Danh lam thắng cảnh - Văn hóa du lịch Việt Nam
Saturday, May 26, 2007 6:19:49 AM
Đền Quốc mẫu Âu Cơ được xây trên núi Ốc Sơn, còn gọi là núi Vặn, cao trên 147m so với mặt biển. Nằm trong khu di tích đền Hùng, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Đền Quốc mẫu Âu Cơ được thiết kế dựa trên nền kiến trúc độc đáo mang đậm dấu ấn văn hóa của thời kỳ Đông Sơn. Đền thờ Mẹ Âu Cơ, người mẹ huyền thoại, linh thiêng, Hhuyền diệu có công đầu trong việc khai hoang, mở cõi của dân tộc. Tổng thể kiến trúc gồm có: nhà Tả vu, nhà ữu vu, nhà bia, trụ biểu, tứ trụ, cổng tam quan, nhà đón tiếp, nhà hành lễ, sân, vườn, hệ thống đường bậcbãi quay xe.Đường từ chân núi lên đến cửa đền gồm 553 bậc đá, trên đường đi có nhà đón khách và chỗ dừng chân. Cổng tam quan xây cao 5,8m có ba lối vào, lối chính cao 2,2m, mái cổng lợp dán ngói mũi hài, các đao góc,các họa tiết chạm khắc mô phỏng hình chim Lạc. Điểm nhấn của tiền cảnh đền là bia và trụ bia làm bằng đá một mặt khắc chữ nôm, mặt kia khắc chữ quốc ngữ ghi lại thời kỳ xây dựng đền với sự đóng góp công đức của đồng bào cả nướcDo đặc thù nằm trên núi cao có độ chênh cốt lớn nên hệ thống sân vườn được xây dựng khá kỳ công, xung quanh đền chính được xây kè bằng 3 lớp, lớp trong cùng là tường chắn bằng bê tông cốt thép, lớp giữa xây bằng đá hộc, lớp ngoài ốp bằng đá ong lấy từ vùng làng cổ Sơn Vi, Thanh Đình huyện Lâm Thao (Phú Thọ).Công trình đã sử dụng hơn 8.000m³ đá, 5.300 tấn cát sỏi, 68.000 tấn xi măng, 250m³ gỗ lim.Đền Quốc mẫu Âu Cơ được hoàn thành đúng vào dịp lễ hội Đền Hùng - Quốc lễ năm 2005
:clown:

Đền Cửa Ông
Đền Cửa ÔngĐền Cửa Ông thuộc địa phận phường Cửa Ông, thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Đền là nơi thờ phụng Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng cùng nhiều nhân vật nổi tiếng thời nhà Trần.
Lịch sử
Sau khi Trần Quốc Tảng mất (năm 1313) nhân dân địa phương truyền lại thấy ông hiển thánh tại khu Vườn Nhãn (phường Cửa Ông ngày nay) nên đã lập biểu tâu lên vua Trần Anh Tông, được chấp thuận và chu cấp tiền bạc để lập miếu tế lễ. Khu vực Cửa Ông (xưa gọi là Cửa Suốt) là nơi Trần Quốc Tảng đóng quân đồn trú bảo vệ tuyến biên giới và lãnh hải phía đông bắc Việt Nam, lập nhiều công trong cuộc kháng chiến chống quân nhà Nguyên. Tương truyền trước khi thờ Trần Quốc Tảng, đền Cửa Ông là miếu thờ Hoàng Cần, người địa phương có nhiều công đánh phá giặc cướp, được các triều vua phong "Khâm sai Đông Đạo Tiết chế".
Vị trí
Đền Cửa Ông nằm trên một ngọn đồi ở phường Cửa Ông, thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Từ thành phố Hạ Long đi theo đường quốc lộ 18 về phía đông bắc khoảng 30 km rẽ phải vào khoảng 300 mét là tới đền Cửa Ông.
Kiến trúc
Lăng Trần Quốc Tảng tại đền Cửa ÔngĐền Cửa Ông trước đây được xây dựng thành hai khu, đền Hạ và đền Thượng, sau này đền Hạ bị bom Mỹ phá hủy. Đền tọa lạc trên một ngọn đồi cao khoảng 100 mét nhìn xuống vịnh Bái Tử Long ở phía nam, hai bên có hai ngọn đồi nhỏ hộ vệ, phù hợp với quy tắc Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ, sau lưng là dãy núi xanh chạy dài qua Cẩm Phả, Mông Dương. Phía trước đền Thượng có một tam quan, bên trái là khu nhà để khách thập phương sắp lễ vào đền, bên phải là một ngôi chùa, phía sau là lăng Trần Quốc Tảng. Bên trong đền Thượng, có rất nhiều tượng thờ các nhân vật nối tiếng của triều Trần: tổng cộng có hơn 30 tượng được phân bổ làm ba lớp: Tiền đường có Đỗ Khắc Chung, Lê Phụ Trần, Nguyễn Địa Lô; Bái Đường có Trần Quốc Tảng, Trần Thì Kiến, Hà Đặc, Phạm Ngộ, Trần Khánh Dư; Hậu Cung có Trần Quốc Tuấn, Yết Kiêu, Nguyễn Quyên, Nguyễn Tiễn, Huyền Du, Quyên Thánh Công Chúa, Đỗ Hành.
Lễ hội
Lễ hội Đền Cửa Ông tổ chức ngày 2 tháng 1 âm lịch. Nhân dân theo truyền thống thường đi lễ đền Cửa Ông từ đầu năm mới âm lịch, theo tuyến du lịch lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc - Yên Tử - Cửa Ông[/COLOR]













---DUC CUONG---tinh_yeu_cua_anh # Saturday, May 26, 2007 6:41:58 AM
7/05/2007 Các nhà khoa học giả thiết đó là hình bản đồ cổ của người Mông hoặc gần như là cuốn sách cổ giới thiệu về những trận đánh ngày xưa...Bãi đá cổ Sa Pa nằm trong thung lũng Mường Hoa, xã Hầu Thào, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, cách thị trấn Sa Pa khoảng 8km về phía đông nam. Đây là di sản của cư dân người Việt cổ, gồm những khối đá với các hình chạm khắc từ xa xưa, nằm rải rác trên những thửa ruộng bậc thang của người dân bản Pho. Bãi đá cổ Sa Pa được nhà khảo cổ người Pháp gốc Nga Glubev của trường Viễn Đông Bắc Cổ phát hiện vào năm 1925 Bãi đá trải rộng 8km² với gần 200 khối đá có kích thước, hình khắc khác nhau như: tranh vẽ tả thực, hoa văn trang trí, hình người đang tỏa hào quang, hình người cách điệu và một số mô tuýp khác về hình người, hình kiểu bản đồ mô tả thung lũng Mường Hoa... Đặc biệt, có các tảng đá được khắc trên đó những khối chữ vuông giống với chữ Nôm Dao. Các nhà khoa học giả thiết đó là hình bản đồ cổ của người Mông hoặc gần như là cuốn sách cổ giới thiệu về những trận đánh ngày xưa... Có rất nhiều cách giải mã khác nhau của các nhà khoa học khi đến nghiên cứu bãi đá cổ Sa Pa. Tuy nhiên, tất cả những cách giải mã đó mới chỉ dừng lại ở giả thiết. Bãi đá cổ Sa Pa vẫn nằm đó ẩn dấu những bí ẩn của người cổ xưa, thách thức các nhà khoa học. Từ tháng 10.1994, bãi đá cổ Sa Pa được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hoá quốc gia. Hiện nay, di tích này đang được nhà nước đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.
---DUC CUONG---tinh_yeu_cua_anh # Saturday, May 26, 2007 7:18:40 AM
Cập nhật ngày : 17/05/2007
:angel:
Nhắc đến làng Diềm (hay còn gọi là làng Viêm Xá, xã Hòa Long, (Yên Phong, Bắc Ninh) người ta không chỉ nhớ về những làn điệu Quan họ nổi tiếng xưa nay mà nơi đây còn được biết tới với một ngôi đình cổ rất bề thế như câu ca xưa:
“Thứ nhất là đình Đông Khang
Thứ nhì đình Bảng, vẻ vang đình Diềm” Đến thăm đình Diềm, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt du khách là tòa đại đình 4 mái, đao cong nằm chỉnh tề ngay đầu làng. Đi vào bên trong, ai cũng ấn tượng với một không gian thoáng rộng (do lòng đình rộng tạo nên) và bốn cây cột cái chu vi tới 2,14m. Cụ từ Nguyễn Bá ý cho biết: Đây là những cây trụ chính chịu lực nâng đỡ cả tòa đình. Theo thần phả của làng và một số câu đối trong đình còn ghi lại, đình Diềm được xây dựng vào cuối thế kỷ 17 để thờ Đức thánh Tam Giang (như mọi làng quê ven sông Cầu), dân làng vẫn lấy năm Nhâm Thân 1692 (năm dựng mái) làm năm xây đình. Kiến trúc đình Diềm xưa tuân thủ theo kiến trúc truyền thống của Việt Nam, có nhà tiền tế, có đại đình, ngoài gian giữa có chạm những hình rồng và mây nét mác, tất cả mọi thành phần của khung nhà đều bào trơn đóng bén, soi gờ chỉ chạy thẳng. Đình Diềm xưa khá bề thế, gồm 3 gian hai chái khép kín thành một chỉnh thể thống nhất và hài hòa. Sau này do chiến tranh, nhiều kiến trúc độc đáo đã bị phá huỷ, hiện đình chỉ còn 1 gian 2 chái. Ngay từ năm 1964, đình Diềm đã được Nhà nước ta công nhận danh hiệu di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia. Nét độc đáo của đình Diềm chủ yếu ở chiếc cửa võng và chiếc nhang án thờ nơi gian giữa. Chiếc nhang án nằm phía trong cửa cấm, theo các nhà nghiên cứu thuộc Cục bảo vệ di sản (Bộ Văn hóa-Thông tin), giá trị của nó về một số mặt “có thể đưa vào danh sách các bảo vật Quốc gia”. Nhìn tổng thể nhang án được sơn son thiếp vàng rực rỡ, chân quỳ chạm hình rồng, các tầng diềm được trang trí bằng nhiều hình rồng, vân mây, hoa bốn cánh với kỹ thuật chạm lộng, chạm nổi, chạm thủng. Hai bên là ván chạm thủng hình “Song nghê triều dương” (hai con nghê chầu mặt trời), và 4 con rồng chầu vào vòng sáng nhọn đầu của chữ “Phúc”. Bên cạnh các hình chạm khắc này, nhang án còn có những hình chạm rất đặc sắc, trong đó có cả hình tượng các cô thôn nữ xinh đẹp, yểu điệu. Điều đó chứng tỏ người dân làng Diềm xưa không hề bó buộc, câu nệ mà đưa cả những cảnh sinh hoạt đời thường vào trang trí tại một nơi thâm nghiêm như đình, chùa.
Theo cụ Nguyễn Văn Thư, trưởng ban quản lý đình, khác với đình rất nhiều nơi khác, từ gần 300 năm trước, “đặc sản” quan trọng nhất của đình Diềm chính là bức cửa võng “độc nhất vô nhị”. Bức cửa võng này chạy dài suốt từ thượng lương ở trên độ cao 7m xuống tận nền đình, gồm bốn tầng lớn xếp theo bậc thấp dần cho đến giáp hao cột cái bên trong. Tầng nào cũng được chạm khắc tinh tế với nhiều hình khối nghệ thuật, biểu tượng tứ linh (long, li, quy, phượng) và những đề tài đậm chất nghệ thuật. Toàn bộ cửa võng thếp vàng rực rỡ, không một mảng trơn bóng, từng nét nhỏ đều được trang trí kỹ lưỡng khiến cho nổi bật lên, thu hút sự chú ý của mọi người ngay từ phút đầu mới đến. Theo đánh giá, hầu hết các đình làng xứ Bắc đều có cửa võng, nhưng không thấy cửa võng nào đẹp và độc đáo như ở đình Diềm. Nghệ thuật chạm khắc gỗ của cửa võng đình Diềm đã thể hiện được tinh hoa nghệ thuật điêu khắc gỗ của người nghệ nhân dân gian Kinh Bắc thủa xưa. Cùng với đôi phỗng trên ban thờ, đình Diềm còn lưu giữ được nhiều cổ vật quý như lư hương, lộc bình và đặc biệt là 36 đạo sắc phong. Theo cụ Thư, mỗi năm đình Diềm đón một lượng khách khá lớn về tham quan, nghiên cứu. Điều đáng mừng là nhân dân địa phương luôn có ý thức gìn giữ, tu bổ tôn tạo đẹp hơn nên qua nhiều lần trùng tu vẫn giữ được dáng vẻ nguyên sơ và chưa hề xảy ra vụ mất mát cổ vật nào. Mong rằng các ban ngành chức năng của tỉnh Bắc Ninh quan tâm hơn nữa để đình Diềm phát huy được hết giá trị của một trong những ngôi đình đẹp nhất xứ Bắc.
---DUC CUONG---tinh_yeu_cua_anh # Saturday, May 26, 2007 7:26:10 AM
:queen: Cập nhật ngày : 17/05/2007
Người Việt Nam quan niệm “sống có nhà, thác có mồ” nên thường chúc cho người sống có “nhà cao cửa rộng” và mong cho người chết “mồ yên mả đẹp”. Thế nhưng, trong trường hợp Hoàng đế Quang Trung – vị anh hùng dân tộc từng dẹp tan 5 vạn quân Xiêm La và đánh đuổi 29 vạn quân Mãn Thanh – lăng mộ lại bị đào bới và san bằng khiến ngày nay không ai còn biết ở đâu. Vì vậy đi tìm lăng mộ Hoàng đế Quang Trung là một trách nhiệm thiêng liêng của mọi người dân Việt Nam. Đặc biệt là khi lễ kỷ niệm lần thứ 215 ngày mất và lần thứ 220 ngày lên ngôi của ông đang đến gần.
Chỉ trong vòng một phần tư thế kỷ, kinh thành Phú Xuân ba lần đổi chủ. Cuối năm Giáp Ngọ (đầu năm 1775), quân của chúa Trịnh vượt sông Gianh vào đánh chiếm Phú Xuân. Chúa Nguyễn Phúc Thuần phải chạy vào Quảng Nam và sau đó chạy tiếp vào Gia Định.
Hơn mười năm sau, tháng 5 năm Bính Ngọ (1786), Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ chỉ huy quân Tây Sơn giành lấy Phú Xuân từ tay quân Đàng Ngoài. Tại đây, ngày 25.11 năm Mậu Thân (22.12.1788), ông lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu Quang Trung rồi thống lĩnh quân thuỷ bộ tiến ra Bắc đánh tan quân xâm lược Mãn Thanh. Chẳng may, ông mất sớm khi mới 39 tuổi.
Tháng 5 năm Tân Dậu (1801), quân của chúa Nguyễn Ánh tái chiếm Phú Xuân.
Quốc sử quán triều Nguyễn chép: tháng 11 năm ấy, Nguyễn Ánh cho “phá huỷ mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ quan tài, phơi thây, bêu đầu ở chợ” (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhất kỷ, quyển XV, tờ 26a).
Năm sau (1802), sau khi lên ngôi và lấy niên hiệu Gia Long, Nguyễn Ánh lại sai “đào hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ, giã nát rồi vất đi, đem đầu lâu của Nhạc, Huệ, Nguyễn Quang Toản và bài vị của vợ chồng Huệ giam ở Ngoại Đồ Gia (Nhà Đồ Ngoại), đến năm Minh Mạng thứ hai (1822) đổi giam vào ngục thất, cầm cố mãi mãi” (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhất kỷ, quyển XIX, tờ 2a).
Đại Nam thực lục chính biên cho biết: Tháng 11 năm Tân Dậu, Nguyễn Ánh cho “phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ quan tài, phơi thây, bêu đầu ở chợ”
Sọ ba vua Tây Sơn bị bỏ vào ba cái vò đậy kín, xiềng lại, giam riêng trong ba ngăn của khám đường. Các nhà nghiên cứu bình luận: “Xưa nay, người ta bỏ tù người sống, chứ ai lại bỏ tù người chết bao giờ. Trong lịch sử Việt Nam và thế giới, từ cổ chí kim, chưa có triều đại nào làm chuyện ấy chỉ có Gia Long và các vua kế nghiệp ông mới làm công việc tàn ác và quái gở như vậy”.
Bất chấp hành động trả thù và lăng nhục của các vua đầu nhà Nguyễn, các cai ngục và lính canh của khám đường vẫn bí mật kính cẩn thờ cúng anh linh của Hoàng đế Quang Trung và không dám gọi “ba cái vò” mà gọi “ba ông vò”. Trong ngày 23.5 năm ất Dậu (5.7.1885), nhân lúc quân Pháp phản công, triều đình rời Huế lên chiến khu Tân Sở, có người đã đem “ba ông vò” chôn ở một nơi nào đó không ai hay biết.
Gia Long còn “cho thu thập tất cả các tài liệu về nhà Tây Sơn để tiêu huỷ”. “Những bộ sử, những tập thơ văn… sản xuất đời Tây Sơn cũng cấm không được lưu hành, tàng trữ. Nhân dân không được nhắc tới những chuyện có liên quan tới triều đình Tây Sơn. Do đó, chỉ sau vài thế hệ, ở Huế không ai còn nhớ lăng mộ của Hoàng đế Quang Trung ở đâu.
Vua Gia Long
Năm 1928, trong khi khảo sát các ngôi mộ ở vùng ngoại ô Huế, chủ bút Tập san Đô thành hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hué –BAVH) Léopold Cadière phát hiện một ngôi mộ khá x¬a và khá lớn giữa một khu rừng hoang vắng thuộc địa phận thôn Cư Chánh, xã Thuỷ Bằng, thành phố Huế ngày nay. Mộ được bao bọc bởi ba lớp thành bằng đá ong nên dân chúng thường gọi là Mộ ba vành. Theo yêu cầu của ông, Bộ Lễ (của triều đình Huế) cho biết đó là mộ của một quan lớn họ Lê, tước Ý Đức hầu, chức Chánh dinh Hộ bộ kiêm Binh bộ tặng Tá lý công thần đặc tấn Trụ quốc kim tinh Lộc đại phu Chính trị thượng khanh.
Vua Minh Mạng
Năm 1941, Nguyễn Thiệu Lâu, giáo viên môn sử địa trường Quốc học Huế, đến thăm Mộ ba vành hai lần. Vì một lý do nào đó, mãi 20 năm sau ông mới kể lại chuyện đi thăm mộ trên tạp chí Bách Khoa xuất bản ở Sài Gòn. Không tham khảo thư tịch cổ, cũng không đào thám sát, nhưng ông kết luận (một cách rất chủ quan): “Tôi tin chắc đây là lăng Hoàng đế Quang Trung... Bia của ngài đã bị Hoàng đế Gia Long cho đập, tẩm của ngài đã bị đào”.
Không lâu sau đó, cũng trên tạp chí Bách Khoa, nhà nghiên cứu Bửu Kê dựa trên các tư liệu của Léopold Cadière để phủ nhận điều khẳng định vội vàng và thiếu khoa học của Nguyễn Thiệu Lâu.
Tuy vậy, trước và sau năm 1975, vẫn có một số người nêu lại giả thuyết “Mộ ba vành là lăng Quang Trung” nhưng bị Lê Văn Hoàng, Phan Thuận An, GS. Phan Huy Lê, PGS.TS Đỗ Bang… bác bỏ. Các nhà nghiên cứu này dẫn chứng Đại Nam thực lục tiền biên: “Tháng chạp năm ất Sửu (tức tháng giêng – 1746), Hộ bộ kiêm Binh bộ Lê Quang Đại chết, được tặng Chính trị thượng khanh”. So với dòng chữ “Cảnh Hưng thất niên tứ nguyệt” (tháng 4 năm thứ 7 đời Cảnh Hưng, tức tháng 5.1746) khắc trên tấm bia đặt trước Mộ ba vành, chênh lệch 5 tháng, có lẽ là thời gian để xây mộ và dựng bia. Vả lại, liệt truyện cho biết, Gia Long đã cho “quật phá” mộ Quang Trung, như vậy mộ không chỉ bị khai quật mà còn bị phá huỷ, chứ không còn tương đối nguyên vẹn như Mộ ba vành.
Ngoài Mộ ba vành, có người cho lăng mộ Quang Trung dưới chân núi Kim Phụng vì đây là nơi an nghỉ cuối cùng của Vũ Hoàng chính hậu Phạm Thị Liên (qua đời năm 1791, trước Quang Trung 1 năm). Một số người khác đưa ra các giả thuyết về lăng mộ Quang Trung ở núi Ngọc Trản, hay núi Chóp Vung, hay xã Bình Điền (huyện Hương Trà).
Trên tạp chí Xưa và Nay số tháng 10.2005, hai nhà nghiên cứu Hồng Phi và Nương Nao phát hiện bài thơ “Kiến Quang Trung linh cữu” (Nhìn thấy linh cữu của vua Quang Trung) trong tập Liên Khê Nam hành tạp vinh của Lê Triệu (1771 -1846). Hai ông phỏng đoán chữ đầu câu 4 của bài thơ: “… sơn hoạ tại bách niên phần” là chữ nôm “Khuân”. Núi Khuân nằm trong địa bàn huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Tuy nhiên, trong cuộc toạ đàm do Hội khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế tổ chức ngày 8.2.2006, các nhà nghiên cứu cho chữ đó là chữ Hán “Ngụy” viết theo lối thảo, mà ở thừa Thiên – Huế không có núi nào có tên là núi Ngụy cả.
Bài thơ Kiến Quang Trung linh cữu của Lê Triệu (1771-1864). Chữ đầu của câu 4 được khoanh tròn
Trong khi đó, cô giáo Võ Thị Minh Liên ở Bình Thuận lại tin rằng vua Quang Trung được mai táng trong một ngôi mộ cổ nằm trong một khu vườn vắng thuộc huyện Hàm Thuận Bắc, cách thành phố Phan Thiết chưa đầy mười cây số. Xung quanh ngôi mộ cổ này có nhiều mộ hình voi phục. Trước đây cạnh ngôi mộ cổ có một pho tượng mà, theo cô, gương mặt hao hao chân dung vua Quang Trung (giả), rất tiếc pho tượng này đã bị lấy mất.
Nhìn chung, những người tham gia vào cuộc tìm kiếm đều thể hiện tấm lòng thành kính đối với vị anh hùng dân tộc. Tuy nhiên, các lý lẽ mà họ đưa ra chưa đủ sức thuyết phục công chúng nói chung và giới nghiên cứu nói riêng.
Do đó, hành trình tìm lăng mộ hoàng đế Quang Trung quay trở lại điểm xuất phát.
Đại Nam chính biên liệt truyện cho biết Quang Trung “chôn ở phía nam sông Hương” (táng vu Hương Giang chi nam). Đây là thông tin duy nhất mà Quốc sử quán triều Nguyễn tiết lộ về vị trí của lăng mộ Quang Trung. Thông tin ấy rất quý, song quá mơ hồ.
Đại Nam chính biên liệt truyện cho biết lăng mộ vua Quang Trung đã được “chôn ở phía nam sông Hương”
Không tìm được tư liệu trong các sách sử, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân chuyển sang tìm trong thơ văn Hán Nôm. Mừng thay, ông đã phát hiện nhiều thông tin mà ông đánh giá “còn quý hơn vàng gấp nghìn vạn lần”.
Hành trình tìm lăng mộ Quang Trung của Nguyễn Đắc Xuân trong hơn 20 năm qua không đơn giản chút nào. Ông phải kiên nhẫn dò tìm từng bước.
Bước đầu tiên là phát hiện lăng mộ của vua nằm trong cung điện Đan Dương.
Mấy tháng sau khi vua băng hà, thượng thư bộ Binh kiêm thị trung đại học sĩ Ngô Thì Nhậm thay mặt triều đình Tây Sơn sang Trung Hoa, trước để báo tang, sau để cầu phong cho Nguyễn Quang Toản. Trên đường đi sứ, ông sáng tác bài Cảm hoài kết thúc bằng câu: “Đan Dương cung điện nhật tam thu” với dòng chú thích: “Cung điện Đan Dương là sơn lăng phụng chứa bảo y Tiên hoàng ta. Quan sơn xa cách lâu ngày không được trông coi trông vời viên lăng không ngăn được tấm lòng một ngày bằng ba thu”. Trong những bài thơ khác, Ngô Thì Nhậm cũng nhắc tới “Đan Dương lăng” (bài Khâm vãn Đan Dương lăng), “Đan lăng” (bài Sóc vọng thị tấu nhạc Thái Tổ miếu cung ký), “sơn lăng” (bài Tòng giá bái tảo Đan lăng cung ký)... Những bài thơ của tiến sĩ họ Ngô cho thấy Quang Trung sống tại cung điện Đan Dương. Sau khi mất, ông được an táng ngay tại đây, nên lăng Đan Dương (gọi tắt là Đan lăng) nằm trong cung điện Đan Dương. Lăng mộ có hình tròn (viên lăng), nằm ở vùng đồi núi (sơn lăng) của Phú Xuân.
Huế và vùng phụ cận, trích trong Annuaire général de l’Indochine năm 1907, trích lại từ Bulletin des Amis du Vieux Hué, số tháng 1-6.1935. Dấu X trong bản đồ là vị trí phỏng đoán của phủ Dương Xuân / cung Đan Dương / lăng Đan Dương và chùa Thiền Lâm.
Năm 1799, Vũ Hoàng hậu Lê Thị Ngọc Hân qua đời. Thể theo nguyện vọng của bà, bà được an táng ngay tại Đan Lăng bên cạnh mộ Quang Trung. Bài văn tế Kỷ vị đông nghĩ ngự điện Vũ Hoàng hậu tang quốc âm văn (do thượng thư bộ Lễ kiêm thị trung ngự sử Phan Huy Ích viết thay lời vua) có câu: “Nguyện cũ hẳn nay lọn vẹn, bên Đan lăng quanh quất mạch liên châu”.
Đến đây có một thắc mắc được đặt ra: Thông thường, cung điện và lăng tẩm của các vua chúa toạ lạc ở hai nơi riêng biệt, cách xa nhau. Tại sao, trong trường hợp Quang Trung, lăng lại nằm trong cung? Nguyễn Đắc Xuân lý giải: Quang Trung có nhiều đối thủ chính trị: phía bắc có triều đình Mãn Thanh, phía nam có chúa Nguyễn Ánh, gần hơn có Hoàng đế Thái Đức Nguyễn Nhạc. Do đó, theo Đại Nam chính biên liệt truyện, Quang Trung trăng trối với triều thần: “Sau khi ta qua đời, chỉ nên làm lễ tang một cách sơ sài, trong vòng một tháng phải chôn cất”. Sách Lê quý dật sử cũng cho biết: vua dặn “để tang ngắn ngày, ba tháng thôi mặc áo tang”. Tin nhà vua băng hà được giữ kín tuyệt đối, sợ các đối thủ của vua có thể lợi dụng lúc triều đình đang bối rối để tấn công Phú Xuân. Do đó, việc mai táng thi hài vua ngay trong cung điện là một điều có thể hiểu được.
Vua mất đêm 29.7 năm Nhâm Tý (tức đêm 15.9.1792) nhưng mãi 2 tháng sau, triều đình mới chính thức loan báo ngày vua mất là 29.9. Không chỉ giấu kín ngày mất, triều đình còn giữ bí mật cả nơi chôn cất. Khi sứ nhà Thanh sang chia buồn, “Quang Toản làm mộ giả ở Thương Đường (có bản chép là Linh Đường)” bên cạnh hồ Tây, nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Cũng nhờ dựa vào thơ văn Hán Nôm mà Nguyễn Đắc Xuân đi được bước thứ hai: Xác định lăng Đan Dương gần chùa Thiền Lâm.
Lúc nối ngôi, Quang Toản (tức vua Cảnh Thịnh) mới 10 tuổi, nên cử cậu là Bùi Đắc Tuyên làm thái sư để trông coi mọi việc trong ngoài của triều đình.
Trong bài Xuân để ký sự, tiến sĩ Phan Huy Ích ghi chú: “Nhà của quan thái sư là chùa Thiền Lâm cũ nằm phía nam sông Hương. Nha thuộc cũng theo đến ở chung quanh chùa”. Trong bài Kinh Thiền Lâm phế tự cảm tác, Phan Huy Ích viết: “Chùa ở núi thuộc xã Dương Xuân” (tự tại Dương Xuân xã sơn). Phan Huy Ích lúc đó cũng sống và làm việc trong một ngôi chùa gần chùa Thiền Lâm. Trong tập Dật thi lược toàn, ông ghi chú: “Lúc bấy giờ, bọn tiểu giám giữ lăng thường đến hầu rượu”.
Từ ba ghi chú của Phan Huy Ích, Nguyễn Đắc Xuân rút ra nhận định: lăng Đan Dương, chùa gần nhau, nên bọn tiểu giám giữ lăng Đan Dương thường đến hầu rượu họ Phan. Vả lại, hai thông tin “chùa Thiền Lâm nằm ở Phía nam sông Hương” (của Phan Huy Ích) và “Quang Trung chôn ở phía nam sông Hương” (của Đại Nam chính biên liệt truyện) cho thấy hai địa điểm này cùng nằm một hướng.
Dựa vào thư tịch cổ, Nguyễn Đắc Xuân đi bước thứ ba: Phỏng đoán cung Đan Dương và phủ Dương Xuân là một.
Từ 1687 đến 1775, Phú Xuân là thủ phủ của xứ Đàng trong. Ngoài cung điện chính là phủ Phú Xuân, các chúa Nguyễn còn lập các cung điện phụ, trong đó có phủ Dương Xuân. Quốc sử quán triều Nguyễn cho biết: phủ Dương Xuân nằm trên gò Dương Xuân. Chính tại đây, Pierre Poivre được chúa Nguyễn Phúc Khoát tiếp ngày 29.11 năm 1749. Nhà buôn người Pháp này kể: phủ này là “cung điện thứ hai, nhỏ hơn, xây trên một cái gò, hơi xa bờ sông (...). Chúa ở đây vào mùa đông tức mùa mưa kéo dài bốn tháng”. Vì vậy Pierre Poivre gọi phủ Dương Xuân là “cung điện mùa đông” của chúa Nguyễn. Ông cho biết thêm: phủ này “được xây dựng theo kiểu mẫu của phủ lớn”.
Thương gia Pháp Pierre Poivre
Tuy có nhỏ hơn phủ Phú Xuân nhưng phủ Dương Xuân cũng khá lớn để các chúa, gia đình cùng những người phục vụ sống và làm việc trong suốt bốn tháng mỗi năm. Thế mà Quốc sử quán triều Nguyễn lại viết: “Từ cơn binh hoả loạn lạc đến nay, chỗ ấy mất dấu vết, không biết ở vào chỗ nào” (tự kinh binh loạn kim thất kỳ xứ).
Đại Nam nhất thống chí viết “Từ cơn binh hỏa loạn lạc đến nay, chỗ ấy mất dấu vết không biết ở vào chỗ nào”
Tại sao thế? Nguyễn Đắc Xuân lý giải: Từ khi lên ngôi hoàng đế, Quang Trung luôn nghĩ đến việc xây dựng Phượng Hoàng trung đô ở Nghệ An, xem Phú Xuân chỉ là kinh đô tạm thời nên không xây dựng cung điện mới ở đây mà chỉ cải tạo phủ Dương Xuân của các chúa Nguyễn thành cung Đan Dương. Các ngôi chùa (trong đó có chùa Thiền Lâm) nằm chung quanh cung Đan Dương được trưng dụng làm nơi ở và làm việc của bá quan văn võ. Sau khi chiếm lại Phú Xuân, Gia Long không chỉ giết sạch những người trong dòng họ Tây Sơn mà còn đốt sạch sách vở và phá sạch tất cả những gì có dính dáng đến triều đại Tây Sơn. Do đó phủ Dương Xuân bị san bằng chỉ vì đã được Quang Trung cải tạo thành cung Đan Dương.
Một lý do khác khiến phủ Dương Xuân / cung Đan Dương / lăng Đan Dương “biến mất” là vì chùa Thiền Lâm (mới) nằm chồng lên.
Trong những năm 1897-1898, thực dân Pháp mở “Nam Giao tân lộ” (nay là đường Điện Biên Phủ). Đường này xuyên qua khuôn viên chùa Thiền Lâm nên chùa phải dời qua phía tây. Do đó, rất có thể chùa hiện nay nằm chồng lên một phần phủ / cung / lăng ngày xưa.
Theo khảo sát thực địa của Nguyễn Đắc Xuân, chung quanh chùa Thiền Lâm có nhiều phiến đá táng cột (cỡ 45x45cm, dày 25cm), nhiều viên đá lát (cỡ 30x30cm), hàng nghìn viên gạch vồ... Tỳ kheo Thích Chơn Trí, trụ trì chùa, nhận xét: “Gạch đá đó phải là của những kiến trúc lịch sử quan trọng có liên quan đến vua chúa, còn dân thường ta ngày xưa làm gì có được những thứ vật liệu tốt, rất quý hiếm đó”.
Đặc biệt, chùa có bốn tấm đá dài 2,27m, rộng 0,67m, dày 0,035m. Trong thư đề ngày 15.12.1991 cố giáo sư Hoàng Xuân Hãn tán thành phỏng đoán của Nguyễn Đắc Xuân, cho rằng những tấm đá này “có thể là quách” bọc ngoài quan tài của Quang Trung.
Công trình nghiên cứu của Nguyễn Đắc Xuân đưa ra một định hướng mới, khá thuyết phục trong việc tìm kiếm lăng mộ Quang Trung. Tuy nhiên, để xác minh giả thuyết “lăng Đan Dương” này có chính xác hay không, cần phải tiến hành bước tiếp theo là đào thăm dò để xem dưới khu vực chùa Thiền Lâm hiện nay có những di vật gì có thể giúp chúng ta khẳng định đây là lăng mộ Quang Trung.
---DUC CUONG---tinh_yeu_cua_anh # Saturday, May 26, 2007 7:55:15 AM
Cập nhật ngày : 26/05/2007
Một con phố nhỏ trong lòng thành phố Nuremberg. (Ảnh minh họa: AP).
Mặc dù nước Đức có một số quy định cho phép khỏa thân ở nơi công cộng, nhưng việc một ông khách người Mỹ trần truồng thản nhiên đi dạo khắp thành phố vẫn khiến dân tình Nuremberg trợn mắt ngạc nhiên.
“Thời tiết dạo gần đây khá nóng nực nhưng không vì thế mà chúng tôi cho phép nhồng nhỗng đi lại kiểu thế kia” - một cảnh sát Nuremberg tỏ ra bức xúc. “Đã thế, ông khách còn bao biện rằng ông ta nghĩ việc khỏa thân giữa phố phường được nhà nước chúng tôi hợp pháp hóa”.
Quả thật là có một số quy định kiểu như vậy ở Đức, tuy nhiên chỉ giới hạn ở việc tắm nắng trong công viên hoặc trên bãi biển mà thôi. Đằng này vị khách người Mỹ tỉnh bơ nhét hết quần áo vào túi xách rồi thăm thú khắp các cửa hàng cửa hiệu trên đường phố.
Cho đến khi người dân than phiến nhiều quá, cảnh sát thành phố Nuremberg mới quyết định can thiệp vào chuyến du hí của ông khách “thoáng đãng” kia. Họ yêu cầu ông mặc quần áo chỉnh tề và phạt 200 euro.
---DUC CUONG---tinh_yeu_cua_anh # Tuesday, May 29, 2007 9:21:16 AM
:confused
Ao Bà Om
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ao Bà Om, hay Ao Vuông, là một thắng cảnh độc đáo và nổi tiếng ở tỉnh Trà Vinh, Việt Nam, thuộc khóm 3, phường 8 thị xã Trà Vinh (trước đây là ấp Tà Cụ, xã Nguyệt Hóa, huyện Châu Thành), cách trung tâm thị xã Trà Vinh khoảng 7 km dọc theo quốc lộ 53 về phía tây nNam. Ao có hình chữ nhật, rộng 300 m, dài 500 m (vì gần với hình vuông nên còn được gọi là Ao Vuông). Mặt nước ao trong xanh và phẳng lặng được phủ bởi hoa sen, hoa súng. Ao được bao bọc xung quanh bởi các gò cát mấp mô với các hàng cây sao, cây dầu cổ thụ hàng trăm năm tuổi có rễ nổi lên khỏi mặt đất tạo nên những hình thù kì lạ.
Theo truyền thuyết, để có hồ nước ngọt dùng trong mùa khô, dân làng người Khmer tổ chức cuộc thi đào ao giữa hai nhóm phái nam và nữ đồng thời cũng để quyết định phái nào thua sẽ phải đi cưới hỏi phái kia. Bên phái nam ỷ sức mạnh, vừa làm vừa chơi. Bên phái nữ dưới sự lãnh đạo của người tên Om, dùng nhiều mưu mẹo để trì hoãn nhóm nam. Khi đào gần xong, họ còn cho thả đèn lồng ở phía đông làm cho nhóm nam tưởng là sao Mai đã mọc nên nghỉ sớm. Sau cuộc thi, nhóm nam thua cuộc và ao của họ hiện vẫn còn dấu tích tuy đã cạn nước. Ao của nhóm nữ được đặt tên theo tên của bà Om.
Ngày nay ao Bà Om thường được các học sinh sinh viên chọn làm nơi cắm trại vào những dịp lễ hay lúc nghỉ hè. Đây cũng là nơi hẹn hò của nhưng đôi nam nữ cũng như là nơi các cặp vợ chồng mới cưới đưa nhau ra chụp hình quay phim lưu niệm.
Gần ao có chùa Âng là ngôi chùa Khmer cổ, độc đáo và hài hoà với cảnh sắc thiên nhiên.
Năm 1996 quần thể chùa Âng và ao Bà Om đã được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận là di tích văn hoá lịch sử cấp quốc gia.
---DUC CUONG---tinh_yeu_cua_anh # Tuesday, May 29, 2007 9:31:21 AM
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bãi cọc Bạch Đằng là các bãi cọc trên sông Bạch Đằng được sử dụng làm trận địa chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt, do Ngô Quyền khởi xướng vào năm 938 trong trận đánh quân Nam Hán. Hiện nay có hai bãi cọc được phát hiện:
Một bãi cọc nằm trong một đầm nước giáp đê sông Chanh, thuộc xã Yên Giang, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Bãi cọc này được phát hiện vào năm 1953 khi người dân trong vùng đào đất đắp đê. Bãi hiện còn hàng trăm cọc, một số cọc được cắm thẳng đứng, đa số cọc nằm chếch theo hướng đông 15o, cắm theo hình chữ "chi" (之). Cọc phần lớn bằng gỗ lim, gỗ táu, đầu dưới vát nhọn, đầu trên đã bị gãy. Độ dài trung bình các cọc từ 2 m đến 2,8 m; có cọc dài tới 3,2 m. Phần cọc được vát nhọn dài từ 0,8 m đến 1 m. Đầu phía trên của cọc nằm dưới mặt đất khoảng 0,5 m đến trên 1,5 m. Toàn bộ bãi cọc đã được xây kè bảo vệ với diện tích 220 m2, trong đó có 42 cọc ở nguyên trạng khi phát hiện, sâu dưới bùn hơn 2 m, nhô cao từ 0,2 đến 2 m. Mật độ cọc ở nửa bãi phía nam là một cây mỗi 0,9 đến 1,2 m, nửa bãi phía bắc có một cây mỗi 1,5 đến 2,2 m.
Một bãi cọc phát hiện năm 2005 tại cánh đồng Vạn Muối (thuộc xã Nam Hòa, huyện Yên Hưng, Quảng Ninh), với hàng chục cây cọc trên một khu vực rộng 100 m, dài 300 m. Theo các nhà khoa học, người xưa đã dùng loại cọc đường kính 7 - 10 cm, to nhất là 20 - 22 cm, có cọc dài trên 2 m được cắm theo nhiều thế rất hiểm, thường xiên 45o theo một hướng.
---DUC CUONG---tinh_yeu_cua_anh # Tuesday, May 29, 2007 9:32:15 AM
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chín hầm thuộc ấp Ngũ Tây, làng An Cựu, xã Thủy An, thành phố Huế, cách trung tâm thành phố khoảng 6km về phía Tây nam, dưới chân núi Thiên Thai.
Gọi là Chín hầm nhưng thực ra chỉ có 8 hầm và 1 căn nhà gác. Đây là khu vực kho tàng vật liệu vũ khí chiến tranh do quân đội Pháp xây dựng từ năm 1941.
Từ năm 1954, Ngô Đình Cẩn dùng nơi này để biệt giam những người Cộng sản và một số người dân Huế đấu tranh chống chế độ độc tài gia đình trị họ Ngô.
Các hầm được phân bố trên 2/3 quả đồi, cửa hầm hướng xuống chân đồi, hầm có hình chữ nhật, chiều rộng bằng 2/3 chiều dài. Trừ hầm số 1 chìm sâu xuống lòng đất, các hầm còn lại đều nổi lên mặt đất từ 1/3 đến 2/3 chiều cao của hầm. Hầm được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt sắt, trần hầm có độ dày 0,5m.
Những hầm này còn được gọi là chuồng cọp, trong hầm được chia thành 2 dãy xà lim chuồng cọp, mỗi chuồng rộng 0,9m, dài 0,2m, cao 1,5m phía trên đầu là một lưới sắt. Mỗi hầm có 1 lỗ thông hơi nhỏ.
Sau năm 1975 Chín hầm đã được xếp hạng di tích quốc gia.
Theo quyết định số 2015VH-QĐ ngày 26/02/1993, Chín hầm và ngôi biệt thự của Ngô Đình Cẩn (cách đó 1km) được Nhà nước Việt Nam công nhận là Di tích lịch sử với tên gọi "Di tích lịch sử lưu niệm tội ác khu vực Chín Hầm và nhà Ngô Đình Cẩn".
Ông Trần Quốc Hương (là cấp trên trực tiếp của các nhà tình báo: Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn) từng bị giam tại đây.
---DUC CUONG---tinh_yeu_cua_anh # Tuesday, May 29, 2007 9:32:45 AM
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhà tù Sơn La là một nhà tù do Pháp xây dựng tại tỉnh Sơn La.
Được xây dựng năm 1908, trên đồi Khau Cả thị xã Sơn La, ban đầu chỉ là một nhà tù nhỏ, sau nâng dần lên nhà tù hàng tỉnh với số lượng tù nhân tăng dần.
Chỉ tính trong giai đoạn 1930-1945, quân Pháp đã giam cầm, đầy ải 1.007 lượt chiến sĩ cách mạng Việt Nam và những người yêu nước khác.
Nhà tù này là nơi giam giữ những người cộng sản mà sau này đã trở thành các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam như: Lê Duẩn, Trường Chinh, Văn Tiến Dũng, Song Hào, Xuân Thuỷ, Trần Huy Liệu, Nguyễn Cơ Thạch, Mai Chí Thọ, Trần Quốc Hoàn, Hoàng Tùng, Hoàng Thế Thiện…
---DUC CUONG---tinh_yeu_cua_anh # Tuesday, May 29, 2007 10:21:48 AM
Vạn Thủy Tú tọa lạc trên đường Ngư Ông, phường Ðức Thắng, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Các Vạn thường được xây dựng ngay sát bờ biển của các làng chài. Vạn này được ngư dân làng Thủy Tú xây dựng vào năm Nhâm Ngọ 1762 để thờ Cá Ông (cá voi) với chính điện, nhà thờ Tiền Hiền, Võ Ca được bố trí theo hình chữ Tam, mặt chính quay về hướng Ðông. Khi mới xây dựng xong, cửa Vạn sát ngay bờ biển, ngày nay bờ biển đã dời xa ra ngoài hơn 100 m.
Vạn Thủy Tú là một trong những Vạn cổ xưa nhất của nghề biển ở Bình Thuận Bên trong Vạn có nhiều di sản văn hóa Hán - Nôm liên quan đến nghề biển, thể hiện trong nội dung thờ phụng ở các khám thờ, tượng thờ, hoành phi, liên đối, trên văn khắc của Ðại hồng chung.
Vạn Thủy Tú cũng là một trong những di tích cổ có số lượng lớn sắc phong của các vị Vua Triều Nguyễn ban tặng bởi vì trước đây, trong chiến tranh phong kiến với nghĩa quân Tây Sơn, các tướng lĩnh nhà Nguyễn đã nhiều lần được cá Voi cứu nạn trên biển.
Có tất cả 24 sắc phong của các đời vua : Thiệu Trị, Tự Ðức, Ðồng Khánh, Duy Tân, Khải Ðịnh, (riêng Vua Thiệu Trị ban tặng 10 sắc Thần, đây là điều hiếm thấy so với các di tích khác).
chuc nang
Thờ cá Ông: theo ngư dân, đó là vị Thần thường cứu giúp họ mỗi khi gặp nạn trên biển, là vị Thủy Thần nên được ngư dân kính yêu và tôn trọng. Xuất phát từ những lễ nghi tín ngưỡng xưa của người Chăm, nên tín ngưỡng dân gian gắn với tín ngưỡng nghề nghiệp từ đời này qua đời khác theo phong tục và truyền thống của ngư dân.
Đặc trưng
Trong khuôn viên có một vùng đất rộng dùng để mai táng cá Ông mỗi khi ông "lụy" và dạt từ biển vào. Phải ba năm sau khi mai tángmới được thương cốt, nhập tẩm. Theo phong tục, ngư dân nào trông thấy "Ông" trước là người đó được làm "con trưởng" của Ngài, và người này có nhiệm vụ lo làm đám tang chu đáo, để tang sau 3 năm mới hết hạn... Ðiều này cho thấy những phong tục, cử chỉ của ngư dân đối với cá Ông theo tín ngưỡng gần như quan hệ giữa người với người.
Vạn Thủy Tú từ ngày xưa đến nay đã chứa gần 100 bộ xương cá Voi và nhiều loài khác cùng họ. Một nửa trong số đó có niên đại từ 100 - 150 năm, trong đó có những bộ xương to lớn được thờ phụng tôn nghiêm.
Năm 1996, Vạn Thủy Tú đã được Nhà nước Việt Nam xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia.
---DUC CUONG---tinh_yeu_cua_anh # Tuesday, May 29, 2007 10:48:00 AM
Một phần địa đạo Vịnh MốcĐịa đạo Vịnh Mốc nằm ở thôn Vịnh Mốc, xã Vĩnh Thạch, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Ở Vĩnh Linh có tới trên 60 địa đạo lớn nhỏ như địa đạo Tân Mỹ, Địa đạo Mụ Giai, địa đạo Tân Lý, trong đó Địa đạo Vịnh Mốc là làng hầm vững chắc nhất, tồn tại cho đến tận hôm nay. Địa đạo được đào từ năm 1965 đến 1967 gồm 3 tầng, có bậc thang lên xuống lượn xoắn ốc. Tầng 1 và 2 đều có giếng nước, nhà vệ sinh.
Trục chính dài 2.034 m, nằm ở độ sâu 20-28 m, chiều rộng 1-1,2 m, cao 1,5-4,1 m, trong khu vực có diện tích khoảng 1 km². Hai bên vách cứ cách 3 m được khoét một hầm để làm nhà ở.
Trung tâm của địa đạo có hội trường 150 chỗ, bệnh xá, nhà hộ sinh. Nhiều trục nhánh với 11 cửa thông ra biển hoặc lên trên mặt đất. Trong gần 2000 ngày đêm tồn tại (1965 - 1972), địa đạo đã đón 17 đứa trẻ ra đời an toàn.
Địa đạo là nơi ở của nhân dân trong những năm chiến tranh ác liệt, lúc đông nhất trong địa đạo sống khoảng 1.200 người, đây cũng là kho chứa hàng tiếp tế cho chiến trường Miền Nam và đảo Cồn Cỏ.
Từ năm 1966 đến năm 1972 Quân đội Mỹ đã trút xuống đây hơn 9.000 tấn bom đạn.
Địa đạo Vịnh Mốc được nhà nước Việt Nam công nhận là di tích lịch sử.
---DUC CUONG---tinh_yeu_cua_anh # Thursday, June 21, 2007 11:50:18 PM
Xem chi tiết: Quốc hiệu Việt Nam
Dưới thời cai trị Trung Quốc, Việt Nam được người cai trị Trung Quốc gọi là An Nam (có nghĩa là Miền nam yên bình theo hy vọng của Trung Quốc). Khi Việt Nam độc lập, nó được gọi là Đại Cồ Việt, Đại Ngu hay Đại Việt. Năm 1804, vua Gia Long xin phép nhà Thanh đổi tên nước thành Nam Việt, lý do là thống nhất An Nam và Việt Thường. Để tránh sự hiểu lầm với quốc hiệu của nhà Triệu và đề phòng việc yêu sách đất đai, vua Càn Long nhà Thanh đảo thứ tự hai từ thành Việt Nam. Năm 1838, dưới thời Nguyễn, tên nước được đổi tạm thời thành Đại Nam. Dưới thời thực dân pháp, Việt Nam bị chia thành: Tonkin (Bắc kỳ hay Bắc Việt Nam), Annam (Trung kỳ hay Trung Việt Nam), và Cochinchine (Nam Kỳ hay Nam Việt Nam)
Thời Kinh Dương Vương: Xích Quỷ khoảng năm 2879 TCN (có nguồn nói là năm 2897 TCN)
Thời Hồng Bàng: Văn Lang
Thời Thục Phán An Dương Vương: Âu Lạc
Thời nhà Triệu: Nam Việt
Thời nhà Hán: chia làm 3 quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam
Thời nhà Tiền Lý, năm 542 - 602: Vạn Xuân
Thời nhà Đường: An Nam Đô hộ phủ 618-866, Tĩnh Hải quân 866-967
Thời nhà Đinh - Tiền Lê - Nhà Lý: Đại Cồ Việt 968 - 1054
Thời nhà Lý-nhà Trần: Đại Việt 1054 - 1400
Dưới triều vua Lý Anh Tông, nhà Tống công nhận một quốc gia độc lập, tên An Nam Quốc
Nhà Hồ: Đại Ngu 1400 ("Ngu" nghĩa là hoà bình)
Nhà Hậu Lê - Nhà Tây Sơn: Đại Việt
Nhà Nguyễn: Việt Nam, từ năm 1804
Vua Minh Mạng (1820 - 1840) đổi tên nước là Đại Nam
Tháng 4 năm 1945 đến tháng 8 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ 2 tháng 9 năm 1945 đến 2 tháng 7 năm 1976
Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ ngày 2 tháng 7 năm 1976 đến nay
---DUC CUONG---tinh_yeu_cua_anh # Thursday, June 21, 2007 11:58:30 PM
[sửa] Thế kỉ X - Thế kỉ
Thời vua Lê Đại Hành (trị vì 980 - 1005 )
982 Vua xâm nhập lãnh thổ Chămpa, chiếm kinh đô Indrapura rồi đưa về Hoa Lư 100 " cung kỹ " ( ca nhi, vũ nữ ) Chăm. Kể từ ấy ảnh hưởng Chăm bắt đầu thâm nhập âm nhạc cung đình Việt. ( Tham khảo Toàn thư, Cương mục, Hội điển ... )
[sửa] Thế kỉ XI - XII : Đời Lý, triều đại quân chủ đầu tiên của Việt Nam
Trên nhiều bệ đá kê các cột chùa Vạn phúc ( còn gọi là chùa Phật Tích, ở làng Phật Tích, vùng Kinh Bắc - Bắc Ninh ) thấy chạm nổi một dàn nhạc 10 người chơi 8 nhạc khí : thổi tiêu, địch ( ống sáo ), đánh phách, trống cơm, kéo nhị, gảy đàn tam, tỳ bà, đàn cầm. Như vậy dàn nhạc có 4 nhạc khí dây, 2 nhạc khí thổi, 2 nhạc khí gõ là những nhạc khí hoặc thuần Việt hoặc gốc gác từ Ấn Độ, Chămpa, Trung Quốc. ( Phát hiện khảo cổ học tại chỗ của Louis Bezacier năm 1940, nghiên cứu nhạc học của Trần Văn Khê cuối thập kỷ 50 ). Thời vua Lý Thái Tông ( 1028 - 1054 )
1044 Vua đánh Chămpa, chiếm thành Phật Thệ, đưa về Thăng Long nhiều cung nữ Chăm giỏi hát múa khúc điệu Tây Thiên ( khúc hát, điệu múa Chăm gốc gác từ Ấn Độ )
[sửa] Thời vua Lý Thánh Tông ( 1054 - 1072 )
1060 Là người giỏi văn, thích nhạc, vua đích thân phiên dịch một khúc nhạc Chămpa, ghi chép một điệu trống Chămpa ( đất nước có một nền mỹ thuật, âm nhạc và vũ đạo phát triển lâu đời dưới ảnh hưởng văn minh Ấn Độ ) rồi sai nhạc công ập luyện, biểu diễn.
1069 Vua đánh Chămpa, bắt được vua Chăm Chế Củ và dân chúng 5 vạn người. Chế Củ buộc lòng nộp 3 châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh ( Quảng Bình, bắc Quảng Trị ) để chuộc lại tự do. Cuộc Nam tiến của người Việt bắt đầu.
[sửa] Thời vua Lý Nhân Tông ( 1066 - 1128 )
Dựa trên sử cổ, văn bia, nhà sử học - văn hóa học Trần Quốc Vượng đã " Phác họa chân dung nhạc sĩ Lý Nhân Tông ( 1066 - 1128 ) " : Đặc biệt giỏi về âm luật, vua đích thân sáng tác những bài ca, khúc nhạc cho nhạc công cung đình tập luyện. Văn bia chùa Đọi viết : " Vua ta tứ thơ thâu tóm thiên biến vạn hóa của Đất Trời, nhạc phổ hòa hợp âm thanh của Đường, Phạn " ( Trung Hoa, Chămpa, Ấn Độ ). Hiểu biết đến nơi đến chốn nhạc Đại Việt, Chămpa, Trung Quốc, vua đã sáng tác những khúc điệu mới tân kỳ như khúc nhạc " Tiên cưỡi mây xuống trần " véo von tiếng hát cung đàn ngợi ca công lớn của tiên vương " ( dẫn trong Văn hóa Việt Nam, Tìm tòi và Suy ngẫm - 2000 )
[sửa] Thời vua Lý Cao Tông ( 1176 - 1204 )
1202 Vua sai nhạc sĩ cung đình đặt ra khúc nhạc gọi là Khúc nhạc Chăm (" Chiêm Thành âm ") tiếng trong trẻo, ai oán, não nùng, người nghe phải rỏ nước mắt.
[sửa] Thế kỉ XIII - XIV : Đời Trần
1306 Công chúa Trần Huyền Trân, em vua Trần Anh ông sánh duyên với vua Chămpa Chế Mân và sính lễ là hai Châu Ô, và Ri ( Nam Quảng Trị, Thừa Thiên, một phần bắc Quảng Nam ) tặng về cho Đại Việt. Nhân dân Đại Việt và Chămpa xích lại gần nhau hơn.
1307 Lê Tắc trong An Nam chí lược cho biết : Nhạc cung đình đời Trần có Đại nhạc, trong dân gian có Tiểu nhạc với tổng cộng 12 loại nhạc khí : đàn gáo, đàn cầm, thất huyền, tỳ bà, tranh, tam, kèn tất lật, sáo( tiêu ), địch ( sáo ngang ), phách, tiểu bạt và trống cơm mà Lê Tắc nói rõ là có gốc gác Chăm.
Các vua Lý, Trần đều ưa thích nhạc Chăm, múa Chăm. Qua nhiều trăm năm tiếp biến văn hóa Đại Việt - Chămpa, nhạc cung đình Việt " đã nhuộm màu chàm " (Trần Văn Khê ).
[sửa] Đầu thế kỉ XV - đầu thế kỉ XVI : Đời Lê sơ
( từ Lê Thái Tổ đến thời Hồng Đức )
Lê Thái Tổ ( Lê Lợi, 1428 - 1433 ) giao cho Nguyễn Trãi định ra qui chế triều phục và nhã nhạc. Chưa kịp triển khai thì vua mất.
Lê Thái Tông ( 1434 - 1442 ) lại giao việc đó cho Nguyễn Trãi và quan hoạn Lương Đăng. Vì trình độ tầm thường và tinh thần vọng ngoại của người này, Nguyễn Trãi xin trả lại công việc được giao. Vua ưng thuận và sau đó nghe theo ý kiến của Lương Đăng bất chấp sự phản đối của Nguyễn Trãi và bốn đại thần khác.
1437 Lương Đăng trình vua hai loại nhạc cung đình mới sao chép theo qui chế nhã nhạc triều Minh :
1 - Nhạc ở trên điện vua ( Đường thượng chi nhạc )
2 - Nhạc ở dưới điện vua ( Đường hạ chi nhạc )
Nguyễn Trãi phản đối sự sao chép, tiếp thu thụ động nhạc nước ngoài và đưa ra một quan niệm nhân văn chủ nghĩa cao quí về âm nhạc : " ( ... ) Đời loạn dùng võ, thời bình chuộng văn ( ... ) Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc ( ... ) Xin bệ hạ yêu nuôi muôn dân để chốn xóm thôn không còn tiếng oán hận buồn than. Như thế mới không mất cái gốc của nhạc " (Toàn thư) . Vua khen ngợi ý kiến của Nguyễn Trãi, nhưng việc Lương Đăng làm là việc đã rồi. Năm năm sau đó cả nhà Nguyễn Trãi bị kết án tru di tam tộc ( 19.9.1442 ) !
1470 Lương Thế Vinh ( tác giả Hí phường phả lục ), Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận lại tham khảo nhã nhạc triều Minh và trình với Lê Thánh Tông ( 1460 - 1497 ) - người đã chính thức tẩy oan cho Nguyễn Trãi ( 1464 ) -, hai tổ chức nhạc cung đình mới : Đồng văn ( khí nhạc ) và Nhã nhạc ( thanh nhạc ). Chung qui, sau nhiều lần tham khảo nhã nhạc triều Minh, nhạc cung đình thời Lê ( tk. XV - cuối tk. XVIII ) gồm 8 loại : nhạc tế Giao, nhạc tế Miếu, nhạc tế Ngũ tự ( năm vị thần ), nhạc cứu Mặt trời, Mặt trăng ( khi có Nhật thực, Nguyệt thực ) Nhạc đại triều, Nhạc thường triều, Nhạc cử 9 lần khi đại yến, Nhạc dùng trong cung. Từ khi chịu ảnh hưởng Trung Hoa, nhạc cung đình Việt ( được tôn là " nhã nhạc " ) đối lập với nhạc dân gian lâu đời ( bấy giờ bị gọi là " tục nhạc ", thậm chí là " dâm nhạc " ), bị cấm không được biểu diễn trong triều đình nữa. Sử cổ ghi : " Bãi bỏ các trò chèo hát " ( trước mặt vua quan ).
Thế kỉ XVI - XVII - XVIII : thời Mạc, Lê Trung hưng, Trịnh, và Lê mạt ở Thăng Long và Đàng Ngoài ( lãnh thổ phía bắc sông Gianh )
Bên cạnh Đại Việt sử ký Toàn thư ( XV - XVII ), Lê triều hội điển ( XVII - XVIII ), tài liệu phong phú nhất về âm nhạc Đại Việt ( Đàng Ngoài ) thời kỳ bày là những ghi chép quí báu của Phạm Đình Hổ trong Vũ Trung Tùy Bút và của Lê Quí Đôn trong Kiến văn tiểu lục và Vân đài loại ngữ.
Ở ba thế kỉ sau thời Lê sơ, ngoài các loại nhạc cung đình kể trên còn có thêm Nhạc huyền, Xúy nhạc, Quân nhạc, Nhạc Bả lệnh ( dùng trong phủ chúa Trịnh ), nhạc Giáo phường ( vừa dùng trong dân gian, vừa được đưa trở lại cung đình khi nhạc cung đình suy thái ).
Ba thế kỉ ấy cũng là thời nội chiến Mạc - Lê, Trịnh - Nguyễn liên miên, phân tranh Bắc - Nam kéo dài, chúa tiếm quyền vua, xã hội loạn lạc, lầm than; hậu quả là nhạc cung đình Đàng Ngoài ngưng đọng và dần dần đình đốn.
[sửa] Thế kỉ XVII - XVIII ở Phú Xuân và Đàng Trong : thời các chúa Nguyễn
( 1558 - 1777 )
Từ những năm 30 của thế kỉ XVII, nhà văn hóa lớn Đào Duy Từ ( tác giả của Hổ trướng khu cơ, Tư Dung vãn, Ngọa Long cương vãn, của hai lũy Trường Dục và lũy Nhật Lệ ( Lũy Thầy ), tương truyền là tác giả của một số bài hát, điệu múa và vở hát bội cung đình thời các chúa Nguyễn, ông tổ lớn nhất của âm nhạc Huế và hát bội Huế được thờ tại nhà thờ Thanh Bình ở Huế ( 1572 - 1634 ) đã tiếp thu nhạc Đàng Ngoài, và đã giúp chúa Nguyễn Phúc Nguyên ( 1623 - 1634 ) lập ra một hệ thống lễ nhạc, triều nhạc mới. Hòa thanh thự của các chúa là tổ chức âm nhạc cung đình lớn của Đàng Trong gồm ban nhạc, đội ca, đội múa đông đảo ( Đại Nam thực lục tiên biên ). Cuối thế kỉ XVII - đầu thế kỉ XVIII, nhạc cung đình Đàng Trong đã khá hoàn chỉnh, phong phú, hấp dẫn, theo những ghi chép và đánh giá của nhà sư Trung Quốc Thích Đại Sán, thượng khách của chúa Nguyễn Phúc Chu ( 1692 - 1725 ) sau chuyến đi thăm Đàng Trong và Phú Xuân của ông. Được mời xem ca múa nhạc và hát bội tại phủ chúa, nhà sư cho biết điệu múa nổi tiếng thời đó là điệu múa Thái liên diễn tả dáng dấp đài các, trang nhã, tình tứ của các cô " tiểu hầu " của đô thành Phú Xuân vừa chèo thuyền vừa tươi cười hái sen. Các ca nhi vũ nữ ấy " đội mão vàng, áo hoa xanh dài phết đất, thoa son dồi phấn rất mực diễm lệ, làm nao lòng người xem " ( hồi ký Hải ngoại kỷ sự, bản dịch, 1963 ).
[sửa] Cuối thế kỉ XVIII : thời Tây Sơn
( 1788 - 1802 )
1790, ( năm sau đại thắng Đống Đa ở Thăng Long ), một vua Quang Trung ( giả ) cầm đầu một đoàn ngoại gia sang thăm hữu nghị triều đình nhà Thanh, cầu hòa, và chúc thọ hoàng đế Càn Long 80 tuổi . Càn Long ý phong cho vua Đại Việt là " An Nam quốc vương " và vui lòng thưởng thức đoàn " An Nam quốc nhạc " biểu diễn chúc thọ. Nhờ những ghi chép cụ thể của Đại Thanh hội điển sự lệ và tập văn kiện ngoại giao Đại Việt quốc thư của ta mà âm nhạc cung đình thời Tây Sơn hiện ra khá rõ nét. Hội điển triều Thanh đã mô tả chính xác trang phục các nhạc công, ca công và vũ công Việt Nam. Nghệ nhân cung đình Tây Sơn chơi 8 loại nhạc khí mà Hội điển triều Thanh đã ghi lại bằng chữ nôm : " một cái cổ ( kai kou : trống ), một cái phách ( kai p'o ), hai cái sáo ( kai chao ), một cái đàn huyền tử ( kai t'an hien tse, có thể là đàn tam ), một cái đàn hồ cầm ( kai t'an hou k'in), một cái đàn song vận ( kai t'an choang wen, có thể là đàn nguyệt ) một cái đàn tỳ bà ( kai t'an p'i p'a ), một cái tam âm la ( kai san in lo ). Đó là phần nhạc khí. Về phần hát, Đại Việt quốc thư cho biết bổ sung như sau : Nhân dịp lễ thượng thọ của Càn Long 80 tuổi, đoàn quốc nhạc của ta gồm 6 nhạc công và 6 ca công cung đình đã biểu diễn cho hoàng đế nhà Thanh nghe " nhạc phủ từ khúc thập điệu ". Rất có thể đây là liên khúc 10 bản " Thập thủ liên hoàn " nổi tiếng trong nhã nhạc cung đình Huế, cũng gọi là 10 bản Tấu, hay 10 bài Ngự, thậm chí có nghệ nhân gọi là mười bản Tàu (?) ( mà khi được nghe chúng, người Trung Quốc chính hiệu đã cho rằng không có gì là " Tàu " cả ). (Đại Thanh HĐSL, bản in 1908, Quyển 528, Thư viện Hội Châu Á Paris; Đại Việt quốc thư, TT Học liệu ( Bộ Giáo dục ) xb., Sài gòn 1972).
[sửa] Thế kỉ XIX : Thời thịnh của triều Nguyễn
( 1802 - 1885 ) Theo những tài liệu tham khảo hiện có, thời kỳ vàng son của âm nhạc cung đình Đại Việt - Việt Nam - Đại Nam là thịnh thời triều Nguyễn trước khi kinh đô Phú Xuân ( Huế ) thất thủ vào năm 1885. Hai tài liệu chủ yếu là Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ( đầu thế kỉ XIX ) và Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ của Quốc sử quán ( giữa thế kỉ XIX ) cho biết: Từ sau khi Gia Long lên ngôi đến khi Tự Đức mất ( 1883 ) âm nhạc cung đình Phú Xuân bây giờ quen gọi là NNCĐH đã được phục hồi, chấn chỉnh và phát triển mạnh. Các loại Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ tự nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Yến nhạc, Cung trung chi nhạc đã ảnh hưởng qua lại nhiều với nhạc cổ điển thính phòng ( ca Huế, đờn Huế ) và nhạc tuống cổ điển, cung đình ( thanh nhạc và nhạc múa của hát bội Huế ). Đáng chú ý là nhiều nhà hát rạp hát lớn nhỏ của vua, đại thần và dân thường được xây dựng làm nơi biểu diễn nhạc cung đình, nhạc cổ điển, hát bội hay nhạc dân gian : Duyệt thị đường trong hoàng thành, Minh Khiêm đường trong lăng Tự Đức, Cửu tư đài trong cung Ninh Thọ, rạp hát ông Hoàng Mười, nhà hát Mai Viên tại tư dinh thượng thư Đào Tấn, đã không loại trừ sự tấp nập của những rạp hát ông Sáu Ớt ( Nguyễn Nhơn Từ ), rạp hát gia đình họ Đoàn ( ở An Cựu ), rạp hát bà Tuần ( tồn tại đến 1975 ), v.v...
1802 - 1819 Thời Gia Long, Việt tương đội, một tổ chức âm nhạc cung đình lớn được thành lập với 200 nghệ nhân. Vua lại cho dựng đài Thông minh, một sân khấu ca múa nhạc và hát bội trong cung Ninh Thọ.
1820 - 1840 Minh Mạng cho xây dựng Nhà hát lớn Duyệt thị đường ( 1824 ), đổi Việt tương đội thành Thanh bình thự, lập thêm một Đội nữ nhạc với 50 ca nữ, vũ nữ, lại cho xây dựng Nhà thờ các tổ sư nghệ thuật âm nhạc và hát bội Huế : Thanh bình từ đường ( 1825 ). Trước nhà thờ dựng một tấm bia, một sân khấu hát bội và ca vũ nhạc. Văn bia cho biết vào đời Minh Mạng, nghệ thuật âm nhạc và sân khấu đã phát triển tốt đẹp :
" Vũ đài xuân rạng hàng ngũ chỉnh tề, sân khấu mây lồng âm thanh dìu dặt ( ... ) Khánh chuông ra lệnh xướng hòa, kèn trống nhịp nhàng đánh thổi ( ... ) Trải mấy triều vương đều khuyến khích, Biết bao âm nhạc thảy dồi dào ( ... ) Giữa điện đình ca múa, tỏ điềm thái vận nước nhà; Trên lăng miếu xướng hòa, ngưỡng đức cao thâm biển núi ... ( bản dịch của Ưng Dự ).
1841 - 1883 Đời Tự Đức, âm nhạc cổ điển, nhã nhạc cung đình và hát bội cung đình đạt tới đỉnh cao. Nhà hát Minh khiêm đường được xây dựng ( 1864 ) trong Khiêm cung ( sau khi vua mất sẽ gọi là Khiêm lăng ). Tương truyền chính Tự Đức đã sáng tác bản nhạc Tứ đại cảnh nổi tiếng. Say mê thơ, nhạc và hát bội hơn chính trị, vua lập nên Hiệu thơ phòng để cùng các danh nho trong triều đình xướng họa thơ văn, thưởng thức âm nhạc, sáng tác hay nhuận sắc các vở hát bội. Nhà thơ và nhà soạn tuồng lỗi lạc thời Tự Đức là Đào Tấn ( 1845 - 1907 )
[sửa] Thế kỉ XIX : Thời suy của triều Nguyễn
( 1885 - 1945 ) 1858 - 1885 Thực dân Pháp gây hấn và bắt đầu xâm lược nước ta từ Đà Nẵng, rồi chiếm dần Nam Bộ, Bắc Bộ. Tháng 8 năm 1885 kinh đô Phú Xuân ( Huế ) thất thủ. Các vua Nguyễn sau Tự Đức đều được Pháp đưa ra làm vì, mất hết quyền bính. Đời sống cung đình tẻ nhạt, âm nhạc cung đình ngày càng sa sút. 1889 - 1925 Thành Thái lập Võ can đội, rồi thêm một đội Đồng ấu ( nghệ nhân thiếu niên, làm dự bị cho Võ can đội ). Tất cả đều hoạt động cầm chừng.
1914-1944 Tập san Những người Bạn của Huế cổ kính (B.A.V.H.) ( bằng tiếng Pháp ) ra đời và sẽ xuất bản tổng cộng 120 tập ( dày nhiều vạn trang ) trong suốt 30 năm dưới sự điều khiển của nhà Việt Nam học lỗi lạc L.m. Léopold Cadière. Nhiều bài nghiên cứu có giá trị về nhạc Huế được công bố trên tập san, nổi bật nhất là công trình của nhạc sĩ cổ điển Hoàng Yến ( 1919 ) : Âm nhạc ở Huế, đàn nguyệt và tranh.
1925 - 1945 Dưới thời Bảo Đại, Võ can đội đổi thành Ba vũ đội gồm cả một đội Đại nhạc và một đội Tiểu nhạc tổng cộng khoảng 100 nghệ nhân hoạt động rời rạc, trong lúc chờ đợi làm nhiệm vụ chính : tham gia phục vụ lễ Tế Nam giao ( 3 năm một lần ) ( theo lời kể của cụ Lữ Hữu Thi ).
1942 là năm cuối cùng triều Nguyễn cử hành lễ Tế Nam giao, cũng là lần cuối cùng Nhã nhạc cung đình Huế được biểu diễn trọng thể trước công chúng.
31 - 8 - 1945 Trên Ngọ Môn, hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn vương quốc Đại Nam thoái vị. Nhã nhạc cung đình Huế tạm thời rã đám.
---DUC CUONG---tinh_yeu_cua_anh # Friday, June 22, 2007 12:03:35 AM
:
Vịnh Hạ Long
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vịnh Hạ LongVịnh Hạ Long là vịnh nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam, là một phần bờ tây vịnh Bắc Bộ, bao gồm vùng biển của thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn. Phía tây nam vịnh giáp đảo Cát Bà, phía đông giáp biển, phía tây giáp đất liền với đường bờ biển dài 120 km, được giới hạn trong các tọa độ từ 1060°58'-1070°22' Đông và 200°45'-200°50' Bắc, với tổng diện tích 1553 km², gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên.
Vịnh Hạ Long có từ thời tiền sử. Theo truyền thuyết, khi người Việt mới lập nước đã bị giặc ngoại xâm, Ngọc Hoàng sai Rồng Mẹ mang theo một đàn Rồng Con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc. Thuyền giặc từ ngoài biển ào ạt tiến vào bờ, vừa lúc đàn Rồng tới hạ giới. Đàn Rồng lập tức phun ra vô số châu ngọc và thoắt biến thành muôn ngàn đảo đá trên biển, như bức tường thành vững chắc, bất ngờ chặn bước tiến của thuyền giặc. Đoàn thuyền của giặc đang lao nhanh, bị chặn đột ngột đâm vào các đảo đá và đâm vào nhau vỡ tan tành.
Sau khi giặc tan, Rồng Mẹ và Rồng Con không trở về trời mà ở lại hạ giới, nơi vừa diễn ra trận chiến. Vị trí Rồng Mẹ đáp xuống là Hạ Long, Rồng Con đáp xuống là Bái Tử Long. Đuôi đàn Rồng quẫy nước trắng xoá là Bạch Long Vĩ (bán đảo Trà Cổ ngày nay) thành bãi cát mịn và dài hơn chục kilômét.
Từ bến tàu Hạ Long, chiếc thuyền dơi nâu đỏ - đặc trưng của vùng vịnh - căng buồm đưa du khách xuôi theo dòng nước biếc bắt đầu cuộc hành trình ngao du sơn thuỷ. Các đảo ở Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía đông nam vịnh Bái Tử Long và vùng phía tây nam vịnh Hạ Long. Đây là hình ảnh cổ xưa nhất của địa hình có tuổi kiến tạo địa chất từ 250-280 triệu năm, là kết quả của quá trình vận động nâng lên, hạ xuống nhiều lần từ lục địa thành trũng biển. Quá trình Carxtơ bào mòn, phong hoá gần như hoàn toàn tạo ra một vịnh Hạ Long độc nhất vô nhị trên thế giới. Trong một diện tích không lớn, hàng ngàn đảo đá với muôn hình, dáng vẻ khác nhau như những viên ngọc bích long lanh được đính lên chiếc khăn voan xanh biếc của nàng thiếu nữ. Vùng tập trung dày đặc các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp nổi tiếng là vùng trung tâm Di sản Thiên nhiên vịnh Hạ Long, bao gồm vịnh Hạ Long và một phần vịnh Bái Tử Long.
Vùng di sản được thế giới công nhận có diện tích 434 km² bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hầm (phía nam) và đảo Cống Tây (phía đông). Vùng kế bên là khu vực đệm và di tích danh thắng quốc gia được bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng năm 1962.
Từ trên cao nhìn xuống, vịnh Hạ Long như một bức tranh thuỷ mặc khổng lồ vô cùng sống động. Đảo thì giống hình ai đó đang hướng về đất liền - hòn Đầu Người; đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước - Hòn Rồng; đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá - hòn Lã Vọng; và kia hai cánh buồm nâu đang rẽ sóng nước ra khơi - hòn Cánh Buồm; rồi hai con gà đang âu yếm vờn nhau trên sóng nước - hòn Trống Mái; đứng giữa biển nước bao la một lư hương khổng lồ như một vật cúng tế trời đất - hòn Lư Hương... Những đảo đá diệu kỳ ấy biến hoá khôn lường theo thời gian và góc nhìn.
Với sự thoắt ẩn thoắt hiện của những đảo đá, du khách như đi lạc vào các hang động kỳ vĩ, ẩn chứa nhiều chứng tích lịch sử. Cách thành phố Hạ Long khoảng 8 km là đảo Vạn Cảnh, còn gọi là đảo Canh Độc. Trong sách Đại Nam nhất thống chí có ghi: "Hòn Canh Độc lưng chừng đảo có động rộng rãi chứa được vài ngàn người". Ngày nay, qua khảo cứu, đảo Vạn Cảnh có đỉnh cao 189 m, hình dáng như một chiếc ngai ôm hai hang động tuyệt đẹp là hang Đầu Gỗ nằm chênh vênh trên cao và động Thiên Cung kỳ bí. Hai hang động cách nhau 100 m, vì vậy được thông nhau bằng những lối đi quanh co, uốn lượn. Du khách vừa bước vào cửa động Thiên Cung đã bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp huyền ảo, đa dạng của động. Vách động cao và thẳng đứng được bao bọc bởi những nhũ đá và trên mỗi vách động ấy là bao nhiêu hình tượng lạ kỳ, cuốn hút, hấp dẫn người xem. Đó là những hình tượng về Nam Tào, Bắc Đẩu, tiên nữ đang múa hát, người và chim, hoa, muông thú đang dự tiệc rất sống động, vui nhộn mà tất cả chỉ có thể là kiệt tác của tạo hóa. Cửa động nhỏ hẹp được giấu kín trong lòng núi nhưng càng đi vào bên trong, lòng động càng mở lớn và rộng, dẫn dắt người xem đi từ kinh ngạc này sang kinh ngạc khác, từ lộng lẫy này sang lộng lẫy khác. Đi hết động Thiên Cung cũng là lúc du khách bước chân sang hang Đầu Gỗ, còn gọi là hang Giấu Gỗ. Tên gọi này có từ sau khi vị tướng tài ba Trần Hưng Đạo chỉ huy ba quân giấu cọc gỗ lim cùng hàng nghìn quân đánh úp, đốt cháy đoàn thuyền tải lương thực của quân Nguyên Mông. Cửa hang ở lưng chừng vách núi, bên trong là những trụ đá lởm chởm với nhiều hình dạng; vách hang thẳng đứng vun vút, bên trong hang tối mờ, sâu thẳm để rồi trong khoảng tối đó, du khách bất ngờ bước qua khoảng sáng hiếm hoi từ những giếng trời ẩn hiện trên trần động. Ngoài hai hang động trên, du khách còn tham quan các hang động đẹp và quyến rũ khác như: động Sửng Sốt, hang Trinh Nữ, động Tam Cung...
Các tàu buồm trên Vịnh Hạ LongVịnh Hạ Long cũng là nơi gắn liền với những trang sử của dân tộc Việt Nam với những địa danh nổi tiếng như Vân Đồn - nơi có thương cảng cổ sầm uất vào thế kỷ 12; Bài Thơ lịch sử; cách đó không xa là sông Bạch Đằng - chứng tích của hai trận thuỷ chiến lẫy lừng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm. Hạ Long còn là một trong những cái nôi của con người với nền văn hoá Hạ Long thuộc thời Hậu đồ đá mới tại những địa danh khảo cổ học nổi tiếng như Đồng Mang, Xích Thổ, Soi Nhụ, Thoi Giếng...
Hạ Long cũng là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái tùng áng, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới.. Với hàng ngàn loài động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng như tôm, cá, mực... Có những loài đặc biệt quý hiếm chỉ có ở nơi đây.
Với những giá trị đặc biệt như vậy, ngày 17 tháng 12 năm 1994, trong phiên họp lần thứ 18 của Hội đồng Di sản Thế giới thuộc UNESCO tổ chức tại Thái Lan, vịnh Hạ Long chính thức được công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới. Năm 2000, vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận lần thứ hai Di Sản thế giới bởi giá trị địa chất, địa mạo
---DUC CUONG---tinh_yeu_cua_anh # Thursday, June 28, 2007 2:41:40 PM
Dinh Thống Nhất (tên gọi trước đây dinh Độc Lập hay dinh Norodom) là một địa danh lịch sử của thành phố Hồ Chí Minh.Năm 1858, Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Năm 1867, Pháp chiếm xong lục tỉnh Nam kỳ (Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên). Để củng cố bộ máy cai trị mới được thành lập ở Nam Kỳ, 23 tháng 2 năm 1868, Thống đốc Nam Kỳ Lagrandière đã làm lễ đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng Dinh Thống đốc Nam Kỳ mới tại Sài Gòn thay cho dinh cũ được dựng bằng gỗ vào năm 1863. Dinh mới được xây dựng theo theo đồ án do kiến trúc sư trẻ tuổi Hermite phác thảo (người phác thảo đồ án Tòa thị sảnh Hongkong). Viên đá lịch sử này là khối đá lấy ở Biên Hòa, hình vuông rộng mỗi góc 50 cm, có lỗ bên trong chứa những đồng tiền hiện hành thuở ấy bằng vàng, bạc, đồng có chạm hình Napoleon đệ tam. Công trình này được xây cất trên một diện tích rộng 12 ha, bao gồm một dinh thự lớn với mặt tiền rộng 80 m, bên trong có phòng khách chứa 800 người, và một khuôn viên rộng với nhiều cây xanh và thảm cỏ. Phấn lớn vật tư xây dựng dinh được chở từ Pháp sang. Do chiến tranh Pháp - Đức 1870 nên công trình này kéo dài đến 1873 mới xong. Sau khi xây dựng xong, dinh được đặt [/size=1]tên là dinh Norodom và đại lộ trước dinh cũng đượt gọi là đại lộ Norodom, lấy theo tên của Quốc vương Campuchia lúc bấy giờ là Norodom (1834-1904). Từ 1871 đến 1887, dinh được dành cho Thống đốc Nam kỳ (Gouverneur de la Cochinchine) nên gọi là dinh Thống đốc. Từ 1887 đến 1945, các Toàn quyền Đông Dương (Gouverneur-général de l'Indochine Française) đã sử dụng dinh thự này làm nơi ở và làm việc nên dinh gọi là dinh Toàn quyền. Nơi ở và làm việc của các Thống đốc chuyển sang một dinh thự gần đó. Dinh Norodom nguyên thủyNgày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương, Dinh Norodom trở thành nơi làm việc của chính quyền Nhật ở Việt Nam. Nhưng đến tháng 9 năm 1945, Nhật thất bại trong chiến tranh thế giới thứ II, Pháp trở lại chiếm Nam bộ, Dinh Norodom trở lại thành trụ sở làm việc của bộ máy chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, Pháp thất bại nặng nề trong chiến dịch Điện Biên Phủ, phải ký Hiệp định Genève và rút khỏi Việt Nam. Việt Nam bị chia cắt thành 2 miền, miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, còn miền Nam là Quốc Gia Việt Nam (sau thành Việt Nam Cộng Hòa). Ngày 7 tháng 9 năm 1954 Dinh Norodom được bàn giao giữa đại diện chính phủ Pháp, tướng 5 sao Paul Ely, và đại diện Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Năm 1956, Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại, lên làm Tổng thống (xem thêm Cuộc trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam, 1955) và quyết định đổi tên dinh này thành Dinh Độc Lập. Từ đó Dinh Độc Lập trở thành nơi đại diện cho chính quyền cũng như nơi ở của tổng thống và là nơi chứng kiến nhiều biến cố chính trị. Thời kỳ này, Dinh Độc Lập còn được gọi là Dinh Tổng Thống. Theo thuật phong thủy của Dinh được đặt ở vị trí đầu rồng, nên Dinh cũng còn được gọi là Phủ đầu rồng.
Ngày 27 tháng 2 năm 1962, hai viên phi công thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc, lái 2 máy bay AD6 ném bom làm sập toàn bộ phần chính cánh trái của dinh. (xem thêm: Vụ đánh bom Dinh tổng thống Việt Nam Cộng Hòa năm 1962. Do không thể khôi phục lại, Ngô Đình Diệm đã cho san bằng và xây một dinh thự mới ngay trên nền đất cũ theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người Việt Nam đầu tiên đạt giải Khôi nguyên La Mã. Nội thất một phòng họp ở Dinh mới xâyDinh Độc Lập mới được khởi công xây dựng ngày 1 tháng 7 năm 1962. Trong thời gian xây dựng, gia đình Ngô Đình Diệm tạm thời chuyển sang sống tại Dinh Gia Long (nay là Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh). Công trình đang xây dựng dở dang thì Ngô Đình Diệm bị phe đảo chính ám sát ngày 2 tháng 11 năm 1963. Do vậy, ngày khánh thành dinh, 31 tháng 10 năm 1966, người chủ tọa buổi lễ là Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia. Từ ngày này, Dinh Độc Lập mới xây trở thành cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn. Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu sống ở dinh này từ tháng 10 năm 1967 đến ngày 21 tháng 4 năm 1975. Ngày 8 tháng 4 năm 1975, chiếc máy bay F5E do Nguyễn Thành Trung lái, xuất phát từ Biên Hòa, đã ném bom Dinh, gây hư hại không đáng kể.
Lúc 10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng mang số hiệu 843 của Quân giải phóng miền Nam đã húc nghiêng cổng phụ của Dinh Độc Lập, tiếp đó xe tăng mang số hiệu 390 đã húc tung cổng chính tiến thẳng vào dinh. Lúc 11 giờ 30 phút cùng ngày, Trung úy Quân Giải phóng Bùi Quang Thận, đại đội trưởng, chỉ huy xe 843, đã hạ lá cờ Việt Nam Cộng Hòa trên nóc dinh xuống, kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên, kết thúc 30 năm cuộc chiến tranh Việt Nam. Sau hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất hai miền Nam Bắc thành một đất nước Việt thống nhất diễn ra tại dinh Độc Lập vào tháng 11 năm 1975, để kỷ niệm, chính phủ lâm thời nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã quyết định đổi tên “Dinh Độc Lập” thành Hội trường Thống Nhất. Dinh được xây dựng trên diện tích 4.500 m², diện tích sử dụng 20.000 m², gồm 3 tầng chính, 1 sân tượng, 2 gác lửng, tầng nền, 2 tầng hầm và một sân thượng cho máy bay trực thăng đáp xuống. Hơn 100 căn phòng của Dinh được trang trí theo phong cách khác nhau tùy theo mục đích sử dụng bao gồm các phòng khánh tiết, phòng họp hội đồng nội các, phòng làm việc của Tổng Thống và của Phó Tổng Thống, phòng trình ủy nhiệm thư, phòng đại yến, v.v... chưa kể các phần khác như hồ sen bán nguyệt hai bên thềm đi vào chánh điện, bao lơn, hành lan...
Dinh cao 26 m, tọa lạc trong khuôn viên rộng 12 ha rợp bóng cây. Bên ngoài hàng rào phía trước và phía sau Dinh là 2 công viên cây xanh. Giữa những năm 1960, đây là công trình có quy mô lớn nhất miền Nam và có chi phí xây dựng cao nhất (150.000 lượng vàng). Các hệ thống phụ trợ bên trong Dinh hiện đại: điều hòa không khí, phòng chống cháy, thông tin liên lạc, nhà kho. Tầng hầm chịu được oanh kích của bom lớn và pháo. Mặt tiền của Dinh được trang trí cách điệu các đốt mành trúc phỏng theo phong cách các bức mành tại các ngôi nhà Việt và họa tiết các ngôi chùa cổ tại Việt Nam. Các phòng của Dinh được trang trí nhiều tác phẩm non sông cẩm tú, tranh sơn mài, tranh sơn dầu.
Cơ quan hiện quản lý di tích văn hoá Dinh Thống Nhất có tên là Hội trường Thống Nhất thuộc Cục Hành chính Quản trị II - Văn phòng Chính Phủ. Đây là di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng được đông đảo du khách trong nước và nước ngoài đến tham quan.
Kim Chungthuychung88 # Saturday, July 7, 2007 1:34:56 PM
Nguyet ThuNguyetThu # Thursday, July 12, 2007 8:56:55 AM
Unregistered user # Saturday, February 14, 2009 12:04:52 PM
Unregistered user # Wednesday, February 18, 2009 11:02:00 AM
Unregistered user # Wednesday, February 18, 2009 2:07:33 PM
Unregistered user # Wednesday, April 22, 2009 1:01:26 PM
Unregistered user # Thursday, September 3, 2009 4:19:27 PM
Unregistered user # Tuesday, September 15, 2009 12:38:18 AM
badien.netbadiennet # Friday, September 25, 2009 6:04:55 PM
Unregistered user # Thursday, November 5, 2009 2:27:38 PM
Unregistered user # Tuesday, December 29, 2009 7:18:38 PM
Unregistered user # Tuesday, December 29, 2009 7:21:47 PM
Unregistered user # Sunday, January 17, 2010 9:35:19 AM
Unregistered user # Sunday, January 17, 2010 10:17:23 AM
Unregistered user # Sunday, January 17, 2010 10:23:46 AM
Unregistered user # Sunday, January 24, 2010 7:20:22 AM
Unregistered user # Sunday, January 24, 2010 11:08:19 AM
Unregistered user # Friday, January 29, 2010 12:45:55 PM
Unregistered user # Friday, January 29, 2010 12:46:45 PM
Unregistered user # Friday, January 29, 2010 4:15:11 PM
Unregistered user # Saturday, January 30, 2010 6:53:22 AM
Unregistered user # Sunday, January 31, 2010 4:49:28 AM
Unregistered user # Monday, February 8, 2010 12:16:34 PM
Unregistered user # Tuesday, March 9, 2010 6:33:09 AM
Unregistered user # Friday, April 9, 2010 2:42:41 AM
Unregistered user # Wednesday, February 16, 2011 3:51:04 PM
Unregistered user # Wednesday, February 16, 2011 3:51:59 PM
Unregistered user # Wednesday, February 16, 2011 3:52:35 PM