SUU TAM

Subscribe to RSS feed

Công nghiệp phụ trợ 4

Nguồn : http://tuanvietnam.net/2010-08-03-phat-trien-cn-ho-tro-tinh-yeu-don-phuong-cua-ong-vien-truong

"Tôi không phải thợ xây, nên tôi không sợ ngã. Tôi không phải thợ mỏ, nên tôi không sợ sập hầm lò. Nhưng tôi là thợ làm chính sách, nên tôi sợ những người cầm cân nảy mực ghẻ lạnh với nó", ông Phan Đăng Tuất tâm sự.

Công nghiệp phụ trợ loay hoay mãi chưa lớn

Trong cuộc hội thảo "Chính sách công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ - kinh nghiệm của Nhật Bản và những vấn đề của Việt Nam", do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp với Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tổ chức tại Hà Nội vào 27-28.7 vừa qua, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội Nguyễn Văn Phúc đã kể lại: "Vợ tôi, sau khi đi dự một lớp do anh Tuất (Phan Đăng Tuất - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược & Chính sách Công nghiệp, Bộ Công Thương) giảng về công nghiệp hỗ trợ, đã bảo rằng nếu các anh yêu bọn em như anh Tuất yêu công nghiệp hỗ trợ thì cuộc đời bọn em khác xa lắm rồi."

Ông Tuất kể rằng ông đã phải lòng công nghiệp hỗ trợ từ bảy năm trước, sau cái ngày ông về làm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược & Chính sách Công nghiệp được hai tháng. "Tôi hiểu phải làm công nghiệp hỗ trợ, và tình yêu đó nó cứ ngấm ngầm, thôi thúc, trỗi dậy, nhưng cũng có lúc trái tim cũng tan nát bởi sự lạnh lẽo, nghiệt ngã của những người có trách nhiệm", ông Tuất trăn trở.

Lầm lẫn trong tư duy - lạnh lẽo trong tình cảm

"Tôi không phải thợ xây, nên tôi không sợ ngã. Tôi không phải thợ mỏ, nên tôi không sợ sập hầm lò. Nhưng tôi là thợ làm chính sách, nên tôi sợ những người cầm cân nảy mực ghẻ lạnh với nó", ông Tuất giải thích.

Ông Phan Đăng Tuất, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Công nghiệp, Bộ Công Thương.

Trong bảy năm trời ấp ủ cái "mối tình đơn phương", theo cách mô tả của chính ông, ông Tuất đã qua khảo sát Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, và Thái Lan. "Lạ thay, ở các nước đó nền công nghiệp hỗ trợ được phát động từ phía Chính phủ. Còn ở Việt Nam chúng ta, ngược lại, nó được phát động từ giới nghiên cứu và doanh nghiệp. Ở Việt Nam lại phải tâu bẩm, phải xin xỏ", ông Tuất than.
Và kết quả là tất cả những gì ông Tuất, với sự giúp đỡ của các cộng sự tại viện của ông, đã thể hiện qua ngần ấy năm là một qui hoạch tổng thể về phát triển công nghiệp hỗ trợ được ban hành năm 2007, một bản dự thảo nghị định chính về công nghiệp hỗ trợ, và một cơ sở dữ liệu ban đầu về các nhà cung cấp linh phụ kiện tại địa chỉ http://www.linhkien.vn

Bản qui hoạch tổng thể đó, theo nhận xét của bà Trương Chí Bình, Giám đốc Trung tâm Phát triển Doanh nghiệp Công nghiệp hỗ trợ (SIDEC) thuộc viện của ông Tuất, là đã lỗi thời, và cần được làm mới lại cho giai đoạn 10 năm tới. Nghị định chính phủ, theo bà Bình hy vọng, có thể sẽ được thủ tướng ký ban hành trong năm nay. Còn cơ sở dữ liệu thì hoàn toàn thiếu các nhà cung cấp Nhật Bản.

"Hơn nữa, việc công bố bản kế hoạch hành động sau qui hoạch tổng thể, đã không diễn ra, bởi quá mơ hồ. Bộ Công Thương không có quyền gì cả, chỉ có vai trò kết nối thôi, mà sự kết nối giữa các bộ của Việt Nam thì rất kém", bà Bình lý giải.

Ông Tuất lý giải rằng cái nguồn gốc của sự "lạ đời" đó là do tư duy hội nhập từ hạ nguồn, tức là mang than, mang dầu thô, mang bô xít, rồi nghêu-sò-ốc-hến, nông-lâm-thủy sản đi bán. "Hội nhập phải bắt đầu từ thượng nguồn, có nghĩa là bắt đầu bằng việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu sản xuất chi tiết linh kiện. Đấy mới là hội nhập cơ bản, chứ hội nhập từ hạ nguồn là hạ sách", ông Tuất chỉ rõ.

Và để xúc tiến cái hạ sách đó, theo ông Tuất, Bộ Thương mại (nay là Công Thương) đã có Cục xúc tiến Thương mại, mà không có cục xúc tiến để xúc tiến cái thượng nguồn. Ông Tuất cho rằng đã đến lúc Bộ Công Thương cần phải có một cục xúc tiến sản xuất, chứ không thể cứ lấy chỉ số độ mở của nền kinh tế bằng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu trên GDP để tự hào về mức độ hội nhập được.

"Chính sách có vấn đề, bởi các cán bộ tham mưu có quá nhiều mưu mẹo, nhưng lại ít kiến thức, nên không thể đưa vào trong kiến nghị với Thủ tướng được", ông Tuất chua chát nhận xét.

Ông Tuất kể ra rằng mỗi năm Cục Xúc tiến Thương mại có mấy trăm tỷ để xúc tiến việc bán hàng, mà chủ yếu bán đồ gia công, nguyên nhiên liệu thô, hay mới sơ chế, chứ không có đồng nào để tổ chức xúc tiến sản xuất linh kiện. "Viện của chúng tôi thành lập Trung tâm Hỗ trợ Doanh nghiệp Công nghiệp hỗ trợ được hai năm rồi, mà chẳng xin được đồng kinh phí nào", ông Tuất tố khổ.

Mơ hồ trong phối hợp

Ông Tuất cùng các đồng sự của mình phải đôn đáo chạy khắp nơi xin tiền. Và cũng chính vì lý do đó, ông Tuất và các cộng sự của mình đã trách cứ cả những người có sứ mạng thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam từ phía Nhật Bản.

"Chúng ta bàn quá nhiều về công nghiệp hỗ trợ, bàn đã chín, và giờ đây quan trọng là bàn chương trình hành động mới, cụ thể hơn, với những bước đi chắc chắn hơn. Chúng tôi muốn chờ đợi từ phía Nhật Bản thông tin rõ ràng, rằng phía Nhật sẽ hỗ trợ Việt Nam cái gì đối với chương trình hành động này. Tôi đã quá yêu công nghiệp hỗ trợ rồi, nên muốn tiến tới hôn nhân với một kế hoạch rõ ràng cho tương lai", ông Tuất, người đã bỏ lỡ cơ hội dự Đại hội Đảng bộ Bộ Công Thương để tham dự tiếp ngày thứ hai của hội thảo, nói giọng khẩn thiết.

Một DN sản xuất linh kiện điện tử Việt Nam đang tìm cách tiếp xúc với đại diện Canon tại buổi triển lãm CN hỗ trợ.

Ông Tuất nói rằng chương trình hợp tác về phát triển công nghiệp hỗ trợ giữa JICA và viện của ông, được thảo ra bởi một giáo sư Nhật, nên nặng về lý thuyết. Và, cuối năm ngoái, trong lần trao đổi cuối cùng, với tư cách là trưởng nhóm điều phối, ông đã chỉ ra những bất cập về tiến độ, hành động, cũng như nội hàm, nên hai bên vẫn chưa ký được. Hay cuốn sách về 100 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ ở phía Nam, do Cơ quan Xúc tiến Thương mại Nhật Bản soạn thảo, mới chỉ là bản thống kê, chứ chưa phải cơ sở dữ liệu.

Ông Tuất kể tiếp rằng trước đó, viện của ông đã có công văn gửi JICA nhờ giúp kinh phí làm cơ sở dữ liệu, nhưng họ đã từ chối với lý do là chưa có kế hoạch hành động. Còn bà Bình cũng phàn nàn rằng Jetro cũng im lặng trước đề nghị của SIDEC, khi tiến hành khảo sát các doanh nghiệp nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ.

Ông Tuất nói thêm rằng, khu công nghiệp hỗ trợ Kinh Bắc được nêu rõ trong chương trình hành động là một dự án thí điểm mà hai bên cùng quan tâm. Nhưng khi ông đặt ra những câu hỏi cụ thể rằng phía Nhật quan tâm đến cái gì, và như thế nào, thì họ đã im lặng.

"Phải chăng một ngân hàng của Nhật Bản sẽ bảo lãnh cho vay vốn đối với các doanh nghiệp đầu tư vào đó? Hay họ sẽ tuyên truyền ở Nhật Bản về khu công nghiệp này để thu hút đầu tư vào đó? Tôi không hiểu sự phối hợp ở đây của phía Nhật là gì, và như thế nào?", ông Tuất nhắc lại những câu hỏi đó trước hội thảo.

Bà Bình đã củng cố thêm cho nhận xét của thủ trưởng của mình, khi kể rằng vào thời điểm Viện Nghiên cứu Chiến lược - Chính sách công nghiệp làm lại bản qui hoạch tổng thể cho giai đoạn 2011-2020, bà đã gặp phía Nhật nhờ giúp đỡ về kỹ thuật. Bà Bình nhấn mạnh rằng trung tâm của bà chỉ cần sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật, chứ không phải tài chính, cho dù Bộ Công Thương cũng không duyệt cho đồng kinh phí nào để làm qui hoạch tổng thể.

Tuy nhiên, chuyên gia này cho biết bên đó chỉ quan tâm đến kế hoạch hành động, điều mà họ chưa thấy phía Việt Nam đưa ra được.

"Chúng tôi sợ những cuộc hội thảo như thế này sẽ lại như ném đá ao bèo. Ném xong, bèo lại phủ đầy như cũ", bà Bình tỏ vẻ lo ngại, khi nhắc lại những cuộc hội thảo do phía Nhật kết hợp với Phòng Thương mại - Công nghiệp Việt Nam tổ chức từ trước đến nay.

Công nghiệp phụ trợ 3

Nguồn : http://tuanvietnam.net/2010-08-02-cong-nghiep-phu-tro-viet-nam-bao-gio-moi-truong-thanh-


Xu hướng tất yếu của sản xuất trong một nền kinh tế thị trường là luôn diễn ra quá trình chuyên môn hóa, chuyên biệt hóa sản phẩm và dịch vụ để không ngừng nâng cao năng suất, tạo nhiều giá trị gia tăng, giảm giá thành nhằm tồn tại và phát triển trong cạnh tranh khốc liệt.

Lấy một ví dụ, khi xí nghiệp may đi vào hoạt động thì hầu như ngay lập tức đã có rất nhiều nhà sản xuất hoặc các đại lý chuyên cung ứng phụ liệu ngành may như đăng ten, chỉ, khuy cúc, phéc mơ tuya v.v... đến chào hàng. Mỗi người đảm trách một khâu và sản phẩm may cuối cùng lại được những nhà phân phối trong và ngoài nước đem đi tiêu thụ.

Ngoài ra các dịch vụ ngân hàng cho vay vốn, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, thiết kế sản phẩm, đăng ký thương hiệu và sở hữu công nghiệp, tư vấn thương mại và luật pháp, dịch vụ vận chuyển container, bảo hiểm hàng gửi, quảng cáo v.v... sẽ không thể thiếu được trong cả quá trình khép kín bao gồm sản xuất và tiêu thụ.

Tất cả những loại hình sản phẩm và dịch vụ có tính hỗ trợ, thúc đẩy bộ máy vô cùng phức tạp của kinh tế thị trường vận hành trơn tru từ lâu đã được các nhà kinh tế phương Tây quan tâm nghiên cứu và đặt cho tên gọi là "khu vực dịch vụ giao dịch thị trường". Doanh số của khu vực này còn được gọi là "các chi phí giao dịch trên thị trường".

Trên thực tế các nền kinh tế thị trường tiên tiến đều đặt nền móng trên khu vực "dịch vụ giao dịch thị trường" phát triển cao và phong phú. Chẳng hạn như tại Hoa Kỳ từ những năm 70 của thế kỷ trước doanh số của khu vực dịch vụ này (cả tư nhân và Nhà nước) đã chiếm tới hơn 50% GNP và có tới hơn 40% lao động xã hội làm việc ở đây. (Trong khi đó con số này ở Liên Xô - một nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung - quan liêu chỉ có 10%) (1).


Thời nay không thể tự tỏa sáng bằng cách thổi tắt nến của người bên cạnh
Khu vực dịch vụ giao dịch thị trường nói chung hàng trăm năm nay đã hình thành một cách tự phát, với quy mô ban đầu nhỏ lẻ với loại hình vô cùng phong phú lại mang dấu ấn văn hóa - lịch sử của mỗi quốc gia hay dân tộc. Chẳng hạn người Hoa có dịch vụ tín dụng và giao hàng bán chịu dựa trên cơ sở chữ tín, người Do Thái, người Nhật cũng có những truyền thống kinh doanh mang tính cộng đồng đoàn kết rất đặc thù của mình.

Nhưng tựu chung muốn có khu vực dịch vụ giao dịch thị trường phát triển thiết nghĩ cần những điều kiện sau:

- Cộng đồng doanh nghiệp phải có tinh thần hợp tác, phân công cùng có lợi (win-win) trong kinh doanh dài hạn, khắc phục lối tư duy thiển cận. Thời nay không thể tự tỏa sáng bằng cách thổi tắt nến của người bên cạnh. Tuy rằng cơ chế thị trường sẽ buộc những người tham gia vào cuộc chơi dần dần hiểu ra chân lý này nhưng người Việt vốn có những thói xấu trong hợp tác làm ăn, nếu không có tinh thần tự phê phán mạnh mẽ thì không biết bao giờ chúng ta mới có thể làm được việc "ba cây chụm lại nên hòn núi cao".

- Nhà nước cần tạo môi trường vĩ mô thuận lợi cho các doanh nghiệp và tư nhân như được giảm thuế, hưởng ưu đãi tín dụng và sử dụng thông tin thị trường (đặc biệt là thị trường quốc tế) v.v...khi phát triển công nghiệp phụ trợ. Không nên quá hy vọng chờ đợi việc Nhà nước sẽ tổ chức thành công khu vực này mà không có sự tham gia của khu vực tư nhân vì đặc thù của khu vực này như đã nêu ở trên là sản phẩm của nó rất đa dạng, phong phú và biến động nhanh đòi hỏi sự linh động cao vốn là lợi thế của khu vực dân doanh.

- Ở những nền kinh tế tiên tiến khu vực dịch vụ giao dịch thị trường là sản phẩm của hàng trăm năm phát triển, tuy nhiên với lợi thế của người đi sau chúng ta có thể học tập những mô hình phù hợp để rút ngắn thời gian. Trung Quốc đã rất thành công khi sử dụng Hồng Kông như là nơi chuyển giao kinh nghiệm và kiến thức hiện đại về phát triển khu vực dịch vụ giao dịch thị trường khi đất nước mở cửa làm ăn với thế giới. Chính ngành công nghiệp phụ liệu dệt may và giầy, dép của Hồng Kông đã góp phần quan trọng cho sự cất cánh của ngành này ở Đại Lục ngày nay.

Cuối cùng và trên hết vẫn là quy luật kinh tế về lợi thế so sánh. Ý nguyện tốt đẹp là tạo ra nhiều giá trị gia tăng trên quê hương mình để Việt Nam thoát khỏi tình trạng làm gia công ngành may mặc, giầy da xuất khẩu sẽ mãi mãi vẫn là ý nguyện nếu thực tế chúng ta không có khả năng cạnh tranh với phụ liệu ngoại. Và khi đó cần suy nghĩ lại liệu có nên tái cơ cấu nền kinh tế, mở ra những hướng phát triển mới phù hợp với xu thế thời đại kinh tế tri thức để làm sao khỏi phải làm kẻ lẽo đẽo đi sau trong tư thế "trâu chậm uống nước đục" và "lấy công làm lãi"?

Cuộc sống luôn dành cơ hội cho những người biết sáng tạo dám bước đi trên những nẻo đường mới.

----


(1) Li Tan. Nghịch lý của chiến lược đuổi kịp. Tư duy lại mô hình phát triển kinh tế dựa vào Nhà nước. NXB Trẻ. 2008

Công nghiệp phụ trợ 2

Nguồn : http://tuanvietnam.net/2010-08-04-no-luc-vo-vong-cua-nha-truyen-giao-xu-phu-tang


Giáo sư Kenichi Ohno, cùng các cộng sự của mình, ngay từ ngày đầu đã có tham vọng tác động thẳng vào giới lãnh đạo cấp trung ương, nhằm hình thành một chiến lược công nghiệp hỗ trợ trong mối quan hệ đối tác chiến lược về công nghiệp.

Theo thành viên Tổ Tư vấn của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông Vũ Quốc Tuấn, người đầu tiên nói về khái niệm "công nghiệp hỗ trợ" với người lãnh đạo cao nhất của chính phủ là Giáo sư Trần Văn Thọ - một trong ba thành viên Việt Kiều của tổ tư vấn. Tuy nhiên, người có công truyền bá ý tưởng đó suốt 15 năm ở Việt Nam là Giáo sư Kenichi Ohno, hiện là Giám đốc Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF) - một dự án giữa Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc gia Nhật Bản (GRISP) và Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội.

Sự thừa nhận cay đắng

Có hai chuyên gia tư vấn nước ngoài gây được sự chú ý ở Việt Nam, nhất là từ giới truyền thông. Đó là Giáo sư David Dapice cùng nhóm Harvard, và Giáo sư Kenichi Ohno.

Nhóm của Giáo sư Dapice đã chọn cách tư vấn ở cấp chính quyền địa phương, ở những nơi những người lãnh đạo mong muốn có sự thay đổi. Họ cố gắng đạt những thành công cụ thể, để thu hút sự chú ý từ cấp cao hơn.

GS Kenichi Ohno.
Trong khi đó, Giáo sư Ohno, cùng các cộng sự của mình, ngay từ ngày đầu đã có tham vọng tác động thẳng vào giới lãnh đạo cấp trung ương, nhằm hình thành một chiến lược công nghiệp hỗ trợ trong mối quan hệ đối tác chiến lược về công nghiệp.
Sau một thập kỷ rưỡi kiên trì đi theo hướng này, Giáo sư Ohno đã phải thừa nhận rằng dường như đồng nghiệp người Mỹ của ông đã đi đúng hướng. Đầu năm 2008, lãnh đạo chính phủ Việt Nam, trong sự tìm kiếm nhóm giải pháp chống lạm phát, đã trực tiếp lắng nghe những phân tích, và, phần nào đó, tiếp thu những khuyến nghị của nhóm này.

Còn người cao nhất trong hệ thống hành pháp của Việt Nam, cho đến nay, Giáo sư Ohno được gặp trực tiếp chỉ là một vị thứ trưởng phụ trách lĩnh vực công nghiệp. Và, gần đây, Giáo sư Ohno đã nói rằng mối quan tâm của ông về phát triển công nghiệp hỗ trợ đã chuyển sang Ethiopia - một đất nước đi sau Việt Nam 20 năm, nếu tính về GDP trên đầu người, nhưng lại đi trước Việt Nam trong tư duy hoạch định chính sách công nghiệp, trong đó có công nghiệp hỗ trợ.

Cách tiếp cận kiểu hàn lâm

Giáo sư Yoshiharu Tsuboi, giảng dạy môn chính trị học của Đại học Waseda và là người đồng chủ trì hội thảo "Chính sách công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ - kinh nghiệm của Nhật Bản và những vấn đề của Việt Nam", khi được hỏi rằng cơ sở nào ông để tự tin khi bắt tay vào việc thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ, khi mà sau 15 năm kiên trì truyền bá ý tưởng này, Giáo sư Ohno đã cảm thấy mệt mỏi, đã nói: "GS Ohno là một nhà kinh tế lý thuyết. Ông muốn áp dụng lý thuyết của ông ở Việt Nam. Còn tôi chọn cách tiếp cận khác."

Quả vậy, vị giáo sư đã lấy bằng tiến sĩ ở Đại học Stanford (Mỹ) về tài chính quốc tế và kinh tế phát triển này đã mang tới Việt Nam một hệ thống kiến thức lớn và bài bản về ngành công nghiệp hỗ trợ ở Nhật Bản, và kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc phát triển nó ở Thái Lan, Malaysia, và thậm chí Đài Loan.

Trình độ công nghiệp hỗ trợ trong ngành cơ khí của Việt Nam mới dừng ở việc sản xuất phụ tùng xe máy. CN hỗ trợ cho ngành ô tô coi như phá sản.
Ông đã đưa ra mô hình sản xuất với tên gọi là tích hợp của Nhật Bản, khi các nhà lắp ráp và nhà cung cấp linh kiện sẽ cùng nghiên cứu và phát triển cùng nhau, để đạt tới mục tiêu là sản phẩm luôn được nâng cao về chất lượng. Trong đó, Việt Nam là đối tác mà Nhật Bản muốn chọn. Cũng như Mỹ đã chọn Trung Quốc trong mô hình chế tạo kiểu modul, khi cho ra các sản phẩm được sản xuất hàng loạt. Trong đó, Mỹ lo phần thiết kế và phân phối, còn các nhà sản xuất linh kiện của Trung Quốc sẽ cạnh tranh nhau để làm sao cung cấp với giá thành rẻ nhất, với chất lượng vừa phải.
Tuy nhiên, ý tưởng này không gặp được sự hưởng ứng từ phía Việt Nam - một quốc gia với trình độ phát triển công nghiệp còn kém xa Trung Quốc, và vẫn có xu hướng học theo những gì mà Trung Quốc đã thành công. Đó là chưa kể, suốt thời gian đó nền công nghiệp của Việt Nam vẫn phát triển dựa trên khai thác tài nguyên và lao động gia công giá rẻ, chứ các nhà quản lý công nghiệp chưa mấy chú ý đến hàm lượng giá trị gia tăng mà công nghiệp hỗ trợ có thể mang lại.

"Mặc dù rất mong muốn thu hút các nhà lắp ráp nước ngoài vào Việt Nam, các nhà quản lý công nghiệp vẫn không hình dung một cách rõ ràng rằng, đối với ngành lắp ráp, chi phí linh phụ kiện chiếm tới 70-90% giá thành, còn nhân công lao động chỉ chiếm dưới 10%", Giáo sư Ohno có lúc đã thốt lên trong thất vọng.

Ông còn đi xa hơn nữa trong luận thuyết của mình, khi cảnh báo Việt Nam về nguy cơ của "bẫy thu nhập trung bình", nếu không phát triển công nghiệp hỗ trợ, ngay từ khi Việt Nam còn chưa bước qua được ngưỡng "nghèo", tức là GDP bình quân đầu người hàng năm chưa đạt tới ngưỡng 1000 USD.

"Điều này quá xa vời với Việt Nam. Đó là câu chuyện của 15 năm nữa, chứ bây giờ Việt Nam có muốn sa vào bẫy cũng khó", Viện trưởng Phan Đăng Tuất nhận xét, khi nói rằng mức thu nhập trung bình của thế giới phải gấp năm - bảy lần như vậy.

Tầm quan trọng của việc phát triển công nghiệp hỗ trợ trong quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Nhật Bản mà Giáo sư Ohno luôn nhấn mạnh, cũng đã gây không ít hoài nghi rằng việc phát triển công nghiệp hỗ trợ là phục vụ cho các nhà lắp ráp Nhật Bản, chứ không phải cho sự nghiệp công nghiệp hóa của Việt Nam. Và ông đã không ít lần phải than thở với giới truyền thông rằng dường như việc thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ là việc của phía Nhật Bản, chứ không phải của các nhà hoạch định chính sách công nghiệp của Việt Nam. "Họ cứ bình chân như vại", Giáo sư Ohno nhận xét.

Nhưng, cách tiếp cận bài bản theo kiểu Nhật của ông dường như đã tỏ ra xa xỉ với thực tế hoạch định chính sách mang tính chắp vá ở Việt Nam. Các nhà hoạch định chính sách công nghiệp Việt Nam, ở cấp chuyên gia, như viện của ông Phan Đăng Tuất, cũng gặp những khó khăn như người đồng nghiệp đến từ Nhật Bản, có khi còn gấp bội.

Tệ hơn nữa, như đã đề cập ở bài viết trước, họ phải đôn đáo đi tìm nguồn tài trợ bên ngoài để làm những việc mà một người Nhật như ông khó hình dung được. Và tệ nhất là, trong khi họ chờ đợi Kế hoạch hành động về phát triển công nghiệp hỗ trợ được thông qua, thì Qui hoạch tổng thể, thông qua cách đây ba năm, đã trở nên lỗi thời, và họ lại phải bắt tay vào làm lại.

Lời bà Trương Chí Bình, Giám đốc Trung tâm Phát triển Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ phàn nàn về việc phía Nhật Bản từ chối giúp đỡ cho phía Việt Nam, dường như cũng xuất phát từ chỗ các chuyên gia soạn thảo chính sách công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam coi những người "đồng chí hướng" từ Nhật Bản là "tia sáng cuối đường hầm", sau khi gặp phải sự ghẻ lạnh từ phía các cơ quan Việt Nam được chính phủ giao phối hợp với Bộ Công Thương trong việc này.

Chính Giáo sư Ohno cũng phần nào hiểu được câu chuyện này, khi ông đã nhận xét rằng vai trò điều phối của Bộ Công Thương quá yếu trong cái cơ chế hoạch định chính sách quá đặc thù ở Việt Nam. Bất cứ bộ nào có ý kiến trái ngược, coi như đề án bị đình lại vô thời hạn.

Có lẽ, với sự cương quyết, được coi là khá cứng nhắc của phía Nhật, trong đó có Giáo sư Ohno, cũng là một sự cảnh báo về tính hiệu quả của cách làm chính sách không giống ai ở Việt Nam, cũng như tiền đồ của sự hợp tác sắp tới trong lĩnh vực này của phía Việt Nam với phía Nhật Bản, thông qua METI (Bộ Kinh tế - Thương mại - Công Nghiệp Nhật Bản) - cơ quan chính phủ có đầy đủ quyền hành trong việc hoạch định và triển khai các chính sách công nghiệp.

Bà Bình cũng không phải là hoàn toàn không có lý khi nhận xét rằng các cuộc hội thảo mà VDF kết hợp với Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đứng ra tổ chức là "ném đá ao bèo". Ở Việt Nam VCCI không phải là một tổ chức có tiếng nói có thể "vọng lên trên" như Keidanren ở Nhật Bản. Và VCCI, theo xu hướng chung ở Việt Nam, cũng chưa thể hiện sự quan tâm đầy đủ đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ - những người chơi chính trong cuộc chơi "công nghiệp hỗ trợ".

Cũng còn may là trước khi kết thúc chặng đua đầy mệt mỏi này, Giáo sư Ohno đã kịp trao "khúc gậy tiếp sức" cho Đại sứ Mitsuo Sakaba. Trong vòng một năm rưỡi qua, với ưu thế của người đại diện cao nhất của Chính phủ Nhật Bản tại Việt Nam, ông Sakaba đã có những cuộc tiếp xúc, trao đổi với những người có trách nhiệm trong chính phủ. Nhất là các phó thủ tướng, như Hoàng Trung Hải, hay Nguyễn Thiện Nhân, - những người mà Giáo sư Ohno khó lòng có thể xin gặp trực tiếp để trình bày vấn đề.

Câu chuyện dường như đã có những tiến triển, dù không nhiều. (Chí ít, một nghị định về ưu đãi phát triển công nghiệp hỗ trợ sẽ được ban hành nội trong năm nay.) Trước khi, "khúc gậy tiếp sức" được trao tiếp cho những người khác.

Có một điều đáng tiếc là dường như khi gặp phải những trở ngại quá to lớn từ một phía khác trên bước đường thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam, những người đồng hành, dù cách tiếp cận có khác nhau, đã nảy sinh những bất đồng, và không tránh khỏi những lúc điều qua tiếng lại. Người viết bài này, trong thâm tâm, vẫn tin rằng việc đôi lúc "tự làm khổ nhau" của những người đồng chí hướng, như Giáo sư Ohno và Viện trưởng Phan Đăng Tuất, đều nằm ngoài ý muốn chủ quan của họ.

Mong rằng những người cầm tiếp khúc gậy tiếp sức, như nguyên Bộ trưởng Trương Đình Tuyển và Giáo sư Tsuboi, sẽ tránh được câu chuyện đáng buồn này.

Công nghiệp phụ trợ 1

nguồn : http://tuanvietnam.net/2010-08-09-cong-nghiep-phu-tro-di-tu-nhung-ngo-hem-

Đại sứ Nhật bản Mitsuo Sakaba từng khuyến cáo: "Vận mệnh của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam không chỉ sẽ ảnh hưởng đến tương lai phát triển kinh tế của đất nước Việt Nam, mà còn ảnh hưởng đến địa vị chính trị của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á".



Doanh nghiệp Ánh Dương ở Đà Nẵng đã nghĩ ra hệ thống tấm panel thu nhiệt mặt trời rất đơn giản, rẻ tiền và hiệu suất cao, chịu được áp lực; thế nhưng lại bế tắc ở hệ thống bình chứa cách nhiệt. Làm bình chứa cách nhiệt thì dễ nhưng để nó chịu được áp lực khi nước nóng, giãn nở, thì vô cùng khó.

Hầu hết các bình nước nóng năng lượng mặt trời hiện bán trên thị trường đều không chịu được áp lực cao, vì vậy đầu nước ra thường rất yếu, gây khó chịu cho không ít người. Một số bình chịu được áp lực đều là hàng ngoại nhập và giá thường trên 1.000USD. Đơn giản là chỉ vì để làm được bình chứa chịu áp lực thì hai đáy bình không thể gò hàn đơn giản mà phải dập lồi và hàn điện. Yêu cầu khá đơn giản với ngành cơ khí nhưng cả Đà Nẵng không một chỗ làm khuôn dập. Đặt hàng ở Tp HCM thì không dưới 150 triệu đồng, chưa kể phần cơ khí như máy dập.

Cách nay chừng 8 năm, với chính sách dán tem nhập khẩu các loại quạt, ngành sản xuất quạt điện ở ta đã phát triển mạnh vì gần như độc chiếm thị trường. Thế nhưng sau gần chục năm được bảo hộ để tích lũy phát triển, ngành sản xuất quạt điện vẫn không bước ra ngoài được, thậm chí, nhiều chiếc quạt bắt chước kiểu dáng quạt Thái Lan nhưng khi đặt bên cạnh hàng Thái Lan thì mới bộc lộ tất cả những điểm yếu mà ta hay gọi là công nghiệp phụ trợ: Nhựa không bóng, các chi tiết không khớp.

Ông thợ sửa xe Trần Dân Tiến ở quận Bình Tân Tp HCM với sáng kiến keo tự vá và bơm hơi tiện dụng đã phải đặt làm hàng chục mẫu khuôn, mỗi mẫu thấp nhất là 50 triệu và cao nhất đến 150 triệu đồng để thử nghiệm cho các ý tưởng hình thành nên sản phẩm keo tự vá và bơm xe tiện dụng.

Quảng Nam hiện là chiếc nôi của các loại trầm hương xuất đi khắp thế giới. Làm nhang thì phải trộn vào nguyên liệu một ít keo khiến trầm mất đi không ít mùi hương quý giá. Hoàng Long, chủ doanh nghiệp trầm hương Tiên Phước đã nghĩ đến việc làm một dụng cụ đốt bột trầm bằng điện.

Khi anh đang mày mò tháo tung chiếc máy xông muỗi để lấy hệ thống phát nhiệt của nó thì một người bạn mang từ Trung Quốc về một chiếc bát sứ đúng như anh hình dung! Người bạn nói: Ở Trung Quốc có những cửa hàng mà anh có thể nêu bất cứ yêu cầu gì họ cũng sẽ thiết kế rồi sản xuất với giá rất rẻ.


Các kỹ sư cơ khí, kỹ sư hóa, điện, điện tử, và cả mỹ thuật công nghiệp nữa, đã chưa ngồi lại cùng nhau để làm dịch vụ công nghiệp hỗ trợ giúp các ý tưởng lúc nào cũng có.
Vấn đề chỉ là ý tưởng! Chính vì vậy mà chúng ta thấy tràn ngập ở Việt Nam những kiểu, mẫu hàng hóa không có ở bất cứ đâu trên thế giới như các loại vợt bắt muỗi, các loại lồng đèn trung thu, các vật dụng gia đình từ các kiểu kẹp tóc cho đến các máy mát xa, đồ điện gia dụng linh tinh khác.
Ở Việt Nam để sản xuất một mẫu hàng nào đó, riêng việc làm khuôn từ nhựa đến dập đúc kim loại đều có thể làm nản lòng bất cứ ý tưởng sáng tạo nào.

Các kỹ sư cơ khí, kỹ sư hóa, điện, điện tử, và cả mỹ thuật công nghiệp nữa, đã chưa ngồi lại cùng nhau để làm dịch vụ công nghiệp hỗ trợ giúp các ý tưởng lúc nào cũng có thể có trong một xã hội có số dân gần 100 triệu người như nước ta.


Bắt đầu từ đâu?

Tại hội chợ triển lãm "Công nghiệp sản xuất Việt Nam" (Vietnam Manufacturing Expo) khai mạc vào tháng 5/2008, thấy bên cạnh triển lãm những công nghệ công cụ và phụ trợ cao như máy bơm khuôn điện tử, rô-bốt công nghiệp hai tay, và máy cắt bằng tia nước... là những quan khách đáng chú ý như: Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Công cụ và Khuôn đúc Thái Lan, các quan chức ngành Khuôn đúc Hàn Quốc. Còn phía Việt Nam là Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, Tổng thư ký Hội Kỹ sư Ô tô Việt Nam.

Có nghĩa rằng, các nhà làm khuôn đúc Việt Nam hoàn toàn chưa có tiếng nói, chưa biết tập hợp lại thành hiệp hội và cũng chưa được Bộ Công Thương quan tâm cử người theo dõi với một phòng ban chuyên trách.

Khoa, một trong những thợ unlock chiếc Iphone ở phần cứng thành công nhất, đã nghiệm ra rằng, làm một chiếc Iphone không khó, từ phần mềm cho đến thiết kế phần cứng, board chủ, mạch điện, đội ngũ kỹ sư Việt Nam dư sức làm, thế nhưng cái khó lại nằm ở phần vỏ! Công nghệ làm vỏ, khuôn đúc ở Việt Nam không thể làm được ngay cả chiếc điện thoại đồ chơi trẻ con.

Trên thế giới, cuộc cách mạng về vi mạch đã tạo điều kiện để các ý tưởng có thể thực hiện trong những sản phẩm tinh xảo. Vấn đề chỉ còn là sự hỗ trợ của công nghệ mẫu mã, làm nên vóc dáng của sản phẩm. Chả thế mà chúng ta thấy Trung Quốc có thể nhái bất cứ mẫu sản phẩm điện thoại di động nào, đơn giản là vì công nghệ phụ trợ của họ đã sẵn sàng cho mọi ý tưởng.

Các nước có nền công nghiệp tiên tiến như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan... đã hình thành mô hình liên kết tổ hợp, để sản xuất khuôn mẫu chất lượng cao, cho từng lĩnh vực công nghệ khác nhau: Năm 2002, Đài Loan đã xuất khẩu 48.726 tấn khuôn mẫu đi các nước: Trung Quốc, Mỹ, Inđônesia, Thái Lan, Việt Nam... với tổng trị giá 18.311.271.000 đài tệ. Khuôn mẫu của Đài Loan được đánh giá đạt tiêu chuẩn quốc tế nhưng giá thành chỉ bằng 50% giá các cơ sở tạo khuôn ở Việt Nam đưa ra.

Đại sứ Nhật bản Mitsuo Sakaba quả thật khá chân thành và trách nhiệm khi nói thẳng tại diễn đàn kinh tế Việt - Nhật lần thứ ba: "Vận mệnh của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam không chỉ sẽ ảnh hưởng đến tương lai phát triển kinh tế của đất nước Việt Nam, mà còn ảnh hưởng đến địa vị chính trị của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á".

Chỉ tiếc là Bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư Võ Hồng Phúc hình như chỉ nhìn thấy lĩnh vực mình đang phụ trách nên không hiểu hết lời góp ý tâm huyết ấy của Đại sứ Nhật Bản nên đã tranh thủ diễn đàn này để kêu gọi thêm FDI của Nhật Bản vào phát triển cơ sở hạ tầng, giáo dục, và tiếp tục sửa đổi các bộ luật kinh doanh khác.

Thầy giáo tôi - Thầy Nguyễn Đức Hòe

Xin copy bài này để giới thiệu với các bạn của tôi về 1 trong những niềm tự hào của tôi : Thầy giáo tôi ,thầy Nguyễn Đức Hòe

Hơn 41 năm nay, chỉ bằng tấm lòng và dựa vào mối quan hệ của mình, nhà giáo Nguyễn Đức Hòe đã âm thầm đưa nhiều thế hệ học trò giỏi nhưng nghèo sang Nhật du học.
Cho đến nay đã có hơn 300 du học sinh trong đó có bốn tiến sĩ - đã thành danh bằng con đường Đông du do ông khởi xướng...

Tôi từng khóc vì mình quá nghèo

Xuất thân từ gia đình nhà giáo nghèo, nhưng nhờ ham học và học giỏi, nhà giáo Nguyễn Đức Hòe may mắn nhận được một suất học bổng du học Nhật vào năm 1959. Ông kể: "Tôi có đêm đã khóc khi còn là cậu học trò trường Chu Văn An, chỉ vì thấy mình quá nghèo, không có tương lai. Bởi thế khi sang Nhật, thành đạt hơn, tôi nguyện lòng mình sẽ đưa nhiều học sinh đi du học, thành tài".

Sau nhiều năm dành dụm từ nguồn học bổng, năm 1967, ông đã lập một ký túc xá có tên Đông Du học xá cho du học sinh Việt Nam qua ở, bước chuẩn bị khởi đầu cho tâm nguyện của mình. Gọi là ký túc xá cho oai, nhưng thực tế đó chỉ là một căn nhà thuê lại bằng gỗ thấp lè tè tối tăm. Tài chính quá hạn hẹp, ông phải tự tay sơn phết, sửa sang rồi đi xin từ những chiếc bàn, ghế ngồi đến cái bát, đôi đũa... đủ dùng cho du học sinh. Một hôm, nhà cầu của ký túc xá bị hư, tiền sửa quá cao, ông - một giáo sư ĐH - và học trò cùng nhau xắn tay áo khai thông cả hầm cầu. Có chỗ trọ rồi, ông đi tìm việc làm thêm để HS có thể kiếm tiền theo học.

"Nhật Bản đã phát triển, người Nhật bắt đầu chê những công việc dơ bẩn, nguy hiểm và nặng nhọc. Học trò nghèo Trung Quốc để có tiền học tại Nhật đã chọn làm những công việc này. Tuy vậy, tôi cũng phải thử trước để xem nó có vừa sức HS Việt Nam mình hay không, nên cũng làm trước đủ nghề như rửa bát, quét nhà, giao báo, xếp chữ nhà in... Mình làm được mới chắc học trò của mình cũng làm được..." - ông Hòe kể.

Vậy là từ năm 1967, có việc, có chỗ ở, mỗi năm, ông đã giúp được từ 1-2 HS nghèo sang học ở Nhật. Các em được ăn ở tại Đông Du học xá, được tổ chức học tập, ôn luyện và đi làm thêm để trang trải tiền học phí, sinh hoạt phí. Cho đến năm 1973, ngoài việc giúp được nhiều HS nghèo sang Nhật vừa làm vừa học, ông đã cùng bạn bè gây dựng được quỹ học bổng Huynh đệ với trên 200 suất. Bấy giờ cuộc chiến tranh Việt Nam sắp đến hồi kết thúc, nhiều tin chiến thắng tới tấp được đưa trên các trang báo nước ngoài, ông quyết định về Việt Nam vào đầu năm 1974.

Mở tương lai cho hàng trăm học trò nghèo

Không phải dễ dàng gì việc bắt đầu cuộc sống ở quê hương còn khó khăn sau chiến tranh, nhất là đối với một người vừa trở về từ một quốc gia tư bản. Nhưng ông không nề hà, thầm lặng cống hiến tài năng sức lực của mình. Hơn 13 năm sau ngày giải phóng, những nỗ lực của ông mới được xã hội thừa nhận.

Năm 1988, sau một thời gian dài vận động cho mô hình đặc khu kinh tế và sau đó là khu chế xuất, ông được bổ nhiệm làm giám đốc khu chế xuất Sài Gòn. Đầu năm 1991, thạc sĩ Nguyễn Đức Hòe được trở lại Nhật trong một chuyến công cán, sau 17 năm. Trở về nước, ông được Thành ủy TP.HCM mời đến báo cáo. Buổi báo cáo có sự hiện diện của Bí thư Thành ủy Võ Trần Chí và Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo Trần Hồng Quân.

Ông Hòe kể: Tôi kể cho các ông ấy nghe chiến lược đào tạo nhân tài của Trung Quốc, chuyện có hơn 40.000 du học sinh nước này tại Nhật và hơn 20.000 tại Australia. Ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo cho biết bấy giờ Liên Xô tan rã, Mỹ thực hiện chính sách cấm vận, cả nước hiện chỉ có 5 suất du học tại Ba Lan, rồi hỏi: "Có đưa HS đi du học được không?". Tôi nói được, nhưng việc đầu tiên phải cho tôi mở một trường để chuẩn bị và sàng lọc.

Vậy là năm 1991, Trường Nhật ngữ Đông Du được thành lập và Con đường Đông du cho HS nghèo Việt Nam lại lần nữa được ông triển khai xây dựng. Một người bạn Nhật đã giấu cả vợ cho ông mượn 1 triệu yen để bảo lãnh cho du học sinh vào Nhật. Còn ông thì làm thuyết khách, đến các trường tại Nhật xin được cho trò mình nợ tiền học phí, tới các tòa soạn báo Asahi và Yomiuri... tìm việc làm thêm cho học trò.

HS nghèo Việt Nam với sự bảo trợ này, sang Nhật với hai bàn tay trắng nhưng bằng chí lớn của mình, vừa làm việc, vừa học tập, có em ngoài dành dụm tiền đóng học phí và sinh hoạt phí còn có dư gửi về giúp đỡ gia đình.

Năm 1992, chương trình học bổng Đông Du do thạc sĩ Nguyễn Đức Hòe khởi xướng đưa được bảy HS đi và đến nay đã có hơn 300 HS-SV nghèo du học. Riêng tháng 4-2005, có 57 người đi và dự kiến tháng 9 này có tiếp 30 suất. Đã có bốn SV lấy được bằng tiến sĩ nhờ con đường bảo trợ này. Tiến sĩ Võ Minh Tuấn (ĐH Kinh tế TP.HCM) là một trong số đó, anh nói: "Nếu không có thầy một người từng là học trò nghèo như tôi làm sao có được như hôm nay...".

Học trò là tác phẩm của tôi

Một du học sinh Việt Nam sang Nhật bằng con đường tự túc chi phí bảo lãnh và học phí năm đầu mất khoảng 400 triệu đồng tiền Việt Nam. Một con số thật lớn, vậy nên nhiều người khi nghe nói đi theo chương trình du học Đông Du không tốn một đồng nào, ít ai dám tin. Thế nhưng với nhà giáo Nguyễn Đúc Hòe thì đó chính là tâm nguyện của ông. "Học trò là tác phẩm của tôi. Người họa sĩ say mê vẽ tác phẩm của mình như thế nào thì tôi say mê đào tạo học trò như thế ấy. Tôi không có khả năng làm được tất cả những gì mà nình ao ước cho đất nước, vì thế tôi gửi trọn niềm tin ở học trò của mình...".

Dù bận trăm công nghìn việc, tuổi cao sức yếu, nhưng tối thứ ba nào ông cũng dành thời gian để nói chuyện về đạo đức, lý tưởng và lẽ sống cho những du học sinh tương lai. Ông bắt học trò không chỉ nghiêm túc trong chuyện học mà phải có tinh thần kỷ luật và rèn luyện cao.

Mỗi sáng, những du học sinh của ông phải chạy vài cây số theo yêu cầu. "Nếu không dẻo dai, có nghị lực, chịu khó thì làm sao khi sang Nhật phải dậy từ 2 giờ 30 sáng để đi giao báo rồi còn về đi học được? Du học với chương trình Đông Du, có tài thôi chưa đủ, mà phải là một người yêu nước, có đức, có chí hướng và nghị lực" - ông nói.

Một sự cho đi không vụ lợi nhưng ông trân trọng những niềm vui hạnh phúc thật nhỏ bé, giản dị. Hôm gặp chúng tôi, ông kể, có một bà mẹ ở Nhà Bè (TP.HCM) mới sáng sớm đã mang lên cho ông ba con cua nhỏ. Bà nói, không có gì biếu thầy, vài con cua nhỏ này chính tay bà bắt được khi đi làm đồng. Người mẹ đó thật nghèo, quanh năm bán lưng cho trời, bán mặt cho đất nhưng con bà hiện đang là một sinh viên đang du học tại Tokyo. Anh được du học Nhật với sự trợ giúp của Đông Du...

Lá thư được viết vào năm 2070

Đây là đoản văn hết sức có ý nghĩa, đặc biệt xúc động & rất thiết thực với mỗi chúng ta. Mong các bạn dành thời gian đọc, suy ngẫm & vận dụng trong khả năng cụ thể của mình. Hãy coppy về blog của mình để nhân rộng ra cộng đồng. Cảm ơn các bạn!)
--------------------------------------------------------------------------
Lá thư được viết vào năm 2070
Monday, 16. June 2008, 13:02:01
Life in the year 2070 (Cuộc sống năm 2070) là một trong những bài viết chưa được công bố của cựu tổng thống Ấn Độ - tiến sĩ A. P. J. Abdul Kalam. Nó là một cuộc đối thoại nhân bản giữa các thế hệ về giá trị của môi trường tự nhiên đối với sự tồn vong của loài người.
-----------------------------------------------

“Hiện chúng tôi đang sống vào năm 2070. Tôi vừa mừng sinh nhật lần thứ 50, thế mà trông như ông cụ 85 tuổi. Tôi bị đau thận rất nặng vì uống quá ít nước. Tôi nghĩ mình sẽ không còn sống được bao lâu nữa. Hiện giờ tôi đã là người lớn tuổi nhất ở đây.

Tôi vẫn còn nhớ về khoảng thời gian khi mới lên 5 tuổi, mọi thứ đều rất khác với hiện nay. Lúc ấy có nhiều cây trong công viên, nhiều căn nhà trong những khu vườn tuyệt đẹp, và tôi có thể tắm thật lâu dưới vòi sen cả giờ đồng hồ. Vậy mà giờ đây, chúng tôi chỉ có thể vệ sinh thân thể bằng những chiếc khăn ẩm thấm dầu khoáng dùng một lần rồi bỏ.

Trước đây phụ nữ thường tự hào về mái tóc mềm mại và suôn thẳng của mình. Thế mà bây giờ, mọi cô gái đều phải cạo trọc đầu để giữ vệ sinh khi không còn nước gội rửa. Trước đây cha tôi từng xịt rửa xe hơi bằng những luồng nước ào ạt tuôn ra từ chiếc ống dẫn, nay thì lũ con của tôi khó mà tin nổi rằng có một thời người ta đã dùng nước vào những việc kinh khủng như thế.

Thời ấy, tôi còn nhớ nhiều nơi đã treo tấm bảng cảnh cáo: “Đừng lãng phí nước”. Nhưng chẳng ai để ý cả. Mọi người cứ nghĩ rằng nước không bao giờ cạn.

Bây giờ phần lớn các con sông, đầm lầy, suối nước, cũng như nguồn nước ngầm đều bị ô nhiễm không thể hồi phục. Số còn lại khô cạn hoàn toàn.

Khu vực xung quanh nơi chúng tôi ở đã biến thành sa mạc nóng bỏng bát ngát. Các bệnh viêm nhiễm đường tiêu hóa, ung thư da và chứng rối loạn đường tiểu đang trở thành nguyên nhân chính gây chết người.

Nhiều khu công nghiệp bị tê liệt và tỉ lệ mất việc tăng cao chưa từng có. Trong khi đó, các nhà máy lọc nước muối lại trở thành nơi làm việc chính của mọi người. Thay vì trả lương bằng tiền, họ đã dùng nước để thay thế. Điều đáng sợ nhất là có rất nhiều trường hợp bị giết để cướp nước uống nơi các con đường vắng vẻ ở ngoại ô thành phố. Tất cả thức ăn mà chúng tôi dùng hằng ngày đều được tổng hợp bằng hóa chất.

Trước đây các bác sĩ thường khuyên người lớn nên uống tám ly nước mỗi ngày. Giờ tôi chỉ được phép uống nửa ly thôi.
Vì không thể giặt quần áo được chúng tôi đã vứt chúng sau vài lần mặc, và như thế làm tăng nhanh chóng số lượng rác thải ra môi trường bên ngoài. Chúng tôi phải sử dụng lại loại hố xí tự hoại như người ta đã dùng thời Trung cổ, chỉ đơn giản vì hệ thống xử lý chất thải không thể hoạt động được do thiếu nước.

Mọi người trông như những bóng ma: thân thể họ lờ đờ vì yếu đuối, nứt nẻ vì thiếu nước trầm trọng và bị lở loét vì ung thư da do bầu khí quyển không còn khả năng ngăn chặn tia tử ngoại khi tầng ozone bị phá hủy.

Vì lớp da bị khô nứt, con gái tôi mới 20 tuổi đã trông giống như một bà già 40 tuổi. Các nhà khoa học đã tìm mọi cách để nghiên cứu và khám phá nhưng vẫn chưa đạt được bất cứ kết quả khả quan nào. Chúng tôi không thể chế tạo ra nước. Hiện tượng cây cỏ chết khô làm giảm lượng oxy trong không khí, khiến chỉ số thông minh của các thế hệ loài người sinh ra kế tiếp bị suy sụp nhanh chóng. Cấu trúc tinh trùng của nhiều người đàn ông bị biến thể... gây nhiều hiện tượng khiếm khuyết, đột biến và dị tật ở trẻ sơ sinh.

Các chính phủ thậm chí còn đánh thuế trên mỗi hơi thở của công dân mình: người lớn chúng tôi chỉ được phép thở 137m3 không khí/ngày (nghĩa là gần bằng 31.102 gallon không khí). Những người nào không thể đóng thuế sẽ bị trục xuất ra khỏi khu vực “thoáng khí”, nơi có không khí dễ thở được cung cấp nhờ những lá phổi máy nhân tạo khổng lồ chạy bằng năng lượng mặt trời. Tuy vậy, lượng không khí ở những “khu vực thoáng khí” cũng chẳng trong lành gì, nhưng ít nhất là chúng tôi vẫn còn có thể hít vào thở ra được. Giờ đây, tuổi thọ bình quân của con người là 35 tuổi.

Một số quốc gia còn bảo tồn và lưu giữ được một ít các hòn đảo có cây xanh và suối nước ở trên đó. Và họ bảo vệ khu vực này rất chặt chẽ với lực lượng quân đội trang bị hùng hậu. Nước trở thành một thứ hàng xa xỉ khó kiếm được, quí hơn cả kho báu và nhiều khi có giá cao hơn cả vàng hoặc kim cương.

Dĩ nhiên với một tình trạng như thế, hầu hết cây cối đều chết khô vì thiếu mưa. Và cứ mỗi lần trời mưa thì nước mưa có chứa hàm lượng axit rất cao gây gỉ sét và tàn phá nhà cửa của chúng tôi. Chúng tôi không còn phân biệt được mùa hè với mùa đông. Những dấu hiệu biến đổi khí hậu do hiệu ứng nhà kính và các hoạt động làm ô nhiễm môi trường của con người mà trong thế kỷ 20 chúng tôi đã từng phớt lờ, giờ đây ngày càng nghiêm trọng. Chúng tôi đã được cảnh báo về việc phải bảo vệ môi trường, thế mà chẳng ai chịu khó lắng nghe.

Khi con gái tôi nằng nặc đòi bố kể chuyện về thời còn bé thơ của bố nó, tôi đã mô tả cho cháu nghe về vẻ đẹp của những khu rừng. Tôi mơ màng kể về những cơn mưa đầu mùa ướt đẫm, về những bông hoa nở rộ, về cảm giác dễ chịu khi được tắm mát, về những con cá quẫy nước dưới dòng sông, về những vùng hồ bát ngát xanh trong, và về cái thời mà tôi có thể uống bao nhiêu nước tùy thích. Tôi kể cháu nghe con người lúc ấy thật khỏe mạnh biết bao.

Con bé chợt gọi làm tôi tỉnh giấc mơ: “Bố ơi! Sao chúng ta không còn nước nữa?”.

Tôi chợt cảm thấy cổ họng khô khốc... Tôi chẳng còn gì để biện minh cho mặc cảm tội lỗi của mình vì tôi thuộc về một thế hệ đã hoàn thành công việc hủy hoại môi trường của chúng tôi, chỉ vì xem thường các cảnh báo ấy... Rất nhiều người đã có thái độ như thế!

Tôi thuộc về thế hệ loài người cuối cùng đã có thể cứu vớt hành tinh này, nhưng đã chọn cách thờ ơ và không hành động. Giờ đây, con cái chúng tôi phải trả giá quá đắt. Thành thật mà nói, tôi nhận ra rằng không bao lâu nữa Trái đất sẽ không còn là nơi thích hợp cho bất cứ sự sống nào nữa. Đó là vì những tác động hủy hoại môi trường của con người đã vượt quá mức không thể cứu vãn được nữa.

Ôi, tôi ước gì có thể quay trở lại quá khứ và giúp nhân loại hiểu được điều này... khi mà người ta vẫn còn kịp làm một điều gì đó để cứu lấy hành tinh này!

Hãy gửi lá thư này cho tất cả mọi người bạn gặp, và hãy bắt tay vào việc cảnh báo, dù là nhỏ bé, về một ý thức toàn cầu bảo vệ nguồn nước sạch. Đây không phải là một trò đùa mà đó đã là định mệnh của chúng ta. Hãy làm vì con cái bạn dù bây giờ bạn chưa có con, thì sau này bạn sẽ có... Đừng để lại di sản là một hỏa ngục... Hãy để lại sự sống cho các cháu!”.
--------------------------------------------------------------------------

Bài viết gốc: Baovietnam.vn
Sưu tầm từ bac LE VU, chủ blog nhulamotgiacmo's page
May 2013
M T W T F S S
April 2013June 2013
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31