Thơ lục bát, một thể loại được coi trọng trong truyền thống văn học Việt Nam. Không ít trong số những người yêu thơ, làm thơ trong đời đọc, đời viết đã đôi lần ngâm nga một đôi câu…Cũng bởi cái lẽ yêu, lẽ mê ấy mà nhà thơ Lương Ky đã sáng tác một truyện ngắn (nếu có thể coi đây là một câu chuyện) trên nền thơ 6/8. Xin được giới thiệu với bạn đọc tác phẩm này…
…Tôi yêu, mười sáu tuổi tròn. Chưa đầy mười bảy sinh con đầu lòng. Tất nhiên cưới hỏi cũng không. Tôi vụng dại với tấm lòng trắng trinh. Lẽ ra chuyện biết riêng mình. Tôi cố lí giải duyên tình tự đâu? Một ngày, tháng bảy mưa ngâu. Tôi say sưa ngắm cây cầu vồng xiêu. Nghe mênh mang tiếng sáo diều vương vào trống vắng bao nhiêu bồi hồi. Vợ chồng Ngâu - chuyện xưa rồi, men tình nồng thắm để đời xót xa. Bâng khuâng chân bước la đà tới bến sông những thuyền phà lênh đênh… Bất ngờ tôi gặp lại anh. Ba lô con cóc, áo xanh, mũ mềm. Chắc vừa đi bộ ngày đêm, nắng mưa, đường đất…anh trên lối về. Tình cờ đang bước mải mê, gặp tôi rảo gót lên đê một mình. Thực lòng, tôi nhận ra anh - nhà mái rạ chuối vây quanh, cuối làng. Hồi nào thỉnh thoảng anh sang. Tôi còn bé, những ngỡ ngàng nhìn theo. Triền đê gió thổi phiêu diêu, dáng anh lẫn với nắng chiều chăn trâu. Anh hơn tôi mấy cái đầu, lênh chênh mái tóc, da màu đồng hun. Nghe nói anh sắp vào ôn kì thi hết cấp để còn học lên. Rồi sau tôi lại hay tin: Anh đi bộ đội, quyết xin nhà trường. Những ngày giặc Mỹ leo thang, bom rơi đạn bắn đò ngang bến phà. Đùng đoàng tiếng pháo của ta, máy bay địch rú ngang qua lưng trời… Tôi chỉ nghe kể vậy thôi. Trẻ con, mẹ bắt phải ngồi tăng-xê. Mũ rơm một bước đi về. Mái trường núp dưới lùm tre ria làng.
Gặp tôi, khựng bước ngỡ ngàng, anh nhìn vội hỏi: - Em làng bên kia? Em là cô bé tóc hoe, ngày nọ anh đến khóc nhè đòi theo ra đê xem những cánh diều? Trời, em lớn, đẹp ra nhiều…bé ơi! Tên em anh cũng quên rồi. Em là cái…? Làm mặt tôi nóng bừng. Vâng! - Tôi khẽ đáp, thẹn thùng. Tự nhiên cứ thấy rưng rưng trong lòng. Tôi chưa biết đợi biết mong, chuyện tình khi đó vẫn không có gì. Trai làng tứ xứ tung đi, người vào bộ đội người thì xung phong… Xóm làng phụ nữ phần đông với trẻ con với mấy ông bà già. Tôi đang học dở cấp ba, lòng đầy khát vọng muốn ra chiến trường. - Anh về tạm biệt quê hương. Mươi ngày phép rồi lên đường đi Nam. Còn giặc Mỹ còn gian nan. Làm trai phải quyết thi gan một lần! Nhìn anh dáng vẻ săn gân, giọng sôi nổi…đến dễ gần dễ thương. Mươi ngày phép mãi vấn vương. Anh loay hoay với ruộng vườn nhà nông. Như thể anh cố gánh gồng công to việc lớn cho lòng mẹ vui. Vài lần anh qua nhà chơi, nhìn tôi giây lát…thế rồi đứng lên. Chắc biết tôi vẫn thanh niên măng tơ với những dịu hiền thơ ngây. Tôi nghe làng xóm đó đây: rằng mẹ anh muốn dịp này “bắt” anh phải chóng vánh một mối tình, cưới dâu cho mẹ khi anh lên đường. Nhưng anh chưa kịp vấn vương, chưa tìm được một người thương cho mình. Gái làng cũng lắm cô xinh, cũng nhiều cô vẫn một mình…rất mong. Thế mà anh vẫn đứng không. Rồi thời gian chảy như dòng sông quê. Một đêm, tạnh ráo ngâu đi, trời quang, trăng cũng muốn về cùng sao. Lòng tôi lửa đốt cồn cào. Ngày mai hết phép…Thế nào anh ơi? Gặp anh chỉ ít bữa thôi, tâm tư em cứ rối bời vì anh. Tôi mong manh một chữ tình, không thể hiểu nổi với mình ra sao… Hết đi ra lại đi vào, nghe con tim đập nghẹn ngào nhớ ai. Không dám mong, cứ đợi hoài, tôi đinh ninh chắc mình ngoài mắt anh. Tôi không dám gặp, đã đành. Thú thực, tôi muốn được anh qua chào một câu đơn giản tầm phào: “Anh đi, hẹn đến khi nào gặp nhau!” Trăng suông vẫn cứ đâu đâu, dù không sáng lắm- tháng ngâu ấy mà. Mây lững lờ bảng lảng qua. Tôi nép mình dưới mái nhà, bóng tre và vẩn vơ đứng bên hè, lẩm bẩm gửi gió: ”- Anh đi, nhớ về!” Chắc là đêm đã tầm khuya. Nghe tiếng mẹ giục:- Ngủ đi, muộn rồi! Tôi quay lưng lại với trời. Thình lình nghe tiếng chân người từ xa. Rồi ào ào bóng anh qua. Chạm bờ dậu, tay làm loa, nói vào: - Cả nhà đã ngủ rồi sao? Cháu đã hết phép, sang chào, mai đi! Mẹ còn chưa kịp nói gì, đôi chân tôi đã tót đi vội vàng. Tôi lao ra ngõ nhoáng nhoàng, giang tay chạy tới ôm choàng lấy anh. Trăng khuya loang loáng long lanh. Hương đêm hoa cỏ vây quanh thầm thì… - Vâng, chào anh! Mai anh đi. Em không biết có cái gì tặng anh… Như cây trồng giữa sân đình, anh lặng người chẳng biết mình ở đâu. Lát sau anh khẽ gật đầu. Câu “cám ơn” bắc nhịp cầu…đôi môi. Và tôi bủn rủn rã rời, như muốn sụp xuống, như người không chân. Còn anh luống cuống ngại ngần, người rừng rực, giọng mươi phần hụt hơi… Cây xoan bên ngõ nhà tôi dịu dàng đỡ cả hai người dựa nhau. Chúng tôi dính chặt hồi lâu- nam châm hai cực khác đầu cùng thân… Rồi anh bừng tỉnh tần ngần, cầm tay tôi cố lên gân…cáo từ. Tôi chẳng còn biết thực hư, nhìn anh cái dáng mờ mờ khuất nhanh. Tự dưng tôi chạy theo anh. Đuổi nhau, hai bóng loanh quanh ngõ làng. Thế rồi giây phút bàng hoàng, triền đê vắt giữa lối sang hai nhà. Chập chờn là thực hay mơ, hai người sáp lại bấy giờ một đôi. Màn đêm buông những chơi vơi. Gió triền sông cũng lả lơi trêu đùa. Đất trời hổn hển mây mưa. Chúng tôi hóa rắn trong mùa giao hoan… Trăng ơi, trăng cũng đã tàn. Lưng quay lại, nước mắt tràn… Chia tay. Măng tơ trinh trắng thơ ngây… Trao anh tất cả trước ngày anh đi. Khi làng xóm vẫn ngủ yên, rời quê anh hướng về miền gian lao. Trên thuyền anh vẫy tay chào người thân đưa tiễn anh nào nhận ra tôi cũng len lén đằng xa, nhìn anh mắt lệ hóa ba bốn người…
Tôi sống trong những chê cười. Cả làng đàm tiếu về tôi lăng loàn. Đôi mươi mười tám cho cam. Tôi đành “ăn cắp, giơ gan chịu đòn”. Mẹ tôi nổi đóa la con, nhưng tôi biết nước mắt còn chảy xuôi. Điều đau lòng nhất với tôi: Bên nhà anh ấy hết lời tẩy chay… Đấy là chuyện mãi sau này, tôi biết anh đã gửi ngay thư về… cho tôi, chú bác cô dì, sợ mất danh giá ém đi vội vàng. Mẹ anh cũng chẳng thèm sang, chẳng dám nhận “cái thai hoang thời này- Con dân quân, con thợ cày, bụng nó nó chửa, con mày mày nuôi…” Đành lòng cắm mặt ngậm ngùi. Tội lỗi tôi nhận về tôi mọi phần. Con chưa chập chững bước chân, tin anh “đi hẳn” xa gần ong ve. Rồi Giấy báo tử gửi về. Xã làm truy điệu. Tôi đi một mình. Trước hương hồn người hi sinh, nén nhang tôi thắp cho anh…cho mình. Gửi con nhờ ngoại, thôi đành, tôi ra tuyến lửa quyết thành thanh niên xung kích trên khắp mọi miền chiến tranh khốc liệt liên miên dặm trường. Nắng mưa, gai góc, gió sương, đạn bom vùi lấp cung đường, khúc cua… Làm hoa tiêu cho ô tô, làm người tải gạo, khuân đồ chiến binh… Giả sử tôi có hi sinh, lòng vui vì được cùng anh trọn đời. Biết bao đạn nổ bom rơi mà tôi vẫn cứ là tôi dạn dày. Chỉ duy nỗi nhớ hao gầy thân tôi bởi chính những ngày xa con…
Đến hồi rực rỡ cờ son Hòa bình một dải, nước non vẹn toàn. Tôi về với những miên man, thời bình lại chuyện lo toan gạo tiền của người hết phận hết duyên. Bến đò xưa vẫn con thuyền hôm nao… Ruộng vườn còn được mấy sào. Đất thổ cư mẹ chia ào một lô. Căn nhà nho nhỏ đơn sơ. Tôi với con gái bấy giờ có nhau. Nghe con hỏi mẹ : -Bố đâu? -Gạt nước mắt, tôi lắc đầu: -Hi sinh. Người là liệt sĩ có danh, nhưng riêng với mẹ con mình thì… không. Con tôi giờ đã có chồng. Cháu ngoại đó, bà đang bồng cháu đây. Cún con đôi má hây hây, giống hệt mẹ nó cái ngày bé con. Hao hao gương mặt tinh khôn, cặp môi đôi mắt… chút còn giống anh. Mẹ anh suy nghĩ quẩn quanh đến khi bà cụ sắp thành cổ nhân. Cụ gắng đánh tiếng xa gần, rằng cụ ân hận, cụ cần chúng tôi. Đạo làm con, đạo làm người, phút lâm chung cụ, tôi ngồi thay anh. Gặp duyên mà chẳng tác thành, mẹ con tôi chẳng có vành khăn tang…
…Ngày đầu xuân, ánh nắng vàng. Chúng tôi dạo bước, đường làng đổi thay. Căn nhà khá đẹp, mới xây. Đường bê tông, điện chăng dây đến nhà. Trước sân tươi mấy luống hoa, cây đào trước ngõ lộc hoa đan cùng. Đến với người nữ xung phong - thanh niên ngày nọ tóc bồng bềnh sương. Nghe chị kể chuyện quê hương, bước cùng chị trên đoạn đường năm nao. Cái tuổi mười sáu, chị yêu… Lối này, đê ấy…bao nhiêu ân tình…
Chiến tranh đã lùi xa hơn 36 năm, nhưng âm hưởng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước anh hùng của dân tộc ta vẫn còn vang vọng mãi đến hôm nay và mai sau. Trong chiến công chung của toàn dân ta, thanh niên xung phong chúng ta đã góp phần không nhỏ vào bản anh hùng ca bất tử đó. Tổ quốc ta, nhân dân ta không bao giờ quê sự hy sinh vô bờ bến không tiếc tuổi xanh vì độc lập tự do của Tổ quốc của thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước 60 năm qua, từ khi lực lượng Thanh niên xung phong đầu tiên được ra đời và đi vào hoạt động vào ngày 15/7/1950 tại chính mảnh đất Thái Nguyên, Thanh niên xung phong Việt Nam đã không ngừng khẳng định vai trò là biểu tượng sáng ngời của Thanh niên Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng. Đội 91 được thành lập năm 1966 với hơn 600 cán bộ, đoàn viên do đồng chí Nghiêm Xuân Đạo, Phó Bí thư Tỉnh đoàn Bắc Thái làm Đội trưởng. Trong Đội 91 có 4 Đại đội trực thuộc, gồm Đại đội 911, Đại đội 912, Đại đội 913, Đại đội 914. Sau một thời gian hoạt động, đến tháng 6/1972, Đội 91 được kiện toàn và Đại đội 915 được thành lập. Trong thành tích chung đó, lực lượng Thanh niên xung phong tỉnh Thái Nguyên đã có những đóng góp không nhỏ, đó là sự hy sinh anh dũng của 60 Thanh niên xung phong Đại đội 915-Đội 91 tại Ga Lưu Xá. 39 năm về trước, đúng vào đêm Giáng sinh 24/12/1972, tại nơi đây đã chứng kiến một sự kiện lịch sử bi tráng: 60 đội viên TNXP của Đại đội 915 đã anh dũng hy sinh trong cuộc tập kích bằng không quân của đế quốc Mỹ. Tất cả họ đều ngã xuống khi làm nhiệm vụ giải tỏa hàng quân sự chi viện cho chiến trường miền Nam tại khu vực Ga Lưu Xá. Sự hy sinh anh dũng của các anh, các chị là tổn thất lớn nhất ở mặt trận hậu phương của lực lượng TNXP trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đã trở thành khúc tráng ca bất tử, nối tiếp những huyền thoại Anh hùng trên vùng đất Thép quê hương… Đại đội 915 thuộc Đội TNXP 91 Bắc Thái được thành lập tháng 6/1972 với 102 cán bộ, đội viên, phần nhiều là con em các dân tộc thiểu số, tuổi đời từ 17 đến 20. Chỉ trong vòng 6 tháng sau khi thành lập, Ðại đội đã nhận nhiệm vụ bảo đảm giao thông ở các trọng điểm giao thông thường xuyên bị máy bay Mỹ ném bom bắn phá như tuyến đường 1B Lạng Sơn - Thái Nguyên, đường 16A trên tuyến Lạng Sơn - Bắc Giang; cầu Ða Phúc, cầu Gia Bảy, cầu Trà Vường, ngầm Sơn Cẩm, phà Bến Oánh; duy tu, sửa chữa nâng cấp quốc lộ 1B từ cầu Gia Bảy lên thị trấn Đình Cả, Võ Nhai... Sự hy sinh anh dũng "Tất cả vì tiền tuyến" Bấy giờ Thái Nguyên là hậu phương nhưng là hậu phương đặc biệt - nơi có "cảng cạn" lớn tiếp nhận hàng hóa viện trợ của các nước XHCN để chuyển vào chiến trường miền Nam phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cuối năm 1972, Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, cảng Hải Phòng bị địch phong tỏa, các kho trung chuyển hàng hóa trên tuyến giao thông từ Lạng Sơn về Hà Nội bị đánh phá hết sức ác liệt. Tuyến giao thông Lạng Sơn - Thái Nguyên - Hà Nội đã trở thành tuyến giao thông huyết mạch trung chuyển hàng hóa viện trợ của các nước bạn tiếp tế cho chiến trường miền Nam. Ga Lưu Xá (TP. Thái Nguyên) và ga Tu Ðồn (Lạng Sơn) đã trở thành hai cảng nổi của miền Bắc, hàng ngày tiếp nhận hàng ngàn tấn lương thực gửi vào tiền tuyến. "cảng cạn" Thái Nguyên phình ra cực lớn bởi cảng biển Hải Phòng bị ngư lôi Mỹ phong tỏa ngặt nghèo, hàng viện trợ vào nước ta chỉ còn đi đường bộ tập kết về Thái Nguyên, từ đó chuyển lên xe tải chở vào tiền tuyến. Bởi vậy, "cảng cạn" Thái Nguyên là một trọng điểm đánh phá ác liệt của bom Mỹ thời đó. Bắn máy bay có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, còn bốc dỡ hàng hóa, chuyển hàng từ cảng lên xe, sửa chữa cầu đường TNXP là chủ lực. Với vị trí trọng yếu này, giặc Mỹ thường xuyên cho máy bay thả bom dữ dội hòng cắt đứt tuyến đường huyết mạch vận chuyển hàng hóa của ta. Trận ném bom B52 của giặc Mỹ mùa hè năm 1972 làm chị Hoàng Thị Cát ngã xuống khi vừa tròn 20 tuổi và 8 đoàn viên khác bị thương nặng: Cà Thị Phương, Lê Thị Đoàn, Lê Thị Thảo, Nguyễn Thị La, Nguyễn Thị Ly, Lương Thị Hồi, Trần Văn Vọng, Lương Thị Phương. Bất chấp hiểm nguy, máy bay Mỹ vừa đi, những TNXP Bắc Thái lại tiếp tục bám đường, bám cầu sửa chữa, san lấp để những chuyến xe hàng sớm về điểm tập kết. Ba ngày giữa tháng 9/1972, máy bay Mỹ liên tục ném bom rải thảm xuống khu vực kho xăng dầu Hóa Trung, Đồng Hỷ làm 3 cụm bể chứa 68 tấn xăng dầu bốc cháy dữ dội. Trong hiểm nguy, lực lượng TNXP thuộc Đại đội 915 và nhân dân kiên trì dập tắt đám cháy, cứu được số xăng dầu 350 tấn còn lại chuyển đến địa điểm an toàn. Trong tháng 10, 11/1972, giặc Mỹ tiếp tục ném hàng trăm quả bom đánh phá dọc tuyến quốc lộ 1B, đường 16 A và các kho xăng dầu, bến bãi, nhà máy của ta, gây nhiều tổn thất nặng nề... 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972, cùng với Hà Nội, Hải Phòng thì Thái Nguyên cũng gồng mình trước các đợt ném bom dữ dội. Thời điểm đó, tại ga Lưu Xá và ga Quán Triều vẫn còn tồn đọng gần 2 vạn tấn hàng lương thực, thực phẩm. Nhu cầu giải tỏa hàng hóa tại đây trở nên cấp thiết. Từ đây, những chuyến hàng đầy ý nghĩa được chuyển ra chiến trường cho các anh bộ đội được no cơm hơn, áo lành hơn, kiên quyết không để hàng bị thiêu rụi dưới bom đạn Mỹ, đã thôi thúc các TNXP dù hiểm nguy, thử thách vẫn không chùn bước. Ngày 23/12/1972, đồng chí Đỗ Mười, khi đó là Phó Thủ tướng Chính phủ, chỉ đạo UBND tỉnh Bắc Thái tổ chức ca kíp, tập trung lực lượng, phương tiện giải tỏa hàng hoá ở các kho nằm trong khu vực đánh phá của địch. Sáng 24-12-1972, hàng trăm toa tàu chở hàng đã bị kẹt tại ga Lưu Xá, Quán Triều do tuyến đường sắt về Hà Nội bị không quân Mỹ oanh tạc. Ngay sau đó, Ủy ban tỉnh giao Đội 91 cử cán bộ, đội viên xuống cùng các cán bộ, công nhân khu gang thép và ở ga Lưu Xá thực hiện nhiệm vụ này. Đại đội 915 được Ban chỉ huy Đội 91 giao nhiệm vụ cử cán bộ, đoàn viên đến ga Lưu Xá cùng với đoàn viên Đại đội 912 giải tỏa kịp thời hàng hóa. Nghe tin đó, cả đại đội xung phong lên đường đi cứu hàng dù ai cũng biết, sớm muộn gì máy bay Mỹ cũng sẽ quay lại tấn công vị trí trọng yếu này. Trong số những người này còn có cả những người đã bị thương trong trận máy bay Mỹ ném bom ngày 13/9/1972 tại xã Linh Sơn. (Lương Thị Phương, Lê Thị Thảo, Nguyễn Thị La, Nguyễn Thị Ly) Sáng 24/12, từ nơi đóng quân thuộc xã Linh Sơn, Đồng Hỷ, 66 cán bộ, đoàn viên Đại đội 915 do Đại đội trưởng Triệu Đức Việt chỉ huy tức tốc xuống ga Lưu Xá, cùng 40 TNXP đại đội 912 đang túc trực ở đây, gấp gáp bốc dỡ hàng hóa. Trong hiểm nguy, những thanh niên tuổi 17 – 18 không ngần ngại đón nhận hiểm nguy một cách bình thản. Bom vừa rơi xong lại vác từng bao gạo nặng trĩu lên vai, con gái thì hai người bê một bao, đưa lên xe tải. Bởi thế mà hàng nghìn tấn hàng tồn đọng trong nhà ga chẳng mấy chốc được chở đến địa điểm an toàn. Một ngày lao động vất vả, chiều tối mới được nghỉ vài chục phút lấy sức và chuẩn bị ăn cơm. Tuy nhiên, trong nhà kho vẫn còn khối lượng hàng khá lớn, tất cả dự định chỉ nghỉ ăn tối rồi tranh thủ bốc dỡ trong đêm bởi nếu những kho hàng này trúng bom thì thiệt hại rất khó lường. Trong điều kiện đó, Đội phó Đội 91 Nguyễn Thế Cường cùng anh, chị em quyết không rời nhà kho, bằng mọi giá khẩn trương bốc dỡ nhanh nhất, bất chấp máy bay Mỹ rình rập trút bom. Chập choạng tối Noel 24/12, khi 66 đoàn viên Đội 915 chưa kịp bưng bát cơm thì 34 chiếc B52 kèm 40 máy bay chiến thuật ồ ạt lao đến. Bữa cơm bỏ dở, tất cả báo động xuống hầm trú ẩn. Hơn 700 quả bom rải thảm khắp thành phố Thái Nguyên, khu vực ga Lưu Xá chìm ngập trong bom Mỹ. Hậu quả kinh hoàng đã xảy ra: bom rơi trúng hầm, 60 đoàn viên TNXP và 2 nhân viên thủ kho lương thực Lưu Xá hy sinh ngay trong hầm trú ẩn, 8 người bị trọng thương, sau đó 1 người hy sinh tại bệnh viện. Ngay sau đợt tập kích, phần còn lại của Đại đội 915 lúc này đang làm nhiệm vụ bên kia sông, cấp tốc vượt sông tìm đồng đội. Đau xót, bi thương, đồng đội lần tìm trong đống đổ nát. Những thi thể còn nguyên vẹn nhưng mềm nhũn do sức bom ép quá lớn... Tất cả giàn rụa nước mắt, ôm chặt những đồng đội thân thiết của mình. Sự hy sinh anh dũng của đồng đội thổi bùng ngọn lửa đấu tranh, căm thù giặc Mỹ xâm lược, thôi thúc tinh thần quyết chiến ngay từ mặt trận hậu phương. Không một chút nản chí, thành viên Đại đội 915 dù chỉ còn lại một phần nhưng biến đau thương thành hành động cách mạng, gắng sức cùng những đoàn viên Đại đội khác tiếp tục bốc dỡ hàng hóa kịp tiến độ, đảm bảo vận chuyển hết số hàng hóa, lương thực còn tồn đọng. Trong số gần 2 vạn tấn hàng tại ga Lưu Xá lúc đó, hầu hết được vận chuyển an toàn, chỉ có gần 40 tấn bị phá hủy vì trúng bom. Sự hy sinh anh dũng của 60 cán bộ, đoàn viên Đại đội 915 là tổn thất lớn nhất ở mặt trận hậu phương của lực lượng TNXP trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chiến tranh đã đi qua, nhưng chiến công thì còn vang mãi. Đại đội 915 đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng trao Bằng công nhận di tích lịch sử quốc gia cho địa điểm lưu niệm các TNXP Đại đội 915 đã hy sinh tại ga Lưu Xá, phường Gia Sàng – TP.Thái Nguyên. Ngày 24/12/2010, UBND tỉnh Thái Nguyên đã long trọng tổ chức Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Đại đội 915 thuộc Đội TNXP 91 Bắc Thái, đúng 37 năm tròn kể từ ngày 61 cán bộ, đội viên anh dũng hy sinh do Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu thừa ủy quyền của Chủ tịch nước trao tặng. “Sự hy sinh của những đội viên TNXP Đại đội 915 là tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa Anh hùng cách mạng, là bản anh hùng ca bất khuất của dân tộc Việt Nam, sẽ mãi mãi đi vào lịch sử như một kỳ tích trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc”, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu nhấn mạnh.
Nguyễn Lệ Nhung Cựu TNXP C 915 – P 91 TNXP Bắc Thái Bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 61 năm Ngày truyền thống TNXP phường Nghĩa Tân, CG, HN
Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó với nhân dân ta bằng cả chiều sâu lịch sử 70 năm qua. Những tài liệu văn kiện hình thành trong quá trình hoạt động và trưởng thành của Đảng cho thấy, tài liệu văn kiện Đảng là một trong những phương tiện quan trọng của hoạt động lãnh đạo chỉ đạo của Đảng. Về thực chất, tài liệu văn kiện Đảng là hình thức cụ thể hóa quyết định của các cơ quan lãnh đạo Đảng các cấp nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và mọi tổ chức trong hệ thống chính trị. Nó phản ánh những thông tin về chủ trương, đường lối, chiến lược của Đảng đối với Cách mạng Việt Nam, phản ảnh tình hình Cách mạng Việt Nam, tình hình tổ chức và xây dựng đảng ở các cấp. Nó trở thành cơ sở để Nhà nước thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng trong quản lý Nhà nước khi đã giành được chính quyền.
Tài liệu văn kiện của Đảng được tập trung quản lý thống nhất trong các kho lưu trữ Đảng. Đây chính là những thành phần chủ yếu của Phông lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) - tài sản quý báu của Đảng, của Cách mạng Việt Nam. Tài liệu văn kiện Đảng rất đa dạng và phong phú về nội dung thông tin, có độ tin cậy cao, có khả năng phục vụ hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ quan, tổ chức Đảng, phục vụ công tác nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng.
Nhận thức được vai trò quan trọng của tài liệu lưu trữ, trong từng giai đoạn cụ thể của Cách mạng nước ta, Trung ương Đảng đều có các văn bản chỉ đạo và nhắc nhở các cấp ủy Đảng, Chính quyền quan tâm và làm tốt công tác lưu trữ, tổ chức khoa học Phông lưu trữ ĐCSVN. Vấn đề phân loại tài liệu, bổ sung tài liệu cho phông lưu trữ Đảng, vấn đề xác định giá trị tài liệu, vấn đề bảo quản và tổ chức khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ là những vấn đề cơ bản hiện nay nhằm tối ưu hóa thành phần tài liệu Phông lưu trữ và xây dựng cơ sở sử liệu cho nghiên cứu lịch sử ĐCSVN.
Trong số những vấn đề nói trên, xác định giá trị nguồn sử liệu trong Phông Lưu trữ ĐCSVN là một vấn đề rất quan trọng. Vấn đề này sở dĩ được nhiều người quan tâm vì các lý do sau đây:
1- Trước tiên, nghiên cứu vấn đề này sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhằm tối ưu hóa thành phần phông lưu trữ Đảng, cũng như xây dựng các nguồn sử liệu cho nghiên cứu lịch sử Đảng, lịch sử dân tộc. Nhiệm vụ xây dựng cơ sở sử liệu của lịch sử Đảng không chỉ liên quan đến công tác lựa chọn tài liệu văn kiện, mà còn xuất phát từ những yêu cầu cụ thể của quá trình nghiên cứu lịch sử Đảng. Thực tế là, nếu việc xác định giá trị tài liệu lưu trữ Đảng làm không tốt, chúng ta có thể sẽ để mất những sử liệu có giá trị để nghiên cứu và làm sáng tỏ nhiều vấn đề khác nhau của lịch sử dân tộc và lịch sử Đảng. Chính nhờ có công tác xác định giá trị tài liệu mà chúng ta có thể khẳng định được giá trị đích thực của tài liệu Phông lưu trữ ĐCSVN về mọi mặt chính trị, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, kinh tế, khoa học, lịch sử, văn hóa, xã hội, giáo dục, v.v... ý nghĩa của việc sử dụng nguồn sử liệu - tài liệu lưu trữ Đảng do đó phụ thuộc rất nhiều vào công tác xác định giá trị của chúng. Quan điểm bảo quản tài liệu sẽ từ đó mà được đưa ra một cách có cơ sở khoa học hơn.
2- Việc lựa chọn tài liệu đưa vào bảo quản trong Kho Lưu trữ Đảng được tiến hành dựa trên những nguyên tắc, phương pháp và tiêu chuẩn xác định giá trị tài liệu. Cũng chính vì thế mà việc tổng kết lại về mặt lý luận những vấn đề của khoa học đánh giá là rất cần thiết. Nó cũng đặt ra cho các nhà lưu trữ Đảng nhiệm vụ nghiên cứu các loại công cụ trợ giúp để lựa chọn tài liệu, tìm ra phương pháp xây dựng các loại công cụ cơ bản phù hợp với thực tế tài liệu Phông lưu trữ ĐCSVN. ở đây sẽ phải có những tiêu chuẩn và phương pháp để xác định giá trị, bổ sung tài liệu thích hợp vào các Kho lưu trữ Đảng. Trên thực tế những năm qua, mặc dù các công cụ xác định giá trị tài liệu trong hệ thống Đảng đã mang lại một số thành tựu nhất định trong công tác tổ chức khoa học Phông lưu trữ ĐCSVN, làm phong phú và giàu có thêm các nguồn sử liệu cho nghiên cứu lịch sử Đảng, lịch sử dân tộc, nhưng nhiều vấn đề đến nay vẫn chưa được giải quyết triệt để. Những vấn đề đó đang đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.
3- Tài liệu lưu trữ Đảng là nguồn sử liệu có giá trị về nhiều lĩnh vực, mang nhiều tính ưu việt. So với các nguồn sử liệu chữ viết khác, đây là tài liệu rất phong phú về nội dung lịch sử, đồng thời có độ tin cậy cao, có khả năng giúp các nhà sử học phát hiện và nghiên cứu các quy luật đặc thù của lịch sử Đảng, xem xét các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đây cũng là cơ sở quan trọng để Đảng ta tổng kết kinh nghiệm, rút ra bài học lịch sử trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Mặt khác, việc nghiên cứu lịch sử Đảng nhằm hiểu cũ để biết mới, dựa vào bài học lịch sử mà xem xét và giải quyết những vấn đề của hiện tại, dự đoán đúng sự phát triển của nó trong tương lai, đấu tranh cho thắng lợi tất yếu trong công cuộc bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên đất nước ta là hết sức cần thiết.
Tuy nhiên, việc sử dụng tài liệu lưu trữ Đảng như thế nào, theo hướng nào cũng chưa phải là vấn đề đã được làm sáng tỏ hoàn toàn. Nó có mối liên quan rất chặt chẽ tới vấn đề xem xét một cách khoa học giá trị của các loại tài liệu lưu trữ. Xuất phát từ yêu cầu quan trọng và tính cấp thiết của việc nghiên cứu giá trị nguồn sử liệu trong Phông Lưu trữ ĐCSVN cũng như nhận thức được những ý nghĩa trên đây, chúng tôi đã chọn vấn đề: “Xác định giá trị sử liệu của tài liệu Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ Khoa học lịch sử của mình theo chuyên ngành Biên soạn lịch sử và sử liệu học (mã số 50311).
Với đề tài này, trong luận án của mình, chúng tôi đặt nhiệm vụ giải quyết những vấn đề chủ yếu sau đây: 1/ Mô tả một cách cụ thể sự hình thành Phông lưu trữ ĐCSVN và tình hình tài liệu lưu trữ của Đảng hiện nay. 2/ Giới thiệu một số vấn đề về xác định giá trị tài liệu lưu trữ Đảng nói chung, đồng thời nhìn nhận chúng dưới góc độ như một nguồn sử liệu của lịch sử ĐCSVN. 3/ Phân tích giá trị của tài liệu lưu trữ Đảng với tư cách là nguồn sử liệu trong công tác nghiên cứu lịch sử ĐCSVN.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án: Xác định giá trị sử liệu của tài liệu Phông lưu trữ ĐCSVN là một vấn đề rất lớn, bởi lẽ thành phần Phông lưu trữ ĐCSVN bao gồm toàn bộ tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các các cơ quan, tổ chức Đảng và Đoàn Thanh niên từ TW đến địa phương. Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là những tài liệu thuộc thành phần Phông Lưu trữ ĐCSVN. Tuy nhiên, để có thể đi sâu giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu đã nêu ra trên đây, Luận án của chúng tôi chủ yếu được nghiên cứu dựa trên những tài liệu thành văn hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức Đảng hiện được bảo quản trong Kho lưu trữ TW Đảng. Ngoài ra, một số tài liệu lưu trữ của các tổ chức Đảng địa phương cũng được chúng tôi sử dụng để nghiên cứu thêm. Riêng khối tài liệu của Đoàn Thanh niên, chúng tôi đề cập đến rất ít trong luận án này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Một số vấn đề liên quan đến công tác xác định giá trị nguồn sử liệu - tài liệu lưu trữ trước đây đã được nhiều nhà lưu trữ học của các nước trên thế giới (như Nga, Đức, Anh, Pháp...) đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu. Dần dần vấn đề này cũng được các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm. Trong khoảng hơn bốn chục năm trở lại đây, nhiều tác phẩm về vấn đề này đã được công bố. Thí dụ, cuốn chuyên luận “Lý luận và thực tiễn công tác xác định giá trị và bổ sung tài liệu trong các Viện lưu trữ Nhà nước Liên Xô” gồm 2 tập, do Viện nghiên cứu khoa học về văn kiện và lưu trữ toàn Liên Xô ấn hành năm 1974, đã trình bày tương đối chi tiết về phương pháp luận, phương pháp, tiêu chuẩn lựa chọn tài liệu ở Liên Xô trước đây. Ngoài ra, trong công trình này còn đề cập đến vấn đề xác định giá trị, bổ sung tài liệu ở các viện lưu trữ nước ngoài, những thành tựu và hạn chế của lĩnh vực này.
Trong công trình nghiên cứu: “Phân loại tài liệu văn kiện trong các Viện lưu trữ Nhà nước Xô viết [137] và “Vấn đề xác định giá trị tài liệu trong lưu trữ học Xô viết”[138] (M., 1972), nhà nghiên cứu lưu trữ học người Nga N. A Orlôpva đã ít nhiều đề cập tới một số vấn đề liên quan đến nội dung của đề tài trên phương diện nhận thức và phương diện lý luận.
Năm 1998, Trung tâm nghiên cứu và bảo quản tài liệu lưu trữ đương đại Nga đã xác định giá trị và lên Danh mục tài liệu Phông lưu trữ Quốc tế Cộng sản (QTCS) [143], trong đó thống kê toàn bộ tài liệu có giá trị hình thành trong quá trình hoạt động của QTCS hiện đang được bảo quản tại Trung tâm.
Các nhà lưu trữ Anh có quan điểm riêng trong vấn đề lựa chọn tài liệu để bảo quản. Họ cho rằng giá trị trước hết phụ thuộc vào ý nghĩa cơ quan đơn vị hình thành phông, cần chú ý phân biệt: giá trị hiển nhiên của tài liệu, đó là những thông tin về cơ cấu tổ chức, chức năng, hoạt động của cơ quan sản sinh ra tài liệu và giá trị tác vụ - tài liệu chỉ phản ánh việc hoàn thành các nhiệm vụ cụ thể. ở đây, chúng ta thấy rằng tiêu chuẩn lựa chọn tài liệu chưa đầy đủ: Không quan tâm đến thời gian và đặc điểm hình thành tài liệu mà chỉ chú ý đến hình thức mà trong đó tài liệu được ghi lại, mức độ sử dụng và sự có mặt của những tài liệu tương tự ở những nơi khác.
Các nhà lưu trữ Pháp lại có quan điểm: lựa chọn tài liệu để nộp lưu vào các viện lưu trữ trong các nguồn nộp lưu không chỉ quan tâm đến các tài liệu văn kiện có giá trị mà còn phải xác định những tài liệu văn kiện nào không cần phải nộp lưu trên nguyên tắc loại toàn bộ tài liệu trùng thừa, tài liệu hoặc một nhóm tài liệu có trong hồ sơ không có thông tin liên quan đến hồ sơ và không có tác dụng gì cho chính cơ quan thì có thể loại hủy. Họ không bảo quản những tài liệu hoặc những tập hợp tài liệu mà nội dung của chúng đã phản ánh trong những tài liệu khác.
Năm 1957, hai nhà lưu trữ người Tây Đức B. Rorôm và G. Zante đưa ra quan điểm: trước khi lựa chọn tài liệu để bảo quản, cần phải tiến hành lựa chọn chính các cơ quan là nguồn thu thập, có nghĩa là cần thực hiện quy định sớm hơn về tài liệu văn kiện của những cơ quan thuộc diện giao nộp vào các viện lưu trữ. Theo họ, phương pháp lựa chọn tài liệu văn kiện phải được giải phóng khỏi việc chọn từ đống tài liệu khổng lồ những tài liệu văn kiện có giá trị nào đấy, mà tiêu chuẩn lựa chọn là dựa vào mức độ độc lập của cơ quan, ý nghĩa các chức năng, nhiệm vụ của chúng, ý nghĩa các hoạt động của cơ quan nhìn từ góc độ lịch sử hay pháp luật, sau đó lựa chọn tài liệu nộp lưu ở những cơ quan lãnh đạo và quản lý, các cơ quan đóng vai trò thừa hành thì tài liệu sẽ không thuộc diện được lựa chọn để giao nộp vào lưu trữ.
Ở Cộng hòa dân chủ Đức, việc xác định giá trị các nguồn tài liệu hình thành trong hoạt động của các cơ quan lãnh đạo và các cơ quan giúp việc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức cũng được những nhà lưu trữ quan tâm nghiên cứu. Bản danh mục tài liệu có giá trị lịch sử của Đảng XHCN thống nhất Đức được ban hành năm 1969. Bản danh mục này được sử dụng như một công cụ hướng dẫn việc đánh giá, lựa chọn những tài liệu có giá trị lịch sử hình thành trong bộ máy của BCHTW, của các tỉnh ủy và huyện ủy cũng như ở các tổ chức cơ sở quan trọng nhất của đảng XHCN thống nhất Đức và được dự kiến phải bảo quản vĩnh viễn trong các kho lưu trữ Đảng.
Trong tác phẩm “Lưu trữ hiện đại. Những nguyên tắc và phương pháp công tác”, nhà lưu trữ Mỹ T. Sellenberg cũng đã chú ý đến vấn đề lựa chọn từ một khối lượng khổng lồ các tài liệu được sản sinh ra trong quá trình hoạt động của các cơ quan những tài liệu có giá trị thực tiễn và lịch sử. Tuy nhiên, ông đã không đưa ra được vấn đề cơ bản của việc lựa chọn tài liệu là phải xây dựng những công cụ trợ giúp [149].
Ở nước ta, việc lựa chọn tài liệu lưu trữ đã được Cục lưu trữ Nhà nước đầu tư nghiên cứu và bước đầu đạt được những kết quả nhất định [101 - 102]. Trên cơ sở thẩm quyền thu thập và phạm vi quản lý tài liệu của Cục Lưu trữ Nhà nước và Trung tâm lưu trữ tỉnh, thành phố, danh mục các cơ quan thuộc diện nộp lưu tài liệu vào Trung tâm lưu trữ Nhà nước ở TW và danh mục mẫu nguồn nộp lưu vào Trung tâm lưu trữ tỉnh, thành phố trực thuộc TW đã được xây dựng.
Cục Lưu trữ VPTW trong nhiều năm qua cũng đã xây dựng được một số văn bản hướng dẫn lựa chọn tài liệu trong quá trình chỉnh lý khoa học tài liệu văn kiện của các cơ quan Đảng ở TW và địa phương. Thời gian gần đây, việc nghiên cứu xác định giá trị nguồn sử liệu trong Phông lưu trữ ĐCSVN được tiếp tục triển khai qua đề tài nghiên cứu “Xác định thành phần tài liệu thuộc diện nộp lưu vào Kho Lưu trữ TW Đảng” do tác giả luận án này làm chủ nhiệm. Danh mục nguồn nộp lưu và Danh mục thành phần tài liệu nộp lưu vào Kho Lưu trữ TW Đảng là hai trong hệ thống công cụ xác định giá trị nguồn sử liệu - tài liệu lưu trữ Đảng đã được xây dựng. Những công trình nghiên cứu này, về mặt thực tiễn đã có những đóng góp nhất định về giải pháp cho những vấn đề cụ thể của lý luận đánh giá và sử liệu học nước ta.
Hầu hết các kết quả đạt được đều nhằm mục đích làm cho việc lựa chọn tài liệu đạt chất lượng cao hơn, khoa học hơn trên cơ sở các nguyên tắc, phương pháp, tiêu chuẩn của khoa học lưu trữ, nhằm góp phần thuận lợi hơn khi xác định giá trị các nguồn sử liệu. Những thành công của các nhà Lưu trữ học ở trong và ngoài nước được nêu ra ở trên đã cung cấp cho chúng tôi một cái nhìn tổng quát, có tính toàn cảnh về phương pháp nghiên cứu, lựa chọn các nguồn sử liệu - tài liệu lưu trữ.
Ngoài ra, khi nghiên cứu tài liệu lưu trữ Đảng với tư cách là một nguồn sử liệu, chúng tôi thấy một số công trình gián tiếp hoặc trực tiếp cũng đã đề cập đến vấn đề này. Trong bài “Một số vấn đề về sử liệu học” [116, 254-290], Giáo sư Hà Văn Tấn đã quan niệm rằng tài liệu văn kiện chính là một loại sử liệu. Cũng trong bài viết này, giáo sư còn đưa ra một số nội dung và phương pháp xác định giá trị các nguồn sử liệu trong nghiên cứu lịch sử.
Vấn đề giá trị sử liệu của tài liệu nói chung, của tài liệu lưu trữ Đảng nói riêng còn được đề cập đến một cách chi tiết trong các công trình nghiên cứu của một số tác giả khác như: “Mấy vấn đề sử liệu học Việt Nam”, “Về sự phân loại các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam”, “Phương pháp hệ thống và việc nghiên cứu các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam” (của Giáo sư Phan Đại Doãn và Phó Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Văn Thâm) [17-18-19]; “Các nguồn sử liệu và nhận thức lịch sử”, “Tài liệu lưu trữ và việc nghiên cứu lịch sử dân tộc” của Phó Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Văn Thâm [121-122]; “Vấn đề xử lý sử liệu học đối với tài liệu chữ viết”, “Vận dụng phương pháp sử liệu học trong đánh giá giá trị tài liệu chữ viết” của Phó giáo sư Tiến sĩ Phạm Xuân Hằng [57-58]. Vấn đề xác định giá trị tài liệu lưu trữ cũng được nói đến trong hai cuốn sách: "Công tác lưu trữ Việt Nam"[09] và "Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ" [12]. Những tác phẩm này ít nhiều đề cập đến khả năng của lý luận xác định giá trị tài liệu trong việc xây dựng nguồn sử liệu - tài liệu lưu trữ cho nghiên cứu lịch sử. Đặc biệt ở nước ta trong những năm gần đây, vấn đề sử liệu học trong nghiên cứu lịch sử quân sự, lịch sử Đảng đang có được sự quan tâm chú ý của giới sử học nước nhà [07-115].
Nhìn chung, nhiều đánh giá, nhận định của các tác giả trong các công trình nghiên cứu nói trên là những vấn đề mà chúng tôi đã tham khảo để tiếp tục nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, cũng còn nhiều vấn đề mà trong luận án của mình chúng tôi thấy cần làm sáng tỏ.
Theo nhận thức của chúng tôi, do phạm vi, yêu cầu và đối tượng nghiên cứu có thể rộng hẹp khác nhau, nên các công trình nghiên cứu nói trên chưa thể đề cập đến vấn đề mà chúng tôi nêu ra trong luận án của mình một cách hệ thống, đầy đủ và toàn diện. Và đây cũng chính là nhiệm vụ mà luận án của chúng tôi cần phải thực hiện.
3. Các nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, ngoài các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước như đã nói ở trên, chúng tôi tham khảo, nghiên cứu và sử dụng những nguồn tài liệu cơ bản sau đây:
Nguồn tài liệu quan trọng nhất, được sử dụng nhiều nhất trong luận án là tài liệu thuộc thành phần Phông lưu trữ ĐCSVN. Đáng chú ý là khối tài liệu hình thành trong hoạt động của các Đại hội đại biểu toàn quốc và BCHTW. Khối tài liệu của các cơ quan lãnh đạo Đảng, các cơ quan tham mưu giúp việc, các Đảng ủy, Đảng đoàn, Ban Cán sự Đảng ở các cơ quan Nhà nước và Đoàn thể TW phản ánh các sự kiện và hoạt động có liên quan đến lịch sử ĐCSVN. Đây là những tư liệu rất quý đã giúp cho việc định hướng nghiên cứu trong luận án của chúng tôi.
Nguồn tư liệu quan trọng thứ hai được chúng tôi tiếp cận và khai thác là những bài viết, những công trình nghiên cứu của các tác giả trên tạp chí nghiên cứu lịch sử trong và ngoài nước. Chúng đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc sưu tầm và hệ thống hóa các tư liệu, tài liệu có liên quan. Có thể kể đến ở đây một số tác phẩm quan trọng như tác phẩm của nhà sử liệu học Xô viết O. M. Međusepxkaia “Những vấn đề lý luận của sử liệu học” (M., 1975); tác phẩm của nhà sử học B. K. Lít-vắc “Về những đối tượng sử liệu học của lý luận đánh giá hiện đại”; Các bài viết của Phó Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Văn Thâm: “Các nguồn sử liệu và nhận thức lịch sử” (in trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 5/1991), “Tài liệu lưu trữ và việc nghiên cứu lịch sử dân tộc”, “ Vấn đề đánh giá tài liệu lưu trữ ở Việt Nam trong 20 năm qua và những nhiệm vụ cấp thiết hiện nay”, “Các nguyên tắc phương pháp luận và phương pháp xác định giá trị tài liệu lưu trữ” (in trên tạp chí Văn thư - Lưu trữ) v.v... Đó đều là những tư liệu về các vấn đề cụ thể của lý luận đánh giá và sử liệu học nước ta.
Để tiến hành thực hiện đề tài, chúng tôi đã dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc nhận thức những vấn đề của nhiệm vụ xây dựng cơ sở sử liệu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Các nguyên tắc tính lịch sử, tính đảng, tính toàn diện và tổng hợp được chúng tôi áp dụng vào quá trình khảo sát, phân tích tình hình thực tế công tác lựa chọn tài liệu nộp lưu vào kho lưu trữ TW Đảng, so sánh với những phần lý luận nghiên cứu qua tư liệu trong và ngoài nước, đánh giá kết quả xác định giá trị nguồn sử liệu cho nghiên cứu lịch sử Đảng trên thực tế tài liệu Phông lưu trữ ĐCSVN. Nhằm thực hiện mục tiêu của luận án, chúng tôi đã áp dụng các phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích chức năng, phương pháp so sánh lịch sử để phân tích và mô tả các nguồn tư liệu. Ngoài ra, trong một số phần cụ thể, chúng tôi đã tham khảo và áp dụng phương pháp của một số ngành khoa học khác như sử liệu học, phương pháp thông tin văn bản học, công bố học,... Những phương pháp liên ngành đó đã giúp chúng tôi khai thác các nguồn tài liệu, tìm hiểu các quan điểm đánh giá khác nhau để phục vụ cho việc thực hiện và giải quyết những nội dung của luận án.
4. Đóng góp của luận án
Trong luận án này, lần đầu tiên, chúng tôi đã giới thiệu một cách có hệ thống sự hình thành, thành phần, cấu trúc của Phông lưu trữ ĐCSVN nhằm cung cấp cho người đọc, cho các nhà nghiên cứu một cái nhìn tổng thể về nguồn tài liệu phong phú trong Phông lưu trữ quan trọng này.
Luận án cũng đã trình bày những vấn đề còn chưa được nghiên cứu đầy đủ như phân loại, bổ sung, xác định giá trị tài liệu và kiến giải của chúng tôi về cách giải quyết những vấn đề đó khi xem xét giá trị của tài liệu trong Phông lưu trữ ĐCSVN với tư cách là nguồn sử liệu của lịch sử Đảng. Kết quả nghiên cứu của luận án này rất cần thiết cho việc định hướng quá trình tổ chức và sử dụng có hiệu quả tài liệu Phông lưu trữ ĐCSVN, đặc biệt là cho việc nghiên cứu lịch sử Đảng mà hiện nay các nhà nghiên cứu đang hết sức quan tâm.
Đóng góp của đề tài còn là sự tổng kết về mặt lý luận và thực tiễn những vấn đề về xác định giá trị nguồn sử liệu - tài liệu lưu trữ Đảng, góp phần làm sáng tỏ nhiệm vụ tối ưu hóa thành phần tài liệu Phông lưu trữ ĐCSVN, nhằm phục vụ cho việc đổi mới công tác lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và đổi mới công tác nghiên cứu lịch sử ĐCSVN trong thời gian tới.
5. Bố cục của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, ba chương và kết luận.
Phần Mở đầu giới thiệu khái quát về luận án, mục đích, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu, lịch sử vấn đề, các nguồn tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài và phương pháp nghiên cứu đề tài, giới thiệu về bố cục của luận án.
Chương 1. Tài liệu lưu trữ Đảng và sự hình thành Phông lưu trữ tài liệu Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong chương này, chúng tôi trình bày khái quát về lịch sử ĐCSVN qua 70 năm hoạt động và trưởng thành, giới thiệu đôi nét về các tài liệu thành văn hình thành trong quá trình hoạt động của Đảng, về sự hình thành Phông lưu trữ ĐCSVN, về thành phần và nội dung tài liệu lưu trữ của Đảng ở TW và địa phương. Để giúp các nhà sử học hiểu rõ thêm về nguồn sử liệu này, chúng tôi cũng giới thiệu trong chương này những vấn đề hiện nay của việc tổ chức khoa học Phông lưu trữ Đảng như vấn đề phân loại, vấn đề bổ sung, vấn đề xác định giá trị cũng như khả năng khai thác sử dụng tài liệu phục vụ cho công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Những vấn đề được trình bày ở chương này đều có liên quan đến những vấn đề phương pháp luận, phương pháp và tiêu chuẩn xác định giá trị nguồn sử liệu - tài liệu lưu trữ Đảng, đến tài liệu lưu trữ Đảng với tư cách là nguồn sử liệu của lịch sử ĐCSVN.
Chương 2. Xác định giá trị tài liệu Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một trong hai chương cơ bản của luận án. Trong chương này, chúng tôi tiến hành khảo cứu và giới thiệu tầm quan trọng, mục tiêu của việc xác định giá trị tài liệu lưu trữ Đảng; cơ sở phương pháp luận, phương pháp và tiêu chuẩn của việc lựa chọn tài liệu, hệ thống công cụ xác định giá trị tài liệu lưu trữ Đảng, đồng thời giới thiệu một số kết quả bước đầu trong việc xác định giá trị nguồn sử liệu-lịch sử Đảng trong thời gian qua. Những vấn đề được trình bày trong chương này nhằm giúp cho người đọc nắm được cơ sở của việc lựa chọn tài liệu để phục vụ cho nghiên cứu lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử ĐCSVN nói riêng. Mặt khác những vấn đề trình bày ở chương 2 còn nhằm mục đích giới thiệu giá trị của nguồn sử liệu - tài liệu lưu trữ Đảng trong toàn bộ các nguồn sử liệu nói chung.
Chương 3. Tài liệu phông lưu trữ Đảng - nguồn sử liệu để nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong chương này, dưới góc độ sử liệu học, chúng tôi nêu nhiệm vụ của việc nghiên cứu lịch sử Đảng và vấn đề xây dựng các nguồn sử liệu, giới thiệu cơ sở sử liệu cụ thể của Lịch sử ĐCSVN cùng với những thuận lợi và khó khăn khi tổ chức khai thác nguồn sử liệu này trong thực tế. ở đây, chúng tôi chú trọng đến việc lý giải tính ưu việt của tài liệu lưu trữ với tư cách là nguồn sử liệu của lịch sử ĐCSVN, phân tích sự phong phú về nội dung lịch sử và tính chính xác của bản thân nguồn sử liệu và những vấn đề đặt ra cần quan tâm trong thực tế. Cuối cùng chúng tôi điểm qua đôi nét về những nội dung cụ thể của Lịch sử ĐCSVN có thể nghiên cứu dựa vào tài liệu lưu trữ ĐCSVN như sự hình thành các tổ chức tiền thân và sự ra đời của Đảng, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, quá trình hình thành và phát triển quan điểm lý luận của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo chung của Đảng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự,...
Phần kết luận nêu tóm tắt kết quả của luận án trên cơ sở các nhiệm vụ đã đề ra, đưa ra những khuyến nghị đối với các cơ quan chức năng trong việc tổ chức sử dụng nguồn sử liệu - tài liệu lưu trữ ĐCSVN. Đồng thời, qua nghiên cứu việc tổ chức khoa học Phông lưu trữ ĐCSVN, chúng tôi còn đề xuất một số khuyến nghị về công tác tổ chức khoa học phông lưu trữ ĐCSVN nhằm tạo ra nguồn sử liệu có giá trị cho nghiên cứu lịch sử ĐCSVN, góp phần phát huy vai trò của tài liệu lưu trữ Đảng trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước.
Để làm sáng tỏ thêm những vấn đề đã được trình bày trong các chương trên, luận án của chúng tôi còn có thêm phần phụ lục, gồm một số tài liệu lưu trữ hiện bảo quản trong Kho Lưu trữ TW Đảng. Do điều kiện nghiên cứu còn khó khăn, một số tài liệu lưu trữ thuộc Phông lưu trữ ĐCSVN chưa được phép công bố, và do những hạn chế về khả năng, trình độ của bản thân tác giả nên chắc chắn luận án không tránh khỏi những hạn chế và khiếm khuyết. Chúng tôi rất mong nhận được những góp ý, chỉ giáo của các nhà khoa học và của người đọc.
Để hoàn thành luận án này, ngoài sự cố gắng của bản thân, chúng tôi còn nhận được sự giúp đỡ quý báu của nhiều giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, các nhà khoa học, các bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt là cơ quan Văn phòng Trung ương, nơi tôi công tác đã tạo điều kiện cho tôi khai thác, sưu tầm tư liệu, giúp đỡ tôi về thời gian làm luận án.
Nhân đây, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Phó Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Văn Thâm - người thày đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình triển khai và thực hiện luận án này. Chúng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với sự động viên, đóng góp và khuyến khích của các giáo sư, các tiến sĩ Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Hàm, Vương Đình Quyền, Phạm Xuân Hằng, Trần Văn Hùng, các nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Lanh, Đào Xuân Chúc, Hoàng Hồng, các thày giáo của khoa Lịch sử, khoa Lưu trữ và Quản trị văn phòng của Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn cũng như các bạn bè đồng nghiệp khác đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành luận án này.
1. Tính chất khoa học Các nghiệp vụ của công tác lưu trữ được thực hiện thông qua việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ và áp dụng vào điều kiện cụ thể của mỗi nước. Nói cách khác, tính chất khoa học của công tác lưu trữ được thể hiện qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận và các phương pháp khoa học để thực hiện các nội dung chuyên môn của công tác lưu trữ như: thu thập, bổ sung tài liệu, phân loại tài liệu, xác định giá trị tài liệu, xây dựng công cụ tra cứu khoa học tài liệu, chỉnh lý tài liệu, bảo quản tài liệu, khai thác và sử dụng tài liệu và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lưu trữ… Mỗi một nghiệp vụ trên đây đều được tổ chức thực hiện theo các phương pháp khoa học. Trong từng nội dung cụ thể lại có những quy trình nghiệp vụ nhất định như: quy trình, thủ tục tiêu huỷ tài liệu thuộc nội dung nghiệp vụ xác định giá trị tài liệu; quy trình tu bổ tài liệu, quy trình khử nấm mốc… thuộc nội dung nghiệp vụ bảo quản tài liệu; … Đối với mỗi loại hình tài liệu, các nghiệp vụ lại có những quy trình mang tính đặc thù khác nhau. Khoa học lưu trữ phải nghiên cứu, tìm tòi, phát hiện ra những điểm khác biệt đó và đề ra một cách chính xác cách tổ chức khoa học cho từng loại hình tài liệu. Khoa học lưu trữ phải nghiên cứu, kế thừa kết quả nghiên cứu khoa học của các ngành khác để áp dụng vào các khâu nghiệp vụ lưu trữ. Những thành tựu của các ngành toán học, hoá học, sinh học, tin học, thông tin học… đang được nghiên cứu ứng dụng trong việc tổ chức khoa học, bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ và tổ chức khai thác, sử dụng hiệu quả tài liệu lưu trữ. Để quản lý thống nhất các nghiệp vụ lưu trữ, công tác tiêu chuẩn hóa trong công tác lưu trữ cũng cần được nghiên cứu một cách đầy đủ. Các tiêu chuẩn về kho tàng, điều kiện bảo quản an toàn cho từng loại hình tài liệu, tiêu chuẩn về các trang thiết bị phục vụ công tác lưu trữ như: giá đựng tài liệu; cặp, hộp bảo quản tài liệu; bìa hồ sơ, tiêu chuẩn về các quy trình nghiệp vụ lưu trữ… đang là vấn đề đặt ra cho công tác tiêu chuẩn hóa của ngành lưu trữ.
2. Tính chất cơ mật
Tài liệu lưu trữ là bản chính, bản gốc của tài liệu. Nội dung thông tin trong tài liệu lưu có độ chân thực cao so với các loại hình thông tin khác. Vì là bản chính, bản gốc của tài liệu nên tài liệu lưu trữ còn có giá trị như một minh chứng lịch sử để tái dựng lại sự kiện lịch sử hoặc làm chứng cứ trong việc xác minh một vấn đề, một sự vật, hiện tượng. Về lý thuyết, tài liệu lưu trữ chứa đựng những thông tin quá khứ và được lưu lại, giữ lại để phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử và các hoạt động khác, các yêu cầu chính đáng của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Như vậy, tài liệu lưu trữ cần được đưa ra phục vụ. Tuy nhiên, có rất nhiều tài liệu lưu trữ mà nội dung của tài liệu chứa đựng những thông tin bí mật của quốc gia, bí mật của cơ quan và bí mật của các cá nhân, do đó các thế lực đối lập luôn tìm mọi cách để khai thác các bí mật trong tài liệu lưu trữ. Một số tài liệu có thể không hạn chế sử dụng với đối tượng độc giả này nhưng lại hạn chế sử dụng với đối tượng độc giả khác… Vì vậy, công tác lưu trữ phải thể hiện đầy đủ các nguyên tắc, chế độ để bảo vệ những nội dung cơ mật của tài liệu lưu trữ. Cán bộ làm công tác lưu trữ phải là những người có quan điểm, đạo đức chính trị đúng đắn, giác ngộ quyền lợi giai cấp, quyền lợi dân tộc, quyền lợi chính đáng của các cơ quan, các cá nhân có tài liệu trong lưu trữ, luôn cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, có ý thức tổ chức kỷ luật, trách nhiệm cao, chấp hành nghiêm chỉnh các quy chế bảo mật tàu liệu lưu trữ quốc gia. Độc giả đến khai thác, sử dụng tài liệu cũng cần hiểu biết nhất định về tính cơ mật trong công tác lưu trữ. Những nội dung thông tin khai thác được trong tài liệu lưu trữ quốc gia có thể phục vụ cho những mục đích chính đáng của cá nhân song không được làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, lợi ích cơ quan và lợi ích của các cá nhân khác. Điều đó đòi hỏi ý thức trách nhiệm của mỗi công dân trong quốc gia, trình độ của cán bộ lưu trữ và độc giả đến khai thác, sử dụng tài liệu.
3. Tính chất xã hội
Tài liệu lưu trữ ngoài việc phục vụ việc nghiên cứu lịch sử còn phục vụ cho các nhu cầu khác của đời sống xã hội như: hoạt động chính trị, hoạt động quản lý nhà nước, hoạt động ngoại giao, hoạt động truy bắt tội phạm và nhiều hoạt động khác trong xã hội. Công tác lưu trữ cần nghiên cứu ra những hình thức phục vụ công tác khai thác và sử dụng tài liệu để đáp ứng được những nhu cầu đó của xã hội. Nội dung của tài liệu lưu trữ còn phản ánh những quy luật hoạt động xã hội trong lịch sử phát triển của loài người. Thông qua tài liệu lưu trữ có thể làm sáng tỏ các mối quan hệ xã hội của một giai đoạn lịch sử của đất nước hoặc của một con người cụ thể. Nó có tác động lớn đến ý thức hệ của cả một tầng lớp xã hội nhất định. Vì vậy, hoạt động lưu trữ cũng có mối quan hệ xã hội chặt chẽ với một số ngành khoa học khác để làm rõ những vấn đề của đời sống xã hội.
Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm Chứ rượu hồng đào chưa nhấm mà đã say Lời hát xưa nghe sao thấm đượm tình Xao xuyến trong tim mình, Con chim cũng bay về đậu, nghĩa nặng tình sâu Đồng xanh lúa phơi bốn mùa tươi màu đất lành Mà ai đã qua đây rồi thì chân bước không đành
Ôi đất Quảng Nam, đây là quê hương anh hùng Quê hương trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ Còn bao thành tích lẫy lừng Như đêm xưa trận núi Thành Từng vùng sắc đường lê Nay trên con đường xây dựng, vang lời hát say mê Ơiiiiiii...... hò!!!
Quế Trà Mi thơm hương rừng man mát Chứ mía Điện Bàn thơm ngát mùi đường non Làn sóng xô long lanh nước Thu Bồn Dâu, bắp lên xanh rờn, Duy Xuyên tiếng thoi dệt lụa Nhớ chiều Hòa Vang Nhìn lên Hải Vân Sơn Trà mây nhuộm nắng vàng Thuyền ai Bắc Nam xuôi ngược về đậu bến sông Hàn
Ôi đất Quảng Nam sau mà yêu thương vô cùng Như con chim én vẫy vùng, cho dù bay khấp Lòng ta tha thiết nhớ nhung Đêm đêm như dòng sông Hàn Còn ngân tiếng hò khoan Âm thanh ru vầng trăng vàng Theo dòng nước mênh mông Ơiiiiiii...... hò!!!!!!!! Đất Quảng Nam chưa đi đã nhớ Chứ em chưa nói đậm đà vừa gặp gỡ mà đã yêu
Đi dưới trời khuya sao đêm lấp lánh. Tiếng hát ai vang động cây rừng, Phải chăng em cô gái mở đường Không thấy mặt người chỉ nghe tiếng hát. Ơi những cô con gái, đang ngày đêm mở đường. Hỏi em bao nhiêu tuổi mà sức em phi thường. Em đi lên rừng cây xanh mở lối Em đi lên núi, núi ngả cúi đầu Em đi bắt những nhịp cầu. Nối những con đường Tổ Quốc yêu thương Cho xe thẳng tới chiến trường.
Cô gái miền quê ra đi cứu nước. Mái tóc xanh xanh tuổi trăng tròn Bàn tay em phá đá mở đường Gian khó phải lùi nhường em tiến bước. Em có nghe tiếng súng nơi tiền phương giục lòng Miền Nam tha thiết gọi cả nước ta lên đường. Tiếng nói Bác Hồ trong tim ngời sáng Như sao mai lấp lánh rọi núi rừng. Soi cho em đắp những chặng đường. Trên đất quê nhà Tổ Quốc yêu thương Ôi con đường mới anh về.
Đêm đã về khuya sương rơi ướt áo Tiếng hát em vẫn vọng núi rừng Mặc bom rơi pháo sáng mịt mùng Em vẫn mở đường để xe tiến tới. Yêu biết bao cô gái vui ngày đêm mở đường. Rừng trăm hoa thắm nở chẳng có hoa nào bằng. Em đi san rừng em đi bạt núi. Em như con suối nước chảy không ngừng Em đang bước tiếp chặng đường Theo những anh hùng tổ quốc yêu thương Góp công cùng chiến thắng thù Góp công cùng tiền phương chiến thắng thù...
Có lẽ nào anh lại mê em Một cô gái không nhìn rõ mặt Ðại đội thanh niên đi lấp hố bom Áo em hình như trắng nhất
Người tinh nghịch là anh dễ thân Bởi vì thế có em đứng gần Em ở Thạch Kim sao lại lừa anh nói là "Thạch Nhọn" Ðêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón
Em đóng cọc rào quanh hố bom Cái miệng em ngoa cho bạn cười giòn Tiếng Hà tĩnh nghe buồn cười đáo để Anh lặng người như trôi trong tiếng ru.
Tranh thủ có ánh sáng đèn dù Anh vội nhìn em và bạn em khắp lượt Mọi người cũng tò mò nhìn anh Rồi bóng tối lại khép vào bóng tối
Em ơi em, hãy nghe anh hỏi Xong đọan đường này các em làm đâu Anh đã tìm em rất lâu, rất lâu Cô gái ở Thạch Kim Thạch Nhọn Khăn xanh, khăn xanh phơi đầy lán sớm Sách giấy mở tung trắng cả rừng chiều.
Anh đã đi rất nhiều, rất nhiều Những con đường như tình yêu mới mẻ Ðất rất hồng và người rất trẻ Nhưng chẳng thấy em, cô gái ở Thạch Nhọn Thạch Kim
Những đội làm đường hành quân trong đêm Nào cuốc nào choòng xoong nồi xủng xoảng Rực rỡ mặt đất bình minh Hấp hối chân trời pháo sáng Ðường trong tim anh in những dấu chân.
Chiếc võng bạc trên đường hành quân Anh đã buộc nhiều cây xoan cây ổi Lại đường mới và hàng nghìn cô gái Ở đâu em tinh nghịch của anh?
Bụi mù trời mùa hanh Nước trắng khe mùa lũ Ðêm rộng dài là đêm không ngủ Em vẫn đi, đường vẫn liền đường
Cạnh giếng nước có bom từ trường En không rửa ngủ ngày chân lấm Ngày em phá nhiểu bom nổ chậm Ðêm nằm mơ nói mớ vang nhà Chuyện kể từ nỗi nhớ sâu xa Thương em, thương em, thương em biết mấy...
Dừng tay cuốc khi em ngoảnh lại Sẽ giật mình đường mới ta xây Ðã có độ dài hơn cả độ dài Của đường xá đời xưa để lại Sẽ ra về bao nhiêu cô gái Một ngày mai đường sẽ đứng chơ vơ Ðể cho đời sau còn thấy ngẩn ngơ Trước những công trình ngoằn ngòeo trên mặt đất.
Ơi em gái chưa một lần rõ mặt Có lẽ nào anh lại mê em Từ cái đêm Thạch Nhọn Thạch Kim Tên em đã thành tên chung anh gọi: Em là cô thanh niên xung phong.
Tên sách: Mẹ chồng ăn thịt cả nhà nàng dâu Tác giả: Kỷ Đạt Dịch giả: Hương Ly NXB Hội Nhà văn
Những năm gần đây, văn học đương đại Trung Quốc mang lại cho độc giả những “món ăn” khá hợp khẩu vị. Đó là tính bạo liệt và hấp dẫn của các sự kiện và cách miêu tả các sự kiện đó.
Cuốn Mẹ chồng ăn thịt cả nhà nàng dâu của nhà văn Trung Quốc Kỷ Đạt thuộc loại này. Tính bạo liệt của tác phẩm không chỉ thể hiện ở tên sách, mà còn thể hiện rất rõ thông qua các nhân vật và tình tiết trong sách. Cách kể chuyện nhanh, gọn với ngôn từ mạnh mẽ cũng làm cho cuốn sách trở nên hấp dẫn hơn.
Sau 30 năm đổi mới thành công, xã hội Trung Quốc bước vào một giai đoạn mới. Giai đoạn này đặt ra nhiều vấn đề phức tạp và lý thú. Nhà văn Kỷ Đạt nắm bắt được cái không khí xã hội Trung Quốc đương đại nên đã chọn cho mình đề tài ăn khách trong Mẹ chồng ăn thịt cả nhà nàng dâu.
Tuy là viết về chuyện hôn nhân - gia đình, nhưng thực chất đây là cuốn sách về sức mạnh của đồng tiền trong xã hội đang làm giàu. Trên cái nền cuộc hôn nhân của Thúy Thúy và Đại Lâm, những toan tính về tiền bạc quay cuồng trong con người của mẹ Đại Lâm và những người thân của bà đã chi phối mọi hoạt động của họ. Chính điều này là nguyên nhân gây nên những mối bất hòa và những cuộc xung đột tàn khốc.
Con người luôn hống hách và ngông cuồng như mẹ của Đại Lâm, lúc cần cũng biết “xuống nước”, nhưng đó chỉ là những hành động hướng thiện giả vờ, phục vụ những âm mưu sâu xa hơn. Phần lớn các mưu mô của nhân vật là nhằm mục đích triệt hạ đối phương và kiếm cho được thật nhiều tiền. Cuốn sách cũng thiên về hành động với những vụ ẩu đả theo kiểu nửa dằn mặt, nửa trả thù. Điều này gợi lại tính chất “chưởng” - vốn là một thứ “đặc sản” trong văn học Trung Quốc. Nhóm của Vương Hinh (em con dì của Thúy Thúy), Đại Thiếu, Minh Minh là đại diện điển hình cho một bộ phận thanh niên của những gia đình giàu có ở Trung Quốc - họ ngổ ngáo, ngang tàng, hành động nhiều, suy nghĩ ít.
Vấn đề khiến không ít người băn khoăn là, tại sao hai con người trẻ tuổi, có học thức, hiểu pháp luật, trong sáng và lương thiện - Đại Lâm và Thúy Thúy (nhất là Thúy Thúy) lại hoàn toàn bị những mối quan hệ gia đình chi phối và trở thành những nạn nhân của các vụ tính toán vị kỷ, trả thù trả thù kiểu xã hội đen? Phải chăng họ cũng bị những thói xấu “thâm căn cố đế” từ xa xưa dẫn dắt?
Tác phẩm lột tả rất nhiều tính cách điển hình của người Trung Quốc. Ngoài việc họ giỏi làm ăn, buôn bán, tính toán sâu xa; họ còn bị chi phối nặng nề của tư tưởng Nho giáo. Đó là việc mẹ của Thúy Thúy bị chết do không chịu nổi những lời chửi rủa độc địa của mẹ Đại Lâm. Chửi rủa một cách thâm thúy và tác động lên đối thủ bằng tất cả sức mạnh ác hiểm của ngôn từ vốn là một đặc tính của người Trung Quốc.
Dẫu là bạo liệt, nhưng thông qua nhân vật Thúy Thúy, cuốn sách cũng khẳng định khát vọng tình yêu trong sáng, mãnh liệt ở con người không thể nào mất đi. Sau khi cuộc hôn nhân với Đại Lâm tan vỡ, Thúy Thúy đã dành tình yêu cho Dương Chiến. Cô yêu âm thầm, mãnh liệt và hoàn toàn không vụ lợi. Cô quyết định giữ lại giọt máu của người mình yêu, sinh ra một đứa con khỏe mạnh, xinh đẹp, dù bị người yêu bỏ rơi. Đây là nét đẹp lấp lánh ở một người con gái dịu dàng, thông minh và lương thiện, dù đã phải trải qua bao khổ đau, mất mát. Đây cũng chính là điểm tích cực của cuốn sách - gợi cho con người vươn tới cái Thiện, cái Đẹp. Hồ Bất Khuất
Phương pháp xác định số lượng biên chế cần thiết của một cơ quan lưu trữ
Việc tính toán số lượng biên chế cần thiết của một cơ quan lưu trữ nói chung được tiến hành ở tất cả các loại hình công việc đang có hoặc cần phải có (điều này xác định mục đích của việc tính toán) trong lưu trữ, (nghiệp vụ lưu trữ, hành chính - quản lý, kỹ thuật, các công việc bổ trợ).
Cần tính toán một cách hợp lý từng loại lao động: làm nghiệp vụ cơ bản, lãnh đạo, chuyên viên hành chính – quản lý, kỹ sư – kỹ thuật viên, lao động giản đơn và tạp vụ.
Công việc tính toán được tiến hành theo quy trình sau đây:
- Trước hết, phải tính toán một cách hợp lý số lượng người làm nghiệp vụ cơ bản. Để làm việc này, cần phải làm bảng kê tất cả các chức năng, nhiệm vụ của các hoạt động cơ bản và tất cả công việc phụ trợ khác. Trong bảng kê cần phải có đủ các công việc có định mức và không có định mức.
- Sau đó, xác định khối lượng từng việc mà các lưu trữ phải hoàn thành theo kế hoạch công tác hằng năm trong khoảng thời gian pháp định (ví dụ: kế hoạch 5 năm gần nhất). Việc tính toán khối lượng công việc cần thiết được tiến hành trên cơ sở kết quả hoạt động của lưu trữ trong những năm gần nhất.
Ngày trước, các lưu trữ đi từ việc có bao nhiêu biên chế được phê duyệt, chứ không xuất phát từ việc là cần thiết bao nhiêu biên chế. Chừng nào mà số lượng biên chế của nhiều lưu trữ còn chưa đủ, thì trong việc kế hoạch hóa và thực hiện các nhiệm vụ nghiệp vụ, định mức thời gian và thời gian qui định thường bị phá vỡ, làm tăng định mức thời gian và định mức hiệu suất, làm việc với kỹ thuật sơ sài (không ít trường hợp đã làm với chất lượng kém) hoặc, là làm các công việc riêng biệt với thời gian không xác định.
Trong khi tiến hành tính toán số lượng biên chế cần thiết của lưu trữ quốc gia cần gắn liền với tính toán khối lượng công việc, trong đó đã xem xét các vấn đề như: khối lượng và tình trạng bảo quản của các kho lưu trữ; tài liệu mật, tài liệu cá nhân và đặc biệt là tài liệu quý hiếm cũng như tài liệu phim, ảnh, ghi âm, loại hình đòi hỏi điều kiện bảo quản đặc biệt và thống kê chuyên biệt; những biện pháp cần thiết đáp ứng việc bảo quản tài liệu, để lập phông bảo quản và phông sử dụng; số lượng và chất lượng nguồn bổ sung của lưu trữ, khối lượng, thành phần và tình trạng tài liệu có trong các kho lưu trữ và thuộc thành phần giao nộp vào lưu trữ quốc gia; dự báo khối lượng thu thập bổ sung hằng năm của lưu trữ quốc gia; khối lượng tài liệu hiện có của lưu trữ quốc gia thuộc diện mô tả đầy đủ; tính hiệu quả của việc sử dụng tài liệu lưu trữ; cấp độ số hóa lưu trữ, mức độ trang bị kỹ thuật; vị trí các kho bảo quản tài liệu tập trung hay phân tán; viễn cảnh gần nhất của việc tòa nhà lưu trữ sẽ được đưa vào sử dụng, những trang, thiết bị mới và v.v.
Ở đây, cần phải nhắc đến những dữ kiện có tính khách quan làm hạn chế khối lượng công việc cũng như làm tăng số lượng biên chế của lưu trữ. Ví dụ, do thiếu diện tích trong tòa nhà lưu trữ, cũng như không có khả năng mở rộng diện tích trong trong thời gian gần nhất, thì không thể đưa vào kế hoạch công tác việc tăng khối lượng thu thập bổ sung tài liệu của lưu trữ; không đủ máy móc thiết bị thì không thể tăng được khối lượng phông bảo hiểm tài liệu cần lập; khả năng ngân sách nói chung là kìm chế sự tăng biên chế của những tổ chức hưởng ngân sách và tương tự.
Điều kiện cơ bản để tính hiệu quả công việc theo số lượng biên chế cần thiết đã định là, trong một khoảng thời gian không thay đổi, khối lượng công việc thực tế được hoàn thành, không nằm trong tổng khối lượng công việc mà vì lý do này hay lý do khác đã không hoàn thành trong một thời gian dài.
- Sau khi đã lập bảng kê và xác định khối lượng công việc của từng năm, cần phải tính toán chi phí lao động và số lượng biên chế cần thiết để hoàn thành khối lượng công việc này.
Chi phí lao động phải tính theo từng loại công việc kết hợp với định mức lao động – định mức cho lao động liên lĩnh vực, một lĩnh vực hay nội bộ(1). Với từng lưu trữ cụ thể, người ta thường sử dụng định mức nội bộ đã được tính toán trên cơ sở định mức theo loại hình công việc, theo các thống kê và các báo cáo về tài liệu lưu trữ, đồng thời theo kết quả kiểm tra việc hoàn thành định mức. Định mức theo loại hình được sử dụng khi không có định mức nội bộ; định mức liên lĩnh vực sử dụng trong việc xác định công lao động cho các công việc kỹ thuật, cho tạp vụ và v.v. Nếu trong lưu trữ sử dụng định mức nội bộ với 41 giờ làm việc trong 1 tuần thì có thể áp dụng hệ số 0,025(2). Ví dụ: nếu theo định mức, trong 41 giờ của 1 tuần làm việc, để tổ chức 6 lần trưng bày tài liệu, cần thiết phải chi 162 ngày công, mỗi ngày 8 giờ 12 phút, thì trong điều kiện 1 tuần làm việc 40 giờ phải cần tới 166 ngày công với 8 giờ/ngày (162 x 0,025 = 166,05). Chi phí lao động T trong định mức công việc và trong việc làm thực tế được xác định bằng 2 khả năng sau:
1. Thông qua định mức thời gian: T = N. Nđmtg
Trong đó: N – khối lượng công việc trong các đơn vị định mức 1 năm;
Nđmtg – là định mức thời gian / đơn vị công việc / ngày.
Ví dụ: nếu trong 1 năm, người ta lập kế hoạch tổ chức 4 cuộc triển lãm tài liệu, với 100 hiện vật cho 1 cuộc, với 27,7 lao động cho 1 triển lãm (1 tuần làm việc 40 giờ), thì chi phí lao động trong 1 năm sẽ là:
T = 4 . 27,7 = 110,8 người
2. Thông qua định mức việc làm:
T = N : Nđmcv
Trong đó: N - khối lượng công việc trong các đơn vị định mức 1 năm
Nđmcv – định mức công việc/đơn vị công việc/người lao động
Như vậy, nếu trong 1 năm người ta lập kế hoạch phục vụ 2.600 yêu cầu đối với tài liệu lưu trữ theo định mức 3 yêu cầu/ngày làm việc, thì chi phí lao động 1 năm sẽ là:
T = 2600 : 3 = 866,7 người
Sau khi tính toán chi phí lao động để thực hiện định mức công việc, người ta tính toán công lao động để thực hiện các công việc không có định mức – trên cơ sở báo cáo, thống kê năm trước của lưu trữ và các đơn vị trực thuộc (trong đó đã xác định chi phí lao động để thực hiện các công việc đã định, còn trong một số trường hợp riêng biệt – thì bằng cách thẩm định).
- Tiếp theo, cần xác định lượng thời gian làm việc để hoàn thành những việc không nằm trong kế hoạch được bổ sung đột xuất(3). Lượng thời gian này được xác định trên cơ sở báo cáo của năm trước có tính đến các phần việc trong kế hoạch của lưu trữ nhưng không quá 3% tổng thời gian làm việc của cả lưu trữ(4).
Sau khi dự toán chi phí lao động chung, tính tổng dự toán định mức của toàn bộ các công việc, kể cả những việc không có định mức và lượng thời gian làm việc để hoàn thành những việc đột xuất ngoài kế hoạch.
Tổng chi phí T0 trên toàn bộ hoạt động nghiệp vụ cơ bản trong lưu trữ là dự toán số lượng biên chế cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết theo công thức (1)
S = T0 : Fn x Kn (1)
Trong đó: S là số lượng biên chế (ước tính);
T0 là chi phí lao động (thời gian làm việc cần thiết) trên khối lượng công việc, ngày hoặc giờ(5); chi phí lao động chung gồm tổng chi phí T trên các việc có định mức và không có định mức, kể cả những công việc ngoài kế hoạch có liên quan đến những tình huống không đột xuất;
Fn là định mức lượng thời gian làm việc tính trên 1 người lao động (ở đây là lao động có chuyên môn nghiệp vụ) trong 1 năm, với khoảng 2.000 giờ hoặc tương đương 250 ngày làm việc(6).
Kn là hệ số vắng mặt của người lao động theo luật định, kể cả vắng mặt theo kế hoạch và vắng mặt bổ sung, trong đó có sự vắng mặt của người lao động không theo định mức ngày lao động, vắng mặt vì các lý do không có khả năng lao động, vắng mặt để đi học, v.v.
Hệ số được tính theo công thức sau:
Kn = 1 + tỷ lệ vắng mặt theo kế hoạch(7) : 100
Tỷ lệ tối thiểu của sự vắng mặt theo kế hoạch thường áp dụng cho những tổ chức hưởng ngân sách, chiếm 10% thời gian lao động.
Như vậy, trong trường hợp trên và các ví dụ sau, thì:
Kn = 1 + 10 : 100 = 1,1
Theo những tính toán cụ thể về số lượng biên chế cần thiết của các lưu trữ, tỷ lệ vắng mặt theo kế hoạch được tính trên cơ sở sổ sách kế toán của cơ quan, mà theo đó tiến hành tính toán, hoặc, không thực hiện được theo phương án đã nêu (ví dụ: lưu trữ mới được thành lập), có thể sử dụng phương án phù hợp với cơ quan. Phương pháp xác định sự vắng mặt theo luật định được giới thiệu trong chuyên khảo của Tổng cục Lưu trữ Liên Xô về việc tính toán hiệu suất của thời gian lao động trong các lưu trữ(8), mà khi sử dụng thì áp dụng theo những điều khỏan đã được thay đổi trong Luật lao động của Liên bang Nga.
Thực tế đã chỉ ra rằng, trong các lưu trữ quốc gia, sự vắng mặt theo luật định và được kế toán thông qua lớn hơn 10%. Ví dụ: nếu tỷ lệ lao động vắng mặt theo luật định đối với một lưu trữ cụ thể là 15% thì hệ số tính tỷ lệ lao động vắng mặt theo dự tính là:
1 + 15 : 100 = 1,15
Sau khi tính toán số lượng biên chế cần thiết cho các hoạt động cơ bản, cần phải tính số biên chế quản lý hành chính, kỹ thuật, nhân viên và tạp vụ, đồng thời, tính cả đội ngũ cán bộ lãnh đạo cơ quan và lãnh đạo các đơn vị trực thuộc, vào khoảng 3-5 người.
Số lượng biên chế cần thiết chung cho một lưu trữ có thể là tổng số các biên chế của tất cả mọi loại hình công việc.
Nếu một lưu trữ có các đơn vị trực thuộc với các chức năng cụ thể, thì tính biên chế của từng đơn vị cụ thể, sau đó tổng hợp toàn bộ số lượng biên chế cần thiết của toàn lưu trữ cùng với số lượng cán bộ lãnh đạo.
Để tính toán số lượng người cần thiết để thực hiện có hiệu quả và chất lượng khối lượng công việc, cần tính đến điều kiện tổ chức lao động (tổ chức địa điểm làm việc, tuân thủ các biện pháp kỹ thuật để kiểm tra công việc, vận hành các thiết bị tự động và kỹ thuật) phù hợp với yêu cầu đặt ra trong quy chế làm việc của các lưu trữ quốc gia và định mức lao động.
Phương pháp đã nêu được áp dụng cả trong trường hợp xác định số lượng biên chế cần thiết cho một lưu trữ mới được thành lập. Ở đây cũng thiết lập bảng kê các chức năng của lưu trữ mới, những công việc cần làm để thực hiện các chức năng đó (kể cả các chức năng cơ bản và không cơ bản).
Khối lượng công việc đặt ra được xác định bằng tổng thể các dữ kiện đã liệt kê ở phần 1 với những sửa đổi cần thiết (phụ thuộc vào các chức năng cụ thể). Ví dụ: nếu một lưu trữ mới được thành lập, chưa thực hiện ngay chức năng bảo quản tài liệu, thì trong thời gian đầu chỉ cần số lượng biên chế tối thiểu dành cho việc bảo quản tài liệu.
Trên đây là phương pháp tính số lượng biên chế cần thiết của một cơ quan lưu trữ nói chung được tiến hành ở tất cả các loại hình công việc trong lưu trữ, cho từng loại lao động: làm nghiệp vụ cơ bản, lãnh đạo, chuyên viên hành chính – quản lý, kỹ sư – kỹ thuật viên, lao động giản đơn và tạp vụ.
==========================
TS. Nguyễn Lệ Nhung
Lược dịch theo Chương I chuyên khảo “Phương pháp tính toán số lượng biên chế của các lưu trữ quốc gia trên cơ sở định mức lao động” / Tổng cục Lưu trữ Liên bang Nga; VNIIDAD, M., 2004
Chú thích 1.Định mức nội bộ có thể là khẳng định hoặc tính toán theo từng loại công việc và theo thời gian là 40 giờ trong 1 tuần. Trong định mức cần phải tính toán thời gian cho việc chuẩn bị - kết thúc, việc bổ trợ, những người tổ chức, phục vụ kỹ thuật, nghỉ ngơi và những nhu cầu cá nhân của các lao động. Quy trình tính toán định mức thời gian và định mức lao động có trong “Cơ sở tổ chức khoa học lao động trong các lưu trữ quốc gia” / Quản lý lưu trữ Liên Xô; VNIIDAD. M., 1986
2.12 phút mà người ta rút đi trong một ngày làm việc là 0,025 của 1 ngày làm việc 8 giờ.
3.Quy chế làm việc của các lưu trữ quốc gia Liên bang Nga. M., 2002. tr. 44
4.Việc tính toán quỹ thời gian làm việc có hiệu quả các giai đoạn của kế hoạch. Phương pháp. Giới thiệu / Lưu trữ Liên Xô. M., 1982, tr.6.
5.Phần lớn định mức cho các loại hình cơ bản của các công việc được hoàn thành trong các lưu trữ quốc gia đều bao gồm định mức thời gian và hiệu suất lao động được thể hiện qua các ngày làm việc, vì thế, các ví dụ dự toán được dẫn ra trong giáo trình đã dẫn thì chi phí lao động của các hoạt động cơ bản dự toán trên hiệu suất các ngày làm việc.
6.Giới thiệu vấn đề xác định số lượng biên chế của các tổ chức hưởng ngân sách trên cơ sở định mức lao động / SBNT. M., 2002. Tr.6
7.Sách đã dẫn. Tr.6, 8, 9, 14.
8.Việc tính toán hiệu suất quỹ thời gian làm việc trong giai đoạn thuộc kế hoạch: Phương pháp, tư vấn / Tổng cục lưu trữ Liên Xô. M., 1982, tr. 1-6. (Hiện tại, những giờ học về quốc phòng chưa được tính vào số vắng mặt, mà được tính chung vào chi phí lao động cùng với các giờ học nâng cao nghiệp vụ của người lao động).