Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thắng lợi vĩ đại, bài học lịch sử - Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Sunday, April 22, 2012 5:24:06 AM
---------------------------------------------

---------------------------------------------

---------------------------------------------
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
THẮNG LỢI VĨ ĐẠI, BÀI HỌC LỊCH SỬ(1)
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
“Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những chiến công chói lọi nhất, một biểu trưng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đã đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế và có tính thời đại sâu sắc”.
Trong lịch sử chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam đã đối diện với những thách thức ghê gớm: một nghìn năm Bắc thuộc; một nghìn năm bảo vệ độc lập chống lại các triều đại phong kiến phương Bắc, đặc biệt là ba lần chống quân Nguyên - Mông - đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới trong thế kỷ XIII; gần một trăm năm chống ách thống trị thực dân và chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp và hai mươi mốt năm chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ là thử thách lớn nhất, ác liệt nhất đối với dân tộc ta. Chúng ta đã phải đương đầu với đế quốc hùng mạnh nhất, giàu có nhất, tàn bạo, nham hiểm và hiếu chiến nhất. Cuộc chiến tranh kéo dài qua năm đời tổng thống Mỹ với một tương quan lực lượng chênh lệch nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân ta về phương thức sản xuất và tiềm lực kinh tế quân sự.
Việt Nam trở thành tiêu điểm của một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng trên thế giới, là nơi đọ sức điển hình giữa tiến bộ và phản động, giữa chính nghĩa và phi nghĩa trong cuộc đấu tranh của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhìn thấy âm mưu can thiệp đen tối của Mỹ từ cuối cuộc chiến tranh Đông Dương. Để tranh thủ hòa bình, Bác đã 11 lần gửi thư cho Tổng thống Mỹ Tơruman. Trên chiến trường Điện Biên Phủ còn chưa tan mùi thuốc súng, Người đã dặn “Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu”, “Chúng ta còn phải đánh Mỹ!”.
Tháng 7-1954, tại Hội nghị Trung ương lần thứ sáu họp trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết mấy ngày, Đảng ta đã xác định: “Đế quốc Mỹ đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương”.
Kế thừa những thành quả của cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, dân tộc ta bước vào một cuộc kháng chiến chống Mỹ, trở thành hậu phương lớn cho tiền tuyến miền Nam. Đội ngũ lãnh đạo Đảng và quân đội ta đã dày dạn kinh nghiệm chỉ đạo kháng chiến và chiến tranh cách mạng. Quân và dân ta trong cả nước đã trải qua thử thách và trưởng thành nhiều mặt sau 9 năm chống Mỹ trường kỳ.
Bác Hồ và Đảng ta đã xác định đúng đắn đường lối cách mạng trong giai đoạn mới: tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền nhằm mục tiêu chung là chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc; chỉ rõ mối quan hệ chiến lược giữa hai miền: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc để tạo sức mạnh giải phóng miền Nam, đẩy mạnh đấu tranh cách mạng ở miền Nam là để giải phóng miền Nam và bảo vệ miền Bắc; miền Bắc có vai trò quyết định nhất, miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp với sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước. đó cũng là ý chí mọi người con Việt Nam: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.
Đảng ta đã kết hợp và phát huy sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, xây dựng liên minh chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương, đoàn kết với các trào lưu cách mạng trên thế giới, với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, hình thành và phát triển một mặt trận rộng lớn của nhân loại yêu chuộc hòa bình và công lý trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ, đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống chiến tranh xâm lược.
Bác Hồ và Đảng ta đã xây dựng cho toàn quân, toàn dân ta từ Nam chí Bắc “quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, trên cơ sở truyền thống quật cường bất khuất, quyết thắng mọi kẻ thù xâm lược của dân tộc Việt Nam.
Quyết đánh và biết đánh, anh dũng và thông minh, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và năng lực sáng tạo là bản lính và trí tuệ Việt Nam, là sức sống mãnh liệt của dân tộc để vượt qua thử thách lịch sử này.
Quyết đánh và biết đánh là quá tình sáng tạo, sáng tạo của lãnh đạo và sáng tạo của quần chúng trên cơ sở đi vào thực tiễn chiến đấu, phát hiện và nắm vững quy lụật thực tiễn cách mạng và chiến tranh cách mạng, biết địch biết ta, đánh giá đúng tương quan lực lượng thực tế hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch, tập trung đánh đòn quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh, kiên trì giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lợi cuối cùng.
Dưới ánh sáng “Đề cương cách mạng miền Nam” của đồng chí Lê Duẩn năm 1956, đặc biệt là Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng năm 1959, đồng bào miền Nam anh dũng đã tự lực vượt qua thời kỳ đen tối, vùng lên khởi nghĩa từng phần; làm tan rã bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền ở cơ sở, giành lại phần lớn nông thôn.
Cao trào Đồng khởi vĩ đại đã đưa cách mạng miền Nam chuyển sang thế tiến công, vô hiệu hóa chế độ thống trị độc tài thực dân kiểu mới do Mỹ dựng lên.
Năm 1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời tập hợp ý chí và sức mạnh to lớn của mọi tầng lớn nhân dân vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng.
Năm 1961, Bộ Chính trị quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam do đồng chí Nguyễn Văn Linh là Bí thư, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên toàn miền Nam, thúc đẩy cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn mới.
Trước sự phát triển của cách mạng miền Nam, Đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, một hình thức trong chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt” dùng để đối phó lại trào lưu cách mạng trên thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Đánh bại “chiến tranh đặc biệt” là một quá trình phát triển sáng tạo từ đấu tranh chính trị, khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng. Với phương châm “Hai chân, ba mũi, ba vùng” tổng kết từ thực tiễn, quân và dân miền Nam đã đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, bẻ gãy các cuộc càn quét của quân ngụy, phá rã hệ thống ấp chiến lược, đẩy mạnh đấu tranh chính trị và binh vận ở nông thôn và thành thị, từng bước phát triển đấu tranh vũ trang.
Năm 1963, thắng lợi vang dội trong trận chống càn tại Ấp Bắc đã chứng minh khả năng đánh thắng quân ngụy có cố vấn Mỹ giúp bằng chiến tranh du kích. Các chiến dịch tiếp theo Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài, tiêu diệt từng tiểu đoàn đến chiến đoàn quân ngụy đánh dấu sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ buộc phải thay đổi chế độ ngụy quyền, quyết định chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”.
Năm 1965, bằng quyết định đưa nước Mỹ vào một cuộc chiến tranh tại một nơi cách Mỹ nửa vòng trái đất, tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ” với sự tham chiến trực tiếp trên quy mô lớn của Lục quân, Hải quân và Không quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, phát động cuộc “chiến tranh phá hoại” ác liệt bằng không quân và hải quân ra miền Bắc Việt Nam, chính quyền Giônxơn đặt mục tiêu đầy tham vọng là đập tan ý chí giải phóng và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam, thiết lập tiền đồn thực dân mới và ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á, chặn đứng phong trào giải phóng dân tộc trên quy mô toàn cầu.
Cuộc chiến tranh tàn khốc nhất thế kỷ bắt đầu.
Dân tộc ta đứng trước một thách thức chưa từng có trong lịch sử.
Bác Hồ và Đảng ta đã đánh giá tình hình cục diện mới một một cách bình tĩnh, sáng suốt, tạo sự nhất trí cao độ trong toàn Đảng, toàn quân, toan dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Năm 1966, tại “Hội nghị Diên Hồng của thời đại Hồ Chí Minh”, tinh thần “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” của Cách mạng Tháng Tám “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” của kháng chiến chống Pháp đã biến thành lời Hịch “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi”.
Trong hoàn cảnh khó khăn, ác liệt, hiểm nghèo, dân tộc ta đã tỏ rõ bản lính quyết đánh và biết đánh. Cả nước đánh Mỹ trong cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ. Đồng bào và chiến sĩ miền Nam “bám thắt lưng Mỹ mà đánh”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”. Trên miền Bắc, quân dân ta “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”, hậu phương lớn bảo đảm “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, các thế hệ nối tiếp nhau “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.
Các trận đánh ở Núi Thành, Vạn Tường, Plâyme, Bầu Bàng là những cuộc đọ sức đầu tiên làm lộ những điểm yếu cụ thể của quân viễn chinh Mỹ. Trên miền Bắc, chúng ta đã đánh trả quyết liệt không quân và hải quân Mỹ, bắn rơi máy bay hiện đại, bắt sống phi công Mỹ. Dưới mưa bom bão đạn, sự chi viện chiến lược cho miền Nam vẫn được tăng cường từng ngày qua tuyến vận tải Trướng Sơn và những đoàn tàu không số trên biển Đông.
Đế quốc Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam một khối lượng bom đạn, vật chất kỹ thuật chưa từng có trên một địa bàn hẹp; sử dụng mọi loại vũ khí hiện đại và dã man nhất trừ bom nguyên tử; đưa số quân Mỹ vào miền Nam lên tới hơn nửa triệu quân với một lực lượng lớn hải quân, không quân chiến lược, chiến thuật, 7 vạn rưỡi quân các nước theo Mỹ và hơn một triệu quân ngụy, một quân số kỷ lục cho cuộc chiến tranh cục bộ. Chính quyền Mỹ đã thực hiện mọi chiến lược, chiến thuật về chính trị, quân sự, ngoại giao, dùng những thủ đoạn chiến tranh tàn bạo nhất; bao vây phong tỏa, khủng bố toàn diện, tàn phá kinh tế, triệt hạ làng xóm và thành phố, tiêu diệt con người, hủy diệt môi trường thiên nhiên… Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã đưa ra các chiến lược gia, các tướng lĩnh bậc nhất của họ để đấu trí với ta.
Trong tính toán chiến lược của đế quốc Mỹ, với sự huy động tiềm lực nhân lực và vật chất khổng lồ như vậy, sau hai hoặc ba mùa khô chúng sẽ đánh gãy xương sống quân chủ lực Việt cộng, tiêu diệt Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam, tàn phá và phong tỏa miền Bắc, cắt đứt đường Hồ Chí Minh, găn chặn sự chi viện Bắc Nam, làm lung lay ý chí kháng chiến của chúng ta, áp đặt lại chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam.
Trải qua hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 với những cuộc hành quân lớn như Attenbôrô Gianxơnxiti và quân Mỹ không những không diệt được Quân giải phóng, không bắt được cơ quan đầu não kháng chiến, ngược lại phải chịu những tổn thất nặng nề.
Trên mặt trận Tây Nguyên và Quảng Trị, chúng ta đã giành thắng lợi áp đảo trong những cuộc đối đầu quy mô và ác liệt giữa các đơn vị chủ lực ta và các sư đoàn chiến đấu tinh nhuệ của quân viễn chinh Mỹ, có ưu thế tuyệt đối về khả năng cơ động đường không, hỏa lực phi pháo và bảo đảm hậu cần. Trong các chiến dịch Sa Thầy năm 1966, Đăk Tô năm 1967, A Sầu - A Lưới năm 1969, ta đã hạn chế được chỗ mạnh của quân Mỹ trên chiến trường rừng núi, dụ địch vào bẫy chiến dịch, vận dụng chiến thuật “vận động tấn công kết hợp chốt” giáng cho địch những đòn tiêu diệt bất ngờ nhất. Đây là sự phát triển mới của chiến lược quân sự, của nghệ thuật chỉ huy chiến dịch, ”lấy ít thắng nhiều, lấy yếu thắng mạnh” trong chiến tranh hiện đại.
Đến mùa khô thứ ba, khi Mỹ chưa kịp ra tay và tập trung chú ý vào căn cứ Khe Sanh đang bị vây hãm thì cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 nổ ra, đồng loạt đánh vào tất cả các đô thị miền Nam. Đây là đòn chiến lược bất ngờ làm rung chuyển toàn nước Mỹ. Tướng Mỹ Oétmôlen bị cách chức. Bộ trưởng Quốc phòng MácNamara từ chức. Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố đơn phương ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20, chấp nhận vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari.
Cuộc tấn công Tết Mậu Thân là một sáng tạo quân sự độc đáo, tạo ra bước ngoặt cơ bản làm thay đổi cục diện chiến tranh, mở ra quá trình “xuống thang chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Chúng ta đã đánh bại một bước ý chí xâm lược của Mỹ trong lúc quân Mỹ đông nhất, mạnh nhất và những cố gắng chiến tranh cao nhất. Chiến lược “chiến tranh cục bộ” bị phá sản, chính quyền Mỹ phải "phi Mỹ hóa” - “Việt Nam hóa chiến tranh”.
Chống lại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” là cuộc đọ sức dai dẳng và quyết liệt trong một giai đoạn rất khó khăn của cuộc kháng chiến. Địch dùng quân ngụy được hỏa lực Mỹ yểm trợ xâm lược Campuchia, mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, tăng cường cố gắng “b́ình định” miền Nam, khủng bố ác liệt các cơ sở cách mạng bộc lộ trong tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Sát cánh cùng nhân dân hai nước Lào và Campuchia anh em, tăng cường sự chi viện từ miền Bắc vào Nam, chúng ta đã từng bước khôi phục lại cơ sở chiến tranh nhân dân ở những nơi bị suy yếu, giành lại chỗ đứng của quân chủ lực ở nhiều vùng nông thôn.
Xuân năm 1969, trong thơ chúc mừng năm mới Bác Hồ có câu: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Người đã vạch ra quá trình chiến lược hai bước để tiến tới thắng lợi cuối cùng. Trong câu đầu tiên của Di chúc, Người khẳng định: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”.
Quân và dân ta đã thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác. Sau khi cùng quân và dân Lào đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Đường 9 - Nam Lào năm 1971, đầu năm 1972, chúng ta mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam.
Tháng 12-1972, quân dân ta đã đập tan cuộc tập kích ồ ạt bằng không quân chiến lược B52 của Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong trận “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội và Hải Phòng.
Tháng 1-1973, chính quyền Níchxơn buộc phải ký Hiệp định Hòa binh Pari, rút hết quân Mỹ về nước trong khi quân chủ lực ta vẫn ở nguyên tại chỗ, tạo nên một sự thay đổi cơ bản về so sánh lực lượng có lợi cho ta trong 18 năm kháng chiến chống Mỹ.
Trận quyết chiến chiến lược Mùa Xuân 1975 đánh dấu bước phát triển mới của chiến tranh nhân dân, nghệ thuật tổ chức và chỉ đạo những trận then chốt, đặc biệt là nghệ thuật điều hành chiến tranh ở giai đoạn cuối. Sau khi hoàn thành chuẩn bị chiến lược về thế và lực ở cả hai miền Nam - Bắc, chiến dịch giải phóng Tây Nguyên mở đầu bằng chiến thắng Buôn Mê Thuột đã tạo ra sự đột biến trong cuộc diện chiến tranh
Nhạy bén nắm bắt thời cơ và chủ động tạo ra thời cơ. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã liên tục bổ sung quyết tâm chiến lược theo nhịp độ thay đổi nhanh chóng của chiến tranh, thay đổi quyết sách từ kế hoạch giải phóng miền Nam trong vòng hai năm sang kế hoạch thời cơ một năm. Và sau thắng lợi của chiến dịch Huế - Đà Nẵng, hạ quyết tâm cuối cùng giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm 1975.
Với khí thế “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa”, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử được tiến hành với tinh thần quyết chiến và toàn thắng. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy sau 55 ngày đêm, với sức mạnh áp đảo về quân sự và chính trị, bằng ba đòn chiến lược then chốt và cuộc tấn công và nổi dậy ở đồng bằng sông Cửu Long, hơn một triệu quân ngụy bị tiêu diệt và tan rã, cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Ngụy quyền sụp đổ. Những tên xâm lược Mỹ cuối cùng phải tháo chạy khỏi đất nước ta. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ là thắng lợi của sự lãnh đạo, chỉ huy ở tầm vĩ mô của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, của Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng, các Khu ủy, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh các chiến trường, Bộ Tư lệnh các chiến dịch và đường Trường Sơn… và thắng lợi của hoạt động chiến đấu ngoan cường và đấu tranh sáng tạo của từng chiến trường, từng đơn vị… không chỉ riêng một chiến trường nào, một bộ phận nào. Thắng lợi này là kết quả của toàn dân tộc trong cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt và lâu dài của nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ.
Vì sao nhân dân Việt Nam, từ không một tấc sắt trong tay, vùng lên bẻ gãy gông xiềng nô lệ, lại đánh thắng hai đế quốc to trong một cuộc chiến tranh không cân sức, giành lại non sông đất nước, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội?
Để tìm được câu trả lời cho câu hỏi này, phải nhìn sâu vào chiều dày lịch sử hàng nghìn năm, vào nền văn hóa dân tộc, tìm hiểu truyền thống và di sản quân sự của dân tộc Việt Nam và đường lối cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Một điều hiếm thấy trong lịch sử các bộc tộ người Việt cổ sinh sống trên mảnh đất này đã sớm có một triết lý sống, một nền văn hóa dân tộc mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất để làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, cố kết với nhau trong một quốc gia dân tộc thống nhất, chống lại thiên tai và giặc ngoại xâm. Chính nhờ sức mạnh của nền văn hóa ấy mà dưới ách đô hộ hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc, dân tộc ta không bị đồng hóa và đã vùng lên giành lại nền độc lập. Cho đến khi vị tổ Trung hưng đầu tiên là Anh hùng dân tộc Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, thì kỷ nguyên một nghìn năm độc lập tự chủ đã được mở ra. Suốt trong một nghìn năm ấy, dân tộc ta đã đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn nhiều lần, từ Tống, Nguyên đến Minh, Thanh, quân Mông - Nguyên - đội quân xâm lược mạnh nhất thời bấy giờ, đã từng chinh phục nhiều lãnh thổ từ Á sang Âu.
Mỗi khi kẻ thù đụng đến nước ta thì “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước chung sức” bảo vệ xã tắc. Từ Hịch tướng sĩ và Di chúc Canh Tý đến Bình Ngô đại cáo, một học thuyết quân sự Việt Nam đã hình thành: “Trăm họ là binh”, “Lấy đoản binh chống trường trận”, “Lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh”. Học thuyết đó đã dẫn dắt các cuộc đấu tranh giành lại và giữ vững chủ quyền dân tộc với những tư tưởng vượt thời đại: “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, “Dập tắt muôn đời chiến tranh”, “Đem lại thái bình muôn thuở”.
Trong thời đại Hồ Chí Minh, có sự phát triển mới về bản chất so với các thời kỳ lịch sử trước là: giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, đem lại tự do và ấm no hạnh phúc cho toàn dân. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ là những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng chính nghĩa, thực sự vì dân và do toàn dân tiến hành. Sự thay đổi về bản chất đó là giải phóng sức mạnh tinh thần và vật chất vô cùng to lớn của nhân dân ta trong cách mạng và chiến tranh cách mạng.
Trên nền tảng tinh thần quyết chiến thắng, không có gì quý hơn độc lập tự do, tư tưởng cơ bản của học thuyến quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh là tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn dân đánh giặc, cả nước đánh giặc. Trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Bác Hồ viết: “cuộc kháng chiến toàn dân, vũ trang toàn dân”(1). Người kêu gọi Toàn quốc kháng chiến chống thực dân pháp: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”(2). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Người khẳng định: Cuộc kháng chiến của ta là toàn dân, thực sự là một cuộc chiến tranh nhân dân. “31 triệu đồng bào ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ cứu nước”(3). Người nêu cao chính sách đại đoàn kết dân tộc: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công đại thành công”(4).
Chúng ta đã kế thừa và phát triển nghệ thuật đánh giặc truyền thống của dân tộc “lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu đánh mạnh”, sáng tạo ra hàng loạt cách đánh thông minh của các lực lượng vũ trang, của mọi quân binh chủng, của từng cán nhân chiến sĩ,… đem ý chí quyết thắng và trí tuệ của ta để chiến thắng mọi chiến lược, chiến thuật và kỹ thuật hiện đại của quân xâm lược mạnh hơn ta nhiều lần.
Tuy nhiên, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, việc không nắm vững đường lối quân sự của Đảng và tư tưởng quân sự của Bác Hồ, sự nôn nóng chủ quan và không sát thực tiễn, có lúc có nơi đã hạn chế không ít thắng lợi và dẫn đến tổn thất.
Trong thời kỳ đầu chiến tranh, nhiều cán bộ quân sự ở chiến trường đã hiểu sai mối quan hệ giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, chỉ chủ trương đấu tranh chính trị và dân quân du kích, coi nhẹ xây dựng bộ đội chủ lực. Đảng ta không bao giờ có một chiến lược quân sự thuần túy, đồng thời chưa bao giờ hạn chế đấu tranh vũ trang trong phạm vi chiến tranh du kích. Đối mặt với sức mạnh vật chất to lớn của đối phương, chỉ có xây dựng bộ đội chủ lực từ đại đội, tiểu đoàn đến những sư đoàn, quân đoàn mạnh, mới đủ sức đánh những đòn tiểu đoàn lớn quyết định chiến trường. Quan điểm này cũng dẫn đến những cố gắng lớn lao khắc phục tổn thất do địch đánh phá, quyết đưa tuyến vận tải Trường Sơn lên cơ giới hóa, đáp ứng yêu cầu chiến lược của chiến trường miền Nam.
Lại do chủ quan duy ý chí, không nắm vững quy luật của khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng nên đã chủ trương tiến hành tổng khởi nghĩa, bộc lộ toàn bộ cơ sở cách mạng của quần chúng trong chiến tranh ngay khi trên chiến trường còn hơn một triệu quân Mỹ - ngụy và các nước chư hầu. Việc tiếp tục kéo dài tấn công vào các đô thị, chậm chuyển hướng hoạt động về nông thôn trong Mậu Thân 1968 đã gây ra nhiều tổn thất về thế và lực cho cách mạng.
Áp dụng sai tư tưởng cách mạng tiến công trong chiến tranh cũng là bài học phải trả giá bằng xương máu. Tư tưởng chiến lược của chiến tranh cách mạng là tiến công, còn hình thức tác chiến thì có tiến công và phòng ngự cả về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu. Việc phủ nhận phòng ngự, thậm chí coi phòng ngự là hữu khuynh đã dẫn đến thương vong cho bộ đội trong một số trận đánh.
Trong suốt quá tình chiến tranh 30 năm, Học thuyết quân sự Việt Nam luôn bám sát mục tiêu cam, xuất phát từ thực tiễn cụ thể của chiến tranh, tìm ra quy luật hành động. Trên cơ sở thế trận và sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân, chúng ta luôn giữ thế chủ động trên chiến trường trong mọi tình huống, buộc địch phải bị động đối phó theo chiến lược và cách đánh của ta. Kẻ địch muốn đánh nhanh nhưng lại buộc phải kéo dài chiến tranh, muốn tạo nên hình thái chiến tranh có chiến tuyến thì lại phải tác chiến trong thế xen kẽ, cài răng lược, muốn tập trung lực lượng thì lại bị chiến tranh nhân dân của ta căng ra trên các chiến trường… Mọi tính toán chiến lược của bọn xâm lược đều sai lầm. Càng cố gắng, địch càng sa lầy và bất lực, dẫn đến thất bại cuối cùng không thể tránh khỏi trên chiến trường Việt Nam.
Bước vào thế kỷ XXI, cục diện thế giới đang có những biến chuyển to lớn. Bên cạnh nguyện vọng và xu hướng xây dựng một thế giới hòa bình và công bằng của đại đa số các dân tộc và loài người tiến bộ, các siêu cường và các thế lực hiếu chiến cùng các tập đoàn công nghiệp quân sự siêu quốc gia đang muốn thiết lập một trật tự thế giới mới trong điều kiện toàn cầu hóa toàn diện do họ chi phối, đồng thời gây ra các cuộc chiến tranh xâm lược, kích động ly khai, xung đột sắc tộc và tôn giáo, hoạt động bạo loạn lật đổ, phục vụ những mục tiêu bá quyền, lôi cuốn thế giới vào cuộc chạy đua vũ trang chưa từng có. Môi trường an ninh thế giới biến đổi khôn lường.
Trong tình hình mới hiện nay, đánh giá đúng những thay đổi của tình hình để thích nghi với sự phát triển và vận động của chiến tranh hiện đại, xây dựng và hoàn thiện Học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại mới, chúng ta hoàn toàn tin tưởng và khả năng giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược dù hiện đại đến đâu và bất kể từ đâu tới.
Ngày toàn thắng 30-4-1975 đã đi vào lịch sử như một sự kết thúc trọn vẹn của cuộc chiến tranh mười ngàn ngày. Dân tộc Việt Nam, một dân tộc luôn khát khao hào bình, đã phải trải qua cuộc trường chinh 30 năm đầy hy sinh gian khổ. Với ba mốc son Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Điện Biên Phủ và Mùa Xuân 1975 toàn thắng, dân tộc ta đã hoàn thành vẻ vang sự nghiệp cứu nước, đất nước ta sạch bóng quân thù, Tổ quốc ta hoàn toàn độc lập thống nhất.
Trên phạm vi thế giới, lần đâu tiên trong lịch sử đấu tranh của các dân tộc nhược tiểu, một dân tộc vốn là thuộc địa nửa phong kiến đã vùng lên tự giải phóng và liên tiếp đánh thắng hai cường quốc đế quốc chủ nghĩa chủ yếu bằng sức của chính mình. Cụm từ “Việt Nam - Hồ Chí Minh” đi vào ngôn ngữ của các dân tộc đồng nghĩa với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, tượng trưng cho lương tri và phẩm giá con người. Thắng lợi của nhân dân ta cũng là thắng lợi của nhân loại tiến bộ yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới.
Thắng lợi của chúng ta khẳng định một chân lý thời đại: “Bất kỳ một quốc gia nào dù có hùng mạnh đến đâu, nếu dùng bạo lực để áp đặt ý chí của mình lên dân tộc khác thì cuối cùng nhất định thất bại”. Điện Biên Phủ, và kết cục chiến tranh trong Mùa xuân 1975 là những Điểm hẹn mà Lịch sử giành cho những cuộc chiến tranh xâm lược.
30 năm sau ngày toàn thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, chúng ta cũng đang tiến tới kỷ niệm 60 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với những thay đổi sâu sắc trên đất nước.
60 năm sau, trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta và nhân dân ta vẫn đang nỗ lực đưa vào cuộc sống những tư tưởng đi trước thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dựng nước và giữ nước. Ngay sau ngày độc lập và cũng là ngay trước khi dân tộc ta sắp phải bước vào cuộc trường chinh 30 năm đầy hy sinh gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối phát triển mối quan hệ hòa bình hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, đồng thời thực hiện hòa những bước đi đầu tiên để thiết lập một nhà nước pháp quyền do dân và vì dân, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, hòa hợp, văn minh và hạng phúc cho nhân dân.
Trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ thực tiễn, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới đúng đắn và sáng tạo, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng, giành được nhưng thắng lợi to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và đối ngoại, bước đầu nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Tuy nhiên, dù thành tích đạt được to lớn như thế nào, chúng ta cũng phải dũng cảm nhìn vào thực trạng tụt hậu của đất nước ta so với các nước phát triển, khắc phục bằng được những cản trở trên con đường tiến lên. Đó là sự yếu kém về trình độ quản lý và lỏng kẻo kỷ cương, sự lạc hậu về công nghệ và khả năng cạnh trang của nền kinh tế chậm phát triển, tệ quan liêu, tham nhũng và sự tha hóa của một bộ phận cán bộ, đảng viên, những suy thoái đạo đức và tệ nạn xã hội do lối sống hưởng thụ mang lại. các thế hệ ngày nay hãy kế tục truyền thống của cha anh, kiên quyết đấu tranh loại bỏ những trở lực, phấn đấu rèn đức, luyện trí, luyện tài, sống có hoài bão, thi đua lập nghiệp lớn trên mọi lĩnh vực, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa nước ta tiến nhanh và vững, “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ hằng mong ước.
Kỷ niệm toàn thắng 30 tháng Tư, chúng ta càng nhớ đến Bác Hồ kính yêu, vị lãnh tụ thiên tài của Đảng ta và dân tộc ta, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, các đồng chí lãnh đạo, các tướng lĩnh, các cán bộ lãnh đạo chỉ huy các mặt trận, các chiến trường, những người đã có những đóng góp lớn lao cho chiến thắng vĩ đại của dân tộc mà ngày nay không còn nữa.
Chúng ta vô cùng xúc động nhớ tới biết bao cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng để Tổ quốc ta, nhân dân ta có được ngày nay. Nhân dịp này, tôi thân ái gửi đến các bà mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình liệt sĩ, gia đình có công với nước cùng toàn thể đồng bào trong cả nước lời thăm hỏi ân cần và lòng biết ơn sâu sắc.
Tôi thân ái gửi tới cán bộ, chiến sĩ, các lực lượng vũ trang, các đồng chí thương bệnh binh, các cựu chiến binh, các nạn nhân chiến tranh, nạn nhân chất độc màu da cam, các cựu chiến binh, nam nữ thanh niên xung phong, dân công, giao liên, lời thăm hỏi ân cần và những tình cảm thân thiết nhất.
Tôi xin gửi tới nhân dân các nước anh em cùng bạn bè quốc tế lời cảm ơn chân thành về sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn và quý báu đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta.
Nhân dịp này, chúng ta kêu gọi Mỹ và các nước đã tham gia với Mỹ trong cuộc chiến tranh tội ác ở Việt Nam, hãy thực hiện nghĩa vụ pháp lý và nhân đạo của họ, bằng mọi cách giúp đỡ nhân dân Việt Nam hàn gắn những vết thương và khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng đất nước, giúp những nạn nhân của cuộc chiến tranh trở lại cuộc sống bình yên.
Tôi tin tưởng vững chắc rằng, dưới ngọn cờ tất thắng của Đảng và Bác Hồ vĩ đại, với hoài bão lớn, kiên định trong mọi tình huống, phát huy bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong thời đại mới, nhân dân ta đoàn kết, đại đoàn kết, sẽ biến ước mơ thành hiện thức, tiếp tục tiến lên vững chắc trong sự nghiệp đổi mới, làm cho nước ta, một nước anh hùng nhưng còn nghèo sớm khắc phục tình trạng lạc hậu, đuổi kịp và sánh vai các nước tiên tiến trên thế giới, trở thành một nước anh hùng, giàu mạnh, cho toàn dân ta được sống hạnh phúc trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.507.
(2) Sđd, t.4, tr.480.
(3) Sđd, t.12, tr.323.
(4) Sđd, t.10, tr.67.
(1) Bài tham luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho Hội thảo khoa học: Đại thắng mùa Xuân 1975 - Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam do Bộ Quốc phòng, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương tổ chức ngày 14 và 15-4-2005, đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 234, tháng 4 năm 2005, tr.7-13, 37.
http://thieulongtexas.blogspot.com/2012/04/cuoc-khang-chien-chong-my-cuu-nuoc.html


Unregistered user # Tuesday, April 24, 2012 12:59:43 AM
Unregistered user # Thursday, April 26, 2012 6:50:04 PM
Unregistered user # Friday, April 27, 2012 7:06:31 AM
Cờ Tướng VNcotuongvn # Saturday, June 23, 2012 6:57:50 AM
Unregistered user # Sunday, June 24, 2012 1:26:17 AM
Cờ Tướng VNcotuongvn # Monday, July 30, 2012 7:18:01 AM
Unregistered user # Thursday, August 2, 2012 1:47:18 AM
Unregistered user # Friday, August 3, 2012 1:13:15 AM
Unregistered user # Friday, August 3, 2012 11:13:53 PM
Unregistered user # Saturday, October 27, 2012 11:38:39 AM
Unregistered user # Sunday, October 28, 2012 2:21:08 AM
Cờ Tướng VNcotuongvn # Thursday, November 22, 2012 8:13:54 PM
Bọn bù nhìn chạy đi đâu? Lưới trời đâu dễ lọt
Năm đạo hùng binh – năm cánh sao vàng.
Tiến về Sài Gòn! Tiến về Sài Gòn!
Những lữ đoàn xe tăng, những trung đoàn thiết giáp,
Những giàn tên lửa Ca-chiu-sa chói ngời, chói ngời những nòng đại bác,
Những phi đội máy bay xuất quỷ nhập thần.
Tiến về Sài Gòn! Tiến về Sài Gòn!
Đây là cuộc ra quân cả nước
Mười bốn triệu đồng bào Miền Nam, mười sáu triệu đồng bào Miền Bắc,
Đột nhập chợ Bến Thành, chiếm lĩnh trận địa cầu chữ Y,
Đánh chiếm trụ sở Bộ quốc phòng ngụy, tòa Đại sứ Hoa Kỳ,
Đánh chiếm sở cảnh sát Đô thành, sân bay Tân Sơn Nhất,
Cắm cờ đỏ sao vàng trên nóc dinh Độc lập.
“Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” cả ba chục triệu người chung một lời ca.
Miền Nam ơi! Bác đã về đây sau những ngày đi xa
Cho chị gặp em, cho con gặp mẹ
Cho bao nhiêu người vợ đằng đẵng chờ chồng không biến thành Tô Thị
Chấm dứt ba mươi năm chiến tranh xương chất thành núi máu chảy thành sông!
Trích đoạn "TRƯỜNG CA VỀ TƯỚNG GIÁP"
thieulongtexas # Monday, December 24, 2012 4:14:19 AM
Nhà học giả đã đưa ra những chi tiết rất thú vị về năm sinh của ông, trăm mưu ngàn kế của thực dân Pháp nhằm mua chuộc cậu học trò trung học Võ Nguyên Giáp...
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam duyệt binh trên Quảng trường Ba Đình.
“Sinh ở An Xá, tỉnh Quảng Bình năm 1910, Giáp lúc nhỏ sống ở một vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven biển miền Trung phía Bắc vĩ tuyến 17… Cụ bà thân sinh những hôm không bận việc đồng áng thì cặm cụi bên khung cửi. Còn cụ ông là một nông dân có học thức tự cày cấy ruộng nhà và truyền đạt lại cho cậu bé Giáp chữ nghĩa thánh hiền và vốn tri thức truyền thống theo Khổng giáo cùng với lòng yêu tha thiết quê hương đất nước.”
Học giả người Pháp Georges Boudarel đã viết như vậy về vị Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tập sách “Võ Nguyên Giáp” (nguyên bản tiếng Pháp là “Giap”) của mình.
Cuốn sách đã dựng lại bức chân dung Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ lúc còn là một cậu bé cho tới khi trở thành vị chỉ huy của quân đội Việt Nam trong sự tham chiếu, so sánh giữa nhiều nguồn tư liệu khác nhau.
Điều làm nên sự khác biệt của cuốn sách này so với những tác phẩm khác viết về Đại tướng của các học giả phương Tây là: Cuốn sách có những chi tiết rất thú vị cho chúng ta biết về năm sinh của Đại tướng, những đoạn viết nói rõ âm mưu hiểm độc của thực dân Pháp nhằm mua chuộc cậu học trò trung học Võ Nguyên Giáp.
Tuy nhiên, kết quả ngược lại, ông đã trở thành người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
“Người ta xì xào, bàn tán về con người có sức hấp dẫn kỳ lạ mang tên Nguyễn Ái Quốc (sau này đổi tên là Hồ Chí Minh), tác giả áng văn đả kích nổi tiếng có tựa đề: ‘Lên án chủ nghĩa thực dân Pháp,’ cùng với những người cùng chí hướng đang hoạt động tại nước Nga Xô viết.Người ta đã kín đáo đưa riêng cho Giáp một bản và anh đã đọc ngấu nghiến một cách thầm vụng…
Anh học trò trung học Võ Nguyên Giáp say mê nhất môn lịch sử, địa lý và chỉ tạm gác việc đọc các sách sử-địa khi bận đến dự các cuộc bàn cãi sôi nổi về các đề tài liên quan đến lịch sử nước nhà,” nhà sử học Boudarel viết trong cuốn sách của mình.
Trong quan niệm của Georges Boudarel, “Người anh cả” của quân đội nhân dân Việt Nam thể hiện sự kế thừa có chọn lựa những tư tưởng quân sự của các nhà cách mạng hiện đại như Lênin, cũng như của các nhà chiến lược quân sự kinh điển như Tôn Tử.
Nhưng trên hết, tướng Giáp thể hiện sự vận dụng trung thành tư tưởng của Hồ Chí Minh, cũng là tư tưởng của Đảng về chiến tranh nhân dân.
Tác giả đã đi vào lý giải nguyên nhân giành thắng lợi của quân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến trường kỳ. Như nhà sử học người Pháp Alain Ruscio nhận định: “Cuốn sách này co lợi thế hơn nhiều so với các cuốn sách khác viết về Giáp sau đó: Không còn bám vào câu hỏi ‘Giáp và nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi như thế nào?’ nhưng Boudarel đã giải thích ‘Tại sao’ họ lại chiến thắng.”
Ông phân tích cụ thể: “Võ Nguyên Giáp đâu phải chỉ có một mình. Ông có nhân dân Việt Nam cùng kề vai sát cánh. Người Việt Nam giàu truyền thống đấu tranh chống xâm lược nước ngoài… Với Bác Hồ, với Giáp và các bạn chiến đấu của mình, cụm từ ‘chiến tranh nhân dân’ không ngừng trở thành khẩu hiệu động viên toàn thể dân tộc được đem ra thực hiện hàng ngày.”
Nhờ vậy, “một dân tộc nhỏ bé” với những người du kích quần áo rách rưới, chân đi dép cao su, trang bị thô sơ đã đương đầu và chiến thắng kẻ thù với vũ khí tối tân, hiện đại gấp nhiều lần.
Là người đã từng gặp gỡ, tiếp xúc trực tiếp với Georges Boudarel tại Paris, đến khi đọc tập sách này, nhà sử học Dương Trung Quốc chia sẻ: “Tên cuốn sách là một cách gọi thân mật nhưng vẫn giữ được sự trân trọng của một người nước ngoài, song cũng không xa lạ đối với ‘Người anh cả’ của Quân đội nhân dân Việt Nam mà Georges Boudarel từng tham gia”.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đọc Quân lệnh số I Quyết định thành lập đội Việt Nam tuyên truyền Giải Phóng quân (22-12-1946)
Chân dung vị Đại tướng hiện lên vừa là một nhân vật của lịch sử nhưng chính bản thân ông cũng lại là một người viết nên lịch sử.
Nhà sử học Dương Trung Quốc nhận xét: “Sự quan sát và phân tích của Boudarel vô cùng sắc sảo và thuyết phục dựa trên nguồn tư liệu phong phú, xác thực, thể hiện cái nhìn của một người trong cuộc.”.
“Đó không chỉ là một cuốn tiểu sử. Đó là cả một pho sử mà tên tuổi ‘Giáp’ đã gắn bó, cống hiến và để lại những dấu ấn rất đậm nét xuyên suốt toàn bộ lịch sử hiện đại Việt Nam, lịch sử Giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa thực dân trong cương vị của vị Tổng tư lệnh-Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, gắn với huyền thoại từ Điện Biên Phủ (1954) cho đến “Điện Biên Phủ trên không” (1972) rồi Chiến dịch mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (1975),” nhà sử học phân tích.
Chia sẻ tại buổi tọa đàm ra mắt cuốn sách, ông Võ Hồng Nam, con trai Đại tướng nói: "Cha tôi vẫn dạy, đã biết lịch sử thì phải biết cho đúng. Tác phẩm thể hiện góc nhìn của một người bạn từng chiến đấu cùng nhân dân Việt Nam về cuộc kháng chiến của dân tộc ta. Bên cạnh những tình cảm đối với cha tôi, ta còn thấy được ở đó những sự tâm đắc, hiểu biết sâu sắc của tác giả đối với lịch sử Việt Nam hiện đại."
Tập sách do Công ty Cổ phần sách Thái Hà và Nhà xuất bản Thế Giới phát hành.
Tác giả Georges Boudarel (1926-2003) là một thành viên của nhóm trí thức Mác-xít hoạt động công khai tại Sài Gòn năm 1947. Sau này, ra Bắc, ông xin gia nhập hàng ngũ Việt Minh và tham gia kháng chiến chống Pháp.
Năm 1964, Georges Boudarel trở về Pháp, bảo vệ luận án Tiến sỹ sử học về đề tài Việt Nam. Cuốn "Võ Nguyên Giáp" là một phần trong luận án Tiến sỹ của ông.
Theo Phương Mai
Vietnam+
Quản Giáo quangiao # Tuesday, January 29, 2013 1:57:49 PM
thieulongtexas # Wednesday, March 6, 2013 9:34:06 AM
QĐND - Cách đây 40 năm, chiến dịch phản công quy mô lớn của quân đội ta có sự phối hợp của lực lượng vũ trang Pa-thét Lào tại chiến trường Đường 9-Nam Lào, đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719", giáng một đòn chí mạng vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ - ngụy. Khi đó, tôi là Cục phó Cục Tuyên huấn được Tổng cục Chính trị cử làm phái viên tham dự chiến dịch. Tôi có may mắn được theo sát Bộ tư lệnh Mặt trận trong suốt quá trình tác chiến. Nay, các anh Lê Trọng Tấn - Tư lệnh và anh Lê Quang Đạo-Chính ủy Mặt trận cùng nhiều đồng đội đã qua đời. Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Đường 9-Nam Lào, tôi viết những dòng này để bày tỏ lòng tưởng nhớ các anh.
Ngày 30-1-1971, Mỹ-ngụy mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" tấn công lớn ra Đường số 9 và Nam Lào nhằm đánh chiếm Sê Pôn, phá tận gốc Đường Hồ Chí Minh và thử nghiệm công thức "Bộ binh ngụy + hỏa lực + hậu cần Mỹ". Chúng huy động một lực lượng lớn: Hơn 3 vạn quân chủ lực ngụy, gồm toàn những đơn vị hạng nhất (dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân...) cùng một khối lượng lớn binh khí kỹ thuật với: 450 xe tăng, xe thiết giáp; 250 khẩu pháo; 700 máy bay trong đó có 500 trực thăng và trực thăng vũ trang. Chúng tin tưởng sẽ giành thắng lợi để chứng minh cho sự thành công của "học thuyết Ních-xơn" và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".
Từ mùa hè 1970, ta đã dự kiến trước, phán đoán đúng ý đồ của địch và đã có sự chuẩn bị. Tháng 10-1970, Binh đoàn 70, một đơn vị tương đương quân đoàn được thành lập. Mặt trận B5, Quân khu Trị Thiên, Đoàn 559 được lệnh điều chỉnh đội hình, bố trí lực lượng, bày thế trận sẵn sàng.
Ngày 31-1-1971, Trung ương Đảng ra lời kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Đường 9-Nam Lào: "Trận này là một trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược không những để giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược mà còn nhằm tiêu diệt nhiều đơn vị dự bị chiến lược của địch, tạo điều kiện đánh bại một bước quan trọng âm mưu "Việt Nam hóa chiến tranh". Quân đội ta nhất định phải đánh thắng trận này".
Quân địch tháo chạy khỏi Bản Đông sau khi cuộc hành quân "Lam Sơn 719" bị đánh bại. Ảnh tư liệu.
Quân ủy Trung ương cử anh Văn Tiến Dũng làm đại diện Quân ủy tại mặt trận. Bộ tư lệnh Mặt trận Đường 9-Nam Lào được thành lập, anh Lê Trọng Tấn là Tư lệnh và anh Lê Quang Đạo là Chính ủy. Cán bộ các cơ quan Tổng cục, các quân binh chủng được tăng cường cho cơ quan mặt trận. Đây là một cơ quan chỉ huy mạnh, đủ khả năng quyền hạn chỉ huy tất cả các lực lượng trên địa bàn chiến dịch và tổ chức hiệp đồng các chiến trường có liên quan như Quân khu 4, B5, Quân khu Trị Thiên, Đoàn 559 và lực lượng vũ trang của bạn ở Nam Lào.
Anh Lê Trọng Tấn và anh Lê Quang Đạo ra trận lần này rất vội vã. Vừa đi vừa nắm tình hình.
Cục Tác chiến thường xuyên thông báo: Sư đoàn dù ngụy và sư đoàn lính thủy đánh bộ ra Đông Hà. Liên đoàn biệt động quân đã từ Đà Nẵng ra Cam Lộ. Bốn thiết đoàn số 3, 7, 11, 17 từ Quảng Ngãi, Huế đã ra vùng Khe Sanh-Lao Bảo. Các đơn vị hậu cần và bảo đảm của Mỹ đã ra Quảng Trị.
Trên đường vào mặt trận, anh Tấn, anh Đạo dừng lại ở một trạm thông tin do anh Niên-Tư lệnh Bộ đội Thông tin dẫn vào. Qua điện thoại, anh Tấn ra lệnh cho các đơn vị triển khai lực lượng, chiếm lĩnh trận địa. Mặt trận B5 và Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304) đánh địch ở phía đông Đường 9. Lực lượng Đoàn 559 đón đánh địch ở phía tây. Sư đoàn 324 (Quân khu Trị Thiên) cấp tốc hành quân ra nam Đường 9. Sư đoàn 2 (Quân khu 5) đã bí mật cơ động từ Quảng Nam ra từ trước, bố trí ở tây Bản Đông. Sư đoàn 308 được lệnh hành quân cấp tốc vào chiến trường sẽ đánh địch từ phía bắc xuống. Địch đang ra quân, ta cũng ra quân. Tình hình rất khẩn trương. Nhận lệnh, sư đoàn 308 đã cơ động bằng 2.500 chuyến xe tải vượt chặng đường 500km từ Nghệ An vào bắc Đường 9. Tiến nhanh! Thời gian là lực lượng! Gặp địch là đánh! Tại ngã ba Dân Chủ, cửa ngõ vào chiến trường, bộ đội xuống đi bộ, hối hả vượt đèo, leo dốc để kịp vào vị trí chiến đấu. Khí thế ra quân hùng tráng lạ thường. "Lối cũ bây giờ quá nhỏ, quân đi tràn cả ra rừng" (thơ chiến sĩ).
Ngày 8-2-1971, với sự yểm hộ của Mỹ, các đơn vị bộ binh, dù, thiết giáp ngụy Sài Gòn chia thành 3 cánh quân vượt biên giới Việt-Lào. Cánh quân chủ yếu tiến theo Đường 9 từ Lao Bảo đến Bản Đông. Hai cánh quân bảo vệ sườn đổ bộ bằng trực thăng xuống các điểm cao ở cả hai phía nam-bắc Đường số 9. Từng đàn trực thăng vần vũ kín cả bầu trời. Trực thăng vũ trang bắn rốc két, vãi đạn 20mm dọn bãi đổ bộ. Pháo bắn, khu trục ném bom, B52 rải thảm... Mỹ đã yểm hộ tối đa cho quân ngụy về không vận và hỏa lực. Mỹ-ngụy có mưu đồ chỉ trong vòng hai, ba ngày là cắt ngang lưng Đông Dương, chặn đứng tuyến vận chuyển chiến lược của ta. Nhưng chúng đã nhầm.
Ngay từ ngày đầu cuộc hành quân, địch đã bị ngăn chặn. Đến đâu chúng cũng bị đánh. Cánh quân nào cũng bị đánh. Trên bộ, chúng vấp phải các điểm chốt chặn của Mặt trận B5, Trung đoàn 24. Trên không, chúng vấp phải lưới lửa phòng không khá mạnh của Binh đoàn Trường Sơn (gồm 300 súng máy và pháo cao xạ). Phía sau lưng chúng, lực lượng của Mặt trận B5 pháo kích, tập kích vào các căn cứ Mỹ và cắt đường tiếp tế vận tải.
Trên hướng chủ yếu của chiến dịch đã diễn ra 3 trận đánh vang dội: Tiểu đoàn 1 biệt động quân ngụy, một đơn vị nổi tiếng ác ôn bị Trung đoàn 102 (Sư đoàn 308) diệt gọn trên đồi 500. Sư đoàn 308 đã mở toang cánh cửa phía bắc. Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) được một đại đội xe tăng và công binh phối hợp tiêu diệt một tiểu đoàn dù, đánh trúng Sở chỉ huy Lữ đoàn dù 3, bắt sống Đại tá Nguyễn Văn Thọ-Lữ đoàn trưởng và toàn bộ Ban tham mưu. Địch đưa Thiết đoàn 17 lên phản kích, nhưng bị Trung đoàn 36 (Sư đoàn 308) dùng B40 diệt gần hết xe tăng, xe thiết giáp. Xe địch cháy, nhiều xe máy vẫn nổ nhưng tổ lái đã chuồn.
Tin Đại tá Thọ-Lữ đoàn trưởng bị bắt và các đơn vị sừng sỏ bị tiêu diệt gây chấn động hàng ngũ địch, đồng thời nâng cao sĩ khí quân ta. Đúng là "Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu, Đẩu". Chính ủy Lê Quang Đạo rất chú trọng công tác cổ động chiến trường. Anh giao cho tôi thảo các lệnh động viên. Mỗi đơn vị lập được chiến công đều có điện khen của Bộ tư lệnh Mặt trận.
Bị bất ngờ vì những đòn giáng trả của bộ đội chủ lực ta, bị thiệt hại nặng, địch phải sớm đưa thê đội hai vào tham chiến hòng tiếp tục tiến đến Sê Pôn nhưng Sư đoàn 1 ngụy bị Sư đoàn 2 của ta chặn đánh không lên được Sê Pôn, chúng phải co cụm lại ở điểm cao 723 và dãy núi Phu Rệt nam đường 9. Lữ đoàn thủy quân lục chiến 147 bị Sư đoàn 324 của ta vây đánh phải co cụm lại ở các điểm cao 550, 432. Sau một tháng hành quân, địch vẫn chưa đến được Sê Pôn.
Bỗng nhiên, ngày 7 tháng 3 năm 1971, cái loa tuyên truyền của ngụy Sài Gòn và một số hãng tin phương Tây ầm ĩ loan tin: "Sê Pôn đã bị đánh chiếm". Sau khi kiểm tra tình hình trên thực địa, Quân báo mặt trận báo cáo: "Sáng 7 tháng 3 năm 1971, hai tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 2 ngụy được trực thăng Mỹ thả xuống phía tây nhà thờ Sê Pôn. Bị pháo ta bắn và đơn vị bảo vệ Sê Pôn đánh, chúng vội vã rút lui, hiện nay Sê Pôn không có địch".
Tôi báo cáo tin phương Tây với anh Đạo, anh Tấn. Tin thêm: "Việt Nam Thông tấn xã báo cho Cục Tuyên huấn: Ngụy Sài Gòn hủy bỏ kế hoạch đưa báo chí phương Tây đến Sê Pôn".
Anh Tấn nói ngay: "Địch sắp rút". Với sự nhạy cảm của một vị tư lệnh chiến trường dày dạn kinh nghiệm (sau này anh em trong quân đội đặt cho anh Tấn cái tên trìu mến là Giu-cốp Việt Nam), anh Tấn đã phán đoán trúng. Ngày 8-3-1971, Đảng ủy Mặt trận ra lời kêu gọi: "Thời cơ chuyển sang tấn công trên toàn mặt trận đã đến! Diệt và bắt sống thật nhiều địch! Phá hủy thật nhiều phương tiện chiến tranh của chúng! Đập tan cuộc hành quân Lam Sơn 719! Bảo vệ vững chắc con đường mang tên Bác, giành toàn thắng cho chiến dịch!".
Trên Đường 9, đoạn từ Lao Bảo đến Bản Đông, các trung đoàn 2, 24, 102 chốt chặn cắt đường rút lui của địch. Phía nam Đường 9, Sư đoàn 2 vây đánh bọn lính thủy đánh bộ. Từ phía Bắc, các trung đoàn 64, 36, 66 được các đơn vị xe tăng và pháo binh chiến dịch chi viện, tràn xuống vây ép cụm cứ điểm Bản Đông do hai lữ đoàn dù và hai trung đoàn thiết giáp ngụy đóng giữ.
Trong thời gian sôi nổi chuẩn bị đại phá quân địch, hậu phương tới tấp gửi tới mặt trận hàng vạn lá thư thăm hỏi, cổ vũ chiến sĩ.
Ngày 18-3-1971, địch bỏ Bản Đông tháo chạy. Binh lính địch rút lui hỗn loạn, nhiều đơn vị bỏ xe pháo luồn rừng chạy, sĩ quan rút bằng trực thăng, lính ngụy bám càng máy bay. Ngày 20-3-1971, Bản Đông hoàn toàn giải phóng. Sau một tháng rưỡi chiến đấu, chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào kết thúc thắng lợi. Đây là một chiến dịch phản công quy mô lớn có ý nghĩa chiến lược, đánh bại cố gắng cao nhất của Mỹ-ngụy trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Từ đó, chấm dứt quá trình tiến công đánh ra vòng ngoài bằng các cuộc hành quân lớn của Mỹ-ngụy trên chiến trường ba nước Đông Dương.
Trung tướng HỒNG CƯ
thieulongtexas # Wednesday, March 6, 2013 9:39:27 AM
http://my.opera.com/thieulongtexas/blog/2012/01/28/gioi-thieu-3-quyen-sach-hay-cua-ve-dai-tuong-vo-nguyen-giap
Quản Giáo quangiao # Wednesday, March 6, 2013 11:01:10 AM
Originally posted by thieulongtexas:
Trung tướng Hồng Cư chính là 1 trong "ba người anh đi bộ đội" trong bài thơ nổi tiếng "Màu tím hoa sim" của Hữu Loan đấy TL.
Unregistered user # Wednesday, March 6, 2013 11:32:41 AM
thieulongtexas # Wednesday, March 6, 2013 8:20:42 PM
Originally posted by quangiao:
Nghe anh nhắc mới nhớ. Hèn gì thấy gì đó quen quen. Hình như có trong bài anh Khoằm posted bên diễn đàn lichsuvn.info hay quansuvn.net. Bọn ngụy ăn cắp bài thơ này của CS rồi đem sửa lời, cắt xén, phổ nhạc phát hành kiếm tiền và ru ngủ người dân. Bài thơ hay như vậy mà bọn ngụy phổ nhạc nghe thấy phát oải, nghe là thấy buồn ngủ với âm hưởng nhạc vàng rên rỉ sến nặng, nhạc bi ai, nhạc khóc lóc, nhạc thuộc địa. Để ý nhạc vàng, nhạc sến dưới thời Pháp - Mỹ đều đậm tính bi ai hay nỗi buồn man mác gì đó tương tự. Hòan tòan nhão nhẹt mềm xèo không có sức chiến đấu, không có chút nhiệt huyết, chỉ thấy lạnh tanh.
Bên đây mình thấy nhiều ông bà theo thói quen, theo sở thích hát những lọai nhạc nhão, nhạc mềm yếu ủy mị khóc lóc rên rỉ thở than đó mình phục họ lắm vì mình ko hiểu họ cài đặt những âm thanh, âm hưởng đó vào đầu mỗi ngày thì chẳng hiểu họ lấy đâu ra hơi sức, sức mạnh để đi cày hay làm bất cứ việc gì.
Đó là một phần nguyên do vì sao cộng đồng người Việt hải ngoại luôn là một trong những cộng đồng èo uột nhất, xa cách với dòng chính nhất. Học vẹt thì không tệ. Tỷ lệ tốt nghiệp không tệ. Nhưng sự thành đạt trong công ăn việc làm, trong sự nghiệp ngòai học đường thì vô cùng khiêm tốn. Thua xa các cộng đồng Mỹ da đen, Mễ Tây Cơ, Tàu, Nhật, Hàn, Thái, Á Đông khác. Họ học để ra "xin việc", lao động, làm culi.
Một cộng đồng mà có những kẻ lấy chuyện đi lính Mỹ làm "niềm tự hào" cho người Việt, niềm tự hào cho cộng đồng Việt Nam, "niềm tự hào dân tộc", lên làm "chủ tịch cộng đồng" thì cộng đồng đó sẽ chẳng tiến triển gì được trong tương lai gần. Muốn cất cánh thành rồng thì phải chấm dứt cái tư tưởng thuộc địa, tư duy nô lệ thuộc địa, hay cái nhân sinh quan thời thuộc địa. Ôm cái tư tưởng đó làm việc với tụi nó thì làm sao không bị tụi nó đì, bóc lột, lợi dụng. Sau khi bị như vậy lại hô là nó "kỳ thị". Nhưng chỉ dám chửi với nhau, nói với nhau thôi chứ không dám khiếu nại thẳng trước mặt xếp. Chỉ dám rên rỉ than phiền sau lưng với nhau. Nói chung là các tư tưởng và hành động của những con người thuộc địa. Thời thuộc địa thì thợ thuyền, phu khuân vác, thợ cạo mủ cao su, các nô lệ cũng y chang như vậy thôi, chỉ dám nói xấu, rên rỉ, than thở với nhau, sau lưng ông chủ da trắng. Chứ trước mặt làm gì dám 1 lời phạm thượng. Nín thin im re cúi gằm cái mặt xuống chờ chủ da trắng sai vặt. Bởi vì trái lời là nó cầm roi nó quất, nó quát nạt và sai bọn lâu la đến đập nên thân những ai dám cãi lại quan thầy. Cho nên riết rồi thành quen, thành một sự thích nghi thích ứng để sinh tồn trong cái môi trường, xã hội thuộc địa đó. Dần nó hình thành 1 lọai "văn hóa" nô lệ thuộc địa. Người dân thuộc địa nhìn thấy nhau như thế nào thì làm theo như thế đó, bắt chước nhau, và di truyền não trạng đó cho con cháu. Cho nên phải nói là tội ác Pháp - Mỹ hơn 100 năm ở VN là không chỉ có những tội ác chiến tranh kiểu giết người, tàn sát, mà còn ở khía cạnh tâm lý, tinh thần, tư tưởng tư duy, não trạng, văn hóa. Và hậu quả tàn dư của nó thật khó lường. Không biết bao giờ mới hết tư tưởng tàn dư thuộc địa. Không ai biết cần bao nhiêu thời gian thì mới hết hòan tòan đc.
Cái tư tưởng sính ngọai trong nước cũng là 1 dạng này đây. Đó là tàn dư phong kiến thuộc địa. Hôm qua bx ra Sài Gòn kể với mình chuyện người ta xếp hàng uống Starbuck để lấy le. Trong khi Starbuck là nước lã pha đường, có chút mùi cà phê gọi là thôi chứ cà phê cà pháo gì nó. Cà phê Việt Nam có thương hiệu nổi bật cả thế giới, cực ngon, hương vị đặc thù như vậy mà đi uống cái thằng nhạt nhẽo chỉ vì muốn lấy le, ra vẻ. Đây gọi là gì? Y như 1 người dân thuộc địa lên mặt khoan khóai hí hửng chỉ vì cái mũ Tây, nhà có đồ Tây, hay thậm chí con gái "được" làm.... bồ nhí hay nô lệ tình dục cho Tây.
Vụ gào khóc K-pop cũng là ở miền Nam. Tình trạng tư tưởng, não trạng tàn dư thuộc địa này nói đúng ra là cả nước đều có. Nhưng người ta thấy nhiều hơn miền Nam là vì miền Nam mãi đến năm 1975 mới thật sự hết thuộc địa. Miền Bắc đc giải phóng sớm hơn. Cho nên những người miền Nam mà đã theo Bác theo Đảng, đã ưu tú kiên cường rồi thì rất mạnh, rất giỏi. Nhưng còn một bộ phận đã trở thành tay sai đắc lực rồi thì cũng rất cuồng và tư tưởng thờ phụng ngoại bang, bợ Tây chê Ta rất mạnh. Não trạng thuộc địa càng thấy nhiều ở hải ngọai, và hầu hết là thấy trong các cộng đồng chống cộng ba que, thì cái khỏi phải giải thích rồi.
Hồi cuối 70, 80, đầu 90, ở Cali, ở Tiểu Sài Gòn, ở những nơi có đông người Việt thì có các băng nhóm, băng đảng phản động và hình sự hoặc cả hai (vừa là cướp vừa mang màu sắc chính trị). Các băng nhóm đó không bao giờ dám đi cướp người Mỹ hết, mà chỉ dám đi bán mũ VC rồi khủng bố lung tung, và đi ăn cướp đồng hương, lấy danh nghĩa "mặt trận", "kháng chiến", "phục quốc", "quang phục quê hương" đi đòi bảo kê, đi xin đểu, tống tiền ở các khu thương mại người Việt. Gan lắm thì chỉ dám đến Chinatown (phố Tàu) để ăn cướp những.... người Việt đang buôn bán trong đó. Tuyệt đối không bén mảng, không dám đụng tới người Mỹ.
Thế là các bác H.O., các bác buôn bán thương mại mới nảy ra "sáng kiến", thuê mấy thằng Mỹ trắng, da càng trắng càng tốt, đa phần là bọn vô gia cư (homeless) để làm "bảo vệ". Cho đứng ở ngay ngòai cửa tiệm. Bọn băng đảng người Việt thấy thằng Mỹ, mà lại là Mỹ da trắng đứng chình ình trước cửa thì bố bảo cũng không dám vào quậy. Chứ không có người Mỹ là đã kéo bầy vào nạt nộ, "xin" cái này "cầm nhầm" cái kia rồi, thậm chí thấy cô nào xinh xinh 1 chút là kéo lên xe đưa đến motel gần đó "hành sự".
Sau "sáng kiến" đó thì những khu vực quậy đó ở Cali và Tiểu Sài Gòn mới yên lại 1 chút. Băng đảng xã hội đen người Việt bớt hòanh hành, thấy khó làm ăn hơn nên bắt đầu chuyển địa bàn sang Seattle (Washington), Portland (Oregon), Houston (Texas), New York, Michigan.
Xem thêm tại đây: http://my.opera.com/thieulongtexas/blog/2012/02/04/lich-su-bao-dong-cua-gioi-chong-cong-tai-my
Unregistered user # Thursday, March 7, 2013 12:28:25 AM
Unregistered user # Thursday, March 7, 2013 9:18:28 AM