Bệnh ung thư và....

Sống là tìm kiếm, góp nhặt và đi tới phía trước

Subscribe to RSS feed

Bướu diệp thể vú

Là một dạng bệnh lý của tuyến vú, được mô tả lần đầu tiên năm 1838 bởi Johannes Muller và ban đầu ông gọi nó là sarcoma nang diệp thể (Cystosarcoma Phyllodes).
Từ đó đến nay, bướu đã có nhiều tên gọi, và đến năm 1981 – bướu đã được WHO thống nhất gọi là bướu diệp thể - phyllodes tumor
Bướu thường diễn tiến chậm, đa số lành tính dù kích thước thường lớn, bướu ít gặp, chiếm 0.3 – 0,9% các trường hợp u vú, chiếm khoảng 2,2-4% bướu lành tính tuyến vú, và chiếm khoảng 2,3% các trường hợp tân sinh thuộc nhóm sợi-tuyến của vú
Việc chẩn đoán bướu không quá khó khăn, trừ một số trường hợp việc chẩn đoán phân biệt bướu diệp thể với bướu sợi tuyến thực sự là một thử thách.
ĐỊNH NGHĨA:
Năm 1838, Muller mô tả một loại bướu khổng lồ có mặt cắt ngang giống như chiếc lá, bề ngoài bướu giống khối thịt, trong lòng có chỗ hóa nang.
Năm 1980, theo phân loại của CIM-O, bướu được xếp vào nhóm bướu sợi biểu mô gồm: bướu sợi tuyến khổng lồ và bướu diệp thể lành – ác.
Năm 1981, WHO đề nghị không sử dụng từ Cystosarcoma nữa mà đề nghị gọi là bướu diệp thể - phyllodes Tumor. Tên gọi này nhanh chóng được chấp nhận rộng rãi, vì tự nó không cho biết về bản chất lành ác của bướu mà tính lành ác này sẽ được xác định bằng các đánh giá về mô học.
Như vậy, theo WHO thì bướu diệp thể là một bướu giới hạn rõ, có cấu trúc giống lá cây, bao gồm thành phần là mô liên kết và biểu mô, tương tự bướu sợi tuyến nhưng có thành phần mô liên kết nhiều hơn.
GIẢI PHẪU HỌC
Đại thể:
Bướu diệp thể lành và ác đại thể giống nhau, giới hạn rõ, mặc dù bướu không có vỏ bao thực sự.
Kích thước bướu thay đổi khá nhiều từ 1cm-40cm. Bướu có giới hạn rõ, dạng một khối tròn hay bầu dục, bờ đa cung, bướu có vỏ bao giả. Bên trong bướu có chỗ hóa nang, có những vùng mỡ vàng, vùng xuất huyết, vùng hoại tử, mặt cắt nhầy và phồng, vùng sợi chắc xen kẽ vùng mô mềm. Tính chất hình lá của bướu là do những chồi dạng nhú của mô đêm được lót bởi biểu mô tạo nên.

Đại thể bướu diệp thể - giới hạn rõ, có vỏ bao



Vi thể:
Bướu diệp thể gồm hai thành phần là biểu mô và thành phần mô đệm tương tự như bướu sợi tuyến.
Thành phần biểu mô: tương tự biểu mô ống tuyến của mô vú xung quanh, bao gồm tế bào biểu mô ống tuyến vú và tế bào cơ biểu mô, cũng có thể có tăng sản và biến đổi không điển hình.
Thành phần mô đệm: đây là thành phần giúp xác định bướu diệp thể lành hay ác, cũng như phân biệt bướu diệp thể với bướu sợi tuyến.
WHO đã xếp hạng bướu diệp thể thành 3 nhóm, đó là : lành, ác, và nhóm giáp biên dựa vào những tiêu chuẩn sau:
 Mức độ tế bào mô đệm (stromal cellularity): thấp, trung bình hay cao.
 Sự đa dạng hình thái tế bào (cellular pleomorphism): nhẹ, trung bình, nặng.
 Số phân bào: ác khi có nhiều hơn 10 phân bào trên một quang trường kính 10, lành khi có ít hơn 4 phân bào trên 1 quang trường kính 10.
 Bờ bướu: có chèn ép hay xâm nhiễm hay không?
 Dạng mô đệm: đồng nhất, không đồng nhất hay quá phát.
Từ đó WHO xếp loại như sau:
- Bướu ác: hiện diện ở mức tối đa của ít nhất 4 yếu tố kể trên, chiếm khoảng 30-35% các trường hợp
- Lành: ít nhất 3 yếu tố kể trên ở mức thấp nhất và có không quá 2 yếu tố ở mức trung bình.
- Giáp biên: khi không thuộc 2 nhóm kể trên.
Lưu ý:
• Có khoảng 25% bướu diệp thể ác mà tính chất ác chỉ biểu hiện ở một số vùng tập trung trong bướu thành từng ổ và có thể bị bỏ sót.
• Một số bướu ác tính, sự quá phát mô đệm có thể lấn át thành phần biểu mô khiến khó phân biệt với bướu diệp thể trên vi thể. Chẩn đoán bướu diệp thể cần thấy được thành phần ống tuyến.

Hình ảnh vi thể của bướu diệp thể lành



CHẨN ĐOÁN
Lâm sàng:
Bướu gặp ở bệnh nhân lứa tuổi 30 đến 70 tuổi, trung bình khoảng 40, lớn hơn tuổi trung bình của bướu sợi tuyến khoảng 15-20 tuổi.
Đa phần là một bướu không đau, tròn nhẵn. Bướu phát triển liên tục, cũng có khi phát triển nhanh từ một bướu ổn định trước đó. Da trên bướu có thể căng bong, mỏng với những tĩnh mạch dãn bên trên. Núm vú ít khi bị xâm lấn, ít khi bị kéo tụt vào.
Hạch nách có thể thấy trong 1/5 trường hợp nhưng hiếm khi mà nghi ngờ di căn, thường là viêm do bướu hoại tử hay nhiễm trùng.
Cận lâm sàng:
 Nhũ ảnh: tương tự bướu sợi tuyến, đó là sang thương có đậm độ cao, bờ đều, đa cung, không có vôi hóa. Không có dấu hiệu gợi ý bướu diện thể lành hay ác.

Hình ảnh bướu diệp thể trên phim nhũ ảnh



 Siêu âm: bướu cho phản âm đồng nhất, ngoài ra còn thấy hình ảnh các nang nhỏ ở ngoại vi có chứa dịch. Trên siêu âm cũng khó phân biệt bướu này với bướu sợi tuyến, ngoài một số gợi ý như có nang trong bướu, hình ảnh tăng sinh mạch máu.
 FNA: không có tiêu chuẩn nào để phân biệt bướu diệp thể với bướu sợi tuyến. Nếu có hình ảnh tăng sản sợi trên FNA, có thể nghĩ đến bướu diệp thể, nhưng nếu lấy mẫu sai, không có thành phần mô đệm sẽ gây khó khăn cho chẩn đoán. FNA chỉ nên dùng để loại trừ sang thương ác tính, loại trừ carcinôm.
 Sinh thiết lõi kim
 Cắt lạnh: Phân biệt giữa bướu diệp thể và bướu sợi tuyến trên cắt lạnh rất khó. Thành phần giống sarcom của bướu diệp thể lại có thể cho chẩn đoán nhầm là carcinôm kém biệt hóa do vậy có thể đưa đến những phẫu thuật tận gốc không cần thiết.
 Sinh thiết trọn: là lấy trọn sang thương kèm hay không kèm mô vú bình thường quanh bướu. Cho chẩn đoán chính xác nhất.
Tóm lại, chẩn đoán bứơu diệp thể với bướu sợi tuyến trước mố khó khăn, do đó khó tránh khỏi việc mổ bướu sợi tuyến không cần thiết. Lấy bướu thừơng là cách điều trị cho những bướu vú nghĩ lành tính. Tuy nhiên điểm khác biệt về diễn tiến giữa bướu diệp thể và bướu sợi tuyến đó là có một tỷ lệ khoảng 20% bướu diệp thể sẽ tái phát nếu phẫu thuật chỉ lấy bướu mà không có một bờ an toàn khoảng 2cm. Tỷ lệ này không khác nhau lắm giữa bướu diệp thể lành, ác và giáp biên.

ĐIỀU TRỊ
Điều trị lần đầu:
Bướu diệp thể lành: cắt rộng. Nếu đã lấy bướu trước đó, có thể phẫu thuật cắt rộng lại hoặc theo dõi sát
Bướu diệp thể ác: đoạn nhũ được nhiều tác giả đề nghị, nhưng nghiên cứu cho thấy tỉ lệ sống còn tương tự nhau ở hai nhóm điều trị bảo tồn và điều trị đoạn nhũ. Điều trị bảo tồn cho tỉ lệ tái phát tại chỗ cao hơn đoạn nhũ. Điều này đặt ra vấn đề là có nên xạ trị bổ túc trong những ca điều trị phẫu thuật bảo tồn bướu diệp thể ác hay ko? Điều này vẫn đang được nghiên cứu.
Một số nghiên cứu đã cho thấy xạ trị bổ túc sau mổ làm giảm tỉ lệ tái phát tại chỗ nhưng chưa thấy ảnh hưởng lên tỉ lệ sống còn.
Tương tự như xạ trị, vai trò của hóa trị hỗ trợ trong điều trị bướu diệp thể ác cũng chưa rõ.
Hạch nách có trong 10% - 20% các trường hợp, chủ yếu là hạch viêm, hạch di căn trong bướu diệp thế ác dưới 5%, do đó không có chỉ định nạo hạch. Nếu hạch mà lâm sàng nghi ngờ thì sinh thiết hạch.
Điều trị tái phát tại chỗ:
Phần lớn bướu tái phát tại chỗ có mô học tương tự bướu ban đầu. Cũng có một tỉ lệ nhỏ bướu chuyển dạng từ lành sang ác.
Đối với tái phát tại chỗ nhỏ, có thể cắt rộng với rìa 2-3cm. Tái phát lớn hay tái phát của bướu diệp thể ác, đìêu trị chọn lựa là đoạn nhũ.
Điều trị di căn xa:
Chỉ có thành phần mô đệm cho di căn xa. Trong đó, chỉ có khoảng chưa tới 5% các trường hợp bướu diệp thể cho di căn xa, tỉ lệ đối với bướu diệp thể ác khoảng 10-25%. Di căn xa thường gặp nhất là phổi, chiếm 70-80% các trường hợp, màng phổi 60-70%, và xương 25-30%. Kích thước bướu, mức độ phân bào và mức độ kém biệt hóa của mô đệm là những yếu tố tiên đoán quan trọng cho sự di căn.
Tuy nhiên kết quả điều trị những trường hợp di căn xa rất kém. Điều trị di căn xa của bướu diệp thể tương tự điều trị của sarcôm.
Với những di căn xa có thể cắt bỏ được như di căn đơn độc lên phổi thì điều trị là phẫu thuật.
Hóa trị thường dùng Ifosfamide, doxorubicin.
Mặc dù có một tỉ lệ bướu diệp thể có thụ thể nội tiết dương tính, nhưng hiện vẫn chưa thấy vai trò của điều trị nội tiết trong điều trị bướu diệp thể.
TIÊN LƯỢNG
Tái phát tại chỗ là một biến chứng thường gặp của bướu diện thể, các loại lành tính lẫn ác tính. Tỉ lệ tái phát tại chỗ của bướu diệp thể ác là khoảng 26%. Nguyên nhân chủ yếu là do phẫu thuật không lấy đủ bờ an toàn. Khuyến cáo hiện nay là phẫu thuật cần lấy rộng, cách bờ bướu ít nhất là 1cm
Khoảng từ 3-12% bệnh nhân bướu diệp thể ác chết có thể do bướu tiến triển ăn lan thành ngực, hoặc do di căn xa vào xương vào phổi. Tỉ lệ di căn xa trong bướu diệp thể ác khỏang 10-15%
Nhiều yếu tố được xem là ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh, nhất là đối với bướu diệp thể ác. Trong đó, những yếu tố quan trọng là những yếu tố về mặt mô học: sự tăng sản mô đệm, sự hoại tử, sự phân bào. Những yếu tố này liên quan đến khả năng tái phát, di căn và sự sống còn. Những yếu tố khác đó là kích thước bướu, di căn hạch nách, tình trạng sinh đẻ, tuổi…
THAM KHẢO:
1. Malignant Phyllodes Tumor – Manoj Pandey MS, Aleyamma Mathew PhD, The Breast Journal, Volume 7, Num 6, 2001, 411-416.
2. Outcome and predictive factors of local recurrence and distant metastases following primary surgical treatment of high-grade malignant phyllodes tumours of the breast – I. Kapiris, N. Narisi, Europian Journal of Surgical Oncology, Volume 27, 2001, 723-730.
3. Phyllodes tumour of the breast: a retrospective analysis of 30 cases –K Mokbel, R.K. Pride, The Breast, Num 8, 1999, 278-281.
4. Malignant phyllodes tumor of the breast: review of the literature and case report of stromal overgrowth - Marlon A Guerrero, Billy R Ballard, Ana M Grau – Surgical Oncology, Vol 12, 2001, 27-37
5. Phyllodes tumors of the breast: Correlation of nucleolar organizer regions with histopathological malignancy grading, flow cytometric DNA analysis and clinical outcome - Hemamali Samaratunga, Belinda Clarke, Pathology International, Num 21, 2001, 866-873

GENE VÀ PROTEIN HER-2/neu TRONG BỆNH UNG THƯ VÚ

GENE HER-2/neu
Yếu tố tăng trưởng thượng bì:
EGF (Epidermal growth factor) là một trong những yếu tố tăng trưởng được biết đến sớm nhất. Stanley Cohen và cs tìm thấy yếu tố này lần đầu tiên vào năm 1962.

Như đã biết, gen sinh ung là gen kiểm soát sự phát triển của tế bào. Tiền gen sinh ung là dạng bình thường của gen sinh ung. Đây là gen có chức năng sinh lý trong tế bào. Khi gen này đột biến gây ra sự tăng sinh tế bào không kiểm soát được.

Thụ thể của yếu tố tăng trưởng thượng bì – gọi là EGFR (epidermal growth factor receptor) nằm trên bề mặt tế bào. Đây là một glycoprotein xuyên màng, phần nằm bên trong màng tế bào của thụ thể này gắn với một tyrosine kinaze. Tyrosine kinaze này được hoạt hóa khi EGF đến gắn với thụ thể này. Thụ thể này do một gen nằm trong tế bào quy định, đó là một tiền gen sinh ung. Sự đột biến, thay đổi trong khi hoán đổi gen, hoặc sự khuyếch đại của gen này sẽ làm thay đổi thụ thể này và có thể gây gia tăng nguy cơ ung thư ở súc vật thí nghiệm và ở người. Gen quy định EGF và thụ thể EGFR đã được tìm thấy ở mô tuyến vú bình thường và nhiều loại mô khác, nó điều hòa sự phân bào, sự sống và sự biệt hóa của nhiều loại tế bào.

Yếu tố tăng trưởng thượng bì là một nhóm, gồm nhiều yếu tố, có thể kể ra: Yếu tố tăng trưởng chuyển dạng alpha TGF-α, amohiregulin, yếu tố tăng trưởng thượng bì có gắn heparin (heparin-binding HbEGF), β-cellulin, cripto-1,….

Gene HER-2/neu và sản phẩm protein của HER-2/neu:
Thụ thể của yếu tố tăng trưởng thượng bì cũng là một nhóm, gồm 4 loại thụ thể: EGFR hay HER-1, HER-2, HER-3 và HER-4 (Human Epidermal growth factor Receptor). Trong đó được biết đến và được nghiên cứu nhiều nhất là HER-2. Gen quy định thụ thể này nằm trên nhánh q của NST 17, mã hóa một thụ thể có chứa tyrosine kinaze xuyên màng.

EGFR dẫn truyền tín hiệu làm ảnh hưởng nhiều mặt sinh học của bướu. Sự hoạt hóa của EGFR cho thấy gia tăng các tiến trình tăng trưởng và diễn tiến của bướu, gồm thúc đẩy tăng sinh, sinh mạch, xâm lấn, di căn và ngăn cản tế bào chết theo lập trình. Sự biểu sinh trong bướu của EGFR có liên hệ đến diễn tiến bệnh, tiên lượng xấu, ít đáp ứng điều trị và đề kháng lại hóa trị quy ước.

Có khoảng 20-30% các trường hợp ung thu vú có biểu hiện quá lố thụ thể HER-2 (hay còn được gọi là HER-2/neu) này trên bề mặt màng tế bào. Tuy nhiên thụ thể này cũng được tìm thấy ở một số loại ung thư khác như carcinom tuyến của phổi, buồng trứng, dạ dày, tụy và nội mạc tử cung. Ngược lại với HER-2, các thụ thể HER-3, HER-4 không thường gặp ở ung thư ở người. Chức năng sinh lý của HER-2 ở tế bào bình thường chưa được biết rõ, tuy nhiên một số nghiên cứu trên tuyến vú của chuột và tế bào vú ung thư ở người cho thấy có thể protein này liên quan đến sự biệt hóa tạo sữa của tế bào tuyến vú.

Nhóm thụ thể của yếu tố tăng trưởng thượng bì



CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ GENE HER-2/neu
Ngày nay, HER-2/neu đã trở thành một yếu tố tiên lượng quan trọng của ung thư vú. Có nhiều phương pháp đo HER-2/neu

Các kỹ thuật đo lường HER-2/neu:
Có nhiều kỹ thuật đo lường HER-2/neu được sử dụng. Có thể chia làm các nhóm sau:

  • Đo mức độ khuyếch đại của gen quy định thụ thể này HER-2/neu

  • Đánh giá sự biểu hiện quá lố của thụ thể HER-2/neu trên bề mặt tế bào bằng các phương pháp nhuộm

  • Đánh giá thụ thể này bằng cách đo protein HER-2/neu trong huyết thanh

Những nghiên cứu trước đây thường đánh giá mức độ khuyếch đại của gen quy định thụ thể này, về sau này những nghiên cứu mới hơn tìm cách định lượng những sản phẩm protein của gen HER-2/neu hơn là đánh giá sự khuyếch đại của gen này. Thông thường thì sự biểu hiện của các sản phẩm protein tương ứng với sự khuyếch đại của gen. Tuy nhiên, giả thuyết vẫn cho rằng sự khuyếch đại gen liên quan trực tiếp đến tính chất của bướu hơn là sự biểu hiện của thụ thể HER-2/neu - tức sản phẩm protein của gen. Thêm nữa, mặc dù gen mã hóa protein HER-2/neu thường bị khuyếch đại khi có sự biểu hiện quá mức của protein này, nhưng ngược lại sự biểu hiện quá mức của protein này không phải lúc nào cũng tương ứng với sự khuyếch đại gen.

1. Kỹ thuật hóa mô miễn dịch – IHC Immunohistochemocal technique:
Là kỹ thuật đo lường được sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Hóa mô miễn dịch cũng là kỹ thuật đánh giá thụ thể HER-2/neu - sản phẩm protein của gen HER-2/neu trên bề mặt tế bào. Không giống như những phương pháp hóa mô miễn dịch khác mà hầu hết là định tính thì sự đánh giá HER-2/neu trong hóa mô miễn dịch là phương pháp bán định lượng hơn là phương pháp định tính vì Her-2/neu biểu hiện trên tất cả các tế bào biểu mô tuyến vú. Do đó để đánh giá đầy đủ thụ thể HER-2/neu của một khối bướu vú ác tính thì cần thiết lập một sự tương quan giữa số lượng thụ thể HER-2/neu trên bề mặt tế bào và sự phân bố cũng như mức độ bắt chất nhuộm của mẫu mô khi nhuộm hóa mô miễn dịch.
Một bảng tính điểm đã được dùng để chuẩn hóa phương pháp này:
  • Khi tế bào có ít hơn 20 000 thụ thể trên bề mặt thì mẫu mô sẽ không bắt màu chất nhuộm: 0 điểm

  • Khi tế bào có khoảng 100 000 thụ thể trên bề mặt thì tế bào sẽ bắt màu chất nhuộm một phần và có ít hơn 10% tế bào bắt màu hoàn toàn chất nhuộm. 1+

  • Khi tế bào có khoảng 500 000 thụ thể trên bề mặt thì sẽ có khoảng hơn 10% tế bào bắt màu chất nhuộm trên bề mặt hoàn toàn mức độ từ nhẹ đến trung bình. 2+

  • Và khi tế bào có khoảng 2 300 000 thụ thể trên bề mặt tế bào thì khoảng hơn 10% tế bào sẹ bắt màu chất nhuộm hoàn toàn mức độ mạnh. 3+

Nhiều nghiên cứu cho thấy khi áp dụng phương pháp hóa mô miễn dịch trên một mẫu bệnh phẩm được xử lý, cố định tốt, thì dựa vào kết quả cho thấy một sự tương ứng khá chặt chẽ giữa mức độ copy của gen (mức độ khuyếch đại) với mức độ biểu hiện của protein do gen đó mã hóa (protein HER-2/neu).

Lợi điểm của phương pháp hóa mô miễn dịch là tiện lợi, rẻ tiền, mẫu thử nghiệm dễ bảo quản sau khi đã phân tích, và chỉ cần sử dụng kính hiển vi thông thường khi quan sát.

Bất lợi của phương pháp này đó là chịu ảnh hưởng của một số yếu tố lên kết quả, đó là điều kiện bảo quản trước đó, thời gian và kỹ thuật cố định bệnh phẩm, loại kháng thể dùng để nhuộm (đơn dòng hay đa dòng), và quan trọng hơn cả đó là khó khăn khi áp dụng bảng tính điểm để có kết luận chính xác.

Hiện đã có hai bộ sản phẩm dùng để đánh giá thụ thể HER-2 theo phương pháp này được FDA công nhận và dùng để quyết định việc sử dụng Trastuzumab trong điều trị hỗ trợ cho bệnh nhân ung thư vú, đó là bộ Hercep Test (của tập đoàn Dako – Đan Mạch) và bộ Ventana PATHWAY (của Vetana, Mỹ).

2. Kỹ thuật FISH - Fluorescence in situ hybridization
Đây là phương pháp đánh giá mức độ khuyếch đại của gen.

Lợi điểm đó là có hệ thống đánh giá kết quả khách quan hơn.

So sánh giữa 2 phương pháp Hóa mô miễn dịch IHC và nhuộm miễn dịch huỳnh quang FISH cho thấy có sự tương hợp khá tốt về kết quả ở cả nhóm bệnh nhân ung thư vú mới hay ung thư vú đã có di căn. Tuy nhiên, có một tỉ lệ khá lớn trường hợp kết quả biểu hiện là 2+ khi dùng phương pháp IHC lại không cho thấy sự khuyếch đại gene tương ứng khi dùng phương pháp FISH. Trong những trường hợp này thì dùng phướng pháp đo sự khuyếch đại gene lại cho được nhiều thông tin về tiên lượng, về đáp ứng với điều trị Trastuzumab hơn là phương pháp đo sự biểu hiện quá lố protêin HER-2/neu trên bề mặt tế bào.

FISH là một phương pháp xét nghiệm chính xác và nhạy, nó được coi là một xét nghiệm tiêu chuẩn với độ nhạy và độ đặc hiệu cao để phát hiện sự khuyếch đại bất thường của gene HER-2/neu. Tuy nhiên phương pháp này cũng có những bất lợi, đó là giá thành cao, cần những thiết bị đắt tiền, việc đọc kết quả khó khăn hơn do có những dấu hiệu hình thái học đôi khi khó ghi nhận, mất nhiều thời gian hơn, phải quan sát dưới kính hiển vi huỳnh quang, và vì nhuộm huỳnh quang nhanh bay màu nên không bảo quản lâu được để có thể xem lại, và đôi khi khó xác định trong những trường hợp bướu xâm lấn.

3. Kỹ thuật CISH - Chromogenic In Situ Hybridization:
Đây cũng là phương pháp đo mức độ khuyếch đại của gen, được coi là một chọn lựa thay thế cho FISH. Phương pháp này kết hợp ưu điểm của cả 2 phương pháp IHC và FISH. Với kỹ thuật này, gene HER-2/neu được phát hiện bằng phản ứng peroxidase quan sát dưới kính hiển vi ánh sáng thường.

Nếu cần, cả 2 kỹ thuật IHC và CISH có thể kết hợp với nhau để có sự đánh giá đồng thời sự khuyếch đại của gene và sự biểu hiện quá lố của protein do gene mã hóa.

4. Kỹ thuật khuyếch đại gen RT-PCR - Reverse transcription – polymerase chain reaction:
Là kỹ thuật phát hiện RNA thông tin của gen HER-2/neu trong máu ngoại vi và trong tủy xương, cho thấy mức tương ứng với sự khuyếch đại gen cao hơn khi so với IHC.

5. Phương pháp ELISA – Enzyme-Link ImmunoSorbent Assay:
Phương pháp này được thực hiện trên dịch bào tương (tumor cytosols) lấy từ bệnh phẩm tươi, tránh được những nguy cơ của việc tổn hại đến các kháng nguyên của quá trình xử lý và cố định bệnh phẩm. Tuy nhiên, ngày nay khi bướu được phát hiện ở giai đoạn càng ngày càng sớm hơn, kích thước bướu nhỏ hơn nên việc chiết xuất được cytosols của bướu ngày càng khó khăn hơn.

Xét nghiệm HER-2/neu trong ung thư vú: A- Sự khuyếch đại gene được phát hiện bằng kỹ thuật FISH; B- Sự khuyếch đại gene phát hiện bằng kỹ thuật CISH; C- Kết quả 3+ phát hiện sự biểu hiện quá lố của protein HER-2/neu phát hiện bằng kỹ thuật hóa mô miễn dịch IHC



MỨC ĐỘ BIỂU HIỆN HER-2/neu VÀ GIÁ TRỊ TIÊN ĐOÁN ĐÁP ỨNG VỚI TRASTUZUMAB
Trastuzumab là một kháng thể IgG1, đơn dòng được tạo ra bằng phương pháp tái tổ hợp. Liệu pháp điều trị dùng kháng thể đơn dòng này ban đầu được nhắm vào các bệnh nhân bị ung thư vú tái phát có biểu hiện quá mức HER-2/neu, và hiện tại nó được dùng rộng rãi cho những bệnh nhân K vú di căn có thụ thể HER-2/neu dương tính. Hiện có nhiều thử nghiệm vai trò của Trastuzumab trong điều trị hỗ trợ cho những bệnh nhân k vú giai đoạn sớm và trong điều trị tân hỗ trợ.

Hiện xét nghiệm IHC đang được dùng để chọn lựa bệnh nhân cho việc sử dụng Trastuzumab cùng với hóa trị. Kết quả cho thấy dùng trastuzumab làm bệnh tiến triển chậm hơn, tăng tỉ lệ và thời gian đáp ứng với điều trị hỗ trợ, tăng thời gian sống còn.

Một nghiên cứu gần đây báo cáo cho thấy khi trastuzumab được dùng điều trị hỗ trợ đơn độc, thì tỉ lệ đáp ứng ở nhóm có kết quả nhuộm IHC 3+ là 35% trong khi ở nhóm IHC 2+ là 0%, đối với phương pháp FISH thì tỉ lệ đáp ứng với trastuzumab ở nhóm có kết quả FISH+ và FISH- lần lượt là 34% và 7%. Một nghiên cứu khác sử dụng trastuzumab kết hợp hóa trị hỗ trợ paclitaxel, tỉ lệ đáp ứng ở bệnh nhân có biểu hiện quá mức HER-2/neu là 67-81% so với 41-46% ở nhóm bệnh nhân có biểu hiện HER-2/neu bình thường.
Độc tim là một hạn chế quan trọng của trastuzumab từ khi nó được FDA công nhận vào năm 1998.

GIÁ TRỊ TIÊN ĐOÁN CỦA HER-2/neu TRONG ĐÁP ỨNG VỚI CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ KHÁC:
Một mối liên hệ khá chặt chẽ giữa sự biểu hiện HER-2/neu của bướu và sự đáp ứng điều trị với các phương pháp không có trastuzumab khác đó là sự đáp ứng với điều trị nội tiết. Những bướu có sự biểu hiện quá lố HER-2/neu thường có tỉ lệ ER- và PR- cao hơn những bướu biểu hiện HER-2/neu bình thường. Thêm nữa, một số nghiên cứu cho thấy những bướu dù có thụ thể nội tiết dương tính nhưng biểu hiện quá lố HER-2/neu thì kháng lại điều trị tamoxifen. Cũng có kết quả của vài nghiên cứu lại cho rằng tình trạng HER-2/neu ở những bướu có ER+ không giúp tiên đoán sự đáp ứng với điều trị tamoxifen.

Với các phác đồ điều trị hỗ trợ khác:
Một vài nghiên cứu ghi nhận những trường hợp ung thư vú có biểu hiện quá lố HER-2/neu thì nhạy với điều trị paclitaxel, cũng như nhạy với phác đồ điều trị có anthracyline. Điều này được giải thích là do anthracyline là một chất ức chế men topoisomerase, trong khi đó men topoisomerase IIα thường được đồng khuyếch đại cùng HER-2/neu.

Tóm lại, dù có nhiều bằng chứng cho thấy những trường hợp ung thư vú với HER-2/neu dương tính kháng lại điều trị tamoxifen nhưng nhạy với phác đồ điều trị hỗ trợ có anthracycline, nhưng vẫn cần những nghiên cứu với sự kiểm soát tốt hơn để đảm bảo những giả thuyết trên.

NỒNG ĐỘ KHÁNG NGUYÊN HER-2/neu TRONG HUYẾT THANH – MỘT CHẤT ĐÁNH DẤU BƯỚU:
Việc đo nồng độ protein HER-2/neu trong máu có thể giúp tiên đoán tình trạng bướu và diễn tiến bệnh của những trừơng hợp K vú có sự biểu hiện quá lố gene này. Có nhiều nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa nồng độ protein này trong máu với sự tái phát, di căn và thời gian sống còn ngắn của bệnh.

SỰ BIỂU HIỆN CỦA HEU-2/neu VỚI LOẠI MÔ HỌC CỦA UNG THƯ VÚ:
Sự khuyếch đại gene HER-2/neu liên quan đến grad mô học cao và những dạng lan tỏa của carcinôm ống tuyến vú tại chỗ - DCIS. Thêm nữa, sự khuyếch đại gene này đôi khi gặp ở những bệnh lành tính tuyến vú và thường kèm theo nguy cơ cao bị ung thư vú xâm lấn sau đó.

Sự khuyếch đại gene HER-2/neu và sự biểu hiện quá lố protein HER-2/neu thường liên quan với grad mô học cao, DNA aneuploidy, tỉ lệ tăng trưởng tế bào cao, thụ thể nội tiết âm tính, đột biến gene p53, khuyếch đại gene topoisomerase IIα…

KẾT LUẬN:
Đánh giá tình trạng gene và protein HER-2/neu của một bệnh nhân ung thư vú ngày càng trở nên phổ biến. Ở Mỹ, sự đánh giá này đã trở thành thường quy trong thực hành lâm sàng với những bệnh nhân ung thư vú.
Đã có nhiều phương pháp đo đạc sự khuyến đại gene HER-2/neu cũng như sự biểu hiện quá lố protein do gene này quy định. Trong các phương pháp trên thì kỹ thuật FISH ngày càng được sử dụng nhiều vì nó cho những tiên đoán chính xác hơn về sự đáp ứng của bệnh ung thư vú với những phác đồ điều trị có trastuzumab.

Với việc sử dụng trastuzumab, nhiều kết quả khả quan đã thu được trong điều trị hỗ trợ ung thư vú giai đoạn tiến triển có HER-2/neu dương tính và hiện đang có nhiều nghiên cứu đánh giá vai trò của trastuzumab trong điều trị ung thư vú ở những thời điểm sớm hơn.

THAM KHẢO:
1. The HER-2/neu gene and Protein in Breast Cancer 2003: Biomarker and Target Therapy – Jeffrey S. Ross, Jonathan A. Fletcher, The Oncologist 2003, 7, 307-325
2. The HER-2/neu Oncogene in Breast Cancer: Prognostic Factor, Predective Factor, and Target for Therapy - Jeffrey S. Ross, Jonathan A. Fletcher, The Oncologist 1998, 3, 237-252.

Ung thư vú

,

Ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ nhiều nước công nghiệp. Theo Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Thế giới (IARC) vào năm 1998 thì ung thư vú đứng đầu, chiếm 21% trong tổng số các loại ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới. Cũng theo IARC, xuất độ chuẩn hóa theo tuổi của ung thư vú ở phụ nữ là 92,04 (trên 100 000 dân) ở châu Âu và 67,48 (trên 100 000 dân) trên toàn thế giới vào năm 1998, đều là cao nhất trong các loại ung thư ở nữ giới.

Ung thư vú đang trở nên phổ biến tại các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, năm 1998, ở nữ giới, ung thư vú là loại ung thư có tần suất cao nhất ở Hà Nội với xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 20,3 (trên 100 000 dân) và cao thứ hai ở Thành phố Hồ Chí Minh với xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 16 (trên 100 000 dân) sau ung thư cổ tử cung mà xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 28,6 (trên 100 000 dân).
Theo UICC thì tỷ lệ ung thư vú ở đàn ông ít hơn 100 lần so với phụ nữ. 3. Còn theo 1 thì nguy cơ tương đối của ung thư vú giữa phụ nữ và nam giới là 150. Nghĩa là ung thư vú ở nam giới ít gặp hơn nữ giới rất nhiều lần.

Dưới đây chỉ nói về những yếu tố nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ.

Người ta nhận thấy nguy cơ bị ung thư vú tăng lên ở những bệnh nhân sau:

*Bệnh nhân lớn tuổi (nguy cơ cao ở tuổi 70 trở lên)
*Lần đầu có kinh sớm
*Không dùng thuốc tránh thai
*Tuổi có con lần đầu càng lớn nguy cơ càng cao
*Thời gian cho con bú càng thấp nguy cơ càng cao (thời gian cho con bú trên 16 tháng là yếu tố bảo vệ)
*Số lần sinh con càng thấp nguy cơ càng cao
*Tuổi mãn kinh càng muộn nguy cơ càng cao
*Có dùng estrogen thay thế
*BMI cơ thể sau mãn kinh càng cao nguy cơ càng cao
*Tiền sử gia đình có người bị K vú
*Nồng độ estradiol trong máu cao

Ngoài ra, nguy cơ ung thư vú cũng gặp ở những nhóm người sau:

* Bệnh nhân sống ở các quốc gia vùng Bắc Mỹ và Bắc Âu
* Có tiền sử phơi nhiễm bức xạ ion hóa
* Những phụ nữ không có con. Người ta cho rằng cho con bú kéo dài trên 6 tháng có tác dụng bảo vệ chống ung thư vú ở các phụ nữ trẻ. [1]
* Uống rượu, tiếp xúc với thuốc trừ sâu (đặc biệt là DDT).

2.Sinh học ung thư vú

Yếu tố gia đình từ lâu đã được công nhận là có liên quan đến ung thư vú, tuy nhiên yếu tố này chỉ quan trọng trong khoảng 10–15% các trường hợp ung thư vú. Yếu tố gia đình gợi ý có một số gene quy định tính nhạy cảm của cá thể đó với bệnh này, và những nghiên cứu về gene đã ghi nhận một vùng của nhiễm sắc thể 17 (mang gene BRCA1 và BRCA2) có liên quan đến việc xuất hiện sớm ung thu vú trong một số gia đình. Hội chứng Li-Fraumeni, với đột biến của gene p53 cũng được ghi nhận ở những bệnh nhân bị ung thư vú sớm. [2]

Nội tiết tố sinh dục ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư vú. Người ta nhận thấy estrogen đẩy mạnh ung thư vú ở chuột trong thí nghiệm, và trên mẫu nuôi cấy các tế bào ung thư vú thì estrogen kích thích các tế bào này tăng trưởng.

Ngày nay, người ta biết tác dụng của nội tiết tố sinh dục lên mô vú một phần là qua trung gian các yếu tố tăng trưởng. Một số yếu tố tăng trưởng đã được xác định có thể là nguyên nhân gây ra những biến đổi mô vú bình thường thành ác tính và kéo dài quá trình ung thư hóa. Ngoài ra, estrogen còn gây tăng tiết prolactin – cũng là một loại hormone gây phát triển tuyến vú. [1]

Thụ thể của mô tuyến vú với estrogen và progesteron và một số yếu tố tăng trưởng cũng đã được nhận dạng. Trong đó thụ thể với estrogen và progesteron rất có giá trị trong việc đánh giá tiên lượng bệnh nhân, chọn lựa phương pháp điều trị.

Người ta nhận thấy có khoảng 2/3 các bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính, và ½ số đó có đáp ứng khi điều trị bằng nội tiết tố ở chỗ kích thước khối bướu thu nhỏ.

3.Chẩn đoán ung thư vú

a. Các tình huống lâm sàng

Thường gặp

Đa phần ung thư vú được phát hiện là do chính người bệnh, khi họ ghi nhận thấy một sự thay đổi ở tuyến vú. Thường gặp nhất đó là một khối bướu hay một chỗ dày cứng lên không đau ở vú. Hoặc cũng có thể do thầy thuốc phát hiện qua một lần khám sức khỏe thường kỳ.

Cần phải nghi ngờ ung thư vú khi thấy bất kỳ bướu nào ở vú ở người phụ nữ trên 30 tuổi cho đến khi có triệu chứng chính xác ngược lại mặc dù khoảng 80% khối bất thường ở vú là lành tính. [2]

Những tính chất sau của khối bướu gợi ý ác tính:

* Cứng
* Không đau (chiếm khoảng 85–90%)
* Không đồng nhất, bờ không rõ
* Dính vào thành ngực hoặc da trên vú, khó di động
* Núm vú bị co kéo
* Chảy máu

Những thay đổi thấy được ở vú gợi ý ác tính


Các tình huống khác thường gặp

* Da dầy lên hoặc thay đổi màu sắc, sần sùi như vỏ quả cam (còn được gọi là triệu chứng da cam)
* Da co kéo
* Núm vú bị lún hoặc xù xì
* Tiết dịch, máu núm vú một bên

Tình huống trễ

Bệnh nhân đến khám với các triệu chứng của ung thư tiến triển hoặc đã có di căn xa:

* Hạch nách hoặc hạch trên đòn dương tính
* Tràn dịch màng phổi, làm bệnh nhân đau ngực, khó thở
* Tràn dịch màng ngoài tim, bệnh nhân khó thở, suy hô hấp...
* Gãy xương, khi ung thư đã di căn vào xương
* Bụng: gan to, [báng bụng], ...
* Di căn lên não: khối u xuất hiện trong não làm bệnh nhân đau đầu, hôn mê; chèn ép cột sống làm bệnh nhân đau lưng, yếu liệt tay chân...


b.Tầm soát ung thư vú

Điều này đã được làm ở các nước phát triển và đang bắt đầu được áp dụng ở Việt Nam. Các phương pháp sau đây được áp dụng trong chương trình tầm soát ung thư vú:

* Khám lâm sàng tuyến vú: Các phụ nữ trên 40 tuổi cần được khám vú mỗi năm. Cần đảm bảo cho toàn bộ tuyến vú được khám xét kể cả phần đuôi của tuyến ở gần nách. Trong quá trình khám, người bác sỹ nên hướng dẫn cách tự khám vú cho bệnh nhân. Theo UICC khám lâm sàng tuyến vú có thể chấp nhận được để thay thế nhũ ảnh ở các quốc gia không có phương tiện để thực hiện nhũ ảnh.
* Tự khám vú: Ít tốn kém. Nếu được thực hiện đúng cách có thể giúp người bệnh phát hiện sớm một bướu vú, được điều trị sớm và vì vậy tiên lượng tốt hơn.

Hình ảnh nhũ ảnh của một tuyến vú bình thường (bên trái) và một khối u ác tính ở vú (bên phải)

* Nhũ ảnh: Là một phương pháp chụp X quang vú đặc biệt. Dùng một lượng ít tia X, để cho hình ảnh chi tiết của tuyến vú, có thể thấy những điểm vôi hóa rất nhỏ. Nhũ ảnh đóng vai trò quan trọng trong tầm soát ung thư vú. Nhiều nghiên cứu cho thấy tầm soát bằng nhũ ảnh giúp giảm tử suất của ung thư vú khoảng 30%. Vì vậy Viện Ung thư quốc gia Hoa Kỳ và Hội Ung thư Hoa Kỳ đề xuất nên chụp nhũ ảnh mỗi 1-2 năm cho những phụ nữ trên 40 tuổi.

c. Xét nghiệm cận lâm sàng

1. Chọc hút bằng kim nhỏ (FNA – Fine Needle Aspiration): dùng một kim hút nhỏ lấy một mẫu bệnh phẩm và dùng để làm xét nghiệm tế bào học. Xét nghiệm này có thể cho biết tế bào lấy ra có đặc trưng cho ung thư hay không, nhưng không thể phân biệt ung thư tại chỗ hay ung thư xâm lấn được. Âm tính giả có thể xảy ra khi thật sự là ung thư mà mũi kim không chạm bướu.
2. Sinh thiết trọn khối bướu: thực hiện khi chọc hút không cho chẩn đoán xác định. Tuy nhiên, ngày nay việc sinh thiết trọn khối bướu ít được thực hiện dần đi vì chọc hút bằng kim nhỏ ngày càng cho thấy tính chính xác cao.
3. Chụp nhũ ảnh
4. Siêu âm tuyến vú: là một xét nghiệm rẻ tiền, đơn giản. Siêu âm giúp phân biệt rõ một tổn thương dạng nang với một tổn thương dạng đặc. Ngoài ra, với siêu âm người phụ nữ không có nguy cơ nhiễm tia X, thích hợp cho phụ nữ có thai và phụ nữ trẻ. 2
5. Còn có nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác được sử dụng trong chẩn đoán ung thư vú, nhưng ở Việt Nam ít dùng như cắt lớp điện toán CT scan, chụp cộng hưởng từ MRI, ...
6. Những xét nghiệm giúp đánh giá đáp ứng điều trị: Tìm thụ thể với estrogen, đo nồng độ estradiol tự do trong máu,... Những xét nghiệm này ít được làm ở điều kiện Việt Nam.

4.Phân loại mô học

a.Carcinoma

* Ống
o Trong ống
o Xâm lấn với thành phần trong ống chiếm ưu thế
o Xâm lấn, không đặc hiệu
o Dạng trứng cá
o Dạng viêm
o Dạng tủy với thâm nhiễm lympho
o Dạng keo
o Dạng nhú
o Dạng ống dẫn
o Dạng xơ cứng
o Các dạng khác

* Thùy
o Tại chỗ
o Xâm lấn với thành phần tại chỗ vượt trội
o Xâm lấn

* Núm vú
o Bệnh Paget, không có gì đặc hiệu
o Bệnh Peget với carcinoma ống
o Bệnh Paget với carcinoma ống xâm lấn

b.Loại khác

* Carcinoma không biệt hóa

c.Những loại bướu ít gặp và không được coi là điển hình

* Sarcom nang diệp thể
* Sarcom mạch máu
* Lymphoma nguyên phát

d.Các bướu không xâm lấn

* Carcinoma thùy tại chỗ: không bao giờ chẩn đoán được bằng lâm sàng, vì tổn thương ở mức vi thể. Diễn tiến rất kéo dài, nín lặng nhiều năm hoặc hàng chục năm. Thường nhiều ổ, và thường ở hai vú, khả năng trở thành carcinoma xâm lấn khoảng 1-1.5% mỗi 1 năm, và khoảng 20-30% cho tổng cộng. [2]
* Carcinom ống tại chỗ (hay carcinom trong ống): có thể có kích thước đủ to để chấn đoán lâm sàng dễ dàng. Tỷ lệ trở thành carcinom ống xâm lấm là 70%.

5.Xếp giai đoạn

a.Xếp hạng theo TNM

Theo bướu nguyên phát T (tumor)

* Tx: Không thể xác định được bướu nguyên phát
* T0: Không thấy bướu nguyên phát
* T in situ: Carcinoma tại chỗ, carcinom atrong ống, carcinoma thùy tại chỗ, hoặc bệnh Paget núm vú không có bướu kèm theo (bệnh Paget núm vú có bướu kèm theo được xếp theo kích thước của bướu)
* T1: Bướu có kích thước lớn nhất ≤ 2.0 cm
o T1mc: Xâm lấn vi thể bướu có kích thước lớn nhất ≤ 0.1 cm
o T1a: Bướu > 0.1 cm nhưng ≤ 0.5 cm
o T1b: Bướu > 0.5 cm nhưng ≤ 1.0 cm
o T1c: Bướu > 1.0 cm nhưng ≤ 2.0 cm
* T2: Bướu có kích thước lớn nhất > 2.0 cm nhưng ≤ 5.0 cm
* T3: Bướu có kích thước lớn nhất > 5.0 cm
* T4: Bướu kích thước bất kỳ, nhưng có sự ăn lan trực tiếp vào da hoặc thành ngực
o T4a: Ăn lan thành ngực
o T4b: Phù nề hoặc loét da vú hoặc các nốt vệ tinh ở da vú
o T4c: Có cả hai thành phần trên
o T4d: Carcinoma dạng viêm

Theo hạch lympho vùng N (Nodes)

* Nx: Không thể xác định các hạch vùng
* N0: Không có di căn hạch vùng
* N1: Di căn vào hạch lympho vùng nách, di động
* N2: Di căn vào hạch lympho nách, hạch dính nhau hoặc dính vào các cấu trúc khác
* N3: Di căn vào hạch lympho vú trong cùng bên

Theo di căn xa M (Metastasis)

* Mx: Không thể xác định di căn xa
* M0: Không có di căn xa
* M1: Có di căn xa (kể cả di căn vào hạch lympho trên đòn cùng bên)

6.Điều trị

a.Ung thư tại chỗ

* Carcinoma ống tại chỗ: Điều trị chủ yếu là đoạn nhũ có tỷ lệ khỏi bệnh là 98-99% với 1-2% trường hợp tái phát. Điều trị bảo tồn vú đang là hướng đi mới, chỉ mổ lấy bướu cùng với xạ trị hỗ trợ cũng khá hiệu quả, với tỷ lệ tái phát là 7-13%. 2
* Carcinoma tiểu thuỳ tại chỗ: bệnh nhân thường được theo dõi sát có thể kết hợp với hóa trị phòng ngừa (như dùng tamoxifen) và làm giảm các yếu tố nguy cơ. Phẫu thuật chỉ áp dụng cho một số ít bệnh nhân. 2

b.Ung thư giai đoạn sớm – I, II, IIIA

Phẫu thuật

Là điều trị chủ yếu. Những phẫu thuật trước đây như đoạn nhũ tận gốc (Phẫu thuật Halsted) ngày nay ít được dùng vì mức tàn phá rộng, để lại nhiều dư chứng nặng nề cho bệnh nhân. Các loại phẫu thuật ít tàn phá hơn, bảo tồn các cơ ngực lớn, bé càng ngày càng cho thấy hiệu quả trong việc điều trị tại chỗ căn bệnh.

Phẫu thuật bảo tồn vú: chỉ lấy khối bướu và mô bình thường cách rìa bướu 1-2 cm gần đây được ưa thích và áp dụng nhiều. Nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy phẫu thuật bảo tồn kèm theo xạ trị cho kết quả ngang bằng với phẫu thuật đoạn nhũ riêng lẻ.

Tuy nhiên, có một số chống chỉ định của phương pháp điều trị này:

* Có hai hoặc nhiều khối bướu nằm ở các góc phần tư khác nhau của vú
* Bướu lan tỏa, giới hạn không rõ
* Bướu to nằm trong tuyến vú nhỏ
* Bướu nằm ở vị trí trung tâm của vú

Nạo hạch cũng là một phần của phẫu thuật. Nhất là nạo hạch lympho vùng nách rất cần cho đánh giá tiên lượng.

Xạ trị hỗ trợ

* Xạ trị là một phần của phương pháp điều trị bảo tồn: tiến hành sau phẫu thuật cắt bướu. Xạ trị giúp giảm nguy cơ tái phát.
* Xạ trị sau đoạn nhũ: giảm nguy cơ tái phát cho những bệnh nhân nguy cơ cao như bệnh nhân có nhiều hạch vùng, bệnh nhân có bướu nguyên phát to,...


Liệu pháp toàn thân

Nguy cơ di căn vi thể ở những ung thư giai đoạn sớm là có. Vì vậy, với hóa trị là một biện pháp điều trị toàn thân có thể diệt các tế bào ác tính lan tràn.

* Liệu pháp nội tiết
o Cắt buồng trứng
o Tamoxifen: là tác nhân điều hòa thụ thể estrogen chọn lọc. Dùng cho các bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính. Có tác dụng giảm nguy cơ tái phát và giảm xuất độ ung thư vú đối bên khoảng 50%
* Hóa trị hỗ trợ
* Kết hợp cả hóa trị và liệu pháp nội tiết

c.Ung thư di căn

Mục đích chủ yếu là cải thiện chất lượng đời sống và kéo dài cuộc sống.

Phẫu thuật

Có chỉ định cho một số bệnh nhân. Như bệnh nhân cần đoạn nhũ khi các tổn thương sùi, loét gây đau nhức, bệnh nhân có các di căn não, phổi đơn độc, tràn dịch màng ngoài tim, màng phổi,...

Xạ trị

Vai trò chủ yếu trong điều trị tạm bợ và nâng đỡ, ví dụ như chỉ định cho các di căn xương đau nhiều, di căn hệ thần kinh trung ương không cắt bỏ được...

Liệu pháp toàn thân

Việc lựa chọn thuốc để điều trị phải cân nhắc nhiều yếu tố của bệnh nhân. Các yếu tố đó là: tuổi, bệnh nhân đã mãn kinh hay chưa, bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính hay không, số lượng hạch di căn.... [3]

Liệu pháp toàn thân bao gồm:

* Liệu pháp nội tiết: thường dùng cho phụ nữ mãn kinh, có thụ thể estrogen dương tính.

Các loại thuốc thường áp dụng: kháng estrogen (Tamoxifen), ức chế enzyme aromatase (Anastrozole, letrozole...), dùng các thuốc tương tự GnRH, các progestin.

* Hoá trị: thường dùng cho những bệnh nhân nào mà căn bệnh vẫn tiếp tục tiến triển dù đã điều trị nội tiết, hoặc bệnh nhân có thụ thể nội tiết âm tính. Có nhiều phác đồ thường dùng như: CA, CAF, CMF...
* Trastuzumab: Là kháng thể đơn dòng kháng lại thụ thể tăng trưởng biểu bì - HER2/neu
* Cắt buồng trứng

7.Tiên lượng

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng của bệnh. Quan trọng nhất là giai đoạn của bệnh, càng phát hiện ở giai đoạn sớm thì tiên lượng càng tốt. Hạch di căn cũng đóng vai trò đáng kể.

Đặc tính mô học của bướu cũng được quan tâm. Tiên lượng tốt hơn với các ung thư trong nang, ung thư ống dẫn, ung thư dạng tủy, bệnh Paget không bướu.

Gần đây, người ta đề cập đến yếu tố thụ thể nội tiết của bướu. Thông thường bướu có thụ thể nội tiết dương tính thường đáp ứng tốt với điều trị và cho tiên lượng tốt hơn. Ngoài ra, những bệnh nhân thụ thể tăng trưởng biểu bì HER2/neu dương tính thì bệnh thường tiến triển nhanh và cho tiên lượng xấu.

8.Phòng ngừa

Ung thư vú rất đáng quan tâm vì đó là một trong những loại ung thư hàng đầu ở phụ nữ. Nhiều biện pháp đã được đề xuất để làm giảm nguy cơ mắc bệnh, một số biện pháp dưới đây rất đáng chú ý: 4

* Dùng tamoxifen cho các carcinom tiểu thùy tại chỗ
* Chế độ ăn ít béo, giảm cân
* Giảm uống rượu
* Tránh tiếp xúc với Clo hữu cơ, chất phóng xạ
* Nên cho con bú sữa mẹ

9.Tham khảo

1. Chú giải 1: Estrogen and the Risk of Breast Cancer - Mark Clemons, M.B., B.S., M.D., và Paul Goss, M.D., Ph.D. – NEJM
2. Chú giải 2: Breast cancer – Issam Makhoul, M.D. – Emedicine
3. Chú giải 3: Manual of Clinical Oncology – 6th – 1994 – UICC
4. Chú giải 4: REDUCING THE RISK OF BREAST CANCER – ROWAN T. C BOWSKI, M.D., PH.D. – NEJM
5. Chú giải 5: Cancer Incidence, Mortality and Prevalence in the European Union-1998
6. Chú giải 6: Ung thư học nội khoa – PGS Nguyễn Chấn Hùng – NXB Y Học TP.HCM – Năm 2004 – trang 18–19

10.Liên kết ngoài


* Tầm soát ung thư vú
* Hình ảnh học trong chẩn đoán ung thư vú
* Viện ung thư quốc gia Hoa Kỳ
* Hội ung thư Hoa Kỳ
February 2012
S M T W T F S
January 2012March 2012
1 2 3 4
5 6 7 8 9 10 11
12 13 14 15 16 17 18
19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29