Thiếu Long's blog

23 năm ngày sinh Bác Hồ (19/5/1890 - 19/5/2013)

Subscribe to RSS feed

Posts tagged with "mỹ"

Sticky post

Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 (kỳ 4 và hết)

, , , ...

Kỳ 4: Tổng kết cuộc chiến tranh Mỹ - Việt 1954-1975
(tiếp theo kỳ 3)

--------------------------------------------------------------------------------------------

Mục lục:

Hậu quả chiến tranh

Chiến tranh tâm lý của Mỹ ở Việt Nam

1. Tố Cộng

2. "Thảm sát ở Huế"

Những tội ác chiến tranh được các nhân chứng và nhà nghiên cứu độc lập ghi nhận

Một số ngộ nhận thường thấy trong cuộc chiến

Tình nghĩa giữa Việt Nam với nhân dân Mỹ và thế giới

1. Ngọn lửa Morrison

2. Biểu tượng Martin Luther King

Nguyên nhân chiến thắng

1. Nguyên nhân sâu xa

Ý nghĩa chiến thắng

1. Giải phóng hoàn toàn miền Nam

2. Thống nhất đất nước


--------------------------------------------------------------------------------------------

Trước khi bùng nổ cuộc chiến lịch sử với Việt Nam, Hoa Kỳ đã trải qua khoảng 150 cuộc chiến với hàng ngàn chiến dịch, hàng vạn trận đánh từ năm 1776 đến 1953, trong suốt quãng thời gian dài đó, quân đội Hoa Kỳ chưa thua 1 cuộc chiến nào.

Tại Việt Nam năm 1954, Pháp chưa đi - Mỹ đã đến. Say men bách chiến bách thắng, nhà cầm quyền Mỹ đã chọn sai đối tượng ngay từ đầu khi họ chọn Việt Nam làm đối tượng tiến hành chiến tranh xâm lược. Họ vào một quốc gia có truyền thống chống ngoại xâm lâu đời, và tồn tại, độc lập, tự chủ sau bao nhiêu nghiệt ngã của thời cuộc. Sau 1000 năm Bắc thuộc và 100 năm Pháp thuộc, dân tộc Việt Nam đã phải gồng mình đứng lên chống quân xâm lược mới.

Trải qua 177 chiến dịch, bao gồm 130 chiến dịch trên bộ, 34 chiến dịch trên không, và 13 chiến dịch trên biển, Chiến tranh Việt Nam (cách gọi theo góc nhìn Mỹ), trở thành cuộc chiến đầu tiên và đang là duy nhất trong lịch sử Hoa Kỳ mà người Mỹ đã thua.

Thường trong các cuộc chiến tranh, phe tấn công xâm lược hầu như không bao giờ thừa nhận chiến bại (đặc biệt là Trung Quốc mấy ngàn năm nay). Và kết quả thắng bại trong các cuộc chiến cũng thường có những tranh luận, quan điểm khác nhau trong giới nghiên cứu quốc tế. Nhưng đối với cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam thì gần như tất cả nhà sử học, nhà quân sự, nhà lãnh đạo, chính trị gia Hoa Kỳ và quốc tế, bao gồm 5 đời tổng thống Mỹ, Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara, ngoại trưởng Henry Kissinger v.v. đều nhìn nhận là Mỹ đã thua cuộc chiến này.

Chỉ có 1 người luôn khăng khăng không dám chấp nhận sự thật rằng Mỹ đã chiến bại, đó là đại tướng William Westmoreland, tổng tư lệnh liên quân ở Việt Nam. Những thất bại của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam, đỉnh cao là chiến dịch Mậu Thân, đã làm cho Westmoreland bị cách chức, đây là một vết nhơ và nỗi nhục trong binh nghiệp của ông ta, và là một tỳ vết cho gia đình có truyền thống quân ngũ của ông ta. Ông ta bị thân bại danh liệt, danh dự cá nhân và gia đình tiêu tan, sự nghiệp quân sự và cả chính trị đã tiêu tan trong Chiến tranh Việt Nam.

Trong Chiến tranh Việt Nam, sau nhiều thất bại và chịu nhiều áp lực nóng hổi từ chính phủ, Westmoreland đã "không vui", sau khi bị cách chức ngay sau đợt 1 của cuộc tổng tấn công chiến lược năm Mậu Thân 1968, ông ta càng cay đắng. Và tâm lý cay đắng không cam lòng đó đã đi theo và ám ảnh Westmoreland suốt quãng đời sau này. Khi trả lời phỏng vấn phim tài liệu nổi tiếng Hearts and Minds (Trái tim và khối óc) năm 1974, khi được hỏi về các tội ác, thương vong do người Mỹ gây ra ở Việt Nam, để giảm nhẹ tội ác, Westmoreland nói: "Người Á Đông không đặt cao giá trị sinh mạng họ như người phương Tây. Chúng ta đánh giá cao sinh mạng và giá trị con người. Họ không quan tâm đến sinh mạng và giá trị con người".

Trong lần trả lời phỏng vấn tạp chí George năm 1998, khi được hỏi về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người được đông đảo giới quân sự quốc tế đánh giá là một thiên tài quân sự, Westmoreland đã lúng túng trả lời một cách vụng về: "Ừ thì dĩ nhiên ông ta là một đối thủ xứng tầm. Để tôi nói thêm là Giáp đều luyện quân theo đơn vị thấp với chiến thuật du kích, nhưng ông ta cứ quyết phải xua quân tiến hành chiến tranh đơn vị cao, làm cho quân của ông ta bị tổn thất kinh khiếp. Với trách nhiệm của ông ta, đến năm 1969, tôi nghĩ, ông ta đã mất, cái gì, hình như khoảng nửa triệu lính? Ông ta đã công bố điều này? Sự không quan tâm đến sinh mạng con người đó có thể làm nên một đối thủ tạm được, chứ nó không làm nên một thiên tài quân sự. Một tư lệnh Mỹ mà mất nhiêu đấy lính khó có thể tồn tại trong quân ngũ hơn vài tuần."

Theo danh sách đang cập nhật, bổ sung của Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở thủ đô Washington DC, Hoa Kỳ, và Tạp chí Lịch sử Quân sự Việt Nam, tài liệu của Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương thì tổng thương vong của quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam là 365.157 quân.

Trong số hơn 36 vạn quân Mỹ thương vong, có 58.168 lính chết trong lúc giao tranh (kill in action). Bản danh sách đầu tiên năm 1982 là gồm 57.939 người, và 1.875 người vẫn còn mất tích (tính đến năm 2004).

Trong số 58.168 người Mỹ tử trận, có 7.878 sĩ quan. Trong số sĩ quan chết trận, có 426 tư lệnh và sĩ quan chỉ huy. Trong số đó có 37 người cấp tướng. Sự tổn thất to lớn của Mỹ ở Việt Nam đã vượt Thế chiến I và chiến tranh Triều Tiên.

Có hơn 6 triệu người Mỹ sinh hoạt, hoạt động ở Việt Nam. Trong số những người Mỹ đó có 2.709.918 người mặc đồng phục (in uniform) hoặc/và phục vụ khu vực giao tranh. Trong số những người đó có khoảng 55-60 vạn binh lính phục vụ cho chính phủ Mỹ ở Việt Nam. Tổng số cựu quân nhân chiến tranh Việt Nam chiếm 9,7% cả thế hệ của họ....

Đối với quân đội Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam căng thẳng hơn cả Thế chiến II. Trung bình mỗi người lính bộ binh Mỹ trong chiến tranh Thái Bình Dương (thuộc Thế chiến II) tốn khoảng 40 ngày chiến đấu trong 4 năm. Nhưng trung bình mỗi người lính bộ binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam tốn khoảng 240 ngày chiến đấu trong 1 năm nhờ chiến thuật Trực thăng vận.

Đi kèm theo sự tổn thất to lớn về sinh lực, nhân mạng là sự phá sản của 3 chiến lược chiến tranh (Đặc biệt, Cục bộ, Việt Nam hóa), 2 chiến lược tác chiến (Tìm và Diệt - Search and Destroy [S&D], Quét và Giữ - Clear and Hold), chiến lược Quét và Giữ (Clear and Hold) được tướng Creighton Abrams áp dụng tại Việt Nam, thay cho chiến lược Tìm và Diệt của Westmoreland, sau khi ông thay thế Westmoreland làm tổng tư lệnh liên quân sau thất bại chiến lược của Hoa Kỳ trong chiến dịch Mậu Thân 1968. Quét và Giữ về cơ bản là một chiến lược chống nổi dậy và chống chiến tranh du kích, bao gồm 3 yếu tố: Các chiến dịch quân sự - dân sự phối hợp, chiến dịch quân sự tác chiến, và chiến tranh thông tin.

Ngoài ra, 3 loại hình chiến tranh công nghệ cao là chiến tranh điện tử (electronical warfare), chiến tranh hóa học (chemical warfare), và chiến tranh khí tượng (weather warfare), cùng với 2 chiến thuật quân sự Trực thăng vận và Thiết xa vận đều bị phá sản hoàn toàn ở Việt Nam. Đặc biệt chiến thuật Trực thăng vận sau này không còn được Mỹ sử dụng nữa, mà chuyển hẳn sang chuyển quân bằng máy bay phản lực hoặc xe tăng. Chiến trường Việt Nam đã đưa đến cái chết hoàn toàn cho chiến thuật Trực thăng vận thịnh hành một thời, đặc biệt sau chiến dịch Đường 9 - Nam Lào.

Cuộc chiến tranh lịch sử này đã in sâu vào lòng công chúng Mỹ từ thế hệ này sang thế hệ khác và đã đi vào văn hóa đại chúng như là một "hội chứng Việt Nam". Tại Mỹ có hơn 30 ngàn sách, tiểu thuyết, truyện tranh viết về Chiến tranh Việt Nam; có 135 nhạc phẩm về Chiến tranh Việt Nam, gồm có 96 ca khúc phản chiến được lưu hành không chính thức, trong đó có 2 bài hát về cuộc thảm sát Đại học Tiểu bang Kent, khi cảnh sát Mỹ xả súng vào các sinh viên biểu tình ôn hòa phản đối chiến tranh (bài "Ohio" sáng tác năm 1970 và "Student Demonstration Time" năm 1971).

Tổng cộng có 64 phim điện ảnh Hollywood về Chiến tranh Việt Nam (bao gồm 6 phim trong cuộc chiến và 58 phim sau cuộc chiến). Có 8 phim tài liệu về Chiến tranh Việt Nam (gồm 4 phim trong cuộc chiến và 4 phim sau cuộc chiến). Đó là không tính các phim ảnh tâm lý chiến quá lộ liễu chiếm phần lớn nội dung như phim "Chúng tôi muốn sống".

Có 54 trò chơi thương mại về Chiến tranh Việt Nam, trong đó có 47 trò chơi điện tử, bao gồm 37 trò chơi cho các máy Nintendo, Sega, Playstation và 10 trò chơi máy tính.

Hầu hết các sản phẩm văn hóa của người dân Mỹ đều nói lên rõ nét những yếu tố chính trong cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, như bản chất cuộc chiến, phong trào phản chiến, và tội ác chiến tranh.

Trong bộ truyện tranh Watchmen, một trong những thương hiệu truyện tranh lớn nhất ở Mỹ, có câu chuyện về việc trong khi Mỹ đang thua thì tổng thống Richard Nixon đã mời được tiến sĩ siêu nhân Manhattan can thiệp vào chiến tranh Việt Nam và giúp quân đội Mỹ thành công bình định miền Nam, sau đó xâm lược nốt miền Bắc. Kết quả Việt Nam trở thành tiểu bang thứ 51 của Mỹ.

Trong bộ phim danh tiếng Forrest Gump, nhân vật chính là một người thiểu năng trí tuệ. Tuy vậy, khi sang Việt Nam chiến đấu anh lại trở thành anh hùng khi cứu được trung đội trưởng thoát chết sau một trận đánh. Khi trở về, anh lại tham gia phong trào phản đối Chiến tranh Việt Nam cùng người yêu.

Trong bộ phim X-Men Origins: Wolverine, người sói Wolverine, một trong những nhân vật chính trong đội siêu anh hùng X-Men, đã từng chiến đấu và gây các tội ác chiến tranh, hãm hiếp trẻ em ở Việt Nam.


Đại tướng Creighton W. Abrams, kiến trúc sư của chiến lược Quét và Giữ ở chiến trường Việt Nam

Hậu quả chiến tranh

Theo các hồ sơ, tài liệu của Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội, sau đây là các loại bom mà không quân Hoa Kỳ sử dụng ở Việt Nam:

  • Bom phá MK-81, MK-82, MK-83, MK-84, M117A1, T55-E6 sử dụng để diệt mục tiêu bằng sóng xung kích và mảnh của vỏ bom.
  • Bom mảnh sử dụng các mảnh thân bom để tiêu diệt mục tiêu lộ thiên hoặc thiết giáp hạng nhẹ khi nổ.
  • Bom xuyên sử dụng để diệt các mục tiêu bọc thép, phá hủy những công trình kiên cố, đường hầm, địa đạo, công trình bê tông cốt thép bằng cách xuyên vào mục tiêu và nổ.
  • Bom cháy sử dụng để diệt mục tiêu, sát thương sinh lực, đốt cháy nhà cửa, cây cối.
  • Bom hóa học sử dụng để diệt sinh lực hoặc gây nhiễm độc địa hình và các phương tiện kỹ thuật bằng chất độc quân sự. Các loại bom hóa học Mỹ ném xuống Việt Nam thường chứa chất độc kích thích CS, chất độc tâm thần BZ, LSD, Mescalin pxyloxin….
  • Bom phát quang thường dùng để phát quang nhanh khu vực rừng rậm, mặt đất để dọn bãi cho trực thăng đổ bộ và bố trí trận địa pháo.
  • Bom chống tăng dùng hiệu ứng nổ lõm để diệt xe tăng, mục tiêu bọc thép khác và kho chứa….
  • Bom chùm thường sử dụng để sát thương diện rộng, có kết cấu bom mẹ chứa bom con.



Miền Bắc điêu tàn dưới bom Mỹ

Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội Bùi Hồng Lĩnh cho biết kết quả điều tra trên cả nước có khoảng 66.000 km2 còn tồn đọng vật liệu bom, mìn. Ước tính còn khoảng hơn 600.000 tấn bom mìn đang tồn tại dưới đất. Hiện mới chỉ có khoảng 20% lượng bom, mìn được tháo gỡ. Bình quân mỗi năm có khoảng 20.000 ha đất được rà phá. Với tiến độ này, khoảng 300 năm nữa mới có thể loại bỏ được hết các loại bom mìn chưa nổ.

Bom mìn còn sót lại sau cuộc chiến này đã gây tổn thất nặng nề về sinh mạng, tài sản, đời sống của người dân, ảnh hưởng nặng nề đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Bom mìn đã cướp đi mạng sống của 10.529 người, làm 12.231 người bị thương, trong đó 25% các thương tích này là ở trẻ em lứa tuổi từ 14 tuổi trở xuống. Bom mìn do quân đội Hoa Kỳ mang đến Việt Nam tàn phá còn sót lại khoảng hàng trăm ngàn tấn, rải rác trên khắp cả nước, đặc biệt các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi....


Lính Mỹ mệt mỏi chán nản nhìn xác đồng đội. Trận chiến ban ngày kết thúc, họ chờ đợi trực thăng đến di tản đồng đội của họ khỏi các ngọn đồi có rừng nhiệt đới bao phủ tại tỉnh Long Khánh.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, chính phủ Hoa Kỳ đã huy động hàng triệu người Mỹ, trong đó có 4.649.000 người dưới 20 tuổi, khoảng 40% các nhà khoa học vật lý, 260 trường đại học, khoảng 22.000 xí nghiệp lớn với khoảng 5,5 triệu công nhân phục vụ cuộc chiến. Hơn 6 triệu người Mỹ sinh sống và sinh hoạt trong những vùng tạm chiếm ở miền Nam Việt Nam, hậu quả là gần nửa triệu con lai Mỹ ra đời, nhiều người trong đó không biết rõ cha mình là ai, nhiều người phải sống trong các cô nhi viện cả trong và sau cuộc chiến.

Riêng năm 1968, mỗi ngày Mỹ chi phí cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lên đến khoảng 100 triệu USD, gấp 10 lần chi phí cho cuộc chiến chống nghèo đói ở Mỹ trong thời gian đó. Riêng những hậu quả về con người: Tính từ giữa năm 1961 đến năm 1974, đã có tổng số 57.259 người Mỹ đã tử trận ở Việt Nam. Nếu tính theo toàn bộ thời gian cuộc chiến, từ năm 1954 đến 1975 thì có tổng số 58.168 người Mỹ đã chết ở Việt Nam. Tháng 11 năm 1982, chính phủ Hoa Kỳ đã khánh thành Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam để tưởng niệm những công dân Mỹ đã chết ở Việt Nam, bản danh sách ban đầu gồm 57.939 người, trong đó có 37 cấp tướng.

Tuy bị tổn thương nặng nề, Việt Nam vẫn giáng trả vào quân xâm lược những thiệt hại, thương vong tột cùng, gieo rắc vào đầu họ những hội chứng, ám ảnh không thể nào quên, trở thành những vết thương không bao giờ lành. Số lượng quân nhân Mỹ bị mắc bệnh tâm thần trong và sau thời gian chiến đấu ở Việt Nam là nhiều nhất trong tất cả các cuộc chiến mà quân đội nước này tham gia trong lịch sử.


Một người Mỹ đau khổ trước Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở thủ đô Washington DC, Hoa Kỳ.

Lần đầu tiên, vào năm 1988, chính phủ Mỹ buộc phải thừa nhận có khoảng 15% trong số lính Mỹ chiến đấu tại Việt Nam trở về bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng. Cựu binh Jim Doyle và David Curry chỉ là 2 trong số gần 60 vạn quân Mỹ bị chính phủ họ đẩy vào vũng lầy Việt Nam. Jim Doyle đã bị đẩy tới chiến trường Việt Nam khi mới 18 tuổi, mặc dù may mắn sống sót trở về, nhưng đến giờ người cựu binh này vẫn không thoát khỏi nỗi ám ảnh: "Chiến tranh là địa ngục. Nó tác động ghê gớm đến con người như một vết thương không thể hàn gắn.""Cuối cùng, tôi nhận ra rằng, chiến tranh không chỉ lấy cắp thời thanh niên của tôi mà còn đeo đuổi, ám ảnh suốt cuộc đời tôi". Các nhà xã hội học Mỹ cũng xác nhận: Kể từ sau năm 1975 đến nay, năm nào cũng có những cựu binh Mỹ đã từng chiến đấu ở Việt Nam bị tinh thần bất ổn, trầm cảm rồi tự sát.

Chiến tranh tâm lý của Mỹ ở Việt Nam

Hoa Kỳ luôn tận dụng mọi khía cạnh, mọi vấn đề để giành phần thắng, và trong các loại hình chiến tranh mà Mỹ tiến hành luôn luôn được hỗ trợ bằng chiến tranh tâm lý (psychological warfare - viết tắt: PSYWAR). Các tác chiến tâm lý bao gồm cả những hành động mua chuộc, chiêu dụ, lôi kéo những kẻ địch bản xứ đứng về phía Mỹ hoặc hiệu quả hơn đó là gia nhập hẳn vào hàng ngũ của Mỹ, như chiến dịch Moolah mà Mỹ đã sử dụng hạn chế ở Trung Quốc và sử dụng rộng rãi ở Triều Tiên, với đối tượng chiêu dụ chủ yếu là lực lượng không quân của đối phương. Chiến dịch Moolah khi đến Việt Nam đã được nâng cấp thành chương trình Chiêu Hồi (Open Arms), tấn công tâm lý vào mọi đối tượng của đối phương.


Thiếu tá Alan Byrne (trái) và trung tá Robert Laabs (phải), tham mưu trưởng Trung tâm Phát triển Chiến tranh tâm lý (PSYOP Development Center), Đoàn hành động Chiến tranh tâm lý 4 (4th PSYOP Group) ở Việt Nam năm 1968


Hình bìa sách giáo khoa hướng dẫn chiến tranh tâm lý do chính phủ Mỹ xuất bản năm 1968 trong Chiến tranh Việt Nam, có tên là MACV PSYOP Guide (Kim chỉ nam Chiến dịch Chiến tranh tâm lý - PSYOP). Lưu ý trong hình có hai người Việt trong nhà hàng đang đọc truyền đơn Chiêu Hồi.


Một trang trong kim chỉ nam chiến tranh tâm lý Chieu Hoi - The Winning Ticket (Chiêu Hồi - Tấm Vé Giành Chiến Thắng) do chính phủ Mỹ ấn hành năm 1970. Dịch: Một người bắt đầu nghĩ nếu được cho một cơ hội, anh ta có thể từ bỏ tranh đấu. Nhiều người quả thật từ bỏ tranh đấu, nếu họ có cơ hội.


Truyền đơn hù dọa của Mỹ. Dòng chữ ghi: Không có nơi nào để chạy.... không có nơi nào để trốn! Tăng và thiết giáp của lữ đoàn 1 Thiết Kỵ sẽ "tìm và diệt" các người! Đã quá muộn để chống cự. Việt Cộng hãy coi chừng, nơi nào cũng có chúng tôi! Bây giờ hãy quy thuận chương trình Chiêu Hồi; đó là con đường sống duy nhất của các người.

Hệ thống chiến tranh tâm lý của Hoa Kỳ được chia làm 3 phần: Chiến lược tâm lý, chiến dịch thông tin, và chiến thuật tâm lý. Mỗi sản phẩm thông điệp của chiến tranh tâm lý Hoa Kỳ đều được "chế tạo" thành và phổ biến rộng rãi ra một cách chuyên nghiệp.

Có 3 loại hình tuyên truyền mà Mỹ dùng để tạo nên các sản phẩm thông điệp, bao gồm tuyên truyền "Trắng" là một hình thức tuyên truyền công khai, chính thống, chính thức, tuyên truyền "Đen" và tuyên truyền "Xám" là hình thái tuyên truyền ngụy trang, che đậy, mờ ám, tiêu cực. Trắng, xám, đen không phải là sự phân loại về nội dung tuyên truyền, mà là sự phân loại về biện pháp, phương thức được sử dụng để thực hiện chiến dịch chuyển tải, phát tán những sản phẩm thông tin đó.

Chiến tranh tâm lý "Trắng" là loại hình tuyên truyền bằng những công bố, tuyên bố, hoặc động thái chính thức của chính phủ Mỹ, hoặc từ những thông tin được cung cấp bởi những nguồn có liên quan đến chính phủ Mỹ, cũng như những báo chí, truyền thông chính thống (mainstream media) tại Mỹ. Nó công khai cho thấy nó là thông tin từ phía Mỹ, từ chính quyền Mỹ.

Những cơ quan phụ trách tuyên truyền "Trắng" nhắm vào đối tượng độc giả, khán thính giả nước ngoài bao gồm: Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, Sở Thông tin Hoa Kỳ (United States Information Agency - USIA), Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (United States Agency for International Development - USAID), Bộ quốc phòng Hoa Kỳ, và nhiều sở, bộ khác của chính phủ Hoa Kỳ.

Chiến tranh tâm lý "Xám", là loại hình tuyên truyền bằng những nguồn tin mờ mịt, mơ hồ, không rõ ràng. Nguồn gốc thật (chính phủ Mỹ) không được tiết lộ tới những đối tượng độc giả, khán thính giả. Những nguồn tin được ngụy tạo như là một nguồn tin phi chính thống không phải từ chính phủ Mỹ, hoặc "trung lập" giả tạo, hoặc ngụy tạo là những nguồn từ phía thứ ba không thù địch với đối tượng mà chính phủ Mỹ muốn bôi nhọ.

Chiến tranh tâm lý Xám cũng có thể là những nguồn tin tuyên truyền cho góc nhìn, quan điểm của Hoa Kỳ, phục vụ cho lợi ích của chính sách ngoại giao Hoa Kỳ, có hại cho đối tượng mà Hoa Kỳ muốn bôi nhọ, mà không trực tiếp từ Hoa Kỳ, có thể từ những quốc gia "vệ tinh" của Mỹ, những quốc gia lệ thuộc Mỹ, những đồng minh lâu năm của Mỹ v.v. mà có bàn tay của Mỹ của trong đó. Có nhiều trường hợp những tác động, tham gia của phía Mỹ cũng không được tiết lộ.

Chiến tranh tâm lý "Đen", là loại hình tuyên truyền từ những nguồn (quốc gia, chính phủ, đảng phái, phe nhóm, tổ chức, cá nhân v.v.) có thái độ thù địch với cộng đồng quốc tế nói chung. Lợi dụng hoặc là ngụy tạo những nguồn đó. Lợi ích của chính phủ Mỹ được khéo giấu đi và chính phủ Mỹ nếu cần sẽ bác bỏ trách nhiệm. Loại hình tâm lý chiến này thích hợp cho những kế hoạch chiến lược cao.

Để đạt được hiệu quả cao nhất 2 loại hình chiến thuật chiến tranh tâm lý overt (công khai) và covert (giấu kín) đều phải được chia cách ra làm 2 tổ riêng rẽ, biệt lập với nhau. Nhân viên tham gia chiến thuật overt không thể tham gia chiến thuật covert, và ngược lại. Họ không biết được nhiệm vụ của nhau.


Tấm hình của lính Mỹ Paul Sgroi chụp chuyên viên tâm lý chiến John C. Stermer đang rải truyền đơn từ trực thăng UH-1H (Huey) vào năm 1969.


Truyền đơn được rải xuống từ máy bay U-10



Đội phát loa chiến tranh tâm lý Mỹ-ngụy trên chiến trường Việt Nam

Ngay từ đầu thập niên 1950, khi Mỹ chỉ mới đứng sau và viện trợ cho Pháp xâm lược Đông Dương, chứ họ chưa tiến hành chiến tranh với Việt Nam, thì chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên liệu trước, đề phòng trước, và đã cẩn thận cảnh báo về chiến tranh tâm lý của Mỹ và kêu gọi quân dân Việt Nam phải đề cao cảnh giác trước tâm lý chiến của Hoa Kỳ.

Trong thời gian đó Bác Hồ đã viết nhiều bài báo, phân tích, bình luận về các thủ đoạn và hình thức tẩy não, nhồi sọ, tuyên truyền dối trá của Mỹ, trong đó có 2 bài viết ấn tượng đó là bài "Tuyên truyền" do Bác Hồ viết ngày 25-5-1954 trên báo Nhân dân số 188 và bài "Chiến tranh nhồi sọ" do Bác viết ngày 25-7-1952 trên báo Cứu quốc số 2128.

Trong bài "Tuyên truyền", Bác viết: "Nói tóm lại, chúng dùng đủ mọi cách, mọi dịp để tuyên truyền, để hòng phá hoại tâm lý và tinh thần của nhân dân ta; cũng như chúng dùng bom đạn để phá hoại mùa màng và giao thông của ta." Cuối bài Người nhấn mạnh ý chính: "Chúng ta phải đánh thắng địch về mặt tuyên truyền, cũng như bộ đội ta đã đánh thắng địch về mặt quân sự!"

Trong bài "Chiến tranh nhồi sọ", Người viết: "Ở các nước, có hơn 400 cơ quan làm việc tuyên truyền cho Mỹ... Mỹ còn lập nhà thương, trường học, hội từ thiện, vân vân, ở các nước, để làm cơ quan tuyên truyền và ổ mật thám. Hiện nay, tại những vùng tạm bị (Pháp) chiếm ở nước ta, Mỹ đang ra sức xâm lược vǎn hoá để hủ hoá và gieo rắc bệnh phục Mỹ, thân Mỹ, sợ Mỹ vào nhân dân, nhất là vào thanh niên ở những vùng ấy. Đó là một điều mà cán bộ giáo dục và tuyên truyền ta phải đặc biệt chú ý và phải ra sức chống lại."


Hình bìa truyện tranh "Is this tomorrow, America under communism" (Phải chăng đây là ngày mai, Hoa Kỳ dưới chủ nghĩa cộng sản).


Rất nhiều sách, truyện tâm lý chiến đã được xuất bản ở miền Nam Việt Nam. Tháng 7 năm 1967, 20 trang sách in màu, mật mã 2078, dưới tựa đề "Qua Cơn Ác Mộng" (The Chieu Hoi Story) được phát hành, truyện trình bày theo phong cách truyện tranh, hư cấu "nỗi niềm" của một "hồi chánh viên", những "trải nghiệm ác mộng" dưới chế độ cộng sản ở vùng giải phóng và và lý do vì sao anh ta phải thoát ly cách mạng.


Tháng 10/1967, 20 trang sách với 12 hình chụp với tựa đề "Nhật ký của người Hồi Chánh" (Diary of a Returnee), mật mã 2169, được phát hành, truyện hư cấu theo hướng nội dung kể trên. Sách này còn liệt kê danh sách những chế độ đãi ngộ, tiền thưởng để chiêu dụ.

Năm 1955, Mỹ đài thọ cho chính quyền Ngô Đình Diệm thành lập Nha Chiến tranh Tâm lý, người Mỹ chịu mọi chi phí. Năm 1965, cơ quan này đổi tên thành Cục Tâm lý chiến và sát nhập vào Tổng cục chiến tranh chính trị.

Hoạt động của Nha Chiến tranh Tâm lý trong những vùng tạm chiếm ở miền Nam chủ yếu là tẩy não, nhồi sọ, tuyên truyền chống cộng, bôi nhọ những người chống Mỹ, vu khống các nhà lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, bịa đặt hoặc xuyên tạc tình hình ngoài Bắc, "chụp nón cối" những nhóm đối lập với Mỹ-ngụy, nhất là trong giới tôn giáo, Phật giáo....

Các hoạt động này chủ yếu được thực hiện bằng những buổi truyền thanh (ví dụ: chương trình Dạ Lan, Nhạc Thời Chinh Chiến, Tiếng Ca Gửi Người Tiền Tuyến), truyền hình (ví dụ: chương trình Thép Súng), xuất bản (ví dụ: báo Chánh Đạo, báo Tiền Tuyến), chiếu phim (ví dụ: phim Chúng Tôi Muốn Sống do người Mỹ dàn dựng và sản xuất), văn nghệ (ví dụ: Biệt đoàn văn nghệ trung ương) .... Hai công cụ chính là Đài Phát thanh Quân đội và báo Chánh Đạo.


Áo tâm lý chiến. Trên áo là logo của chương trình Chiêu Hồi.



Những du kích phản bội nhận tiền thưởng sau khi dẫn binh lính Mỹ-ngụy tới kho vũ khí bí mật.

Hoạt động của nó trong những vùng giải phóng ở miền Nam và miền Bắc chủ yếu là kích động bất ổn, xúi giục, tung tin thất thiệt, tuyên truyền chống CNXH và CNCS, bôi nhọ chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, vu khống các nhà lãnh đạo của VNDCCH, bịa đặt hoặc bóp méo tình hình trong Nam, kêu gọi lật đổ chế độ, ca ngợi Mỹ-ngụy, tuyên truyền không trung thực về tình hình xã hội miền Nam, ca ngợi giả dối về hình ảnh một "Hòn ngọc Viễn Đông" "giàu mạnh", "phồn vinh", "thịnh vượng", tuyên truyền về các khái niệm "tự do", "dân chủ", "nhân quyền" theo định nghĩa và định hướng của Hoa Kỳ....

Các hoạt động này của nó chủ yếu bằng đài phát thanh "Tiếng nói Tự do", "Mẹ Việt Nam", "Gươm thiêng Ái quốc" (1965), "Tiếng nói Nam Bộ", "Tiếng nói Khmer" và "Mặt trận Dân tộc Đông Dương". Riêng 2 đài sau hoạt động chủ yếu nhằm gây chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia.


Hình tuyên truyền cho kế hoạch Ấp tân sinh (Ấp đời mới), sau khi kế hoạch Ấp chiến lược bị thất bại và phá sản.

Các cơ quan chiến tranh tâm lý của Mỹ-ngụy hoạt động theo phong cách phát xít chống cộng kiểu Đức Quốc Xã, như Joseph Goebbels, Bộ trưởng Tuyên truyền của Hitler đã tuyên bố đại ý: Sự thật là những gì không đúng sự thật được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, lúc đầu dân không nghe, còn bán tín bán nghi, nhưng lặp đi lặp lại mãi thì dân sẽ tin đó là sự thật.

Tuy nhiên kết quả cuộc chiến Việt - Mỹ và kết quả hạn chế của các hành động chống Nhà nước Việt Nam, lặp đi lặp lại những lời lẽ vu khống của các thế lực phản động từ sau cuộc chiến đến nay đã cho thấy rằng lý thuyết, quan điểm, cách làm này của Đức Quốc Xã và Mỹ-ngụy là không có nhiều hiệu quả.


Bích chương tuyên truyền chống cộng của phát xít Đức


Bích chương tuyên truyền của Đức Quốc Xã năm 1918, vẽ hình một người thuộc giai cấp vô sản đang chuẩn bị ném quả bom vào một thiên thần da trắng tóc vàng, được cho là ám chỉ chủng tộc "thượng đẳng" Aryan. Dòng chữ ghi: Bolshevik mang đến chiến tranh, thất nghiệp và đói khổ.

Các cơ quan liên quan đến ngành tâm lý chiến bao gồm:

Cục chính huấn, công tác chính của nó là tẩy não và nhồi sọ những thanh niên bị bắt lính. Cơ quan này đã sáng tác nhiều bài hát quân đội (ví dụ: "Hàng ngàn cánh tay đưa lên", "Giặc từ miền Bắc vô đây"), bắt chước thể loại nhạc hùng ca của Việt Minh, để "lên dây cót" tâm lý, kích động tinh thần quân lính và đưa họ ra chiến trường chiến đấu cho chính phủ Mỹ, đánh thay và đỡ đạn cho quân đội viễn chinh Mỹ.

Cục xã hội và Cục quân tiếp vụ, các chuyên viên và các nha tuyên úy lo việc "ru ngủ" các tầng lớp xã hội, bao gồm cả tôn giáo. Cung cấp đô la hoặc hàng hóa như thuốc lá, bơ, sữa cho binh lính và gia đình ở giá thấp hơn giá thị trường. Mở các hoạt động ngụy tạo từ thiện, bố thí tiền bạc và vật chất để quảng cáo, tiếp thị, quảng bá hình ảnh Diệm-Thiệu và "người bạn lớn Hoa Kỳ".

Trường Đại học Chiến tranh Chính trị: Đào tạo các kỹ năng tẩy não, nhồi sọ của chiến tranh tâm lý kiểu Mỹ. Tổ chức hội luận, nghiên cứu kỹ thuật tẩy não, nhồi sọ các thanh niên miền Nam bị bắt lính, và chương trình tẩy não, nhồi sọ trong các quân trường. Thành lập từ năm 1956 dưới tên Trường Quân báo Tâm lý chiến Cây Mai. Năm 1964 đổi tên thành Trường Chiến tranh Chính trị. Năm 1966 đổi tên thành Trường Đại học Chiến tranh Chính trị và dời lên Đà Lạt. Trường đào tạo được 6 khóa sĩ quan rồi bị giải tán sau ngày 30/4/1975.


Truyền đơn ngày 4/20/1968


Truyền đơn SP-782


Truyền đơn 2310

1. Tố Cộng

Trong chiến dịch Tố Cộng, ngoài những đàn áp bạo lực, bỏ tù, lưu đày, ám sát, chặt đầu để tiêu diệt người cộng sản, Mỹ-Diệm cũng thực hiện chiến dịch chiến tranh tâm lý quy mô lớn để mị dân trong một số khu vực. Tuy nhiên, chính những đồng bào không nằm trong hàng ngũ kháng chiến đã góp công rất lớn vào cuộc đấu tranh chống chiến tranh tâm lý.

Tại Quảng Trị, ngụy quyền chuẩn bị một bản danh sách "tội ác cộng sản" rồi bắt ông Lê Chí Khiêm trong ban trị sự hội Phật học lên đọc. Trước khi đọc ông nói: "Bản này không phải tự tay tôi viết ra, mà nói đây la tộc ác của cộng sản thì chính tôi chưa bao giờ nghe và chưa bao giờ thấy, nhưng người ta viết ra bảo tôi đọc thì tôi xin đọc để bà con nghe".

Hình tượng hơn là chuyện ở Phan Rí (Bình Thuận). Khi một quận trưởng muốn mị dân, cho tổ chức một cuộc tranh luận giữa ông ta với người dân địa phương về những cái tốt và cái xấu giữa phía kháng chiến và phía Mỹ-Diệm, ông Bộ Gạch người dân tộc Chăm đã đứng lên nói một điều không nằm trong các giáo trình tâm lý chiến mà người quận trưởng đã chuẩn bị từ trước: "Các ông có chín cái tốt và một cái xấu, còn cộng sản có chín cái xấu và một cái tốt. Các ông cái gì cũng tốt nhưng ở với dân xấu quá. Cộng sản cái gì cũng xấu nhưng ở với dân quá tốt. Các ông có làm gì đi nữa, lòng dân vẫn theo cộng sản và cuối cùng cộng sản vẫn thắng."

Trong một đêm Tố Cộng ở Chợ Lớn, một ông cụ đã nói: "Việt Cộng có nhiều cái xấu: Súng xấu, đạn xấu, quần áo xấu, chỉ có cái tốt là trong kháng chiến hồi đánh Tây đã sống chết để bảo vệ dân. Các ông thì có nhiều cái tốt: Súng tốt, xe cộ tốt, quần áo tốt, chỉ có cái xấu là giật của dân thôi".

Người dân còn đặt nhiều câu hỏi làm cho những kẻ chỉ đạo các cuộc Tố Cộng ấp úng khó trả lời như: "Các ông nói cộng sản độc tài, nhưng chúng tôi không thấy cộng sản độc tài vì trong kháng chiến cộng sản kêu gọi đánh Tây giành độc lập mới có hòa bình, dân đói họ kêu gọi sản xuất để được no ấm.", "Các ông nói cộng sản 'cướp công kháng chiến', nhưng lúc đánh Tây, các ông ở đâu, sao toàn thấy cộng sản?", "Nói quốc gia kháng chiến sao lại đi làm cho Tây?".

Những câu hỏi đúng sự thật như vậy làm cho ban tổ chức thường xuyên bị bí không trả lời được. Nhiều lần họ phải giải tán lớp học. Một người chủ tịch Hội đồng chỉ đạo tố cộng cấp trung ương ngụy quyền đã phải nói: "Đây là một thất bại lớn vì phong trào chất vấn rộng rãi, hướng dẫn viên của chúng ta không trả lời được".


Hình truyền đơn SP-1352A - mặt trước


Truyền đơn ATF-088-71 - mặt trước và sau

2. "Thảm sát ở Huế"

Ngoài chiến dịch chiến tranh tâm lý rộng lớn kể trên của Mỹ-Diệm, sau này Mỹ-Thiệu cũng thực hiện một chiến dịch chiến tranh tâm lý quy mô lớn sau trận đánh 25 ngày ở Huế trong sự kiện xuân Mậu Thân 1968.

Sau trận chiến 25 ngày, Mỹ-ngụy trong một sự kiện ở Huế mà nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân và nhiều cư dân Huế gọi là sự kiện "Hậu Mậu Thân" đã lùng sục trả thù, giết hại. Người dân Huế nào có thiện cảm, có giúp đỡ Mặt Trận dù chỉ là vài lon gạo, vài đồng tiền dành dụm, hay cả nhà có 1 người nào đó theo cách mạng, đều bị đem ra trả thù, hành quyết. Họ đã tẩy trắng Huế bằng bom đạn trong nỗ lực chiếm lại thành phố. Và sau khi đã chiếm lại thì họ ngăn chặn phóng viên vào tác nghiệp, đồng thời mở cuộc tổng trả thù quy mô lớn.

Một nhân chứng ở Huế, chị Nguyễn Thị Hoa khi trả lời phỏng vấn trong phần 7 của loạt phim tài liệu 13 phần Vietnam: A Television History (Việt Nam: Thiên lịch sử truyền hình), do đài PBS (Mỹ), WGBH Boston (Mỹ), CIT (Anh), Antenne-2 (Pháp) và LRE Production (Pháp) sản xuất và phát hành, đã cho biết: "Bắt đầu là chúng nó (Mỹ) dùng phi pháo. Chúng dội pháo vào khu vực chúng tôi sinh sống, san bằng nhà cửa, cây cối. Chúng bắn pháo vào nhà những khu vực quanh đó. Những nhà này bán xăng dầu nên khi pháo bắn thì cháy trụi. Tất cả người già, trẻ nhỏ, phụ nữ lánh nạn ở đây đều bị thiêu sống."

Sau đó, Mỹ-ngụy gom lại xác những nạn nhân chiến tranh lại, trong đó phần lớn là những người dân bị chết bởi bom đạn Mỹ, những người dân bị chính họ tàn sát trả thù, những thi thể chiến binh Giải phóng và lính ngụy, cũng như những cộng sự của Mỹ, gom lại hết, rồi quay phim và chụp hình tuyên truyền giả dối đó là "nạn nhân thảm sát của Việt Cộng", thậm chí sau đó một số kẻ viết thuê ở Sài Gòn còn nâng lên thành "hành quyết", "chôn sống", con số thì có những bài báo phóng đại lên đến "hàng triệu".

Sau khi chiếm Huế, Mỹ-ngụy phong tỏa khu vực, ngăn cấm tất cả phóng viên nào muốn vào Huế kiểm chứng các "hố chôn tập thể". Sau khi đã dàn dựng xong, họ mới cho các phóng viên báo chí ngụy quyền, hoặc chống cộng, hữu khuynh vào đưa tin, làm phóng sự về "tội ác Việt Cộng", rồi sau đó mới hoàn toàn cho phép các phóng viên quốc tế, trung lập vào tác nghiệp.

Nhà văn Trần Thị Thu Vân (Nhã Ca) sau đó được chỉ đạo viết tiểu thuyết "Giải khăn sô cho Huế" theo phong cách tự truyện, một dạng "hồi ký ma" được hư cấu từ trí tưởng tượng phong phú của một nhà văn tâm lý chiến chuyên nghiệp lĩnh lương Mỹ để tuyên truyền bôi nhọ lực lượng kháng chiến.

Chiến dịch chiến tranh tâm lý này tuy đã thành công lừa gạt được một bộ nhận nhỏ, nhưng không lừa dối được nhiều người Việt Nam và người dân thế giới, bởi vì:

  • Chỉ nói suông, không bằng chứng, không có hình chụp, thước phim nào có những người lính Giải phóng trong đó. Trong tất cả các hình ảnh về tội ác chiến tranh ở Việt Nam thì những bức ảnh lính Mỹ-ngụy gây tội ác nào mà có lính Mỹ-ngụy trong đó thì được công nhận là tội ác Mỹ-ngụy. Còn những bức ảnh không có lính Mỹ-ngụy trong đó thì bị các cơ quan tâm lý chiến tuyên truyền thành "tội ác cộng sản". Tất cả các bức ảnh được giới tâm lý chiến Sài Gòn và các thế lực chống cộng tuyên truyền xưa nay đều không có bất kỳ 1 hình nào có người lính Giải phóng trong đó, chỉ thấy nạn nhân cùng những lời bình chụp mũ, gán tội vô căn cứ, không bằng không chứng và giấu đi ai là kẻ thủ ác thật sự.
  • Không hợp thường lý và không có tiền lệ. Quân Giải phóng sống trong dân, sống nhờ vào dân, được dân nuôi giấu, che chở, thảm sát dân chính là tự sát, là tự tuyệt đường sống của quân mình.
  • Trái ngược với luật pháp Việt Nam, các nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng cũng như chính sách của Nhà nước, hay các tuyên thệ, quân luật, cách làm, các hành động lâu nay của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chiến lược của Việt Nam là chiến tranh nhân dân, với phương châm "quân với dân như cá với nước". Mỹ-ngụy đã phải xây các trại tập trung như Ấp chiến lược để gom dân, dồn dân vào đó để tách dân ra khỏi quân, "tát nước bắt cá". Các chỉ thị từ trên xuống quân đội thường xuyên nhấn mạnh "phải dựa vào dân". Vì vậy những hành động gây tai tiếng, làm xấu hình ảnh trước nhân dân và dư luận quốc tế là không hợp lý. Thực tế trước và sau chiến dịch Mậu Thân thì sự ủng hộ của người dân đối với cách mạng vẫn vậy không lay chuyển.
  • Không phù hợp với các bằng chứng hay những lời kể từ các nhân chứng ở hiện trường, cũng như không được nhiều người trên thế giới tin tưởng, đề tài này không được các học giả xem là một đề tài nghiêm túc để đưa vào các tác phẩm, công trình nghiên cứu của họ. Nói chung thông tin này không phù hợp với các nguồn tin, sách báo, tài liệu quốc tế.
  • Xưa nay có nhiều phóng viên chiến trường như David Duncan, Robert Shaplen, nhà báo, nhà nhiếp ảnh người Pháp Marc Riboud, nhân viên Bộ quốc phòng Hoa Kỳ Townsend Hoopes và các nhà nghiên cứu độc lập như tiến sĩ Noam Chomsky, nhà kinh tế học Edward Herman, giáo sư tiến sĩ Gerath Porter, tiến sĩ Alje Vennema, sử gia Stanley Karnow, cựu phóng viên Bưu báo Washington (Washington Post) Don Lux, giáo sư sử học Larry Berman v.v. đều đã góp phần vạch trần chiến dịch thông tin bôi nhọ này của Mỹ-ngụy.



Cựu chiến binh người Huế Hoàng Phủ Ngọc Tường, là nhân chứng trong mặt trận Huế năm Mậu Thân 1968, trả lời phỏng vấn về "cuộc thảm sát" này.


Truyền đơn dùng tiền bạc và lợi ích vật chất để chiêu dụ quân Giải phóng.


Truyền đơn 2990 - mặt sau. Chức vụ càng lớn, tiền thưởng càng nhiều.


Truyền đơn 2992


Truyền đơn 2993


Truyền đơn 7-377-68


Truyền đơn 7-617-68


Truyền đơn JUSPAO số 2500. Lưu ý các số tiền in trên truyền đơn là theo vật giá thời đó, nếu tính theo giá ngày nay thì đó là những số tiền lớn hơn.

(Những phần tiếp theo ở bên dưới, trong phần bình luận)

Sticky post

Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 (kỳ 3)

, , , ...

----------------------------------------------

----------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 (kỳ 2)

, , , ...

-------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 (kỳ 1)

, , , ...

-------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Cuộc xâm lược của Mỹ ở Việt Nam - L.V. Kotov

, , , ...

-------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Lịch sử hình thành liên bang Hoa Kỳ và những điều không dễ nói

, , , ...

-------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Phim tài liệu Đồng khởi - Bến Tre

, , , ...

------------------------------------------------------

------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

The Cu Chi Tunnels - Địa đạo Củ Chi - Phim tài liệu do người Mỹ sản xuất

, , , ...

--------------------------------------------------------

--------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Hùng ca Điện Biên Phủ trên không và những thế cờ chiến lược

, , , ...

--------------------------------------------------------

--------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Hát Cho Đồng Bào Tôi Nghe, phong trào đấu tranh chống Mỹ của sinh viên học sinh Sài Gòn

, , , ...

---------------------------------------------------

---------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Bầu cử Tổng thống Mỹ

, , , ...

-------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Đôla Mỹ, Cục Dự trữ liên bang và những điều bí mật

, , , ...

-------------------------------------------

-------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Việt Nam Thống Nhất - Phim tài liệu do Nhật Bản sản xuất

, , , ...

-------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Ý nghĩa lịch sử của ngày 30/4/1975

, , , ...

-------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thắng lợi vĩ đại, bài học lịch sử - Đại tướng Võ Nguyên Giáp

, , , ...

-------------------------------------

-------------------------------------

Read more...

Sticky post

Quân đội Hoa Kỳ, cỗ máy chiến tranh vô địch trong thế kỷ 21

, , , ...

-------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

9 điểm khác biệt lớn về hai cuộc chiến ở Việt Nam và Triều Tiên

, , , ...

---------------------------------------------------------

---------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Tại sao quan hệ Việt - Trung là quan hệ nhạy cảm?

, , , ...

----------------------------------------------

----------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Cuộc chạy Marathon vũ trang ở châu Á - Thái Bình Dương

, , , ...

-------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Biển Đông và những lá bài lật ngửa

, , , ...

--------------------------------------------------------

--------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Ẩn số Triều Tiên, quá khứ - hiện tại - tương lai

, , , ...

------------------------------------------

------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Chiến tranh năm 1979 và cuộc đấu trí cân não giữa Trung Quốc - Việt Nam - Hoa Kỳ

, , , ...

-------------------------------------------

-------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Nhìn lại sự thật lịch sử để đoàn kết dân tộc Việt Nam

, , , ...

--------------------------------------------------------

--------------------------------------------------------

Read more...

Sticky post

Hồ Chí Minh, một nhân cách lớn của thời đại - Ts. Josephine Stenson

, , , ...

--------------------------------------------------------

--------------------------------------------------------

Read more...

38 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam - thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2013)

, , , ...









40 năm Điện Biên Phủ trên không (18/12/1972) - 68 năm ngày thành lập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam anh hùng (22/12/1944)

, , , ...






Miền Nam chia lửa với miền Bắc kiên cường

, , , ...

Ngay từ những ngày đế quốc Mỹ đánh bom miền Bắc, quân và dân miền Nam rất đau xót, nôn nóng tìm cách trả thù cho đồng bào miền Bắc.

Tháng 8-1965, tôi đang công tác ở Ô Môn (Cần Thơ). Các đồng chí cán bộ xung quanh cơ quan tỉnh chất vấn tôi rất dữ dội về việc “Tại sao giặc Mỹ hỗn láo đánh miền Bắc mà ta trừng trị kém như vậy?”. Số là cũng vào dịp đó, báo chí phương Tây nói nhiều đến tên lửa SAM của Liên Xô giúp ta. Chúng đề cao tên lửa này, chắc để nói máy bay chúng bị rớt là do tên lửa chứ không phải từ tầng tầng lớp lớp vũ khí phòng không các loại của ta. Lý lẽ của anh em ta và lời bà con ta là: “Có tên lửa SAM thì có thể hạ bất cứ máy bay nào, sao cứ để chúng lộng hành như vậy?”. Các đồng chí và đồng bào đâu có hiểu hết khó khăn của chúng ta lúc đó, song tấm lòng thì thật đáng quý.

Cuối năm 1965, Sư đoàn 9 đã tổ chức trận pháo kích vào sân bay Biên Hòa tiêu diệt hàng trăm máy bay chiến đấu của Mỹ. Khẩu đội pháo do chiến sĩ Mai Tôi phụ trách đã vừa đánh vừa động viên nhau: “Hãy trả thù cho đồng bào miền Bắc”. Quân và dân miền Nam muốn ngăn chặn tội ác của giặc Mỹ ngay tại dinh lũy của tội ác.

Cuối năm 1966, máy bay Mỹ đánh phá Hà Nội rất ác liệt. Quân và dân miền Nam rất lo ngại. Từ căn cứ Vườn Thơm (Long An), Lê Minh Xuân, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bình Tân (Sài Gòn - Gia Định) quyết định mời Nguyễn Văn Kịp (Đồng Đen) phụ trách lực lượng biệt động F100 của nội đô, bàn cách đánh sân bay Tân Sơn Nhất. Anh nói:

- Từ đây bọn chúng bay ra Bắc giết hại đồng bào ta. Vậy mà ta để chúng yên ổn, ngang nhiên phá hoại? Phải đánh dập đầu chúng ngay tại sân bay Tân Sơn Nhất.

Thế là một trận đánh “Trả thù cho Hà Nội” đã được tổ chức và đánh thắng. Hàng trăm máy bay Mỹ bị tiêu diệt cùng bọn phi công và lính bảo vệ. Trận đánh ấy đã để lại một hình ảnh đẹp: một chiến sĩ của chúng ta là Nguyễn Văn Mao dựa vào chiếc máy bay đã bị tiêu diệt để đánh trả kẻ thù đang vây chặt. Anh hy sinh, nhưng không gục xuống mà vẫn dựa lưng vào chiếc máy bay, sừng sững trước mặt kẻ thù. Câu chuyện ấy đã đến với Lê Anh Xuân và trở thành bài thơ bất hủ “Dáng đứng Việt Nam.



Từ đầu tháng 12-1972, quân và dân miền Nam rất nóng lòng trước những trận B52 đánh vào Hà Nội ngày càng ác liệt. Chúng tôi ở trong này đã chịu bao trận B52, hiểu rõ sự tàn bạo của những loạt bom Mỹ đối với rừng núi, xóm làng ở miền Nam. Song chúng tôi chưa thể hình dung được: phố phường chật hẹp, nhân dân đông đúc ở Hà Nội sẽ bị đau thương tang tóc to lớn đến mức nào, nếu những loạt B52 đổ xuống. Và rồi, từng ngày, từng ngày nỗi đau của chúng tôi càng lớn bởi giặc Mỹ càng leo thang. Quân và dân miền Nam ở bất cứ đâu đều tổ chức các trận đánh trả thù cho miền Bắc, cho Hà Nội.

*
* *

Từ cuối năm 1972, chúng tôi đã được thông báo nội dung cơ bản của Hiệp định Paris mà ta và Mỹ sắp ký kết. Cuộc chiến tranh chống Mỹ khá ác liệt nên ai cũng mong có đôi lúc “thư giãn” để chuẩn bị đi tiếp đến giai đoạn giành chiến thắng hoàn toàn. Chúng tôi nghiên cứu kỹ từng điều khoản của hiệp định dự thảo và rất vui về thắng lợi to lớn của ta trên bàn hội nghị. Chúng tôi thán phục các đồng chí ở bàn đàm phán Paris.

Thế rồi, được tin: phía Mỹ đã lật lọng, bày vẽ thêm nhiều điều khoản, kéo dài ngày ký Hiệp định Paris. Chúng tôi khá buồn, bởi một khi hiệp định chưa ký thì cuộc chiến tranh sẽ ngày càng ác liệt. Chúng ta phải giành thắng lợi to lớn hơn nữa trên chiến trường mới buộc kẻ thù ký hiệp định. Bom đạn ngày càng dữ dội, lại có thêm nhiều đồng bào, đồng chí thương vong. Chiến dịch Nguyễn Huệ đã mở ra một vùng giải phóng mới ở Lộc Ninh, Bù Đốp... song những trận đánh ác liệt ở Phước Long, An Lộc, Đường 14... vẫn kéo dài. Những đơn vị xe tăng của quân giải phóng đã xuất hiện trên miền Đông Nam bộ...

Miền Nam tiếp tục chiến đấu kiên cường và nóng lòng chờ đợi ngày ký kết hiệp định. Đồng bào miền Nam lại xót xa khi được tin: kẻ địch đánh phá rất ác liệt trên miền Bắc. B52 kéo cả đàn vào Hà Nội. Thế là giặc Mỹ không muốn ký kết hiệp định lập lại hòa bình. Chúng muốn buộc chúng ta trả giá cho tự do, yên bình. Hà Nội đánh mạnh lập nên “Điện Biên Phủ trên không”. Miền Nam đánh mạnh mở những vùng giải phóng rộng lớn. Chúng tôi biết có thể Hiệp định Paris sắp được ký và đồng nghĩa với sự đánh phá ác liệt của kẻ thù trước khi đặt bút ký hiệp định. Tin báo địch đánh phá dữ dội miền Bắc cùng với những trận B52 dội xuống căn cứ cách mạng miền Nam. Riêng tôi đã được nghe đài báo tin: máy bay Mỹ thả bom, bắn rốc két vào số 35 và 37 Lý Quốc Sư, Hà Nội. Gia đình tôi lại ở số 33A. Có ai hy sinh trong trận bom này không? Tôi ôm mặt bàng hoàng, ra bìa rừng ngồi lo lắng. Các anh trong ban biên tập gọi tôi đến phân công viết bài chia sẻ đau thương với Hà Nội và nêu quyết tâm của quân và dân miền Nam đánh mạnh để trả thù. Tôi ngồi vào chiếc bàn tre. Nhà bên cháu bé bập bẹ hát bài mà chúng tôi yêu thích:

...Ta muốn vươn lên bay về Hà Nội, dù có hy sinh tay súng không rời...

Tôi vừa khóc, vừa viết ngay trong đêm bài tùy bút “Hà Nội ơi, có chúng tôi đáp lời...”, bài được đăng ngay trên tuần báo Giải Phóng số đầu tháng 1-1973. Báo Giải Phóng được gửi đến các chiến trường, được các chiến sĩ và đồng bào hưởng ứng. Có một chuyện cảm động: một cán bộ tuyên truyền từ miền Tây Nam bộ lên R học (sau này anh là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh tận cùng Tổ quốc) đã khóc khi đọc bài báo đó. Anh lấy sổ tay chép toàn bài báo và giữ cho đến bây giờ...

Từ trước đến mãi sau này, đặc biệt từ năm 1972, quân và dân miền Nam với những trận đánh vào Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, vào Sài Gòn... đã thực hiện lời thề: “Giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc”. Bây giờ và mãi sau này, chúng tôi chẳng bao giờ quên được hình ảnh những chiến sĩ, đồng bào quây quần bên chiếc radio, đã nhảy lên hoan hô quân và dân Hà Nội, hoan hô miền Bắc bắn hạ những chiếc B52. Thế rồi có tin từ khoảng cuối tháng 1-1973 sẽ ký kết Hiệp định Paris. Chúng tôi vui mừng chờ đợi - kể cả chờ đợi sự trả thù ác liệt của Mỹ. Ai cũng biết, trước khi Kít-sinh-giơ hạ bút ký Mỹ sẽ dội bom đánh phá ác liệt vào vùng giải phóng chúng ta để đỡ tức cho thất bại này. Các cơ quan đơn vị củng cố hầm hào, không cho anh em đi xa công sự. Các lớp học đêm, các bữa ăn cũng ở dưới hầm lớn có nắp. Tất cả chuẩn bị cho một thắng lợi to lớn nhưng sẽ phải trả thêm máu.

Đêm 26-1-1973, lệnh báo động sắp có máy bay B52 đánh vùng giải phóng. Chúng tôi cho tất cả anh em xuống hầm. Hàng đàn máy bay B52 liên tiếp đánh vào khu căn cứ trong đó có Ban tuyên huấn Trung ương Cục. Nhiều căn hầm của Đài phát thanh Giải Phóng, Thông tấn xã Giải Phóng... bị sập. Lại có thêm anh em hy sinh.

Chúng tôi biết: Hiệp định sắp được ký kết. Kẻ thù đang điên cuồng say máu cho đến phút cuối cùng. Và sáng 27-1-1973, Đài phát thanh Giải Phóng báo tin Hiệp định Paris được ký kết. Một “Điện Biên Phủ trên không” của Hà Nội chưa đủ làm cho chúng tỉnh ngộ. Phải có nhiều “Điện Biên Phủ trên không” và dưới đất ở miền Nam.

Cả cơ quan nhảy lên khỏi miệng hầm sung sướng reo hò. Lúc đó chúng tôi tin hòa bình sẽ được lập lại, sẽ không còn chiến tranh và ai cũng tin mình đã sống đến giờ phút hòa bình.

Chúng tôi được lệnh di chuyển cơ quan từ rừng núi biên giới về vùng giải phóng Tân Biên (Tây Ninh). Trên đường trong vùng giải phóng đã có xe hơi, xe gắn máy, xe bò kéo đi lũ lượt giữa ban ngày. Đồng bào từ các nơi tránh giặc cũng về vùng giải phóng cất nhà giữa đồng trống, ở các trảng tranh. Quân đội Sài Gòn rút chạy khỏi vùng giải phóng. Con đường vận chuyển súng đạn, lương thực đã có thể đi từ Hà Nội đến Lộc Ninh, Thiện Ngôn rồi theo đường sông đến tận đồng bằng sông Cửu Long.

Huyện Tân Biên - trong đó có sân bay Thiện Ngôn - được giải phóng. Theo quy định của Ủy ban Liên hiệp bốn bên, vùng giải phóng Xa-mát sẽ xây dựng một chốt của ủy ban quốc tế và sân bay Thiện Ngôn sẽ trở thành nơi trao trả tù binh của hai bên.

Hiệp định Paris mới được thi hành trên đất Việt Nam. Vùng giải phóng Campuchia vẫn còn bom đạn ác liệt. Các cơ quan đơn vị của ta đóng gần biên giới lại chịu mất mát, hy sinh. Chúng tôi vui vì đồng bào miền Bắc không còn bị máy bay Mỹ tàn phá. Vượt qua bom đạn Mỹ, miền Nam đã nhận thêm súng đạn, lương thực và cả trà, thuốc lá từ miền Bắc gửi vào.

Nhân dân miền Nam hiểu rất rõ ràng: sự phối hợp chặt chẽ giữa những trận “Điện Biên Phủ” ở miền Nam và “Điện Biên Phủ trên không” của Hà Nội đã buộc kẻ thù phải ký Hiệp định Paris. Quân và dân miền Nam đã tiếp tục giáng cho kẻ thù nhiều trận “Điện Biên Phủ” nữa để đi đến toàn thắng.

ĐINH PHONG
04/12/2012

65 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7)

, , , ...

Tưởng nhớ những anh hùng liệt sĩ.

Dân tộc anh hùng. Những đứa con anh hùng.

Đảng triển khai Nghị quyết ở Bắc Mỹ

, , , ...



Một phái đoàn của Đảng Cộng sản Việt Nam đang ở Bắc Mỹ nhằm nắm tình hình công tác xây dựng Đảng và công tác vận động quần chúng, cộng đồng ở ngoài nước. Thông Tấn xã Việt Nam cho biết dẫn đầu đoàn là một ủy viên trung ương, ông Đào Ngọc Dung, cũng là Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương.

Tháp tùng ông Dung còn có các cán bộ lãnh đạo của Văn phòng trung ương Đảng, Đảng ủy ngoài nước và Thanh tra chính phủ. Đoàn đã đến Canada từ ngày 4/6 và đã đến Mỹ từ ngày 8/6 với các trạm dừng chân ở New York, Washington và San Francisco cho đến ngày 14/6.

Chỉnh đốn Đảng

Theo Thông tấn xã Việt Nam, nhiệm vụ trọng tâm trong chuyến du thuyết của phái đoàn này đến Mỹ và Canada là tuyên truyền phổ biển Nghị quyết Trung Ương 4 về xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Bên cạnh đó phái đoàn của ông Dung cũng sẽ nghe báo cáo về công tác xây dựng Đảng và công tác vận động cộng đồng người Việt ở hai quốc gia này.

Tại Canada, phái đoàn đã có buổi làm việc với toàn thể đảng viên thuộc Đảng bộ các bộ phái bộ Việt Nam tại nước này và gặp gỡ nói chuyện với cộng đồng Việt Kiều ở Toronto. Ông Dung đã nhấn mạnh với các đảng viên tại Canada về tầm quan trọng của Nghị quyết trung ương 4 và yêu cầu các đảng viên phải quán triệt.

Ông Lê Văn Thái, ủy viên Thường vụ của Đảng ủy Khối các cơ quan trung ương đã có bài thuyết trình về Nghị quyết này vốn có tên gọi “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Giải thích lý do Đảng cho ra đời Nghị quyết này, ông Thái cho biết do Đảng luôn xem công tác xây dựng Đảng là cực kỳ quan trọng, theo tường thuật của Thông tấn xã Việt Nam. Lý do thứ hai là do nhiệm vụ chính trị vốn ngày càng nặng nề, khó khăn nên đòi hỏi Đảng phải nâng cao sức chiến đấu. Thứ ba là trong Đảng hiện đang có nhiều yếu kém, tiêu cực, phức tạp đang gây mất niềm tin trong đảng viên và nhân dân, ông Thái thừa nhận. Lý do cuối cùng của Nghị quyết trung ương 4, theo ông Thái, là sự chống phá sự nghiệp đổi mới của các thế lực thù địch.

Chính vì bốn lý do nêu trên mà Đảng Cộng sản Việt Nam coi việc xây dựng chỉnh đốn Đảng là có ý nghĩa sống còn đối với Đảng cũng như chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Ông Thái cũng nhắc lại ba nội dung chính của Nghị quyết trung ương 4 để các đảng viên ở Mỹ và Canada quán triệt: đẩy lùi suy thoái về tư tưởng, đạo đức của đảng viên; nâng tầm của các lãnh đạo để đáp ứng được việc hội nhập quốc tế và xác định rõ trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu các cấp ủy Đảng, chính quyền.

Một Việt kiều ở Toronto, Tiến sĩ Phạm Ngọc Cương, viết trên mạng rằng ông được dự buổi trò chuyện của ông Đào Ngọc Dung với một số người Việt. Ông Cương nói buổi gặp để lại “cả vị ngọt và đắng”. “Ngọt khi thấy chính quyền Việt Nam đã nhìn ra nhiều vấn đề và đang tìm cách giải quyết nó…Đắng vì cách giải quyết của Việt Nam hôm nay vẫn không phải là thật triệt để, tận gốc vấn đề,” theo ông Cương.

Tiến sĩ Nguyễn Đài Trang (Julie Nguyễn) nói về Bác Hồ trong chương trình Talk Vietnam

, , , ...

Ts. Nguyễn Đài Trang (Julie Nguyễn, Việt kiều Canada) nói về Bác Hồ và quyển sách Ho Chi Minh: The Heart and Mind of a Patriot (Hồ Chí Minh: Tâm và tài của một nhà yêu nước) của cô trên chương trình Talk Vietnam.

Chương trình Talk Vietnam là một chương trình tiếng Anh với sự biên tập và dẫn chương trình của MC Trần Thùy Dương (Việt kiều Mỹ). Cô tốt nghiệp đại học ở Massachusetts, Hoa Kỳ, và từng công tác ở Pháp và Ấn Độ trước khi về VN làm việc.

Chương trình này là một cầu nối văn hóa giữa Việt Nam và nước ngoài, giúp khán giả hiểu rõ hơn một số quan điểm, góc nhìn đa chiều của người nước ngoài, trong đó có những người nước ngoài gốc Việt. Ngòai ra chương trình cũng góp phần giúp khán giả học tiếng Anh (vừa nghe nói vừa đọc subtitles).





Những Chuyện Không Thể Quật Ngã Bạn Càng Làm Bạn Mạnh Hơn - What Doesn't Kill You Make You Stronger

, , , ...

Đây là bài hát rất ăn khách của Mỹ hiện đang đc phát sóng thường xuyên trên các chương trình MTV và các đài phát thanh ở Mỹ, do ca sĩ Kelly Clarkson thể hiện rất thành công, nếu không nói là tuyệt vời.

Càng ý nghĩa hơn khi ban biên tập và nhóm thực hiện clip MTV này đã chọn bối cảnh TPHCM của Việt Nam, với những diễn viên quần chúng mặc áo đỏ sao vàng, làm bối cảnh đầu tiên thể hiện trên bài hát.

Một Việt Nam đã chịu gần 9 triệu tấn bom Mỹ, nhiều gần gấp 3 lần tổng số bom đc các phe rải xuống cả thế giới trong 2 cuộc Thế chiến, và hàng chục triệu lít chất độc hóa học mang tính diệt chủng. Một Việt Nam đã chịu bao thế kỷ chiến tranh tàn phá và bao vây cấm vận từ phương Tây và phương Bắc. Một Việt Nam đã vươn mình đứng dậy sau 20 năm thật sự bình yên (1992-2012)... Càng làm cho clip này thêm có thêm ý nghĩa nhân văn và có tác dụng động viên khích lệ tuyệt vời cho bất cứ ai đã từng chịu nhiều đau khổ hoặc đang chưa hài lòng với cuộc sống hiện tại.

Clip này đc channel Youtube chính thức của ca sĩ Clarkson upload từ cuối năm 2011 và đến nay đã có hơn 30 triệu lượt xem.



P/s: cô nàng hồng hồng nên nghe bài này thường xuyên

Đầu bếp cờ vàng và những món “hận”

, , , ...

Đầu bếp cờ vàng và những món “hận”

Xichloviet

Ngồi ghế xa lông, đọc báo mạng, tìm những tin tức nào hợp khẩu vị dân cờ vàng, xào nấu lại, đặt cho nó một cái tên, thế là xong. Đó chính là công việc hàng ngày của những anh đầu bếp chống cộng cờ vàng. Công việc này vừa giúp cho các anh xả xú bắp hận thù vừa có tiền bỏ túi, vừa được tiếng dấn thân làm chính trị lại vừa được tiếng “phục vụ cộng đồng”.

Dĩ nhiên đối tượng khách hàng của những anh đầu bếp này là những người chống cộng, nhưng đầu bếp nào cũng rất mong muốn nhũng món ăn của mình được người dân trong nước thưởng thức. Thực tế những món ăn của những đầu bếp này chỉ hạp khẩu vị những anh cờ vàng thứ thiệt chống cộng dai dẳng 37 năm qua và hầu hết là những anh già đã rất gần với cái quan tài.

Dân cờ vàng ăn kiêng, kiêng những món ca ngợi VN, kiêng những món “có lợi cho CS”. Khẩu vị của các anh rất đơn điệu chỉ cần có mùi chống cộng, phải có vị “hận”, xào nấu làm sao cho nó kích thích được sợi dây thần kinh cay cú hận thù, để hả hê vì chọt được CS là ngon rồi.

Không ai có thể đếm hết được những đầu bếp chuyên chế biến thức ăn cho cờ vàng, nhưng thợ giỏi thì không nhiều. Cùng món “tôn giáo” nhưng mỗi anh chế biến một kiểu. Có anh chế biến để hạp khẩu vị con chiên, có anh nêm nếm cho nó hạp cái vị cay cú cờ vàng và thế là đủ để ăn khách. Cũng món này nhưng có anh bị tổ trác, xào nấu nhạt nhẽo lại quá hưng phấn nêm nếm quá tay cho nên cứ thối um cả lên, mà ngay cả cờ vàng cực đoan thứ thiệt cũng không ngửi nổi.

Làm đầu bếp cờ vàng không cần có học nhưng phải có khiếu. Không cần có học nhưng nếu mang bằng cấp học vị ra khoe thì dễ dụ khách hơn. Ở chế độ VNCH trước đây dù có đi làm ma cô nhưng sang đến Mỹ xưng danh giáo sư cũng chẳng sao, chẳng ai kiểm chứng được, chẳng ai phạt vạ mà lo. Trong chế độ VNCH dạy học lớp 6 là đã được gọi là giáo sư rồi, xưng danh giáo sư chẳng ai biết là giáo sư lớp 6 trường làng hay giáo sư đại học.

Hầu hết những đầu bếp cờ vàng còn kiếm ăn được ở hải ngoại đến nay là những người có khiếu và thường xuyên phải rèn tay nghề. Cái bằng tiến sĩ, cái danh giáo sư anh này treo lên đầu anh kia chỉ để trang trí và lòe thiên hạ, hoàn toàn không cần thiết cho nghề nghiệp. Bởi vì nghề nghiệp chỉ là ăn cắp thông tin và sử dụng cái kiến thức google là đủ. Rất nhiều thợ nấu thành danh không cần học vị, và rất nhiều đầu bếp học vị đầy người mà lý luận thì chó ngửi cũng không nổi vì thích nói láo, và nhất là có cái tâm đểu, cái lòng dạ lưu manh.

Mới đây các đầu bếp Phạm Cao Dương và Mai Thanh Truyết cũng treo trên người cái nhãn giáo sư, tiến sĩ để hội luận tung hứng với nhau về món “đại họa mất nước” . Các đầu bếp này sau khi lấy tin từ truyền thông trong nước về những vụ ngộ độc thực phẩm, những thực phẩm độc hại nhập từ Trung Quốc rồi tán ra rằng chính quyền VN đang làm ngơ cho Trung Quốc xâm nhập thực phẩm độc hại giá rẻ vào VN để đầu độc dân Việt, hậu quả của nó phải đến vài thế hệ mới ép phê, lúc đó thì Tàu thôn tính VN mà không cần tốn đạn. Những thực phẩm này không thể vào Mỹ được vì Mỹ có sự giám sát chặt chẽ của FDA cho nên những thực phẩm này lại quay về VN. Những thực phẩm này chỉ hại dân chứ không thể hại cán bộ đảng viên CS được vì hàng năm VN nhập trên dưới 1 tỷ đô la thực phẩm từ Mỹ và Canada để phục vụ riêng đối tượng này. Cuối cùng các thợ này cho rằng đó chính là “đại họa mất nước”. Những đầu bếp này còn tán rằng từ khi chế độ CS cầm quyền mới có dịch SAR, dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng. Đó cũng là những “đại họa”. Mai Thanh Truyết cho rằng “nguyên nhân do chính sách cai trị của nhà cầm quyền” (Nguyên văn lời nhấn mạnh của Mai Thanh Truyết )

Toàn bộ nội dung thảo luận của những thợ nấu này chỉ là góp nhặt thông tin từ truyền thông trong nước và phân tích bằng kiến thức google, xào nấu bằng lòng cay cú, rồi đưa suy luận bố láo vào. Chỉ cần một học sinh trung học cũng “hội luận” kiểu này được, chẳng cần gì phải thập thò cái bằng tiến sĩ.. Thế nhưng những kiểu “hội luận” như thế phải khoác áo trí thức rồi phải biết chọn thông tin để ăn cắp, lại còn phải xào nấu cho khéo mới tác dụng và có sức lan tỏa trong cộng đồng cờ vàng, cho nên các đầu bếp này mới có động cơ và có sự khích lệ để hành nghề.

Những “hội luận” bố láo kiểu này thế mà nó được dân cờ vàng khoái chí phát tán nhanh chóng, cũng bởi vì nó đáp ứng được cái mong muốn da diết là hạ bệ CS. Bất cứ ai chọt được CS bất cứ vào chỗ nào thỏa mãn được cái ảo tưởng cờ vàng là được hoan hô.

Dân cờ vàng nghe các thợ này tán như thế mà vẫn hả hê được với nhau chứng tỏ rằng đầu óc cờ vàng đã xuống cấp thê thảm lắm rồi. Khi một não trạng rã rời vì thất vọng và cay cú rất cần có sự kích thích liên tục để làm thỏa mãn cái khát vọng trả thù thì cái não trạng này sẽ sẵn sàng dung nạp mọi thứ mà không cần biết nó có lý hay không. Cái não trạng ấy đã đứt mất cái sợi dây thần kinh lý trí cho nên nó dung nạp như phản xạ. Cũng vì thế cho nên những thợ nấu cờ vàng vẫn có việc làm đều dặn. Đầu bếp cờ vàng kiểu như Phạm Cao Dương, Mai Thanh Truyết có không ít ở hải ngoại, hầu hết là những kẻ đứt dây thần kinh liêm sỉ, xào nấu nấu món ăn để kích thích những kẻ đứt dây thần kinh lý trí, rồi cùng nhau mơ giấc mơ cờ vàng. Cứ thế họ cùng ký sinh lẫn nhau để cùng sống ảo.

Nghề đầu bếp cờ vàng nhìn qua thấy dễ nhưng không phải ai cũng làm được. Thường thì những món ăn được chế biến từ những đầu bếp mang nhãn “giáo sư” “tiến sĩ” đắt hàng hơn dù rằng những đầu bếp này chưa hề về VN bao giờ, chỉ nhìn VN qua cái lăng kính hận thù, chỉ biết cóp nhặt thông tin của truyền thông trong nước. Công thức chế biến của các đầu bếp cờ vàng nhìn qua thì mỗi người một vẻ nhưng điểm chung nhất vẫn chỉ là chôm chĩa thông tin trong nước, xào nấu nguyên liệu của nhau và nhất là phải có mùi chống cộng. Thợ “giáo sư” khi chế biến thức ăn cứ lại phải chú dẫn là lấy nguyên liệu từ thợ “tiến sĩ” thì nó mới ép phê. Anh “tiến sĩ” cũng thế, cũng phải dẫn chứng từ anh “giáo sư”. Món ăn được lấy từ trí thức như thế nên dễ đánh lừa khách hàng vì nó có vẻ như được cầu chứng. Cứ như thế những món ăn chống cộng nó thành một thứ cám heo hổ lốn với nguyên liệu loạn cào cào nhưng cờ vàng ăn hoài mà không biết chán.

Nguyên liệu chính yếu để xào nấu của các đầu bếp cờ vàng là thông tin ăn cắp của truyền thông trong nước, thiếu nguyên liệu này thì đầu bếp cờ vàng thất nghiệp ngay. Sở dĩ không thể dùng từ nào khác từ ăn cắp bởi chẳng bao giờ thấy các thợ này dẫn nguồn của thông tin, cứ như là ta tự đi điều tra không bằng. Đài SBTN chiếu hình ảnh thời sự của các đài VN nhưng xóa đi logo của đài rồi ịn vào cái logo SBTN. Một sự ăn cắp trắng trợn. Thợ nấu cờ vàng ý thức được rằng ăn cắp là việc phải làm nhưng không phảỉ chôm cái gì về cũng được hoan nghênh, mà phải lấy cái gì đừng có dính đến cái cờ đỏ sao vàng mới được, có dính cái này là thực khách lên máu ngay.

Những nguyên liệu thông tin từ truyền thông trong nước ai cũng có thể thưởng thức miễn phí nhưng muốn hạp khẩu vị cờ vàng thì không thể bê nguyên xi mà phải được xào nấu lại bằng phương pháp cờ vàng . Những tin tức nguyên thủy trong nước nếu để nguyên xi thì nó lại gây hiệu ứng dị ứng rất nguy hiểm , phải cắt xén nó đi một tí, thêm vào tí gia vị tị nạn, phải kích thích được cái sợi thần kinh ‘hận” phải châm chích chọt, phải đá giò lái CS, phải chửi thậm tệ chế độ cầm quyền VN thì nó mới có mùi thích hợp.

Nghề đầu bếp hầu hạ cờ vàng nó cũng có những quy luật của nó, có những món không bao giờ có trong thực đơn, có những món “nhạy cảm” và có cả những món tuy thối nhưng vẫn đắt hàng như thường. Hình ảnh những xe lội nước đi cứu dân bị lũ lụt được các thợ nấu xào thành một cuộc đảo chánh bất thành. Thế mà món này kích thích mạnh mẽ những sợi dây thần kinh ảo tưởng cờ vàng cho nên rất nhiều anh hỉ hả lắm. Trong khi người trong nước thì ngửi cái món này thối không thể chịu được. Đầu bếp cờ vàng còn bê nguyên xi hình ảnh lâu đài của các ông hoàng Ả Rập và của bà Butto xào nấu chế biến thành lâu đài của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để nêm nếm cho món tham nhũng ở VN thêm ly kỳ hấp dẫn. Hình ảnh từ báo tuổi trẻ làm phóng sự những trẻ em cơ nhỡ thì ăn cắp rồi cắt xén nêm nếm thành những món ăn tố cộng kích thích khẩu vị cờ vàng. v.v…(1) Không một thủ đoạn nào thợ nấu bỏ qua nếu nó đáp ứng được thị hiếu chống cộng của dân cờ vàng.

Cái khó để thành đầu bếp cờ vàng chuyên nghiệp không phải là vốn kiến thức, không phải tài cáng, mà cái cần nhất là phải có cái mặt dày như da trâu mới làm được. Nhưng điều đó vẫn chưa đủ, phải có cái não trang cay cú CS cao độ mới có thể chế biến được những thực đơn kích thích ảo giác của nhau. Phải có cái tâm lưu manh, phải vứt đi cái liêm sỉ, phải có khiếu nói láo và phải biết xem Mỹ như bố.

Các món Bô xít, món Trường Sa Hoàng Sa, món dân oan, được chế biến từ 99,9% thông tin trong nước, nghĩa là chẳng ai cấm cản những thông tin này, nghĩa là người ta đã biết cả rồi, nghĩa là chính quyền VN không cần bưng bít giấu diếm. Trong nước có cả trăm chuyên gia thứ thiệt phân tích rồi , nhưng phải qua tay đầu bếp cờ vàng thì nó mới trở thành món ăn rất hấp dẫn với dân cờ vàng vì nó được thêm thắt gia vị cay cú, nêm nếm thêm cái vị đả kích CS mới có thể làm tê tái cái thần kinh ảo giác cờ vàng.

Đầu bếp cờ vàng biết rất rõ dân cờ vàng thích gì để xào nấu cho vừa miệng. Thích mách bu, thích hát cho bu nghe thì có món thỉnh nguyện thư. Thích món “dân oan” thì có món Tiên Lãng Thái Hà. Thích món “tôn giáo” thì moi Nguyễn văn Lý ra để cho cả dòng dõi con cháu cờ vàng kính cẩn gọi Lý bằng cha. Có một dạo, đầu bếp cờ vàng rao món “bất tuân dân sự” của Thích quảng Độ (2) rồi tán rằng đó là cuộc biểu tình tại gia bất bạo động, xã hội sẽ rồi loạn. CS sẽ điêu đứng. Thế mà cờ vàng cũng xúm nhau bốc thơm rồi rít.

Đến thời điểm này mà những thợ nấu vẫn chế biến được cái món ăn tạo ảo giác rằng 80 triệu dân VN đang quằn quại sống lầm than trong ngục tù bạo tàn CS, chế độ CS đang rách nát tả tơi và cờ vàng sắp cắm ở saigon tới nơi rồi. Thế mà nó vẫn ăn khách.

Tưởng chừng như thế giới phẳng ngày nay làm cho cờ vàng mở mắt được đôi chút để nhìn ra thế giới mà ngẫm lại mình, nhưng cái sự thù hận, cái sĩ diện hão huyền, cái sự chai cứng của bộ não làm cho dân cờ vàng cứ mãi sống chui rúc trong nỗi niềm cay cú. Chẳng có dân cờ vàng nào thú nhận mình chống cộng vì hận, mà luôn nói tới tiền đồ đất nước cho nó sang, cho nó có vẻ cao thượng . Quan tâm đến tiền đồ đất nước nhưng lại muốn Tàu nó đánh đất nước mình giúp mình lật đổ CS. Không thừa nhận mình chống cộng vì hận nhưng lại tổ chức “đại lễ quốc hận” để nuôi dưỡng nỗi niềm cay cú CS. Không thừa nhận là hận nhưng ra sức truyền cái hận cho con cháu rằng phải biết nuôi dưỡng thù hận để thay cha ông hẹn ngày phục quốc. Đứa nào chưa hận phải làm cho nó hận .

Đã mang căn cước tị nan là phải hận,

Thằng nào không hận thằng đó là Việt Gian.

Thằng nào miệt thị cờ vàng là tay sai cộng sản.

Bất cứ ai từng đến VN ngày nay đều nhận ra rằng hầu hết người dân Việt đã để lại quá khứ đau buồn thời chiến tranh ở phía sau và nhìn về phía trước. Những người từng tham gia cuộc chiến, những người từng bị mất mát trong chiến tranh cũng nhìn quá khứ như một phần đời đau buồn đã qua để rút ra những bài học, để suy gẫm, để an ủi và cũng để tự hào. Không còn ai bị ám ảnh bởi hận thù . Không còn ai bận tâm với việc trả thù. Có thể nói không có gia đình VN nào là không bị mất mát bởi chiến tranh. Thế nhưng không còn ai oán trách kẻ thù dù ở phía nào đi nữa. Dường như mọi người đều cho rằng đó là cái giá phải trả cho nền độc lập hôm nay.

Một nhà báo Mỹ bà Marissa Roth đã vô cùng ngạc nhiên khi những người VN nạn nhân của tội ác của Mỹ thản nhiên với nụ cười kể lại những gì họ trải qua trong chiến tranh không một chút thù hận. Bà đem điều ngạc nhiên này này hỏi Charles M. Chuck Searcy một cựu binh Mỹ tại VN và được trả lời rằng “Vietnamese people are very tolerant” (Người Việt rất khoan dung).

Những người Mỹ từng trực tiếp gây tội ác tại Mỹ Lai khi trở lại chiến trường xưa đều ngạc nhiên khi nhận được những cái bắt tay tha thứ rất độ lượng. Những cựu tù Phú Quốc gặp lại những hung thần, những con quỷ dữ đã từng tra tấn mình dã man cũng đã quên đi sự thôi thúc trả thù tưởng chừng không bao giờ có thể tha thứ được.

Bản chất của người VN là dũng cảm kiên cường bất khuất không chịu khuất phục kẻ thù nhưng không thù dai, rất vị tha, và luôn bao dung độ lượng. Dân gian có câu “đánh người chạy đi chứ không đánh người chạy lại” nói lên được điều này.

Người Việt bao dung nhân hậu như thế, nhưng ta giải thích ra sao về cái sự thù dai suốt 37 năm của dân cờ vàng dù họ cũng mang trong người dòng máu Việt? Có bao nhiêu người trong số dân cờ vàng này có có những tổn thương ghê gớm do CS gây ra đến nỗi họ mang trong lòng thù hận dai dẳng đến như thế ? Chắc không có bao nhiêu. Thế mà năm nào cũng “đại lễ hận” 37 năm rồi.

Lại đến mùa “quốc hận “ của dân chống cộng cờ vàng. Đang là thời điểm để các đầu bếp cờ vàng chế biến các món “hận” Đây là món ăn hàng năm không thể thiếu đúng ngày đất nước thống nhất.

Có hận trào đờm có tức ói máu thì cũng chẳng làm gì được ai. Hận nhưng cờ vàng vẫn biết phận hèn phải bó tay không thể trả thù thế mới đau, mới nhục. Con cháu thì cứ trơ trơ chẳng biết hận là gì. Thế mới cay. Hận mà đoàn kết lại và có ý chí thì có khi nó cũng gây nguy hiểm cho đối phương, nó cũng có sức mạnh để trả thù nếu có quyết tâm. Nhưng hầu hết dân cờ vàng mồm to nhưng gan lại bé tí, thấy thấp thoáng lá cờ đỏ sao vàng cũng sợ, suốt ngày chỉ lo chửi nhau chụp mũ nhau thì trả thù cái nỗi gì. Thế thì hận để làm chi? Xưa kia còn đủ súng đạn máy bay tàu chiến và từng nổ rằng quân đội hạng tư thế giới mà còn cởi quần vắt giò lên cổ chạy thì ngày nay với vài cây súng nhựa mà cứ cố mơ cắm cờ vàng ở Sai gòn.

Nhưng phải có những người như thế thì những thợ nổ, thợ nấu cờ vàng mới có đất kiếm ăn và tồn tại đến nay.

Hận mà không trả thù được thì nó tức ấm ách ghê lắm, nó đọng lại trong người cái nỗi niềm cay cú bất trị xả không được mà nuốt không vô. Cay cú cũng chỉ biết ôm vào lòng để gậm nhấm nỗi căm hờn. Đã đau còn đau thêm, đã cay còn thêm vị đắng.

Cho đến hôm nay những món “hận” của đầu bếp cờ vàng vẫn là kể tội CS, vẫn là trách bu bỏ rơi, vẫn là than vãn nỗi khổ vượt biển. Bao nhiêu năm qua vẫn thế.

Cả nước đang tưng bừng hân hoan chào mừng ngày thống nhất đất nước. Nhưng dân tộc càng mừng thì càng làm trào dâng thêm nỗi hận cờ vàng. Xin được hỏi các anh cờ vàng rằng cứ đến ngày toàn dân ăn mừng thống nhất đất nước thì các anh lại làm “đại lễ cay cú” là thế nào? Tại sao các anh cứ lại cay cú trong cái ngày nước nhà thống nhất? Dù sau này CS có còn hay không thì ngày 30.4 vẫn là ngày thống nhất đất nước, vẫn là ngày hội của toàn dân, đó là một thực tế hiển nhiên không ai có thể nói khác đi được. Các anh muốn đất nước phải chia cắt để sướng thân các anh chăng?

Đến hẹn lại lên, nhân dịp các anh “quốc hận” bài thơ dưới đây xin được gửi tặng các anh như là món quà đọc lên cho ngày lễ cay cú của các anh để mà tiếp tục gậm nhấm mối căm hờn..

- Gặm một nỗi căm hờn không nguôi được.
- Ta mỏi mòn nhìn giấc mộng trôi xa.
- Tưởng mới đây mà đã ba mươi mấy năm qua .
- Ta vẫn nuôi giấc mộng hồi hương để mong ngày phục quốc.
- Nhìn lá cờ vàng mà nước mắt ta không cầm được,
- Ôi biết sao vơi nỗi hận này.
- Quốc thì chưa phục được mà hận vẫn cứ còn đây .
- Ba mươi mấy lần quốc hận đã qua, mà ta thì vẫn cứ còn . . .ôm hận.

(1) Báo Saigon nhỏ ăn cắp hình ảnh phóng sự báo Tuổi Trẻ rồi xào nấu thành bản tin tố cộng.

(2) Thích Quảng Độ, kêu gọi toàn dân hưởng ứng một tháng “bất tuân dân sự”. Nông dân không ra đồng, Công nhân không đến xưởng, Thương gia, Tiểu thương không đến chợ, Sinh viên, học sinh không đến trường. Ý tưởng này có thể so sánh với ý tưởng “cách mạng đua xe” của Lý Tống

Ngăn ngừa hiểm họa từ những trang web giả mạo

, , , ...

Không chỉ trực tiếp tấn công bằng những luận điệu xuyên tạc, vu khống, những thông điệp vô căn cứ như “Việt Nam có nền báo chí tự do tồi tệ nhất”, “Việt Nam là kẻ thù của internet”, thời gian gần đây, một số thế lực từ bên ngoài còn ngang nhiên lập ra những trang web và blog mạo danh là trang thông tin cá nhân của nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Quân đội, Công an và một số bộ, ngành, thành phố trực thuộc Trung ương.


Trang tin điện tử chính thức của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ (ảnh chụp ngày 22-4-2012). Ảnh: Thiện Anh

Vi phạm pháp luật Việt Nam

Các trang web, blog trên đều có đặc điểm chung là được thiết kế theo dạng trang thông tin trực tuyến, có giao diện trình bày theo một mô-típ khá giống nhau và nội dung là các thông tin hoạt động đối nội, đối ngoại của các đồng chí lãnh đạo. Ngôn ngữ hiển thị phần lớn là tiếng Việt và một phần tiếng Anh. Theo một chuyên viên Phòng Thông tin điện tử thuộc Cục Phát thanh - Truyền hình và Thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông), đến nay có khoảng 30 trang web, blog mạo danh các đồng chí lãnh đạo, nhưng địa chỉ trang mạng, máy chủ lưu trữ thông tin đều đặt ở nước ngoài và được giấu chủ sở hữu tên miền. Các trang web này được tạo lập theo dạng web chuyển tải tin tức, có nhiều chuyên mục với bố cục rõ ràng, cung cấp thông tin cập nhật, đa dạng kèm theo ảnh minh họa khá bắt mắt và thu hút sự tìm kiếm của người đọc.

Đại diện các cơ quan chức năng là Vụ Báo chí-Xuất bản (Ban Tuyên giáo Trung ương), Cục Phát thanh-Truyền hình và Thông tin điện tử, Cục Thông tin đối ngoại (Bộ Thông tin và Truyền thông) và A87 (Tổng cục An ninh 2-Bộ Công an) đều khẳng định rằng: Hiện nay chỉ duy nhất có một trang thông tin điện tử chính thức của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại địa chỉ thutuong.chinhphu.vn. Trang thông tin này được Cổng thông tin điện tử Chính phủ xác nhận là “Trang tin chính thức, duy nhất của Thủ tướng được xây dựng như một trang thành viên của Cổng thông tin điện tử Chính phủ”, hoạt động từ tháng 8-2007. Còn lại tất cả các trang web, blog giả, mạo danh đều không có tên miền “.vn” và không được cấp phép hoạt động của các cơ quan quản lý của nước ta và không được các đồng chí lãnh đạo cho phép, đồng ý. Đề cập đến vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn nêu rõ: Việc lập các trang web giả, mạo danh các đồng chí lãnh đạo không chỉ là việc làm thiếu đàng hoàng, không trung thực, mà còn là hành vi vi phạm pháp luật của Việt Nam.

Những khẳng định trên của các cơ quan chức năng và lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông hoàn toàn có cơ sở. Khoản 3, Điều 12 Luật Công nghệ thông tin năm 2006 nêu rõ: “Nghiêm cấm hành vi giả mạo trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân khác”. Một trong những hành vi bị nghiêm cấm cũng được quy định cụ thể tại Khoản 2, Điều 4 Thông tư 14/2010/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông, là: “Tạo trang thông tin điện tử giả mạo cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp khác”. Bên cạnh đó, việc giả danh này nhằm vào các đồng chí lãnh đạo còn mang dấu hiệu về “Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc” nên vi phạm vào Điều 265, Bộ luật Hình sự. Đấy là chưa nói đến việc công khai hóa những thông tin hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet chính thống của Việt Nam mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó, là hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Tỉnh táo trước "ma trận thông tin"

Trước sự hoạt động công khai, trái phép của các trang web mạo danh các đồng chí lãnh đạo, ông Vũ Đình Thường, Vụ trưởng Vụ Báo chí - Xuất bản (Ban Tuyên giáo Trung ương) cho rằng: Bất cứ một tổ chức, cá nhân nào am hiểu luật pháp quốc tế, tôn trọng những giá trị cơ bản của quyền con người thì không bao giờ tự ý mình lập ra những trang web, blog mang tên của nguyên thủ quốc gia mình và các quốc gia khác. Bởi vì, nguyên thủ quốc gia, trước hết với tư cách là một công dân, đều có quyền riêng tư của mình được luật pháp bảo hộ nên không ai được phép xâm hại cả về danh dự, uy tín, nhân phẩm. Việc lập các trang web, blog cá nhân hoặc là do cá nhân tự làm, hoặc phải được phép của cá nhân đó và đã được đăng ký với cơ quan có thẩm quyền thì nó mới có giá trị về mặt pháp lý. Còn việc “khoác tên” các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Quân đội, Công an… của Việt Nam vào các trang web, blog có xuất xứ từ nước ngoài là một trong những hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam, làm tổn hại đến hình ảnh quốc thể của Việt Nam.

Nhưng không dừng lại ở đó. Việc “chủ sở hữu” và “tác giả” làm ra các trang web, blog giả mạo các đồng chí lãnh đạo còn có mục đích, động cơ chính trị rất tinh vi, thâm độc. Nó tinh vi ở chỗ: Thời gian đầu, các trang mạng này muốn lôi kéo và tạo được sự tin cậy của người đọc nên đã chủ động cung cấp những thông tin nhanh, nhạy, chính xác như các cơ quan báo chí chính thống, có uy tín của Việt Nam. Càng về sau và đến một lúc nào đó, khi người đọc đã quen đọc, đã tin cậy, chủ nhân của các trang mạng giả danh các đồng chí lãnh đạo có thể cài đặt những thông tin mập mờ làm nhiễu thông tin, phân tâm dư luận xã hội và gây ra những hậu quả khôn lường.

Đến đây thì bạn đọc càng thấy rõ, cuộc đấu tranh thông tin trên internet đang diễn ra gay gắt và quyết liệt như thế nào. Các thế lực thù địch và phản động dùng mọi thủ đoạn tinh vi và xảo quyệt để tấn công vào mặt trận tư tưởng, trong đó báo chí-truyền thông là một lĩnh vực quan trọng bậc nhất. Chắc chắn, những trang web kia được lập ra không để phục vụ cho mục đích cung cấp và định hướng thông tin đúng đắn, lành mạnh, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam. Chúng ta cần chủ động, kịp thời bóc mẽ ý đồ chính trị của những người cố tình lợi dụng tự do internet, tự do báo chí để chống phá cách mạng Việt Nam. Mỗi người, mỗi cơ quan tổ chức phải nêu cao cảnh giác, hết sức tỉnh táo, sáng suốt, không bị sa vào những “ma trận thông tin” đầy tính toán xảo quyệt của các phần tử xấu.

Kiên quyết ngăn ngừa hiểm họa

Nguyên do nào mà họ lại cố tình dựng nên những trang web, blog mạo danh các đồng chí lãnh đạo nước ta như vậy? Theo một chuyên gia của A87, đây là một “phép thử” như một lời “thách thức” Việt Nam rằng, nếu không cho phép báo chí tư nhân được hoạt động công khai và các blogger trong nước “bày tỏ các quan điểm dân chủ, tự do”, thì sẽ xây dựng những trang web, trang blog "chính thống" như ở Việt Nam!
Quả là một sự “bài binh bố trận” rất bài bản, chuyên nghiệp, nhưng được biểu hiện dưới một hình thức mới. Thông qua các trang mạng này, một mặt họ tỏ rõ “cái vẻ khách quan” trong việc thông tin những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam và hoạt động của các đồng chí lãnh đạo mà không cần “cắt, gọt, bình luận theo chiều hướng xấu” như một số trang mạng hải ngoại khác từng làm dễ bị phản ứng; nhưng mặt khác, họ đang tìm cách “nín thở”, kiên trì chờ đợi và tận dụng một thời cơ nhất định để thực hiện ý đồ khuất tất của mình. Do đó, mọi sự chủ quan, lơ là, mất cảnh giác của cộng đồng “dân cư mạng”, nhất là giới trẻ trong việc tiếp cận, tìm kiếm những thông tin trên các trang mạng giả mạo các đồng chí lãnh đạo, đều có thể bị “sập bẫy” vào mục đích không lành mạnh từ chủ nhân của các trang mạng này.

Trước sự xuất hiện nhan nhản những trang web, blog mạo danh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Quân đội, Công an…, chúng ta càng thấy rõ tâm địa của những thế lực thù địch, phản động là không bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam bằng bất cứ hình thức, phương thức, thủ đoạn nào. Trong “thế giới phẳng” hiện nay, họ càng triệt để lợi dụng mạng thông tin toàn cầu để ra sức hô hào, cổ súy cho cái gọi là “tự do báo chí”, “tự do internet” nhằm mở hướng tấn công mới, chống phá cách mạng thông tin. Từ việc làm nhiễu loạn thông tin đến việc làm nhiễu loạn dư luận xã hội, làm cho người dân suy giảm niềm tin, phân hóa, chia rẽ, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" theo hệ tư tưởng tư sản. Do vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải tăng cường quản lý an ninh mạng, chủ động nghiên cứu, xây dựng những cơ chế, chính sách phù hợp để tiếp tục phát triển internet đúng hướng, lành mạnh; đồng thời cần đưa ra những quy định, chế tài rõ ràng, có tính khả thi cao để quản lý internet chặt chẽ, hiệu quả, góp phần giữ vững an ninh tư tưởng, thông tin, văn hóa và bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

THIỆN VĂN

Chiến tranh Mỹ - Việt từ một góc nhìn

, , , ...

TCCSĐT - Mặc dù đã lùi vào dĩ vãng, nhưng hậu quả của cuộc chiến tranh xâm lược do Mỹ tiến hành trên đất nước Việt Nam 37 năm trước đây vẫn còn hết sức nặng nề. Những bài học lịch sử từ cuộc chiến tranh đó cho đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị, bởi nó không chỉ lý giải về sự thất bại của cường bạo trước sức mạnh chính nghĩa mà còn cảnh tỉnh những người vẫn mơ hồ tin vào cái gọi là sứ mệnh “mở rộng dân chủ” như vẫn thường được tuyên truyền. Nỗi đau khôn nguôi!

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, quân đội Mỹ đã trút xuống hai miền Nam, Bắc Việt Nam một khối lượng bom lớn hơn bất cứ cuộc chiến tranh nào do Mỹ thực hiện trước đó. Cuộc khủng bố đẫm máu ở Mỹ Lai, B52 rải thảm ở Khâm Thiên và chiến dịch rải chất độc da cam trên một diện tích rộng trong chiến tranh chỉ là số ít trong hàng nghìn tội ác mà quân đội Mỹ đã gây ra cho dân tộc Việt Nam.

(Xin bấm vào Tựa đề hoặc Comments để đọc tiếp)

Read more...

Huyền Thoại Của Tự Do Trên Mảnh Đất Tự Do - The myth of freedom in the land of the free

, , , ...

Huyền Thoại Của Tự Do Trên Mảnh Đất Tự Do

Tác giả: John Stoehr (giáo sư Đại học Yale)
Nguồn: Al Jazeera (Báo điện tử của Qatar)
Người dịch: Phạm Uyên Bác

Hoa Kỳ tự cho mình là đất của tự do nhưng Hoa Kỳ đã có những luật được thiết lập để nghiền nát sự chỉ trích nhà nước.

Thành phố New Haven, tiểu bang Connecticut – Vào năm 1893, một sự hỗn loạn to lớn tài chính đã đẩy nhu cầu của công ty Pullman Palace Car Company xuống dốc. Công ty đường sắt sang trọng này đã phản ứng bằng cách cắt lương và tăng số lượng công việc của công nhân. Sau những cuộc thương thảo với chủ nhân bị tan vỡ trong năm sau, NGHIỆP ĐOÀN CÔNG NHÂN ĐƯỜNG SẮT HOA KỲ (the American Railway Union) trong tình đoàn kết với công nhân hãng Pullman đã đưa ra một cuộc tẩy chay cuối cùng làm tê liệt đường sắt xuyên Hoa Kỳ. Như cố sử gia Howard Zinn đã đưa ra nhận định: ”Đây là cuộc khởi nghĩa quy mô của công nhân đã gặp sự đàn áp toàn lực của nhà nước tư bản”.

Bộ trưởng tư pháp Hoa kỳ lúc bấy giờ đã nhận một án lệnh của toà án ra lệnh ngừng đình công nhưng nghiệp đoàn cùng người lãnh đạo nghiệp đoàn là ông Eugene V. Debs từ chối ngừng đình công. Bất chấp sự phản đối của thống đốc Illinois, tổng thống Grover Cleveland giả bộ như muốn duy trì trật tự công cộng ra lệnh cho binh sĩ liên bang tới Chicago. Đám lính liên bang này đã dùng súng trường gắn lưỡi lê gắn vào đám đông 5000 người, giết 13 người ủng hộ đình công. Bẩy trăm người khác gồm cả lãnh đạo nghiệp đoàn Debs bị bắt giữ.

Trước cuộc đình công Debs không phải là người theo chủ nghĩa xã hội nhưng sau đó ông là người theo chủ nghĩa xã hội. Biến cố này đã làm Debs cực đoan. Sau đó, Debbs nói rằng: ’Trong ánh lưỡi lê, ánh chớp súng trường giai cấp đấu tranh đã bộc lộ” Tôi liên tưởng sự phát giác tương tự xẩy ra cho hàng chục ngàn người Mỹ tham dự vào phong trào phản đối Chiếm Phố Wall mùa thu vừa qua.

Như các bạn biết, phong trào phát xuất từ thành phố New York và nhanh chóng lan rộng ra, truyền đạt cảm hứng cho những nhà hoạt động trong những thành phố lớn nhất và những thôn ấp nhỏ nhất. Giận dữ bởi những lời hứa cuội của nhà cầm quyền Hoa Kỳ và cảm hứng bởi những cuộc nổi dậy cho dân chủ ở Egypt và Tunisia, các thành viên của phong trào phản đối Occupy Wall Street đã tập hợp lại để phản đối những bất công về kinh tế và sự suy đồi gây ra do quyền lực của các công ty ở Washington.


Những người biểu tình chống Phố Wall ngày October 4, 2011 tuy không bạo động cũng bị bắt hàng loạt.

Với những tác động của mạnh hơn của những người biểu tình đã bị đẩy lùi lại lớn hơn với bạo động từ cảnh sát. Những người biểu tình đã phải đối mặt với cảnh sát mặc áo giáp, đeo mắt nạ, mũ sắt và gậy gộc; cảnh sát làm suy yếu quyền tự do hội họp của nhân dân Hoa Kỳ một cách hợp pháp với loại vũ khí không chết người như hơi cay, đạn cao su và lựu đạn gây tiếng nổ xé óc. Tổng thống Mỷ không cần gọi đến một đạo quân. Một đạo quân đã đựơc thị trưởng Bloomberg trang bị đã sẵn sàng ở đó.

Trước khi có phong trào phản đối Chiếm Phố Wall, nhiều người biểu tình thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu đã tốt nghiệp đại học đã có thể giả định hiến pháp bảo đảm an toàn những quyền tự do dân sự của họ. Nhưng sau đó, không có nhiều quyền tự do dân sự. Giống như những quả cân rơi trước mắt họ, và khi họ vùng lên giống như họ đã được rửa tội bằng làn sóng chính trị bạo lực.

Lợi tức không đồng đều không chỉ là công lý, nó còn là tự do nữa. Một quan điểm về tự do là giảm thiểu vai trò nhà nước trong đời sống cá nhân và tối đa hoá thị trường, trong đó các cá nhân tự do liều lĩnh cho sự may rủi những gì họ muốn. Một quan điểm khác cho rằng bổn phận của nhà nước phải phòng ngừa những rủi ro của thị trường để cá nhân cảm thấy an tâm như họ mong muốn.

Một cách rõ ràng, những người theo chủ nghĩa tự do ủng hộ quan điểm cá nhân tự do làm những liều lĩnh may rủi; những người theo chủ nghĩa xã hội ủng hộ quan điểm của những người không thể làm những liều lĩnh may rủi. Một quan điểm tự tin ở thị trường, quan điểm khác nghi ngờ về thị trường. Một quan điểm thấy lợi tức không đồng đều là điều tự nhiên trong khi quan điểm khác thấy đó là sự áp bức chính trị.

Nhà kinh tế học Emmanuel Saez từ trường đại học Berkeley, thuộc viện đại học California đã cố gắng lượng giá sự áp bức này. Ông đã khám phá rằng trong năm đầu của sự hồi phục từ cuộc khủng hoảng năm 2008, 93 phần trăm lợi nhuận tăng trưởng chui vào túi 1 phần trăm giầu có nhất. Trong một phiên bản cập nhật của bản nghiên cứu truớc, ông nói : ”Lợi tức tăng trưởng của 1 phần trăm giầu có nhất là 1.6 phần trăm trong khi 99 phần trăm còn lại lợi tức chỉ gia tăng có 0.2 phần trăm. Sự hồi phục không đồng đều nàycóthể giúp giải thích những cuộc xuống đường chống lại sự bất bình đẳng”.

Hơn nữa, lợi tức của 99 phần trăm dân chúng đã tăng khoảng 20 phần trăm trong thời gian từ năm 1993 tới năm 2000, nhưng trong những năm Bush con cầm quyền, con số gia tăng chỉ có 6.8 phần trăm. Một lần nữa, điều này cho thấy đây không phải là biến cố tự nhiên của thị trường mở cửa và tự do. Cách tái phân phối của cải là kết quả cụ thể hoá của chính trị và chính sách của chính quyền Bush con đã cho thấy áp dụng xã hội chủ nghĩa cho người giầu và chủ nghĩa tư bản cho mọi người còn lại ( xin giải thích cho dễ hiểu cách nói của tác giả như sau: chính quyền tên Bush con lo việc an sinh cho 1 phần trăm những người giầu có nhất của Mỹ trong khi bỏ mặc 99 phần trăm dân số Mỹ còn lại sống chết mặc bay).

Hay tôi có thể nói một cách khác là chính quyền Bush dùng chủ nghĩa độc đoán với mọi người khác (99 phần trăm dân chúng). Từ năm 2001, sau khi bị khủng bố tấn công, Hoa Kỳ đã chi phí khoảng 635 tỷ đô la để quân sự hoá lực lượng cảnh sát địa phương. Đây là một nỗ lực láo khoét cho là để chuẩn bị cho các cộng đồng trong trường hợp xẩy ra một cuộc tấn công khác. Nhưng như Stephan Salisbury đã thông báo gần như đây là một sự chuyển đổi văn hoá như sau: "Sự thật là hầu như toàn bộ chính quyền đã đựơc huy động và quân sự hoá từ trên xuống cho tới tận khuôn viên các đại học”. Khi chính quyền quá chú trọng vấn đề an ninh (cụ thể là chính quyền Bush con) như chính quyền Hoa Kỳ, rất khó phân biệt giữa các hành động bất tuân dân sự và các hành động khủng bố.

Hai âm mưu hấp dẫn hiện thời đang gia tăng giới hạn tự do của cá nhân trên miền đất tự do. Âm mưu thứ nhất là chuyển của cải lên cho 10 phần trăm giầu nhất làm chủ và kiểm soát một nửa của cải của quốc gia. Một âm mưu khác là tổ chức bạo lực của nhà nước để bảo vệ thiểu số chính trị này đề phòng trường hợp nhân dân vùng lên khi họ khôn ngoan nhìn thấy những gì xẩy ra. Có lẽ có một âm mưu thứ ba: thực hiện nhà nước bạo lực dưới danh nghĩa bảo vệ an ninh.

Những va chạm tức thời xẩy ra trong tháng 11, cảnh sát New York, dưới mệnh lệnh của thị trưởng tỷ phú quét sạch hàng ngàn người biểu tình khỏi công viên Zuccotti Park, bóp nghẹt dân quyền của hàng ngàn người Mỹ phản đối quyền lực của thiểu số chính trị áp đặt trên đời sống của họ. Sau đó một sự thật được tiết lộ là công ty địa ốc làm chủ công viên đã được tài trợ hơn 174.5 triệu đô la trợ cấp từ tiền thuế của nhân dân để xây dựng lại công viên sau ngày 11 tháng 9. Đây không những là hành động của nhà nước phản ứng chống lại với các mối đe dọa của hành động tập thể; nó còn là sự lừa gạt công chúng bằng cách phủ nhận khế ước quyền sử dụng công viên của công chúng khi công ty địa ốc làm chủ công viên đã được tài trợ hơn 174.5 triệu đô la trợ cấp từ tiền thuế của nhân dân.

Với tất cả điều trên, tôi cảm nhận đựơc chiều sâu của dòng chữ sử gia Zinn về “toàn lực của nhà nước tư bản”. Những người biểu tình của phong trào Chiếm Phố không chỉ đang đối mặt với lũ cảnh sát địa phương; họ còn đang đối mặt với toàn thể hệ thống chính trị đang phá vỡ bất đông chính kiến và bảo vệ nguyên trạng. Và tôi cũng cảm nhận đây là lý do tại sao ông Eugene Debs trở nên một người cực đoan sau khi trải qua những kinh nghiệm về chính trị bạo động.

Làm sao bạn có thể tuân thủ những luật lệ khi những luật lệ này do 1 phần trăm viết ra, và tiếp tục viết đi viết lại những luật lệ? Phương cách độc nhất để chống lại là chống lại toàn thể hệ thống.

Trong năm 1918, ông Debs đã viếng ba người theo chủ nghĩa xã hội trong tù vì tránh né đi lính thời thế chiến thứ nhất. Sau đó, ông bước qua bên kia đường ứng khẩu một bài diễn văn làm mê mẩn khách qua đường hàng giờ đồng hồ. Chính vì bài diễn văn này, cuối cùng ông Debs bị cho là vi phạm đạo luật về gián điệp, một chuỗi luật sâu rộng chống lại người Mỹ vẫn còn hiệu lực (trên thực tế, chính quyền Obama đang sử dụng những luật này đối với Bradley Manning, người rò rỉ bí mật cho WikiLeaks). Chính những luật này được làm ra để nghiền nát những lời chỉ trích nhà nước. Sự trớ trêu trong thời của Debs có thể là sự trớ trêu của chúng ta như Debs đã nói cùng khán giả của mình: ”Họ nói với chúng ta, chúng ta sống trong nền cộng hòa tự do tuyệt vời này, mà các định chế của chúng ta là dân chủ, rằng chúng ta là những người tự do và tự quản. Thật ra những điều đó là quá nhiều, còn hơn là một trò hề.”

The myth of freedom in the land of the free

The US touts itself as the land of free, but it has laws which are designed to crush criticisms of the state.

New Haven, CT - In 1893, a massive financial panic sent demand for the Pullman Palace Car Company into a downward spiral. The luxury rail car company reacted by slashing workers' wages and increasing their work load. After negotiations with ownership broke down the following year, the American Railway Union, in solidarity with Pullman factory workers, launched a boycott that eventually shut down railroads across the US. It was a full-scale insurrection, as the late historian Howard Zinn put it, that soon "met with the full force of the capitalist state".

The US Attorney General won a court order to stop the strike, but the union and its leader, Eugene V Debs, refused to quit. President Grover Cleveland, over the objections of Illinois' governor, ordered federal troops to Chicago under the pretense of maintaining public safety.

Soldiers fired their bayoneted rifles into the crowd of 5,000, killing 13 strike sympathisers.

Seven hundred, including Debs, were arrested. Debs wasn't a socialist before the strike, but he was after. The event radicalised him. "In the gleam of every bayonet and the flash of every rifle," Debs said later on, "the class struggle was revealed".

I imagine a similar revelation for the tens of thousands of Americans who participated in last fall's Occupy Wall Street protests. As you know, the movement began in New York City and spread quickly, inspiring activists in the biggest cities and the smallest hamlets. Outraged by the broken promise of the US and inspired by democratic revolts of Egypt and Tunisia, they assembled to protest economic injustice and corrupt corporate power in Washington Yet the harder they pushed, the harder they were pushed back - with violence. Protesters met with police wearing body armour, face shields, helmets and batons; police legally undermined Americans' right to assemble freely with "non-lethal" weaponry like tear gas, rubber bullets and sonic grenades. There was no need for the president to call in the army. An army, as Mayor Bloomberg quipped, was already there.

Before Occupy Wall Street, many protesters were middle- and upper-middle class college graduates who could safely assume the constitutional guarantee of their civil liberties. But afterward, not so much. Something like scales fell from their eyes, and when they arose anew, they had been baptised by the fire of political violence.

Income inequality isn't just about justice; it's about freedom, too. One view of freedom minimises the state's role in an individual's life and maximises markets so that individuals are free to risk whatever they want to risk to be whatever they want to be. Another view sees the obligation of the state to hedge against the risk of the marketplace so that individuals can feel secure enough to be what they want to be.

Obviously, the libertarian view favours someone who can afford risk; the socialist view favours someone who can't. One view has confidence in the market while the other is skeptical. One view sees income inequality as natural while the other sees it as politically oppressive.

Emmanuel Saez, an economist from UC Berkeley, tried to quantify that oppression. He found that during the first year of the recovery from the 2008 crisis 93 per cent of incomes gains went to the 1 per cent. "Top 1 per cent incomes grew by 11.6 per cent, while bottom 99 per cent incomes grew only by 0.2 per cent," he said in an update of a previous study. "... Such an uneven recovery can help explain the recent public demonstrations against inequality." Moreover, income for the 99 per cent grew by 20 per cent from 1993-2000, but during the Bush years, it grew by only 6.8 per cent. It's worth saying again that this is not a natural occurrence of the free and open marketplace. The upward redistribution of wealth is the concrete result of politics and policy - one might even say socialism for the rich, capitalism for everyone else.

Or should I say authoritarianism for everyone else. Since the terrorist attacks of 2001, the US has spent about $635bn to militarise the country's local police forces. It's ostensibly an effort to better prepare communities in case of another attack. But, as Stephan Salisbury reportedrecently, there has been a cultural transformation, too. "The truth is that virtually the entire apparatus of government has been mobilised and militarised right down to the university campus." When the state makes a fetish of security, as the US has, it becomes hard to tell the difference between acts of civil disobedience and terrorism.

So it's tempting to say two currents conspired to increasingly limit the freedom of individuals in the land of the free. One is the funnelling of wealth upward so that the top 10 per cent owns and controls half the wealth. The other is the organising of state violence to protect the oligarchy in case anyone gets wise to what's happening. Perhaps there's a third: the executing of state violence in the name of security.

These collided in an instant in November. New York City cops, under the orders of a billionaire mayor to clear out Zuccotti Park, suppressed the rights of thousands of Americans who had been protesting the oligarchy's power over their lives. Later on, it was revealed that the real estate firm that owned the park had previously taken more than $174.5 million in tax-payer subsidies to rebuild after September 11. Not only was the state reacting to the threat of collective action; it was defrauding the public of its contractual right to use the park after having paid for it.

Given all this, I sense the depth of Zinn's line about "the full-force of the capitalist state".

Occupy protesters aren't just facing local police; they are facing an entire system bent on breaking dissent and protecting the status quo. And I sense this is why Eugene Debs became a radical after experiencing such political violence. How can you play by the rules when the 1 per cent writes, and keeps rewriting, the rules? The only way to fight back is to fight back against the entire system.

In 1918, Debs visited three socialists in jail for dodging the World War I draft. Afterward, he walked across the street to give an impromptu speech that enraptured onlookers for hours.

Because of this speech, Debs was eventually found guilty of violating the Espionage Act, a deeply un-American set of laws that are still in effect (in fact, the Obama administration is using the laws against Bradley Manning, who leaked secrets to WikiLeaks). These laws are designed to crush criticism of the state. The irony of Debs' time may be the irony of ours: "They tell us we live in this great free republic; that our institutions are democratic; that we are a free and self-governing people," Debs said to his audience. "That is too much, even for a joke."

Chiến tranh nhân dân địa phương trong kháng chiến chống Pháp giai đoạn 1951-1953

, , , ...

Nhìn lại 'cuộc chiến trong lòng nước Mỹ'

, , , ...

-------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------

Read more...

Cực phẩm 'Nhạc Rap đỏ'

, , , ...

Đoàn quân bất tử - Sói đen


Hồi ức - Victory Band

Chiến dịch Linebacker II và cuộc chiến bảo vệ thủ đô của quân dân Hà Nội trong kháng chiến chống Mỹ

, , , ...

-------------------------------------------------------

-------------------------------------------------------

Read more...

Tinh thần Điện Biên Phủ

, , , ...




Trận Điện Biên Phủ là một trận quyết chiến chiến lược và là trận đánh lớn nhất trong kháng chiến chống Pháp, diễn ra tại lòng chảo Mường Thanh, châu Điện Biên, tỉnh Lai Châu (nay thuộc thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên) giữa quân đội Pháp và quân đội Việt Minh. Đây là chiến thắng quân sự lớn nhất trong thời kỳ kháng Pháp suốt gần 100 năm của Việt Nam. Bằng thắng lợi quyết định này, quân đội Việt Nam do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy đã buộc lực lượng Pháp-ngụy tại Điện Biên Phủ phải đầu hàng vào tháng 5 năm 1954. Sau khi bại trận, Pháp phải ký vào hiệp định Genève về Đông Dương, trong vòng 2 năm phải rút quân hết ra khỏi bán đảo Đông Dương, trả lại độc lập và tôn trọng sự thống nhất - toàn vẹn lãnh thổ của Việt - Miên - Lào. Năm 1956 sẽ tổng tuyển cử tự do trên cả nước để chính thức thống nhất hoàn toàn Việt Nam.

Trận đại thắng và toàn thắng này, chiến công rực rỡ và chói lọi này có một ý nghĩa quốc tế rất to lớn: Đây là lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, quân đội của một nước thuộc địa phương Đông đánh thắng một quân đội thực dân của một siêu cường phương Tây. Sau sự kiện rung chuyển thế giới này, các thuộc địa khác trên thế giới, nhất là ở Á - Phi cũng noi gương đồng loạt nổi dậy. Đến năm 1967, Pháp trước những áp lực chống đối gay gắt, đã buộc phải trao trả quyền độc lập cho tất cả các nước là thuộc địa của Pháp.

Trong tư liệu còn giữ ở Kho lưu trữ Trung ương Đảng (phòng 11, mục lục số 2, đơn vị bảo quản số 742), có một bức thơ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lúc đó lấy bí danh là “Hưng”, được gởi hỏa tốc ngày 30-1-1954 từ tiền tuyến Điện Biên Phủ đến các lãnh đạo Đảng lúc bấy giờ là Hồ chủ tịch, Trường Chinh và Bộ Chính trị có nội dung tường trình quyết định chuyển từ phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.

Ban đầu, phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh" được đa số cán bộ, đảng viên, đoàn cố vấn Trung Quốc, và chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp đồng tình. Lý do theo bức thơ kể trên là:

"Lựu pháo và cao pháo của ta bố trí ở Bắc và Tây Bắc chỉ hợp với kế hoạch đánh nhanh, không hợp với kế hoạch đánh từng bước vì từ đường ôtô kéo vào phải dùng trên một đại đoàn bộ binh kéo trong 8 đêm, trước báo cáo là chỉ cần hai đêm, nếu chiến sự phát triển không thuận lợi thì tiến lui đều khó."

Và lý do thay đổi cách đánh là:

Chúng tôi nhận thấy đối với một kẻ địch đã tăng cường như ở Điện Biên Phủ thì phải dùng cách đánh tiêu diệt từng bước, trong giai đoạn đầu tiêu diệt sinh lực chúng ở ngoại vi, đồng thời tìm cách tiêu hao chúng, khống chế sân bay để hạn chế hoặc triệt đường tiếp tế của chúng trong một thời gian khá dài. Vì vậy chúng tôi quyết định:

a) Tạm định ngày nổ súng, điều chỉnh lại bộ đội cho hợp với kế hoạch mới. Vận chuyển các cao pháo và trọng pháo trở lại phía Đông để có thể sử dụng cơ động và đợi khi hệ thống đường kéo pháo phía Đông Điện Biên Phủ làm xong sẽ sử dụng. Lệnh chuyển pháo đã được thi hành trong đêm 26, cần phải bảy hôm mới hoàn thành.

b) Nghiên cứu kế hoạch tiếp tục chuẩn bị về các mặt tân binh, đạn dược, lương thực, đủ đánh cho đến cuối tháng 4. Đường sá từ Yên Bái đến Điện Biên Phủ phải bảo đảm cho xe chạy được trong cả thời gian đó. Làm thêm nhiều con đường cho xe kéo pháo chạy đến gần Điện Biên Phủ để có thể điều động pháo theo nhu cầu chiến đấu. Kế hoạch này chia từng bước để tiến hành, định đến 10-2 thì hoàn thành bước thứ nhất.

c) Trong lúc ở đây tích cực chuẩn bị thì nhanh chóng và bí mật điêu động toàn Đại đoàn 308 sang phía lưu vực sông Nậm hu, bao vây và tiêu diệt từ 4 đến 5 tiểu đoàn địch hiện đóng từ Mường Khoa đến Mường Ngòi. Chiều 26, trung đoàn đầu tiên của Đại đoàn 308 đã lập tức xuất phát, 27 toàn bộ xuất phát, dự liều vào khoảng 30 hay 31 thì hoàn thành bao vây địch. Nếu địch bỏ chạy thì truy kích. Nếu ta thắng ở mạn đó thì tình hình ở Điện Biên Phủ và ở Luông Phabăng có thể thay đổi ít nhiều.


Trong hồi ức "Điện Biên Phủ xưa và nay" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 2, tháng 3 năm 1994, Đại tướng cũng đã nói rõ ràng, cụ thể hơn lý do vì sao thay đổi phương châm tác chiến:

Quyết tâm rất cao, nhất trí từ trên xuống dưới, gần như không ai có ý kiến khác và trên chiến trường thì pháo đã kéo vào trận địa, quân đã ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. Chuyên gia của bạn cũng nhất trí từ đầu. Dự kiến sẽ đánh trong 3 đêm 2 ngày.

Chính vào thời điểm ấy, như một linh cảm, hay đúng hơn là kết quả của một quá trình suy nghĩ theo theo tư tưởng đánh chắc, thắng chắc, theo lời dặn của Bác: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”, tôi đã cho đi sâu theo dõi thực tiễn tình hình địch, đánh giá cho đúng mọi vấn đề trước giờ nổ súng. Mặc dù, như mọi lần vào trước trận đánh, tôi còn có thới quen yêu cầu mọi người phát biểu cho hết những khó khăn của mình, nhưng lần này tất cả đều nhất trí với cách đánh nhanh. Đảng ủy mặt trận họp cũng quyết định như vậy, mà Bác và Trung ương thì lại ở xa.

Tôi yêu cầu anh em quân báo ở Cục 2 trinh sát kiểm tra lại tình hình thì được biết: địch có chiều hướng đổ quân thêm càng đông, công sự và hệ thống phòng ngự xây ngày càng kiên cố. Những động thái của địch cần được đánh giá lại. Thí dụ trước đó thấy địch càn quét đốt phá một số bản làng chỉ cho rằng nó khủng bố nhân dân, sau theo dõi mới biết chúng lấy gỗ, đá về củng cố công sự...

Phân tích lại thì thấy, đến lúc này mà ta thực hiện chủ trương đánh 3 đêm 2 ngày thì cánh quân của ta từ hướng tây vượt qua cánh đồng Mường Thanh bằng phẳng chẳng khác gì phơi mình cho hỏa lực của địch gây thương vong. Ở Điện Biên Phủ, địch có hỏa lực rất mạnh về pháo binh, xe tăng, lại được tăng cường bằng không quân. Lực lượng pháo binh của ta lần đầu ra quân với quy mô lớn hợp đồng tác chiến với bộ binh trên toàn chiến trường, sau một nỗ lực phi thường và rất gian khổ đã đưa được một bộ phận quân pháo vào trận địa sẵn sàng tác chiến. Đồng chí Phạm Kiệt đi sát pháo binh bằng điện thoại đã cho biết lúc này pháo vẫn phơi mình trên mặt đất, chỉ kịp làm công sự dã chiến ban ngày địch mà phát hiện thì thật nguy hiểm.

Cũng qua đường dây điện thoại, tôi kiểm tra lại cánh quân của anh Lê Trọng Tấn đánh từ phía bắc đánh xuống. Anh Tấn là một tướng đánh giỏi, từng trải, đã trả lời rằng: Nếu thực hiện cách đánh nhanh, quân của anh phải đột phá liên tục qua ba phòng tuyến, rất khó khăn nhưng sẽ cố gắng…

Tổng hợp lại tình hình, tôi thấy rằng quan trọng của chiến sĩ ta rất cao nhưng nếu đánh nhanh thắng nhanh thì tổn thất sẽ rất lớn, chắc chắn sẽ thất bại… Ta đã xây dựng các đại đoàn từ trước khi mở thông biên giới (1950), nhưng kinh nghiệm đánh thì mới chỉ tiêu diệt cỡ tiểu đoàn địch phòng ngự trong công sự, chưa lần nào đánh lớn như Điện Biên Phủ, cũng lại là lần đầu hợp đồng tác chiến lớn với pháo binh mà chưa từng lâm trận…

Những ý nghĩa ấy khiến tôi đi đến quyết định thay đổi cách đánh gần như vào giờ chót. Lúc đầu ta đã quyết định giờ N là 17 giờ ngày 25 tháng 1 năm 1954, sua đó do có một chiến sĩ ta bị bắt nên quyết định lùi lại 24 tiếng. Và, trong buổi sáng của ngày nổ súng, tôi đã đưa vấn đề ra Đảng ủy, đi đến quyết định hoãn cuộc tiến công, lui quân ra và chuyển sang cách đắng chắc - thắng chắc… Và thực tế đã chứng minh đó là một quyết định đúng đắn và kịp thời.

Về quyết định này, tôi đã viết khá kỹ trong bài “Quyết định khó khăn nhất” đăng trong báo Nhân dân tháng 5 năm 1989 và vừa rồi đăng lại dưới nhan đề “Mùa xuân Điện Biên Phủ” trên Tạp chí Lịch sử Quân sự 2 số đầu năm nay, nhưng ở đây tôi nuốn nhắc lại một lần nữa rằng, bài học sâu sắc đối với tôi qua quyết định này chính là làm sao có thể phát huy được cao nhất trí tuệ và sức sáng tạo của con người vào những thời điểm quyết định. Nhớ lại cái không khí “Dân chủ nôi bộ” khi đó, ta thấy rất quý cái quyết tâm, sự nhất trí của mọi người, nhưng rõ ràng nếu chưa trình bày hết thực chất của vấn đề, chưa tạo được không khí dẫu chưa đánh thức tính chủ động, bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm của mỗi người thì sự nhất trí ấy, quyết tâm ấy có thể trở thành “duy ý chí”, hay chỉ là sự nhất trí không có cơ sở của cấp dưới với ý kiến đề xuất của cấp trên. Ngay sau khi có quyết định thay đổi cách đánh, tôi xin ý kiến của Bác và anh Trường Chinh. Cũng như sự tin cậy của Trung ương đã giao phó trước khi vào chiến dịch, tôi đã nhận được sự ủng hộ hoàn toàn. Còn khi tôi ra lệnh cho các đơn vị: Đình chỉ nổ súng, kéo pháo ra, Đại đoàn 308 lập tức hành quân nghi binh sang Lào… thì sự đáp lại không chỉ là sự chấp hành tuyệt đối mệnh lệnh cấp trên mà phần nào còn là sự giải tỏa những băn khoăn mà cấp dưới chưa dám nói ra… Sau khi tôi hỏi anh Phạm Ngọc Mậu nghĩ gì khi được lệnh rút pháo khỏi trận địa, anh cười và nói rằng: “Được lời như cởi tấm lòng”… Nhiều anh em khác sau này cũng tâm sự như vậy. Nhưng không phải như hồi kỷ niệm 30 năm, có người nói rằng ngay từ khi đưa ra cách đánh nhanh thắng nhanh, “nhiều người đã thắc mắc”. Cần nhắc lại rằng ngay trong buổi họp Đảng ủy cuối cùng để quyết định thay đổi cách đánh, chi khi đặt vấn đề: “Đánh nhanh có chắc thắng 100% không?” thì mọi người nhất trí và đi đến quyết định cuối cùng.


Trong bài tham luận "Điện Biên Phủ, biểu tượng của sức mạnh Việt Nam" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, gởi Hội thảo “Kỷ niệm 50 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và công cuộc đổi mới, phát triển đất nước” do Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên tổ chức ngày 7-3-2004, Đại tướng cũng nói:

Suốt 11 ngày đêm theo dõi tình hình, tôi thấy địch ngày càng tăng cường lực lượng, ra sức củng cố trạn địa, và những khó khăn của ta chưa có cách khắc phục.

Nhiều đêm trăn trở, cân nhắc, đêm cuối cùng thức trắng, tôi đi đến kết luận; đánh theo cách này nhất định thất bại. Sáng ngày 26 tháng 1, tô đã trao đổi ý kiến thống nhất với đồng chí trưởng đoàn cố vấn, tiếp đó dưa ra Đảng ủy mặt trận bàn thay đổi cách đánh. Cuộc thảo luận trong Đảng ủy đã diễn ra gay go sôi nổi, tất cả đều cho rằng bộ đội quyết tâm cao, mọi mặt đã chuẩn bị, phải đánh nhanh, nếu không sẽ khó khăn, mất thời cơ. Nhưng khi đặt ra câu hỏi: vậy đánh nhanh có bảo đảm chắc thắng 100% như Bác Hồ căn cặn không? thì không ai dám khẳng định. Cuối cùng Đảng ủy đã đi đến nhất trí phải chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc” - một phương án đã từng dự kiến trước đây. Mặc dầu mấy vạn quân ta đã dàn trận, đạn đã lên nòng sẵn sàng nổ súng vào đêm 26 tháng 1, nhưng chúng ta đã kiên quyết dừng lại, cho lui quân về vị trí tập kết, kéo pháo ra để chuẩn bị trận địa đánh theo phương án mới. Quyết định thay đổi phương châm đã được triển khai, sau đó báo cáo về Trung ương bằng thư hỏa tốc, được Bác Hồ và Bộ Chính trị nhất trí và cho biết sẽ động viên hậu phương đem toàn lực chi viện cho tiền tuyến đánh thắng.

Thay đổi cách đánh trong tình thế toàn mặt trận từ trên xuống dưới quyết tâm chiến đấu theo phương án đánh nhanh giải quyết nhanh, các đơn vị đã lâm vào vị trí chiến đấu, chờ giờ nổ súng là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của tôi.


Cũng trong bài tham luận đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã làm rõ một tư tưởng vượt thời gian mà ngày nay vẫn còn nguyên giá trị:

Tinh thần Điện Biên Phủ là tinh thần tôn trọng thực tế, nắm vững quan điểm thực tiễn, không chủ quan duy ý chí, luôn bám sát sự phát triển của thực tiễn, khi thấy tình hình thay đổi thì mục tiêu tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ vẫn giữ vững, nhưng kiên quyết thay đổi cách đánh, dù cách đánh ấy đã thành Nghị quyết đang triển khai, tìm ra cách đánh phù hợp để giành thắng lợi.

Và nhiều lời hay ý đẹp, nội dung chính trị sắc sảo, tinh tường sau đó trong bài tham luận đã liên kết ý tưởng này với công cuộc xây dựng đất nước, xây dựng CNXH ngày hôm nay. Đại hội Đảng lần thứ 6 năm 1986 với sự thật thà, can đảm nhìn thẳng vào sự thật của các lãnh đạo Nguyễn Văn Linh, Trường Chinh, Võ Văn Kiệt, Phạm Văn Đồng và cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp v.v. chính là biểu hiện sinh động nhất và rõ rệt nhất của "tinh thần Điện Biên Phủ". Tinh thần đó đã giúp Đại hội Đảng lần thứ 6 tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội, thể hiện quan điểm đổi mới toàn diện đất nước, đặt nền tảng cho việc tìm ra con đường thích hợp đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những chủ trương, chính sách mới đã gợi mở, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, giải phóng năng lực sản xuất của xã hội để mở đường cho phát triển sản xuất.

Sở hữu những vũ khí lý luận sắc bén của Chủ nghĩa Marx-Lenin, nghệ thuật ngoại giao của Tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng quân sự Võ Nguyên Giáp, và tinh thần Điện Biên Phủ - Võ Nguyên Giáp, chúng ta có thể yên tâm về mặt lý luận về con đường đi lên CNXH, công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc. Vấn đề còn lại là làm sao từ những lý luận cơ bản đó mà thực hành cho tốt và sáng tạo trong từng việc làm cụ thể trong thực tiễn cuộc sống, thực tế xã hội.