Phép dùng người của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Friday, February 10, 2012 5:34:14 AM
1. “Vô luận việc gì đều do người làm ra''
Với Hồ Chí Minh, nhân dân, con người không bao giờ là phương tiện của các nhà chính trị mà ngược lại nhà chính trị, đảng chính trị… phải nhất quán trong nhận thức và hành động rằng nhân dân là người chủ sở hữu của quyền lực chính trị, con người vừa là mục đích vừa là động lực và sức mạnh của mọi sự nghiệp chính trị. Hồ Chí Minh đã từng nói: nhiều khi đường lối, chính sách đúng nhưng hoặc chưa làm được, hoặc làm được nửa chừng rồi lại nguội, vì chúng ta quên một lẽ rất giản đơn dễ hiểu, tức là vô luận việc gì đều do người làm ra và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả. Công việc Đảng, Nhà nước bao gồm nhiều lĩnh vực đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ, công chức tốt để thi hành công vụ. Từ quan niệm ''vô luận việc gì đều do người làm ra'', Hồ Chí Minh kết luận: có cán bộ tốt, việc gì cũng xong. muốn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém.
2. Dùng người vì chính lợi ích của mọi người
Động cơ thôi thúc Hồ Chí Minh là tiến hành sự nghiệp vĩ đại: giải phóng dân tộc, xã hội, con người, trong đó độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào; làm cho mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Chính động cơ ấy đã trở thành triết lý nhân sinh, thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ chính sách dùng người của Hồ Chí Minh. Động cơ mang tính lý tưởng, khắc đậm chủ nghĩa nhân văn Hồ Chi Minh đã gặp gỡ những mong mỏi và lợi ích đời thường của mọi người lao khổ. Ý chí của Lãnh tụ với mong mỏi của đại đa số quần chúng trở nên đồng thuận một cách tự nhiên. Mọi người tập hợp dưới ngọn cờ của Lãnh tụ, phấn khởi tự hào được là lính Cụ Hồ, tuân theo sự điều khiển của Lãnh tụ: ''Bác bảo đi là đi'', bởi họ tin rằng: ''Bác bảo thắng là thắng''.

3. Yêu người, kính cẩn, thành tín và khoan dung
Các Mác từng nói: muốn mọi người đối xử với mình thế nào thì hãy đối xử với mọi người như vậy. Ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới UBND các cấp phê phán thói kiêu ngạo, tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi, coi khinh dân gian, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt ''quan cách mạng'' lên; không biết rằng, thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến uy tín của Chính phủ. Người căn dặn cán bộ, công chức các cấp: việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. Hồ Chí Minh là ngọn cờ tập hợp mọi tầng lớp nhân dân; Người không những có sức cảm hoá, thu phục được những người cùng chí hướng, những tầng lớp, giai cấp cách mạng và những người có cảm tình với cách mạng mà còn cả những người không cùng chính kiến, quan điểm, thậm chí cả kẻ thù của mình. Sở dĩ như vậy là bởi vì, ở Người luôn toát lên sự thẳng thắn, trung thực, tôn trọng lẽ phải, tôn trọng con người và luôn ứng xử với ''lý lẽ phân minh, nghĩa tình đầy đủ'', luôn luôn giải quyết công việc ''có lý, có tình'', xuất phát từ đời sống hiện thực.
4. Hiểu mình và hiểu người
Xưa nay các vĩ nhân làm nên sự nghiệp lớn đều có chung một tư tưởng: ''biết mình, biết người'', ''biết địch, biết ta''. Biết, chính là bí quyết của sự thành công” Hồ Chí Minh đã chỉ ra một số căn bệnh cơ bản làm cho người cán bộ không tự biết được mình. Đó là, cậy thế kiêu ngạo, ưa người phỉnh nịnh mình,tư túi, kinh nghiệm chủ nghĩa, máy móc, giáo điều. Người cán bộ lãnh đạo, quản lý mắc những bệnh tật ấy, thì không hiểu được chính cái mạnh, cái yếu của mình do vậy không thể hiểu được người khác, tựa như mắt đã mang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông. Muốn biết rõ cán bộ, muốn đối đãi một cách đúng đắn các hạng người, trước hết phải sửa những khuyết điểm của mình. Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng Trên cơ sở tự hiểu mình, cần phải có phương pháp xem xét để hiểu cán bộ một cách thấu đáo, ''không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc” mà phải xét kỹ cả toàn bộ công việc của cán bộ''.
5. Phải khéo dùng người
Theo Hồ Chí Minh, muốn dùng cán bộ đúng thì người cán bộ lãnh đạo cần phải: một là, mình phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ không bị bỏ rơi. Hai là, phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gũi những người mình không ưa. Ba là, phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ. Bốn là, phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt. Năm là, phải có thái độ vui vẻ thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gũi mình. Khéo dùng cán bộ xuất phát từ việc tập hợp được sức lực và tài năng của mọi người vào việc hoàn thành nhiệm vụ chung. Nếu dùng cán bộ mà để họ hoang mang, sợ hãi, buồn rầu, uất ức hoặc cộng tác không hợp, chắc không thành công được. Vì vậy, muốn cán bộ làm được việc, phải khiến cho họ yên tâm làm việc, vui thú làm việc, phải thực hành những việc sau: làm cho người cán bộ mạnh dạn dám nghĩ, dám nói, dám đề xuất ý kiến; làm cho cán bộ có tinh thần chủ động, dám phụ trách (làm chủ) trong công việc. Phải mạnh dạn cất nhắc cán bộ.

6. Phải nuôi dạy cán bộ
Muốn có cán bộ tốt, thì cơ quan lãnh đạo, quản lý phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Muốn dùng người thì phải quan tâm săn sóc, giúp đỡ, nghĩa là phải “nâng cao'' người cán bộ, cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần, làm cho người cán bộ ngày càng ''lớn lên'' cùng với sự nghiệp cách mạng. Phải thường xuyên huấn luyện cán bộ để bất cứ cán bộ nào cũng đều ''vững về chính trị, giỏi về chuyên môn''.
7. Phải đổi mới và đan xen các thế hệ cán bộ
Mỗi thế hệ cán bộ sinh ra và trưởng thành trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau, mỗi người đều có những sở trường và sở đoản, cái mạnh và cái yếu nhất định, tuyệt nhiên không ai giống ai. Hồ Chí Minh nhắc nhở: phải thấy cái giới hạn khắc nghiệt của thời gian để tạo nguồn thay thế, bổ sung cho tổ chức những lớp người mới, đủ sức lực và tài năng đảm đương nhiệm vụ theo những yêu cầu mới. Theo Người, cần cán bộ già, đồng thời rất cần nhiều cán bộ trẻ; công việc ngày càng nhiều, càng mới. Một mặt, Đảng phải đào tạo, dìu dắt đồng chí trẻ, mặt khác, đảng viên già phải cố gắng mà học. Việc đổi mới cán bộ phải rất khách quan, công minh, cần lấy việc hoàn thành nhiệm vụ làm căn cứ; phải tổng kết từ phong trào thực tiễn, phát hiện những nhân tố mới, những cán bộ trẻ có đức, có tài để trao nhiệm vụ cho họ. Mặt khác cũng cần tạo điều kiện cho số cán bộ lớn tuổi, đã công tác quá lâu trong các văn phòng có điều kiện thâm nhập thực tế để khỏi lạc hậu với thực tế Vấn đề luân chuyển cán bộ hiện nay là một chủ trương đúng phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh.
8. Vun trồng lòng tự trọng, tự tin cho cán bộ, giúp họ sửa chữa sai lầm, khuyết điểm
Hồ Chí Minh cho rằng: ai cũng có lòng tự trọng, tự tin; không có lòng tự trọng, tự tin là vô dụng. Vì vậy phải xem xét kỹ trước khi cất nhắc; giúp đỡ, vun trồng, khuyên gắng, khích lệ lòng tự tin, tự trọng; kiểm tra, uốn nắn thường xuyên không để ''tích tiểu thành đại''. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp họ sửa chữa ngay, để vun trồng các thói có gan phụ trách, cả gan làm việc của họ. Đồng thời phải nêu rõ những ưu điểm, những thành công của họ. Làm thế không phải làm cho họ kiêu căng mà cốt làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức. Phải vun đắp chí khí của họ, để đi đến chỗ ''bại cũng không nản, thắng cũng không kiêu''.
9. Gương mẫu
Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạng đến vai trò của cán bộ cấp trên. Người đã nhiều lần nhắc nhở đảng viên, cán bộ cấp trên phải làm mực thước cho cán bộ cấp dưới và người ngoài Đảng. “Thượng bất chính, hạ tắc loạn''. Nếu cán bộ cấp trên không gương mẫu thì làm sao có thể bảo ban, hướng dẫn được cấp dưới, làm sao duy trì được kỷ luật Đảng và trật tự kỷ cương phép nước. Hồ Chí Minh đã kịch liệt phê phán thói nể nang, bênh che cho nhau. Người đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải ghi nhớ rằng mình làm cách mạng là để phục vụ nhân dân, phải luôn ghi tạc trong lòng: lo toan công việc chung trước mọi người, hưởng thụ sau mọi người. Chỉ có như vậy mới thu phục, cảm hoá giáo dục được cấp dưới và mọi người.
10. Đổi mới cách lãnh đạo để dùng người
Vì việc mà dùng người. Công việc xây dựng và bảo vệ đất nước luôn luôn đổi mới, phát triển. Do đó, phải không ngừng đổi mới cách lãnh đạo để dùng người. Để lãnh đạo được thì phải học hỏi quần chúng. Điều đó có nghĩa là “người lãnh đạo không nên kiêu ngạo mà nên hiểu thấu'', ''một giây, một phút không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng'', ''phải biết lắng nghe ý kiến của những người không quan trọng”. ''Hiểu thấu'', ''biết lắng nghe'', học hỏi quần chúng, nâng cao nhân dân, ''đưa chính trị vào giữa dân gian'' đã hợp thành một hệ giá trị của văn hoá chính trị và là vấn đề hàng đầu của đổi mới cách lãnh đạo. Nhân dân phải là người được tham gia vào quá trình ra quyết định. Theo Hồ Chí Minh, người ra quyết định thường chỉ ''phán từ trên xuống'', còn người thi hành quyết định lại chỉ ''nhìn từ dưới lên''. Cả hai đều có hạn chế. ''Vì vậy, muốn giải quyết vấn để cho đúng, ắt phải hợp kinh nghiệm cả hai bên lại''. Kiểm soát là điều bắt buộc của lãnh đạo, muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết có được thi hành không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát. Việc kiểm soát phải có hệ thống, thường xuyên. Người đi kiểm soát phải là những người có uy tín'', ''phải đi tận nơi, xem tận chỗ'', phải kiểm soát bằng hai cách, từ trên xuống và từ dưới lên, ''tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cách sửa chữa sự sai lầm đó''.
Phép dùng người của Hồ Chí Minh đã được thực tiễn lịch sử kiểm nghiệm, khẳng định. Đó là cơ sở lý luận và phương pháp luận của khoa học tổ chức trong tình hình hiện nay.
Nguyễn Văn Cư


thieulongtexas # Sunday, March 31, 2013 7:39:20 AM
Hầu như mọi người đều thuộc lòng lời dạy của Bác Hồ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(1). Đó là một chân lý. Thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng ta từ ngày thành lập tới nay đã chứng minh sức sống bất diệt của chân lý đó.
Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta trong giai đoạn hiện nay đang đứng trước những thời cơ “rồng mây gặp hội” và cả những “bão tố phong ba”, những nguy cơ, những thách đố ngặt nghèo. Hơn bao giờ hết chân lý “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, càng phải trở thành ánh lửa soi sáng lương tri của toàn Đảng, của các cấp lãnh đạo, quản lý đất nước, trước hết là ở cấp chiến lược.
Cán bộ và công tác cán bộ từ lâu đã được coi là công việc quan trọng bậc nhất, việc làm thường xuyên trong công tác lãnh đạo của Đảng, trong đó việc đánh giá cán bộ giữ vai trò then chốt.
1. Đánh giá cán bộ nhằm mục đích gì?
Ở mỗi thời kỳ cách mạng đều có những mục tiêu cụ thể, phải hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể. Vì vậy Đảng vừa phải xác định cho đúng mục đích cuối cùng, thể hiện ở Cương lĩnh cách mạng (Cương lĩnh như ngọn cờ vẫy gọi, hải đăng chỉ đường, la bàn định hướng), vừa phải xác định được chương trình hành động trong giai đoạn 5 năm, 10 năm, 20 năm...
Căn cứ vào các nghị quyết đã được thông qua, những mục tiêu đã đề ra, những nhiệm vụ phải làm, những yêu cầu phải đạt để định rõ các tiêu chuẩn cán bộ cần phải có. Căn cứ vào kết quả thực hiện nghị quyết để đánh giá cán bộ.
Không xác định rõ chuẩn mực sẽ không thống nhất trong việc xem xét, kiểm sát và đánh giá cán bộ, sẽ dễ rơi vào chủ quan, cảm tính, thiên vị. Việc đánh giá cán bộ thực ra cũng là việc con người (dù là theo nguyên tắc tập trung dân chủ) đánh giá con người. Mà đã là con người thì ai cũng có những tình cảm riêng, các mối quan hệ riêng (tính tình, sở thích, họ hàng, bè bạn…). Đó là lẽ bình thường, là sự thật hiển nhiên không thể phủ nhận. Vậy thì cần phải đề ra các chuẩn mực khách quan (cụ thể, không chỉ dừng ở khái niệm chung) như cái thước đo, được xác định như là một chuẩn mực đo lường quốc gia. Hồ Chí Minh xác định “dùng cán bộ cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và Chính phủ”(2). Đó là căn cứ khách quan, mà đã khách quan thì người (hoặc tập thể) khi đánh giá cán bộ phải phục tùng, phải vượt qua tình cảm riêng, quan hệ riêng.
Đường lối, nghị quyết, chính sách, pháp luật… suy cho cùng cũng chỉ là những hệ chuẩn mực chung của từng thời kỳ. Trong tiến trình lịch sử, nó có thể được điều chỉnh. Lòng tin của dân đối với Đảng và Nhà nước là thước đo bản chất của một Đảng cách mạng chân chính, của Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi y án tử hình đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân lương trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp đã chỉ rõ: Tội lớn nhất mà y phải nhận sự trừng phạt cao nhất của pháp luật là y đã hành động dẫn tới làm mất lòng tin của dân đối với Đảng và Chính phủ.
Dư luận chung cho rằng việc đánh giá cán bộ và xử lý một số vụ việc vừa qua có thể coi là tích cực, nhưng cũng còn không ít vụ việc chưa hẳn đã được đa số nhân dân đồng tình. Thiết nghĩ các đồng chí có trách nhiệm cần lắng nghe để hiểu thấu lòng dân, vì như Bác Hồ đã dạy “Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng.
Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(3).
Mục tiêu của cách mạng, yêu cầu của nhiệm vụ và lòng tin của dân là một hệ giá trị để xác định mục đích của việc đánh giá, sử dụng cán bộ, trong đó lòng tin của dân là giá trị trung tâm và chi phối toàn bộ hệ giá trị.
2. Kiểm soát và chọn cán bộ làm công tác kiểm soát.
Như trên đã nói, việc đánh giá cán bộ là việc con người đánh giá con người. Nếu như mục đích là “cái thước đo” phải đạt chuẩn quốc gia thì người làm công tác đánh giá, kiểm soát (người cầm thước) cũng phải đạt chuẩn quốc gia. Để đánh giá đúng cán bộ thì việc cần phải làm trước tiên là làm tốt công tác kiểm tra và chọn người đảm trách tốt công tác kiểm tra (tổ chức - cán bộ và kiểm tra).
Hồ Chí Minh chỉ rõ “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không, muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện chỉ có một cách khéo kiểm soát.
Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi.
Song muốn kiểm soát có kết quả tốt, phải có hai điều: Một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm. Hai là người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín”(4).
Thực tiễn cho thấy cả hai điều trên, chúng ta đều đã làm nhưng chưa thường xuyên, chưa làm đồng bộ mang tính hệ thống và rất tiếc là còn không ít cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, thanh tra đã mắc nhiều khuyết điểm, thậm chí có người đã bị lợi ích cá nhân, vì đồng tiền mà tư túng, bao che, biến đen thành trắng.
Để đánh giá cán bộ đúng thì cần có cơ chế kiểm tra thường xuyên và phải có cán bộ kiểm tra có động cơ đúng đắn, phải có khả năng và dũng khí cách mạng. Không ai lúc nào cũng tốt, cũng đúng, cũng cứng rắn, đủ sức mạnh để vượt qua mọi cám dỗ. Vì vậy phải tạo ra một cơ chế nhằm tăng sức mạnh của tập thể tiếp sức cho cán bộ, vừa bảo vệ được cán bộ, vừa nâng đỡ, động viên cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Việc kiểm tra cơ quan và cá nhân làm công tác kiểm tra cần phải được quy định thành chế độ công vụ nghiêm ngặt.
Có một thực tế cần chú ý là diện cán bộ thuộc cấp trên quản lý thường rất dễ rơi vào vòng ngoài của sự kiểm tra. Tổ chức cơ sở đảng nơi đồng chí đó công tác thường e dè, nể nang thậm chí tự ti, không dám kiểm tra tư cách, đạo đức, tác phong của cán bộ lãnh đạo với tư cách họ là đảng viên, bởi vì sợ họ là cấp trên, là người quyết định liên quan đến mọi lợi ích của các thành viên trong chi ủy, đảng ủy cơ sở. Các đồng chí thuộc diện cấp trên quản lý thường ỷ vào bận nhiều việc nên coi thường sinh hoạt đảng, tự ý tách mình ra khỏi kỷ luật đảng, tự mình tung hoành. Cấp trên thì xa (có thể cũng quan liêu), tổ chức cơ sở đảng thì né tránh nên cán bộ tự do, muốn sao làm vậy, coi trời bằng vung. Việc này Bác Hồ đã phê phán nghiêm khắc “Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông “vua con” ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp. Đối với quần chúng ra vẻ quan cách mạng làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc “ông tướng, bà tướng” ấy đã gây ra bao ác cảm, bao chia rẽ, làm cho cấp trên xa cấp dưới, Đoàn thể xa nhân dân”(5).
Hàng loạt những vụ việc tiêu cực xảy ra trong thời gian gần đây cho thấy công tác kiểm tra của tổ chức cơ sở đảng còn có nhiều yếu kém, cần sớm được khắc phục để việc đánh giá cán bộ không bị động, nhầm lẫn, thậm chí sai lầm.
Tóm lại, cả “thước đo”, “người cầm thước” và cơ chế vận hành của tổ chức đảng cần quán triệt sâu sắc Tư tưởng của Bác để chấn chỉnh, sửa đổi.
3. Giải pháp.
Một là, cần rà soát lại quy trình đánh giá cán bộ, quy rõ trách nhiệm cá nhân, tổ chức, không để có kẽ hở dẫn tới đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan, tổ chức, nhất là giữa cơ quan đảng và cơ quan nhà nước. Hiện nay, có hiện tượng ỷ vào việc phân cấp diện cán bộ do Ban Bí thư quản lý để lảng tránh trách nhiệm của thủ trưởng đối với cán bộ ở cơ quan, đơn vị mình là việc làm thiếu tính đảng và thiếu ý thức chấp hành Pháp lệnh cán bộ, công chức.
Mới đây, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chấp nhận ông Nguyễn Văn Lâm (Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ) từ chức và không để Thiếu tướng Cao Ngọc Oánh giữ chức vụ Phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra được dư luận đồng tình vì thể hiện đúng tinh thần pháp luật, đúng với quyền và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cao nhất.
Hai là, cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Thanh tra Chính phủ và Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ trong công tác kiểm tra, đánh giá cán bộ.
Ba là, cần phát huy sức mạnh của các phương tiện thông tin đại chúng. Đã từ lâu trên thế giới, trong các nước phát triển, người ta đã rất chú trọng tới tiếng nói phản biện, phản hồi của nhân dân qua các phương tiện thông tin đại chúng. Dựa vào nhân dân là một cách làm hữu hiệu để kiểm soát và đánh giá cán bộ. Và, đó cũng là cách để cán bộ có thông tin giúp mỗi người hiểu được xã hội đang định giá trị cho mình như thế nào. Đó cũng chính là thực hiện Tư tưởng Hồ Chí Minh: Dựa vào dân chúng mà giáo dục, đánh giá và cất nhắc cán bộ.
Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức - cán bộ, thanh tra, kiểm tra, đồng thời có chính sách bảo đảm lợi ích và động viên tinh thần để vừa phát huy tính tích cực cách mạng của họ, vừa đảm bảo cho họ có những điều kiện giúp họ giữ được đức thanh liêm, khách quan vô tư và toàn tâm toàn ý với công việc. Có quy định để vừa tôn vinh, bảo vệ những người thanh tra, kiểm tra trung chính, vừa có chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với việc nhận định, đánh giá không đúng về cán bộ (cả tâng bốc, đánh bóng ưu điểm lẫn bôi đen, sai sự thật). Có quy định cho từng cán bộ làm công tác kiểm tra, đánh giá cán bộ được giữ ý kiến độc lập của mình và có thể gửi báo cáo bằng văn bản vượt cấp về những vấn đề mình nhận định (nếu những nhận định đó không được cấp trên trực tiếp, hoặc cấp ủy cùng cấp đồng tình), đồng thời phải chịu trách nhiệm về tất cả nội dung đã báo cáo.
_____
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.269 và 273. (2, 3) Sđd, tr.279. (4) Sđd, tr.287. (5) Sđd, tr.72.
PGS. TRẦN ĐÌNH HUỲNH
Viện trưởng viện công nghệ quản trị nhân sự Châu Á