Bài Thuyết Minh THÁP BÀ PONAGAR
Wednesday, July 8, 2009 4:33:00 PM
Tháp PôNagar (Tháp Bà) là một thắng cảnh và di tích kiến trúc hấp dẫn nằm trong thành phố Nha Trang. Tháp được xây dựng trên một khoảng đất khá bằng phẳng, rộng rãi của một quả đồi đá hoa cương, cao trên 10m so với mặt nước biển, ở làng Cù Lao thuộc địa phận phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang. Quả đồi này nằm ở phía Bắc cửa sông Cái (xưa gọi là cửa biển Cù Huân), bên trái có một xóm Chài, gọi là xóm Bóng - tương truyền đây là nơi đào tạo các trinh nữ cho múa bóng và những ngày tế lễ trên Tháp Bà.
Đây là một quần thể kiến trúc đền tháp Champa có qui mô vào loại lớn nhất còn lại ở miền Trung Việt Nam. Những bia ký có niên đại sớm nhất hiện còn ở đây (bia của Satyavarman, niên điểm 784) cho biết, từ trước đó, địa điểm này vốn đã là một trung tâm tôn giáo tín ngưỡng của thị tộc Cau - một trong hai nửa của vương quốc Chămpa sau này. Trong vòng một thế kỷ, dưới vương triều Panduranga (hay thời Hoàn vương, 758-859) nơi đây đã được xây dựng thành một thánh đường tôn giáo của quốc gia. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, về sau vị trí của khu đền tháp PôNagar này không còn như trước song nó vẫn luôn được các vương triều kế tiếp đặc biệt quan tâm, cả trong xây dựng lẫn việc thờ phụng vị thần được thờ ở đây cho đến ngày vùng đất Kauthara trở thành một bộ phận của quốc gia Đại Việt vào năm 1653. [/COLOR]
| Nhìn chung, những công trình xây dựng ban đầu ở khu di tích đền tháp này không còn nữa. 5 công trình kiến trúc hiện nay đều có niên đại từ thế kỷ 11-13 và đã qua tu sửa nhiều lần nhưng các nhà nghiên cứu vẫn nhận thấy ở Tháp Bà Ponagar những đặc điểm khá tiêu biểu về kiến trúc nghệ thuật của đền tháp Champa, trong giai đoạn chuyển tiếp từ Mỹ Sơn A1 sang phong cách Bình Định (từ thế kỉ X đến thế kỉ XIII). Mặt tiền của các tháp đều hướng ra biển Đông. Tổng thể kiến trúc gồm ba tầng, đi từ dưới lên trên. Tầng thấp ngang mặt đất bằng là ngôi tháp cổng mà nay không còn nữa. Từ đấy có những bậc thang bằng đá dẫn lên tầng giữa, nơi đây hiện chỉ còn hai dãy cột chính bằng gạch hình bát giác, mỗi bên 5 cột có đường kính hơn 1 thước và cao hơn 3 thước. Ở hai bên các dãy cột lớn có 14 cột nhỏ và thấp hơn, và tất cả lại nằm trên một nền bằng gạch cao hơn 1 thước. Dựa vào cấu trúc này người ta cho rằng đây vốn là một tòa nhà rộng lớn có mái ngói, là nơi để khách hành hương nghỉ giải lao và sắm sửa lễ vật trước khi lên dâng cúng ở các điện bên trên. Từ tầng giữa này, lại có một dãy bậc thang bằng gạch dốc hơn dẫn lên tầng trên cùng, cũng là nơi các tháp được xây dựng, ngay trước mặt ngôi tháp chính. Những bậc thang này từ lâu đã không hề được xử dụng. Bậc thang bằng đá ong mà ta thấy hiện nay ở phía nam tháp Bà rộng lớn hơn được xây vào thập niên 60 do nhu cầu du lịch gia tăng. Ở tầng trên, có hai dãy tháp được bao quanh bởi bốn bức tường đá mà nay chỉ còn lưu lại tường phía tây và nam mà thôi. Dãy tháp phía trước chỉ có 3 ngôi, và dãy phía sau vốn có dấu vết của 3 ngôi tháp khác, thế nhưng nay chỉ còn một. Tháp thờ chính khá lớn và cao khoảng 23 thước, là tháp Po Nagar, mà ta hay gọi là tháp Bà. Nguyên thủy chính là tháp thờ thần Parvati, vợ của Shiva (hay Xiva). Trên đỉnh tháp có tượng thần Shiva cỡi thần ngưu Nandin, và các tượng linh vật như chim thiên nga, dê, voi vv. Mặt ngoài tường tháp lại được trang trí bởi những hình điêu khắc vào đá như những vũ công, kẻ chèo thuyền, kẻ xay gạo hay kẻ đi săn với cung và tên. Cửa chính ở phía đông dẫn vào một tiền sảnh, ở hai bên cửa có hai trụ đá được khắc truyền ký, đỡ một phiến đá hiønh thuẩn có khắc hình nữ thần Durga đang múa giửa hai nhạc công. Bên trong tháp thì âm u và mát lạnh. Cuối tháp có một bệ thờ bằng đá bên dưới tượng Bà Po Nagar với mười cánh tay. Hai bàn tay dưới đặt trên hai đầu gối, các bàn tay khác thì cầm những vât dụng như đoản kiếm, mũi tên, chùy và cây lao ở bên phải và chuông, đĩa, cung và tù và ở bên trái. Là một quần thể kiến trúc phục vụ cho hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng theo quan niệm của Ấn Độ giáo, cho nên Tháp Bà được xây dựng giống như dinh thự của các vị thần Ấn Độ giáo ngự ở trung tâm thế giới trên núi Mêru và được thể hiện dưới dạng tượng thờ. Vì vậy, đền thờ- ngôi nhà của thần ở hạ giới- phải thể hiện như hình núi Mêru thu nhỏ. Trung tâm của bố cục bao giờ cũng là một tòa kiến trúc tháp hình khối chân vuông ở giữa rỗng tạo thành một điện thờ nhỏ. Tháp chính là một ngôi tháp có kiểu kiến trúc rất tiêu biểu của một ngôi tháp Chăm truyền thống. Đó là một khối có bình đồ vuông, có 3 tầng trên thu nhỏ theo một tỷ lệ thích hợp của tầng dưới, một tiền sảnh kéo dài về hướng Đông và 3 cửa giả ở ba mặt Tháp Nam lại có hình dáng khá đặc biệt so với các ngôi tháp ở đây. Đó là một khối vươn cao hình củ tỏi hay có người còn gọi là hình chuông úp, không có tháp tầng, chỉ có một tiền sảnh rất ngắn nhô ra ở hướng Đông và 3 cửa giả cũng không có những hình trang trí tiêu biểu. Tháp Đông Nam cũng mang dáng dấp của một ngôi tháp truyền thống song qui mô thật nhỏ bé, chỉ có một tầng, 3 cửa giả đến nay đã bị biến dạng và trở nên mờ nhạt, có một tiền sảnh ngắn nhô ra ở phía Đông. Tháp Tây Bắc lại là một ngôi tháp được thể hiện những yếu tố của nghệ thuật Chăm tương đối rõ ràng. Có lẽ yếu tố văn hóa Chăm, bản lĩnh và tâm hồn Chăm được thể hiện rõ nhất ở kiến trúc này. Tầng dưới cũng mang đầy đủ những đặc trưng của một ngôi tháp Chăm truyền thống với bình đồ vuông, với 3 cửa giả được trang trí hình người và động vật, một tiền sảnh ngắn kéo dài về hướng Đông. Song tầng trên lại là một khối đặc theo chiều Bắc-Nam với hình dáng của một chiếc yên ngựa hay nói chính xác hơn, đó là một chiếc thuyền – vốn là một hình ảnh rất quen thuộc đối với các nhóm cư dân Đông Nam Á. Bởi vậy, có người còn gọi kiểu kiến trúc này là ngôi nhà hình thuyền. Điều đặc biệt của tháp này chính là sự thích nghi của mô hình kiến trúc nhẹ với chất liệu của loại kiến trúc nặng. Nếu như trong loại kiến trúc với các loại vật liệu nhẹ như gỗ, tre … thì toàn bộ trọng lực của bộ mái sẽ trôi xuống các cột, sườn nhà; trái lại trong kiến trúc sử dụng các loại vật liệu nặng mà cụ thể là ở ngôi tháp này, thì phần mái rất nặng và toàn bộ trọng lực của phần mái được đè lên phần tường chịu lực. Đối với ngôi tháp này, phần mái là một khối đặc bằng gạch nung có thể tích khoảng 25m3 nằm trên không trung, cách mặt đất gần 7m mà gần một ngàn năm qua gió mưa chỉ làm hư hai phần đầu hồi một cách không đáng kể ở phía Bắc. Điều này khiến cho tháp Tây Bắc trở thành một trong những kiệt tác của nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chămpa ở Khánh Hòa. Nhìn vào tổng thể kiến trúc của các ngôi đền ở Tháp Bà Ponagar, chúng ta sẽ nhận ra một trong những nguyên tắc cơ bản trong kiến trúc Chămpa, đó là sự tuân thủ nghiêm ngặt đối xứng từ nhiều chiều, nhiều phía. Sự đối xứng đó được thể hiện qua việc bố trí các tầng tháp, các trụ ốp tường, các cửa giả và cùng với các trang trí bên ngoài tháp. Do tính chất đối xứng trong kiến trúc, các ngôi tháp này đã tạo nên sự cân đối của các tháp với những ấn tượng về sự uy nghi và hoàn mỹ của từng công trình cũng như trong tổng thể của khu đền tháp. Nhìn chung tháp Chăm thường rất chú ý đến chiều cao, từ vị trí kiến trúc đến chiều cao của từng công trình. Vào thời kỳ sớm, các đền tháp Chăm thường được xây dựng trong một thung lũng và ở gần kinh đô của vương quốc, như ở thánh địa Mỹ Sơn, Đồng Dương. Tuy nhiên, từ khoảng thế kỷ thứ 9 trở đi, do chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Khmer về tính hoành tráng cho nên những đền thờ của Chămpa thường được xây dựng trên đồi cao và luôn luôn hướng về phía Đông . Có thể do nhiều yếu tố, người Chăm không thể xây dựng những ngôi đền tháp thật cao, như kiến trúc Bôrôbuđu ở Indonesia, hay khu đền Angkor của Cămpuchia … Điều này có thể giải thích là do sử dụng các loại vật liệu để xây dựng mà chủ yếu là bằng gạch nung cho nên không thể xây dựng những công trình có qui mô như những kiến trúc kể trên. Để giải quyết vấn đề này, người Chăm đã đưa ra một phương án có thể nói là tối ưu, đó chính là xây dựng các công trình trên những đồi cao. Được đặt trên những đồi cao, khiến cho người chiêm ngưỡng phải hướng lên phía trên và điều này hoàn toàn phù hợp với mục đích xây dựng, khi mà các tháp Chăm luôn thể hiện trên một không gian có chiều cao. Các tháp trong khu tháp Bá Ponagar này như ngôi tháp chính có chiều cao là gần 22m; tháp Nam cao 18 m. Đồng thời, bằng những thủ thuật kiến trúc như những trụ ốp tường, những mảng khối rõ nét, các cửa giả và những trang trí trên thân tháp cũng như việc xây dựng những tầng trên, là hình ảnh mô phỏng của tầng dưới được thu nhỏ dần mà trên đỉnh luôn là một phiến đá sa thạch hình trụ tròn (biểu tượng linga) tạo cho tháp Chăm một vẻ hoành tráng và cao vút trong không trung. Không chỉ có những biện pháp xử lý về mảng khối và các trang trí bên ngoài mà cả những kỹ thuật xử lý bề mặt bên trong các tháp cũng tạo ra hiệu quả rất lớn về chiều cao của tháp. Đó là việc xây vách thẳng đứng theo đúng tỷ lệ chiều cao của thân tháp và được xây giật cấp theo từng nấc nhẹ chụm dần lên đến đỉnh càng tạo ra cảm giác cao thăm thẳm của mỗi công trình. CÁC KHỐI KIẾN TRÚC Đế tháp: Đế tháp là bộ phận cơ bản và mang tính chất quyết định đến chất lượng bền vững của toàn bộ kiến trúc bên trên. Ở Tháp Bà, hầu hết phần móng dưới cùng của các đế tháp được xây dựng trên cơ sở của những khối đá tảng tự nhiên, hoặc đã được qua xử lý cho phù hợp với địa hình và qui mô của kiến trúc; lớp trên được rải một lớp cát xây dựng, tạo ra sự ổn định của mặt bằng tầng đế. Trên cùng, phần nổi mà chúng ta nhìn thấy hiện nay chỉ là những hàng gạch nung được xây theo phương pháp xếp gạch liền mạch, giữa chân và mặt đế có các đường gờ xây giật cấp so le nhau thu dần vào giữa đối xứng nhau tạo nên những ô hộc khối chìm phân bố đối xứng. Do phải chịu một lực nén khổng lồ của phần thân và mái tháp phía trên đè xuống, tất nhiên độ dày của tường tháp cũng đã chịu một phần quan trọng, nhưng để tránh tình trạng bị lún, gây ra sự nứt gãy của kiến trúc phía trên nên các đế tháp được xây một cách vững chãi, chắc chắn. Thân tháp: Cửa dẫn ra vào lòng tháp mở về hướng Đông hình thành một kiến trúc riêng gần như độc lập với thân tháp chính. Kích thước vòm cửa dẫn dài 6,74m, rộng 5,79m, phần đế thể hiện như đế tháp nhưng kích thước nhỏ hơn. Thân cửa cao 7,4m, trước cửa là hai cột đá khối hình chữ nhật cạnh vuông vức dài 3,15m, phía trên là hình lá đề nhọn 3 lớp nhô ra áp vào bộ mái vòm cửa dẫn, mi cửa có tấm phù điêu thể hiện hình ảnh thần Siva múa, phía dưới là hình ảnh hai nhạc công. Hai bên hông cửa là hệ thống cột góc, mỗi cột tách làm hai thể hiện cột kép cách nhau một dải khe hẹp, hai cột góc cách nhau một khung gờ chạy dọc gồm nhiều lớp gờ ăn sâu vào tường, chính giữa là một gờ nổi nhô cao lên. Cửa giả là bộ phận kiến trúc bên ngoài và như tên gọi của nó thì kiến trúc nàychỉ có tác dụng trang trí thân tháp. Cửa giả được xây dựng trên ba mặt tường còn lại của thân tháp đối xứng với nhau. Cửa giả tháp chính gồm hai lớp cột nhô ra đỡ hai vòm cửa hình mũi lao nhọn chồng lên nhau. Cửa giả tháp Nam gồm ba lớp cột nhô dần ra đỡ phía trên là vòm cửa hình lá đề nhọn chồng lên nhau và nhô ra. Cửa giả tháp Tây Bắc không nhô ra khỏi thân nhiều lắm và được thể hiện nổi bật chủ đề chính trang trí trong vòm cửa. cửa giả phía Bắc thể hiện hình ảnh con sư tử đứng với gương mặt dữ tợn, mắt lồi to, răng nanh lởm chởm; cửa giả phía Tây thể hiện vị nữ thần cưỡi trên đầu voi; cửa phía Nam tạc chim thần Garuđa đứng trên bệ hình khối vuông, phía sau lưng là tấm tựa hình lá đề nhọn Cột góc tháp chính được tách làm hai cách nhau một khe hẹp, mặt cột để trơn không trang trí Diềm mái là bộ phận kiến trúc phân chia giữa thân và mái kiến trúc. Diềm mái tháp chính có nhiều lớp gờ nhô ra, lớp gờ cuối giáp tầng mái tạc dải tràng hoa treo uốn lượn. Điểm góc tháp có thể coi là một bộ phận kiến trúc độc lập với hai khả năng: chịu lực cho phần mái kiến trúc và chức năng trang trí. Đây là thành phần không thể thiếu trong kiến trúc. Bộ phận này được chế tác riêng biệt, khi xây dựng kiến trúc, nó được gắn vào vừa tăng thêm độ bền vững, vừa làm đẹp cho công trình xây dựng.nó được chế tác bằng chất liệu đá. Ở tháp chính thì điểm góc là hình tiên nữ Apsara được thể hiện khá đẹp,gương mặt tươi tắn, hai tay chắp trước ngực thành kính, có hoa văn móc xoắn hướng lên hình ngọn lửa Mái tháp là bộ phận kiến trúc trên cùng của kiến trúc đền tháp Chăm. Mái tháp chính có nhiều tầng thu nhỏ dần lên cao. Mỗi tầng trên lại lặp lại những hình ảnh trang trí của tầng dưới nhưng nhỏ dần đi và cuối cùng tụ lại vào một đỉnh nhọn vươn cao. Một mái vút cao ở phía trên gian điện thờ được xây theo kiểu so le giật cấp kéo thẳng lên đến tận đỉnh . Đỉnh là một viên đá hình trụ, biểu tượng của một linga. Mái tháp Nam là loại hình bộ mái khá đặc biệt trong kiến trúc tháp Chăm. Nó có hình dạng khối tròn thu nhỏ dần lên cao như cái nắp chuông Bộ mái tháp Tây Nam có cấu trúc uốn cong hình yên ngựa với hai đầu đốc đông tây thể hiện hình lá đề Mặt ngoài : Mặt tường ngoài các tháp đều được trang trí những trụ ốp tường (thường có 5 hàng trụ) với những đường gờ chìm, nổi theo một tỷ lệ hợp lý chạy dọc theo thân tháp đến tận đường diềm phía trên. Trên thân tháp có 3 cửa giả ở 3 mặt : Bắc, Tây, Nam và trong những cửa giả này có những trang trí hình người, động vật. Càng lên cao là 3 tầng tháp nhỏ dần theo một tỷ lệ hợp lý, có cấu trúc giống như một ngôi tháp bên dưới, có những hình trang trí rất tỉ mỉ. Trên các tầng có nhiều tượng thần và các góc tháp thường có hình ảnh của các thiên nữ Apsara được gắn vào . Mỗi tầng trên lại lặp lại những hình ảnh trang trí của tầng dưới nhưng nhỏ dần đi và cuối cùng tụ lại vào một đỉnh nhọn vươn cao. Một mái vút cao ở phía trên gian điện thờ được xây theo kiểu so le giật cấp kéo thẳng lên đến tận đỉnh . Đỉnh là một viên đá hình trụ, biểu tượng của một linga. Phía Đông là một tiền sảnh kéo dài và cũng là cửa duy nhất để đi vào điện thờ. Những yếu tố đặc trưng này đều được thể hiện ở tất cả các ngôi tháp còn lại ở đây. Mặt trong : Để đi vào bên trong, cho dù dài hay ngắn thì tất cả các tháp ở đây đều có một hành lang khá hẹp, hơi tối vì thiếu ánh sáng dẫn thẳng vào gian điện thờ. Ở những tháp lớn như tháp chính (kalan A), và tháp Nam (kalan B), khi mà tiền sảnh là một thân tháp phụ được gắn vào thân tháp chính ở phía Tây luôn có sự ngăn cách giữa gian ngoài và gian bên trong ( gian điện thờ ) là 1 hoặc 2 lớp cửa bằng gỗ. Bên trong kalan là một gian điện thờ có bình đồ vuông rất chật, ở chính giữa gian điện, người ta để một tượng thần hoặc một ngẫu tượng thờ như linga-yoni và bao quanh là những bức tường gạch. Phần vách tường có thể nhận thấy có hai phần rõ rệt. Phần dưới, có độ cao tương ứng với chiều cao của thân tháp, trên các vách tường thẳng đứng thường để trống không có trang trí nào, ngoại trừ một vài hốc để đèn được khóet vào vách tường. Phần phía trên là những hàng gạch được xây theo kiểu giật cấp, so le nhau với một tỷ lệ vừa phải nghiêng dần vào phía trong, tạo nên một vòm mái khum dần vào trong và vươn lên chụm vào một điểm cao nhất của kiến trúc. Tuy nhiên, từ điểm xuất phát của phần trên chỉ có hai vách tường phía Bắc và Nam là được kéo dài lên với kỹ thuật xây dựng như đã nói, còn phần vách của các mặt Đông, Tây vẫn kéo dài lên đến đỉnh theo chiều thẳng đứng và được thu nhỏ dần lại tương xứng với độ khum của 2 vách Bắc Nam. Điểm chụm vào nhau của bốn vách tường cũng chính là đỉnh của ngôi tháp. Với những đặc điểm nêu trên có thể nhận thấy, dù cho các ngôi tháp còn lại ở khu di tích Tháp Bà Nha Trang có thể không thật giống nhau về hình thức, qui mô kiến trúc, có tháp 3 tầng, tháp 2 tầng (mái) và có tháp chỉ là một khối thẳng vươn lên trời song tất cả những kiểu thức kiến trúc cơ bản của một ngôi tháp Chăm truyền thống đều được qui tụ và thể hiện ở trong từng kiến trúc cụ thể, tùy theo từng ngôi tháp được xây dựng vào những thời gian khác nhau, mang theo phong cách kiến trúc của mỗi thời kỳ khác nhau tạo nên dáng vẻ bên ngoài có khác nhau. Chính điều này đã tạo cho từng kiến trúc trong quần thể Tháp Bà Nha Trang một vẻ độc đáo về nghệ thuật, sự phong phú về loại hình, mang đậm dấu ấn của mỗi thời kỳ trong lịch sử nghệ thuật Champa; đồng thời còn được tôn lên rõ ràng hơn trong từng ngôi tháp, trong từng mảng khối, đường nét cụ thể. NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ: Nghệ thuật trang trí, điêu khắc trên kiến trúc Chămpa luôn phát triển cùng với kỹ thuật xây dựng kiến trúc hoặc dựa trên cơ sở phát triển của kỹ thuật xây dựng. Trang trí và kiến trúc luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau; nghệ thuật điêu khắc trang trí thể hiện trên các tháp Chăm được kết hợp nhuần nhuyễn với kiến trúc, tạo cho các ngôi đền tháp có vẻ hài hòa và độc đáo. Kỹ thuật xây dựng và nguồn cảm hứng tôn giáo làm cơ sở cho nghệ thuật trang trí, đồng thời nghệ thuật điêu khắc trang trí cũng thể hiện phù hợp với trình độ kỹ thuật xây dựng, thúc đẩy kỹ thuật xây dựng phát triển để đáp ứng nhu cầu của thẩm mỹ tôn giáo. Cho nên, ở Tháp Bà tất cả các tháp đều được trang trí trên cả 3 phần : đế, thân và mái tháp. 1- Trang trí trên đế: Đế tháp Chăm không chỉ có tác dụng nâng đỡ tòan bộ cấu trúc tháp mà nó còn là một bộ phận hữu cơ tạo nên sự hoàn chỉnh của kiến trúc đền tháp. Chính vì vậy, ngoài chức năng đảm bảo sự bền vững lâu dài của công trình, bản thân các đế tháp cũng là đối tượng để các nghệ nhân Chăm thể hiện trên đó những trang trí nghệ thuật theo những chủ đề theo Ấn Độ giáo. Chính những trang trí nghệ thuật trên phần đế tháp, đã trở thành một trong những tiêu chí khá quan trọng để phân biệt giữa các thời kỳ xây dựng và các phong cách kiến trúc nghệ thuật ở các đền tháp Champa. Với chất liệu cơ bản là gạch nung, đây cũng là điều kiện tương đối thuận lợi cho việc trang trí nghệ thuật trên phần đế của mỗi ngôi tháp. Ở khu di tích Tháp Bà Nha Trang, những trang trí nghệ thuật trên phần đế khá đồng nhất. Đó là những đường gờ nhô ra, thụt vào ở hai mép phía trên và dưới cùng của đế theo kiểu giật cấp nhẹ theo một tỷ lệ hợp lý. Hầu như ở trên hai mép này được uốn cong đối xứng nhau theo kiểu bát úp, tạo nên sự mềm mại và duyên dáng cho bộ phận đế trở nên nhẹ nhàng hơn. Bên trong có những ô trang trí hình mắt lưới cùng những hình hoa sen cách điệu tạo thành những đường kỷ hà thật đẹp mắt. Những trang trí trên đế tháp cho đến nay còn được thể hiện một cách đầy đủ nhất ở tháp chính và tháp Nam. Ở chân tường tháp Chăm có một bộ phận trang trí khá đặc biệt, không hề thấy ở một nền nghệ thuật nào khác, đó là hình trang trí áp. Hình áp thể hiện như một bệ thờ nhỏ, phía trên là hình lá đề nhọn nhiều lớp nhô ra, giữa thắt tạo trụ, đế nhô dần ra cân xứng với phần lá đề phía trên. Mặt lá đề khắc tạc hoa văn móc xoắn uốn đối xứng hai bên nhiều lớp nhỏ dần thu vào gữa.Hình trang trí này hầu như không gắn bó với toàn bộ bố cục của tháp song chính bộ phận này đã đem đến cho tháp Chăm sự cân đối, khỏe khoắn và thật sự mềm mại, duyên dáng. 2- Trang trí trên thân tháp: Trên thân những ngôi tháp Chăm luôn có những trang trí theo những chủ đề khác nhau, theo những đặc điểm của từng giai đoạn khác nhau song lại thống nhất với nhau về phong cách thể hiện. Nếu như ở các giai đoạn trước thế kỷ 10, những trang trí hoa văn hoa lá, động vật là dày đặc thì đến giai đoạn sau này những trang trí trên đã biến đổi theo xu hướng đơn giản hơn. Tháp chính (Kalan A) mang đầy đủ những đặc trưng của phong cách chuyển tiếp thế kỷ 11, bởi vậy đây là một ngôi tháp tiêu biểu nhất cho toàn bộ các kiến trúc tháp ở đây khi tìm hiểu về những đặc trưng kiến trúc cũng như nghệ thuật. Tầng dưới cùng làm thành cái vỏ cho gian điện, bên ngoài có những hình ốp có trang trí nằm giữa hai bộ gờ trên và gờ dưới. Tường không trơn nhẵn mà nổi lên hàng loạt gờ dài dẹt, ngăn cách nhau bằng những mặt lõm rộng. Các phần nổi có như những cột ốp, còn phần chìm giữa hai cột ốp cũng tạo thành một bộ phận đặc biệt – mặt giữa của các trụ ốp. Đó là những trụ bổ tường, hệ thống cột ốp không có trang trí, cửa vòm có 3 lớp kiểu ngọn giáo nhô lên đến tận mái diềm, trên phần cửa ra vào có những lá nhĩ hình ngọn giáo bằng đá thể hiện cho vị thần chính được thờ trong tháp. Mỗi mặt tường có năm cột ốp cao thon thả và trang nhã. Tính thanh thoát của các cột ốp còn được nhấn bởi một đường rãnh dọc chạy suốt cả thân cột. Thân các cột ốp đều có một hình áp có hai thân và hai trán hình ngọn lửa. Khoảng tường giữa các cột ốp cũng được chạm khắc thành một đường rãnh lõm hình chữ nhật đứng để làm nổi lên đường gờ dài ở chính giữa. Trụ ốp và mặt giữa các trụ ốp gắn vào bộ gờ chân và bộ diềm mái (hay gờ đinh) bằng một sự đối xứng : hình cung lõm ở chân và hình cung lồi ở phần trên (diềm mái). Ngoài cột ốp, mặt giữa các cột ốp, diềm và chân, trên vách tường của các ngôi tháp ở đây thường được trangh trí bằng 3 cửa giả. Cũng như các hình áp chân cột, các cửa giả nằm chính giữa các mặt tường là một cấu trúc lớn có hai thân nhô ra và vút cao lên như hình mũi giáo. Bên trong cửa giả có những phù điêu nửa nổi với các chủ đề về người và động vật được thể hiện trên gạch- vật liệu xây tường. Có thể nói, một trong những điểm sáng chói của nghệ thuật chạm khắc trên gạch của người Chăm đã được bộc lộ đầy đủ nhất ở mảng trang trí này. Dấu vết của các phù điêu này ở Tháp Bà cho thấy, nghệ thuật chạm khắc được tiến hành trực tiếp trên gạch. Và như vậy, phải có sự khéo léo và tinh tế đến từng chi tiết mới không làm hỏng các tác phẩm nghệ thuật này và đây là công việc rất khó. Việc thực hiện các đồ án trang trí theo hình mẫu có sẵn dưới đất đã khó nhưng việc chạm trực tiếp lên tường gạch đã xây rồi là việc làm còn khó hơn nhiều. Nếu có những sai sót hoặc bị hư hỏng thì không có điều kiện để sửa chữa. Trong khi đó, những phù điêu loại này ở Tháp Bà được thể hiện một cách hài hòa, hợp lý trong hình khối, sinh động trong từng động tác khiến cho cả một khối gạch vô tri như chuyển động cùng với những động tác của người hoặc các con vật đứng trong đó. Cửa ra vào phái Đông là cả một cấu trúc hình tháp gắn vào mặt tường. Tháp cửa có hình dáng và cấu trúc hệt như tháp chính nhưng chỉ có ba tầng, không có hình áp ở các chân cột ốp và trong các ô cửa giả không có hình người đứng. Cửa ra vào tách khỏi tháp cửa thành một tiền sảnh. Ở lối vào có hai trụ cửa bằng đá hình chữ nhật khắc đầy bia ký, đỡ một mi cửa trơn. Bên trên là một trán cửa bằng gạch, hai thân, ôm lấy một phiến đá hình cung nhọn có hình nữ thần đang múa giữa hai nhạc công. Đáng tiếc là mặt tiền của ngôi tháp chính đã bị hư hại nhiều và đã được tu sửa nhưng lại sửa không đúng. Điều này dẫn đến sự cảm thụ mỹ cảm ở đây bị giảm đi rất nhiều và muốn thấy rõ hình dáng và vẻ đẹp thực sự của ngôi tháp, chúng ta phải đứng nhìn từ phía sau của tháp. 3- Trang trí trên mái tháp: Nếu như những trang trí trên đế tháp có vẻ giản đơn, thì đến phần thân tháp đã có những chuyển biến mang tính chất khá đặc trưng của từng giai đoạn nghệ thuật nhất định. Có thể nói, mái tháp là nơi tập trung tinh hoa nghệ thuật trang trí nhiều nhất, điển hình nhất của tháp Chămpa. Tiêu biểu nhất ở khu di tích Tháp Bà chính là những trang trí nghệ thuật được tập trung thể hiện một cách hoàn chỉnh ở tháp chính (kalan A). Bộ diềm mái được hoàn chỉnh ở bên dưới bằng một dải chạm khắc kiểu hoa dây, các góc được tô điểm bằng những phiến đá góc và những hòn đá chèn. Đá góc là những phiến đá mỏng gắn dọc theo mặt chéo, có tác dụng củng cố cạnh góc. Còn đá chèn có tác dụng đỡ các góc của mặt phẳng lớn trên đỉnh diềm mái. Chính những phiến đá góc là một trong những hình trang trí thành công nhất và đặc trưng nhất của nghệ thuật trang trí kiến trúc Chăm (VHCP:119). Những phiến đá này ở Tháp Bà thường được khóet thủng, nổi bật một cách táo bạo và duyên dáng trên bề mặt chéo của bộ diềm mái. Đồng thời, những phiến đá góc ở Tháp Bà cũng mang những đặc điểm khá riêng biệt mà trước đây khi so sánh với những tháp khác H. Parmentier đã nhận ra (5:19). Những phiến đá góc ở Tháp Bà về cơ bản có hình ngọn lửa, những hình thủy quái Makara và nhất là hình những thiên nữ Apsara. Các thiên nữ ở đây được làm bằng đá và được thể hiện mang tính nghệ thuật rất cao. Toàn bộ thân tượng được gắn vào thân tháp bằng một đuôi cá, thân hình vươn lên trời cao. Mặc dù chỉ mang tính trang trí, song những bộ phận cơ bản như đầu và thân (từ ngực trở lên) lại được tạo tác thật tỷ mỉ, chau chuốt theo cùng một mô típ thể hiện những thiên nữ đầy sức sống với hai tay cầm bông sen chắp trước ngực, nét mặt tươi vui như khẳng định niềm hạnh phúc vĩnh hằng của cõi thần linh. Trên mặt phẳng lớn của bộ diềm nhô lên một lớp gờ lượn. Ở bốn góc của diềm mái có 4 mô típ đứng vây lấy tầng trên. Các bộ phận nóc ở góc này có thể được coi như những tháp con thật sự. Chúng cũng được trang trí giống như những ngôi tháp truyền thống, có nghĩa cũng có những cửa giả, có phần mái tầng theo một tỷ lệ thu nhỏ dần và cửa của những tháp con này cũng tương ứng với toàn bộ hệ thống cửa của các tầng dưới. Sự có mặt của những con vật bằng đá trên mái : những con chim lớn trên mái bằng của thân chính; những con dê trên mái tầng một; những con hạc (con ngỗng Hamsa?) đang dang cánh trên tầng hai; những con voi đang bước, đầu quay lại ở tầng ba… Những hình động vật trên mái tháp tầng ở ngôi tháp chính này hình như mở đầu cho một phong cách trang trí mới ở Chămpa từ thế kỷ 10-11 trở đi và đây cũng là một trong những nét đặc trưng rất dễ nhận thấy của khu di tích Tháp Bà. =>Nhận xét : Như vậy là, với 5 công trình kiến trúc còn lại ở quần thể di tích Tháp Bà Nha Trang những yếu tố văn hóa, thẩm mỹ và cá tính Chăm được bộc lộ một cách tương đối rõ nét. Bản thân các tháp Chăm là một khối gạch đồ sộ được dựng lên cho nên vốn đã nặng nề, cục mịch nhưng bằng tài năng tuyệt vời của mình, người nghệ nhân xưa đã thổi vào đây một luồng sinh khí mới. Bằng các biện pháp xử lý về mặt bằng xây dựng, bố cục của các tháp; những giải pháp vừa mang tính kỹ thuật, vừa mang tính mỹ thuật như chiều cao, bề rộng … với chất liệu chủ yếu là gạch. Cùng với các trang trí ở đế và thân tháp, hệ thống cửa giả và tiền sảnh … thì những trang trí trên mái tháp cũng được hoàn thiện ở mức cao nhất và đó chính là một quá trình sáng tạo nghệ thuật mang đầy đủ những phẩm chất của văn hóa Chăm. Điều này dẫn chúng ta đến một nhận xét khá lý thú: những cái hay, cái đẹp ở tháp Chăm không phải chỉ ở qui mô to hay nhỏ, ở chiều rộng hay chiều cao của kiến trúc mà cái đẹp ở đây còn được biểu hiện ở những đường nét độc đáo, mảng khối tiêu biểu cũng như bản sắc dân tộc được gìn giữ và đưa vào một công trình mang tính chất tôn giáo một cách hợp lý, hài hòa và tinh tế hoàn toàn có thể chấp nhận được. Chính điều này đã góp phần làm cho nghệ thuật Chăm chính là nghệ thuật Chăm, không phải là sự sao chép thô kệch để rồi đánh mất chính bản sắc của dân tộc mình. Khi xem xét một cách tương đối đầy đủ những đặc điểm về kiến trúc nghệ thuật trên đây thì khu đền Tháp Bà (Pô Nagar) ở Nha Trang có thể là một trong những ví dụ khá tiêu biểu và điển hình của nghệ thuật xây dựng đền tháp Chămpa trong giai đoạn lịch sử này. Bởi vậy, khu di tích Tháp Bà ở Nha Trang là một trong những quần thể kiến trúc đền tháp Chămpa chứa đựng và bảo lưu được nhiều yếu tố về kiến trúc, nghệ thuật trong phong cách chuyển tiếp từ Mỹ Sơn A1 sang phong cách Bình Định ở miền Trung Việt Nam cho đến ngày hôm nay. [/COLOR] |











Unregistered user # Wednesday, December 2, 2009 1:34:31 PM
Unregistered user # Tuesday, January 19, 2010 2:29:11 AM
Unregistered user # Sunday, January 31, 2010 11:45:51 AM
Unregistered user # Monday, February 1, 2010 3:26:56 AM
Unregistered user # Monday, February 1, 2010 10:30:19 AM
Unregistered user # Thursday, February 25, 2010 6:38:44 AM
Unregistered user # Thursday, February 25, 2010 6:39:41 AM
Unregistered user # Thursday, March 4, 2010 2:17:21 PM
Unregistered user # Monday, March 22, 2010 2:45:55 AM
Unregistered user # Wednesday, May 19, 2010 2:22:26 AM
Unregistered user # Monday, December 20, 2010 11:01:40 AM