Thursday, July 26, 2012 10:07:09 PM
trung hoa, Hoàng Sa, trung quốc, ngoại giao hồ chí minh
...
(GDVN) - "Sức mạnh của dân tộc và thời đại, cộng thêm sự khôn khéo, biết điều, sáng tạo, dám có đột phá trong đường lối chính sách đối ngoại chính là sự bảo vệ có hiệu quả nhất chủ quyền biển đảo của nước ta lúc này".
Phần 2 của cuộc trao đổi với phóng viên báo Giáo dục Việt Nam, nhà nghiên cứu Dương Danh Dy đồng thuận với ý kiến cho rằng, tư tưởng dân tộc cực đoan tại Trung Quốc sau một thời gian dài được nuôi dưỡng nay đang "phát tác". Ông Dy nói: "Nhân dân Trung Quốc trong hơn 30 năm qua trong quan hệ với Việt Nam đang bị “nhuộm đen” rằng: Việt Nam là nước vô ơn bạc nghĩa, xâm lược Trung Quốc… nên phải “dạy cho Việt Nam một bài học”. Tiếp đó là những tuyên truyền chủ quyền thể hiện qua việc tuyên bố chủ quyền hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa vốn của Việt Nam. Nhân dân Trung Quốc bị nhuộm đen đến mức Trung Quốc cho rằng nếu xảy ra "sự cố bất ngờ" với Việt Nam thì không phải làm công tác tuyên truyền".
Phần 3 và cũng là phần cuối cùng cuộc phỏng vấn, nhà nghiên cứu Dương Danh Dy dành nhiều thời lượng phân tích về phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh trong tình hình mới.
- Thưa ông, có một số lo ngại rằng, tư tưởng dân tộc cực đoan đang lên tại Trung Quốc và Việt Nam sẽ là rào cản cho việc gìn giữ, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ hữu nghị giữa hai quốc gia?Đã nói đến dân tộc thì bao giờ cũng cần tỉnh táo. Có một số người Việt Nam cũng như Trung Quốc bị kích động, bị lợi dụng. Do không hiểu biết nên có những hành động bồng bột, quá khích… Nhưng tôi cho rằng đó chỉ là cái nhất thời. Còn tinh thần dân tộc chân chính của Việt Nam cũng như Trung Quốc sẽ giúp cho 2 bên tìm ra được một giải pháp thỏa đáng.

Việt Nam là nước đã từng chịu Bắc thuộc 1000 năm, một số người Trung Quốc cho rằng, Việt Nam đã là một phần của Trung Quốc nhưng những người Trung Quốc chân chính vẫn công nhận chúng ta là một quốc gia độc lập. Mối quan hệ có lúc thăng lúc trầm nhưng rồi hai bên vẫn chung sống hòa bình và gắn kết với nhau.
Chỉ có điều, trong tình hình mới này, chúng ta cần có cách cư xử khôn khéo, phù hợp. Chúng ta vẫn giữ thái độ ôn hòa với họ, không phải vì tình hình căng thẳng tại Biển Đông hiện nay mà chúng ta tỏ ra bất chấp. Chúng ta vẫn hết sức tôn trọng những lợi ích chính đáng của họ. Còn những lợi ích không chính đáng, chúng ta kiên quyết chống tới cùng.
- Trung Quốc đã trở thành một cường quốc, đó là điều không phải bàn cãi. Nhưng trước việc nước này "leo thang" gây căng thẳng tại Biển Đông, dư luận lại đặt dấu hỏi: "điểm yếu” của Trung Quốc hiện nay là gì và liệu rằng, họ có thể "tự tung tự tác" trong thế giới hội nhập một cách sâu rộng hiện nay?Hiện nay, trong nội bộ Trung Quốc đang diễn ra những cuộc đấu tranh rất gay gắt về nhiều vấn đề. Và cuộc đấu tranh nội bộ này có điểm khác cũ. Dạo trước khi các ông Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình còn sống thì vẫn có các cuộc đấu tranh nội bộ. Tuy nhiên, do có 2 người này đứng đầu làm lãnh tụ nên có thể dung hòa lợi ích nhóm giữa các bên và các bên vì thế mà không dám đấu tranh quyết liệt như bây giờ. Hiện nay, Trung Quốc không còn nhân vật nào có thể đảm đương được vị trí lãnh đạo cao nhất kia nữa. Chính vì thế trước sự “sống chết”, cuộc đấu tranh nội bộ rất gay gắt và khó lường.
Thêm nữa, những cuộc đấu tranh nội bộ ở Trung Quốc trong thời gian trước chưa có “màu sắc quân đội” nhưng trong cuộc đấu tranh nội bộ hiện nay, yếu tố quân đội đã xuất hiện. Nguyên nhân của việc này xuất phát từ việc cải cách mở cửa đòi hỏi hỏi phải cải cách chính trị.
Một người Trung Quốc nói rằng: “Lấy Trường Sa thì dễ nhưng giữ Trường Sa thì khó”. Và điều này, nhiều người dân Trung Quốc biết. Trung Quốc có vũ khí hạt nhân nhưng sẽ không dám dùng vì bây giờ là thế giới hòa bình nên Trung Quốc không phải muốn sử dụng là được. Và Trung Quốc lại là nước đầu tiên cam kết không sử dụng bom nguyên tử…
- Một số chuyên gia nhận định, Trung Quốc đang sử dụng luật chơi 2 mặt trong vấn đề Biển Đông?Chúng ta không được ảo tưởng về cách đối xử của Trung Quốc với ta hiện nay. Họ luôn nói một đằng, làm một nẻo.
Như trước đây tôi đã nói nhiều lần, Trung Quốc luôn áp dụng chiêu bài “lúc đấm”, “lúc xoa”, có khi “vừa xoa, vừa đấm”. Đó là một thủ đoạn bất biến của Trung Quốc mà chúng ta cần phải cảnh giác.
Với quyết tâm và mộng bá quyền của Trung Quốc từ trước tới nay, chắc chắn họ sẽ vẫn tiếp tục làm tới cùng. Biển Đông đối với Trung Quốc không chỉ là địa bàn chiến lược mà còn có ý nghĩa sống còn. Đây không chỉ là nơi giàu có về tài nguyên khoáng sản, hải sản mà còn là con bài quan trọng để tác động, gây sức ép đối với Việt Nam, hòng biến Việt Nam thành quốc gia chịu ảnh hưởng của Trung Quốc.
- Có quan điểm cho rằng, trong công tác ngoại giao, Việt Nam nên dựa vào một nước lớn để có thể tạo thế đối trọng với Trung Quốc?Chúng ta không nên dựa vào bất kỳ nước nào để chống lại một nước thứ 3. Chúng ta phát triển toàn diện, hòa bình và mong muốn hợp tác hữu nghị các bên, cùng có lợi với các nước. Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước kể cả Pháp và Mỹ là hai quốc gia đã từng xâm lược Việt Nam cho dù những hậu quả của cuộc chiến, đến giờ vẫn còn.
Tôi rất tiếc là sau khi Bác mất, trong một số thời điểm, chúng ta đã không thực hiện được đường lối ngoại giao như thời Bác còn sống. Đó là bài học lớn cho đường lối ngoại giao vào thời điểm này.
Phong cách ngoại giao của Hồ Chủ tịch được gói gọn trong 3 cụm từ: “trí tuệ, bản lĩnh, nghệ thuật”.
Một trong những câu chuyện ngoại giao thể hiện trí tuệ trong tư tưởng Hồ Chí Minh là vào thời kỳ Cách mạng Văn hóa bên Trung Quốc, trong một lần gặp mặt, Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông đã trực tiếp mời Hồ Chủ tịch đi xem “báo chữ lớn” ( một cách thể hiện “sức ép” Việt Nam ủng hộ Cách mạng Văn hóa, ủng hộ Trung Quốc). Nghe xong, Hồ Chủ tịch đã nói với ông Mao Trạch Đông: “Chúng tôi cũng nhiều vấn đề lắm (ý là cũng cần phải làm cách mạng văn hóa) nhưng chúng tôi đang phải làm cách mạng “vũ hóa”. Nghe xong câu nói đó, Chủ tịch Mao Trạch Đông như sực tỉnh ra, nói : “Ừ nhỉ, các đồng chí đang phải chống Mỹ mà”. Sau chuyện đó không còn sức ép với Việt Nam nữa. Vậy là chúng ta không làm mất lòng Trung Quốc mà vẫn giữ đúng đường lối của mình…
Đường lối, chính sách đối ngoại thời kỳ Hồ Chí Minh đã thể hiện rất rõ: Chúng ta không liên kết với bất kỳ nước nào để chống lại nước thứ 3. Thời kỳ Liên Xô và Trung Quốc bất hòa, nước ta còn rất khó khăn, kinh tế hầu như không có gì, lại đang xảy ra chiến tranh một sống một chết, trước mặt là 50 vạn quân viễn chinh Mỹ, chỗ dựa là Xô Trung lại đang bất hoà, xung đột…
Trong tình thế đó, dưới sự lãnh đạo sáng suốt và khôn khéo của Bác, chúng ta vẫn không mất nguồn viện trợ quan trọng để có thể kháng chiến thắng lợi. Mọi người còn nhớ tại Đại hội Đảng Cộng sản và Công nhân của 81 nước, đại biểu Liên Xô và một số nước khác công kích Trung Quốc nhưng Việt Nam đã đứng lên bảo vệ những quan điểm đúng của Trung Quốc. Và rồi, giữa thủ đô Bắc Kinh, cụ Hồ đã ca ngợi Liên Xô. Đó là bản lĩnh trong công tác ngoại giao.
Tôi còn nhớ câu chuyện về ngoại giao được nhiều vị chứng kiến kể lại: Sau khi thuyết phục và gây sức ép yêu cầu Đảng ta từ bỏ Liên Xô đi theo Trung Quốc bằng nhiều lời hứa hẹn viện trợ không được, Đặng Tiểu Bình rất bực bội.
Ngày ông ta rời Hà Nội, Hồ Chủ tịch và mấy đồng chí đến tiễn tại nhà khách. Lúc Bác tới ông Đặng đang ngồi trên ghế và khi thấy Bác vào, ông ta cũng không đứng dậy theo phép lịch sự. Mấy đồng chí đi theo Bác rất bất ngờ vì tình huống đó. Thế nhưng, Bác vẫn bình thản bước tới chỗ ông Đặng ngồi, một tay chìa ra bắt tay ông Đặng, một tay vỗ nhẹ mấy cái vào vai ông ta rồi từ từ kéo ông ta đứng đậy. Và thế là Đặng Tiểu Bình đành phải đứng lên theo.
Rất mong các nhà lãnh đạo Việt Nam cố gắng học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao. Đó là một việc rất quan trọng, vừa có ích cho dân tộc, vừa có lợi cho đất nước.
- Vậy đâu là giải pháp dài hạn, mang tính chiến lược cho Việt Nam trước thái độ ngày càng hung hăng hơn của Trung Quốc?Thứ nhất, chúng ta phải cương quyết cho Trung Quốc thấy Việt Nam không bao giờ chấp nhận đường ranh giới “lưỡi bò” trên biển mà Trung Quốc vẽ trên bản đồ. Đồng thời, ta cũng phải để nhà cầm quyền Trung Quốc và đông đảo nhân dân Trung Quốc thấy rằng, đây là những yêu cầu tối thiểu, có lý có tình mà Việt Nam không thể thỏa hiệp, nhượng bộ.
Thứ hai, cần làm cho khối ASEAN nhất là những nước có liên quan trực tiếp tới Biển Đông thấy rõ cùng nhau tránh được âm mưu “chia để trị”, “bẻ gãy từng chiếc đũa” tiến tới thôn tính toàn bộ của Trung Quốc.
Thứ ba, cần phải công khai hóa, quốc tế hóa vấn đề. Mức độ công khai, thời điểm công khai và vấn đề công khai cần được nghiên cứu nghiêm túc đạt được sự nhất trí cao và do một mối quản lý.
Chúng ta cần quốc tế hóa vấn đề Biển Đông bằng nhiều con đường, trong đó phải coi trọng diễn đàn Liên Hiệp Quốc. Đây là một cách “chơi bài” trong bối cảnh thế giới đang bước vào giai đoạn hội nhập và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu rộng hơn.
Thứ tư, nhanh chóng tăng cường sức mạnh tổng hợp, tăng cường sự đoàn kết dân tộc. Chỉ khi nào nền kinh tế của chúng ta phát triển vững chắc, lớn mạnh, uy tín của Việt Nam tại khu vực và trên trường quốc tế mới ngày một tăng cường. Bên cạnh đó, chúng ta không chạy đua vũ trang song cần trang bị cho quân đội nhiều trang thiết bị hiện đại hơn để đảm bảo an ninh dân tộc.
Ngoài ra, như tôi đã từng nói, chúng ta cần đẩy mạnh tuyên truyền vào nội bộ Trung Quốc thông qua trang web chuyên về Biển Đông, trang web tiếng Trung Quốc để nói lên tiếng nói chính nghĩa của chúng ta với nhân dân Trung Quốc.
Sức mạnh của dân tộc và thời đại, cộng thêm sự khôn khéo, biết điều, sáng tạo, dám có đột phá trong đường lối chính sách đối ngoại chính là sự bảo vệ có hiệu quả nhất chủ quyền biển đảo của nước ta lúc này.
Xin cảm ơn ông!
Hồng Chính Quang
Friday, March 16, 2012 10:09:39 PM
vũ khí, công nghiệp, quân đội việt nam, quốc phòng
...
Hơn 66 năm phát triển, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng đã có những đóng góp đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.PV đã có dịp phỏng vấn Thiếu tướng Tạ Quang Chính – Chủ nhiệm Chính trị Tổng cục CNQP, về quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân giới Việt Nam và nay là Tổng cục CNQP.
Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn:
Đi lên từ con số không
- Xin Thiếu tướng cho biết đôi nét về truyền thống vẻ vang của Công nghiệp quốc phòng Việt Nam?
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách trước thù trong, giặc ngoài và giặc đói, giặc dốt hoành hành. Trong tình hình phức tạp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tầm nhìn xa, trông rộng đã thấy rõ cần phải khẩn trương xây dựng ngành quân giới đảm bảo vũ khí, trang bị cho lực lượng vũ trang bảo vệ nền độc lập của đất nước.
Ngày 15/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Chỉ thị thành lập phòng Quân giới trực thuộc Bộ Quốc phòng (tiền thân của Tổng cục Công nghiệp quốc phòng ngày nay).
Có thể nói, ngành Quân giới lúc này đứng trước thực tế “tất cả đều là con số không”. Không có cơ sở sản xuất công nghiệp cơ bản (điện, hóa chất, luyện kim…), không có thiết bị công nghệ sản xuất quốc phòng; không có các loại vật tư, nguyên liệu cốt yếu. Nhưng với tinh thần yêu nước nồng nàn, nhiệt huyết của người dân mất nước vừa giành độc lập… đông đảo trí thức, công nhân, tầng lớp nhân dân tự nguyện đóng góp vàng bạc, máy móc xây dựng cơ sở sản xuất cho cách mạng. Chỉ sau thời gian ngắn, hàng trăm công binh xưởng sản xuất các loại vũ khí thông thường đã được lập ra trên toàn đất nước. Ngành quân giới đã từ không biến thành có.
Ngoài ra, vấn đề quan trọng để sản xuất vũ khí là cần nắm bắt được kiến thức khoa học kỹ thuật, công nghệ chế tạo. Đảng và Bác Hồ đã sớm tìm kiếm những trí thức phục vụ cho ngành Quân giới.
Trong chuyến thăm nhân dân Pháp (cùng thời điểm diễn ra hội nghị Fontainebleau 1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảm hóa, vận động một số trí thức người Việt Nam học tập và làm việc ở Pháp tự nguyện về nước tham gia kháng chiến, kiến quốc điển hình như các ông Trần Đại Nghĩa, Võ Quý Huân, Trần Hữu Tước… .
Trong đó, Kỹ sư Trần Đại Nghĩa đã trở thành cán bộ đầu đàn của ngành Quân giới, người có công đầu đưa công nghệ sản xuất vũ khí hiện đại từ Pháp về Việt Nam. Ông cùng Giáo sư Tạ Quang Bửu trong kháng chiến đã mở những lớp huấn luyện về hóa nổ, xạ thuật, thử nghiệm vũ khí…
Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Trước đó, ngành Quân giới đã gấp rút tổ chức di chuyển hàng chục vạn tấn máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu…từ các nhà máy ở thành thị, vùng đồng bằng lên chiến khu Việt Bắc, bắt tay vào sản xuất, sửa chữa vũ khí cung cấp cho quân và dân ta đánh giặc.
Trong những năm kháng chiến, bộ đội quân giới đã vượt qua bao khó khăn, ác liệt sản xuất được một số khối lượng lớn các loại vũ khí, từ những loại cơ bản (mìn, lựu đạn…) tới vũ khí có trình độ kỹ thuật cao như Bazooka, AT, SKZ, SS… giúp bộ đội ta tiêu diệt hiệu quả lô cốt, xe tăng, thiết giáp quân địch.

Đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiểm tra đạn pháo ở Nhà máy Z113. Ảnh: Báo Quân đội Nhân dân
Những vũ khí của quân giới Việt Nam làm cho quân địch phải khiếp sợ. Trong cuốn “Chiến tranh Đông Dương” xuất bản tại Paris năm 1963, ký giả Lucien Bodart viết: “Cái thứ gây khó khăn cho chúng tôi, cái thứ xuyên thủng bê tông dày 60cm là những quả đạn SKZ. Chỉ cần vài quả là đã tiêu diệt được lô cốt của chúng tôi”.
Song song công việc sản xuất, ngành quân giới cũng tiến hành công tác sửa chữa vũ khí của địch (khẩu tiểu liên Sten, súng trường) đưa vào phục vụ chiến đấu, theo phương châm “lấy vũ khí địch đánh địch”.
Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ, bằng tinh thần tự lực, tự cường, cần cù lao động sáng tạo và lòng dũng cảm. Cán bộ công nhân ngành Quân giới đã cung cấp cho chiến trường hàng ngàn tấn vũ khí, đạn dược góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung trong cuộc kháng chiến mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ (ngày 7/5/1954).
Tự chủ sáng tạo trong chiến đấu
Hiệp định Geneva năm 1954 được ký kết, đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền Nam – Bắc, miền Bắc tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và là hậu phương lớn cho miền Nam tiếp tục kháng chiến chống xâm lược của Đế quốc Mỹ.
Phải đối đầu với kẻ thù có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh bậc nhất thế giới đã đặt ra cho Ngành Quân giới những yêu cầu hết sức nặng nề trong việc đảm bảo vũ khí cho các lực lượng của ta chiến đấu ở miền Nam.
Giai đoạn này, quân đội ta chủ yếu nhận sự viện trợ vũ khí khí tài từ các nước anh em xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó ngành Quân giới cũng phối hợp chặt chẽ với một số trường đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài quân đội cải tiến thành công một số vũ khí viện trợ phù hợp với yêu cầu điều kiện chiến trường. Các nhà máy, xí nghiệp quốc phòng cũng tự sản xuất vũ khí bộ binh thông thường đáp ứng một phần yêu cầu chiến trường.
Những chiến công trong cải tiến vũ khí phòng không góp phần bắn rơi nhiều máy bay hiện đại của Mỹ, kể cả pháo đài bay B-52. Quân giới cũng nghiên cứu và chế tạo các phương tiện chống phá bom từ trường, rà phá thuỷ lôi của địch góp phần bảo đảm các tuyến giao thông thuỷ, bộ ra chiến trường thông suốt; chế tạo thành công một số loại vũ khí, trang bị cho bộ đội đặc công; tổ chức sản xuất một số loại vũ khí mà chiến trường rất cần như súng cối 81mm, súng và đạn chống tăng CT62, mìn định hướng...
Quân giới miền Nam đã tận dụng vũ khí đoạt được của địch, chế ra nhiều vũ khí dễ sử dụng và đánh địch có hiệu quả; cải tiến những vũ khí hiện đại như: đạn hoả tiễn mang lượng nổ lớn, các loại mìn phóng,…đánh vào sân bay, tàu chiến và các căn cứ của địch.
Bằng tinh thần tự chủ, sáng tạo, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Ngành Quân giới không những đã tạo ra được nhiều loại vũ khí đáp ứng yêu cầu tác chiến của chiến trường, góp phần nâng cao hiệu quả chiến đấu của các lực lượng vũ trang mà còn làm giàu thêm vốn kinh nghiệm của ngành trong bảo đảm kỹ thuật, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ cứu nước.
Sản xuất thành công nhiều vũ khí mới
Sau đại thắng mùa Xuân 1975, ngành Quân giới bước sang chặng đường phát triển mới – ngành Công nghiệp Quốc phòng và tới năm 1989, chính thức thành lập Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng.
Những năm đầu sau giải phóng, ngành Công nghiệp Quốc phòng trải qua nhiều khó khăn, nhưng cán bộ công nhân viên ngành vẫn cố gắng khắc phục vượt khó hoàn thành tốt nhiệm vụ cung ứng vũ khí khí tài cho quân đội. Bên cạnh nhiệm vụ sản xuất vũ khí, các xí nghiệp nhà máy cũng tham gia sản xuất mặt hàng phục vụ dân sinh (phụ tùng xe đạp, bếp dầu, phụ tùng ngành dệt, xi măng…) góp phần giải quyết tình trạng khan hiếm hàng hóa.
Năm 1993, Bộ Chính trị (khóa VII) ra Nghị quyết số 05 về xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2000, Ngành Công nghiệp Quốc phòng đã tích cực triển khai nhiều biện pháp lớn để phát triển ngành theo định hướng mới, mục tiêu mới.
Cuối những năm 1990, nền công nghiệp quốc phòng đã có bước tiến quan trọng trong sản xuất vũ khí khí tài. Các sản phẩm trong chương trình vũ khí bộ binh như cối 100mm, ĐKZ82, súng máy phòng không 12,7mm, súng đại liên, trọng liên, súng phóng lựu... trang bị cho sư đoàn bộ binh đã hoàn thành.

Lắp đặt pháo trên tàu TT400TP.
Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và phát triển Công nghiệp Quốc phòng trong thời kỳ mới, ngày 16/6/2003 Bộ Chính trị (khóa IX) ra Nghị quyết số 27 về xây dựng và phát triển Công nghiệp Quốc phòng đến năm 2010, với tinh thần cơ bản là: xây dựng Công nghiệp Quốc phòng phải trở thành một bộ phận quan trọng của công nghiệp quốc gia, có nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển, sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự và các sản phẩm khác phục vụ QP-AN; tham gia phát triển kinh tế - xã hội.
Thực hiện Nghị quyết 27/BCT, nhiều dự án nghiên cứu thiết kế chế tạo hoặc nhập công nghệ, nhận chuyển giao thiết bị hiện đại, đồng bộ phục vụ sản xuất quốc phòng đã được Tổng cục đầu tư, tổ chức thực hiện với nhiều triển vọng tốt đẹp.
Tiếp đến, ngày 16/7/2011, Bộ Chính trị ra nghị quyết 06 về xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Điểm khác của nghị quyết lần này là không giới hạn thời gian. Ngoài ra, rút kinh nghiệm từ những kết quả thực hiện nghị quyết trước, chúng ta đặt ra những chỉ tiêu mà chưa lường hết khó khăn phát sinh, lần này ta đề ra mục tiêu khá cụ thể. Đặc biệt, nghị quyết 06 đã nâng việc xây dựng và phát triển Công nghiệp Quốc phòng lên thành chương trình mục tiêu trọng điểm quốc gia, và sẽ có cơ chế đặc thù để triển khai.
Ngành Công nghiệp Quốc phòng đã sản xuất thành công nhiều loại vũ khí mới đáp ứng yêu cầu tác chiến hiện đại. Đặc biệt trên lĩnh vực đóng tàu quân sự, chúng ta đã có buớc tiến mang tính đột phá. Các Nhà máy đóng tàu bước đầu đã đóng mới được một số loại tàu cảnh sát biển, tàu tuần tiễu, tàu pháo, tàu tên lửa, tàu cứu hộ, cứu nạn,… trang bị cho các lực lượng vũ trang kiểm soát và bảo vệ biển, đảo Việt Nam.

Tàu pháo TT400TP do nhà máy Hồng Hà (Z173) đóng.
Ngoài ra, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng cũng tập trung đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế. Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, Tổng cục đã chỉ đạo các đơn vị tìm hướng đi thích hợp, tăng cường mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Tổng cục đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động phát triển sản xuất kinh tế, đây là một giải pháp quan trọng giúp các đơn vị và Tổng cục đứng vững, tạo tiền đề để phát triển nhanh, mạnh hơn.
Vì vậy, doanh thu của Tổng cục liên tục tăng trưởng. Đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, công nhân viên quốc phòng, người lao động được đảm bảo.- Thưa Thiếu tướng, trong những năm qua, nền công nghiệp quốc phòng của ta đã có những bước phát triển vượt bậc, vậy nếu so với các nước trong khu vực thì năng lực công nghiệp quốc phòng Việt Nam đứng ở vị trí nào?
Những năm qua, nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam bước đầu đạt những thành tựu trong việc sản xuất một số loại vũ khí mới. Chúng ta có những dây chuyền chế tạo một số vũ khí thông thường. Đặc biệt, lĩnh vực đóng tàu quân sự có bước đột phá lớn, Nhà máy đóng tàu Hồng Hà (Z173) đã đóng thành công tàu pháo TT400TP, đây là loại tàu trang bị hiện đại, tính tự động hóa cao.
Tuy nhiên, nếu so sánh với các nước trong khu vực Đông Nam Á thì rất khó có thể đánh giá một cách chính xác. Vì, nền công nghiệp quốc phòng mỗi quốc gia phát triển theo mục đích, nhiệm vụ khác nhau, phù hợp với nhu cầu trang bị của quân đội mỗi nước.
Với mục tiêu giữ vững nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, bảo vệ chế độ Xã hội Chủ nghĩa thì ngành công nghiệp quốc phòng trong phạm vi Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng đã đảm bảo vũ khí cho sư đoàn bộ binh chiến đấu và một phần cho nhu cầu phòng thủ của các lực lượng vũ trang khác.
- Xin Thiếu tướng cho biết xu hướng phát triển nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam sẽ đi theo hướng nào? (nhận chuyển giao công nghệ hay tự lực tự cường).
Ngành công nghiệp quốc phòng đã đạt nhiều thành tựu, bước đầu làm chủ công nghệ, tự lực sản xuất một số vũ khí hiện đại đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quân đội trong thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Thậm chí, có những lĩnh vực chúng ta không hề thua kém nước ngoài.
Tuy vậy, trong một số lĩnh vực đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, công nghệ mới trong điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, chúng ta cần kết hợp hài hòa giữa đầu tư, nhận chuyển giao công nghệ với tự lực, tự cường. Mặt khác, hiện nay Tổng cục đã xây dựng được đội ngũ những cán bộ khoa học công nghệ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng nghiên cứu, chế tạo và sản xuất những vũ khí trang bị hiện đại trong tương lai gần.
Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng cũng luôn mở rộng cánh cửa sẵn sàng đón các nhà khoa học, các trí thức có tâm huyết, khả năng đóng góp cho việc nghiên cứu, chế tạo vũ khí, trang bị cho quân đội ta góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Xin cảm ơn Thiếu tướng! PV xin chúc các cán bộ, công nhân viên Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân tin tưởng giao phó, xứng đáng với truyền thống vẻ vang của Bộ đội Quân giới năm xưa!
(Theo Báo Đất Việt)
Wednesday, March 14, 2012 9:30:15 PM
quân sự, Hoàng Sa, quân giới, việt nam
...
Năm 2011 đã ghi dấu những thành công nổi bật đối với nền công nghiệp - quốc phòng Việt Nam, với các thành tựu quốc phòng quan trọng.
Nhằm mục tiêu đưa quân đội Việt Nam ngày càng chính qui, tinh nhuệ và tiến lên hiện đại. Nhà nước đã tích cực đầu tư cho các ngành công nghiệp quốc phòng để có thể từng bước tự thiết kế, chế tạo, xây dựng dây chuyền sản xuất…các loại vũ khí hiện đại, góp phần tăng cường sức mạnh quân sự cho quân đội trong thời kỳ mới.
Báo Giáo dục Việt Nam xin tổng hợp 10 thành tựu quốc phòng nổi bật của Việt Nam trong năm 2011 vừa qua.
1.Chế tạo thành công thỏi nhiên liệu tên lửa hỗn hợp.

Đánh dấu một trong những thành công vượt bậc của nền công nghiệp – quốc phòng nước nhà đó là việc nghiên cứu, chế tạo thành công thỏi nhiên liệu tên lửa hỗn hợp 9X195 trong điều kiện phòng thí nghiệm do Viện Thuốc phóng-Thuốc nổ (Tổng cục Công nghiệp quốc phòng) nghiên cứu và chế tạo.
Việc nghiên cứu, chế tạo thành công thỏi nhiên liệu tên lửa hỗn hợp có ý nghĩa rất quan trọng trong việc từng bước tự làm chủ công nghệ hiện đại của đội ngũ các nhà khoa học-kỹ thuật nước ta, đồng thời mở ra khả năng tự sửa chữa một số loại tên lửa hiện có trong trang bị của quân đội. (xem chi tiết)
2. Chế tạo thành công sơn hấp thụ sóng radar.

Viện Hóa học-Vật liệu (Viện Khoa học và Công nghệ quân sự) đã nghiên cứu, chế tạo thành công loại sơn hấp thụ sóng radar PD/RAP-MEH có khả năng hấp thụ sóng radar trong khoảng 8 đến 12GHz (ứng với độ dày màng sơn 1mm) lớn hơn 94%. Thời gian sống của sơn sau khi pha trộn từ 2,5 đến 3 giờ...
Sơn hấp thụ sóng radar là một trong những biện pháp quan trọng để ngụy trang, tăng tính sống còn cho vũ khí trang bị kỹ thuật. Vì vậy, việc chế tạo thành công sơn hấp thụ sóng radar có ý nghĩa rất quan trọng trong điều kiện chiến tranh hiện đại ngày nay.
Sơn có thể ứng dụng để phủ lên các bề mặt vũ khí, trang bị kỹ thuật như máy bay, tàu chiến…giúp giảm được tiết diện phản xạ tín hiệu radar và tăng cường khả năng sống còn cho người cũng như VKTB trên chiến trường.
3. Hạ thủy tàu K122 cho Hải quân.

Thành công nổi bật đầu tiên trong năm 2011 đó là việc xuất xưởng chiếc tàu chở khách hiện đại nhất và lớn nhất K122 cho Quân chủng Hải quân do Nhà máy Z189 (Tổng cục Công nghiệp quốc phòng) thực hiện thiết kế và đóng tàu.
Quá trình tổ chức thi công đóng tàu K122, nhà máy Z189 đã áp dụng nhiều giải pháp kỹ thuật cùng các tiêu chuẩn chất lượng và công nghệ hiện đại của các đối tác châu Âu để có thể tiếp thu công nghệ, cũng như nâng cao trình độ đóng tàu.
Việc đóng và hạ thủy thành công tàu chở khách K122 đảm bảo các tính năng kỹ thuật, đạt chất lượng tốt sẽ góp phần xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam ngày càng chính quy, tinh nhuệ và hiện đại.
4. Tiếp nhận các thiết bị từ nước ngoài để tự đóng 4 tàu tên lửa Molnya.
Năm 2011, Việt Nam tiếp tục nhận được các hệ thống điện tử, radar, vũ khí, động cơ…từ các công ty đóng tàu Nga và Ukraina để có thể sớm hoàn thành việc đóng 4 tàu tên lửa Molnya đầu tiên theo một hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được ký trước đó với phía Nga.
Theo hợp đồng, 4 tàu tên lửa lớp Molnya đang đóng ở Việt Nam dưới sự giám sát về chuyên môn, kỹ thuật của các kỹ sư từ Nga để có thể tiếp thu kinh nghiệm trong việc tự chủ đóng mới các chiến hạm hiện , giúp cho ngành công nghiệp đóng tàu quân sự nước ta tiếp thu được công nghệ đóng tàu của nước ngoài, tiến tới có thể tự thiết kế và đóng tàu chiến hiện đại trong tương lai gần.
5. Bàn giao tàu khảo sát, đo đạc biển.

Tiếp nối thành công của tàu chở khách K122 là việc Việt Nam đã tự đóng và bàn giao tàu khảo sát đo đạc biển HSV-6613 hiện đại mang tên Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa cho đoàn đo đạc, vẽ hải đồ và nghiên cứu biển (Quân chủng Hải quân).
Tàu HSV - 6613 do Tập đoàn Damen (Hà Lan) thiết kế và thi công tại Công ty Sông Thu góp phần khắc phục tình trạng thiếu trang bị phục vụ công tác nghiên cứu, khảo sát, đo đạc biển, thiết lập hải đồ toàn cảnh vùng biển Việt Nam, tạo điều kiện tốt cho công tác thăm dò, khai thác, quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên biển…Việc hoàn thành đóng tàu khảo sát, đo đạc biển với đối tác Hà Lan sẽ giúp tận dụng khai thác được các công nghệ đóng tàu cũng như các thiết bị điện tử tiên tiến từ phương Tây.
6. Nghiên cứu, chế tạo thành công giáp phản ứng nổ (ERA).

Nhằm phục vụ cho việc nâng cấp, cải tiến các xe tăng T-54/55 đang được sử dụng với số lượng lớn trong quân đội.
Viện T thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam đã nghiên cứu và chế tạo thành công giáp phản ứng nổ ERA thế hệ thứ hai có khả năng chống lại đạn tên lửa chống tăng B-72 (tên lửa chống tăng có điều khiển AT-3), cũng như các loại đạn lõm chống tăng thông thường để có thể lắp ghép trên các loại tăng hiện có của lực lượng tăng - thiết giáp Việt Nam.
Việc thiết kế chế tạo giáp phản ứng nổ đều dùng nguyên liệu sẵn có trong nước, tiết kiệm đáng kể kinh phí. Trong khi, tính năng kỹ thuật giáp do Việt nam chế tạo được đánh giá tương đương các loại giáp trên thế giới trong chiến đấu.
7. Nâng cấp cải tiến xe tăng, tên lửa.
Cục kỹ thuật binh chủng công binh đã thực hiện tốt công tác đảm bảo khí tài tên lửa, xe tăng, thiết giáp sẵn sàng chiến đấu cao bảo vệ tổ quốc trước tình hình an ninh - quốc phòng luôn có biến động.
Bên cạnh đó, cục kỹ thuật còn thực hiện một số chương trình cải tiến tổ hợp tên lửa, xe tăng - thiết giáp. Đặc biệt, cục chủ trì dự án nâng cấp hiện đại hóa xe tăng chiến đấu chủ lực T-54B.
Theo đó, trong quá trình nâng cấp xe tăng T-54B đã được ứng ụng một số công nghệ mới, tháp pháo vát góc và đặc biệt là xe tăng có thể bắn khi hành tiến (trước kia không thể vừa chạy vừa bắn). Điều này sẽ nâng cao đáng kể sức chiến đấu của bộ đội tăng - thiết giáp Việt Nam.
8. Tự đóng được tàu pháo TT400TP.

Dựa vào tài liệu sơ bộ của đối tác, Công ty Hồng Hà hoàn thiện thiết kế, chế tạo tàu pháo TT400TP, đánh dấu bước trưởng thành mới của ngành đóng tàu quân sự Việt Nam.
9. Hồi sinh xe thiết giáp V-100.
Cán bộ, công nhân viên thuộc Tổng cục Kỹ thuật đã khôi phục, nâng cấp V-100, mẫu xe thiết giáp lội nước bánh lốp mà Việt Nam thu được của Mỹ sau chiến tranh.
10. Thử nghiệm kính ngắm MS.
Việt Nam đã phát triển và sản xuất thành công mẫu kính ngắm quang học đa năng MS để lắp cho súng AK báng gập và cả súng AR-15 và nhiều loại súng bộ binh khác, nhằm nâng cao tốc độ, độ chính xác khi bắn, rất thích hợp khi được trang bị cho lực lượng đặc nhiệm, chống khủng bố…
Kính ngắm quang học đa năng MS là đề tài khoa học cấp bộ, do Bộ môn Khí tài quang học (Khoa Vũ khí, Học viện Kỹ thuật Quân sự) triển khai thực hiện từ năm 2007. Đề tài đang trong giai đoạn áp dụng thử nghiệm nhưng đã được các sỹ quan quân đội đánh giá cao.
Kính ngắm MS có kết cấu chắc chắn, tin cậy, sử dụng đơn giản, thao tác lắp kính nhanh (không quá 10 giây), có thể sử dụng cả ngày lẫn đêm, khi bắn găm, bắn gần và bắn các mục tiêu ở cự ly xa, nhờ sử dụng dấu ngắm màu đỏ kết hợp với chỉ thị mục tiêu bằng tia laze.
(Theo GDVN)
Tuesday, January 24, 2012 9:35:18 PM
trung hoa, huế, Hoàng Sa, chúa nguyễn
...
Các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn xác lập & thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ đầu thế kỷ XVII đến khi thực dân Pháp Xâm Lược và Đô hộ Việt Nam
TS. Nguyễn Nhã
Hội khoa học lịch sử Tp.HCM
I. Nhà nước Đại Việt thời Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa qua đội dân binh Hoàng Sa và Bắc Hải từ đầu thế kỷ XVII đến năm 1801
Trong thời kỳ Đại Việt, từ thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh và thời Tây Sơn, nguồn tài liệu về Hoàng Sa hầu như chỉ còn lại tài liệu của chính quyền họ Trịnh ở Bắc Hà, chủ yếu là Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư (1686) trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ Bản đồ và Phủ Biên tạp Lục (1776) của Lê Quý Đôn. Trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ, năm 1686, có bản đồ là tài liệu xưa nhất, ghi rõ hàng năm họ Nguyễn đưa 18 chiến thuyền đến khai thác ở Bãi Cát Vàng. Còn tài liệu trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn (1776) là tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa, quyển 2 có 2 đoạn văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hoàng Sa bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải. Khi quân Tây Sơn nổi dậy, dân xã An Vĩnh vẫn tiếp tục xin chấn chỉnh hoạt động ở Hoàng Sa với tờ đơn của ông HàLiễu gửi cho chính quyền Tây Sơn ngày 15 tháng Giêng năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775) và Chỉ thị ngày 14 tháng 2 năm Thái Đức thứ 9 (1786) của Thái Phó Tổng Lý Quản Binh Dân Chư Vụ Thượng tướng Công gởi cho cai đội Hoàng Sa đi thuyền ra quần đảo Hoàng Sa. Tài liệu hiện lưu giữ ở Nhà thờ họ Võ, xã An Vinh huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi.
(xem Nguyễn Quang Ngọc, Vũ Văn Quân, Đề tài BĐHĐ 01-01, Khoa Sử, Đại học Quốc gia Hà Nội).
Sau đó có những tài liệu thời Nhà Nguyễn như Dư Địa Chí trong Bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833). Nội dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách trên có nhiều điểm tương tự như trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn cuối thế kỷ XVIII. Đại Nam Thực Lục Phần Tiền Biên, quyển 10 (soạn năm 1821, khắc in năm 1844, tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải. Việt Sử Cương Giám Khảo Lược quyển IV của Nguyễn Thông (1877) cho biết ở buổi quốc sơ thường kén những đinh tráng hai hộ An Hải và An Vĩnh. - Trong bộ sách Đại Nam Nhất Thống Chí (1882 soạn xong, 1910 soạn lại lần 2 và khắc in) xác định Hoàng Sa thuộc về tỉnh Quảng Ngãi và tiếp tục khẳng định hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản. - Trong quyển III Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, đời vua Minh Mạng, có 3 đoạn văn liên quan đến việc xác lập chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa. Ngoài ra các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đều vẽ Bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa trong cương vực của Việt Nam.
1. Về những tài liệu của Trung Quốc minh chứng chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, người ta thấy
- Trước tiên là Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696. Trong quyển 3 của Hải Ngoại Kỷ Sự đã nói đến Vạn Lý Trường Sa tức Hoàng Sa và đã khẳng định Chúa Nguyễn đã sai thuyền ra khai thác các sản vật từ các tàu đắm trên quần đảo Vạn Lý Trường Sa.
– Các bản đồ cổ Trung Quốc do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước đều minh chứng Tây Sa và Nam Sa chưa thuộc về Trung Quốc. Khảo sát tất cả các bản đồ cổ của Trung Quốc từ năm 1909 trở về trước, người ta thấy tất cả các bản đồ cổ nướcTrung Quốc do người Trung Quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa. Tất cả các bản đồ cổ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực Nam của biên giới phía Nam của Trung Quốc.
- Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1 năm 1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và gọi là “phát hiện” nhằm nhiều cổ vật nhưtiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các hòn đảo này, song đều không có giá trị gì để minh xác chủ quyền Trung Quốc, trái lại họ lại phát hiện ở mặt Bắc ngôi miếu “Hoàng Sa Tự” ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ile Boisée), lại là bằng chứng hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam. Bởi Trung Quốc không hề có tên Hoàng Sa và đã trùng khớp với việc xây miếu thờ ở Hoàng Sa từ lâu và kể cả thời Minh Mạng sau này của Việt Nam.
2. Về những tài liệu Phương Tây cũng xác nhận về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và TrườngSa
Nhật ký trên tàu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels là một quần đảo thuộc về nước An Nam.
2.1. Đội Hoàng Sa, đội dân binh khai thác, quản lý Hoàng Sa & Trường Sa từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX
Trước năm 1909, Trung Quốc cũng như các nước khác ở Đông Nam Á không có bằng chứng nào minh chứng họ quan tâm đến việc xác lập chủ quyền của Nhà nước trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong khi đó, suốt trong ba thế kỷ từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX, một tổ chức dân binh Việt Nam, đội Hoàng Sa đã hoạt động tại Hoàng Sa và Trường Sa, vừa có nhiệm vụ kiểm soát, vừa khai thác tài nguyên ở các hải đảo thuộc Hoàng Sa, Trường Sa. Các sử sách Việt Nam và của cả Trung Quốc đều chép đội Hoàng Sa được thành lập vào đầu thời Chúa Nguyễn. Hải Ngoại Kỷ Sự (Trung Quốc) viết năm 1696, chép thời Quốc Vương trước đã có những hoạt động của đội “Hoàng Sa” và Phủ Biên Tạp Lục viết năm 1776, chép “Tiền Nguyễn Thị”. Đại Nam Thực Lục Tiền Biên
(1821) chép “Quốc sơ trí Hoàng Sa”. Đội Hoàng Sa đã hoạt động kể từ chúa Nguyễn Phúc Lan hay Nguyễn Phúc Tần đến hết thời kỳ Chúa Nguyễn, cả thảy 7 đời chúa, gần một thế kỷ rưỡi. Phong trào Tây Sơn nổi dậy, Chúa Nguyễn chạy vào đất Gia Định thì đội Hoàng Sa đặt Dưới quyền kiểm soát của Tây Sơn mà trong tài liệu còn lưu giữ tại Nhà thờ họ Võ tại phường An Vĩnh, Cù Lao Ré đã cho biết năm 1786 Thái Đức năm thứ 9, dân Cù Lao Ré đã xin chính quyền Tây Sơn cho đội Hoàng Sa hoạt động trở lại.
Đến những năm cuối cùng của Tây Sơn, hoạt động của đội Hoàng Sa cũng bị ảnh hưởng, nên đến khi Gia Long năm thứ 2 (1803) mới cho đội Hoàng Sa hoạt động trở lại nhưĐại Nam Thực Lục Chính Biên, quyển XXII đã ghi rõ: “cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa”. Năm 1815, vua Gia Long sai đội Hoàng Sa đi đo đạc thủy trình ở Hoàng Sa. Theo những tài liệu như Dư Địa Chí, Hoàng Việt Địa DƯ Chí, Đại Nam Thực Lục Tiên Biên, Đại Nam Nhất Thống Chí, hàng năm đội Hoàng Sa bắt đầu đi từ tháng 3 âm lịch đến tháng 8 âm lịch thì về. Riêng theo Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ thì lúc đi cuối Đông, không nói thời gian về; theo Phủ Biên Tạp Lục thường đi vào tháng giêng âm lịch đến tháng 8 về (nếu lương thực mang đi có 6 tháng, chép tháng giêng là nhầm).
Từ tháng 3 đến tháng 8 tức khoảng từ tháng 4 đến tháng 9 dương lịch ở Quảng Ngãi là mùa khô, có gió Tây Nam rất thuận lợi cho việc đi biển, nhất là vùng Quảng Ngãi lại chỉ có bão trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch (tháng 9 Dương lịch đến tháng 12 Dương lịch), nhất là hai tháng 9 và 10 âm lịch. Lúc đầu đi sớm quá không thấy lợi, nên dời đến tháng 3 là điều hợp lý. Hầu hết các tài liệu đều viết tháng ba âm lịch đi từ Cù Lao Ré đến nơi bắt đầu hoạt động ở Hoàng Sa là 3 ngày 3 đêm. Riêng Đại Nam Nhất Thống Chí 3, 4 ngày đêm.
Thời Chúa Nguyễn mỗi năm lấy 70 suất đinh để làm những nhiệm vụ của đội Hoàng Sa, song còn dựa vào khả năng đi biển mà tuyển chọn. Số lượng 70 là số lượng đặc biệt cho một đội dân binh như đội Hoàng Sa. Cũng theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn đã gọi quân nhân để chỉ những người trong đội Hoàng Sa, trong đó có 2 người bị trôi dạt vào Cảng Thanh Lan (Hải Nam) khi bị bão vào năm Càn Long thứ 17 (1754), còn tám người khác bị mất tích. Nhưthế mỗi thuyền trong đội Hoàng Sa có số lượng khoảng 10 người. Tại xã An Vĩnh, nay thuộc thôn An Vĩnh, xã Tự Kỳ còn di tích một ngôi miếu ở cạnh cửa biển Sa Kỳ là ngôi miếu Hoàng Sa vốn thờ bộ xương đầu của con cá voi, tương truyền do binh Hoàng Sa đưatừ Hoàng Sa về) và thờ lính Hoàng Sa, ngôi miếu này bị phá hủy trong thời kỳ chiến tranh và bộ xương cá voi thần linh ở miếu này được chuyển sang thờ tại lăng Thánh, ngay cạnh ngôi miếu xưa. Tại Cù Lao Ré nay là huyện đảo Lý Sơn vẫn còn Âm Linh Tự tức miếu Hoàng Sa, ở thôn Tây xã Lý Vĩnh, tức phường An Vĩnh xưavà Âm Linh Tự ngoài trời ở xã Lý Hải tức phường An Hải xưa. Cũng tại xã An Vĩnh và cả làng An Hải (cả đất liền lẫn ngoài đảo Cù Lao Ré) có tục tế đình và làm lễ khao quân tế sống để tiễn lính đội Hoàng Sa lên đường làm nhiệm vụ hàng năm vào ngày 20 tháng 2 âm lịch, tại các đình làng. Các tộc họ thường làm lễ vào ngày 19 tháng 2 âm lịch.
Lính Hoàng Sa được tế sống vì nhiệm vụ quá nguy hiểm: "dễ khó về". Trừ các chỉ huy như đội trưởng, thuyền trưởng, các lính thường lấy trai tráng chưa có gia đình, vừa khoẻ mạnh vừa không vướng vợ con. Tại thôn An Vĩnh thuộc xã Tự Kỳ hoặc tại đảo Cù Lao Ré có nhiều gia đình còn gia phả và bàn thờ những người đi lính Hoàng Sa như Nhà ông Phạm Quang Tỉnh ở thôn Đông, xã Lý Vĩnh có Nhà thờ và gia phả ông tổ Phạm Quang Anh, người được vua Gia Long cử làm đội trưởng đội Hoàng Sa năm 1815. Trong 6 tháng hàng năm từ năm này qua năm khác, đội Hoàng Sa mở rộng phạm vi hoạt động khắp các đảo san hô ở Biển Đông gồm quần đảo Hoàng Sa và kiêm quản đội Bắc Hải ở Trường Sa bây giờ. Nếu các đảo phía Bắc gần phủ Liêm Châu, Hải Nam (Trung Quốc) thì các đảo ở phía Nam tiếp tới là Côn Lôn, HàTiên. Dù chính đội Hoàng Sa không đủ lực lượng tự chính mình đi khắp nơi song lại kiêm quản các đội khác (nhưđội Bắc Hải) thì phạm vi hoạt động rõ ràng rất rộng, khắp các đảo Biển Đông chạy dài ngoài khơi dọc các tỉnh miền Trung Bộ Việt Nam khoảng Quảng Trị, Thừa Thiên, từ phía Tây Nam đảo Hải Nam xuống tới vùng TrườngSa hiện nay.
Đứng đầu đội Hoàng Sa là cai đội như Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 đã ghi: “Lịnh cai đội Hoàng Sa tính quản”. Như binh chế thời chúa Nguyễn mà chúng ta đã biết đội có cai đội và đội trưởng chỉ huy. Chức cai đội Hoàng Sa thường được kiêm luôn các chức khác nhưTrườnghợp Phú Nhuận Hầu kiêm cai thủ đồn cửa biển Sa Kỳ, kiêm cai cơ thủ ngự, nhưtheo tài liệu tờ kê trình của Phú Nhuận Hầu, ngày 1 tháng 10 năm Gia Long thứ 2 (1803), tài liệu hiện lưutrữ tại Nhà thờ họ Võ phường An Vĩnh nay là thôn Tây, xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Thủ ngự là đơn vị cai quản, tuần tra chống trộm cướp thời Nguyễn. Tùy theo mỗi năm, số thuyền đi từ 4 hay 5 chiếc đến 18 chiếc. Mỗi chiếc thuyền do chủ thuyền hay thuyền trưởng cai quản. Thuyền cũng là đơn vị nhỏ nhất trong phiên chế thời Nguyễn nhưchúng ta đã từng biết. Số lượng 70 suất chia ra ở các thuyền, đều là dân binh được gọi là “quân nhân” như Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 ghi chép. Những quân nhân này chủ yếu là dân gốc xã An Vĩnh và một phần là dân xã An Hải ở đất liền và ngoài đảo Cù Lao Ré. Xã An Vĩnh và xã An Hải ở hai bên cửa biển Sa Kỳ. Cùng với 2 phường An Vĩnh và phường An Hải do di dân đất liền ra Cù Lao Ré, trong đó xã An Vĩnh là chính, cung cấp dân binh cho đội Hoàng Sa. Trong hầu hết các sử liệu chỉ nói đến xã An Vĩnh, chỉ riêng Việt Sử Cương Giám Khảo Lược, quyển 4 của Nguyễn Thông là nói đến hai hộ An Hải và An Vĩnh tức hai phường An Vĩnh và An Hải ở đảo Lý Sơn hay Cù Lao Ré.
Lương thực mang đi cho 6 tháng được Nhà nướccấp phát. Song chủ yếu là gạo còn thức ăn phần lớn họ phải tự bắt cá, bắt chim ở các đảo để sống. Họ phải mang củi lửa và theo lối truyền thống, bọn họ dấu những bếp ở mỗi thuyền bằng các nùi dây dừa khô giữ lửa lâu. Đời sống của quân nhân trong đó có đội Hoàng Sa thời Chúa Nguyễn khả quan hơn đời sống của người dân theo như Thích Đại Sán đã tả, rất khổ, phải nộp vào công khố bảy tám phần mười hoa lợi. "Người làm nghề đánh cá đem về nộp cả cho cai trưởng. Bọn này cấp hoàn cho bao nhiêu được bấy nhiêu... Gặp lúc Nhà nướccó việc công, cai xã bắt dân phu ra ứng dịch, mọi người phải lo cơm đơm, gạo bới đi làm”.
Các quân nhân đội Hoàng Sa còn mang theo một đôi chiếu, 7 sợi dây mây (hay cây ré), 7 cái đòn tre. Nếu chẳng may có mệnh một ở giữa biển thì dùng chiếu ấy quấn xác, đòn tre dùng làm nẹp và lấy dây mây bó lại rồi thả xuống biển. Chiếc thẻ tre nhỏ ghi rõ tên tuổi, quê quán, phiên hiệu đơn vị của người mất được cài kỹ trong bó chiếu, cũng là dấu hiệu nhận biết nếu có ai vớt được. Như thế Đội Hoàng Sa là đội dân binh do Nhà nướclập ra. Nhà nước bổ nhiệm chỉ huy đội kiêm chức vụ cai đồn cửa biển Sa Kỳ cùng chức thủ ngư, trông coi bắt giặc cướp biển và kiêm quản đội Bắc Hải ở Phía Nam, quản lý Biển Đông. Dân binh đi làm nghĩa vụ được cấp phát lương thực. Với những nhiệm vụ và tổ chức hoạt động kể trên, đội Hoàng Sa thu lượm trước hết những hải vật quý lạ ở Hoàng Sa như hải sâm, ốc hoa, ốc tai voi có chiếc lớn nhưchiếc chiếu, bụng có châu ngọc lớn nhưngón tay trẻ em, sắc đục không bằng sắc con trai châu song vỏ ốc có thể tách ra từng phiến, cũng có thể dùng vỏ ốc làm Thành vôi; có thứ ốc xà cừ, người ta có thể dùng để dát các đồ dùng; có thứ đại mạo hay đại mội, tức con đồi mồi rất lớn hay con hải ba (ba ba biển tục gọi là con trắng bông, cũng giống nhưcon đồi mồi, nhưng nhỏ hơn). Những hải sản quí trên tuy cũng có nộp cho Chúa hay Nhà vua khi xưng vương ở Phú Xuân theo qui định, song thường vẫn cho đội Hoàng Sa bán, thường thì bán cho thị Trườngở Hội An tiêu thụ nhiều và có giá hơn. Quan trọng nhất là các hàng hoá từ các tàu đắm mà Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư viết rằng hàng hoá thu được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng ống. Phủ Biên Tạp Lục thì ghi: những đồ hải vật nhưgươm và ngựa bằng đồng hoa bạc, tiền bạc, vàng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen, khẩu súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ.
Lê Quý Đôn hồi làm Hiệp Trấn Thuận Hoá trong Phủ Biên Tạp Lục có viết: “ông tra khảo sổ biên của cai đội Thuyên Đức Hầu”, người chỉ huy đội Hoàng Sa trong nhiều năm đã vào Phú Xuân nộp các sản vật thu lượm được từ Hoàng Sa cụ thể như sau:
- Năm Nhâm Ngọ (1702), đội Hoàng Sa lượm được bạc 30 thoi.
- Năm Giáp Tuất (1704), lượm được thiếc 5100 cân.
- Năm Ất Dậu, lượm được bạc 126 thoi.
Còn từ năm Kỷ Sửu (1709) đến năm Quý Tỵ (1713), tức là trong khoảng 5 năm, thỉnh thoảng họ cũng lượm được mấy con đồi mồi và hải sâm. Cũng có lần họ chỉ lượm được mấy khối thiếc, mấy cái bát đá và hai khẩu súng đồng.
2.2. Đội Bắc Hải hoạt động Dưới sự kiêm quản của đội Hoàng Sa trong khu vực phía Nam của Biển Đông tức quần đảo Trường Sa và vùng phụ cận
Sớm nhất từ khi lãnh thổ Đại Việt tới đất Bình Thuận vào khoảng năm 1697, đội Bắc Hải ra đời do đội Hoàng Sa kiêm quản. Càng ngày càng có nhiều đội khác cũng có chức năng và nhiệm vụ như đội Bắc Hải được Thành lập, vì chính quyền Nhà Nguyễn dần dần tìm ra các đảo san hô hết sức rộng ở Biển Đông. Song các chúa Nguyễn vẫn để đội Hoàng Sa kiêm quản để có một đầu mối, hầu có thể dễ dàng nắm tình hình ở Biển Đông. Như thế người chỉ huy đội Hoàng Sa là cai đội phải là vị quan lớn như cai đội Thuyên Đức Hầu đã được Lê Quý Đôn tra cứu sổ sách suốt từ 1702 (Nhâm Ngọ) đến 1713 (Quý Tỵ). Thuyên Đức Hầu đã được phong tàiớc hầu. Hoặc như Phú Nhuận hầu cũng thế trong tờ trình ngày 1 tháng 10 năm Gia Long thứ 2 (1803) đã kiêm luôn “khâm sai cai thủ” cửa biển Sa Kỳ, kiêm chức “cai cơ thủ ngự”, kiêm quản đội Hoàng Sa (tờ kê trình của Phú Nhuận hầu được lưugiữ tại Nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh nay là thôn Tây, xã An Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi). Khâm sai cai thủ là chức trông coi cửa biển, Thủ ngự là tổ chức tuần tra, chống trộm cướp thời Nguyễn. Chính Phú Nhuận hầu được giao nhiều chức vụ quan trọng. Cũng từ đó có uy tín để kiêm quản các đội khác như đội Bắc Hải. Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 của Lê Quý Đôn đã ghi chép rất cụ thể việc đội Bắc Hải như sau: “Họ Nguyễn còn thiết lập một đội Bắc Hải. Đội này không định trước bao nhiêu suất. Hoặc chọn người thôn Tứ Chính (ở gần bờ biển) thuộc phủ Bình Thuận, hoặc chọn người làng Cảnh Dương lấy những người tình nguyện bổ sung vào đội Bắc Hải. Ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi và chỉ thị sai phái đội ấy đi làm công tác”. "Những người được bổ sung vào đội Bắc Hải đều được miễn nạp tiền sưu cùng các thứ tiền lặt vặt nhưtiền đi qua đồn tuần, qua đò. Những người trong đội đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo thuộc vùng Hà Tiên để tìm kiếm, lượm nhặt những hạng đồi mồi, hải ba, đồn ngư (cá heo lớn nhưcon heo), lục quý ngư, hải sâm (con đỉa biển). Nhưthế về tổ chức, đội Bắc Hải không định trước bao nhiêu suất, số lượng tùy theo tình hình khả năng các thôn Tứ Chính thuộc phủ Bình Thuận hay làng Cảnh Dương, tình nguyện và được cấp văn bằng và sai phái đi hoạt động. Quyền lợi cũng nhưđội khác được miễn sưu cùng các thứ tiền lặt vặt như tiền đi qua đồn tuần, qua đò. Không thấy miễn tiền thuế. Cũng dùng thuyền tài nhân, thuyền câu. Phạm vi hoạt động ở phía Nam, ở quần đảo Trường Sa ngày nay, và cả Côn Lôn, Hà Tiên. Ở phía Nam Biển Đông khu vực Trường Sa hiện nay ít có bão lớn, không nguy hiểm, ít có vụ đắm tàu nên rất ít thu lượm được các sản vật từ tàu đắm như vàng bạc, súng ống mà chủ yếu là hải sản, đặc biệt là loại cá heo (đồn ngư)... Đội Bắc Hải được các tài liệu ở các thời gian sau (thế kỷ XIX) tiếp tục ghi chép. Đại Nam Thực Lục Tiền Biên soạn xong năm 1844 chép rằng đội Bắc Hải mộ dân thôn Bình Thuận, Tứ Chính hoặc xã Cảnh DƯơng, được lệnh cưỡi thuyền nhỏ ra các đảo ở Bắc Hải lượm hoá vật, cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản. Đại Nam Nhất Thống Chí quyển 6, tỉnh Quảng Ngãi, soạn xong năm 1882 cũng còn viết "đội Bắc Hải ra đảo Côn Lôn tìm lấy hải vật cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản". Không có tài liệu nào cho biết đội Bắc Hải ngưng hoạt động trước hay sau đội Hoàng Sa, chỉ biết chắc chắn đội Bắc Hải ra đời sau đội Hoàng Sa và trước năm 1776 tức là trước khi Lê Quý Đôn viết Phủ biên Tạp Lục.
II. Nhà Nguyễn tiếp tục sử dụng đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải khai thác và quản lý Biển Đông thời từ năm 1816 sử dụng thuỷ quân cắm cột mốc, bia chủ quyền theo cách người phương Tây cho đến khi Việt Nam bị Pháp xâm lược
1. Nhiều tài liệu chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và TrườngSa
Sang thời kỳ Triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909, có rất nhiều tài liệu chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:
- Trước hết là Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhất kỷ (khắc in năm 1848); đệ nhị kỷ (khắc in xong năm 1864); đệ tam kỷ (khắc in xong năm 1879) có cả thảy 11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa và TrườngSa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự tiếp tục xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và TrườngSa.
- Trong Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (1851) có đoạn văn đề cập đến việc dựng miếu ở Hoàng Sa trong quyển 207 và đoạn văn trong bộ sách Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ quyển 221 chép “Bộ Công tâu rằng: Hoàng Sa thuộc khu vực ngoài biển rất là hiểm yếu. Hàng năm cần phải đi thám dò khắp chỗ thuộc đường bể. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm”.
- Tài liệu rất quý giá là châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX), hiện đang được lưu trữ tại Kho Lưu trữ Trung ương 1 ở HàNội. ở đó người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu của các đình thần các bộ như bộ Công, và các cơ quan khác hay những dụ của các Nhà vua về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa Dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc, vẽ hoạ đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc... Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có chỉ đình hoãn kỳ vãng thám. Sau đó lại tiếp tục. Tài liệu đặc biệt này trước đây được tàng trữ tại chi nhánh văn khố quốc gia ở Đà Lạt. Trước ngày 30-4-1975, Chính quyền Sài gòn cho chuyển về Nha Văn Khố ở Sài Gòn. Sau 1975 được đổi là Kho Lưu trữ Trung ương 2 và sau đó được chuyển ra Kho Lưu trữ Trung ương 1 ở HàNội.
Về tài liệu của Tây Phương như:
- Le Mémoire sur la Cochinchine của Jean Baptiste Chaigneau (1769 - 1825) viết vào những năm cuối đời Gia Long (hoàn tất năm 1820) đã khẳng định năm 1816 vua Gia Long đã xác lập chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Paracels.
- Univers, histoire et description de tous les peuples, de leurs religions, moeurs et coutumes của giám mục Taberd xuất bản năm 1833 cho rằng Hoàng đế Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa năm 1816.
- An Nam Đại Quốc Họa Đồ của giám mục Taberd xuất bản năm 1838 khẳng định Cát Vàng (Hoàng Sa) là Paracels và nằm trong vùng biển của Việt Nam.
- The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol VI đã đăng bài của giám mục Taberd xác nhận vua Gia Long chính thức giữ chủ quyền quần đảo Paracels.
- The Journal of the Geographycal Society of London (năm 1849) GutzLaff ghi nhận chính quyền An Nam lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ để thu thuế ở Paracels...
2. Thủy quân triều đình Nhà Nguyễn, Việt Nam đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ, cắm cột mốc ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Trước khi lên ngôi Hoàng đế 1802, Nguyễn Ánh cũng đã được anh em Dayot giúp đo đạc hải trình ở Biển Đông trong đó có vùng quần đảo Hoàng Sa. Lúc đầu đội Hoàng Sa có trách nhiệm xem xét đo đạc thủy trình nhưthời Gia Long, tháng giêng, năm ất Hợi (1815), Phạm Quang Anh, thuộc đội Hoàng Sa được lệnh ra đảo Hoàng Sa xem xét đo đạc thủy trình. Phạm Quang ảnh hiện được thờ tại từ đường tộc họ Phạm (Quang) tại thôn Đông, xã Lý Vĩnh, xưalà phường hay hộ An Vĩnh tại huyện đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré). Đến năm Gia Long thứ 15, năm Bính Tí (1816), vua Gia Long lại ra lệnh cho cả thủy quân phối hợp với đội Hoàng Sa đi ra Hoàng Sa để xem xét và đo đạc thủy trình… Sang đến đời Minh Mạng, việc đo đạc thủy trình chủ yếu giao cho thủy quân có trách nhiệm và thuê thuyền của dân hướng dẫn hải trình. Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ nhị kỷ, quyển 165: “Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám Thành đáp một chiếc thuyền ô nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa”.
Đo đạc thủy trình hay hải trình là đo đạc đường đi ngoài biển. Đây là một trong những nhiệm vụ chỉ đạo của Bộ Công cốt để đảm bảo an toàn cho các thuyền bè đi trên biển trong đó có vùng biển Hoàng Sa. Việc đo đạc thủy trình và sau đó vẽ bản đồ ở Hoàng Sa do Bộ Công chỉ đạo cùng với thủy quân phối hợp với giám Thành, với địa phương Quảng Ngãi và đội Hoàng Sa. Đối với việc đo đạc ở Hoàng Sa, thưởng phạt đặc biệt hơn. Vì thế từ thời vua Minh Mạng năm thứ 17, việc phái thủy quân ra Hoàng Sa hàng năm rất đều đặn. Cũng có khi vì gió bão phải đình lại, sau lại tiếp tục. Tỷ nhưnăm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có dụ chỉ của vua Thiệu Trị đình hoãn, đến năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) cũng cho đình hoãn do Bộ Công tâu xin hoãn. Sau đó đến thời Tự Đức không còn ghi chép trong sử sách nữa bởi theo phàm lệ sách Đại Nam Thực Lục Chính Biên thời Tự Đức những việc đã Thành lệ rồi không còn chép nữa. Thời gian đi vãng thám đo đạc ở Hoàng Sa thì bắt đầu triều Nguyễn theo lệ khởi đi vào mùa Xuân (kể từ kinh Thành Huế đến Quảng Ngãi), song cũng tùy năm sớm trễ khác nhau. Từ kinh Thành Huế, thuỷ quân tới Quảng Ngãi nghỉ ngơi và chuẩn bị cũng mất một thời gian đáng kể. Nhưnăm Minh Mạng 19 (1838) lúc đầu ấn định khởi hành hạ tuần tháng 3, nhưngvì gió Đông nổi lên liên tục kèm theo mưa lớn, tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành được. Lúc đầu kế hoạch tính đo đạc giáp vòng Hoàng Sa từ hạ tuần tháng 3 đến hạ tuần tháng 6 là hoàn tất công việc.
Sau dù có đi trễ, thời gian hoàn tất tháng 6 vẫn không thay đổi. Nếu chậm trễ mà có lý do chính đáng thì không sao, song nếu tùy tiện thì bị phạt, hay làm không chu tất cũng bị phạt. Nếu hoàn tất tốt đều được thưởng. Trong khi năm Minh Mạng thứ 16 (1835), cai đội Phạm Văn Nguyên trên đường công tác đi Hoàng Sa về chậm trễ, đã có chỉ giao Bộ Công trị tội và bị phạt 80 trượng, song cho phục chức cai đội. Tộc họ Phạm Văn hiện có Nhà thờ họ và lăng mộ tộc họ ở thôn Đông xã Lý Vĩnh (trước đây là phường An Vĩnh). Hiện có hàng trăm hậu duệ đang sống tại huyện đảo Lý Sơn. Các viên giám Thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Văn Hoằng vẽ hoạ đồ Hoàng Sa chưa chu tất cũng bị phạt mỗi người 80 trượng. Song cùng đi chuyến này những người trong đội Hoàng Sa nhưVõ Văn Hùng (tộc họ Võ hiện còn từ đường ở thôn Tây, xã Lý Vĩnh, xưalà phường An Vĩnh, thuộc huyện đảo Lý Sơn), Phạm Văn Sanh (hiện họ Phạm Văn còn từ đường và khu "lăng" mộ ở thôn Đông, xã Lý Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn) hướng dẫn, đo hải trình vất vả, được thưởng mỗi người 1 quan tiền Phi Long ngân tiền và bình thệ, dân phu 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định đi theo cũng được thưởng mỗi người 1 quan tiền. Cũng thế vào năm Minh Mạng 18 (1837), do khởi hành chậm trễ, những người được kinh phái như thủy sư suất đội Phạm Văn Biện, tỉnh phái hướng dẫn Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh (lần trước được thưởng) đều bị phạt. Trong khi các dân binh hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định đi theo vẫn được thưởng 2 quan tiền. Những chi tiết trên đã minh hoạ rất hùng hồn việc thực thi chủ quyền của Việt Nam trong việc đo đạc thủy trình và vẽ bản đồ.
Nhiệm vụ đo đạc ở Hoàng Sa được qui định cũng rất rõ ràng có ghi trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ quyển 165 cũng như Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, quyển 221 như sau: “Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nướcbể nông hay sâu. Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở tình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tường vẽ Thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thủy đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường? lại ở chốn ấy trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào? và phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để về trình lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm”.
Như thế việc đo đạc phải kết hợp với việc vẽ hoạ đồ mà chuyên viên vẽ hoạ đồ lại là các viên giám Thành. Việc đo đạc để vẽ bản đồ về Hoàng Sa Dưới triều Nguyễn đã được bắt đầu từ thời Gia Long 14 (1815), song đến đời Minh Mạng mới được thúc đẩy mạnh. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835) các viên giám Thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Hoàng vẽ hoạ đồ Hoàng Sa chưa chu tất đã bị phạt mỗi người 80 trượng như đã nêu trên. Tấu của Bộ Công vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) cũng chỉ vẽ được một nơi và cũng chưa biết rõ nên làm thế nào. Theo dụ vua Minh Mạng ngày 13 tháng 7 năm thứ 18 (1837), thủy quân đi Hoàng Sa vẽ Thành đồ bản 11 nơi, tuy nhiên chưa được chu đáo lắm. Theo Tấu Bộ Công ngày 21 tháng 6 Minh Mạng thứ 19 (1838), thủy quân đệ trình sau khi đo đạc 3 nơi với 12 hòn đảo đã vẽ được 4 bức đồ bản, 3 bức vẽ riêng và 1 bức vẽ chung, song cũng chưa vẽ rõ ràng lắm, Bộ Công phải yêu cầu vẽ lại tinh vi hơn. Kỹ thuật đo đạc và vẽ bản đồ Hoàng Sa của Việt Nam vào thời kỳ Nhà Nguyễn tuy có kỹ, chu đáo hơn trước, song vẫn còn lạc hậu so với kỹ thuật tân tiến của Phương Tây lúc bấy giờ, nhất là chưa xác định được toạ độ theo kinh độ và vĩ độ trên toàn địa cầu.
Vì thế, các hải đồ tuy có nhiều chi tiết, song không phải chỉ có hải đồ là có thể đi biển chính xác mà lúc nào cũng cần đến những người từng trải đã từng lái thuyền đến các vùng biển đã đi qua. Các hải đồ về Hoàng Sa vốn được các giám Thành vẽ hoặc được lưuở vệ giám Thành, hoặc ở thủy quân và Bộ Công. Rất tiếc qua cuộc binh biến ngày 4 - 7 - 1885 và cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp vào năm 1946, kinh Thành bị đốt phá, đã không còn giữ lại những tập bản đồ qúi giá về Hoàng Sa đã được vẽ rất kỹ lưỡng. Chúng ta chỉ biết chắc từ năm 1838 thủy quân triều Minh Mạng đã vẽ được một bản đồ chung về Hoàng Sa. Những người Pháp cộng tác với vua Gia Long, Minh Mạng như Chaigneau, giám mục Taberd đã viết rất rõ về những hành động của vua Gia long như Chaigneau đã viết trong hồi ký “Le mémoire sur la Cochichine" “Chỉ đến năm 1816, đương kim Hoàng đế đã chiếm hữu quần đảo ấy” hay giám mục Taberd viết: “Chính là vào năm 1816 mà Ngài (vua Gia long) đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong. Gutzlaff năm 1849 đã cho biết chính quyền Việt Nam thời Gia Long đã thiết lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh cá Việt Nam". Những người Phương Tây trên không phải là những nhà nghiên cứu nên chỉ ghi nhận sự kiện trước mắt, đương xảy ra, chứ không biết quá khứ từ lâu việc thực thi chủ quyền của Việt Nam nhưthế nào ở Hoàng Sa. Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhất kỷ, quyển 50 đã ghi chép hoạt động của đội Hoàng Sa để xem xét, đo đạc thủy trình do Phạm Quang Anh làm đội trưởng vào năm 1815. Đến năm 1816, vua Gia Long lần đầu tiên ban lệnh cho thủy quân với sự hướng dẫn của dân binh đội Hoàng Sa đi xem xét, đo đạc thủy trình ở quần đảo Hoàng Sa (Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 52).
Sang thời Nhà Nguyễn, nhất là từ thời Minh Mạng, thủy quân hàng năm liên tục đã Thành lệ đều đặn ra Hoàng Sa, Trường Sa đi vãng thám, đo đạc thủy trình, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền, và các hoạt động khác trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa… Lực lượng thủy quân làm nhiệm vụ xác lập và thực thi chủ quyền này là một “lực lượng đặc nhiệm” gồm kinh phái, tỉnh phái và dân binh địa phương trong có dân binh đội Hoàng Sa. Kinh phái đứng đầu là thủy quân cai đội hay thủy quân chánh đội trưởng chỉ huy cùng với lực lượng thủy quân lấy trong vệ thủy quân đóng ở kinh Thành hay ở cửa Thuận An. Ngoài thủy quân kinh phái còn các viên giám Thành trong vệ giám Thành, là những chuyên viên vẽ bản đồ nhưđã trình bày ở trên. Tỉnh phái là các viên chức ở tỉnh Quảng Ngãi có nhiệm vụ phối hợp với kinh phái trong công tác hướng dẫn, cung cấp dân công, lo xây dựng, đồng thời còn điều động binh dân ở tỉnh Quảng Ngãi, có khi gồm cả dân binh tỉnh Bình Định nhưtrong chuyến công tác năm 1835 và 1837 đã dẫn trên đây.
Nhiệm vụ của “lực lượng đặc nhiệm” luôn được Hoàng đế Việt Nam theo sát và ra chỉ dụ cụ thể nhất là Dưới triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, cho ta thấy nhiệm vụ của lực lượng đặc nhiệm này quan trọng đến chừng nào. Cũng chính vua Minh Mạng ra chỉ dụ nói rõ việc làm cụ thể của từng chuyến đi. Tỷ như năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu trình lên vua về chuyến vãng thám Hoàng Sa của thủy quân, chính đội trưởng Phạm Hữu Nhật, vua Minh Mạng phê sửa (châu cải): “Báo gấp cho Quảng Ngãi thực thụ ngay, giao cho tên ấy (Phạm Hữu Nhật) nhận biên" và rồi vua Minh Mạng lại phê (châu phê): “Thuyền nào đi đến đâu, cắm mốc tới đó để lưudấu”. Cũng chính vua Minh Mạng theo dõi các chuyến đi công tác Hoàng Sa và đã nhiều lần ra chỉ dụ thưởng phạt. Thường dân binh đội Hoàng Sa ở Quảng Ngãi, Bình Định luôn được thưởng 1 hay 2 quan tiền và miễn thuế về sự cực khổ vất vả theo đoàn. Còn các viên chỉ huy như cai đội, chánh suất đội, các viên chức tỉnh phái mà chậm trễ đều bị tội. Các chuyến đi công tác ở Hoàng Sa cũng được tổ chức chuẩn bị kỹ lưỡng. Chỉ đạo ở trên có Hoàng đế và Bộ Công, thi hành có vệ thủy quân là chính phối hợp với vệ giám Thành, và tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định. Thời gian chuẩn bị, từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836) Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 154 có ghi rõ: “Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám Thành đáp 1 chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa”. Như thời gian hàng năm chuẩn bị từ hạ tuần tháng giêng (tháng 2 Dương lịch) đến thượng tuần tháng hai (tháng 3 Dương lịch) thì có mặt ở Quảng Ngãi, để sang tháng 3 âm lịch (tháng 4 Dương lịch) là lúc biển yên nhất thì khởi hành đi Hoàng Sa. Từ Quảng Ngãi, phải thuê 4 chiếc thuyền của dân. Đó là loại thuyền câu, song nhẹ và nhanh hơn, nhỏ hơn thuyền Điếu hải thuộc thủy quân ở các tỉnh trong đó có tỉnh Quảng Ngãi. Đến đời vua Minh Mạng, thuỷ quân mới được tổ chức thật qui củ có nhiệm vụ ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ còn có cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và TrườngSa. Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển 6 đã ghi chép rằng trước năm Minh Mạng thứ 16, Nhà vua sai quân lính ra dựng bia đá làm dấu đã thấy có nơi phía Tây Nam đảo có ngôi cổ miếu, không biết kiến thiết vào thời đại nào và có bia khắc bốn chữ “Vạn Lý Ba Bình”. Nhưthế trước thời Minh Mạng đã có việc khắc bia, dựng miếu chùa rồi.
Đến năm Minh Mạng thứ 14 (1833), vua Minh Mạng đã chỉ thị cho Bộ Công sang năm Minh Mạng thứ 15 (1834) phái người ra dựng bia chủ quyền. Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ, quyển 165 cũng đã chép rất rõ từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ công tâu vua cứ hằng năm cử người ra Hoàng Sa ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ và còn cắm cột mốc, dựng bia. Tập tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng 17 (1836) với lời châu phê của vua Minh Mạng cũng đã nêu rất rõ: “Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc". Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ nhị kỷ, quyển 6 còn ghi rõ: “Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưabinh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm dấu mốc. Mỗi bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ: “ Minh Mạng Thập Thất Niên Bính Thân thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa tường đồ chí thử, hữu chí đẳng tài (tờ
25b)”. (Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ) Mỗi năm cột mốc đều khắc rõ niên hiệu, năm, chức vụ, họ tên viên chỉ huy “lực lượng thủy quân đặc nhiệm”, được phụng mệnh ra Hoàng Sa và ghi dấu để nhớ. Nếu chỉ tính sử sách có ghi rõ tên những người chỉ huy đội thủy quân đặc nhiệm của các năm cụ thể thời Minh Mạng nhưcai đội thuyền Phạm Văn Nguyên năm Minh Mạng thứ 16 (1835), chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật năm Minh Mạng thứ 17 (1836), thủy sư suất đội Phạm Văn Biện năm Minh Mạng thứ 18 (1837), thì số đảo được đánh mốc cũng rất đáng kể. Mỗi thuyền 10 bài gỗ. Mỗi năm 4, 5 thuyền có thể cắm mốc tối đa 40, 50 cột mốc tại các đảo, song rất khó tổng kết tổng cộng trên thực tế cắm cột mốc được bao nhiêu đảo.
3. Thủy quân xây dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Các vị vua chúa Việt Nam, nhất là thời vua Minh Mạng rất quan tâm đến việc dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua đã chuẩn y lời tâu của Bộ Công cho tỉnh Quảng Ngãi cất miếu Hoàng Sa một gian theo thể chế Nhà đá. Việc dựng miếu này theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ, quyển 154, đã cho biết rõ năm Minh Mạng thứ 15 (1834) đã không thực hiện việc xây dựng miếu như dự kiến mà đến mãi đầu tháng 6 mùa hạ, năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua Minh Mạng đã cử cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính và giám Thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu cách toà miếu cổ 7 trượng. Bên trái miếu, phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong việc chớ không như các đoàn khác có nhiệm vụ lâu dài hơn.Thường ba mặt miếu Hoàng Sa bên trái, bên phải và đằng sau đều trồng các loại cây. Theo Việt Sử Cương Giám Khảo Lược của Nguyễn Thông, thì các quân nhân đến đảo thường đem những hạt quả thủy nam mà rải ở trong và ngoài miếu, mong cho mọc cây để tìm dấu mà nhận. Nhưthế cây trồng ở Hoàng Sa chủ yếu trồng bằng cách gieo hạt, quả chứ không trồng theo kiểu trồng loại cây con. Đó cũng hợp lý vì mang cây con ra biển đi trên thuyền nhỏ như thế cũng khó khăn, khó bảo Dưỡng được cây sống để mà trồng.
Thời gian hoạt động hàng năm của thủy quân vào cuối mùa khô, kéo dài sang mùa mưa nhiều tháng trời, rất thuận lợi cho việc gieo hạt trồng cây. ý của vua Minh Mạng sai trồng cây cũng cho rằng gần đây thuyền buôn thường bị hại, nên trồng cây cũng cốt làm dấu dễ nhận ra đảo mà tránh thuyền bị tai nạn đâm vào đảo. Như thế, lợi dụng Việt Nam bị mất quyền tự chủ trong thời kỳ Pháp đô hộ, theo hoà ước 1884, quyền ngoại giao với nướcngoài do người Pháp đảm trách, chính quyền Quảng Đông, Trung Quốc lấy cớ các đảo ở biển Nam Hải vô chủ, đã tổ chức chiếm hữu bất hợp pháp, vi phạm trắng trợn chủ quyền của Việt Nam vốn đã từ lâu. Trước năm 1909 chưa hề có một bản đồ nào của Trung Quốc ghi tên Tây Sa và Nam Sa. Cuốn sách "Trung Quốc Địa Lý Giáo Khoa Thư" do Thượng Hải Thượng Vụ An Thư Quán, xuất bản năm 1906 ghi điểm cực nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam nhưsau: "Phía nam bắt đầu là vĩ độ 18013B lấy bờ biển Châu Nhai đảo Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam) làm điểm mút".
Đáng tiếc là về phía Pháp, theo hiệp ước 1884 hay hiệp ước 1885 được chỉnh sửa, lẽ ra phải có nhiệm vụ lên tiếng phản đối những hành động của Trung Quốc (dù đó là của chính quyền địa phương), song lại im lặng. Đúng nhưnội dung văn thư số 35 của ông Wilden, đại sứ đặc mệnh toàn quyền Pháp ở Trung Hoa gửi cho Bộ Ngoại Giao Pháp A. Briand ngày 28 tháng 7 năm 1930: "Mặc dù nướcPháp chưa bao giờ chính thức công nhận các quyền của Trung Quốc trên quần đảo này thì vẫn còn chuyện chúng ta rõ ràng đã bỏ qua không phản đối tất cả các hành vi mà Trung Quốc quan tâm tới việc ngắt quãng định kỳ thời hiệu, có thể chống lại họ, đang tìm cách từ vài năm nay chứng tỏ rằng họ coi quần đảo Hoàng Sa nhưbộ phận phụ thuộc vào lãnh thổ họ và đang cố gắng đặt chúng ta trước việc đã rồi". Trong khi đó, Triều đình Huế chỉ còn là hư vị từ thời vua Đồng Khánh. Trong thời vua Khải Định, quyền hành ở trong tay viên khâm sứ người Pháp là Le Fol. Sau khi người Trung Quốc sáp nhập hành chánh quần đảo Paracels vào huyện Châu Nhai, đảo Hải Nam, tỉnh Quảng Đông vào ngày 30 tháng 1 năm 1921 bằng một mệnh lệnh của chính quyền quân sự miền Nam Trung Hoa, thì chính quyền thuộc địa Pháp càng ngày càng quan tâm đến Hoàng Sa. Tài liệu lưu trữ, tài liệu của Phủ Toàn Quyền Pháp ở Sài gòn cũng như Bộ Thuộc Địa Pháp không có thông tin gì về chủ quyền lâu đời của "vương quốc Việt Nam", chỉ biết Hoàng Sa vẫn còn có những người Việt Nam ở Trung Kỳ "mang cả vợ con" đi đánh cá, sống ở đảo Hoàng Sa và có những xô xát đẫm máu với những người Trung Hoa ở Hải Nam và nhưthế chính quyền Pháp cho rằng có quyền ngang hàng khi chính quyền Trung Quốc chiếm hữu.
Mãi đến năm 1925, theo Khâm Sứ Trung Kỳ Le Fol viết trong thư ngày 22 tháng 1 năm 1926 gởi cho Toàn Quyền Đông Dương, người Pháp mơi bắt đầu nghiên cứu sâu quá trình xác lập chủ quyền của "vương quốc Việt Nam" tại quần đảo Hoàng Sa, trước khi cử ông Giám Đốc Viện Hải Dương Học Và Nghề Cá ở Nha Trang – ông M.A. Krempt đi thám sát Hoàng Sa. Qua kết quả nghiên cứu tìm hiểu về Hoàng Sa, Khâm Sứ Trung Kỳ LeFol trong thư ngày 22 tháng 1 năm 1929 gửi Toàn Quyền Đông DƯơng cho biết: "Trong tác phẩm (Géographie de la Cochinchine được dịch ra Tiếng Anh và đăng trong tạp chí Journal de la Société Asiatique de Bengale năm 1838, đức cha Jean Louis Taberd, giám mục Ismaropolis (Khâm Mạng toà thánh tại Nam Kỳ, Cao Miên và Champa) đã kể lại việc Hoàng Đế Gia Long đã chiếm hữu quần đảo Paracels năm 1816 và long trọng kéo lá cờ Nam Kỳ trên quần đảo. Việc chiếm hữu đó đã được các Biên Niên Sử của chính quyền An Nam hay Đại Nam Nhất Thống chí, Nam Việt Địa Dư tập 2 hay địa Dư nướcAn Nam, xuất bản năm thứ 14 đời Minh Mạng và cuối cùng "Đại Nam Nhất Thống Chí" quyển 6 hay "Địa Dư Duy Tân"; “các tài liệu trong kho lưutrữ của chính phủ An Nam cung cấp cho ta những chi tiết về hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải đặt Dưới quyền chỉ huy của đội Hoàng Sa”. Khâm Sứ LeFol viết tiếp: "Sau khi Trung Quốc có yêu sách vào năm 1909, vì nướcPháp thay mặt nướcAn Nam về quan hệ đối ngoại theo hiệp ước bảo hộ, đáng lẽ phải khẳng định quyền của nướcđược bảo hộ đối với các đảo hữu quan. Thì trái lại, hình nhưhoàn toàn không quan tâm đến vấn đề, nhưvậy làm lợi cho người Trung Quốc và Dường nhưhọ chuẩn bị cho việc nắm quyền sở hữu chính thức đối với các đảo đó".
Và cũng chính trong bức thư kể trên, ông LeFol đã cho biết trước khi mất, ông Thân Trọng Huề, thượng thư bộ Binh của triều đình Huế đã viết một văn thư ngày 3 tháng 3 năm 1925 khẳng định rằng: "Các đảo nhỏ đó bao giờ cũng là sở hữu của nướcAn Nam, không có sự tranh cãi trong vấn đề này". Ngày 31 tháng 3 năm 1939, Bộ ngoại giao Nhật Bản ra tuyên bố Nhật kiểm soát quần đảo TrườngSa. Tuyên bố chuyển tới đại sứ Pháp tại Nhật bằng một thông điệp khẳng định rằng Nhật Bản là người đầu tiên thám hiểm quần đảo Trường Sa vào năm 1917. Nhật Bản nhận rằng ở đó "không có một quyền lực hành chánh địa phương nào, đó là một tình trạng có hại cho các lợi ích của Nhật và về lâu dài có thể gây ra những khó khăn với Pháp". Ngày 4 tháng 4 năm 1939, Bộ Ngoại Giao Pháp gửi một công hàm phản kháng quyết định của Nhật và khẳng định các quyền của Pháp. Pháp được Anh ủng hộ trong cuộc tranh luận ngày 5 tháng 4 năm1939 tại Hạ Nghị Viện, đại diện Bộ Ngoại Giao Anh đã khẳng định chủ quyền quần đảo Trường Sa trọn vẹn thuộc nước Pháp. Do nhu cầu lập đầu cầu xâm chiếm Đông Nam Á, Nhật đã nhanh chóng chiếm vào năm 1938 đảo Phú Lâm (Ile Boisée) và đảo Itu - Aba (Ba Bình) của Trường Sa vào năm 1939. Mãi đến ngày Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật mới bắt làm tù binh các đơn vị lính Pháp đóng ở các đảo Hoàng Sa.
Suốt thời kỳ Pháp thuộc, các Nhà chức trách Pháp tuyên bố chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của vương quốc An Nam ở quần đảo Hoàng Sa mà nướcPháp có trách nhiệm bảo hộ, song các Nhà chức trách Pháp vì quyền lợi riêng tài của nước Pháp có những thái độ bất nhất, khi thì thờ ơ, không phản ứng kịp thời khi chủ quyền này bị nước ngoài (Trung quốc) xâm phạm, thậm chí còn lấy Hoàng Sa làm vật trao đổi trong quan hệ với Trung Quốc nhưPasquier thú nhận trong bức thư ngày 20 - 03 -1930 gửi cho Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa hoặc có ý đồ tách các đảo Phía Nam Biển Đông không còn nằm trong khối thống nhất của Hoàng Sa (Paracel) và cho đó là quần đảo Spratly vô chủ để người Pháp chiếm hữu cho riêng nước Pháp, song lại sát nhập vào Nam Kỳ, mà người Pháp gọi là sự sát nhập về hành chánh mà thôi. Sau khi bại trận, Nhật đã chính thức từ bỏ sự chiếm đóng trái phép. Song từ tháng 4/1956, quân Pháp rút khỏi Việt Nam, các nước đã lợi dụng tình trạng phòng vệ qua loa, chiếu lệ, yếu kém của quân đội Sài Gòn ở các đảo ở Biển Đông đã chiếm đóng trái phép: Trung Quốc chiếm đảo lớn nhất của quần đảo Hoàng Sa: Phú Lâm, Đài Loan chiếm đóng đảo lớn nhất Itu Aba của quần đảo TrườngSa, Philippines sau đó cũng tuyên bố TrườngSa trừ đảo TrườngSa (Pratley) là của Philippines nằm kế cận nướcnày rồi cũng chiếm một số đảo đá trong đó có đảo Song Tử Đông. Mãi năm 1988 bằng vũ lực, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa mới chiếm một số bãi đá của Trường Sa. Năm 1994, Việt Nam phản đối Trung Quốc đã xâm phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam khi Trung Quốc ký với công ty Crestones (Mỹ) cho phép thăm dò khai thác dầu mà Trung Quốc gọi là hợp đồng Vạn An Bắc 21. Ngày 18 tháng 4 năm 1994, ông R.C. Thompson, chủ tịch công ty Năng Lượng Crestones (Mỹ) ra thông báo với báo chí, nói rằng họ đang tiến hành khảo sát địa chấn và chuẩn bị thăm đảo để đánh giá tiềm năng dầu khí của khu vực, gọi là hợp đồng "Vạn An Bắc 21". Thông báo nói rằng: "Việc nghiên cứu khoa học và kế hoạch khai thác thương mại trong tàiơng lai là những bước phát triển mới nhất của lịch sử nghiên cứu khoa học và thăm dò ở Biển Nam Trung Hoa và Khu vực vạn An Bắc của Trung Quốc, bắt đầu từ những báo cáo năm 200 trước Công Nguyên vào thời Hán Vũ Đế!
Dù gì đi nữa việc chiếm giữ của các nướcđối với các đảo trong quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa là chiếm giữ bất hợp pháp bằng vũ lực, trái với Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Tất cả các chính quyền có trách nhiệm về chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền hợp pháp của mình. Mọi lời tuyên bố của bất cứ chính quyền nào kể cả chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà năm 1958, theo pháp lý quốc tế cũng không ảnh hưởng đến việc từ bỏ chủ quyền của Việt Nam. Trong khi 2 chính quyền ở miền Nam chịu trách nhiệm hành xử chủ quyền: một là Việt Nam Cộng hòa, hai là Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cũng như chính quyền CHXHCN Việt Nam thời thống nhất đã tiếp tục bảo vệ, không từ bỏ chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong khi kiên trì chờ thời cơ, vấn đề chủ quyền hợp pháp của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phải được làm rõ ở trong và ngoài nước, để mọi người không mơ hồ về một sự thực lịch sử: khi Việt Nam bị Pháp đô hộ và chiến tranh, các nước láng giềng đã lợi dụng xâm phạm, chiếm giữ bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa của dân tộc Việt Nam. Cái gì của Cesar phải trả lại cho Cesar. Trật tự thế giới mới văn minh trên cơ sở Hiến Chương Liên Hiệp Quốc phải được các nước bao gồm chính quyền và nhân dân tôn trọng triệt để. Có như thế nhân loại mới sống trong an bình, thịnh vượng, văn minh và tiến bộ.
Tuesday, January 24, 2012 8:32:09 AM
mĩ, chiến tranh biên giới phía bắc, trung quốc, việt nam
...
Vào ngày Thứ Bảy 8/3/2008, đã có một buổi hội thảo về Hoàng Sa & Trường Sa và tình hình Biển Đông nói chung, vào lúc 5:00pm (5 giờ chiều) tại trường Đại Học Berkeley do Berkeley Vietnamese-American Student Association tại trường này tổ chức. Người tham dự hầu hết là sinh viên ở lứa tuổi 20 - 30. Diễn giả là các anh Vinh Trần (tốt nghiệp khoa sử học tại University of Chicago), anh Lân Nguyễn (tốt nghiệp khoa chính trị học ở University of San Diego) và cô Liên Trần (sinh viên cao học phân khoa chính trị, Berkeley University, một trong những sáng lập viên của nhóm VietWill - www.vietwill.net). Trưởng ban tổ chức là cô Christie Hồ, hội phó ngoại vụ của Hội Sinh Viên Việt Nam tại đây.
Vì ở xa, anh Vinh Trần đã trình bày chủ đề qua hệ thống truyền hình trực tiếp. Cách nói chuyện của anh chứng tỏ anh nắm khá vững vấn đề, tuy nhiên vì trở ngại kỹ thuật từ hình ảnh tới âm thanh nên cử tọa cũng khó nghe được. Điểm son của cả người thuyết trình lẫn cử tọa là sự kiên nhẫn và kỷ luật để chờ đợi người trách nhiệm điều chỉnh kỹ thuật xảy ra hầu như… mỗi phút một lần! Cũng xin nói thêm là ngôn ngữ sử dụng trong buổi hội thảo hoàn toàn là tiếng Anh, cộng thêm những trục trặc kỹ thuật khiến cử tọa không thu nhận được là bao phần thuyết trình của anh Vinh, vì vậy bài trình bày của Lân Nguyễn và Liên Trần mặc nhiên trở thành phần chính của buổi thuyết trình.
Phần phát biểu của cô Liên có dàn bài được phóng chiếu lên màn ảnh nên cũng dễ theo dõi. Diễn giả đã trình bày căn bản của vấn đề về các khía cạnh lịch sử, địa lý và các diễn biến thời sự gần đây. Phần phát biểu kế tiếp của Lân nhấn mạnh vào điểm: Chúng ta cần phải làm gì.
Trong phần trao đổi ý kiến, một số điểm đã được nêu lên và được đả thông, tóm lược như sau:
1. Về công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký năm 1958 chỉ là một bản công hàm mang tính xã giao, cho biết sẽ tôn trọng lãnh hải của nước CHND Trung Hoa. Đây không phải là công hàm thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là một văn kiện không có giá trị pháp lý về chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa. Thứ nhất: trong công hàm không thấy đề cập đến các hải đảo. Thứ hai: cả hai quần đảo này đều nằm dưới vĩ tuyến 17, vào năm 1958 vốn không thuộc chủ quyền của Việt Nam mà là dưới quyền cai quản của chế độ Mỹ-Diệm, và trước đó là thuộc quyền cai trị của thực dân trong thời Pháp thuộc. Do đó chính quyền Việt Nam không thể ký kết nhượng lại cho ai một vật mà họ không sở hữu. Còn một vấn đề khác, theo hiến pháp và luật pháp Việt Nam từ năm 1946 thì lãnh thổ và lãnh hải là chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, bất cứ một văn kiện nào dâng nhượng lãnh thổ đều là vi hiến và vi phạm luật pháp. Thực tế cũng cho thấy Trung Quốc rất ít khi đưa ra bản công hàm này ra trong các buổi đối thoại công khai với Việt Nam và các nước liên quan, vì công hàm này không chứng minh được chủ quyền của họ đối với 2 quần đảo này. Trung Quốc đầu tiên chỉ công bố công hàm này trên Internet vào năm 2001 để tung hỏa mù, gây hoang mang trong dư luận người Việt. Những người Việt chống Cộng vô tình hay hữu ý đã tiếp tay cho Trung Quốc tuyên bố chủ quyền mà họ ngụy biện rằng của họ.
2. Về trận hải chiến Trường Sa vào năm 1988, một sinh viên thắc mắc rằng: Nếu quả thật công hàm năm 1958 có ý nghĩa rằng Việt Nam thừa nhận Trường Sa là của Trung Quốc, thì tại sao năm 1988 Trung Quốc và Việt Nam lại giao tranh quyết liệt tại đây? Như vậy là mâu thuẫn, một chính quyền không thể vừa nhượng đất vừa giao tranh với kẻ đến chiếm đất. Kết luận được rút ra là: Sự kiện có trận hải chiến này càng cho thấy công hàm năm 1958 là vô giá trị về mặt pháp lý, không có ý nghĩa nhượng đất, và Trung Quốc đã diễn giải công hàm một cách xuyên tạc theo chủ ý của họ. Trường Sa đã liên tục thuộc chủ quyền của Việt Nam (triều Nguyễn), Pháp, Mỹ, rồi lại về tay Việt Nam mà không hề có sự hiện diện của Trung Quốc. Năm 1975 khi Việt Nam giành được hoàn toàn độc lập và thống nhất từ tay Mỹ, Trường Sa được giải phóng và chuyển qua quyền quản lý của chính quyền Hà Nội, liên tục cho tới năm 1988 mới có chuyện một hòn đảo ở đây bị hải quân Trung Quốc xâm lấn và chiếm đóng bất hợp pháp.
2. Người Việt Nam nói riêng và nhân dân thế giới yêu chuộng hòa bình nói chung phải góp tiếng nói với chính quyền Trung Quốc và với công luận quốc tế về tình trạng khủng bố ngư dân Việt Nam ở Biển Đông. Sự kiện nhiều ngư dân bị hải quân Trung Quốc bắt bớ, có người bị chết, có người bị mất tích đã chứng tỏ ngư dân Việt Nam đang là nạn nhân của sự hiếu chiến của hải quân Trung Quốc.
Đính kèm là bản liệt kê các vụ khủng bố của hải quân Trung Quốc nhằm vào ngư dân Việt Nam trên Biển Đông: (Thông tin do một số sinh viên đưa ra)
· 12/2004: Bắt 80 ngư dân.
· 8/1/2005: Bắn chết 9 ngư dân, bắn bị thương 8 và bắt cóc thủy thủ đoàn còn lại mang về đảo Hải Nam, TQ.
· 1/2007: Cướp 5 ngư thuyền và bắt 60 ngư dân.
· 26/6/2007: Bắn bị thương 5 ngư dân khi họ đang trú bão tại đảo Hoàng Sa.
· 21/8/2007: Bắt 28 ngư dân tại Trường Sa.
· 15/1/2008: Đâm chìm 1 ngư thuyền và giết 10 ngư dân.
Trung Quốc cáo buộc các ngư dân Việt Nam đã “xâm phạm trái phép chủ quyền lãnh hải” của họ.
3. Trong cuộc tranh đấu bảo vệ chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, tuổi trẻ Việt Nam ở hải ngoại có vai trò chính về việc tuyên truyền sâu rộng chủ quyền biển đảo của Việt Nam ra ngoài thế giới, vận động bạn bè quốc tế cùng tham gia phong trào chống Trung Quốc bành trướng. Phải có những hành động thực tế lan rộng đến những trang web bạn, những blogs nước ngoài, những diễn đàn ngôn ngữ ngoại quốc, nhất là tiếng Anh và tiếng Trung. Không thể chỉ ngồi ở diễn đàn nhà và "chửi" Trung Quốc một cách vô thưởng vô phạt, ta chửi ta nghe. Vì vậy mà mọi cuộc tranh đấu bảo vệ chủ quyền Việt Nam phải tìm cách làm sao có được sự tham gia của đông đảo tầng lớp, trong nước đoàn kết với hải ngoại, có một nỗ lực tổng hợp dưới sự điều phối của chính phủ Việt Nam. Hạn chế tình hình “mạnh ai nấy làm”, kinh nghiệm lịch sử thời Pháp thuộc đã cho chúng ta thấy “mạnh ai nấy làm” thì sẽ không bao giờ thành công được. Đoàn kết là sức mạnh, chia rẽ là tất bại. Vì vậy trước tình hình này càng phải củng cố khối Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc, hỗ trợ và quảng bá Nghị quyết 36. Đồng thời góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước, phát triển kinh tế Việt Nam, thực tế cho thấy chỉ khi nào kinh tế mạnh, quân sự mạnh thì người ta mới xem trọng mình và thuận lợi cho việc đàm phán.
4. Cuộc thảo luận trở nên vô cùng sôi động khi mọi người bàn về thái độ cần có đối với Trung Quốc, nhất là trong dịp đuốc Olympic được rước qua San Francisco. Trong cuộc thảo luận này, có một số thành phần chống phá Việt Nam đã trà trộn vào và kích động xúi giục rằng biểu tình phản đối phải nhắm vào chính phủ Việt Nam là chính. Quan điểm này đều bị các sinh viên bác bỏ. Một ý kiến khác cũng bị bác bỏ, vì bị cho là không thực tế, phản tác dụng, là ý kiến phải trương lá cờ ba sọc của chế độ Sài Gòn cũ trong các cuộc biểu tình chống Trung Quốc và sẽ tìm cách thuyết phục các du học sinh chấp nhận tham gia biểu tình dưới lá cờ này.
Trong mục tiêu góp phần vào việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam bằng những việc làm trong khả năng của thanh niên hải ngoại, chủ trương nhấn mạnh vào khía cạnh nhân đạo để lên án Trung Quốc sát hại ngư dân Việt Nam và tranh đấu chấm dứt hành động tàn ác này đã được đa số tán thành vì có tác dụng nhiều mặt. Đây là việc làm vừa dễ tranh thủ sự cảm thông, đồng tình của thế giới, vừa giúp ích trực tiếp cho người Việt Nam mà cũng là tranh đấu bảo vệ chủ quyền dân tộc tại Biển Đông.
Vấn đề có nên mang cờ ba sọc hay không trong các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở California của anh em sinh viên không hiểu sao lại được một số người cố ý đem trở lại, sau đó việc này được bàn luận trong sự cân nhắc với nhiều ưu tư giữa hai nhu cầu:
- Làm sao để các du học sinh có thể yên tâm tham dự biểu tình chống Trung Quốc.
- Làm sao ban tổ chức không bị quy chụp là thân cộng rồi bị chính những người chống Cộng phá hoại cuộc biểu tình.
Sau cùng, một bạn trẻ đã mạnh dạn xác định dứt khoát về vấn đề “lá cờ”, câu trả lời là “Không”(!). Từ nay ban tổ chức và những người tham gia biểu tình chống Trung Quốc ở hải ngoại sẽ không mang theo bất cứ lá cờ nào cả, sinh viên đó lập luận như sau:
"Tôi không chấp nhận sự xuất hiện của lá cờ vàng ba sọc trong các cuộc biểu tình vì nó làm hạ thấp giá trị uy tín của đoàn biểu tình. Đây là lá cờ chỉ đại diện cho một vài cộng đồng người Việt tỵ nạn ở hải ngoại chứ không đại diện cho tất cả, và nhất là lá cờ này không đại diện cho quốc gia hay chính thể nào cả. Ai thích lá cờ đó thì hãy giữ nó trong nhà, đó là quyền tự do cá nhân của họ. Về lá quốc kỳ Việt Nam nền đỏ sao vàng, đây là lá cờ tôi tôn trọng, nhất là sau khi Việt Nam và Mỹ đã bang giao với nhau, nhưng trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc, bảo vệ chủ quyền của Việt Nam, tôi đặc biệt cần sự tham gia của đông đảo đồng hương tại hải ngoại, mặc dù đây là quốc kỳ chính thức của nước Việt Nam trong cộng đồng thế giới, tôi không đem theo lá cờ đó để bớt đi một cái cớ những kẻ bảo thủ, chống Cộng cực đoan chửi bới, chống đối, dèm pha, thậm chí có thể chủ động phá hoại."
Để đoàn người Việt Nam này có một biểu tượng thống nhất, chúng tôi không dùng lá cờ, mà biểu tượng đoàn kết của chúng tôi là Trống Đồng Âu Lạc - Việt Nam.

Đây là một biểu tượng mà tất cả mọi người mang dòng máu Lạc Hồng đều có thể chấp nhận.
Đến đây cuộc hội thảo về Hoàng Sa và Trường Sa tại Berkeley khép lại. Những thanh niên, thiếu nữ này đã mang lại cho người viết niềm tin và hy vọng, tự hào ở thế hệ trẻ kiều bào hải ngoại. Trong hàng ngũ của họ, có những bạn sinh ra ở Mỹ, không nói được tiếng Việt hoặc nói tiếng mẹ đẻ rất... bập bẹ. Trong đó cũng có những bạn mang rõ ngoại hình của một thanh niên mới qua Mỹ không lâu, không rõ là du học sinh hay qua đây theo diện nào khác, nhưng nhìn chung thì tất cả đều tha thiết với việc bảo vệ chủ quyền dân tộc.
Berkeley tuy cách xa quê hương Việt Nam vạn dặm nhưng hình như con người Việt Nam có thể rời xa quê hương nhưng không thể nào lấy tinh thần dân tộc ra khỏi mỗi người Việt Nam. Những người trước đây lầm đường lạc lối cũng dần trở về với hàng ngũ dân tộc. Đó là lý do ngày xưa quân đội viễn chinh Pháp / Mỹ hùng mạnh như vậy mà còn phải thúc thủ trước sức đề kháng của cha anh chúng ta. Quân Giải Phóng Trung Quốc cũng bị quân đội ta đánh bật ra khỏi 6 tỉnh biên giới phía bắc năm 1979. Trung Quốc ngày nay dù vô cùng lớn mạnh, là một siêu cường hàng đầu thế giới, nhưng một ngày nào đó họ nhất định phải bước ra khỏi Hoàng Sa và một phần Trường Sa của chúng ta.
Giấc mộng bành trướng và bá chủ biển Đông của Trung Quốc sẽ mãi mãi chỉ là giấc mơ khi người Việt Nam chúng ta đồng lòng đoàn kết đối phó.
H.T.S.