..:: DinhThang' Blog ::..

.

Subscribe to RSS feed

Kết xuất file DBF ra file XLS hiện hữu

ó thể dùng lệnh Export to hay Copy to của ngôn ngữ Foxpro để chuyển bảng dữ liệu từ file *.dbf thành 1 bảng tính Excel. Tuy nhiên dùng 1 trong 2 lệnh này có nhiều điểm yếu như nó chỉ lưu dữ liệu lên file Excel mới với định dạng khá cũ (mặc dù ứng dụng Excel mới vẫn xử lý được), nó không cho phép lưu dữ liệu lên file Excel đã có sẵn. Nếu muốn xử lý nhiều yêu cầu riêng tư một cách tự do, bạn nên dùng các đối tượng trong thư viện "Excel Automation" như Application, Workbooks, Worksheets,... Sau đây là đoạn code VFP dùng các đối tượng "Excel Automation" để đọc bảng dữ liệu trong file *.dbf rồi lưu bảng này vào 1 worksheet trong file Excel đã có sẵn:

Clear All
Set Safety Off
* tạo đối tượng ứng dụng Excel
oExcel = Createobject("Excel.application")
*mở file Excel có sẵn
oExcel.workbooks.Open ("C:\data\test.xls")
*mở file DBF chứa bảng dữ liệu cần chuyển
oExcel.workbooks.Open("c:\data\mydata.dbf")
*copy bảng dữ liệu từ file DBF sang worksheet Excel
oExcel.sheets(1).Copy(oExcel.workbooks("test.xls").sheets(1))
*lưu file Excel
oExcel.activeWorkbook.Save
*dừng đối tượng Excel
oExcel.quit
Wait Clear

NẾU VÍ DỤ LÀ THẾ

NẾU VÍ DỤ LÀ THẾ
Nếu ví dụ là thế
Sẽ không phải là anh
Thì ai người có thể
Thổi hồn em lênh đênh?
Nếu ví dụ là thế
Sẽ không phải là em
Thì ai người có thể
Trên vai anh khóc mềm?

Nếu ví dụ là thế
Ngày xưa chẳng gặp nhau
Thì bây giờ hai ngả
Anh, và, em, ra sao?

Nếu ví dụ là thế
Không cháy nỗi cồn cào
Trong lòng anh ngọn lửa
Lòng em có xôn xao?

Nếu ví dụ là thế
Con đường nhỏ em về
Không thẫn thờ đứng đợi
Mình anh dưới mưa rơi?
Nếu ví dụ là thế
Em có nghe bồi hồi
Tim mình bao xao xuyến
Dưới trời mưa chung đôi?

Là ví dụ mà thôi
Ví dụ thôi, anh nhé!
Cuộc đời bao ngã rẽ
Nhưng mình mãi mãi yêu!

Bàn về Quy định đăng ký biển số xe cơ giới

Hôm nay mát trời chạy xe một vòng thấy biển số xe mới nhiều quá, thắc mắc không hiểu tại sao lại có dấu "." lang thang tìm hiểu cũng không ai rõ, mở topic này mong bà con đóng góp thêm:
Từ ngày 6 tháng 12, 2010, các biển số xe tại Việt Nam sẽ tăng từ bốn lên năm chữ số (phần mở rộng) khi đăng ký mới (biển cũ vẫn dùng bình thường, và có thể đổi sang biển mới nếu có nhu cầu). Về biển số xe mới, kích thước vẫn giữ nguyên nhưng các dãy số mở rộng trên biển sẽ không liền kề nhau mà bị ngắt quãng. Theo đó 3 số đầu của biển sẽ liên tiếp nhau và được ngắt quãng bằng một dấu chấm rồi nối tiếp hai số cuối (VD: 29A 000.01)
Tìm hiểu kỹ hơn tại Thông tư 36/2010/TT-BCA quy định về đăng ký xe do Bộ Công an ban hành.
Vấn đề ở đây theo ý kiến cá nhân có một số mâu thuẩn và chưa hợp logic và toán học:
Thứ nhất là về Thông tư 36/2010/TT-BCA: mục 5 điều 27 Thông tư trên cụ thể nguyên văn: "5. Biển số của máy kéo, xe máy điện, gồm 1 biển gắn phía sau xe; kích thước: Chiều cao 140 mm, chiều dài 190 mm. Nhóm số thứ nhất là ký hiệu địa phương đăng ký xe và sê ri đăng ký, nhóm số thứ hai là thứ tự xe đăng ký gồm 04 chữ số tự nhiên, từ 000.01 đến 999.99. " Rõ ràng đếm đi đếm lại vẫn 05 chữ số tự nhiên mà quy định là 04 chữ số tự nhiên, từ 000.01 đến 999.99 và vẫn không thấy nhắc đến và nói rõ về dấu chấm kia.

Thứ 2: 05 chữ số tự nhiên và 01 dấu chấm tổng cộng là 06 ký tự nhưng thực chất có 05 ký tự tham gia tạo sự duy nhất của biển số xe còn ký tự "." cho dù nằm ở đâu chăng nữa cũng bằng thừa à ví dụ nhé 29A 000.01 và 29A 00.001 thì cũng không ảnh hưởng gì.....

Chim én và đống phân

,

Có một con chim én đang bay về phương nam trú rét. Nhưng trời lạnh đến nỗi chú bị đông cứng hết người và rớt xuống một cánh đồng rộng lớn. Trong lúc nằm chờ chết trong tuyệt vọng và lạnh lẽo thì bỗng có một con bò đi ngang qua vô tình thải ngay một đống phân to lên người chú. Khi nằm trong đống phân, chú cảm thấy thật là ấm áp. Đống phân đã giúp chú hết lạnh! Chú chim én dần khỏe lại và chú cảm thấy thật hạnh phúc. Chú chim nhỏ cất tiếng hót vang. Một con mèo đi ngang qua nghe thấy tiếng chim hót và tiến lại để xem xét. Lần theo tiếng hót, con mèo phát hiện chú chim đang nằm dưới đống phân bò. Nó nhanh chóng lôi chú ra và chén thịt.

Bài học từ câu truyện trên là:
1. Không phải ai ị lên người bạn cũng là hại bạn.
2. Không phải ai lôi bạn ra khỏi đống phân cũng là giúp bạn.
3. Khi nằm trong đống phân mà cảm thấy thoải mái thì tốt nhất là nên ngậm miệng lại.

Người đại diện theo pháp luật của Công ty

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người đứng đầu doanh nghiệp, được doanh nghiệp uỷ quyền, thay mặt doanh nghiệp thực hiện các giao dịch vì lợi ích của doanh nghiệp, với đối tác, khác hàng và với cơ quan Nhà nước. Quyền, nghĩa vụ và chức danh của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định trong điều lệ doanh nghiệp, các giấy tờ giao dịch phải ghi rõ điều đó.

Người đại diện theo pháp luật của Công ty là Chủ tịch Hội đồng quản trị (Chủ tịch Hội đồng thành viên) hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc được quy định tại Điều lệ công ty. Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú ở Việt Nam; trường hợp vắng mặt trên ba mươi ngày ở Việt Nam thì phải uỷ quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ công ty để thực hiện các quyền và nhiệm vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty.

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không thuộc diện quy định sau:

- Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự;
- Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh;
- Người giữ chức vụ Giám đốc, Tổng giám đốc, Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị của công ty, tổng công ty 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản không được cử đảm đương các chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào, kể từ ngày công ty, tổng công ty nhà nước bị tuyên bố phá sản.
- Người được giao đại diện phần vốn góp của Nhà nước ở doanh nghiệp khác mà doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản không được cử đảm đương các chức vụ quản lý ở bất kỳ doanh nghiệp nào có vốn của Nhà nước.
- Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Giám đốc (Tổng giám đốc), Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của doanh nghiệp, Chủ nhiệm, các thành viên Ban quản trị hợp tác xã bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, không được làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn từ một đến ba năm, kể từ ngày doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản.
- Vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con của những người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan (Nhà nước) không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước.

- Và những trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Đọc thêm http://tuvanthanhlapcongty.com/pho-bien-phap-luat/huong-dan-phap-luat/thu-tuc-doanh-nghiep/185-nguoi-dai-dien-theo-phap-luat-cua-cong-ty.html#ixzz1IfHqA1Xx

Các lỗi sai thường gặp khi Kiểm tra Hồ sơ tín dụng

Ø Hồ sơ pháp lý:

- Thu thập hồ sơ pháp lý không/chưa đầy đủ hoặc thu thập bản photo hoặc photô có dấu sao y của công ty không công chứng (trừ điều lệ và các biên bản họp do chính công ty phát hành): Ví dụ không thu thập Đăng ký kinh doanh, mã số thuế, photo CMND của Giám đốc Doanh nghiệp, kế toán trưởng (nếu có), Biên bản họp của Hội đồng quản trị/Hội đồng thành viên… Kiểm tra giám đốc DN hoặc khách hàng cá nhân có nằm trong đối tượng bị hạn chế hoặc không được cho vay theo quy định hay không?
- Nội dung Biên bản họp HĐQT/HĐTV chưa đầy đủ: ví dụ thiếu 1 hoặc một vài nội dung trong các nội dung sau:
+ Nội dung về việc quyết định vay vốn tại ngân hàng.
+ Nội dung về việc quyết định uỷ quyền cho người đại diện ký các giao dịch.
+ Nội dung về việc quyết định quyền mang TS thuộc sở hữu của doanh nghiệp, bên thứ 3 làm tài sản đảm bảo cho khoản vay của doanh nghiệp tại Ngân hàng
+ Nội dung về việc quyết định cam kết trả nợ thay (nếu có).
+ Chú ý thời gian và tổng hạn mức ủy quyền cho người được ủy quyền trong mọi điều kiện khi giao dịch tại ngân hàng.
- Khi thay đổi hạn mức cấp tín dụng/bảo lãnh, không bổ sung biên bản họp Hội đồng quản trị/ Hội đồng thành viên thống nhất về việc nâng hạn mức tín dụng/bảo lãnh.
- Không thu thập điều lệ công ty, hoặc điều lệ Cty không hợp lệ, thiếu các chữ ký của cổ đông sáng lập trên tất cả các trang của Điều lệ, hoặc điều lệ công ty mới là bản dự thảo.
- Không thu thập biên bản góp vốn (trong trường hợp vốn chủ sở hữu trên đăng ký (hoặc báo cáo tài chính) lớn hơn trên điều lệ công ty.)
- Chú ý về nhiệm kỳ của hội đồng quản trị (hội đồng thành viên) đã hết hạn tính tới thời điểm ký các biên bản họp liên quan đến việc vay vốn tại ngân hàng theo quy định trên điều lệ. Hoặc điều lệ công ty quy định thời hạn hoạt động của công ty - tính tới thời điểm vay vốn đã hết thời hạn hoạt động - mà không có nghị quyết bổ sung của Hội đồng quản trị/thành viên công ty về việc kéo dài thời gian hoạt động của công ty.
- Dùng sai mẫu Biên bản họp (Hội đồng quản trị dùng của Hội đồng thành viên hoặc ngược lại).
- Đăng ký kinh doanh thiếu ngành nghề đang hoạt động hoặc chưa có giấy phép hoạt động trong những lĩnh vực đặc biệt như: y tế, bất động sản, xuất nhập khẩu .....

Ø Hồ sơ tài chính:

- Không thu thập đủ BCTC qua các năm (03 năm gần nhất)
- BCTC có độ tin cậy kém: số liệu không khớp giữa các năm, giữa các mục. Có sự bất thường trong số liệu về lợi nhuận và nguồn vốn kinh doanh, các khoản phải thu, phải trả khác. Tính toán một số chỉ tiêu, thể hiện tình hình tài chính không tốt, chẳng hạn vốn lưu động ròng âm, các tỷ suất thanh toán < tỷ lệ an toàn…
- BCTC không có chữ ký GĐ, dấu Cty, dấu giáp lai…
- BCTC thiếu thành phần: ví dụ: thiếu BC lưu chuyển tiền tệ hoặc Thuyết minh BCTC.
- Không thu thập tờ khai thuế từng tháng
- Không thu thập bảng kê các hoá đơn đầu ra/đầu vào
- Không thu thập hồ sơ chứng minh năng lực tài chính: Các hợp đồng đầu ra/vào, hồ sơ các dự án đã thực hiện (nếu có) (kèm hóa đơn GTGT…), hợp đồng tín dụng, sao kê trả nợ trong quá khứ tại ngân hàng hoặc ngân hàng khác.... Hoặc các hợp đồng đầu vào/đầu ra thể hiện sự phụ thuộc của khách hàng vay vốn vào 1 hoặc 1 số đối tác (về đầu vào hoặc đầu ra)…
- Đối với KH vay là cá nhân hoặc hộ kinh doanh: không thu thập đầy đủ chứng minh thu nhập (sổ sách bán hàng, hóa đơn nộp thuế môn bài, VAT (nếu có), các loại bảng kê hàng hóa bán ra, nhập vào, tồn kho - nếu kinh doanh cá thể; xác nhận thu nhập, sao kê tài khoản (có con dấu của ngân hàng phát hành - nếu là cá nhân không kinh doanh). Nguồn trả nợ không ổn định (chẳng hạn thu nhập biến động theo doanh số: như làm đại lý bảo hiểm…, hoặc nguồn trả nợ không chắc chắn (từ bán nhà…)
- Hồ sơ chứng minh nguồn trả nợ, khả năng tài chính của khách hàng cá nhân có nhà đất, tài sản cho thuê: chưa chứng minh được quyền sở hữu hợp pháp tài sản của khách hàng đối với tài sản cho thuê, bán: VD: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đăng ký xe, đăng ký sử dụng máy móc; thiếu hợp đồng cho thuê, bán ...
- Hạch toán sai bản chất của chi phí trong bảng chi tiết phát sinh tài khoản. Thiếu chi tiết tài khoản "nhạy cảm" như các khoản phải thu, phải trả (khác).....

Ø Hồ sơ vay vốn:

- Giấy đề nghị vay vốn ghi không đầy đủ thông tin, hoặc thiếu dấu Cty (với DN), hoặc thiếu chữ ký người đồng trả nợ (với thể nhân), hoặc có sau ngày viết tờ trình, 2 màu mực, thiếu chữ ký, thông tin của người đồng trách nhiệm (nếu có) hoặc bỏ qua thông tin về người đồng khách nhiệm mà không có xác nhận độc thân.
- Check CIC: không check thông tin người đồng trả nợ, hoặc với Cty TNHH 1 thành viên không check thông tin cá nhân chủ Cty, hoặc check sau thời điểm trình ban tín dụng/ban giám đốc.
- Báo cáo thẩm định tín dụng, thẩm định rủi ro không đóng dấu giáp lai hoặc bị tẩy xóa. Thẩm định không kỹ dẫn đến tính toán thời hạn cho vay không hợp lý, số tiền cho vay không hợp lý… hoặc không phát hiện ra những rủi ro trong hoạt động của khách hàng…
- Phần phê duyệt chỉ có chữ ký, không đóng dấu chức danh người phê duyệt, không dấu ngân hàng. Kiểm tra mức phán quyết.
- Nội dung HĐTD và HĐTC không liên kết chặt chẽ với nhau:
+ Điều khoản về đảm bảo tiền vay trong HĐTD không liên kết đến HĐTC, hoặc điều khoản nghĩa vụ đảm bảo trong HĐTC không liên kết đến HĐTD, hoặc dẫn chiếu chi tiết về tài sản trên HĐTD sai khác so với tài sản trên HĐTC - sai khác có thể là sai toàn bộ, một phần, thiếu toàn bộ hoặc thiếu 1 phần.
+ Khi có thay đổi về TSĐB, hoặc giá trị TSĐB, hoặc nghĩa vụ đảm bảo: không ký phụ lục HĐTD/HĐTC.
+ Hợp đồng thế chấp, tín dụng có các điều khoản chưa hoàn thành (về ngữ pháp, câu từ do bị chỉnh sửa, cut - paste).
+ Phương án kinh doanh chưa đúng với thực tế. Ví dụ: Nhu cầu vốn lưu động tính toán dựa trên số liệu quá khứ không phù hợp với nhu cầu của khách hàng ghi trên giấy đề nghị vay vốn.
- Dùng sai mẫu phương án kinh doanh kiêm đề nghị vay vốn.
- Xử lý nghiệp vụ chưa chính xác:
+ Thay đổi hạn mức TD lại ký HĐTD HM mới thay vì PL HĐTD
+ Trong trường hợp khách hàng vay theo món, giải ngân làm nhiều KƯNN nhưng các KƯNN này không có chung một ngày đáo hạn. (Do chuyên viên không rút ngắn thời gian cho vay của những KƯNN sau - chú ý xem hạch toán core). Trường hợp Hợp đồng hạn mức, quy định thời gian vay của mỗi KƯNN trên hợp đồng không khớp với trên KƯNN.

Ø Hồ sơ giải ngân:

- Áp dụng lãi suất cho vay không đúng quy định
- Tờ trình giải ngân không dấu giáp lai
- KƯNN không dẫn chiếu đầy đủ HĐTD và các phụ lục đính kèm
- KƯNN không ghi ngày rút vốn, ngày đến hạn, không ghi mục đích sử dụng vốn.
- KƯNN thiếu dấu chức danh người đại diện NH, dấu ngân hàng.
- Trường hợp giải ngân tài trợ nhập khẩu. Lỗi thường gặp là: Giải ngân không lưu HĐ ngoại và tờ khai hàng nhập (đối với TTQT), không lưu HĐ nội, lưu chậm hoá đơn VAT (đối với HĐ nội) - trường hợp giải ngân tài tợ nhập khẩu, nếu giải ngân trước khi có Tờ khai hải quan (trước khi thông quan) thì chỉ cần có Tờ khai Hải quan, TT chuyển tiền; còn trong trường hợp tài trợ sau khi có tờ khai cần thu thập thêm: phiếu nhập kho (không công ty hoặc kho ngoại quan), xác nhận công nợ (chưa thanh toán) với bên mua lô hàng đó - nếu hàng bán ngay không nhập kho.
- Giải ngân không lưu các chứng từ thanh toán: UNC, giấy lĩnh tiền mặt…người thụ hưởng trên các UNC không phù hợp với Phương án vay vốn.
- Các khoản vay trung, dài hạn: không lưu lịch trả nợ đính kèm tại HSTD
- Lưu ý các trường hợp giải ngân bằng tiền mặt đối với doanh nghiệp thì ngoài giấy lĩnh tiền mặt cần thêm các hồ sơ sau: (để chứng minh vốn sử dụng đúng mục đích)
+ Trích lục sổ quỹ tiền mặt (có nội dung người nhận tiền mặt tại ngân hàng nộp tiền mặt về quỹ công ty trong ngày)
+ Phiếu chi/ hoặc thu - của bên cung cấp dịch vụ cho khách hàng về việc đã nhận số tiền đó trong ngày hoặc biên bản giao nhận tiền.
+ Kèm theo: Biên bản nghiệm thu công trình đã xây dựng và chấp nhận thanh toán của khách hàng với đối tác - nếu là xây dựng; hóa đơn GTGT/ phiếu nhập kho - hoặc biên bản giao nhận hàng đối với trường hợp nhập hàng. Các mục đích khác tương tự, cung cấp giấy tờ chứng minh được việc sử dụng vốn đúng mục đích.
+ Nên có biên bản kiểm tra khách hàng ngay trước và sau thời điểm giải ngân.
- Đối với trường hợp giải ngân cho doanh nghiệp, mục đích sử dụng vốn đã hình thành (hóa đơn GTGT có trước ngày giải ngân từ 30 ngày trở lên) nên thu thập thêm: Phiếu nhập kho hàng hóa, Hợp đồng kinh tế có phương thức trả chậm, xác nhận công nợ tại thời điểm giải ngân, biên bản kiểm tra (hoặc phiếu cam kết hoặc bảng kê hàng tồn kho) chứng minh việc hàng hóa chưa được tiêu thụ tại thời điểm giải ngân.
- Trường hợp hàng đối tượng của mục đích sử dụng vốn hình thành trong tương lai tại thời điểm giải ngân nhưng lại đã hình thành đã thời điểm kiểm tra. Lỗi thường gặp là chỉ lưu đơn thuần hóa đơn (có sau ngày giải ngân) - nếu là hoạt động thương mại, sai phạm là: tại thời điểm giải ngân không có căn cứ giải ngân.

Ø Hồ sơ TSĐB:

- Biên bản định giá TSĐB thiếu chữ ký của 1 trong các thành phần: Khách hàng, người định giá, cấp phê duyệt
- HĐTC không liên kết với HĐTD, hoặc khi có những thay đổi không ký PL HĐTC
- Dùng sai mẫu HĐTC đối với TS hình thành trong tương lai
- Nhập kho bản gốc HS TSĐB không lưu bản photo tại HSTD
- Đối với TSĐB là ôtô: thiếu Thông báo gửi CSGT, Bảo hiểm hết hạn, Không/chưa chuyển quyền bảo hiểm hoặc chưa nhập kho chuyển quyền bảo hiểm.
- Biên bản bàn giao hồ sơ tài sản đảm bảo được nhận từ người không phải là chủ sở hữu của tài sản, hoặc không có giấy ủy quyền của chủ sở hữu tài sản.
- Kiểm tra xem đến thời điểm giải ngân, TSBĐ đã được giải chấp tại NH khác chưa
- Đăng ký giao dịch đảm bảo chưa kịp thời, thời điểm đăng ký giao dịch đảm bảo sau thời điểm giải ngân, tài sản trên đăng ký giao dịch bảo đảm không đúng với tài sản thực tế. Có trường hợp phần mô tả được lưu trên trang rời so với trang có dấu của cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm và không có dấu giáp lai…
- Đối với tài sản đảm bảo là hàng tồn kho luân chuyển: Trong trường hợp thuê kho của bên thứ 3: Hợp đồng thuê kho chưa chặt chẽ, chưa quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của mỗi bên, chưa thẩm định năng lực của bên cho thuê kho, chưa có sự độc lập giữa khách hàng, bên cho thuê kho và bên bảo vệ kho. Thiếu báo cáo hàng tồn kho định kỳ hoặc không có báo cáo hàng tồn kho định kỳ. Lưu ý: Trong mọi trường hợp, chuyên viên cần xác định được rõ đâu là tài sản đảm bảo của ngân hàng trong kho hàng của Doanh nghiệp bằng cách thường xuyên kiểm tra kho hàng và dán niêm phong (nếu có).
Khi kiểm tra kho hàng thường không nên thông báo trước quá 4 tiếng, đề phòng trường hợp kho hàng giả.
TSBĐ là hàng tồn kho cũng phải có bảo hiểm, ng thụ hưởng là NH cho vay, giá trị bảo hiểm phải cao hơn hoặc bằng số tiền cho vay, thời hạn bảo hiểm phải dài hơn hoặc bằng thời hạn cho vay.
- Đối với tài sản là Cổ phiếu hoặc giấy tờ có giá khác: Kiểm tra đột xuất kho, bóc phong bì tài sản kiểm đếm ngay tại chỗ. Có trường hợp không có hoặc có không đủ hoặc tài sản không đúng như mô tả. Kiểm tra danh mục các loại CK được phép cầm cố. Tính toán lại giá trị các GTCG (cộng cả gốc và lãi) so với số tiền cho vay (cả gốc và lãi)
- Đối với tài sản là nhà đất: Thiếu ảnh chụp, sơ đồ đường đi, CMND + sổ HK của chủ sở hữu (nếu là tài sản của bên thứ 3). Đối với TS của bên thứ 3, kiểm tra xem có phải là TS của cán bộ tham gia thẩm định/phê duyệt khoản vay hay không? Kiểm tra ở phần sau của GCN QSD đất xem đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính chưa?
- Định giá không đúng quy định (…), định giá quá cao so với thực tế. Không theo dõi sát sao giá trị của TSBĐ để có biện pháp kịp thời như giảm dư nợ hoặc yêu cầu tăng TSBĐ (trong trường hợp giá trị trường của TSBĐ biến động giảm…)
- Thiếu giấy phép xây dựng kèm biên bản kiểm tra công trình đã hoàn thành - xem có làm đúng như giấy phép xây dựng hay ko? (đối với trường hợp định giá giá trị nhà không được ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở)

Ø Hồ sơ khác:

- Biên bản kiểm tra sau vay: sơ sài, không đảm bảo đúng định kỳ theo qui định, thiếu chữ ký Khách hàng, hoặc không có biên bản kiểm tra sau vay.
- Nên đi kiểm tra tình hình kinh doanh của một số khách hàng, có trường hợp nhà máy đã bị dừng hoạt động do một số lý do…



Trích dẫn: http://ub.com.vn/threads/188-HOT-Cac-loi-sai-thuong-gap-khi-Kiem-tra-Ho-so-tin-dung?s=e80271718d56b7bf56d934c1efe336c2#ixzz1IfB7pW8q

Một số vấn đề xung quanh việc gia hạn nợ

Một số vấn đề xung quanh việc gia hạn nợ

Trong quan hệ vay vốn, việc khách hàng chậm trả nợ là điều khó tránh khỏi. Vẫn biết, chậm trả nợ dẫn đến gia hạn nợ phải xuất phát từ yếu tố khách quan, song cũng có trường hợp xin gia hạn nợ lại xuất phát từ yếu tố chủ quan của chính người vay vốn. Vậy làm cách nào để nhận biết và hạn chế được tình trạng gia hạn nợ không đúng hiện nay?

Thông thường, khi người vay vốn chưa có khả năng trả được nợ đúng hạn theo cam kết đối với các tổ chức tín dụng (TCTD) trong các hợp đồng tín dụng thì họ phải làm đơn xin gia hạn nợ để có thời gian thu hồi vốn từ người mua hàng (gọi là thu hồi công nợ), hoặc tiếp tục đẩy mạnh bán hàng hoá tồn kho để có tiền trả nợ cho các TCTD. Trước đây, các TCTD quy định thời gian cho gia hạn trả nợ đối với khách hàng vay vốn tối đa bằng một chu kỳ sản xuất, kinh doanh nhưng không quá 12 tháng đối với cho vay ngắn hạn và bằng 1/2 thời gian vay vốn đối với cho vay trung hạn và dài hạn (Quyết định 284/2000/QĐ-NHNN1 ngày 25/8/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam). Hiện nay, theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì các TCTD được phép cho khách hàng gia hạn thêm thời gian trả nợ. Đối với vay ngắn hạn thời gian tối đa là 12 tháng, đối với cho vay trung hạn và dài hạn tối đa bằng 1/2 thời gian cho vay đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp khách hàng đề nghị gia hạn nợ quá các thời gian này do nguyên nhân khách quan và tạo điều kiện cho khách hàng có khả năng trả nợ thì Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Tổng Giám đốc (giám đốc) TCTD xem xét quyết định và báo cáo ngay NHNN Việt Nam sau khi thực hiện. Như vậy, việc các TCTD cho khách hàng vay vốn được gia hạn thêm thời gian trả nợ là để tạo điều kiện cho khách hàng có khả năng trả nợ cho các TCTD. Và thực tế đã có không ít khách hàng sau khi được các TCTD cho gia hạn trả nợ không những đã trả được hết nợ mà còn tiếp tục sản xuất, kinh doanh có lãi. Như vậy, chủ trương cho gia hạn trả nợ của các TCTD là hoàn toàn đúng đắn. Tuy nhiên, hiện nay, việc áp dụng, vận dụng gia hạn trả nợ tại một số ít TCTD còn chưa thống nhất, cần phải xem xét lại từ cả hai phía (khách hàng và ngân hàng). Đối với khách hàng, ngoài trừ những người chưa trả được nợ phải xin gia hạn, vẫn còn không ít những khách hàng chỉ vì không muốn phải đi lại để làm thủ tục vay tiền, mặc dù tiền vay họ đã thu đủ nhưng không muốn trả nợ vay đúng hạn nên đã làm đơn xin gia hạn. Còn đối với các TCTD, có một số ít cán bộ làm công tác tín dụng đã không thực hiện tốt vai trò trách nhiệm trước công việc được giao. Họ nhận đơn và đề xuất gia hạn nợ không chính xác. Vì đúng ra họ chỉ được phép đề xuất giải quyết cho gia hạn nợ sau khi đã đi kiểm tra thực tế đối với khách hàng chưa trả được nợ, có đơn xin gia hạn, đúng là do yếu tố khách quan và chỉ nên cho gia hạn với khoảng thời gian vừa đủ không nhất thiết cứ phải cho gia hạn đủ 12 tháng đối với cho vay ngắn hạn. Thực tế thời gian cho vay chỉ là 6 tháng nhưng đến khi gia hạn lại là 12 tháng.

Từ thực tế trên, thiết nghĩ các TCTD cần phải chấn chỉnh lại cách giải quyết cho gia hạn nợ đối với khách hàng hiện nay. Được biết đã có một số ít TCTD rất cương quyết trong vấn đề gia hạn nợ vay, như buộc khách hàng phải trả hết nợ rồi mới cho vay lại mà không giải quyết cho gia hạn nợ. Đây có thể cũng là một phương pháp hay, bởi không những chỉ thể hiện tình hình tài chính tốt trên cân đối của TCTD mà còn tạo được tính sòng phẳng trong quan hệ vay vốn đối với khách hàng. Nhưng đằng sau việc trả được nợ đúng hạn ấy là gì, hậu quả của nó ra sao? Đối với nhóm khách hàng chỉ vì ngại đi lại để làm thủ tục vay tiền thì không sao. Nhưng đối với nhóm khách hàng thực sự chưa thể trả được nợ vì lý do khách quan, nếu TCTD buộc họ phải trả hết nợ rồi cho vay lại nợ mới thì họ phải đi vay nóng từ những người cho vay nặng lãi hay đi vay của TCTD khác để trả nợ cho TCTD đã cho vay, việc làm này không những chỉ gây khó khăn cho chính khách hàng vay vốn mà ngay cả các TCTD cũng khó tránh khỏi. Để thực hiện cho vay, gia hạn và thu hồi nợ vay đạt hiệu quả. Các TCTD nên thường xuyên chỉ đạo cán bộ làm công tác tín dụng thực hiện một cách nghiêm túc các quy định đã được Thống đốc NHNN ban hành./.
P/s: vay 12 tháng thì gia hạn tối đa 12 tháng, vay 13 tháng thì chỉ được gia hạn 6,5 tháng thôi????

Nhập nhằng phân loại và phân cấp công trình xây dựng

Điển hình:
1. Theo thông tư liên bộ 7/LB-TT NGÀY 30-9-1991 hướng dẫn việc phân loại hạng nhà, hạng đất và định giá tính thuế nhà, đất thì
Nhà cấp IV:
đ.1 - Kết cấu chịu lực bằng gạch, gỗ. Niên hạn sử dụng tối đa 30 năm;
đ.2 - Tường bao che và tường ngăn bằng gạch (tường 22 hoặc 11 cm);
đ.3 - Mái ngói hoặc Fibroociment;
đ.4 - Vật liệu hoàn thiện chất lượng thấp;
đ.5 - Tiện nghi sinh hoạt thấp;

2.Còn theo Nghị định 209/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2004 của chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng
Chiều cao
≤ 3 tầng hoặc tổng diện tích sàn <1.000 m2
Mục đích của việc phân cấp loại công trình nêu trên là cơ sở để xếp hạng và lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng; xác định số bước thiết kế; thời hạn bảo hành công trình

Nhà tớ: 9 tầng
đ.1 - Kết cấu chịu lực bằng gạch, gỗ. Niên hạn sử dụng tối đa 30 năm;
đ.2 - Tường bao che và tường ngăn bằng gạch (tường 22 hoặc 11 cm);
đ.3 - Mái ngói hoặc Fibroociment;
đ.4 - Vật liệu hoàn thiện chất lượng thấp;
đ.5 - Tiện nghi sinh hoạt thấp;
thì cấp mấy nhỉ???
Con them config nua la xong, WordPress gay kho de qua.
Trái đất cứ lặng lẽ quay. Xăng vẫn cứ lặng lẽ tăng