Thiếu Long's blog

123 năm ngày sinh Bác Hồ (19/5/1890 - 19/5/2013)

Subscribe to RSS feed

Posts tagged with "kháng chiến chống mỹ"

Sticky post

Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 (kỳ 4 và hết)

, , , ...

Kỳ 4: Tổng kết cuộc chiến tranh Mỹ - Việt 1954-1975
(tiếp theo kỳ 3)

--------------------------------------------------------------------------------------------

Mục lục:

Hậu quả chiến tranh

Chiến tranh tâm lý của Mỹ ở Việt Nam

1. Tố Cộng

2. "Thảm sát ở Huế"

Những tội ác chiến tranh được các nhân chứng và nhà nghiên cứu độc lập ghi nhận

Một số ngộ nhận thường thấy trong cuộc chiến

Tình nghĩa giữa Việt Nam với nhân dân Mỹ và thế giới

1. Ngọn lửa Morrison

2. Biểu tượng Martin Luther King

Nguyên nhân chiến thắng

1. Nguyên nhân sâu xa

Ý nghĩa chiến thắng

1. Giải phóng hoàn toàn miền Nam

2. Thống nhất đất nước


--------------------------------------------------------------------------------------------

Trước khi bùng nổ cuộc chiến lịch sử với Việt Nam, Hoa Kỳ đã trải qua khoảng 150 cuộc chiến với hàng ngàn chiến dịch, hàng vạn trận đánh từ năm 1776 đến 1953, trong suốt quãng thời gian dài đó, quân đội Hoa Kỳ chưa thua 1 cuộc chiến nào.

Tại Việt Nam năm 1954, Pháp chưa đi - Mỹ đã đến. Say men bách chiến bách thắng, nhà cầm quyền Mỹ đã chọn sai đối tượng ngay từ đầu khi họ chọn Việt Nam làm đối tượng tiến hành chiến tranh xâm lược. Họ vào một quốc gia có truyền thống chống ngoại xâm lâu đời, và tồn tại, độc lập, tự chủ sau bao nhiêu nghiệt ngã của thời cuộc. Sau 1000 năm Bắc thuộc và 100 năm Pháp thuộc, dân tộc Việt Nam đã phải gồng mình đứng lên chống quân xâm lược mới.

Trải qua 177 chiến dịch, bao gồm 130 chiến dịch trên bộ, 34 chiến dịch trên không, và 13 chiến dịch trên biển, Chiến tranh Việt Nam (cách gọi theo góc nhìn Mỹ), trở thành cuộc chiến đầu tiên và đang là duy nhất trong lịch sử Hoa Kỳ mà người Mỹ đã thua.

Thường trong các cuộc chiến tranh, phe tấn công xâm lược hầu như không bao giờ thừa nhận chiến bại (đặc biệt là Trung Quốc mấy ngàn năm nay). Và kết quả thắng bại trong các cuộc chiến cũng thường có những tranh luận, quan điểm khác nhau trong giới nghiên cứu quốc tế. Nhưng đối với cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam thì gần như tất cả nhà sử học, nhà quân sự, nhà lãnh đạo, chính trị gia Hoa Kỳ và quốc tế, bao gồm 5 đời tổng thống Mỹ, Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara, ngoại trưởng Henry Kissinger v.v. đều nhìn nhận là Mỹ đã thua cuộc chiến này.

Chỉ có 1 người luôn khăng khăng không dám chấp nhận sự thật rằng Mỹ đã chiến bại, đó là đại tướng William Westmoreland, tổng tư lệnh liên quân ở Việt Nam. Những thất bại của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam, đỉnh cao là chiến dịch Mậu Thân, đã làm cho Westmoreland bị cách chức, đây là một vết nhơ và nỗi nhục trong binh nghiệp của ông ta, và là một tỳ vết cho gia đình có truyền thống quân ngũ của ông ta. Ông ta bị thân bại danh liệt, danh dự cá nhân và gia đình tiêu tan, sự nghiệp quân sự và cả chính trị đã tiêu tan trong Chiến tranh Việt Nam.

Trong Chiến tranh Việt Nam, sau nhiều thất bại và chịu nhiều áp lực nóng hổi từ chính phủ, Westmoreland đã "không vui", sau khi bị cách chức ngay sau đợt 1 của cuộc tổng tấn công chiến lược năm Mậu Thân 1968, ông ta càng cay đắng. Và tâm lý cay đắng không cam lòng đó đã đi theo và ám ảnh Westmoreland suốt quãng đời sau này. Khi trả lời phỏng vấn phim tài liệu nổi tiếng Hearts and Minds (Trái tim và khối óc) năm 1974, khi được hỏi về các tội ác, thương vong do người Mỹ gây ra ở Việt Nam, để giảm nhẹ tội ác, Westmoreland nói: "Người Á Đông không đặt cao giá trị sinh mạng họ như người phương Tây. Chúng ta đánh giá cao sinh mạng và giá trị con người. Họ không quan tâm đến sinh mạng và giá trị con người".

Trong lần trả lời phỏng vấn tạp chí George năm 1998, khi được hỏi về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người được đông đảo giới quân sự quốc tế đánh giá là một thiên tài quân sự, Westmoreland đã lúng túng trả lời một cách vụng về: "Ừ thì dĩ nhiên ông ta là một đối thủ xứng tầm. Để tôi nói thêm là Giáp đều luyện quân theo đơn vị thấp với chiến thuật du kích, nhưng ông ta cứ quyết phải xua quân tiến hành chiến tranh đơn vị cao, làm cho quân của ông ta bị tổn thất kinh khiếp. Với trách nhiệm của ông ta, đến năm 1969, tôi nghĩ, ông ta đã mất, cái gì, hình như khoảng nửa triệu lính? Ông ta đã công bố điều này? Sự không quan tâm đến sinh mạng con người đó có thể làm nên một đối thủ tạm được, chứ nó không làm nên một thiên tài quân sự. Một tư lệnh Mỹ mà mất nhiêu đấy lính khó có thể tồn tại trong quân ngũ hơn vài tuần."

Theo danh sách đang cập nhật, bổ sung của Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở thủ đô Washington DC, Hoa Kỳ, và Tạp chí Lịch sử Quân sự Việt Nam, tài liệu của Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương thì tổng thương vong của quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam là 365.157 quân.

Trong số hơn 36 vạn quân Mỹ thương vong, có 58.168 lính chết trong lúc giao tranh (kill in action). Bản danh sách đầu tiên năm 1982 là gồm 57.939 người, và 1.875 người vẫn còn mất tích (tính đến năm 2004).

Trong số 58.168 người Mỹ tử trận, có 7.878 sĩ quan. Trong số sĩ quan chết trận, có 426 tư lệnh và sĩ quan chỉ huy. Trong số đó có 37 người cấp tướng. Sự tổn thất to lớn của Mỹ ở Việt Nam đã vượt Thế chiến I và chiến tranh Triều Tiên.

Có hơn 6 triệu người Mỹ sinh hoạt, hoạt động ở Việt Nam. Trong số những người Mỹ đó có 2.709.918 người mặc đồng phục (in uniform) hoặc/và phục vụ khu vực giao tranh. Trong số những người đó có khoảng 55-60 vạn binh lính phục vụ cho chính phủ Mỹ ở Việt Nam. Tổng số cựu quân nhân chiến tranh Việt Nam chiếm 9,7% cả thế hệ của họ....

Đối với quân đội Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam căng thẳng hơn cả Thế chiến II. Trung bình mỗi người lính bộ binh Mỹ trong chiến tranh Thái Bình Dương (thuộc Thế chiến II) tốn khoảng 40 ngày chiến đấu trong 4 năm. Nhưng trung bình mỗi người lính bộ binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam tốn khoảng 240 ngày chiến đấu trong 1 năm nhờ chiến thuật Trực thăng vận.

Đi kèm theo sự tổn thất to lớn về sinh lực, nhân mạng là sự phá sản của 3 chiến lược chiến tranh (Đặc biệt, Cục bộ, Việt Nam hóa), 2 chiến lược tác chiến (Tìm và Diệt - Search and Destroy [S&D], Quét và Giữ - Clear and Hold), chiến lược Quét và Giữ (Clear and Hold) được tướng Creighton Abrams áp dụng tại Việt Nam, thay cho chiến lược Tìm và Diệt của Westmoreland, sau khi ông thay thế Westmoreland làm tổng tư lệnh liên quân sau thất bại chiến lược của Hoa Kỳ trong chiến dịch Mậu Thân 1968. Quét và Giữ về cơ bản là một chiến lược chống nổi dậy và chống chiến tranh du kích, bao gồm 3 yếu tố: Các chiến dịch quân sự - dân sự phối hợp, chiến dịch quân sự tác chiến, và chiến tranh thông tin.

Ngoài ra, 3 loại hình chiến tranh công nghệ cao là chiến tranh điện tử (electronical warfare), chiến tranh hóa học (chemical warfare), và chiến tranh khí tượng (weather warfare), cùng với 2 chiến thuật quân sự Trực thăng vận và Thiết xa vận đều bị phá sản hoàn toàn ở Việt Nam. Đặc biệt chiến thuật Trực thăng vận sau này không còn được Mỹ sử dụng nữa, mà chuyển hẳn sang chuyển quân bằng máy bay phản lực hoặc xe tăng. Chiến trường Việt Nam đã đưa đến cái chết hoàn toàn cho chiến thuật Trực thăng vận thịnh hành một thời, đặc biệt sau chiến dịch Đường 9 - Nam Lào.

Cuộc chiến tranh lịch sử này đã in sâu vào lòng công chúng Mỹ từ thế hệ này sang thế hệ khác và đã đi vào văn hóa đại chúng như là một "hội chứng Việt Nam". Tại Mỹ có hơn 30 ngàn sách, tiểu thuyết, truyện tranh viết về Chiến tranh Việt Nam; có 135 nhạc phẩm về Chiến tranh Việt Nam, gồm có 96 ca khúc phản chiến được lưu hành không chính thức, trong đó có 2 bài hát về cuộc thảm sát Đại học Tiểu bang Kent, khi cảnh sát Mỹ xả súng vào các sinh viên biểu tình ôn hòa phản đối chiến tranh (bài "Ohio" sáng tác năm 1970 và "Student Demonstration Time" năm 1971).

Tổng cộng có 64 phim điện ảnh Hollywood về Chiến tranh Việt Nam (bao gồm 6 phim trong cuộc chiến và 58 phim sau cuộc chiến). Có 8 phim tài liệu về Chiến tranh Việt Nam (gồm 4 phim trong cuộc chiến và 4 phim sau cuộc chiến). Đó là không tính các phim ảnh tâm lý chiến quá lộ liễu chiếm phần lớn nội dung như phim "Chúng tôi muốn sống".

Có 54 trò chơi thương mại về Chiến tranh Việt Nam, trong đó có 47 trò chơi điện tử, bao gồm 37 trò chơi cho các máy Nintendo, Sega, Playstation và 10 trò chơi máy tính.

Hầu hết các sản phẩm văn hóa của người dân Mỹ đều nói lên rõ nét những yếu tố chính trong cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, như bản chất cuộc chiến, phong trào phản chiến, và tội ác chiến tranh.

Trong bộ truyện tranh Watchmen, một trong những thương hiệu truyện tranh lớn nhất ở Mỹ, có câu chuyện về việc trong khi Mỹ đang thua thì tổng thống Richard Nixon đã mời được tiến sĩ siêu nhân Manhattan can thiệp vào chiến tranh Việt Nam và giúp quân đội Mỹ thành công bình định miền Nam, sau đó xâm lược nốt miền Bắc. Kết quả Việt Nam trở thành tiểu bang thứ 51 của Mỹ.

Trong bộ phim danh tiếng Forrest Gump, nhân vật chính là một người thiểu năng trí tuệ. Tuy vậy, khi sang Việt Nam chiến đấu anh lại trở thành anh hùng khi cứu được trung đội trưởng thoát chết sau một trận đánh. Khi trở về, anh lại tham gia phong trào phản đối Chiến tranh Việt Nam cùng người yêu.

Trong bộ phim X-Men Origins: Wolverine, người sói Wolverine, một trong những nhân vật chính trong đội siêu anh hùng X-Men, đã từng chiến đấu và gây các tội ác chiến tranh, hãm hiếp trẻ em ở Việt Nam.


Đại tướng Creighton W. Abrams, kiến trúc sư của chiến lược Quét và Giữ ở chiến trường Việt Nam

Hậu quả chiến tranh

Theo các hồ sơ, tài liệu của Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội, sau đây là các loại bom mà không quân Hoa Kỳ sử dụng ở Việt Nam:

  • Bom phá MK-81, MK-82, MK-83, MK-84, M117A1, T55-E6 sử dụng để diệt mục tiêu bằng sóng xung kích và mảnh của vỏ bom.
  • Bom mảnh sử dụng các mảnh thân bom để tiêu diệt mục tiêu lộ thiên hoặc thiết giáp hạng nhẹ khi nổ.
  • Bom xuyên sử dụng để diệt các mục tiêu bọc thép, phá hủy những công trình kiên cố, đường hầm, địa đạo, công trình bê tông cốt thép bằng cách xuyên vào mục tiêu và nổ.
  • Bom cháy sử dụng để diệt mục tiêu, sát thương sinh lực, đốt cháy nhà cửa, cây cối.
  • Bom hóa học sử dụng để diệt sinh lực hoặc gây nhiễm độc địa hình và các phương tiện kỹ thuật bằng chất độc quân sự. Các loại bom hóa học Mỹ ném xuống Việt Nam thường chứa chất độc kích thích CS, chất độc tâm thần BZ, LSD, Mescalin pxyloxin….
  • Bom phát quang thường dùng để phát quang nhanh khu vực rừng rậm, mặt đất để dọn bãi cho trực thăng đổ bộ và bố trí trận địa pháo.
  • Bom chống tăng dùng hiệu ứng nổ lõm để diệt xe tăng, mục tiêu bọc thép khác và kho chứa….
  • Bom chùm thường sử dụng để sát thương diện rộng, có kết cấu bom mẹ chứa bom con.



Miền Bắc điêu tàn dưới bom Mỹ

Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội Bùi Hồng Lĩnh cho biết kết quả điều tra trên cả nước có khoảng 66.000 km2 còn tồn đọng vật liệu bom, mìn. Ước tính còn khoảng hơn 600.000 tấn bom mìn đang tồn tại dưới đất. Hiện mới chỉ có khoảng 20% lượng bom, mìn được tháo gỡ. Bình quân mỗi năm có khoảng 20.000 ha đất được rà phá. Với tiến độ này, khoảng 300 năm nữa mới có thể loại bỏ được hết các loại bom mìn chưa nổ.

Bom mìn còn sót lại sau cuộc chiến này đã gây tổn thất nặng nề về sinh mạng, tài sản, đời sống của người dân, ảnh hưởng nặng nề đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Bom mìn đã cướp đi mạng sống của 10.529 người, làm 12.231 người bị thương, trong đó 25% các thương tích này là ở trẻ em lứa tuổi từ 14 tuổi trở xuống. Bom mìn do quân đội Hoa Kỳ mang đến Việt Nam tàn phá còn sót lại khoảng hàng trăm ngàn tấn, rải rác trên khắp cả nước, đặc biệt các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi....


Lính Mỹ mệt mỏi chán nản nhìn xác đồng đội. Trận chiến ban ngày kết thúc, họ chờ đợi trực thăng đến di tản đồng đội của họ khỏi các ngọn đồi có rừng nhiệt đới bao phủ tại tỉnh Long Khánh.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, chính phủ Hoa Kỳ đã huy động hàng triệu người Mỹ, trong đó có 4.649.000 người dưới 20 tuổi, khoảng 40% các nhà khoa học vật lý, 260 trường đại học, khoảng 22.000 xí nghiệp lớn với khoảng 5,5 triệu công nhân phục vụ cuộc chiến. Hơn 6 triệu người Mỹ sinh sống và sinh hoạt trong những vùng tạm chiếm ở miền Nam Việt Nam, hậu quả là gần nửa triệu con lai Mỹ ra đời, nhiều người trong đó không biết rõ cha mình là ai, nhiều người phải sống trong các cô nhi viện cả trong và sau cuộc chiến.

Riêng năm 1968, mỗi ngày Mỹ chi phí cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lên đến khoảng 100 triệu USD, gấp 10 lần chi phí cho cuộc chiến chống nghèo đói ở Mỹ trong thời gian đó. Riêng những hậu quả về con người: Tính từ giữa năm 1961 đến năm 1974, đã có tổng số 57.259 người Mỹ đã tử trận ở Việt Nam. Nếu tính theo toàn bộ thời gian cuộc chiến, từ năm 1954 đến 1975 thì có tổng số 58.168 người Mỹ đã chết ở Việt Nam. Tháng 11 năm 1982, chính phủ Hoa Kỳ đã khánh thành Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam để tưởng niệm những công dân Mỹ đã chết ở Việt Nam, bản danh sách ban đầu gồm 57.939 người, trong đó có 37 cấp tướng.

Tuy bị tổn thương nặng nề, Việt Nam vẫn giáng trả vào quân xâm lược những thiệt hại, thương vong tột cùng, gieo rắc vào đầu họ những hội chứng, ám ảnh không thể nào quên, trở thành những vết thương không bao giờ lành. Số lượng quân nhân Mỹ bị mắc bệnh tâm thần trong và sau thời gian chiến đấu ở Việt Nam là nhiều nhất trong tất cả các cuộc chiến mà quân đội nước này tham gia trong lịch sử.


Một người Mỹ đau khổ trước Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở thủ đô Washington DC, Hoa Kỳ.

Lần đầu tiên, vào năm 1988, chính phủ Mỹ buộc phải thừa nhận có khoảng 15% trong số lính Mỹ chiến đấu tại Việt Nam trở về bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng. Cựu binh Jim Doyle và David Curry chỉ là 2 trong số gần 60 vạn quân Mỹ bị chính phủ họ đẩy vào vũng lầy Việt Nam. Jim Doyle đã bị đẩy tới chiến trường Việt Nam khi mới 18 tuổi, mặc dù may mắn sống sót trở về, nhưng đến giờ người cựu binh này vẫn không thoát khỏi nỗi ám ảnh: "Chiến tranh là địa ngục. Nó tác động ghê gớm đến con người như một vết thương không thể hàn gắn.""Cuối cùng, tôi nhận ra rằng, chiến tranh không chỉ lấy cắp thời thanh niên của tôi mà còn đeo đuổi, ám ảnh suốt cuộc đời tôi". Các nhà xã hội học Mỹ cũng xác nhận: Kể từ sau năm 1975 đến nay, năm nào cũng có những cựu binh Mỹ đã từng chiến đấu ở Việt Nam bị tinh thần bất ổn, trầm cảm rồi tự sát.

Chiến tranh tâm lý của Mỹ ở Việt Nam

Hoa Kỳ luôn tận dụng mọi khía cạnh, mọi vấn đề để giành phần thắng, và trong các loại hình chiến tranh mà Mỹ tiến hành luôn luôn được hỗ trợ bằng chiến tranh tâm lý (psychological warfare - viết tắt: PSYWAR). Các tác chiến tâm lý bao gồm cả những hành động mua chuộc, chiêu dụ, lôi kéo những kẻ địch bản xứ đứng về phía Mỹ hoặc hiệu quả hơn đó là gia nhập hẳn vào hàng ngũ của Mỹ, như chiến dịch Moolah mà Mỹ đã sử dụng hạn chế ở Trung Quốc và sử dụng rộng rãi ở Triều Tiên, với đối tượng chiêu dụ chủ yếu là lực lượng không quân của đối phương. Chiến dịch Moolah khi đến Việt Nam đã được nâng cấp thành chương trình Chiêu Hồi (Open Arms), tấn công tâm lý vào mọi đối tượng của đối phương.


Thiếu tá Alan Byrne (trái) và trung tá Robert Laabs (phải), tham mưu trưởng Trung tâm Phát triển Chiến tranh tâm lý (PSYOP Development Center), Đoàn hành động Chiến tranh tâm lý 4 (4th PSYOP Group) ở Việt Nam năm 1968


Hình bìa sách giáo khoa hướng dẫn chiến tranh tâm lý do chính phủ Mỹ xuất bản năm 1968 trong Chiến tranh Việt Nam, có tên là MACV PSYOP Guide (Kim chỉ nam Chiến dịch Chiến tranh tâm lý - PSYOP). Lưu ý trong hình có hai người Việt trong nhà hàng đang đọc truyền đơn Chiêu Hồi.


Một trang trong kim chỉ nam chiến tranh tâm lý Chieu Hoi - The Winning Ticket (Chiêu Hồi - Tấm Vé Giành Chiến Thắng) do chính phủ Mỹ ấn hành năm 1970. Dịch: Một người bắt đầu nghĩ nếu được cho một cơ hội, anh ta có thể từ bỏ tranh đấu. Nhiều người quả thật từ bỏ tranh đấu, nếu họ có cơ hội.


Truyền đơn hù dọa của Mỹ. Dòng chữ ghi: Không có nơi nào để chạy.... không có nơi nào để trốn! Tăng và thiết giáp của lữ đoàn 1 Thiết Kỵ sẽ "tìm và diệt" các người! Đã quá muộn để chống cự. Việt Cộng hãy coi chừng, nơi nào cũng có chúng tôi! Bây giờ hãy quy thuận chương trình Chiêu Hồi; đó là con đường sống duy nhất của các người.

Hệ thống chiến tranh tâm lý của Hoa Kỳ được chia làm 3 phần: Chiến lược tâm lý, chiến dịch thông tin, và chiến thuật tâm lý. Mỗi sản phẩm thông điệp của chiến tranh tâm lý Hoa Kỳ đều được "chế tạo" thành và phổ biến rộng rãi ra một cách chuyên nghiệp.

Có 3 loại hình tuyên truyền mà Mỹ dùng để tạo nên các sản phẩm thông điệp, bao gồm tuyên truyền "Trắng" là một hình thức tuyên truyền công khai, chính thống, chính thức, tuyên truyền "Đen" và tuyên truyền "Xám" là hình thái tuyên truyền ngụy trang, che đậy, mờ ám, tiêu cực. Trắng, xám, đen không phải là sự phân loại về nội dung tuyên truyền, mà là sự phân loại về biện pháp, phương thức được sử dụng để thực hiện chiến dịch chuyển tải, phát tán những sản phẩm thông tin đó.

Chiến tranh tâm lý "Trắng" là loại hình tuyên truyền bằng những công bố, tuyên bố, hoặc động thái chính thức của chính phủ Mỹ, hoặc từ những thông tin được cung cấp bởi những nguồn có liên quan đến chính phủ Mỹ, cũng như những báo chí, truyền thông chính thống (mainstream media) tại Mỹ. Nó công khai cho thấy nó là thông tin từ phía Mỹ, từ chính quyền Mỹ.

Những cơ quan phụ trách tuyên truyền "Trắng" nhắm vào đối tượng độc giả, khán thính giả nước ngoài bao gồm: Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, Sở Thông tin Hoa Kỳ (United States Information Agency - USIA), Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (United States Agency for International Development - USAID), Bộ quốc phòng Hoa Kỳ, và nhiều sở, bộ khác của chính phủ Hoa Kỳ.

Chiến tranh tâm lý "Xám", là loại hình tuyên truyền bằng những nguồn tin mờ mịt, mơ hồ, không rõ ràng. Nguồn gốc thật (chính phủ Mỹ) không được tiết lộ tới những đối tượng độc giả, khán thính giả. Những nguồn tin được ngụy tạo như là một nguồn tin phi chính thống không phải từ chính phủ Mỹ, hoặc "trung lập" giả tạo, hoặc ngụy tạo là những nguồn từ phía thứ ba không thù địch với đối tượng mà chính phủ Mỹ muốn bôi nhọ.

Chiến tranh tâm lý Xám cũng có thể là những nguồn tin tuyên truyền cho góc nhìn, quan điểm của Hoa Kỳ, phục vụ cho lợi ích của chính sách ngoại giao Hoa Kỳ, có hại cho đối tượng mà Hoa Kỳ muốn bôi nhọ, mà không trực tiếp từ Hoa Kỳ, có thể từ những quốc gia "vệ tinh" của Mỹ, những quốc gia lệ thuộc Mỹ, những đồng minh lâu năm của Mỹ v.v. mà có bàn tay của Mỹ của trong đó. Có nhiều trường hợp những tác động, tham gia của phía Mỹ cũng không được tiết lộ.

Chiến tranh tâm lý "Đen", là loại hình tuyên truyền từ những nguồn (quốc gia, chính phủ, đảng phái, phe nhóm, tổ chức, cá nhân v.v.) có thái độ thù địch với cộng đồng quốc tế nói chung. Lợi dụng hoặc là ngụy tạo những nguồn đó. Lợi ích của chính phủ Mỹ được khéo giấu đi và chính phủ Mỹ nếu cần sẽ bác bỏ trách nhiệm. Loại hình tâm lý chiến này thích hợp cho những kế hoạch chiến lược cao.

Để đạt được hiệu quả cao nhất 2 loại hình chiến thuật chiến tranh tâm lý overt (công khai) và covert (giấu kín) đều phải được chia cách ra làm 2 tổ riêng rẽ, biệt lập với nhau. Nhân viên tham gia chiến thuật overt không thể tham gia chiến thuật covert, và ngược lại. Họ không biết được nhiệm vụ của nhau.


Tấm hình của lính Mỹ Paul Sgroi chụp chuyên viên tâm lý chiến John C. Stermer đang rải truyền đơn từ trực thăng UH-1H (Huey) vào năm 1969.


Truyền đơn được rải xuống từ máy bay U-10



Đội phát loa chiến tranh tâm lý Mỹ-ngụy trên chiến trường Việt Nam

Ngay từ đầu thập niên 1950, khi Mỹ chỉ mới đứng sau và viện trợ cho Pháp xâm lược Đông Dương, chứ họ chưa tiến hành chiến tranh với Việt Nam, thì chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên liệu trước, đề phòng trước, và đã cẩn thận cảnh báo về chiến tranh tâm lý của Mỹ và kêu gọi quân dân Việt Nam phải đề cao cảnh giác trước tâm lý chiến của Hoa Kỳ.

Trong thời gian đó Bác Hồ đã viết nhiều bài báo, phân tích, bình luận về các thủ đoạn và hình thức tẩy não, nhồi sọ, tuyên truyền dối trá của Mỹ, trong đó có 2 bài viết ấn tượng đó là bài "Tuyên truyền" do Bác Hồ viết ngày 25-5-1954 trên báo Nhân dân số 188 và bài "Chiến tranh nhồi sọ" do Bác viết ngày 25-7-1952 trên báo Cứu quốc số 2128.

Trong bài "Tuyên truyền", Bác viết: "Nói tóm lại, chúng dùng đủ mọi cách, mọi dịp để tuyên truyền, để hòng phá hoại tâm lý và tinh thần của nhân dân ta; cũng như chúng dùng bom đạn để phá hoại mùa màng và giao thông của ta." Cuối bài Người nhấn mạnh ý chính: "Chúng ta phải đánh thắng địch về mặt tuyên truyền, cũng như bộ đội ta đã đánh thắng địch về mặt quân sự!"

Trong bài "Chiến tranh nhồi sọ", Người viết: "Ở các nước, có hơn 400 cơ quan làm việc tuyên truyền cho Mỹ... Mỹ còn lập nhà thương, trường học, hội từ thiện, vân vân, ở các nước, để làm cơ quan tuyên truyền và ổ mật thám. Hiện nay, tại những vùng tạm bị (Pháp) chiếm ở nước ta, Mỹ đang ra sức xâm lược vǎn hoá để hủ hoá và gieo rắc bệnh phục Mỹ, thân Mỹ, sợ Mỹ vào nhân dân, nhất là vào thanh niên ở những vùng ấy. Đó là một điều mà cán bộ giáo dục và tuyên truyền ta phải đặc biệt chú ý và phải ra sức chống lại."


Hình bìa truyện tranh "Is this tomorrow, America under communism" (Phải chăng đây là ngày mai, Hoa Kỳ dưới chủ nghĩa cộng sản).


Rất nhiều sách, truyện tâm lý chiến đã được xuất bản ở miền Nam Việt Nam. Tháng 7 năm 1967, 20 trang sách in màu, mật mã 2078, dưới tựa đề "Qua Cơn Ác Mộng" (The Chieu Hoi Story) được phát hành, truyện trình bày theo phong cách truyện tranh, hư cấu "nỗi niềm" của một "hồi chánh viên", những "trải nghiệm ác mộng" dưới chế độ cộng sản ở vùng giải phóng và và lý do vì sao anh ta phải thoát ly cách mạng.


Tháng 10/1967, 20 trang sách với 12 hình chụp với tựa đề "Nhật ký của người Hồi Chánh" (Diary of a Returnee), mật mã 2169, được phát hành, truyện hư cấu theo hướng nội dung kể trên. Sách này còn liệt kê danh sách những chế độ đãi ngộ, tiền thưởng để chiêu dụ.

Năm 1955, Mỹ đài thọ cho chính quyền Ngô Đình Diệm thành lập Nha Chiến tranh Tâm lý, người Mỹ chịu mọi chi phí. Năm 1965, cơ quan này đổi tên thành Cục Tâm lý chiến và sát nhập vào Tổng cục chiến tranh chính trị.

Hoạt động của Nha Chiến tranh Tâm lý trong những vùng tạm chiếm ở miền Nam chủ yếu là tẩy não, nhồi sọ, tuyên truyền chống cộng, bôi nhọ những người chống Mỹ, vu khống các nhà lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, bịa đặt hoặc xuyên tạc tình hình ngoài Bắc, "chụp nón cối" những nhóm đối lập với Mỹ-ngụy, nhất là trong giới tôn giáo, Phật giáo....

Các hoạt động này chủ yếu được thực hiện bằng những buổi truyền thanh (ví dụ: chương trình Dạ Lan, Nhạc Thời Chinh Chiến, Tiếng Ca Gửi Người Tiền Tuyến), truyền hình (ví dụ: chương trình Thép Súng), xuất bản (ví dụ: báo Chánh Đạo, báo Tiền Tuyến), chiếu phim (ví dụ: phim Chúng Tôi Muốn Sống do người Mỹ dàn dựng và sản xuất), văn nghệ (ví dụ: Biệt đoàn văn nghệ trung ương) .... Hai công cụ chính là Đài Phát thanh Quân đội và báo Chánh Đạo.


Áo tâm lý chiến. Trên áo là logo của chương trình Chiêu Hồi.



Những du kích phản bội nhận tiền thưởng sau khi dẫn binh lính Mỹ-ngụy tới kho vũ khí bí mật.

Hoạt động của nó trong những vùng giải phóng ở miền Nam và miền Bắc chủ yếu là kích động bất ổn, xúi giục, tung tin thất thiệt, tuyên truyền chống CNXH và CNCS, bôi nhọ chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, vu khống các nhà lãnh đạo của VNDCCH, bịa đặt hoặc bóp méo tình hình trong Nam, kêu gọi lật đổ chế độ, ca ngợi Mỹ-ngụy, tuyên truyền không trung thực về tình hình xã hội miền Nam, ca ngợi giả dối về hình ảnh một "Hòn ngọc Viễn Đông" "giàu mạnh", "phồn vinh", "thịnh vượng", tuyên truyền về các khái niệm "tự do", "dân chủ", "nhân quyền" theo định nghĩa và định hướng của Hoa Kỳ....

Các hoạt động này của nó chủ yếu bằng đài phát thanh "Tiếng nói Tự do", "Mẹ Việt Nam", "Gươm thiêng Ái quốc" (1965), "Tiếng nói Nam Bộ", "Tiếng nói Khmer" và "Mặt trận Dân tộc Đông Dương". Riêng 2 đài sau hoạt động chủ yếu nhằm gây chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia.


Hình tuyên truyền cho kế hoạch Ấp tân sinh (Ấp đời mới), sau khi kế hoạch Ấp chiến lược bị thất bại và phá sản.

Các cơ quan chiến tranh tâm lý của Mỹ-ngụy hoạt động theo phong cách phát xít chống cộng kiểu Đức Quốc Xã, như Joseph Goebbels, Bộ trưởng Tuyên truyền của Hitler đã tuyên bố đại ý: Sự thật là những gì không đúng sự thật được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, lúc đầu dân không nghe, còn bán tín bán nghi, nhưng lặp đi lặp lại mãi thì dân sẽ tin đó là sự thật.

Tuy nhiên kết quả cuộc chiến Việt - Mỹ và kết quả hạn chế của các hành động chống Nhà nước Việt Nam, lặp đi lặp lại những lời lẽ vu khống của các thế lực phản động từ sau cuộc chiến đến nay đã cho thấy rằng lý thuyết, quan điểm, cách làm này của Đức Quốc Xã và Mỹ-ngụy là không có nhiều hiệu quả.


Bích chương tuyên truyền chống cộng của phát xít Đức


Bích chương tuyên truyền của Đức Quốc Xã năm 1918, vẽ hình một người thuộc giai cấp vô sản đang chuẩn bị ném quả bom vào một thiên thần da trắng tóc vàng, được cho là ám chỉ chủng tộc "thượng đẳng" Aryan. Dòng chữ ghi: Bolshevik mang đến chiến tranh, thất nghiệp và đói khổ.

Các cơ quan liên quan đến ngành tâm lý chiến bao gồm:

Cục chính huấn, công tác chính của nó là tẩy não và nhồi sọ những thanh niên bị bắt lính. Cơ quan này đã sáng tác nhiều bài hát quân đội (ví dụ: "Hàng ngàn cánh tay đưa lên", "Giặc từ miền Bắc vô đây"), bắt chước thể loại nhạc hùng ca của Việt Minh, để "lên dây cót" tâm lý, kích động tinh thần quân lính và đưa họ ra chiến trường chiến đấu cho chính phủ Mỹ, đánh thay và đỡ đạn cho quân đội viễn chinh Mỹ.

Cục xã hội và Cục quân tiếp vụ, các chuyên viên và các nha tuyên úy lo việc "ru ngủ" các tầng lớp xã hội, bao gồm cả tôn giáo. Cung cấp đô la hoặc hàng hóa như thuốc lá, bơ, sữa cho binh lính và gia đình ở giá thấp hơn giá thị trường. Mở các hoạt động ngụy tạo từ thiện, bố thí tiền bạc và vật chất để quảng cáo, tiếp thị, quảng bá hình ảnh Diệm-Thiệu và "người bạn lớn Hoa Kỳ".

Trường Đại học Chiến tranh Chính trị: Đào tạo các kỹ năng tẩy não, nhồi sọ của chiến tranh tâm lý kiểu Mỹ. Tổ chức hội luận, nghiên cứu kỹ thuật tẩy não, nhồi sọ các thanh niên miền Nam bị bắt lính, và chương trình tẩy não, nhồi sọ trong các quân trường. Thành lập từ năm 1956 dưới tên Trường Quân báo Tâm lý chiến Cây Mai. Năm 1964 đổi tên thành Trường Chiến tranh Chính trị. Năm 1966 đổi tên thành Trường Đại học Chiến tranh Chính trị và dời lên Đà Lạt. Trường đào tạo được 6 khóa sĩ quan rồi bị giải tán sau ngày 30/4/1975.


Truyền đơn ngày 4/20/1968


Truyền đơn SP-782


Truyền đơn 2310

1. Tố Cộng

Trong chiến dịch Tố Cộng, ngoài những đàn áp bạo lực, bỏ tù, lưu đày, ám sát, chặt đầu để tiêu diệt người cộng sản, Mỹ-Diệm cũng thực hiện chiến dịch chiến tranh tâm lý quy mô lớn để mị dân trong một số khu vực. Tuy nhiên, chính những đồng bào không nằm trong hàng ngũ kháng chiến đã góp công rất lớn vào cuộc đấu tranh chống chiến tranh tâm lý.

Tại Quảng Trị, ngụy quyền chuẩn bị một bản danh sách "tội ác cộng sản" rồi bắt ông Lê Chí Khiêm trong ban trị sự hội Phật học lên đọc. Trước khi đọc ông nói: "Bản này không phải tự tay tôi viết ra, mà nói đây la tộc ác của cộng sản thì chính tôi chưa bao giờ nghe và chưa bao giờ thấy, nhưng người ta viết ra bảo tôi đọc thì tôi xin đọc để bà con nghe".

Hình tượng hơn là chuyện ở Phan Rí (Bình Thuận). Khi một quận trưởng muốn mị dân, cho tổ chức một cuộc tranh luận giữa ông ta với người dân địa phương về những cái tốt và cái xấu giữa phía kháng chiến và phía Mỹ-Diệm, ông Bộ Gạch người dân tộc Chăm đã đứng lên nói một điều không nằm trong các giáo trình tâm lý chiến mà người quận trưởng đã chuẩn bị từ trước: "Các ông có chín cái tốt và một cái xấu, còn cộng sản có chín cái xấu và một cái tốt. Các ông cái gì cũng tốt nhưng ở với dân xấu quá. Cộng sản cái gì cũng xấu nhưng ở với dân quá tốt. Các ông có làm gì đi nữa, lòng dân vẫn theo cộng sản và cuối cùng cộng sản vẫn thắng."

Trong một đêm Tố Cộng ở Chợ Lớn, một ông cụ đã nói: "Việt Cộng có nhiều cái xấu: Súng xấu, đạn xấu, quần áo xấu, chỉ có cái tốt là trong kháng chiến hồi đánh Tây đã sống chết để bảo vệ dân. Các ông thì có nhiều cái tốt: Súng tốt, xe cộ tốt, quần áo tốt, chỉ có cái xấu là giật của dân thôi".

Người dân còn đặt nhiều câu hỏi làm cho những kẻ chỉ đạo các cuộc Tố Cộng ấp úng khó trả lời như: "Các ông nói cộng sản độc tài, nhưng chúng tôi không thấy cộng sản độc tài vì trong kháng chiến cộng sản kêu gọi đánh Tây giành độc lập mới có hòa bình, dân đói họ kêu gọi sản xuất để được no ấm.", "Các ông nói cộng sản 'cướp công kháng chiến', nhưng lúc đánh Tây, các ông ở đâu, sao toàn thấy cộng sản?", "Nói quốc gia kháng chiến sao lại đi làm cho Tây?".

Những câu hỏi đúng sự thật như vậy làm cho ban tổ chức thường xuyên bị bí không trả lời được. Nhiều lần họ phải giải tán lớp học. Một người chủ tịch Hội đồng chỉ đạo tố cộng cấp trung ương ngụy quyền đã phải nói: "Đây là một thất bại lớn vì phong trào chất vấn rộng rãi, hướng dẫn viên của chúng ta không trả lời được".


Hình truyền đơn SP-1352A - mặt trước


Truyền đơn ATF-088-71 - mặt trước và sau

2. "Thảm sát ở Huế"

Ngoài chiến dịch chiến tranh tâm lý rộng lớn kể trên của Mỹ-Diệm, sau này Mỹ-Thiệu cũng thực hiện một chiến dịch chiến tranh tâm lý quy mô lớn sau trận đánh 25 ngày ở Huế trong sự kiện xuân Mậu Thân 1968.

Sau trận chiến 25 ngày, Mỹ-ngụy trong một sự kiện ở Huế mà nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân và nhiều cư dân Huế gọi là sự kiện "Hậu Mậu Thân" đã lùng sục trả thù, giết hại. Người dân Huế nào có thiện cảm, có giúp đỡ Mặt Trận dù chỉ là vài lon gạo, vài đồng tiền dành dụm, hay cả nhà có 1 người nào đó theo cách mạng, đều bị đem ra trả thù, hành quyết. Họ đã tẩy trắng Huế bằng bom đạn trong nỗ lực chiếm lại thành phố. Và sau khi đã chiếm lại thì họ ngăn chặn phóng viên vào tác nghiệp, đồng thời mở cuộc tổng trả thù quy mô lớn.

Một nhân chứng ở Huế, chị Nguyễn Thị Hoa khi trả lời phỏng vấn trong phần 7 của loạt phim tài liệu 13 phần Vietnam: A Television History (Việt Nam: Thiên lịch sử truyền hình), do đài PBS (Mỹ), WGBH Boston (Mỹ), CIT (Anh), Antenne-2 (Pháp) và LRE Production (Pháp) sản xuất và phát hành, đã cho biết: "Bắt đầu là chúng nó (Mỹ) dùng phi pháo. Chúng dội pháo vào khu vực chúng tôi sinh sống, san bằng nhà cửa, cây cối. Chúng bắn pháo vào nhà những khu vực quanh đó. Những nhà này bán xăng dầu nên khi pháo bắn thì cháy trụi. Tất cả người già, trẻ nhỏ, phụ nữ lánh nạn ở đây đều bị thiêu sống."

Sau đó, Mỹ-ngụy gom lại xác những nạn nhân chiến tranh lại, trong đó phần lớn là những người dân bị chết bởi bom đạn Mỹ, những người dân bị chính họ tàn sát trả thù, những thi thể chiến binh Giải phóng và lính ngụy, cũng như những cộng sự của Mỹ, gom lại hết, rồi quay phim và chụp hình tuyên truyền giả dối đó là "nạn nhân thảm sát của Việt Cộng", thậm chí sau đó một số kẻ viết thuê ở Sài Gòn còn nâng lên thành "hành quyết", "chôn sống", con số thì có những bài báo phóng đại lên đến "hàng triệu".

Sau khi chiếm Huế, Mỹ-ngụy phong tỏa khu vực, ngăn cấm tất cả phóng viên nào muốn vào Huế kiểm chứng các "hố chôn tập thể". Sau khi đã dàn dựng xong, họ mới cho các phóng viên báo chí ngụy quyền, hoặc chống cộng, hữu khuynh vào đưa tin, làm phóng sự về "tội ác Việt Cộng", rồi sau đó mới hoàn toàn cho phép các phóng viên quốc tế, trung lập vào tác nghiệp.

Nhà văn Trần Thị Thu Vân (Nhã Ca) sau đó được chỉ đạo viết tiểu thuyết "Giải khăn sô cho Huế" theo phong cách tự truyện, một dạng "hồi ký ma" được hư cấu từ trí tưởng tượng phong phú của một nhà văn tâm lý chiến chuyên nghiệp lĩnh lương Mỹ để tuyên truyền bôi nhọ lực lượng kháng chiến.

Chiến dịch chiến tranh tâm lý này tuy đã thành công lừa gạt được một bộ nhận nhỏ, nhưng không lừa dối được nhiều người Việt Nam và người dân thế giới, bởi vì:

  • Chỉ nói suông, không bằng chứng, không có hình chụp, thước phim nào có những người lính Giải phóng trong đó. Trong tất cả các hình ảnh về tội ác chiến tranh ở Việt Nam thì những bức ảnh lính Mỹ-ngụy gây tội ác nào mà có lính Mỹ-ngụy trong đó thì được công nhận là tội ác Mỹ-ngụy. Còn những bức ảnh không có lính Mỹ-ngụy trong đó thì bị các cơ quan tâm lý chiến tuyên truyền thành "tội ác cộng sản". Tất cả các bức ảnh được giới tâm lý chiến Sài Gòn và các thế lực chống cộng tuyên truyền xưa nay đều không có bất kỳ 1 hình nào có người lính Giải phóng trong đó, chỉ thấy nạn nhân cùng những lời bình chụp mũ, gán tội vô căn cứ, không bằng không chứng và giấu đi ai là kẻ thủ ác thật sự.
  • Không hợp thường lý và không có tiền lệ. Quân Giải phóng sống trong dân, sống nhờ vào dân, được dân nuôi giấu, che chở, thảm sát dân chính là tự sát, là tự tuyệt đường sống của quân mình.
  • Trái ngược với luật pháp Việt Nam, các nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng cũng như chính sách của Nhà nước, hay các tuyên thệ, quân luật, cách làm, các hành động lâu nay của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chiến lược của Việt Nam là chiến tranh nhân dân, với phương châm "quân với dân như cá với nước". Mỹ-ngụy đã phải xây các trại tập trung như Ấp chiến lược để gom dân, dồn dân vào đó để tách dân ra khỏi quân, "tát nước bắt cá". Các chỉ thị từ trên xuống quân đội thường xuyên nhấn mạnh "phải dựa vào dân". Vì vậy những hành động gây tai tiếng, làm xấu hình ảnh trước nhân dân và dư luận quốc tế là không hợp lý. Thực tế trước và sau chiến dịch Mậu Thân thì sự ủng hộ của người dân đối với cách mạng vẫn vậy không lay chuyển.
  • Không phù hợp với các bằng chứng hay những lời kể từ các nhân chứng ở hiện trường, cũng như không được nhiều người trên thế giới tin tưởng, đề tài này không được các học giả xem là một đề tài nghiêm túc để đưa vào các tác phẩm, công trình nghiên cứu của họ. Nói chung thông tin này không phù hợp với các nguồn tin, sách báo, tài liệu quốc tế.
  • Xưa nay có nhiều phóng viên chiến trường như David Duncan, Robert Shaplen, nhà báo, nhà nhiếp ảnh người Pháp Marc Riboud, nhân viên Bộ quốc phòng Hoa Kỳ Townsend Hoopes và các nhà nghiên cứu độc lập như tiến sĩ Noam Chomsky, nhà kinh tế học Edward Herman, giáo sư tiến sĩ Gerath Porter, tiến sĩ Alje Vennema, sử gia Stanley Karnow, cựu phóng viên Bưu báo Washington (Washington Post) Don Lux, giáo sư sử học Larry Berman v.v. đều đã góp phần vạch trần chiến dịch thông tin bôi nhọ này của Mỹ-ngụy.



Cựu chiến binh người Huế Hoàng Phủ Ngọc Tường, là nhân chứng trong mặt trận Huế năm Mậu Thân 1968, trả lời phỏng vấn về "cuộc thảm sát" này.


Truyền đơn dùng tiền bạc và lợi ích vật chất để chiêu dụ quân Giải phóng.


Truyền đơn 2990 - mặt sau. Chức vụ càng lớn, tiền thưởng càng nhiều.


Truyền đơn 2992


Truyền đơn 2993


Truyền đơn 7-377-68


Truyền đơn 7-617-68


Truyền đơn JUSPAO số 2500. Lưu ý các số tiền in trên truyền đơn là theo vật giá thời đó, nếu tính theo giá ngày nay thì đó là những số tiền lớn hơn.

(Những phần tiếp theo ở bên dưới, trong phần bình luận)

Sticky post

Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 (kỳ 3)

, , , ...

----------------------------------------------

----------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 (kỳ 2)

, , , ...

-------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 (kỳ 1)

, , , ...

-------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Cuộc xâm lược của Mỹ ở Việt Nam - L.V. Kotov

, , , ...

-------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

5 loại vũ khí 'có một không hai' của dân tộc Việt Nam

, , , ...

---------------------------------------------------

---------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Phim tài liệu Đồng khởi - Bến Tre

, , , ...

------------------------------------------------------

------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

The Cu Chi Tunnels - Địa đạo Củ Chi - Phim tài liệu do người Mỹ sản xuất

, , , ...

--------------------------------------------------------

--------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Hùng ca Điện Biên Phủ trên không và những thế cờ chiến lược

, , , ...

--------------------------------------------------------

--------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Những bài hát cách mạng nổi tiếng của Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Trần Hoàn

, , , ...

--------------------------------

--------------------------------

Read more...

Sticky post

Hát Cho Đồng Bào Tôi Nghe, phong trào đấu tranh chống Mỹ của sinh viên học sinh Sài Gòn

, , , ...

---------------------------------------------------

---------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Việt Nam Thống Nhất - Phim tài liệu do Nhật Bản sản xuất

, , , ...

-------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Ý nghĩa lịch sử của ngày 30/4/1975

, , , ...

-------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thắng lợi vĩ đại, bài học lịch sử - Đại tướng Võ Nguyên Giáp

, , , ...

-------------------------------------

-------------------------------------

Read more...

Sticky post

9 điểm khác biệt lớn về hai cuộc chiến ở Việt Nam và Triều Tiên

, , , ...

---------------------------------------------------------

---------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Nhìn lại sự thật lịch sử để đoàn kết dân tộc Việt Nam

, , , ...

--------------------------------------------------------

--------------------------------------------------------

Read more...

38 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam - thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2013)

, , , ...









45 năm Tổng tiến công và khởi nghĩa Mậu Thân (31/01/1968 - 31/01/2013)

, , , ...

Đêm 29/01/1968 của 45 năm trước, muôn triệu con dân Việt Nam, đặc biệt là người dân miền Nam và Sài Gòn hồi hộp bắt sóng nghe đài Giải phóng, chờ nghe thơ chúc Tết hàng năm của Bác Hồ:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!


Hai chữ "Tiến lên" như là một lời hiệu triệu, một hiệu lệnh xuất kích. Chiến dịch Mậu Thân bắt đầu....


Bác Hồ đọc thơ chúc xuân năm 1968 và 1969



Miền Nam đồng loạt nổi dậy khởi nghĩa năm 1968

Sự kiện toàn miền Nam vùng dậy tổng khởi nghĩa là một cú đập lớn tung tóe ra các khả năng chính trị cho Việt Nam. Quân đội Việt Nam, bao gồm quân tình nguyện miền Bắc và các lực lượng biệt động Sài Gòn, các lực lượng tự vệ Sài Gòn - Gia Định, lực lượng quân chủ lực miền, các đơn vị chiến đấu từ Củ Chi, Rừng Sác kế bên Sài Gòn đã đồng loạt vùng lên tấn công Mỹ-ngụy, chiến đấu giải phóng thành phố của mình khỏi quân chiếm đóng Mỹ.

Đây là một trong những thời điểm mà quân chiếm đóng Mỹ tràn ngập miền Nam với quân số đông nhất (hơn 50 vạn quân ở miền Nam, hơn 30 vạn quân đóng chung quanh VN sẵn sàng bổ sung).

Họ, nhất là các lực lượng Biệt động Sài Gòn vô cùng tinh nhuệ, đã đánh thẳng vào các mục tiêu khó tin nhất làm cả thế giới ngỡ ngàng như Tòa Đại sứ quán Mỹ, dinh Tổng thống ngụy, Đài phát thanh Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, ở ngay đầu não của giặc xâm lược tại Sài Gòn.

Chiến dịch này đã làm rung chuyển dư luận Mỹ, tạo ra cơn sóng thần phản chiến dâng cao chưa từng thấy trên các đường phố Mỹ, cảnh sát - dân chúng đánh nhau, bắn nhau. Nó đã đập rất mạnh vào và làm lung lay ý chí chiến tranh xâm lược của Mỹ. Các phóng viên chiến trường quốc tế đã quay phim, tường thuật trực tiếp và đem chiến tranh vào từng căn hộ Mỹ và thế giới. Kết quả chiến dịch này đã buộc Mỹ xuống thang chiến tranh và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán Paris trên thế yếu. Cuộc chiến chống Mỹ của dân tộc Việt bước sang giai đoạn mới, giai đoạn "vừa đánh vừa đàm"....

Miền Nam chia lửa với miền Bắc kiên cường

, , , ...

Ngay từ những ngày đế quốc Mỹ đánh bom miền Bắc, quân và dân miền Nam rất đau xót, nôn nóng tìm cách trả thù cho đồng bào miền Bắc.

Tháng 8-1965, tôi đang công tác ở Ô Môn (Cần Thơ). Các đồng chí cán bộ xung quanh cơ quan tỉnh chất vấn tôi rất dữ dội về việc “Tại sao giặc Mỹ hỗn láo đánh miền Bắc mà ta trừng trị kém như vậy?”. Số là cũng vào dịp đó, báo chí phương Tây nói nhiều đến tên lửa SAM của Liên Xô giúp ta. Chúng đề cao tên lửa này, chắc để nói máy bay chúng bị rớt là do tên lửa chứ không phải từ tầng tầng lớp lớp vũ khí phòng không các loại của ta. Lý lẽ của anh em ta và lời bà con ta là: “Có tên lửa SAM thì có thể hạ bất cứ máy bay nào, sao cứ để chúng lộng hành như vậy?”. Các đồng chí và đồng bào đâu có hiểu hết khó khăn của chúng ta lúc đó, song tấm lòng thì thật đáng quý.

Cuối năm 1965, Sư đoàn 9 đã tổ chức trận pháo kích vào sân bay Biên Hòa tiêu diệt hàng trăm máy bay chiến đấu của Mỹ. Khẩu đội pháo do chiến sĩ Mai Tôi phụ trách đã vừa đánh vừa động viên nhau: “Hãy trả thù cho đồng bào miền Bắc”. Quân và dân miền Nam muốn ngăn chặn tội ác của giặc Mỹ ngay tại dinh lũy của tội ác.

Cuối năm 1966, máy bay Mỹ đánh phá Hà Nội rất ác liệt. Quân và dân miền Nam rất lo ngại. Từ căn cứ Vườn Thơm (Long An), Lê Minh Xuân, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bình Tân (Sài Gòn - Gia Định) quyết định mời Nguyễn Văn Kịp (Đồng Đen) phụ trách lực lượng biệt động F100 của nội đô, bàn cách đánh sân bay Tân Sơn Nhất. Anh nói:

- Từ đây bọn chúng bay ra Bắc giết hại đồng bào ta. Vậy mà ta để chúng yên ổn, ngang nhiên phá hoại? Phải đánh dập đầu chúng ngay tại sân bay Tân Sơn Nhất.

Thế là một trận đánh “Trả thù cho Hà Nội” đã được tổ chức và đánh thắng. Hàng trăm máy bay Mỹ bị tiêu diệt cùng bọn phi công và lính bảo vệ. Trận đánh ấy đã để lại một hình ảnh đẹp: một chiến sĩ của chúng ta là Nguyễn Văn Mao dựa vào chiếc máy bay đã bị tiêu diệt để đánh trả kẻ thù đang vây chặt. Anh hy sinh, nhưng không gục xuống mà vẫn dựa lưng vào chiếc máy bay, sừng sững trước mặt kẻ thù. Câu chuyện ấy đã đến với Lê Anh Xuân và trở thành bài thơ bất hủ “Dáng đứng Việt Nam.



Từ đầu tháng 12-1972, quân và dân miền Nam rất nóng lòng trước những trận B52 đánh vào Hà Nội ngày càng ác liệt. Chúng tôi ở trong này đã chịu bao trận B52, hiểu rõ sự tàn bạo của những loạt bom Mỹ đối với rừng núi, xóm làng ở miền Nam. Song chúng tôi chưa thể hình dung được: phố phường chật hẹp, nhân dân đông đúc ở Hà Nội sẽ bị đau thương tang tóc to lớn đến mức nào, nếu những loạt B52 đổ xuống. Và rồi, từng ngày, từng ngày nỗi đau của chúng tôi càng lớn bởi giặc Mỹ càng leo thang. Quân và dân miền Nam ở bất cứ đâu đều tổ chức các trận đánh trả thù cho miền Bắc, cho Hà Nội.

*
* *

Từ cuối năm 1972, chúng tôi đã được thông báo nội dung cơ bản của Hiệp định Paris mà ta và Mỹ sắp ký kết. Cuộc chiến tranh chống Mỹ khá ác liệt nên ai cũng mong có đôi lúc “thư giãn” để chuẩn bị đi tiếp đến giai đoạn giành chiến thắng hoàn toàn. Chúng tôi nghiên cứu kỹ từng điều khoản của hiệp định dự thảo và rất vui về thắng lợi to lớn của ta trên bàn hội nghị. Chúng tôi thán phục các đồng chí ở bàn đàm phán Paris.

Thế rồi, được tin: phía Mỹ đã lật lọng, bày vẽ thêm nhiều điều khoản, kéo dài ngày ký Hiệp định Paris. Chúng tôi khá buồn, bởi một khi hiệp định chưa ký thì cuộc chiến tranh sẽ ngày càng ác liệt. Chúng ta phải giành thắng lợi to lớn hơn nữa trên chiến trường mới buộc kẻ thù ký hiệp định. Bom đạn ngày càng dữ dội, lại có thêm nhiều đồng bào, đồng chí thương vong. Chiến dịch Nguyễn Huệ đã mở ra một vùng giải phóng mới ở Lộc Ninh, Bù Đốp... song những trận đánh ác liệt ở Phước Long, An Lộc, Đường 14... vẫn kéo dài. Những đơn vị xe tăng của quân giải phóng đã xuất hiện trên miền Đông Nam bộ...

Miền Nam tiếp tục chiến đấu kiên cường và nóng lòng chờ đợi ngày ký kết hiệp định. Đồng bào miền Nam lại xót xa khi được tin: kẻ địch đánh phá rất ác liệt trên miền Bắc. B52 kéo cả đàn vào Hà Nội. Thế là giặc Mỹ không muốn ký kết hiệp định lập lại hòa bình. Chúng muốn buộc chúng ta trả giá cho tự do, yên bình. Hà Nội đánh mạnh lập nên “Điện Biên Phủ trên không”. Miền Nam đánh mạnh mở những vùng giải phóng rộng lớn. Chúng tôi biết có thể Hiệp định Paris sắp được ký và đồng nghĩa với sự đánh phá ác liệt của kẻ thù trước khi đặt bút ký hiệp định. Tin báo địch đánh phá dữ dội miền Bắc cùng với những trận B52 dội xuống căn cứ cách mạng miền Nam. Riêng tôi đã được nghe đài báo tin: máy bay Mỹ thả bom, bắn rốc két vào số 35 và 37 Lý Quốc Sư, Hà Nội. Gia đình tôi lại ở số 33A. Có ai hy sinh trong trận bom này không? Tôi ôm mặt bàng hoàng, ra bìa rừng ngồi lo lắng. Các anh trong ban biên tập gọi tôi đến phân công viết bài chia sẻ đau thương với Hà Nội và nêu quyết tâm của quân và dân miền Nam đánh mạnh để trả thù. Tôi ngồi vào chiếc bàn tre. Nhà bên cháu bé bập bẹ hát bài mà chúng tôi yêu thích:

...Ta muốn vươn lên bay về Hà Nội, dù có hy sinh tay súng không rời...

Tôi vừa khóc, vừa viết ngay trong đêm bài tùy bút “Hà Nội ơi, có chúng tôi đáp lời...”, bài được đăng ngay trên tuần báo Giải Phóng số đầu tháng 1-1973. Báo Giải Phóng được gửi đến các chiến trường, được các chiến sĩ và đồng bào hưởng ứng. Có một chuyện cảm động: một cán bộ tuyên truyền từ miền Tây Nam bộ lên R học (sau này anh là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh tận cùng Tổ quốc) đã khóc khi đọc bài báo đó. Anh lấy sổ tay chép toàn bài báo và giữ cho đến bây giờ...

Từ trước đến mãi sau này, đặc biệt từ năm 1972, quân và dân miền Nam với những trận đánh vào Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, vào Sài Gòn... đã thực hiện lời thề: “Giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc”. Bây giờ và mãi sau này, chúng tôi chẳng bao giờ quên được hình ảnh những chiến sĩ, đồng bào quây quần bên chiếc radio, đã nhảy lên hoan hô quân và dân Hà Nội, hoan hô miền Bắc bắn hạ những chiếc B52. Thế rồi có tin từ khoảng cuối tháng 1-1973 sẽ ký kết Hiệp định Paris. Chúng tôi vui mừng chờ đợi - kể cả chờ đợi sự trả thù ác liệt của Mỹ. Ai cũng biết, trước khi Kít-sinh-giơ hạ bút ký Mỹ sẽ dội bom đánh phá ác liệt vào vùng giải phóng chúng ta để đỡ tức cho thất bại này. Các cơ quan đơn vị củng cố hầm hào, không cho anh em đi xa công sự. Các lớp học đêm, các bữa ăn cũng ở dưới hầm lớn có nắp. Tất cả chuẩn bị cho một thắng lợi to lớn nhưng sẽ phải trả thêm máu.

Đêm 26-1-1973, lệnh báo động sắp có máy bay B52 đánh vùng giải phóng. Chúng tôi cho tất cả anh em xuống hầm. Hàng đàn máy bay B52 liên tiếp đánh vào khu căn cứ trong đó có Ban tuyên huấn Trung ương Cục. Nhiều căn hầm của Đài phát thanh Giải Phóng, Thông tấn xã Giải Phóng... bị sập. Lại có thêm anh em hy sinh.

Chúng tôi biết: Hiệp định sắp được ký kết. Kẻ thù đang điên cuồng say máu cho đến phút cuối cùng. Và sáng 27-1-1973, Đài phát thanh Giải Phóng báo tin Hiệp định Paris được ký kết. Một “Điện Biên Phủ trên không” của Hà Nội chưa đủ làm cho chúng tỉnh ngộ. Phải có nhiều “Điện Biên Phủ trên không” và dưới đất ở miền Nam.

Cả cơ quan nhảy lên khỏi miệng hầm sung sướng reo hò. Lúc đó chúng tôi tin hòa bình sẽ được lập lại, sẽ không còn chiến tranh và ai cũng tin mình đã sống đến giờ phút hòa bình.

Chúng tôi được lệnh di chuyển cơ quan từ rừng núi biên giới về vùng giải phóng Tân Biên (Tây Ninh). Trên đường trong vùng giải phóng đã có xe hơi, xe gắn máy, xe bò kéo đi lũ lượt giữa ban ngày. Đồng bào từ các nơi tránh giặc cũng về vùng giải phóng cất nhà giữa đồng trống, ở các trảng tranh. Quân đội Sài Gòn rút chạy khỏi vùng giải phóng. Con đường vận chuyển súng đạn, lương thực đã có thể đi từ Hà Nội đến Lộc Ninh, Thiện Ngôn rồi theo đường sông đến tận đồng bằng sông Cửu Long.

Huyện Tân Biên - trong đó có sân bay Thiện Ngôn - được giải phóng. Theo quy định của Ủy ban Liên hiệp bốn bên, vùng giải phóng Xa-mát sẽ xây dựng một chốt của ủy ban quốc tế và sân bay Thiện Ngôn sẽ trở thành nơi trao trả tù binh của hai bên.

Hiệp định Paris mới được thi hành trên đất Việt Nam. Vùng giải phóng Campuchia vẫn còn bom đạn ác liệt. Các cơ quan đơn vị của ta đóng gần biên giới lại chịu mất mát, hy sinh. Chúng tôi vui vì đồng bào miền Bắc không còn bị máy bay Mỹ tàn phá. Vượt qua bom đạn Mỹ, miền Nam đã nhận thêm súng đạn, lương thực và cả trà, thuốc lá từ miền Bắc gửi vào.

Nhân dân miền Nam hiểu rất rõ ràng: sự phối hợp chặt chẽ giữa những trận “Điện Biên Phủ” ở miền Nam và “Điện Biên Phủ trên không” của Hà Nội đã buộc kẻ thù phải ký Hiệp định Paris. Quân và dân miền Nam đã tiếp tục giáng cho kẻ thù nhiều trận “Điện Biên Phủ” nữa để đi đến toàn thắng.

ĐINH PHONG
04/12/2012

The land of Vietnamese (Miền đất của người Việt Nam)

, , , ...

The land of Vietnamese (Miền đất của người Việt Nam) là một bài hát phản chiến, lưu hành ở các nước phương Tây và Mỹ trong những năm Mỹ gây chiến ở Việt Nam. Bài hát khá nổi tiếng và mọi người truyền tay nhau hát nhưng tác giả của nó là một ẩn sĩ mà đến nay không thấy nguồn nào xác định đc rõ ràng tác giả là ai. Đây là một bài hát về âm nhạc thì đậm chất nhạc đồng quê (country music) Anh - Mỹ, về nội dung thì nó vô cùng hào hùng, da diết, bi tráng, thiết tha, nói về một miền đất kiên cường sẽ luôn tồn tại không khuất phục trước giặc Mỹ. Một bài hát nước ngoài nhưng lại đậm chất kiêu hùng Việt Nam, thể hiện lên đc cái đặc thù văn hóa dân tộc giữ gìn sông núi của người Việt.

Đây là một bài hát nước ngoài nhưng đi vào lòng người Việt, là người Việt nhưng nghe bài này thật sự là tan nát cõi lòng, tự hỏi tại sao đất nước mình, dân tộc mình lại chịu nhiều thảm cảnh và bất hạnh hơn các dân tộc khác như vậy, và tại sao dân tộc mình là anh hùng đến như vậy, bất khuất mạnh mẽ đến như vậy.

Đề nghị những người có trách nhiệm rà sóat, tìm hiểu xem ai là tác giả bài này và chuyển ngữ lời hát, hòa âm, đưa lên trình diễn trong các chương trình văn nghệ lớn, cho các dịp lễ lớn, giống như chúng ta đã làm với bài The Ballad of Ho Chi Minh (Bài ca Hồ Chí Minh) của nhạc sĩ Ewan MacColl. Chúng đều là những bài hát nước ngoài nhưng thấm đẫm đặc thù Việt Nam, văn hóa Việt Nam, tinh thần Việt Nam, tâm hồn Việt Nam.

Đây là version hát bởi nữ ca sĩ Kate Francis, với một giọng hát da diết ru hồn nhưng lại thể hiện lên được khí phách Việt Nam:

Lời ca:

Should all the leaves for all the trees
Surscorch from bombs and poisoned water,
Should not a single Vietnamese
Remain alive from cruel man slaughter,

The elephants will rage enroll
And wage against all the Yanks a war,
And wage against all the Yanks a war.

Should all the elephants be killed
And all the fields be ruined to pieces,
Yet life in Vietnam can be still
Again arise some living species :
The leagues ant and buzzing bees,
To sting the Yanks for the Vietnamese,
To sting the Yanks for the Vietnamese.

The birds and fish will take them bite,
All those, who came to kill and murder,
The snakes will hiss from noon till night
And then more bees will come further,

The animals will keep their rakes
Until the drive all away the Yanks,
Until the drive all away the Yanks.

Should all the beasts become extinct
The grass will raise from bombard tuffet,
And by the nature of instinct
Will crash the Yanks for those, who suffer.

You can not slash in hand a breeze
Not split the land of the Vietnamese,
Not split the land of the Vietnamese.


Tạm dịch lời Việt:

Dù tất cả lá cây trên cành
Tan héo dưới bom và chất độc hóa học
Dù không còn một người Việt
Sống nổi dưới những trò tàn sát con người tàn ác

Thì những chú voi sẽ giận dữ tham chiến
Và sẽ chống lại lính Mỹ trong một cuộc chiến mới
Và sẽ chống lại lính Mỹ trong một cuộc chiến mới

Dù tất cả chú voi đó bị giết
Và tất cả đồng ruộng bị phá hủy thành tro
Tuy thế mầm sống ở Việt Nam vẫn có thể
Lần nữa mọc lên những sinh vật:
Những nhóm kiến lửa và ong vò vẽ,
Để cắn lính Mỹ cho dân tộc Việt Nam
Để cắn lính Mỹ cho dân tộc Việt Nam

Chim chóc và cá sẽ góp những đòn cắn vào
Tất cả những tên tới đất này để giết chóc
Những chú rắn sẽ rít lên từ chiều đến đêm tối
Và thêm những chú ong tham chiến nhiều hơn

Những động vật đó sẽ tiếp tục lùng sục
Cho đến khi nào xua đuổi hết lính Mỹ,
Cho đến khi nào xua đuổi hết lính Mỹ.

Dù tất cả những loài vật đó trở nên tuyệt chủng
Thì cỏ lại sẽ mọc lên từ những hố bom
Và từ bản năng thiên nhiên
Sẽ quấn lấy chân lính Mỹ, những kẻ bị tổn thất

Mày không thể chém lìa ngọn gió
Không thể chém lìa miền đất của người Việt Nam,
Không thể chém lìa miền đất của người Việt Nam.

102 năm ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2012)

, , , ...

Bài hát "Tướng quân Võ Nguyên Giáp":


Những thước phim tài liệu màu quý hiếm về chủ tịch Hồ Chí Minh và đại tướng Võ Nguyên Giáp:

Vị nữ bộ trưởng ngoại giao đầu tiên trong lịch sử Việt Nam

, , , ...

Phim tài liệu hay về bà Nguyễn Thị Bình:

Trọn Đời Vì Đại Nghĩa

, , , ...

Phim tài liệu về nhà bác học, giáo sư viện sĩ Trần Đại Nghĩa. Trong lịch sử hiện đại Việt Nam, nếu như Hồ Chí Minh là một thiên tài về chính trị, Võ Nguyên Giáp là một thiên tài về quân sự, thì có thể nói Trần Đại Nghĩa là một thiên tài về khoa học. Nếu như đại tướng Võ Nguyên Giáp được coi là người anh cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam, thì giáo sư Trần Đại Nghĩa chính là người anh cả của quân giới Việt Nam và ngành công nghiệp quốc phòng VN. Ông đã dìu dắt quân giới VN chế tạo ra được những vũ khí hiệu quả gây khó khăn cho giặc Pháp với một nền tảng công nghệ và lực lượng sản xuất, phương thức sản xuất thấp hơn Pháp và phương Tây nhiều thế kỷ.

Coi phim tài liệu này xong mình phát hiện thêm nhiều thông tin lý thú, ví dụ sáng kiến đào hầm tránh bom ngay trong thủ đô Hà Nội thay vì tản cư, ý kiến về "lòng yêu nước kinh tế" của người Nhật, nhận thức về "đào tạo một công nhân bậc 7 khó hơn một phó tiến sĩ" v.v. của giáo sư Trần Đại Nghĩa. Những thông tin do các cấp dưới của ông kể lại về một "trí nhớ kinh khủng", đứng trong hầm trú ẩn dòm đồng hồ và nghe tiếng tên lửa mà đoán đc chúng có trúng hay không, đoán đúng các diễn biến bên ngoài v.v. Nói chung là một bộ phim tài liệu rất hay, rất đáng xem.

Tập 1



Tập 2

65 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7)

, , , ...

Tưởng nhớ những anh hùng liệt sĩ.

Dân tộc anh hùng. Những đứa con anh hùng.

Ngôi nhà hạnh phúc của tướng Giáp

, , , ...

Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa bước vào những ngày đầu tiên của mùa xuân thứ 100 trong cuộc đời oanh liệt chẳng mấy người ở thế gian này có được. Vào lúc bài viết này lên trang, ông không đủ sức khoẻ để có thể sáng sáng, chiều chiều đi dạo trong khoảng sân cỏ trước nhà. Cũng chưa lấy lại được sức để có thể ngồi bên cây đàn piano lướt một vài bản đàn ông yêu thích.

Nằm ở bệnh viện, hàng ngày ông vẫn gặp vợ và các con cháu, vẫn hỏi han về những diễn biến của cuộc sống bên ngoài giường bệnh của ông. Bộ óc của con người huyền thoại đã trăm tuổi ấy vẫn toả ra ánh sáng lấp lánh của trí tuệ và ý chí… Gương mặt ông những ngày này được các con ông mô tả “vẫn rạng lên nét thanh thản, hạnh phúc.

Một buổi chiều Hà Nội đầu năm 2010, tôi có cuộc hẹn cần đi dọc theo đường Hoàng Diệu để ra phố Nguyễn Thái Học. Khi xe sắp chạy qua ngôi biệt thự đẹp nhất trên con đường có di tích Hoàng Thành Thăng Long, tôi nhờ người lái taxi đi chậm lại. Đã nhiều lần như thế. Như một thói quen không cưỡng được. Ngôi nhà mang số 30 ấy đẹp hoàn toàn không phải vì nó rất to, mà chỉ vì để vào nhà, khách được đi ngang qua một khoảng sân cỏ xanh um và rất rộng. Đường nét kiến trúc giản dị, ngôi nhà không bị bất kỳ bờ tường rào nào che giấu, chỉ là nó hơi lùi xa tầm mắt một chút và có vẻ như hơi nép vào tàn lá xanh sẫm của những gốc cổ thụ.

Với tôi, từ khi mới bảy, tám tuổi chưa biết thấu cảm vẻ đẹp của ngôi nhà, đã biết rõ đó là nhà của bác Giáp, Đại tướng Tổng tư lệnh, thủ trưởng tối cao của ba tôi – một sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Như nhiều người Việt Nam thuộc các thế hệ khác nhau, tôi và đám bạn học cấp một ở trường Nguyễn Trãi trên phố Cửa Bắc những năm sáu mươi thế kỷ trước và nửa thế kỷ trưởng thành sau đó luôn xem ông Giáp là một thần tượng.

Ông là thần tượng của thế hệ chúng tôi và các thế hệ khác, ở trong nước và cả ở nước ngoài có lẽ bởi vì ông nổi tiếng nhưng ông không để và không thích ai khắc hoạ chân dung ông theo kiểu “số 1” và “một mình làm nên tất cả”. Vừa sôi nổi vừa biết khắc chế bản thân, vừa sâu sắc và rộng rãi trong tư duy lại vừa gần gũi cụ thể trong thực tiễn, vừa uyên bác vừa lãng mạn, có thể cũng chính vì những điều ấy mà ông được quân đội và nhân dân gần như tuyệt đối yêu mến, kính trọng. Tướng Giáp đã sống trọn một thế kỷ bằng ý chí cá nhân được hun đúc từ truyền thống yêu nước và học thức của gia đình, bằng tình cảm đồng chí đồng đội và cả xã hội dành cho ông. Nhưng, ngoài những điều đó, phải nói là ông thật may mắn có được một ngôi nhà đầy ắp hạnh phúc tình chồng vợ, cha con, ông cháu. Như một bến đỗ bình yên mà con người bình thường nào cũng hằng mơ ước…

Trong cuộc đời đã sang độ trăm năm của mình, tướng Giáp là một người đàn ông may mắn. Tôi không có được dịp nào để hỏi ông, rằng ông có đồng ý với nhận định ấy không. Nhưng, nhân gian chẳng đã nói đấy thôi: đâu có ai chọn được cửa để sinh ra. Ông may mắn xuất thân trong một gia đình mà người cha sống bằng nghề dạy chữ và bốc thuốc, còn người mẹ là một phụ nữ nội trợ rất thông minh và phúc hậu. Dân nhiều đời ở thôn An Xá, xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình, còn mãi truyền nhau lòng biết ơn và niềm kính trọng đối với các cụ thân sinh của tướng Giáp. Đó là những con người chỉ biết lấy sự lương thiện, sự trung thực, nghĩa khí và sự hiểu biết để hết mực giúp những người xung quanh khi họ cần đến mình, bất chấp mọi sự phiền luỵ, thậm chí nguy hiểm.

Khi Pháp đến bắt ông cụ và yêu cầu gọi đứa con “phiến loạn” Võ Nguyên Giáp và các đồng chí ra đầu thú chính quyền thực dân, cụ đã thản nhiên chịu đựng mọi sự khảo tra của chúng và trả lời: “Tôi chưa kịp dạy nó nên sống thế nào, nên làm gì trong lúc nước nhà tối tăm như ri thì nó đã bỏ nhà đi rồi. Nay nhờ các ông bắt nó về đây cho tôi dạy”.

Ở tuổi vị thành niên, đang là học sinh Quốc học Huế, Võ Nguyên Giáp lại có may mắn được quen biết nhiều người cùng tâm nguyện, chí hướng. Đặc biệt là Giáp có tình bạn vong niên thân thiết với thầy giáo Quốc học Đặng Thai Mai – người đã để lại dấu ấn tinh thần quan trọng trong phần lớn cuộc đời chính trị và binh nghiệp của Võ Nguyên Giáp. Thầy Mai nhiều hơn trò Giáp 12 tuổi. Họ thân nhau, cùng nhau trải qua nhiều sóng gió cơ sự. Cả hai thầy trò đều bị Pháp bắt vì hoạt động yêu nước vào năm 1930, trong số người bị bắt còn có Nguyễn Thị Quang Thái – nữ sinh Đồng Khánh. Quang Thái là em gái của Nguyễn Thị Minh Khai – người nữ chiến sĩ cách mạng kiêm nữ sĩ của nhiều tờ báo thời ấy với bút danh Kim Anh.

Đến tuổi trái tim biết rung động, tình yêu đầu đời của Võ Nguyên Giáp may mắn đã cộng hưởng với mối tình đầu của Nguyễn Thị Quang Thái. Họ gặp nhau lần đầu tiên trong một chuyến tàu lửa, Giáp đang làm nhiệm vụ, Quang Thái thì cùng bạn bè vào nhập học ở trường Đồng Khánh. Những sợi tơ tình vấn vít họ và đưa tới lễ thành hôn thắm thiết vào năm 1935. Thái hai mươi tuổi, Giáp hai mươi bốn. Hai trí thức trẻ, thông minh, tràn ngập lòng yêu nước và ý chí dấn thân.

Đó là một cuộc hôn nhân mà rất nhiều năm sau này nhớ lại, ông Giáp vẫn xúc động: “Quang Thái là người rất kiên quyết trong hành động và cũng rất nhân hậu trong ứng xử”. Hạnh phúc vợ chồng ngắn ngủi đến không ngờ. Năm 1940, khi con gái đầu lòng là Võ Hồng Anh chưa đầy tuổi thì Võ Nguyên Giáp phải chia tay người vợ trẻ để đi làm nhiệm vụ ở Vân Nam, Trung Quốc. Năm 1944, khi Võ Nguyên Giáp trở thành người chỉ huy đầu tiên của lực lượng võ trang Việt Nam ở núi rừng Đông Bắc thì Quang Thái mất ở trong nhà tù của Pháp. Gần một năm sau, trong một cuộc họp lãnh đạo, ông Giáp mới được ông Trường Chinh chuyển cho cái tin xé ruột này.

Cũng vẫn do mối quan hệ thân tình rất dài lâu với người thầy, người bạn vong niên Đặng Thai Mai mà ông Giáp may mắn một lần nữa gặp được người phụ nữ thứ hai và cũng là người phụ nữ ông hài lòng cùng ông đi trọn cuộc đời. Ông hơn bà những 16 tuổi và khi họ lấy nhau tại Hà Nội, bà vừa mới bước sang tuổi 19. Người phụ nữ đó là Đặng Bích Hà, ái nữ đầu lòng của nhà văn hoá lớn Đặng Thai Mai. Bà với trí tuệ mẫn tiệp và phong thái tự nhiên một cách hoàn hảo.

Ông Giáp đã có lần tâm sự với những người gần gũi, rằng chính những đặc điểm ấy của Bích Hà đã xoá đi khoảng cách tuổi tác giữa ông và bà những năm đầu tiên chung sống ở chiến khu Việt Bắc – nơi bà lần lượt sinh cho ông ba người con: Võ Hoà Bình (1951), Võ Hạnh Phúc (1952), Võ Điện Biên (1954). Về lại Hà Nội, bà còn sinh thêm cho ông người con trai út Võ Hồng Nam (1956).

Có lúc, người viết bài này đã hỏi Hoà Bình: “Ở nhà, hai cụ gọi nhau bằng gì hả chị?”. “Bằng anh và em”. “Thế ông Mai khi sinh thời gọi ông Giáp bằng gì?” “Bằng anh Văn. Lúc nào cũng gọi là anh Văn”.

Là vợ của đại tướng tổng tư lệnh quân đội và còn nhiều chức danh lớn khác đi sau cái tên lẫy lừng của ông, nhưng bà Hà vẫn không thay đổi những đặc điểm hình thành ở bà từ thời thiếu nữ. Trí tuệ mẫn tiệp, phong thái tự nhiên hoàn hảo theo cách mà ông và các con vẫn hay nói về người vợ, người mẹ thân yêu của mình “rất vô tư, khoáng đạt, luôn muốn nói ra những gì bản thân đã nghĩ, đang nghĩ”. Bà cần mẫn làm nhiệm vụ một nhà nghiên cứu, giảng viên đại học cho đến tận ngày nghỉ hưu. Tiếp đón niềm nở những người bạn cũ và mới của cả hai vợ chồng tại nhà riêng, khi thì bánh trái, khi thì bữa cơm. Như bao người vợ khác. Ngay cả những khi sóng gió, căng thẳng của chính trường dội vào phu quân của mình, bà vẫn cư xử bình thản với mọi người bên trong và bên ngoài ngôi nhà – tổ ấm của mình. Bà cố giữ để những bất thường của cuộc đời không thể làm xáo trộn cuộc sống của gia đình mình và nhất là không để cho các con cháu mất niềm tin vào những điều tốt đẹp hằng có và vẫn còn có.

Không phải những quyết định đến từ đâu đó, vào những lúc nào đó đối với người thân yêu nhất của bà đều đúng, thậm chí là có sai nữa kia. Nhưng cũng không vì thế mà bà và những đứa con đã trưởng thành của bà thoả hiệp với những thông tin có thể gây hiểu lầm trong xã hội khi có những thay đổi trong chức vụ công tác của ông. Ví dụ, về cái câu “thống chế đi đặt vòng”, ám chỉ thời kỳ ông đảm nhận chức chủ nhiệm uỷ ban Kế hoạch hoá gia đình, bà và các con của bà vẫn luôn đính chính những khi có thể, rằng trước ông đã có lúc Thủ tướng Phạm Văn Đồng kiêm chức vụ này. Đến thời ông, là Phó Thủ tướng phụ trách công tác chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật của Chính phủ và kiêm thêm uỷ ban ấy chứ không phải chỉ làm nhiệm vụ ấy.

Những khi có chuyện gì đó mà một trí thức yêu nước, một bô lão như ông không thể không lên tiếng, bà và các con vẫn ủng hộ ông, bất kể tuổi tác, sức khoẻ của ông và dư luận khác nhau về việc ông làm. Miễn điều ông đang làm là đúng, là có lợi cho dân, cho nước và ông vui thì những người thân yêu của ông phải ủng hộ, phải bảo vệ.

Khi ông Giáp học nhạc lý với giáo sư Tô Vũ và học piano với nhà giáo âm nhạc Bích Hạnh, học cho đến lúc ông chơi được một số bản nhạc, cả nhà đều ủng hộ vì biết rằng, với ông những lúc đánh đàn, những lúc bơi thuyền ở hồ Tây là lúc mà ông được dứt hoàn toàn khỏi công việc triền miên tưởng như không thể dứt ra. Bằng cái cách bà sống “vượng phu ích tử” lặng lẽ như thế, các con của bà, trai cũng như gái đều thấm được từ cha mẹ cái giá trị sống quan trọng này: “Gia đình là gia đình. Đó là cái gương nơi người ta có thể soi rọi các giá trị thật. Nơi người ta tìm được sự bình yên sau những giông tố, thất bại của cuộc đời. Nơi người ta truyền dạy cho nhau những gì họ thực sự cảm nhận là đúng, là hay. Mỗi con người đều có niềm riêng và gia đình phải là nơi niềm riêng ấy được chia sẻ tận cùng nhất”.

Trong ngôi nhà của tướng Giáp, các con ông yêu quý nhau và luôn sẵn sàng giúp nhau khi khó khăn. Chị cả Võ Hồng Anh – con của ông Giáp với bà mẹ trước Quang Thái luôn được các em yêu thương và cũng yêu thương các em hết mực. Chị Hồng Anh thiệt thòi nhiều về tình cảm vì mất mẹ từ quá sớm, lại hay phải xa nhà đi học, đi làm. Niềm riêng ấy của chị được cô Hà, được các em thấu hiểu và ra sức bù đắp. Khi con gái của Hạnh Phúc bị bệnh nặng, bác Hồng Anh chạy đôn đáo để lo cho cháu. Còn Hoà Bình, khi nói về bà chị của mình đã rất dứt khoát rằng: “Chị Hồng Anh của tôi là người rất mạnh mẽ và rất thông minh. Chị tôi có thành tích học tập rất rực rỡ. Các chị em của chúng tôi đều rất tự hào về chị”. Có lúc, người viết bài này đã hỏi Hoà Bình: “Ở nhà, hai cụ gọi nhau bằng gì hả chị?”. “Bằng anh và em”. “Thế ông Mai khi sinh thời gọi ông Giáp bằng gì?”. “Bằng anh Văn. Lúc nào cũng gọi là anh Văn”.

Một trong những đứa cháu ngoại của ông Giáp tên là Nguyễn Phương Tâm, con gái duy nhất của vợ chồng cựu đại tá kỹ sư quân đội Võ Hoà Bình, hiện đang làm quản lý một khu resort nổi tiếng ở Bà Rịa – Vũng Tàu, đã từng hé lộ cảm nhận rất sâu sắc của cô về niềm hạnh phúc giản dị và vô giá cô có được từ sự bình yên trong ngôi nhà của ông bà ngoại – nơi cô từng sống những năm thơ ấu. Trong một bài viết của Phương Tâm, có đoạn đại ý: sau một đêm được nằm với ông bà, cô thức dậy sớm và nằm yên để lắng nghe những tiếng động trong nhà. Tiếng ông bà nói chuyện âu yếm với nhau. Tiếng ông mở cửa ra hiên tập thể dục, rồi mở đài BBC. Với cô gái nhỏ, khoảnh khắc ấy sao mà bình yên quá chừng. Đấy là nhờ bà, nhờ ông mà cô bé mới được tắm mình vào những khoảnh khắc yên bình thanh sạch ấy. Cô bé có đi đến đâu, có làm những gì to tát đến mấy đi nữa thì khoảnh khắc yên bình quý giá ấy vẫn đi cùng, an ủi, vỗ về tâm hồn cô.

Còn cựu đại tá Võ Hoà Bình thì trong một lần trò chuyện có nhắc đến lời tâm sự của ông ngoại chị là nhà văn hoá Đặng Thai Mai, đã lâu lắm rồi, khi chị mới độ mười ba, mười bốn “Phải rất quan tâm đến tư đức thì mới mong có nền giáo dục đúng nghĩa. Tư đức là cái nền tảng của con người mà gia đình phải sớm chăm lo, chăm lo thật kỹ. Các phương tiện truyền thông có lẽ đã chưa nói đầy đủ và chính xác về cái tư đức quan trọng này. Chính tư đức sẽ làm nên sự vững chãi của một con người, của một gia đình và dĩ nhiên là xã hội sau đó”. Người ta cứ tự nhiên làm những cái sai với đạo lý, với con người và chẳng được nhắc nhở, chẳng được uốn nắn kịp thời thì làm gì mà chẳng tạo nên sự bất an đây đó kéo dài trong đời sống xã hội.

Tôi lại nhớ ngôi nhà số 30 Hoàng Diệu. Nơi ấy ông Giáp đã cùng bà Hà và các con ở suốt từ khi ở Việt Bắc về Hà Nội năm 1954 đến nay. 56 năm rồi. Hà Nội đang đón chào Thăng Long ngàn năm. Còn tướng Giáp, người cuối cùng trong lứa học trò trực tiếp của Hồ Chí Minh, đã bước vào tuổi một trăm trong chính ngôi nhà hạnh phúc của riêng mình. Những người yêu mến ông trên đất nước này, nghĩ đến đó thôi có lẽ đã cảm thấy rưng rưng một nỗi niềm thật khó tả…

Nguyễn Thế Thanh
(Nguyệt San Sài Gòn Tiếp Thị)

Phim 'Đừng Đốt' - Đạo diễn Đặng Nhật Minh

, , , ...

Đạo diễn, kịch bản: Đặng Nhật Minh


Một bệnh xá bị bỏ quên trong rừng. Lệnh sơ tán khẩn cấp đã khiến bác sĩ và thương binh phải di chuyển hết. Bác sĩ Đặng Thùy Trâm cùng hai y tá được phân công ở lại trông nom những thương binh quá nặng. Ðồng đội ra đi với lời hẹn ba ngày sau quay lại đón.

Nhưng họ chờ đã ba ngày, sáu ngày, chín ngày. Họ bị bỏ quên trên đầu là máy bay, bom đạn và những trận mưa rừng nhiệt đới, xung quanh đầy biệt kích. Những đêm đêm ngọn đèn dầu tự tạo vẫn sáng. Cô bác sĩ trẻ người Hà Nội ngồi nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ người yêu, cô viết lại những trận bom và những nỗi đau cô phải chứng kiến.

Và ngày đêm cô mơ thấy hòa bình, hòa bình chấp chới trên vành nón nữ sinh, quay tròn quanh bánh xe đạp, đậm đà trong mùi bún chả mẹ cô quạt để ăn mừng sinh nhật cô, ngây ngất trong vòng quay của điệu valse mà cô ôm em gái để dạy nhảy...

Đây là tác phẩm điện ảnh mới nhất của đạo diễn nổi tiếng Đặng Nhật Minh, ông làm phim này để tôn vinh sự hy sinh thầm lặng của bác sĩ Đặng Thùy Trâm nói riêng, và các nam nữ bác sĩ quân y, chuyên viên y tế, thanh niên xung phong thời chống Mỹ nói chung, những anh hùng vô danh đã âm thầm góp sức cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thiên anh hùng ca của dân tộc Việt Nam.

Phim có chất lượng nghệ thuật và kỹ thuật cao. Được giới điện ảnh trong và ngoài nước đánh giá khá cao. Được nhiều giải thưởng danh giá tại Việt Nam.

Phim 'Mùi cỏ cháy' – Khúc bi tráng về Thành cổ Quảng Trị 1972

, , , ...

"Mùi cỏ cháy" – Khúc bi tráng về Thành cổ Quảng Trị 1972



KTĐT - Xem phim Mùi cỏ cháy, không ít người đã khóc ròng từ đầu đến cuối. Sự trong trắng, hồn nhiên và tình yêu Tổ quốc của một thế hệ sinh viên, sự khốc liệt của chiến tranh, thân phận con người và hy sinh mất mát quá lớn của người dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước… đã gợi lên nhiều điều cho những người đang sống hôm nay.

Bộ phim “Mùi cỏ cháy” mặc dù thiếu chất sử thi và thừa chất thơ nhưng thực sự đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng công chúng qua việc tái hiện chân thực không khí hào hùng, bi tráng ở chiến trường Thành cổ Quảng Trị năm 1972.

Không ngoa khi so sánh “Mùi cỏ cháy” giống như “quả cầu pha lê” dưới bàn tay một phù thủy tâm lý, có thể dẫn dắt người xem trải nghiệm những cung bậc cảm xúc khác nhau qua từng cảnh quay.

Bộ phim làm khán giả bật cười sảng khoái với những hành động ngây thơ, trong trẻo có phần trẻ con của những người lính binh nhì tuổi mới mười tám, đôi mươi, nhưng cũng khiến họ rơi lệ trước sự hi sinh quả cảm của những chiến sĩ trẻ; những mối tình trong sáng bị chiến tranh chia lìa hay giọt nước mắt mong ngóng, đợi chờ của người thân nơi hậu phương…



Bộ phim xoay quanh câu chuyện của 4 chàng sinh viên Hà thành là Hoàng, Thành, Thăng và Long ở lứa tuổi 20, khi cuộc đời vừa bắt đầu chớm nở. Sống trong thời kỳ đất nước đang bị gót giày quân thù giày xéo, họ đã tình nguyện rời xa cuộc sống sinh viên, để lại thầy cô, người thân phía sau lên đường nhập ngũ. Trước câu hỏi của Thủ trưởng Phong: “Có ai tiếc cuộc sống bình yên không?” Hoàng đã không ngần ngại nói: “Chúng em cũng hơi tiếc ạ. Nhưng còn hối tiếc hơn nếu như trong đội ngũ những người ra trận hôm nay không có chúng em”.

Những đổi thay trong tâm lý nhân vật được diễn tả một cách sâu sắc. Cả 4 anh lính binh nhì xuất hiện ở đầu bộ phim với hình ảnh ngây thơ, trong sáng có phần trẻ con. Điều đó được thể hiện qua câu hát của Long trên chiếc xe chở quân vào chiến trường: “Ta là con của bố mẹ ta. Nhớ nhà ta trốn ta về”; thú bắt ve sầu rồi áp tai nghe tiếng kêu ve ve của Thành và niềm đam mê chơi trọi dế của Thăng…

Tuy nhiên, khi được rèn luyện trong môi trường khắc nghiệt của quân đội và trực tiếp chiến đấu với quân thù, tận mắt chứng kiến đồng đội của mình hi sinh, họ đã hiểu được giá trị đích thực của cuộc sống, trưởng thành và sống có lý tưởng hơn. Với Thăng, đó là sự cống hiến tuổi thanh xuân cho đất nước: “… Tuổi hai mươi làm sao không tiếc, nhưng ai cũng tiếc tuổi 20 thì còn chi Tổ quốc”. Với Hoàng, đó là thái độ sung sướng, không chút do dự khi được rời trại thương binh vào chiến trường chiến đấu mặc dù, nơi đó có cô y tá mà anh dành tình yêu vô hạn…

Bối cảnh chính trong “Mùi cỏ cháy” là thành cổ Quảng Trị năm 1972. Nơi đế quốc Mỹ chọn để quyết chiến với quân ta nhằm giành thế chủ động trong cuộc đàm phán hiệp định Paris. Vì thế, chúng đã sử dụng mọi phương tiện chiến tranh hiện đại nhất để san phẳng căn cứ quân sự này.

Dưới “bàn tay ma thuật” của đạo diễn Nguyễn Hữu Mười, người xem không thể kìm nổi nước mắt khi chứng kiến hình ảnh hàng trăm chiến sĩ bị trúng bom mìn khi vượt sông Thạch Hãn, máu nhuộm đỏ dòng sông; cảnh Long đứng giữa trời đạn bom kêu gào thảm thiết: “Đừng tấn công nữa!...” và bị bom giặc cướp mất tính mạng; hay hình ảnh một chiến sĩ mù vẫn cầm lựu đạn mò mẫm ra chiến trường chiến đấu với kẻ thù…



Có lẽ, ở ranh giới giữa sự sống và cái chết nơi chiến trường thì tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” mới trỗi dậy mãnh liệt nhất. Dù trong tay chỉ còn cây súng AK hết đạn, Thành vẫn dũng cảm gương lưỡi lê xông lên, đâm một nhát chí mạng vào tên lính ngụy cầm cờ Mĩ và anh dũng hi sinh; biết xung quanh mình có địch rình rập nhưng Thăng vẫn liều mình nhảy xuống sông nối dây cáp để giữ liên lạc giữa chiến trường với Bộ chỉ huy và bị 2 lính ngụy bắn chết…

Chiến trường Quảng Trị - cối xay thịt người – khốc liệt, ghê rợn là thế. Nhưng đạo diễn vẫn dành cho nhân vật của mình những phút giây bình yên để tâm hồn họ lắng đọng lại và viết nên những suy ngẫm về gia đình, về chiến tranh, về tình cảm đồng chí, đồng đội… mà chỉ những người chiến sĩ đã tận mắt chứng kiến, tận tay đào đất chôn đồng đội hi sinh mới có.

Thông qua những trang nhật ký của Thăng, những vần thơ của Hoàng, những bức thư thấm đẫm nước mắt của Thành vĩnh biệt mẹ và lời hứa trở lại (không thực hiện được) của Long đối với một cô gái anh gặp trên đường hành quân… “Mùi cỏ cháy” đã tố cáo tội ác của chiến tranh một cách đầy đủ nhất, chân thực và sinh động nhất. Không những thế, nó đã chạm đến những giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc về tình người, về lẽ sống của cả một thế hệ trẻ thời chống Mỹ.

Bộ phim truyện “Mùi cỏ cháy” và phim tài liệu “Đại tướng Đoàn khuê” đã được chọn mở màn cho đợt phim chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn 30/4, 1/5, 7/5, 19/5 và kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng tỉnh Quảng Trị.

Hồng Hạnh

Niềm tự hào của một Việt kiều Nhật về ngày toàn thắng 30/4

, , , ...

Đối với nhiều kiều bào Việt Nam ở nước ngoài, chiến thắng 30-4-1975 không chỉ là chiến thắng của cả dân tộc mà còn là niềm tự hào của mỗi người con Đất Việt ở xa Tổ quốc. Trong những giờ phút thiêng liêng ấy, anh sinh viên Nguyễn Địch Hoàn cùng đông đảo bà con người Việt Nam ở Nhật Bản đã tụ tập nhau lại, hô vang khẩu hiệu: “Việt Nam, Hồ Chí Minh”, “Việt Nam, hòa bình”… 37 năm đã trôi qua, nhưng với ông Nguyễn Địch Hoàn, kiều bào ở Nhật Bản, những ngày tháng sôi động hào hùng ấy vẫn như mới diễn ra hôm nào.

Âm vang 30-4-1975

Ông Hoàn cho biết, từ miền Nam ông được cử sang Nhật Bản vào năm 1965 và theo học tại Trường Nông nghiệp Tô-ki-ô.


Ông Nguyễn Địch Hoàn trong lần thăm Lào Cai cuối tháng 3 vừa qua

Giọng trầm ngâm như đang trôi lạc về quá khứ, ông kể: Một hôm, khi đang ngồi trong giảng đường, ông được một người bạn báo cho biết có một số anh chị em Việt Nam đang tổ chức biểu tình ở sân Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa ở Tô-ki-ô với mục đích kêu gọi hòa bình, phản đối Mỹ can dự chiến tranh ở Việt Nam. Nghe tin ấy, mấy sinh viên Việt Nam không còn tâm trí nào ngồi học. Họ rủ nhau trốn học và đi về phía Đại sứ quán ấy xem tình hình thế nào. Đến nơi, họ hòa cùng với khoảng 20-25 người biểu tình ngồi ở ngoài sân, còn những người trong Sứ quán thì khóa chặt cửa, nhìn từ bên trong cửa kính ra. Sau hai ngày chiếm sân Đại sứ quán, báo chí Nhật Bản đã nổ bùng lên tin tức này, kêu gọi Mỹ chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Sau cuộc biểu tình trên, ông Hoàn tham gia vào nhóm Beheitoo, gồm những sinh viên Việt Nam tại Nhật Bản yêu hòa bình, chống cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra tại Việt Nam. Ngày 30-4-1975, những tin “Người Mỹ đã rút khỏi miền Nam Việt Nam. Việt Nam hòa bình và thống nhất” được đăng tải dồn dập trên báo chí Nhật Bản. “Lúc đó chúng tôi vui quá, vui đến nỗi không biết làm gì nữa, chỉ biết hô vang khẩu hiệu “Việt Nam, Hồ Chí Minh”, “Việt Nam, hòa bình”, rồi hò hát, ăn mừng chiến thắng chia vui với nước nhà”, ông Hoàn xúc động nói. Sau đó vài ngày, nghe thông tin trụ sở Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa ở Tô-ki-ô có thể bị bán, nhóm Beheitoo đã triệu tập anh em biểu tình, phản đối việc bán sứ quán. “Chúng tôi bám trụ ngày đêm ngay sứ quán. Sau đó, với sự giúp đỡ của Đại sứ quán Cu-ba tại Tô-ki-ô, chúng tôi đã giữ được tòa nhà này. Hiện nay, Đại sứ quán Việt Nam tại Tô-ki-ô rất khang trang, đẹp đẽ”, ông Hoàn cho hay.

Nước chảy về cội

Gần 40 năm sống ở nước ngoài, mang hai quốc tịch Việt Nam-Nhật Bản, song không lúc nào hai tiếng “quê hương” không thôi thúc ông trở về Việt Nam. Ước nguyện của ông giờ đã thành hiện thực khi ông cầm trên tay quyết định nghỉ hưu. Từ nay, ông có thể thực hiện mong muốn mà ông từng ấp ủ từ lâu: Đem kinh nghiệm của ngành đúc Nhật Bản về Việt Nam và đưa nông sản Việt Nam tới người tiêu dùng Nhật Bản.
Ông Hoàn cho biết, sau khi tốt nghiệp đại học, ông vào làm nhân viên cho Công ty Mutsumi ở Nhật Bản, sau đó trở thành đại diện của công ty tại Việt Nam. Đây là một trong những công ty nước ngoài đầu tiên hoạt động tại Việt Nam ngay sau khi chiến tranh kết thúc. Sau này, ông lại có cơ hội làm việc tại Công ty Tokai Sand, làm việc trong bộ phận đúc. “Khi tiếp xúc các công ty đúc của Việt Nam, tôi thấy họ thiếu sách chuyên môn về ngành này. Có những vị giám đốc Việt Nam đưa cho tôi xem những giáo trình về đúc rất sơ sài có cách đây nhiều năm. Chính vì thế, tôi quyết định sưu tầm và dịch các tài liệu về ngành đúc ở Nhật Bản để truyền kinh nghiệm tới các doanh nghiệp Việt Nam”.

Một trong những lĩnh vực khác mà ông Hoàn cũng đang quan tâm và trăn trở đó chính là ngành nông sản của Việt Nam. Ông cho rằng, Việt Nam có nhiều thế mạnh về nông sản nhưng chưa biết cách khai thác một cách bền vững. Lấy ví dụ Việt Nam là quốc gia xuất khẩu lúa gạo, nhưng nếu chỉ bán lúa gạo không thôi thì sản xuất sẽ thấp và đến một lúc nào đó sẽ bão hòa. Vì vậy, ông gợi ý cần phải biến lúa gạo thành các sản phẩm khác như bột, bánh… rồi phân phối tới từng thị trường, từ đó mới lưu thông được thị trường lúa gạo. Ổn định được thị trường lúa gạo và các sản phẩm của nó là tiền đề để người nông dân bám vào đồng ruộng để tăng năng suất.

Bài và ảnh: Linh Oanh
qdnd.vn

37 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 30/4 (1975-2012)

, , , ...

Mùa Xuân Trên Quê Hương - Bích Hồng:


Mùa Xuân Đầu Tiên - Mỹ Linh (nhạc sĩ Văn Cao sáng tác năm 1976 sau khi Quốc hội chính thức thống nhất Việt Nam):


Hà Nội-Huế-Sài Gòn - Anh Thơ


Tàu Anh Qua Núi - Anh Thơ

Chiến tranh Mỹ - Việt từ một góc nhìn

, , , ...

TCCSĐT - Mặc dù đã lùi vào dĩ vãng, nhưng hậu quả của cuộc chiến tranh xâm lược do Mỹ tiến hành trên đất nước Việt Nam 37 năm trước đây vẫn còn hết sức nặng nề. Những bài học lịch sử từ cuộc chiến tranh đó cho đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị, bởi nó không chỉ lý giải về sự thất bại của cường bạo trước sức mạnh chính nghĩa mà còn cảnh tỉnh những người vẫn mơ hồ tin vào cái gọi là sứ mệnh “mở rộng dân chủ” như vẫn thường được tuyên truyền. Nỗi đau khôn nguôi!

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, quân đội Mỹ đã trút xuống hai miền Nam, Bắc Việt Nam một khối lượng bom lớn hơn bất cứ cuộc chiến tranh nào do Mỹ thực hiện trước đó. Cuộc khủng bố đẫm máu ở Mỹ Lai, B52 rải thảm ở Khâm Thiên và chiến dịch rải chất độc da cam trên một diện tích rộng trong chiến tranh chỉ là số ít trong hàng nghìn tội ác mà quân đội Mỹ đã gây ra cho dân tộc Việt Nam.

(Xin bấm vào Tựa đề hoặc Comments để đọc tiếp)

Read more...

Nhìn lại 'cuộc chiến trong lòng nước Mỹ'

, , , ...

-------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------

Read more...

Cực phẩm 'Nhạc Rap đỏ'

, , , ...

Đoàn quân bất tử - Sói đen


Hồi ức - Victory Band

Chiến dịch Linebacker II và cuộc chiến bảo vệ thủ đô của quân dân Hà Nội trong kháng chiến chống Mỹ

, , , ...

-------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------

Read more...

Chống các loại hình chiến tranh của Mỹ trên Đường Mòn Hồ Chí Minh

, , , ...

Để giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh xâm lăng Việt Nam, Hoa Kỳ đã sử dụng hầu như tất cả các loại vũ khí hiện đại nhất, tối tân nhất, với mọi loại hình chiến tranh nhằm cắt đứt tuyến vận tải quân sự chiến lược 559. Cuộc chiến đấu của bộ đội, thanh niên xung phong và các lực lượng trên tuyến đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh vì vậy diễn ra hết sức ác liệt, nhưng cũng rất đỗi hào hùng. Những chiến công kì diệu đó đã góp phần làm nên huyền thoại của con đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Bài viết đề cập vài nét về sự hình thành đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh huyền thoại, những loại hình chiến tranh Mỹ tiến hành trên tuyến đường này và những chiến công hào hùng của bộ đội Trường Sơn.

1. Vài nét về sự hình thành và phát triển của đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh

Đường Trường Sơn hay đường 559 ra đời vào đúng ngày sinh nhật Bác (19/05/1959) là một phức hợp mạng lưới mạng lưới giao thông chiến lược gồm các trục đường Trường Sơn Đông chạy từ Khe Hó (Quảng Bình) vào tới Bù Gia Mập (Bình Phước – Đông Nam Bộ); Trường Sơn Tây từ Làng Ho (Vĩnh Linh) qua Bản Đông xuống Hạ Lào, chạy tới Kratiê vùng Đông Bắc Campuchia; đường thủy dọc trên sông Kông, MêKông, XêBăngHiên dài 500 km; đường ống xăng dầu dài 1400 km hình thành từ tháng 06/1968 chạy từ Quảng Trị đến Lộc Ninh. Đường Hồ Chí Minh trên biển của những con tàu không số chạy từ miền Bắc qua hải phận quốc tế tới Phú Yên – Bà Rịa – Vũng Tàu, Bến Tre, Cà Mau sang tận cảng Xihanuoukville. Đường Trường Sơn hay đường Hồ Chí Minh hay mang phiên hiệu đường 559 chỉ là một. Đó là con đường cung cấp hậu cần, binh lực, lương thực và vũ khí khí tài để chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam , con đường giải phóng miền Nam của cả dân tộc. Người ta gọi là đường Hồ Chí Minh huyền thoại vì nó gắn với những chiến công kì diệu đã đi vào trái tim và khối óc của người Việt Nam và bạn bè thế giới. Trong 16 năm tồn tại (1959 – 1975) đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh huyền thoại (dài gần 20.000 km) đã hoàn thành vẻ vang sứ mệnh lịch sử của mình góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu quốc và nay đang đóng vai trò to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước – theo định hướng phát triển của Việt Nam đến năm 2020.

2. Những loại hình chiến tranh Mỹ tiến hành nhằm cắt đứt đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh

Ngăn chặn sự chi viện quân sự từ miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam qua ngả đường mòn Hồ Chí Minh là mục tiêu chiến lược của Mỹ và ngụy quân Sài Gòn và họ đã đẩy những nỗ lực chiến tranh lên cao nhất để được mục tiêu trên. Mỹ đã tiến hành nhiều loại chiến tranh khác nhau như chiến tranh điện tử, chiến tranh hóa học và chiến tranh khí tượng trên toàn tuyến đường. Lần đầu tiên, Mỹ đã sử dụng nhiều vũ khí tối tân nhất, tập trung khối lượng lớn bom, mìn thả xuống dọc dãy núi Trường Sơn. Các loại hình chiến chiến tranh điện tử, chiến tranh hóa học và chiến tranh khí tượng của giặc đã gây khó khăn và thiệt hại rất lớn cho Binh đoàn Trường Sơn. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam thần kỳ với mọi lực lượng và phương tiện đánh giặc mọi nơi, mọi lúc của bộ đội và nhân dân trên tuyến đường này đã hóa giải, khai thác những khuyết điểm của vũ khí giặc, hạn chế thấp nhất những thiệt hại của ta, và làm thất bại hoàn toàn âm mưu ngăn chặn đường mòn Hồ Chí Minh của Mỹ.

a. Chiến tranh điện tử

Từ năm 1966, để ngăn chặn các tuyến vận tải quân sự trên Đường mòn Hồ Chí Minh, Mỹ thiết lập Hàng rào điện tử McNamara, bắt đầu từ Cửa Việt, Đông Hà (Quảng Trị), dọc Đường 9 đến Sê Pôn (Nam Lào), kết hợp với chiến thuật dùng máy bay đánh phá đường, cầu, các trọng điểm giao thông…

Hàng rào điện tử McNamara là tên gọi cho hệ thống các phương tiện điện tử phát hiện thâm nhập được quân đội Mỹ sử dụng dọc theo khu phi quân sự ở vĩ tuyến 17 và đường mòn Hồ Chí Minh như một biện pháp trinh sát mặt đất tự động nhằm phát hiện các hoạt động vận chuyển của quân đội giải phóng lưu thông qua khu vực này trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam.

Hàng rào điện tử McNamara được quyết định xây dựng từ tháng 6 năm 1966 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert McNamara, bao gồm hệ thống 17 căn cứ quân sự, kết hợp với hệ thống vật cản (hàng rào dây thép gai, bãi mìn...), các thiết bị trinh sát điện tử mặt đất và trên không (ra đa, máy cảm ứng âm thanh, cảm ứng địa chấn...), được bố trí liên hoàn trong khu vực có chiều rộng 10–20 km, dài khoảng 100 km từ cảng Cửa Việt lên đường 9, tới biên giới Việt Nam – Lào, sang Mường Phìn (Lào). Trước khi khởi động chương trình này Mc Namara ước tính sẽ tiêu tốn khoảng 1 tỷ đô – la nhưng thực tế là cần 2 tỷ đollar để triển khai cho cuộc “chiến tranh điện tử” 3

Loại máy được gọi là "Cây nhiệt đới" (ADSID hay Air Delivered Seismic Intrusion Detector) thả từ trên máy bay để đầu nhọn có cảm biến địa chấn cắm vào trong đất. Chỉ cần một tiếng động nhỏ, lập tức máy thu phát cây nhiệt đới báo tin về đài chỉ huy, để rồi pháo từ hạm đội 7, máy bay trực thăng oanh tặc, thả bom tiêu diệt đối tượng từ địa điểm vừa phát ra tiếng động. Tuy nhiên, Mỹ mới thực hiện được một đoạn hàng rào dài chừng 25 km (từ Gio Hải đến xã Hải Thái bây giờ) thì âm mưu này đã bị thất bại.

Để đối phó và vô hiệu hóa hàng rào điện tử McNamara ta đã sử dụng rất nhiều biện pháp khác nhau như: nghi binh đánh lừa máy bay Mỹ hoặc sử dụng các dụng cụ thám báo Arthur Dommen, như phóng viên báo Los Angeles Times nhận xét: "Bắc Việt dùng mồi giả, đồng thời họ đặt ở đó tên lửa phòng không dày đặc, thế là hàng loạt máy bay sa vào bẫy".

Gậy ông đập lưng ông: với những phương tiện đơn giản lạ đạt nhiều kết quả như kể trên, các chiến sĩ Đoàn 559 còn đi xa hơn nữa: dùng thiết bị Mỹ để đánh Mỹ. Cũng theo phương pháp trên, những chiếc cassette được đặt bí mật vào sát các khu căn cứ của Mỹ. Và thật bất ngờ, Không quân Mỹ giội bom vào căn cứ Mỹ. Việc này làm cho Bộ Chỉ huy Mỹ kinh hoàng, bối rối. Nhiều giả thiết được đặt ra. Mà theo logic rất Mỹ thì cái giả thiết được lưu ý nhất là: Tình báo Bắc Việt Nam đã có cách gì đó lọt được vào hệ thống mạng chỉ huy tối mật của quân đội Mỹ chăng?

Cuốn Lịch sử Cơ quan Tình báo tín hiệu Mỹ SIGINT (American Signals Intelligence) trong chiến tranh Việt Nam viết: “Cơ quan An ninh Quốc gia vừa mới công bố những tài liệu cho thấy rằng trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, có một số lần những đơn vị tình báo của Bắc Việt Nam đã thành công trong việc thâm nhập các hệ thống thông tin của Liên quân, và từ phía bên trong hệ thống này họ đã kiểm soát được kênh chuyển tin. Nhưng đôi khi họ còn làm được nhiều hơn thế.

Tình báo Mỹ hồ nghi rằng “đã có một vài lần những người cộng sản, bằng cách thông tin qua các mạng lưới sóng radio của quân Mỹ, đã có thể kêu gọi pháo binh và không quân của Liên quân tấn công vào những đơn vị của Hoa Kỳ.” Chuyện này vẫn đang làm cho dư luận Mỹ sửng sốt. Steven Aftergood, Giám đốc Cơ quan Khoa học Liên bang Mỹ FAS (Federation of American Scientists), nói với hãng tin AFP rằng:“Đó là điều mà tôi chưa bao giờ được nghe tới từ trước đến nay.”

b. Chiến tranh hóa học

Máy bay Mỹ đang rải chất độc diệt rừng xuống Việt Nam trong Chiến dịch Ranch Hand. Chiến dịch Ranch Hand là mật danh chỉ hoạt động phun hoá chất khai quang của không quân Mỹ xuống Việt Nam từ năm 1962 đến 1971. Hợp chất có chứa độc tố kinh khủng nhất mà con người biết đến là dioxin này đã gây ra những hậu quả dai dẳng đối với con người và môi trường ở Việt Nam .

Ngày 30/11/1961, Tổng thống Mỹ John F. Kennedy đã thông qua trên nguyên tắc việc sử dụng chất diệt rừng tại chiến trường Việt Nam . Biệt đội thực hiện Chiến dịch Ranch Hand được thành lập với 6 máy bay. Giai đoạn đỉnh cao của chiến dịch này vào năm 1969, biệt đội có tới 25 máy bay đặc chủng các loại. Cơ cấu tổ chức của biệt đội thay đổi theo thời gian. Trong giai đoạn cao điểm nhất của hoạt động rải chất diệt rừng và phá hoại môi sinh từ 1966-1970 nó được biết đến với tên gọi Phi Đội Biệt Kích đường không số 12 (12th Air Commando Squadron) hay Phi đội chiến dịch đặc biệt số 12 (12th Special Operations Squadron). Về mặt nhân sự và phương tiện, Ranch Hand là một phần trong toàn bộ các chiến dịch của không quân Mỹ ở vùng Đông Nam Á.

Mục tiêu của Mỹ là khai quang làm băng hoại những cánh rừng già dọc dãy Trường Sơn dùng bom dạn và hỏa lực chặn đứng tiếp vận và hành quân tiếp viện của bộ đội ta trên đường mòn Hồ Chí Minh. Lớp áo khoác ngụy trang của tự nhiên đã bị Mỹ rải chất độc tiêu diệt đã gây ra không ít khó khăn cho những cuộc vận chuyển vũ khí quân ta. Tạo điều kiện cho máy bay địch oanh tạc, không kích. Bộ đội ta đã phải chuyển sự vận tải từ ngày sang đêm, đồng thời kết hợp mưu trí đánh lừa không quân địch. không quân Mỹ biết rất rõ có những đoàn xe lớn chỉ di chuyển vào ban đêm nên tập trung lực lượng đánh phá vào ban đêm. Ban ngày phi công ngủ. Tương kế tựu kế, Đoàn 559 chọn những khu rừng chưa bị trụi lá kết các cành lá lại thành những tuyến đường “ngầm”, không phải ngầm trong lòng đất mà ngầm dưới tán lá rừng (bí danh là Đường K).

Cho đến mùa khô 1971-1972, độ dài của những con đường ngầm này ở phía Tây Trường Sơn lên tới 778 km. Trên những tuyến đường này, lợi dụng lúc các phi công Mỹ ngủ ngày, xe có thể chạy suốt ban ngày và lại nghỉ ban đêm... Trong suốt mùa khô 1971-1972, có tới 71% số xe tải phục vụ cho cuộc tiến công lớn 1972 là đi theo hệ thống Đường K này 11. Đó hẳn là điều mà có lẽ Bộ Tư lệnh Không quân của Mỹ không ngờ tới.

c. Chiến tranh khí tượng

Vẫn chưa hài lòng với 2 loại hình chiến tranh “điện tử và hóa học”, Mỹ còn tiến hành thêm một loại hình chiến tranh mới gọi là “chiến tranh khí tượng”. Đây là một loại hình chiến tranh mà Mỹ đã sử dụng những công nghệ tiên tiến nhất cùng những thiết bị hiện đại nhất với mục đích làm đảo lộn, phá hủy môi trường gây lụt lội, tắc ách ở trên toàn tuyến đường. Loại chiến tranh khí tượng của Mỹ được che đậy dưới từ ngữ huyễn hoặc, thơ mộng “người đồng bào trung gian” (Intermediary compatriot), chương trình mở mắt (pop eye), công trình sông Nill xanh ( Blue Nile )...

Mùa mưa hàng năm làm ảnh hưởng tới các hoạt động vận tải của đường Trường Sơn và cũng gây khó khăn cho các chiến dịch ném bom. Ngoài ra, sương mù buổi sớm và khói do tập tục đốt rẫy của dân cư thiểu số cũng làm sai lạc việc ném bom của không quân Mỹ. Trong năm 1968, Không quân Mỹ thực hiện hai thí nghiệm với hy vọng làm trầm trọng hơn nữa kiểu thời tiết xấu của mùa mưa. Dự án Popeye là một cố gắng nhằm kéo dài vô hạn mùa mưa trên đường Trường Sơn bằng cách tạo mây. Dự án bắt đầu thử nghiệm vào tháng 9 trên vùng lưu vực sông Kong - con sông chảy qua địa bàn của các chiến dịch Steel Tiger và Tiger Hound. Mây được tạo trong không trung bằng các đám khói bạc iodide và sau đó được kích hoạt bằng một mồi nổ bắn ra từ súng bắn pháo sáng. Dự án thử nghiệm thành công và chương trình đã được thực hiện cho đến tháng 7 năm 1972 6. Dự án được bắt đầu thử nghiệm vào tháng 5. Các nhà khoa học ở công ty Dow Chemical đã chế tạo một dung dịch hóa học mà khi trộn với nước mưa sẽ phá hủy tính ổn định của các thành phần của đất và tạo ra bùn. Các nhà quân sự Mỹ rất kỳ vọng vào chương trình Commando Lava7 nhưng thực ra nó đã thất bại ngay khi thử nghiệm và sau đó bị xếp xó.

Trong những năm chiến tranh (1965-1973), các lực lượng Đoàn 559 không hề biết Mỹ đã tăng sức phá hủy của lũ lụt ở Trường Sơn. Mãi đến 1974, khi được những thông tin kỹ thuật nói rõ, tờ Navy Times (5/6/1974), tiết lộ từ năm 1967 đến 1972, Không quân Hoa Kỳ đã tiến hành 2.062 phi vụ làm mưa nhân tạo trên đường mòn Trường Sơn, tiêu tốn 21,6 triệu USD... Tuy gây được sức cản nặng nề cho kế hoạch tiếp tế của Hà Nội, song vẫn không có tín hiệu ngăn chặn được họ (!).Ở những đoạn đi men những vách núi hiểm trở mà bị bom đánh phá đứt đường, không có mìn để phá núi làm đường thì công binh và thanh niên xung phong đã dùng gỗ, dùng cây để bắc tạm những chiếc cầu nhỏ, chỉ có một hàng ván cho một bên bánh xe. Còn bánh xe bên kia thì tì vào vách núi mà đi! Những chiếc cầu “khỉ” vắt vẻo trên vách đá như thế là cực kỳ nguy hiểm. Để giảm trọng tải của xe, nhiều khi phải bốc dỡ hàng xuống, cho những xe lần lượt đi qua rồi lại bốc hàng lên.

Vượt qua những cầu khỉ vào ban đêm, ngoài sự nguy hiểm về sức chịu đựng của ván gỗ và cọc gỗ, còn có vấn đề: Không có cọc tiêu dẫn đường. Chỉ trệch một vài centimet là xe có thể lao xuống vực. Máy bay lượn trên đầu, không được có một chút ánh sáng nào. Cọc tiêu thì không có, vì đường còn chưa làm nổi thì lấy đâu ra cọc tiêu để cắm! Những chiến sĩ thanh niên xung phong trên tuyến đường 559 đã khoác nylon trắng (lấy từ đèn dù do C130 thả) đứng ven những tấm ván để làm cọc tiêu. Ban đêm, nhìn thấy những vệt trắng lờ mờ thì lái xe biết rằng đó là giới hạn giữa cái sống và cái chết, giữa thoát hiểm và lao xuống vực. Từ đó đã xuất hiện một danh từ chưa từng có trong lịch sử giao thông thế giới là “cọc tiêu sống”.

Điều kiện khí hậu khắc nghiệt cộng với sự phá hoại điên cuồng của Mỹ đã làm đường mòn Hồ Chí Minh càng trở nên hiểm trở. Chính vì thế ở đây đã cho ra đời một luật lệ giao thông “độc nhất vô nhị” trên thế giới. Riêng xe tải trên đường Trường Sơn có luật riêng, xe lúc thì đi bên trái, lúc thì đi bên phải, tránh nhau rất lạ. Vì trên những dốc của Trường Sơn, đường vừa hẹp, vừa dễ sụt lở nên “luật” là ưu tiên cho xe đi vào, vì xe đi vào chở nặng, xe đi ra chở nhẹ. Theo luật này bất cứ xe nào từ Bắc vào đều được ưu tiên đi sát bên vách núi. Những xe đi ra phải tránh ra phía mép đường, bất kể là bên trái hay bên phải.

Người ta không thể nào kể hết những biện pháp đầy mưu trí và sáng tạo của quân và dân trên đường Trường Sơn, rõ ràng đây không chỉ là sự đọ sức, đọ kỹ thuật, đọ tiền bạc, mà còn là sự đấu trí. Trong cuộc đọ sức đó, cuối cùng Việt Nam đã chiến thắng sức mạnh quân sự bạo tàn của Mỹ, một ký giả Mỹ đã viết: "Người Việt Nam đã cho thế giới thấy có một khoảng cách ghê gớm giữa khoa học kỹ thuật với sức mạnh thuần túy của con người. Hãy tưởng tượng xem, nếu người Việt Nam bị đánh bại thì thế giới sẽ ra sao? Chúng ta sẽ chẳng còn biết làm gì nữa ngoài việc quỳ gối trước những thần tượng của kỹ thuật”.

3. Kết luận

Từ 1964 bộ chỉ huy Mỹ đã đặt vấn đề cắt đứt liên lạc Bắc Nam thành mục tiêu chiến lược hàng đầu. Nhưng rồi Taylor, tổng tham mưu trưởng đành kết luận: "Chúng ta đánh giá thấp quyết tâm hy sinh của người Việt Nam. Tất cả cố gắng của chúng ta nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh đều vô ích".

Đối mặt với nhiều loại chiến tranh, vũ khí kỹ thuật Mỹ cùng nhiều khó khăn gian khổ, nhưng đường Trường Sơn vẫn đứng vững nhờ vào ý chí tuyệt vời của Đoàn 559 của nhân dân và những chiến sĩ vận tải anh hùng. Bằng sự sáng tạo, "bền tâm vững chí" mà trên hết là tình yêu nước, các lớp cha anh đã chiến đấu hi sinh duy trì con đường huyết mạch này trực tiếp mang lại chiến thắng quyết định, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, và chính thức kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ.

"Gặp em trên cao lộng gió, rừng Trường Sơn ào ào lá đỏ. Em đứng, đứng ở bên đường, như quê hương vai áo bạc, quàng súng trường.
Đoàn quân vẫn đi vội vã bởi Trường Sơn nhoà trong thời lửa. Chào em, em gái tiền phương, ơi em gái tiền phương, hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn. Chào em, em gái tiền phương, ơi em gái tiền phương, hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn.”


Lê Dũng

Tài liệu tham khảo:

1. Military History Institute of Vietnam , Victory in Vietnam : The Official History of the People's Army of Vietnam , 1954-1975. Người dịch: Merle Pribbenow, Lawerence KS : University of Kansas Press , 2002, tr. 28.

2. Tự điển Bách Khoa Toàn Thư VN

3. Bách khoa Quân sự Việt Nam, 2005, 1.296 trang, NXB Quân Đội Nhân Dân

4. 5 Đường mòn Hồ Chí Minh, Đặng Phong, NXB Tri thức & Phương Nam Books

5. Cảm ứng điện tử

6. Jacob Van Staaveren, Interdiction in Southern Laos , 1960-1968. Washington DC : Center for Air Force History, 1993, Appendix5. Actual figures from Prados, 226-228

7. Nguyễn Việt Phương – ANTG, Mỹ từng áp dụng chiến tranh địa - vật lý tại Việt Nam
8:00, 14/04/2006


Người lính già đầu bạc,
Kể mãi chuyện Trường Sơn.

Thiên anh hùng ca Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

, , , ...

Chống Pháp:


Chống Mỹ:


Chống Trung Quốc:


Chống Trung Quốc (Chiến dịch CQ-88 - Hải chiến Trường Sa) :

Giới thiệu 3 quyển sách hay của/về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

, , , ...

Lâu nay khi nhắc tới thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp thì người ta thường gắn với đề tài kháng chiến chống Pháp và trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Thấy có 3 sách này rất hay mà còn ít người biết, và nằm ngoài chủ đề Điện Biên Phủ. Xin giới thiệu cho các bạn đọc.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời trẻ

Tác giả: Trung tướng Phạm Hồng Cư
Với sự cộng tác của bà Đặng Bích Hà, phu nhân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Nhà xuất bản: Thanh niên
Năm xuất bản: 2004
Số hoá: ptlinh

Link: http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,3822.0.html

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Cùng bạn đọc,

Đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đã quen thuộc với các hồi ức cách mạng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Tuy nhiên, chưa nhiều người được biết về thời trẻ của ông. Nhân dịp kỷ niệm ngày sinh lần thứ 93 của Đại tướng (25-8-1911-25-8-2004), và kỷ niệm lần thứ 60 ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22-12-1944-22-12-1944), chúng tôi xin được giới thiệu với bạn đọc cuốn sách “ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP THỜI TRẺ”, viết về tuổi trẻ của ông.

Trong cuốn sách này, tác giả-Trung tướng Phạm Hồng Cư được sự cộng tác của bà Đặng Bích Hà, phu nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp, dựa vào các tư liệu lịch sử, đặc biệt là các bức thư của gia đình Đại tướng-những kỷ vật quý báu đã được lưu giừ hơn nửa thế kỷ-đã phác họa lại một quãng đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp-tuổi thơ và thời trẻ với những chi tiết chân thực và xúc động-qua đó, tác giả mong được góp thêm tư liệu về cuộc đời của Đại tướng-người Anh cả của quân đội ta, một vị tướng văn võ song toàn, có một phẩm chất cách mạng tuyệt vời-đã suốt đời hết lòng phục vụ cách mạng.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách “ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP THỜI TRẺ” với đoàn viên, thanh niên cùng bạn đọc cả nước.
Tháng 8-2004
NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN



Hồi ký: Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng

Tác giả: Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Xuất bản nhiều lần, mới nhất năm 2005
Số hoá: MoHaNoi, NguyenHoc, NHDT

Link: http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4n0ntn3n31n343tq83a3q3m3237nvn

LỜI NÓI ĐẦU

Thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã đi vào lịch sử dân tộc ta như một mốc son chói lọi.

Với thắng lợi vĩ đại ấy, quân và dân ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ: kết thúc cuộc kháng chiến 30 năm thắng hai đế quốc to, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, thống nhất nước nhà. Đây là cuộc kháng chiến lâu dài nhất, quyết liệt nhất, oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

Thắng lợi ấy đã chấm dứt ách thống trị của thực dân - đế quốc hơn 100 năm trên đất nước ta. Tổ quốc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi lịch sử ấy bắt nguồn từ đường lối cách mạng, đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ tinh thần đoàn kết chiến đấu. anh dũng bất khuất của toàn dân, toàn quân, gắn liền với sự lãnh đạo và điều hành trực tiếp của Bộ thống soái tối cao: Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương: Bộ Tổng tư lệnh trong quá trình kháng chiến.

Mùa Xuân 1975, tại Tổng hành dinh trong thành cổ Hà Nội, Bộ thống soái tối cao đã làm việc khẩn trương: liên tục, tập trung trí tuệ, tài năng ra những quyết định, kế hoạch chiến lược, chiến dịch, những mệnh lệnh, chỉ thị cho quân và dân cả nước biến các Nghị quyết của Đảng thành sức mạnh chiến đấu và chiến thắng trên các mặt trận. Cũng tại đây, các cơ quan của Tổng hành dinh: Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật đã phát huy năng lực và kinh nghiệm theo chức năng, nhiệm vụ, cùng với các cơ quan của Đảng và Nhà nước giúp Bộ thống soái tối cao, góp phần vào thắng lợi chung.

Nhân kỷ niệm 30 năm ngày toàn thắng (30-4-1975-30-4-2005), cuốn Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng muốn nói lên nhãn quan chiến lược, sự sáng suốt và nhạy bén, tinh thần quyết đoán của Bộ thống soái tối cao, đặc biệt trong những thời cơ lớn, cũng như tinh thần làm việc toàn tâm, toàn ý, mưu trí, sáng tạo của các cơ quan Tồng hành dinh.

Mong rằng những trang hồi ức này sẽ làm rõ thêm vai trò chiến lược có ý nghĩa quyết định thắng lợi của Bộ thống soái tối cao trong mùa Xuân lịch sử.

Tác giả




Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam

Ban biên soạn: Gs.NGND Phan Huy Lê, Nhà sử học Dương Trung Quốc, Trần Xuân Thanh
Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia
Năm xuất bản: 2010
Số hóa: macbupda

Link: http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,20189.0

Quân sử Việt Nam xin chân thành cám ơn
PGS, TSKH. Nguyễn Hải Kế đã gửi tặng diễn đàn cuốn sách này




LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là một trong những người học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, vị Đại tướng của nhân dân. Tài năng và đức độ của ông được thể hiện tập trung nhất ở tinh thần “Dĩ công vi thượng” (đặt lợi ích của nhân dân, của đất nước lên trên hết). Trong suốt cuộc đời mình, ông luôn tâm niệm và làm đúng theo lời dạy đó của Bác Hồ. Tên tuổi và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với cuộc kháng chiến giành và bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam, giành trọn niềm tin yêu của toàn Đảng, của nhân dân, toàn quân, của bạn bè quốc tế và của cả những người trước đây là đối thủ của ông trên chiến trường.

Vốn xuất thân từ một thầy giáo dạy lịch sử, ông còn là tác giả của nhiều công tình, nhiều tập hồi ký, ký sự, bài viết có giá trị tái hiện lại những thời kỳ đầy gian khổ, khó khăn nhưng cũng rất anh hùng, vẻ vang của dân tộc ta, quân và dân ta. Các bài viết của ông được thể hiện bằng tâm hồn và ngòi bút của một nhà sử học, một nhà văn hóa, thể hiện niềm tự hào của ông về lịch sử oanh liệt của đất nước, về truyền thống dân tộc cùng những trăn trở trước những vấn đề mà giới sử học đang quan tâm. Từ năm 1990 đến nay, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được tôn vinh là Chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử Việt Nam. Trên cương vị này, ông đã dành nhiều sự quan tâm cho nền sử học Việt Nam và có nhiều ý kiến chỉ đạo, định hướng cho hoạt động của Hội Khoa học lịch sử nhằm tôn vinh, bảo tồn các giá trị của nền văn hóa dân tộc và phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng của nhân dân ta.

Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 của vị Đại tướng nhân dân, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phối hợp cùng Hội Khoa học lịch sử Việt Nam xuất bản cuốn Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam. Cuốn sách gồm hai phần:

- Phần I: Những bài viết của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, tập hợp một số bài viết hoặc trích từ hồi ký của Đại tướng đã được đăng trên Tạp chí Xưa & Nay về hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc, về các sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử và các hoạt động của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam.

- Phần II: Những bài viết về Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, gồm các bài viết của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng, những kỷ niệm, những ấn tượng vô cùng tốt đẹp và lòng khâm phục, kính trọng mà họ dành cho vị Tổng Tư lệnh thân yêu của nhân dân.

Cuốn sách là một món quà nhân dịp Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân ta vui mừng chúc thọ Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, một tài năng quân sự, một nhân vật đã trở thành huyền thoại không chỉ của Việt Nam mà còn đối với thế giới.

Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc

Tháng 8 năm 2010
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA



LỜI NÓI ĐẦU

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là “người Anh Cả của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam”, là Đại tướng Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giành lại trọn vẹn độc lập quốc gia và thống nhất Tổ quốc. Đại tướng là một trong những học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Đại tướng của nhân dân. Tên tuổi và sự nghiệp của Đại tướng đã được ghi nhận, tôn vinh trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong nước và trên thế giới, đã ghi danh vào nhiều bộ Từ điển bách khoa và Bách khoa thư của nhiều nước. Đặc biệt, con người, nhân cách và cống hiến của Đại tướng đã được ghi tạc vào lòng dân. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng với những chiến thắng vĩ đại mà ông góp phần làm nên đã từng vang lên trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc của nhiều nước thuộc địa châu Á, châu Phi. Đại tướng Võ Nguyên Giáp được thế giới biết đến như là một trong những danh tướng của thế giới, một vị tướng huyền thoại của chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân.

Trước khi trở thành một Đại tướng lừng danh, Võ Nguyên Giáp đã từng là một nhà báo, nhà sử học, một thầy giáo dạy sử tại trường Thăng Long (Hà Nội). Và cùng với binh nghiệp rạng rỡ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn dành nhiều tâm sức cho sự nghiệp nghiên cứu và viết lịch sử. Những tập hồi ký của Đại tướng là những bộ sử kháng chiến trung thực, phong phú, sống động. Một số tác phẩm tổng kết chiến tranh của Đại tướng có giá trị như những bộ binh pháp hiện đại. Ngoài ra, Đại tướng còn nghiên cứu và công bố nhiều công trình, luận văn về lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, về một số chiến công và sự kiện lịch sử tiêu biểu, về một số anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa, một số tướng lĩnh quân đội nhân dân hiện đại. Đại tướng vừa làm sử, vừa viết sử, một sự kết hợp hiếm có của tài năng quân sự với tài năng sử học.

Sau khi tổ chức lại và mở rộng hoạt động trên phạm vi toàn quốc, năm 1990 Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã tôn vinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Trần Văn Giàu làm Chủ tịch danh dự của Hội. Tiếp theo, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Khoa học lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ III (1995-2000), IV (2000-2005) và V (2005-2010) đều nhất trí tôn vinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Giáo sư Trần Văn Giàu làm Chủ tịch danh dự của Hội.

Tuy tuổi cao nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dành sự quan tâm đặc biệt cho nền sử học Việt Nam. Đại tướng đã trực tiếp tham dự các Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, một số hội nghị Ban Chấp hành Tư Hội, các diễn đàn và một số hội thảo khoa học do Hội tổ chức. Đại tướng thường xuyên nghe báo cáo về tình hình hoạt động của Hội và đưa ra những ý kiến chỉ đạo rất cơ bản. Đại tướng luôn luôn nhấn mạnh vai trò, sứ mạnh quan trọng của sử học trong nghiên cứu khoa học cũng như trong phổ cập tri thức lịch sử, giáo dục truyền thống dân tộc và cách mạng trong nhân dân, nhất là trong thế hệ trẻ. Trước tình trạng sa sút của việc giảng dạy môn lịch sử trong các trường phổ thông, Đại tướng rất lo lắng và đã tham gia diễn đàn cùng giới sử học, các thầy giáo, cô giáo, tìm các giải pháp khắc phục và đưa ra các kiến nghị nâng cao chất lượng dạy và học sử trong nhà trường. Đại tướng cũng rất chăm lo đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóa dân tộc và cách mạng. trong hoạt động của Hội Khoa học lịch sử, Đại tướng nhắc nhở yêu cầu tập hợp, đoàn kết giới sử học cả nước, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Theo đề nghị của Hội, Đại tướng đã vui lòng tiếp và trao đổi với một số nhà Việt Nam học nổi tiếng trên thế giới. Vài năm gần đây, tuy tuổi cao, sức yếu, Đai tướng vẫn dành sự quan tâm, ưu ái cho giới sử học, lắng nghe về những hoạt động của Hội.

Năm nay Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ở tuổi 100 tính theo tuổi ta và ngày 25 tháng 8 năm 2010 là ngày sinh nhật thứ 100 của Đại tướng. Để bày tỏ tấm lòng tôn kính, biết ơn đối với một vị khai quốc công thần của đất nước, đối với vị Chủ tịch danh dự của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Ban Thường vụ của Hội đã xin phép Đại tướng cho xuất bản một cuốn sách mang tên: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam.

Cuốn sách tập hợp một số bài Đại tướng viết hoặc trích trong hồi ký của Đại tướng về hai cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất Tổ quốc đã đăng trên Tạp chí Xưa & Nay của Hội, những bài viết về một số sự kiện và nhân vật lịch sử, một số tướng lĩnh quân đội nhân dân trong các hội thảo khoa học, những bài viết, bài phát biểu về các hoạt động của Hội và một số bài của giới sử học viết về Đại tướng. Chúng tôi cũng tuyển chọn một số ảnh kỷ niệm những lần Đại tướng gặp gỡ, trao đổi, tham dự hoạt động của Hội, những lần mừng sinh nhật của Đại tướng, đưa vào cuốn sách.

Chúng tôi coi cuốn sách này là một tặng phẩm kính tặng Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch danh dự của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam nhận dịp sinh nhật lần thứ 100 với tất cả tấm lòng tôn kính, quý mến, biết ơn của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và giới sử học cả nước.

Hà Nội, ngày 25 tháng 7 năm 2010
GS, NGND. Phan Huy Lê
Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam

2 tác phẩm vô giá về giáo dục lý luận chính trị của Đảng

, , , ...


“Đường Kách mệnh” và “Sửa đổi lối làm việc” là hai tác phẩm vô giá tiếp tục dẫn đường chỉ lối cho công tác lý luận và "thực hành lý luận" của Đảng ta. Ảnh tư liệu

(TCTG) - Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc giáo dục lý luận chính trị và giáo dục thực hành lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. “Đường Kách mệnh” và “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hai tác phẩm lý luận lớn, cũng là những tác phẩm vô giá về giáo dục lý luận chính trị của Người để lại.

Trong công tác xây dựng Đảng, Đảng ta luôn đặt nhiệm vụ xây dựng Đảng về lý luận chính trị là nhiệm vụ hàng đầu. Đây cũng chính là vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta luôn quan tâm ngay từ khi phấn đấu thành lập Đảng cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta sau này. Người đã có rất nhiều bài viết, bài nói và những tác phẩm riêng về xây dựng Đảng nói chung, về công tác giáo dục lý luận chính trị nói riêng. Trong các tài liệu đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày rất rõ, rất toàn diện và cụ thể về vấn đề này, từ giáo dục chủ nghĩa Mác- Lênin đến vấn đề xây dựng Đảng mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; từ nội dung và nhiệm vụ học lý luận chính trị đến vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục lý luận chính trị.

1. “Đường Kách mệnh” - tác phẩm lý luận đầu tiên, cũng là tác phẩm lớn về giáo dục lý luận chính trị của Đảng ta

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác- Lênin sau khi đã nghiên cứu nhiều học thuyết, tìm hiểu nhiều tôn giáo trên thế giới. Người đã tự nhận mình là học trò của Đức Khổng Tử, của Chúa Giê su, của Các Mác, Tôn Dật Tiên…Cùng với việc tiếp thu những tinh hoa của các học thuyết ấy, Người còn tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tiễn qua việc nghiên cứu các cuộc cách mạng trên thế giới. Người nhận xét: Cuộc cách mạng Mỹ 1776 cũng như cuộc cách mạng Pháp 1789 đều là những cuộc “cách mạng không đến nơi… Cách mệnh An Nam nên nhớ điều ấy”(1) và “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chắt lọc những tinh hoa của lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới để định ra con đường cách mạng Việt Nam. Khi gặp ánh sáng của cách mạng Tháng Mười, ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, Người vui mừng khôn tả xiết. Người nói: Chủ nghĩa Lênin đối với cách mạng Việt Nam như người đi đường đang đói mà có cơm ăn, đang khát mà có nước uống. Người quyết định phải đến nước Nga, đến với Lênin. Tháng 6/1923, bất chấp muôn ngàn thử thách và hiểm nguy, Nguyễn Ái Quốc đã đến Tổ quốc của cách mạng Tháng Mười.

Sau hơn một năm học tập và nghiên cứu tại Liên Xô, được chứng kiến công cuộc xây dựng CNXH, xây dựng cuộc sống hạnh phúc của nhân dân Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc càng mong sớm được trở về Tổ quốc. Người tin tưởng vào tương lai không xa trên đất nước thân yêu của mình cũng sẽ diễn ra sự nghiệp xây dựng CNXH. Tháng 3/1924, khi trả lời phỏng vấn phóng viên báo “Unita” của Đảng Cộng sản Ý tại Matxcơva - Giôvanni Giécmanéttô, Nguyễn Ái Quốc nói: Tôi sẽ trở về tổ quốc để đấu tranh cho sự nghiệp của chúng tôi. Ở bên chúng tôi có nhiều việc phải làm lắm… “Chúng tôi hiểu rõ là chúng tôi có trách nhiệm rất nặng nề và tương lai của các dân tộc tùy thuộc vào sự tuyên truyền và tinh thần hy sinh của chúng tôi”(3).

Nguyễn Ái Quốc xác định công việc đầu tiên phải làm là thành lập tổ chức của những người cộng sản, huấn luyện và đào tạo họ trở thành những chiến sỹ tiên phong cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Nguyễn Ái Quốc khẳng định giáo dục chủ nghĩa Lênin là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để những người cách mạng Việt Nam, trước hết là những người cộng sản, người lãnh đạo luôn là những người đi trước, dám hy sinh, sả thân vì sự nghiệp đó. Người còn chỉ rõ việc giáo dục chủ nghĩa Lênin là nguyên tắc đảm bảo cho Đảng có phương hướng, có nền tảng vững chắc và chỉ có theo chủ nghĩa Lênin mới đảm bảo cho Đảng trở thành người lãnh đạo đúng đắn và duy nhất của cách mạng Việt Nam.

Toàn bộ nội dung cuốn “Đường Kách mệnh” của Người là nhằm tổ chức và xây dựng Đảng ta theo tinh thần đó. Ngay trang đầu tiên của cuốn sách Nguyễn Ái Quốc đã trích câu nói nổi tiếng của Lênin trong tác phẩm “Làm gì”, rằng: “Không có lý luận cách mạng, thì không có cách mạng vận động…Chỉ có theo lý luận cách mạng tiên phong Đảng cách mạng mới làm nổi nhiệm vụ cách mạng tiên phong”. Người còn chỉ rõ: “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm nòng cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam…Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(4).

Là tác phẩm lý luận nhưng hành văn của “Đường Kách mệnh” rất đơn giản và dễ hiểu. Nguyễn Ái Quốc viết: “Sách này muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ. Chắc có người sẽ chê rằng văn chương cụt quằn. Vâng! Đây nói việc gì cũng rất giản tiện, mau mắn, chắc chắn như hai lần hai là bốn, không tô vẽ, trang hoàng gì cả…Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ: Cách mệnh! Cách mệnh! Cách mệnh!!! Nguyễn Ái Quốc đã “Việt Nam hóa” lý luận Mác- Lênin một cách thật tài tình. Những vấn đề lý luận quan trọng Người mong muốn những người Việt Nam thấm nhuần được tóm tắt trong hai từ “Cách mệnh”. Hai từ này được giảng giải bằng những lời giản dị rất dễ hiểu, dễ nhớ. Người viết: Muốn làm cách mạng thì phải biết:

- Làm cho quần chúng giác ngộ.

- Phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu.

- Làm cách mệnh phải bày sách lược cho dân.

- Muốn làm cách mệnh phải tập trung sức. Và muốn tập trung sức phải có đảng cách mệnh.

Với hai từ “Cách mệnh” Nguyễn Ái Quốc lại giảng giải: Cách mệnh là gì? Cách mệnh có mấy thứ? Vì sao mà sinh ra tư bản cách mệnh? Vì sao mà sinh ra dân tộc cách mệnh? Vì sao mà sinh ra giai cấp cách mệnh? Cách mệnh khó hay dễ? Cách mệnh trước hết phải có cái gì?. Đó là những vấn đề lý luận hết sức cần thiết để những người cách mạng Việt Nam lúc đó mở rộng hiểu biết về thế giới. Nguyễn Ái Quốc đã giảng giải những vấn đề đó trên quan điểm Mác- Lênin và cho rằng đó là nền tảng tư tưởng mà một chính đảng không thể thiếu. Bằng cách đó, chủ nghĩa Mác- Lênin đã đến với cách mạng và nhân dân Việt Nam, như hạt giống tốt gặp mảnh đất mầu mỡ đã được chuẩn bị sẵn sàng, đã tạo ra bước ngoặt lịch sử cho cách mạng Việt Nam.

Trên quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin và kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới, Người chỉ rõ cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc và có hai giai đoạn: cách mạng giải phóng dân tộc sau đó là cách mạng vô sản. Hai giai đoạn đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. “Đường Kách mệnh” cũng đã chỉ rõ nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến tay sai. Lực lượng để tiến hành cuộc cách mạng ấy là toàn dân tộc, trong đó lực lượng chủ yếu là công nhân, nông dân.

Với những nhiệm vụ cách mạng được nêu lên trong “Đường Kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc cũng đã chỉ rõ nguyên tắc chiến lược trong việc xác định đường lối cách mạng, đó là phải vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin. Đảng phải xây dựng cho mình một hệ thống lý luận riêng phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tiễn thì lý luận đó mới trở thành người dẫn đường, lý luận đó mới là lý luận chân chính. Sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Từ trong học thuyết dạt dào sức sống của chủ nghĩa Lênin, chúng tôi khơi nguồn sức mạnh để giành thắng lợi cho sự nghiệp thiêng liêng là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, để giành thắng lợi cho CNXH” (5).

Đánh giá ý nghĩa tác phẩm “Đường Kách mệnh”, đồng chí Trường Chinh đã viết: “Đường Kách mệnh” chẳng những có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong thời kỳ đã qua mà còn soi sáng con đường cho nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong giai đoạn mới”(6).

2. “Sửa đổi lối làm việc”- một tác phẩm lớn về giáo dục thực hành lý luận chính trị theo quan điểm Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến giáo dục chủ nghĩa Mác- Lênin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Song Người cũng luôn nhấn mạnh rằng học Mác- Lênin là phải học tinh thần Mác- Lênin, học phương pháp Mác-Lênin để xử trí mọi việc. Người nói với cán bộ huấn luyện: “Các chú dạy cho cán bộ đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác- Lênin, chắc có nhiều người thuộc, nhưng các chú có làm cho mọi người hiểu chủ nghĩa Mác- Lênin là thế nào không? Theo Bác hiểu chủ nghĩa Mác- Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm chủ tịch nước hay nấu ăn, đều phải làm tròn nhiệm vụ. Không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế này, cụ Lênin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác”(7). Trong nhiều tài liệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục thực hành lý luận Mác- Lênin, thì tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” là một điển hình tiêu biểu.

Tiếp theo cuốn “Đường Kách mệnh”, ở tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nêu rõ phải giáo dục chủ nghĩa Mác- Lênin, giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ và nhân dân ta. Người viết: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế”; “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Vì vậy, ở tác phẩm này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những khuyết điểm mà nhiều cán bộ còn mắc phải, như: kém lý luận, khinh lý luận, lý luận suông. Người cũng chỉ ra nguyên nhân của những khuyết điểm đó đều là do nhận thức chưa rõ vai trò của lý luận. Người nêu những người kém lý luận là những người lười học tập, lười nghiên cứu lý luận hoặc là do yêu cầu của nhiệm vụ có bước phát triển nhanh, mới, nên trình độ lý luận chưa theo kịp, dẫn đến kết quả làm việc thất bại. Người viết: “Vì kém lý luận nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại”.

Về chứng bệnh khinh lý luận, Người phân tích đó thường là khuyết điểm của những người cho rằng mình có kinh nghiệm và không biết phải kết hợp kinh nghiệm ấy với lý luận để giải quyết công việc. Người viết: “Có những cán bộ, những đảng viên cũ, làm được việc, có kinh nghiệm...Nhưng họ lại mắc phải cái bệnh khinh lý luận. Họ quên rằng: nếu họ đã có kinh nghiệm mà lại biết thêm lý luận thì công việc tốt hơn nhiều…Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ. Những anh em đó cần phải nghiên cứu thêm lý luận, mới thành người cán bộ hoàn toàn”. Nhưng cũng theo Người: “Lý luận cốt là để áp dụng vào thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông”.

Một nội dung rất lớn và quan trọng của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” là việc giáo dục tư cách đạo đức cách mạng để người đảng viên có thể biến lý luận thành hành động cụ thể. Người kết luận: “Chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành”. Bởi vậy, trong toàn bộ 6 phần của nội dung cuốn sách là: Phê bình và sửa chữa; Mấy điều kinh nghiệm; Tư cách và đạo đức cách mạng; Vấn đề cán bộ; Cách lãnh đạo; Chống thói ba hoa, thì phần “Tư cách và đạo đức cách mạng” có vị trí đặc biệt quan trọng và có độ dài nhất trong tác phẩm.

Vấn đề đạo đức cách mạng cũng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên như một nguyên tắc “sống còn” trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam ở tác phẩm “Đường Kách mệnh” năm 1927. Và đây là nội dung giáo dục đầu tiên trong các lớp huấn luyện cán bộ của Đảng ta lúc đó. "Trung với nước, hiếu với dân", phẩm chất cơ bản của đạo đức cách mạng mới được nêu lên rất rõ trong tác phẩm này. Có phẩm chất ấy người cán bộ đảng viên có thể sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp của Đảng, của dân tộc. “Vị công vong tư. Không hiếu danh. Không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Ít lòng ham muốn vật chất. Giữ vững chủ nghĩa. Biết hy sinh”…Tư cách đạo đức đó lại được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển sâu sắc thêm, cụ thể hơn trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” trong điều kiện mới, khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền.

Ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi đảng viên phải thực hiện một cách nghiêm túc mối quan hệ giữa lời nói và việc làm và nêu cụ thể nhiệm vụ của mỗi cán bộ đảng viên phải làm gì và làm như thế nào để thực hành lý luận. Những nhiệm vụ đó được Người trình bày cụ thể trong các phần: về phận sự của đảng viên và cán bộ; về tư cách và bổn phận của đảng viên; về vấn đề vì sao đảng viên phải rèn luyện tính Đảng. Điều cốt lõi để thực hiện những nhiệm vụ đó là phải trọng lợi ích của Đảng hơn lợi ích của cá nhân. Người viết: “Vô luận thế nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng”. Trái lại những đảng viên và cán bộ nào “ham muốn địa vị, tìm cách phát tài, ra mặt anh hùng, tự cao tự đại,v.v..Đó đều là trái với lợi ích của Đảng”. Cũng trong tác phẩm này, những vấn đề về đạo đức cách mạng một lần nữa được Người phân tích, giảng giải. Theo đó, nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm là những nội dung cơ bản của tư cách đạo đức cách mạng. Tư cách đạo đức ấy là cơ sở, là cốt lõi để thực hành lý luận. Người chỉ rõ: Trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư", cho nên mắc phải tính chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các chứng bệnh nguy hiểm.

Đọc lại “Tư cách và đạo đức cách mạng” trong “Sửa đổi lối làm việc” chúng ta càng hiểu thêm tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Chúng ta cũng càng hiểu thêm mong muốn của Bác đối với sự phấn đấu tu dưỡng của mỗi người, để có đủ đức và tài đưa chủ trương, đường lối và nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

3. Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh phải “Sửa đổi lối làm việc” về phong cách và phương pháp lãnh đạo nhằm thực hành lý luận

Nói về “Cách lãnh đạo” trong “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên cách để cán bộ, đảng viên có thể tập hợp, tổ chức, lãnh đạo nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng và chính sách của Chính phủ. Đây là những bài học vô cùng quý báu để tránh được tình trạng: chủ trương, chính sách ban hành thì nhiều nhưng không thực hiện được, hoặc thực hiện không đến nơi đến chốn.

Nêu vấn đề phải lãnh đạo đúng, Người viết: Lãnh đạo đúng nghĩa là: 1- Phải quyết định mọi vấn đề cho đúng…2- Phải tổ chức sự thi hành cho đúng…3- Phải tổ chức kiểm soát. Ba nội dung lãnh đạo đó quan hệ mật thiết vơi nhau và đều gắn bó, dựa vào nhân dân, thực hành sự kết hợp đánh giá từ trên xuống với từ dưới lên để đánh giá được đúng đắn, hoàn thiện hơn. Để xây dựng được cách lãnh đạo như thế, Người nêu vấn đề phải chọn người lãnh đạo: “Chọn người và thay người lãnh đạo là vấn đề quan trọng trong việc lãnh đạo…Những người mắc phải bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, không làm được việc, phải thay đi; Những người cậy mình là “công thần cách mạng” rồi đâm ra ngang tàng, không giữ kỷ luật thì cần phải mời họ xuống công tác hạ tầng, khép họ vào kỷ luật để chữa tính kiêu ngạo, thói quan liêu cho họ và để giữ kỷ luật của Đảng và Chính phủ; Một hạng người thứ ba cũng không thể ở vị trí lãnh đạo, đó là hạng người nói suông. Đó là những người chỉ “biết nói và nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”. Nếu để những người như thế ở vị trí lãnh đạo, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là sẽ chỉ làm hại uy tín của Đảng, không thể tập hợp, lãnh đạo được quần chúng nhân dân.

Vì vậy, học tập và làm theo tư tưởng, phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh, trước hết là phải phát hiện ra hạng người như thế và điều quan trọng là phải kiên quyết loại những người đó ra khỏi vị trí lãnh đạo, bởi vì họ quá xa lạ với phong cách và phương pháp lãnh đạo mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu trong “Sửa đổi lối làm việc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: muốn lý luận được thực hành thì phải có lối làm việc thiết thực, hiệu quả. Người đòi hỏi mỗi cán bộ phụ trách phải thực hiện cho được lối làm việc này. Phải khắc phục bệnh quan liêu “hữu danh vô thực”, tránh lối “làm cho qua chuyện, làm lấy rồi”, chỉ ham làm chủ tịch này, uỷ viên nọ, chứ không làm công tác thực tế. Để lãnh đạo thiết thực, Người nêu lên hai cách lãnh đạo: Một là, liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng. Hai là, liên hợp người lãnh đạo với quần chúng. Như thế là một cách lãnh đạo thiết thực. Người cũng cho đó là một cách vừa lãnh đạo vừa học tập và chỉ rõ: “Bất kỳ người lãnh đạo nào, nếu không học nổi những việc thiết thực, những người thiết thực và những bộ phận thiết thực của cấp dưới, để rút kinh nghiệm, thì nhất định không biết chỉ đạo chung cho tất cả các bộ phận”.

Thiết thực là phong cách lãnh đạo nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng là bài học sâu sắc, là kinh nghiệm quý giá mà Người để lại trong “Sửa đổi lối làm việc” và trong thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Lãnh đạo thiết thực là cách tốt nhất để tập hợp, tổ chức và động viên nhân dân đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

Suốt đời quan tâm đến việc giáo dục lý luận chính trị và giáo dục thực hành lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, “Đường Kách mệnh” và “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hai tác phẩm lý luận lớn, cũng là những tác phẩm vô giá về giáo dục lý luận chính trị Người để lại. Tư tưởng của Người, những lời tâm huyết của Người về vấn đề này đã, đang và mãi mãi soi sáng sự nghiệp xây dựng Đảng ta, Đảng của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam trên hành trình hướng tới tương lai./.

TS. Nguyễn Thị Tình

----------

Chú thích

(1), (2) (4). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1995, t.2, tr.274, 280, 268.

(3). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Sđd, t.1, tr.482.

(5). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Sđd t.7,tr.519,520.

(6).Trường Chinh, Lời giới thiệu cuốn sách “Đường Kách mệnh”, Nxb.Sự Thật, H,1982, tr.17.

(7). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Sđd, t.12, tr.554.

Bác Hồ kính yêu và những năm Thìn đầy dấu ấn

, , , ...

Trong cuộc đời 79 mùa xuân của mình, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã có 7 lần đón Tết năm Thìn cổ truyền của dân tộc. Đó là những năm Thìn thật đáng nhớ, những năm Thìn đánh dấu những mốc quan trọng trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng vì nước, vì dân của Người.

Còn nhớ, lúc vừa tròn hai tuổi, dưới tên gọi Nguyễn Sinh Cung, Người đã được đón cái Tết Nhâm Thìn (1892) đầu tiên trên quê nhà xứ Nghệ. Một cái Tết trong vòng tay của cha mẹ và ông bà ngoại tại làng Hoàng Trù, Nam Đàn, Nghệ An.

12 năm sau, Người tiếp tục được đón cái Tết năm Giáp Thìn (1904) cũng tại quê nhà. Năm này, Người 14 tuổi và đang theo học chữ Hán với những thầy đồ nổi tiếng hay chữ và giàu lòng yêu nước ở vùng đất Nghệ Tĩnh và bước đầu tiếp xúc với khẩu hiệu : Tự do-Bình đẳng-Bác ái.

Ngày 5-6-1911, với lòng yêu nước nồng nàn và lòng căm thù bọn thực dân xâm lược sâu sắc, Người đã đi ra nước ngoài để tìm con đường cứu nước, cứu dân. Không theo phái Đông du sang Nhật, Người hướng sang các nước phương Tây, nơi có phong trào đấu tranh cho tự do, dân quyền, dân chủ và có nền khoa học, kĩ thuật hiện đại. Và thế là với 30 năm bôn ba đi tìm hình của nước, Người đã có ba lần đón những cái Tết năm Thìn trên xứ người.



Năm Bính Thìn (1916), Người đón Tết ở xứ sở đảo quốc sương mù. Tại đây, Người đã ra sức hoạt động trong phong trào công nhân Anh và tiếp tục học tập lý luận cách mạng với tinh thần kiên trì cố gắng rất lớn. Trong thời gian này, tuy không tán thành chủ trương cải cách của cụ Phan Châu Trinh, nhưng Người vẫn thường trao đổi thư từ với Cụ để bàn bạc về con đường cứu nước, giải phóng đồng bào.

Đây cũng là thời gian mà phong trào cách mạng trong nước đang ngày càng dâng cao. 12 năm sau, vào mùa thu năm Mậu Thìn (1928), Người về Thái Lan, đến ở Bản-đông, Phi-chít (miền Trung Thái Lan) với biệt hiệu là Nam Sơn. Sau hai tuần, Người đến U-đon (miền Đông Bắc Thái Lan), rồi đi Xa-côn, Nông-khai, Mục-đa-hán, Băng-cố v.v…

Đi đến đâu, Người cũng mở lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ cách mạng; nói chuyện tình hình thế giới, trong nước, tuyên truyền giác ngộ kiều bào. Tại đây, Người chủ trương đổi tên báo Đồng Thanh (của Hội Thân Ái, phát hành năm 1927) thành báo Thân Ái và tiếp tục thông qua tờ báo này đẩy mạnh công tác tuyên truyền.

Nhận thấy kiều bào nơi đây rất hay đi lễ Đức Thánh Trần, Người liền soạn “Bài ca Trần Hưng Đạo” ca ngợi tinh thần yêu nước của Đức Thánh Trần và của tổ tiên ta, khích lệ ý chí quật cường, tinh thần đánh giặc, cứu nước của kiều bào : “Một người Việt hãy đương còn/ Thì non sông Việt vẫn non sông nhà”. “Bài ca Trần Hưng Đạo” được truyền bá nhanh chóng và có hiệu quả lớn. Nhiều “đệ tử Đức Thánh Trần” trước chuyên đi lễ, đã dần dần giác ngộ tham gia Hội Thân Ái và những hoạt động yêu nước khác.

Trong thời gian này, Người còn dịch cuốn “Nhân loại tiến hóa sử” và cuốn “Cộng sản ABC” để làm tài liệu huấn luyện cho cán bộ. Đến đâu, Người cũng nhanh chóng hòa mình vào cuộc sống lao động của kiều bào. Người ăn mặc như kiều bào và tham gia lao động từ nhẹ đến nặng cùng kiều bào. Chính vì thế, Người được kiều bào kính trọng, yêu mến gọi là Thầu Chín.

Có thể nói, trong những thắng lợi của cách mạng sau này, kiều bào ta ở Xiêm đã có sự đống góp xứng đáng. Hai năm sau, bằng bãn lĩnh và uy tín của mình, Người đã đứng ra hợp nhất các tổ chức Đảng, thành lập ra một chính Đảng duy nhất với tên gọi là Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930). Từ khi Đảng ra đời, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Người và của Đảng, cách mạng Việt Nam ngày càng trào dâng.

Đầu năm Canh Thìn (1940), từ Thái Lan, Người về Côn Minh (thủ phủ của tỉnh Vân Nam-Trung Quốc) và bắt liên lạc được với bộ phận ở ngoài nước của Đảng ta. Sau khi tìm hiểu tình hình tổ chức của ta ở đây, Người nêu ra một số ý kiến chỉ đạo cụ thể : Đối với tờ báo Đồng Thanh, Người đề nghị đặt tên là “Đ.T” để có thể ngầm hiểu là “Đồng thanh”, “Đồng Tâm”, “Đấu tranh”, “Đánh Tây” …

Đối với Hội nhân dân Việt Nam ủng hộ Trung Quốc chống giặc (một tổ chức của ta được thành lập ở Vân Nam từ trước và được chính quyền Quốc dân Đảng cho phép hoạt động), thì Người căn dặn phải củng cố và duy trì Hội để dễ dàng hoạt động và lấy giấy tờ hợp lệ đi lại. Bản thân Người dùng giấy tờ của Hội để đi kiểm tra các cơ sở của Đảng ta ở Vân Nam.

Tháng 6-1940, Đức tấn công nước Pháp, Chính phủ Pháp đầu hàng. Trước tình hình đó, Người quyết định : Các đồng chí cán bộ của ta đang hoạt động ở Trung Quốc khẩn trương chuẩn bị về nước và nắm lấy phong trào cách mạng. Bản thân Người cùng một số cán bộ chuyển về Quảng Tây, sát biên giới Việt – Trung để tìm đường về nước. Đầu tháng 12-1940, Người về đến Tĩnh Tây. Ở đây, Người đã họp với đồng chí Hoàng Văn Thụ (người thay mặt Trung ương Đảng ở trong nước).

Đầu năm 1941, sau 30 năm xa nước, Người đặt chân về với mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu. 4 năm sau ngày Người trở về, Cách mạng Việt Nam đã có bước ngoặt lớn. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.

Nước Việt Nam mới còn trong trứng nước, thực dân Pháp đã âm mưu thôn tính nước ta lần nữa. Tháng 12-1946, Người lại phải ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Cuộc kháng chiến bước sang năm thứ 6 cũng là lúc cả dân tộc ta cùng Người đón cái Tết năm Nhâm Thìn (1952). Năm này, sau một năm Đảng ra công khai hoạt động với tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác, cả dân tộc ta đã tiếp tục phát huy được những thành quả của mình trên nhiều mặt- nhất là trên mặt trận quân sự.

Trong bài viết “Sau lũy tre xanh”, Người đã nêu rõ : “Sau lũy tre xanh/ Trước lũy tre xanh/ Ta đánh cho giặc Pháp tan tành tả tơi” (C.B- Báo Nhân dân số 40, ngày 10-1-1952). Quả thực, chúng ta sẽ là những người chiến thắng hiện tại cũng như trong tương lai, vì con đường đi của chúng ta được học thuyết vĩ đại của chủ nghĩa Mác-Lênin soi sáng.

Chính với niềm tin đó, bước vào năm 1952, nhân dịp Tết Nhâm Thìn, Người có lời Thơ chúc Tết đầy phấn khởi, tự hào; có tác dụng động viên, kêu gọi, thôi thúc lớn : “Xuân này, Xuân năm Thìn/ Kháng chiến vừa 6 năm/ Trường kỳ và gian khổ/ Chắc chắn trăm phần trăm/ Chiến sĩ thi giết giặc/ Đồng bào thi tăng gia/ Năm mới thi đua mới/ Thắng lợi ắt về ta/ Mấy câu thành thật nôm na/ Vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân” (Báo Nhân dân, số 42, ngày 24-1-1952). Lời thơ thật giản dị, ấm cúng mà tràn đầy sự tin tưởng, quyết tâm.

Những vần thơ Tết kháng chiến đó đã ăn sâu vào tình cảm nhân dân. Vì vậy, từ những năm ấy, trong dân gian đã truyền tụng những câu ca dao: “Cụ Hồ ở giữa lòng dân/ Tuy xa xa lắm, nhưng gần gần ghê/ Mỗi khi thư Cụ gửi về/ Rộn ràng khắp chợ cùng quê đón mừng/ Ai ngoài muôn dặm trùng dương/ Cũng thường nhận được tình thương Cụ Hồ”.

Quả đúng như sự khẳng định của Người, hai năm sau, vào tháng 5-1954, Nghe theo lời Đảng, làm theo lời Bác, cả dân tộc ta đã đoàn kết một lòng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Sau chiến thắng này, thực dân Pháp đã phải cuốn gói cút khỏi nước ta.

Không rút kinh nghiệm từ những thất bại cay đắng của Thực dân Pháp, tên sen đầm đế quốc Mỹ nhảy vào xâm chiếm nước ta. Chúng gây nên những tội ác tày trời. Bác Hồ kính yêu cùng với Đảng ta lại tiếp tục lãnh đạo toàn quân, toàn dân ta kháng chiến chống Mỹ.

Đặc biệt, bước vào năm Giáp Thìn (1964), đế quốc Mỹ đã có những hành vi leo thang ra ném bom đánh phá miền Bắc nước ta. Nhưng dân tộc ta vẫn nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Năm này, Bác của chúng ta cũng đã bước sang tuổi 74. Thế nhưng, với tinh thần thân dân, Tết năm đó, Bác đã có những chuyến vi hành đáng suy ngẫm.

Tối 30 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết cán bộ công nhân tại Khu tập thể Nhà máy cao su, Nhà máy xà phòng, Nhà máy thuốc lá; Khu tập thể cán bộ miền Nam tập kết ở phố Phan Đình Phùng và một số gia đình ở Hà Nội... Sáng mồng 1 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết Huyện uỷ, Uỷ ban hành chính huyện Đông Anh; thăm và chúc Tết cán bộ, công nhân trạm biến thế điện và hợp tác xã nông nghiệp Lỗ Khê, xã Liên Hà, huyện Đông Anh, là đơn vị có nhiều thành tích trong phong trào sản xuất và tiết kiệm.

Nói chuyện với bà con nông dân hợp tác xã Lỗ Khê, Bác căn dặn phải chú ý phát triển hoa màu, chăn nuôi, trồng nhiều cây và chăm sóc cây tốt, đẩy mạnh vệ sinh phòng bệnh. Bác khen câu khẩu hiện bằng thơ ở trên đình làng: “Đón Xuân mở hội làm giàu/ Mừng Xuân cần kiệm lúa màu tốt tươi”.

Sau đó, Bác thăm và chúc Tết cán bộ chiến sỹ Sở công an Hà Nội. Đặc biệt, vào lúc giao thừa, qua Đài Tiếng nói Việt Nam, Người đọc Thư chúc mừng năm mới gửi đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào nước ngoài, trong đó có lời thơ ấm áp : “Bắc Nam như cội với cành/ Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng/ Rồi đây thống nhất thành công/ Bắc Nam ta lại vui chung một nhà/ Mấy lời thân ái nôm na/ Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân”.

Trong năm này, nhằm tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt tại Hà Nội (3-1964) với 325 đại biểu thay mặt cho các đảng phái, dân tộc, tôn giáo và nhân sĩ trí thức, biểu thị ý chí đoàn kết thực hiện mục tiêu xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc với tinh thần “mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”.

Tình cảm, ý chí đó của Người đã được toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ra sức dốc lòng thực hiện. Cả ba miền Bắc-Trung-Nam dậy lên những chiến công vang dội dẫn đến sự phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Có thể nói, đây là thời gian mà Người luôn đau đáu nỗi niềm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Năm 1969, Người đi vào cõi vĩnh hằng. Năm 1975, nỗi niềm đau đáu của Người đã được thực hiện. Bắc-Nam liền một biển. Năm Bính Thìn (1976) đất nước trọn niềm vui khi nước nhà mang tên gọi mới: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Vĩ đại thay, một con người luôn nghĩ tới nhân dân, suốt đời cống hiến và hi sinh cho dân, cho nước! Tự hào thay, một con người mà “một đời thanh bạch chẳng vàng son” và luôn biết “nâng niu tất cả, chỉ quên mình!”.

Theo Giaoducthoidai

Trận đánh Mậu Thân qua lời kể của nguyên thư ký cố thủ tướng Võ Văn Kiệt

, , , ...

Nhân dịp kỷ niệm 41 năm cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 (còn có tên là chiến dịch Nguyễn Huệ), chúng tôi đã có dịp tiếp xúc và nói chuyện với một người cán bộ cách mạng lão thành đã từng có mặt trong những ngày tháng lịch sử đó. Qua lời kể của ông chúng ta hình dung được, sự chuẩn bị cho trận đánh Mậu Thân diễn ra như thế nào, diễn biến của trận đánh và sự trực tiếp chỉ đạo của những lãnh đạo cao cấp… Ông đã dành một buổi sáng để tưởng nhớ và kể lại trận đánh lịch sử năm 1968.

Ông Huỳnh Văn Cang (bí danh Tư Cang) nguyên là thư ký của ông Võ Văn Kiệt trong giai đoạn đánh Mỹ. Một trong những người đầu tiên chuẩn bị cho trận đánh Mậu Thân ở Sài Gòn này. Ông Tư Cang mặc dù tuổi đã cao nhưng ông kể lại trận đánh một cách chi tiết khiến chúng tôi phải kinh ngạc, ngỡ như là trận đánh Mậu Thân chỉ diễn ra mới ngày hôm qua. Có lẽ vì sự kiện Mậu Thân có vai trò đặc biệt quan trọng mà với ông không bao giờ quên được. Để mô tả cho tính chất của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, đồng chí Lê Duẩn nói: “Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị”. Và đúng như những gì ông nói thì trận đánh Mậu Thân là một điểm nhấn rất lớn và ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước.

Trận Tết Mậu Thân là một tổng công kích và tổng nổi dậy của quân và dân miền Nam. Không chỉ riêng ở thành phố Sài Gòn mà là nơi diễn ra những trận đánh ác liệt, mà Huế cũng được biết đến như là một thành trì vững chắc và được nắm giữ lâu nhất trong cuộc tổng tấn công Mậu Thân 1968.

Từ mùa khô 1966 – 1967, quân dân mình tiến công mạnh và giành thắng lợi lớn trên chiến trường miền Nam. Đặc biệt là chiến dịch Junction city (Gian-xơn Xi-ty) đã đánh một đòn mạnh mẽ vào quân viễn chinh Mỹ. Sau thất bại này, Mỹ - ngụy chuyển từ thế phản công chiến lược sang thế phòng ngự chiến lược. Vào tháng 1 – 1967, hội nghị Trung ương 13 (khóa III) có bước chuẩn bị cho tổng công kích – tổng khởi nghĩa. Ngày 25 – 10 – 1967, Trung ương Cục miền Nam đã ra nghị quyết về tiến hành tổng công kích – tổng khởi nghĩa (gọi là nghị quyết Quang Trung và ráo riết chuẩn bị).

Chủ trương của quân dân miền Nam là tấn công vào đô thị với mục đích là làm nản ý chí xâm lược của Mỹ, tạo bước ngoặt của cục diện chiến tranh. Buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và chịu lên bàn đàm phán trong thế kém. Đồng thời bên cạnh đó phát huy mặt trận nhân dân trong và ngoài nước chống đế quốc Mỹ. Đây là chủ trương mang tính chất chiến lược táo bạo của cách mạng Việt Nam.

Ông Huỳnh Văn Cang khi đó là một chiến sĩ với giác ngộ lí tưởng cách mạng từ lúc còn trẻ đã tham gia hoạt động cách mạng trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau hiệp định Geneve 1954 về Việt Nam thì ông tập kết ra Bắc. Đến 1965, ông trở lại miền Nam. Tại đây ông được phân công xuống Sài Gòn – Gia Định làm cán bộ tuyên huấn. Đến 6 – 1967, ông được điều về làm thư kí cho đồng chí Phan Đức (Tư Trường) là ủy viên thường vụ của Sài Gòn – Gia Định, bí thư phân khu I trong 6 phân khu trọng điểm trung tâm chính của Sài Gòn.

Lúc này khu trọng điểm được chia ra như sau:

Phân khu I : Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, một phần các huyện Trảng Bàng, Bến Cát, Dầu Tiếng.
Phân khu II : Bình Tân, quận 3, 5, 6 và bắc Long An
Phân khu III : Nhà Bè, quận 2, 4, 7, 8 và nam Long An
Phân khu IV : Thủ Đức, quận 1, Long Thành, Nhơn Trạch
Phân khu V : Bình Hòa, Phú Nhuận, Dĩ An, Lái Thiêu, Phú Giáo, Tân Uyên
Phân khu VI : Nội đô Sài Gòn.

Cũng trong giai đoạn này ông đi lên Tây Ninh để gặp đồng chí Phan Đức (Tư Trường) thì lúc này ông được gặp ông Võ Văn Kiệt. Với sự thông minh và nhanh nhẹn của mình ông điều sang trực tiếp giúp việc cho đồng chí Võ Văn Kiệt (bí thư khu ủy Sài Gòn – Gia Định).

Phần I: Quá trình chuẩn bị cho trận đánh Mậu Thân

Lúc này có chỉ thị “Tất cả xuống đường” thì ông cùng với hai đồng chí là Ba Minh – phó công an quận 5 và đồng chí Phạm Thanh Vân – trưởng phòng chính trị đi tiền trạm do sự phân công của đồng chí Võ Văn Kiệt giai đoạn này là tháng 8 năm 1967. Đi từ căn cứ R (Căn cứ trung ương cục) xuống Ba Thu (khu đất Campuchia tiếp giáp Long An). Từ đây đi thẳng xuống Bến Lức qua lộ số 4 (quốc lộ 1) rồi đi xuống Cần Đước. Đi nhằm mục đích xây dựng căn cứ với mục đích chuẩn bị cho cuộc hành quân sắp tới của đồng chí Võ Văn Kiệt (trong thời gian này anh Kiệt là Tư lệnh của mặt trận tiền phương). Trước khi cuộc hành quân của anh Sáu Kiệt đã nhận được nhiều lời khuyên của các đồng chí khác.

Thiếu tướng Thạnh (Ba Thạnh) có khuyên rằng: “Xuống chiến trường rất nguy hiểm, nên ở lại Ba Thu chỉ đạo. Nếu bây giờ mà vô Sài Gòn thì không an toàn”. Lời khuyên của anh Ba Thạnh rất được nhiều các đồng chí khác đồng tình. Nhưng lúc này anh Sáu Kiệt nói: “Tôi là tư lệnh của mặt trận tiền phương Tây Nam, thì tôi phải đi xuống chiến trường”. Theo anh Sáu, với vai trò là Tổng chỉ huy mặt trận tiền phương Nam, anh không thể đứng ngoài cuộc mà phải đi vào mặt trận, không thể sợ chết mà ở ngoài được. Thế là anh Kiệt cùng với anh Trần Bạch Đằng (phó tư lệnh mặt trận) và hơn 100 cán bộ từ R mà đi thẳng xuống Long An băng qua lộ số 4 về xã Long Cang (huyện Cần Đước) vào đêm 30 Tết.

Tại một ngôi đình của xã Long An do không biết có bị lộ hay sự trùng hợp thì thời điểm này pháo của địch bắn hơn 100 trái tại đây. Nhưng thật may mắn là không có thương vong đáng kể. Sang mùng một Tết thì đoàn của anh Sáu Kiệt đi thẳng xuống một quán cơm ở xã Hưng Long (Nam Bình Chánh). Và ngay trong đêm cả đoàn đi xuồng máy tiến vào quận 8 ở giữa cầu Bà Tàng và đình Bình Đông (nơi mà bác Tôn Đức Thắng và nhiều người cách mạng đã hoạt động tại đây). Xóm này mọi người gọi là xóm Hố Bần.

Phần II: Diễn biến của cuộc Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968

Ngày 31 – 1 – 1968 (mùng 1 tết): Chiến dịch Mậu Thân bắt đầu xảy ra, Biệt Động Sài Gòn của ta đánh vào các cứ điểm: Tòa Đại Sứ Mỹ, Dinh Độc Lập, Đài Phát Thanh… Đây là những mục tiêu trọng điểm của Sài Gòn.

1h30 thì tiếng súng tấn công vào Dinh Độc Lập, tại đây cuộc chiến diễn ra hết sức ác liệt. Đội 5 do đồng chí Tô Hoài Thanh chỉ huy đã tiêu diệt 3 xe lính. Tuy đói và mệt nhưng các chiến sĩ vẫn chiến đấu suốt ngày 31 – 1, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, diệt hành chục tên. Toàn đội hy sinh 7 người, số còn lại buộc phải rút vào nhà dân cố thủ trên lầu 3 chiến đấu.

Lúc này mình đã chiếm giữ Đài Phát Thanh đây là cơ quan thông tin đầu não của địch, địch hết sức hoang mang vì thiếu thông tin từ bộ chỉ huy. 6 giờ sáng ngày hôm sau thì thủy quân lục chiến và thiết giáp địch bao vây đài phát thanh dày đặc trước tình huống đó thì 2 đồng chí dùng thuốc nổ phá hủy đài và anh dũng hi sinh.

1h45p thì đội biệt động số 11 gồm 17 cán bộ do đồng chí Ngô Thành Vân (ba Đen) chỉ huy dùng bộc phá đánh thủng mảnh tường sát gần lô cốt góc đường Thống Nhất – Mạc Đỉnh Chi đột nhập vào khuôn viên tòa đại sứ. Đánh chiếm từ tầng 1 đến tầng 3. Đến 5h sáng hôm sau thì trước sự kháng cự quyết liệt của Mỹ - Ngụy, bên ta bị thương và hi sinh gần hết. Đến 9h thì địch tràn gập đại sứ quán Mỹ, chỉ còn một mình Ba Đen bị thương. Anh cũng là nhân chứng duy nhất còn lại của trận đánh Đại sứ quán Mỹ tết Mậu Thân. Trong khi đó một cách quân sự khác tiến công chiếm một phần quận 8, cầu Nhị Thiên Đường, cầu chữ Y, cầu Chà Và làm bàn bàn đạp để tiến sâu vào nội ô.

Đánh chiếm Đại Sứ Mỹ, Dinh Độc Lập và Đài Phát Thanh tuy giữ không được lâu nhưng tạo một sự kiện gây chấn động dư luận của thế giới, nhất là nhân dân Mỹ. Xóa đi cái “lừa dối” xưa nay của địch là miền Nam đã gần bình định xong, Sài Gòn rất ổn định, Việt Cộng không thể nào xâm phạm vào thành phố và nhất là dinh thái thú “bất khả xâm phạm”: Đại Sứ Quán Mỹ tại miền Nam Việt Nam.


(Xác hai tên lính Mỹ trong trận đánh tại Đại sứ quán)

Đại Sứ Mỹ giữ không được, Dinh Độc Lập cũng bị đánh thì làm gì có cái hi vọng mà thắng lợi. Ông Tư Cang rất tâm đắc với câu nói của ông Trần Trọng Tân nói: “Đánh Dinh độc lập và Đại sứ Mỹ là cái rốn để rúng động, là trọng điểm của trọng điểm”.

Mùng 3 tết sau đó địch phản công dữ dội khiến bộ chỉ huy phải rút về xã Huy Đức – Hưng Long để tiếp tục chỉ đạo. Anh Bạch Đằng và thiếu tướng Hải Phụng cùng một số lực lượng vũ trang tiến sâu vào cảng Bình Đông (quận 8) còn anh Kiệt thì ở tại chỗ Hố Bần để chỉ huy.

Tối mùng 3, thì đồng chí Nguyễn Đức Hùng – chỉ huy trưởng biệt động Sài Gòn được giao liên dẫn đường đến gặp trực tiếp anh Kiệt để báo cáo tình hình. Thì các anh xác nhận chiến sĩ biệt động chiến đấu hết sức dũng cảm, đạt được tiến quan hết sức lớn. Mặc dù sự hi sinh của anh em hết sức cảm động nhưng sự hi sinh đó là sức mạnh để làm chuyển biến tình hình.

Tối mùng 4 thì anh Kiệt rút quân qua xã Huy Đức và xã Hưng Long (Nam Bình Chánh) trụ lại ở đây và chỉ đạo. Lúc này bộ phận đi theo anh Kiệt khá đông nên rất dễ bị phát hiện nên phân công cho ông Tư Cang dẫn gần 100 cán bộ (điện đài, mật mã, cơ yếu y tế…) trở về xã Phước Vân, huyện Cần Đước để trụ lại tiếp tục hoạt động.

Có một sự kiện xảy ra, địch tổ chức cuộc càng bố thì lúc này anh Kiệt đang ở nhà của đồng chí Lùn bí thư xã Huy Đức. Địch đã đến rất gần, thì gia đình mở bộ ván để chui xuống hầm bí mật. Và bộ ván được làm lại như cũ, ngồi trên bộ ván đó là gia đình của đồng chí Lùn sinh hoạt bình thường nhằm che mắt địch. Những người ở phía trên nắp hầm rất lo lắng cho tính mạng của anh Sáu vì địch đi càng rất lâu, sợ anh Sáu sẽ bị ngạt.

Lúc địch càng qua thì người nhà mở nắp hầm cho anh Kiệt lên và anh Kiệt không bị gì cả. Nếu một người bình thường thì có thể bị ngất xỉu và thậm chí có thể tử vong nhưng với phẩm chất và ý chí kiên cường của con người cách mạng đã giúp đồng chí vượt qua những lúc khó khăn và nguy hiểm nhất.

Trước ngày 5 – 5 – 1968 thì ông Tư Cang có trở vô Xã Đông Thạnh (Cần Giuộc) để chuẩn bị cho đợt 2. Nếu có điều kiện thì vào xã Đa Phước (Bình Chánh) để trở lại quận 8. Nhưng tình hình lúc này hết sức khó khăn nên ông phải ở lại Phước Vân.

Một câu chuyện xảy ra với ông Tư Cang:

“Khi về tới xã Phước Vân để hoạt động thì địch bắn pháo điểm ngay căn cứ làm việc. Địch bắn pháo điểm cách ông Tư Cang khoảng 10m, lúc này ông Tư Cang đang ngồi viết báo cáo. Khói mù mịt, ông bắt đầu thu gom tài liệu để chuẩn bị xuống công sự ẩn náu. Lúc này đồng chí Út Đức (Nguyễn Văn Đức, xã Tân Thạnh Tây, huyện Củ Chi) – bảo vệ ban công vận, đứng trên công sự quan sát thì đồng chí thấy tôi chậm vì lo thu xếp tài liệu. Thì đồng chí chạy lại ôm tôi bỏ tôi xuống công sự, đồng chí nhảy xuống sau. Thì lúc này máy bay địch đã tới oanh tạc, đồng chí đã nhảy xuống công sự nhưng phần đầu chưa xuống hết nên đã bị một viên bi trong trái bom bi xuyên ngang đầu và chết ngay trên lưng của tôi. Nếu đồng chí sợ chết thì đồng chí sẽ ẩn náu ngay từ đầu, nhưng vì đồng chí lo cho tôi nên phải hi sinh” – Ông Tư Cang kể lại với giọng nói hết sức xúc động.

(Sau trận bom, thì tôi và các đồng chí khác chôn Út Đức ngay tại công sự đó. Tối đó thì có làm một cái mộ và bia. Sau 1975, trở về tìm mộ thì ngay ngôi mộ đó là một hố bom. Theo sự kể lại của người dân, sau đó máy bay tiếp tục oanh tạc và thả bom ngay trúng ngôi mộ của đồng chí. Lúc này tôi không tìm được hài cốt chỉ tìm được cái bia lỗ chỗ đạn và lúc này tôi cùng ông Ba Minh lấy một nắm đất dưới hố bom đem về nghĩa trang Thành phố để làm mộ giả.)

Đợt 2 nổ ra ta tấn công vào Sài Gòn và các đô thị lớn ở miền Nam đúng kế hoạch nhưng yếu tố không còn yếu tố bất ngờ. Khác với lần này ta không dùng lực lượng đặc công, biệt động đánh vào mục tiêu mà sử dụng lực lượng tổng hợp bao gồm các lực lượng mũi nhọn, biệt động các ban, ngành, đoàn thể và một bộ phận chủ lực Miền, tiến công sâu vào khu vực mục tiêu trong nội đô, trụ lại đánh địch phản kích nhiều ngày.

Trong hơn 1 tháng liên tục tiến công (4 -5 đến 18 – 6 – 1969), ta đã gây cho địch nhiều tổn thất về sinh lực và phương tiện chiến tranh, tiếp tục đánh mạnh vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

Đợt 3 (17–8–1968), ở Sài Gòn – Gia Định do thực tiễn có nhiều khó khăn, khả năng dùng lực lượng từ xa đánh vào Sài Gòn gặp nhiều hạn chế nên phải chuyển hướng chiến trường trọng điểm sang Tây Ninh, dọc biên giới Campuchia và một số địa phương ở miền Đông Nam Bộ nhưng diễn ra yếu và rời rạc. Lợi dụng tình hình đó, địch đẩy mạnh bình định, tấn công giành lại nhiều vùng đã mất, tiến sâu vào các cùng giải phóng, căn cứ của ta.

Trong sự việc “Bộ tư lệnh tiền phương” của anh Kiệt và anh Bạch Đằng đã cử một phận nhỏ đi tiền phương và sau đó là anh Kiệt trực tiếp đi vào nội thành. Ông Tư Cang nhận định: “Chưa có một đồng chí trung ương nào mà trong tết Mậu Thân vô tới nội thành như ông Võ Văn Kiệt”. Mặc dù có nhiều lời khuyên anh Kiệt ở lại căn cứ nhưng anh Kiệt vẫn kiên quyết vào nội thành. Cho thấy anh Kiệt là một con người không ngại hiểm nguy, sẵn sàng có mặt tại nơi hiểm yếu nhất để trực tiếp chỉ đạo trận đánh.

Phần 3: Nhận định và đánh giá kết quả trận Mậu Thân

Sau đợt phản công lần thứ 3 thì nhận chỉ thị rút về Ba Thu, rồi trở về R. Tại đây có làm một bản bảo cáo tổng kết nhanh trong đó đánh giá một số đơn vị tổ chức anh hùng:

Biệt Động Sài Gòn rất anh dũng và oai hùng. Rồi chuyện 34 nữ dân quân tải thương, tải đạn hi sinh toàn bộ. Chiến công của cánh Hoa vận (người Hoa hoạt động cách mạng) đánh chiếm tòa hành chánh quận 5. Những hành động cảm động của đồng bào che giấu, cứu chữa cho cán bộ, chiến sĩ…

Hội nghị đánh giá chủ trương: “Tổng công kích chiến lược vào đô thị thì đó là chủ trương đúng và táo bạo”. Tuy hợp đồng giữa các đơn vị chưa chặt, chưa phát huy hết khả năng nhưng những cái trọng điểm đã làm rất tốt. Hai bên hi sinh và thiệt hại nặng nề nhưng trả giá cho thắng lợi đó thì hết sức cần thiết.

Từ chủ trương của Bộ chính trị: “Đánh phối động vô đô thị” – thì đó là chủ trương chiến lược, rất đúng và rất quyết tâm. Thì dựa vào tiêu chí đó thì đánh giá rằng tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân là đạt được mục tiêu.

Nhận định đánh giá sau trận Mậu Thân là yêu cầu làm lung lay ý chí xâm lược của địch đã đạt được. Sau Tết Mậu Thân thì nhân dân thế giới nhất là nhân dân Mỹ thức tỉnh, đứng lên chống chiến tranh. Làm thất bại chiến lược “chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán. Tạo nên sự phân hóa, chia rẽ cao độ đối với kẻ thù, thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước và cách mạng trong lòng nhân dân đô thị cùng với các đồng bào nhiều địa phương toàn miền. Bên cạnh đó còn thúc đẩy cao phong trào phản chiến của chính binh lính Mỹ

Ông kết thúc câu chuyện mà để lại trong chúng tôi một cảm giác tự hào và biết ơn trước những gì mà ông cha đã hi sinh xương máu đem lại sự tự do, độc lập cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Trước khi ra về chúng tôi cảm ơn, chúc sức khỏe ông và đồng thời có hỏi ông một câu hỏi là: “Ông có lời khuyên gì cho thế hệ trẻ sau này”

Ông Tư Cang nói:“Con đường tương lai rất rộng mở và rất cần người tài. Ráng học, làm việc một cách hết mình. Phải có nhuệ khí và bản lĩnh của Việt Nam. Ở trên Thế giới dân tộc nào cũng cho mình là anh hùng nhưng anh hùng như dân tộc Việt Nam thì ít có. Cho nên thế hệ trẻ phải kế thừa và tiếp tục phát huy bản sắc anh hùng đó, để xây dựng một đất nước Việt Nam giàu mạnh.”

Dũng Lê



Huỳnh Văn Cang (bí danh Tư Cang)

Sinh 1928, quê quán xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi

Hồi nhỏ học ở trường Trung Học Lê Bá Cang ở Sài Gòn

Khi Nhật đảo chánh thì nghỉ học về quê tham gia lực lượng “Thanh niên tiền phong”

Năm 1946: Đi kháng chiến chống Pháp, là cán bộ Thanh Niên cứu quốc cùng với đồng chí Phan Văn Khải bên ban “Công tác thiếu nhi”

1949: Học trường trung học kháng chiến “Thái Văn Lung”

1950: Cơ yếu cho xứ ủy và ủy ban kháng chiến tỉnh Nam Bộ

1954: Tập kết ra Bắc

1965: Cán bộ tuyên huấn khu Sài Gòn – Gia Định. Làm thư ký cho ông Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ

1975: Chủ tịch UBND quận 11

1983: Giám đốc sở thương binh xã hội Tp.HCM.

1995: Về Hưu.

Hiện nay: Phó chủ nhiệm CLB truyền thống kháng chiến Tp.HCM

Chiều lòng “dân làng”, Trần Đăng Khoa viết về Tướng Giáp

, , , ...

Cái chuyện “Xông đất” vị tướng huyền thoại diễn ra cách đây cũng đã lâu lâu rồi. Tôi ngỡ nó đã được lưu giữ và đã ngủ yên trong bảo tàng “Cõi nhớ” của cá nhân tôi. Nhưng rồi Bạn đọc khả kính của VOV đã “đánh thức” nó dậy.

Trần Đăng Khoa đã mở màn bài viết của anh như thế.

Tôi rất bất ngờ, không hiểu sao VOVonline đã kiếm đâu được bức ảnh của tôi chụp với Tướng Giáp và công bố trên tờ báo đang rất đông người đọc này. Và càng bất ngờ hơn nữa là những lời bình, nói đúng ra là những bài viết bổ sung cho những gì còn khiếm khuyết trong các bài viết của tôi của đông đảo độc giả. Nhiều bài viết vô cùng sâu sắc, hay hơn gấp nhiều lần những bài viết của tôi. Trong lễ ra mắt “Chuyên mục”, trong một comment, tôi có nói, nói rất thành tâm chứ không phải õng ẹo làm mẽ, rằng, Khoa chỉ làm công việc của Mẹ Đốp Mõ Làng, là trải cái chiếu quê ra giữa sân đình VOV, để kính cẩn mời các cụ ra ngự rồi bàn chuyện.

Tôi cũng không ngờ “Các cụ” đến rất đông. Có cụ đã 52 tuổi Đảng, có cụ phừng phừng sức lực thanh tân. Có cụ còn “xưng cháu” với gã mõ làng làm công việc trải chiếu. Nhiều cụ muốn biết chuyện xông đất nhà vị tướng Huyền thoại. Bởi thế, câu chuyện năm xưa mới lại có mặt trên cái chiếu quê Blog Tòa soạn này.

Nhà thơ Đaghextan nổi tiếng thế giới Raxun Gamzatov thật có lý và cũng thật sâu sắc khi ông cho rằng, khi anh đi ra thế giới rộng lớn, người ta muốn biết anh là người thế nào, thì anh có thể chìa chứng minh thư, chìa tấm hộ chiếu ra, trong đó đã ghi mọi điều cần thiết. Còn nếu khi có ai hỏi một dân tộc, xem dân tộc đó thế nào, thì dân tộc đó cũng cần phải đưa ra "giấy tờ" của mình, là các nhà bác học, các nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, hoạ sĩ, nhà hoạt động chính trị kiệt xuất hay các vị tướng lĩnh tài giỏi. Họ chính là “giấy thông hành” để dân tộc đó đi ra với thế giới rộng lớn.

Có lẽ cũng vì thế chăng, mà có lần tham gia trong đoàn Việt Nam dự Festival thanh niên thế giới, tôi rất ngạc nhiên khi phái đoàn của ta vừa xuất hiện thì cả cầu trường vang dội những tiếng hô nồng nhiệt của cả một biển người trên hành tinh: "Hồ Chí Minh - Giáp Giáp! Hồ Chí Minh - Giáp Giáp!" Hồ Chí Minh thì đã rõ rồi. Bác là vị lãnh tụ lỗi lạc, là danh nhân văn hoá thế giới. Thế còn Giáp Giáp là gì? Tiếng Tây chăng? Tôi lần hỏi mới hay, họ đã hô vang tên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đối với thế giới, cái tên quen thuộc ấy đồng nghĩa với Việt Nam, nên không cần phải phiên dịch, diễn giải. Cùng với Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh, vị tướng huyền thoại ấy, cũng đã trở thành cái giấy thông hành để dân tộc ta có thể hiên ngang đi vào cõi mênh mông bát ngát của xứ người.

Bây giờ thì vị tướng huyền thoại ấy đang ngồi trước mặt tôi. Một ông già hiền lành, đôn hậu. Nước da đỏ au, mái tóc bạc trắng như mây. Trông ông có dáng dấp của một ông Tiên trong những câu chuyện cổ tích dành cho con trẻ.

- Nhân dịp năm mới, tôi xin chúc Đại tướng khoẻ mạnh, hạnh phúc. Cầu mong Đại tướng luôn gặp những chuyện tốt lành.

- Mình cám ơn thiện tâm của các cậu!

Còn nhớ cách đây đã hơn chục năm, tôi cùng nhà văn Lê Lựu và nhóm phóng viên Tạp chí Văn nghệ quân đội đến gặp Đại tướng, và viết bài “Hỏi chuyện anh Văn” nhân kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Điện Biên Phủ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Bài viết in trên Tạp chí Văn nghệ quân đội đầu tháng 5 năm 1994. Trung tuần tháng đó, tôi có dịp sang thăm Mỹ theo lời mời của của các nhà văn cựu chiến binh Mỹ. Nhà thơ nổi tiếng Mỹ Bruce Weigl cười tủm tỉm: "Tôi có xem bài viết của ông với ông Lựu trong thư viện của Trường đại học Harvard, cũng xem cả bức ảnh ông và ông Lựu chụp chung với tướng Giáp. Trong ảnh, tôi thấy tướng Giáp là người trẻ trung nhất, sau đó mới đến ông Lựu, còn người già nua nhất thì lại là... ông"

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cười hiền hậu:

- Họ đùa đấy! Dân nước ngoài họ rất hay đùa. Sự thật thì mình đâu còn trẻ mà cậu thì cũng đâu đã già!

- Vâng, tôi cũng biết là họ đùa, nhưng trong câu nói đùa ấy cũng hàm chứa ít nhiều sự thật, là cụ rất được yêu mến. Dân mình, lính mình yêu cụ đã đành, nhưng ngay cả những kẻ thù từng bị cụ đánh bại cũng rất kính phục cụ. Được kẻ thù của mình kính phục và trọng nể, kể cũng không phải dễ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp dường như không để ý đến câu nói ấy. Ông chỉ tủm tỉm cười. Nụ cười thật hiền hậu. So với lần gặp trước cách đây chừng chục năm, tôi thấy Đại tướng chẳng có gì thay đổi, mặc dù ông cũng đã qua cái tuổi cổ lai hy từ rất lâu rồi. Dường như Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ra để chống lại tạo hoá. Sự già nua không đánh được vào ông. Một ánh mắt tinh nhạy, trẻ trung, một trí tuệ rất minh mẫn. Nhân ngày đầu xuân, tôi hỏi ông có bí quyết gì mà có được sức lực dẻo dai như thế? Ông cười hiền lành:

- Mình chẳng có bí quyết gì đâu. Chỉ chịu khó tập thể dục, sống thanh thản và không vẩn vơ nghĩ về cá nhân.

Theo cô con gái rượu của ông, giáo sư - tiến sĩ vật lý Võ Hồng Anh, thì hàng ngày, Đại tướng sống rất điều độ. Buổi sáng ông dậy sớm tập thể dục, rồi đi bách bộ quanh khu vườn. Bảy rưỡi ăn điểm tâm. Mỗi bữa thường chỉ có một bát xúp nhỏ, một lát bánh mì. Buổi trưa ông ăn rất ít. Tối cũng vậy, chỉ thêm bát xúp ngô với một ít rau tươi. Còn cơm, ông ăn không đầy một bát. Nhưng ngày nào ông cũng làm việc. Công việc vẫn bề bộn. Bắt đầu từ tám giờ sáng. Ông tiếp khách trong nước, quốc tế, hoặc dự hội thảo, thăm nơi này, nơi kia, theo kế hoạch mà đồng chí thư ký đã chuẩn bị từ trước. Rỗi thì ông đọc sách. Ông đọc khá nhiều. Đủ các loại sách. Sách quân sự. Sách khoa học. Sách danh nhân. Rồi tiểu thuyết. Rồi thơ. Rồi lý luận phê bình.

Đại tướng tặng tôi mấy cuốn sách, và cả những bài báo rất hay viết về khoa học, kinh tế mà ông thấy tâm đắc, ông phôtô tặng tôi. Tôi thực sự ngạc nhiên vì thấy ông đọc rất nhiều. Tôi hiểu vì sao ông có được sự minh mẫn đến thế. Trí tuệ loài người nằm hết trong sách. Không phải ngẫu nhiên, khi cô con gái rượu của Các Mác hỏi bố: “Công việc gì mà ba yêu thích nhất”. Mác đã trả lời: “Lục lọi ở trong sách.”

- Vừa rồi tôi có đọc cuốn hồi ký của anh Trà. Anh ấy có viết về tôi. Trong đó có một câu làm tôi rất xúc động: Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người tiếc đến từng giọt máu của lính. Anh ấy là người rất hiểu tôi...

Nói rồi, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngồi lặng. Gương mặt thâm thấm một nỗi gì hiu hắt. Trông ông như một đỉnh núi vừa tắt nắng. Hình như ông đang nhớ lại một thời oanh liệt đã qua. Trong trận Điện Biên Phủ, ông là Đại tướng Tổng tư lệnh, nhưng nắm chắc đến từng đại đội một. Nghĩa là ngay một anh đại đội trưởng dưới cơ sở cũng có thể báo cáo thẳng cho Tổng tư lệnh về đơn vị của mình, kể cả những con số hy sinh và thương vong.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người rất thận trọng. Vào trận, bao giờ ông cũng nắm rất chắc địa hình, tính toán thật chi li, cụ thể. Bộ đội hành quân, tập kết trận địa, nếu trong đội hình tiểu đoàn, hoặc đội hình trung đoàn, có trang bị từng loại vũ khí cụ thể thì đi hết bao lâu. Trận đánh diễn ra bao nhiêu phút, rồi sau đó anh em rút ra như thế nào cho thật an toàn trước khi máy bay địch ập đến. Chỉ khi nào Đại tướng tính toán kỹ lưỡng, tìm được cách rút lui sau trận đánh, để bảo toàn tính mạng cho từng người lính rồi, ông mới ra lệnh tấn công.

Thật bất ngờ khi một vị tướng huyền thoại, “bách chiến, bách thắng”, mà khi vào trận, ông lại quan tâm trước nhất là chuyện “rút lui”. Bí kíp dành thắng lợi của ông là thế chăng? Và ta cũng lại bất ngờ nữa khi biết, có trận thắng vang dội, người ta vỗ tay rầm trời, còn Đại tướng thì lặng lẽ khóc ở sở chỉ huy, vì mất nhiều lính quá. Nhiều khi cứ úp mặt xuống phên tre mà khóc. Nước mắt đầm đìa cả cái gối mây. Nhưng điều ấy thì không phải ai cũng biết được. Tôi chợt nhớ đến hồi Mậu Thân, nhớ đến câu thơ Hữu Thỉnh:

“Có trận đánh trở về/

Nhìn đống súng thừa như nhìn thừa đũa bát/

Thừa đến nỗi những người sống sót/

Cũng không nỡ nhận mình là may/

Hồi Mậu Thân toan tính biết bao điều...”

Có lẽ cũng vì thế mà Thiếu tuớng Nguyễn Chuông, Tư lệnh Quân đoàn 29, một trong những người lính quả cảm của tướng Giáp, khi về hưu, được quân đội chia cho ít đất để làm nhà, ông đã dành một khoảng đất để xây một cái miếu ngay ở trước cửa nhà để ông thờ lính. “Các em đã lặn lội theo anh vào sinh ra tử bao nhiêu năm nay, không may phải nằm lại dọc đường, bố mẹ già khuất núi rồi, vợ con lại chưa kịp có thì biết lấy ai hương khói trong những ngày tết nhất hay ngày rằm, mồng một. Anh may mà thoát chết, vừa được quân đội cho tý đất đây, anh lập cái am này để các em về đây quây quần với anh”. Rồi ông dặn dò con cháu, nếu không may ông có phải ra đi thì những ngày Tết hay ngày rằm, mồng một, hoặc ngày 27-7, chúng nhớ thay ông thắp hương cho những người lính của ông đã, rồi sau đó mới thắp cho ông.

Có lẽ cũng vì thế chăng mà khi tôi có nhã ý muốn được đọc một cuốn hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết về chính mình thì ông đã từ chối. Thực tình thì ông cũng đã viết hoặc kể cho người khác viết. Nhưng đó là những trang hồi ký về Bác, về Đảng, về cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân. Đó là một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc, là chuyện của lãnh tụ, của đồng bào chiến sĩ, là toàn bộ cuộc chiến tranh cách mạng được nhìn qua con mắt của một vị tướng. Còn thực sự vị danh tướng ấy thế nào, số phận ra sao, thì cho đến nay, vẫn chẳng có mấy ai biết.

- Đời mình có gì đâu mà viết. So với Bác Hồ, với đồng bào, chiến sĩ, mình chỉ là một giọt nước rất nhỏ giữa đại dương mênh mông...

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói vậy. Ông vốn là một người rất đỗi khiêm nhường. Ông mong gì ư? Nếu có sức lực và có điều kiện, ông muốn được trở lại những vùng chiến trường xưa, thăm lại những người dân nghèo đã từng san sẻ với ông nửa củ sắn lùi, đắp chung với ông một cái chăn rách.

Tôi chợt nhớ đến một ông già bản mà tôi gặp trên đường vào Mường Phăng. Ông già hồ hởi:

- Chuyện Đại tướng chứ gì? Đại tướng thì tôi biết. Tôi cũng đã mấy lần gặp Đại tướng rồi. Vùng này là quê của Đại tướng đấy. Năm nọ Đại tướng có về quê. Đại tướng nói chuyện với đồng bào bằng tiếng dân tộc. Đại tướng là già làng của chúng tôi đấy. Nhà Đại tướng ở chỗ kia kìa...

Nói rồi, ông già chỉ lên núi Mường Phăng. Một dải rừng xanh um giữa mênh mông đồi trọc. Ở Điện Biên và cả mấy vùng lân cận, rừng cơ bản đã bị phá xong. Nửa đêm, tôi còn thấy những dải lửa cháy rừng rực vắt giữa lưng chừng trời. Đồng bào đốt nương đấy. Chẳng còn cách nào ngăn được. Đói thì phải phá rừng. Rừng núi nhiều nơi đã trơ trụi, nhưng Mường Phăng thì vẫn um tùm rậm rạp như rừng nguyên sinh. Tôi đã đi dưới những tầng cây ấy, nghe chim rừng hót ríu ran. Một làn suối âm thanh trong trẻo và mát rượi rót xuống từ lưng chừng trời. Không một rảnh cây nào bị chặt phá hay bị bẻ gẫy. Ở đây, người dân còn đói cơm, thiếu mặc, nhưng họ vẫn nâng niu gìn giữ khu rừng.

Họ tự đặt tên cho khu rừng là “Rừng Đại tướng”. Đấy là ngôi đền thiêng, ngôi đền xanh thiên nhiên mà người dân đã tự lập để thờ ông. Đối với vị tướng trận, đó là hạnh phúc lớn. Một hạnh phúc mà không phải ai cũng có được trong cõi trần này…/.