diện và chuyển hóa những kết sử nằm sâu trong tàng thức đưa tới sự giải thoát và trị liệu. Đó gọi là chuyển y (asrayaparavritti) nghĩa là sự chuyển hóa thực hiện ngay ở cơ sở hạ tầng của tâm thức.

SỰ LƯU THÔNG CỦA TÂM HÀNH

Khi những ước muốn, sợ hãi hoặc uất ức bị dồn nén, sự lưu thông của các tâm hành có thể bị tắc nghẽn và nhiều biến chứng có thể xảy ra trong lĩnh vực thân và tâm. Tuy bị dồn nén, chúng vẫn có tác dụng sai sử và ràng buộc ta, vì vậy chúng là những khối kết sử quan trọng. Ta có thói quen lẩn tránh chúng, làm như chúng không có mặt, và vì vậy để cho chúng không có cơ hội trồi lên hoặc phát hiện trên ý thức, ta đi tìm sự quên lãng trong tiêu thụ. Ta không muốn trở về với ta vì ta có cảm tưởng khi trở về với ta, ta sẽ phải đối diện với những nỗi khổ đau và những niềm thất vọng ấy. Ta muốn cho vùng ý thức của ta (được ví như là phòng khách) được chiếm cứ để các nỗi khổ niềm đau (nằm dưới nhà kho) trong ta không có chỗ phát hiện. Vì vậy ta xem truyền hình, nghe truyền thanh, xem sách, đọc báo, nói chuyện, đánh cờ, bài bạc, uống rượu, ,v.v…để tìm lãng quên. Có thể ta không ý thức rằng ta tiêu thụ và “giải trí” như thế chỉ là để cho ý thức bên trên luôn luôn bận rộn và để cho các kết sử bên dưới không có dịp trào lên. Kỳ thực đó chỉ là một sự dồn nén các tâm hành. Sự dồn nén này sẽ tạo nên tình trạng thiếu lưu thông của các tâm hành.
Khi máu huyết không được lưu thông thì nhiều triệu chứng bệnh hoạn xuất hiện nơi cơ thể. Cũng vậy, khi các tâm hành bị dồn nén, không lưu thông thì các triệu chứng tâm bệnh (và cả thân bệnh) cũng bắt đầu xuất hiện
Vì vậy ta phải biết cách chấm dứt sự dồn nén, để các tâm hành, ước muốn, sợ hãi hoặc uất ức được dịp nhận diện và được dịp chuyển hóa. Nếu không thực tập thiền, nếu không có năng lượng của chánh niệm thì ta không thể làm việc này.

Chế tác chánh niệm bằng thiền tập hàng ngày sẽ giúp ta nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa được những nỗi khổ niềm đau của ta. Nếu không có năng lượng chánh niệm thì ta không có khả năng đối diện và xử lý chúng, và ta sẽ bị chúng làm cho tràn ngập. Mỗi lần nhận diện và ôm ấp (chứ không phải đè nén hoặc đàn áp) thì những năng lượng tiêu cực kia sẽ yếu bớt đi một chút, và năm bảy phút sau (có khi lâu hơn) chúng sẽ trở về tàng thức, dưới dạng những hạt giống. Lần sau phát hiện, chúng cũng sẽ được nhận diện ôm ấp như thế và cũng sẽ trở về tàng thức. Thực tập như vậy ta không còn sợ hãi chúng, đàn áp chúng, dồn ép chúng như xưa, nhờ đó mà tình trạng lưu thông của tâm ý ta sẽ được thiết lập trở lại và những biến chứng tâm lý về cơ thể kia sẽ không còn.
(Hiện tại – St)
Theo www.thanhtanvien.com