Conecting people!

Buồn quá, sao không ai cm vậy ???????????

Subscribe to RSS feed

Sticky post

Thông tin chung ^^!

Bạn là kẻ đột nhập thứ
web tracking stats
hãy để lại dấu vết cho tui tiện điều tra ngen,hihi!!!

ImageChef.com - Custom comment codes for MySpace, Hi5, Friendster and more
Tớ đang Hiện cóweb tracker đang xem trang của tớ.

Sticky post

Giá như có một điều ước!!

Sticky post

Đây là lần đầu tiên làm blog!




Gia đình chúng tôi xin chân thành cảm ơn !
Đảng,chính phủ,các cấp chính quyền và bà con hàng xóm đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi xây dựng lên ngôi nhà mà chúng ta đang đứng đây!
Ngôi nhà được khởi công xây dựng vào ngày ?/10/2008.
Được xây theo kiến trúc tổng hợp do kiến trúc sư "Tôi" đã có công đi ăn trộm và sau 1 thời gian nghiên cứu và cắt ghép của nhiều kiến trúc sư khác mới xong được phần thiết kế !
Công trình thi công trong vòng 0.0833333333333...ngày thì xong!
Tuy đã xây xong nhưng vẫn còn ngổn ngang và bừa bộn!
Sắp tới gia đình tôi sẽ khai trương và đưa vào sử dụng tầng 2 của ngôi nhà!
Nơi đây dành cho tất cả những ai yêu thích và đam mê nhạc Rap
Mong nhận được sự giúp đỡ của các cấp chính quyền cũng như bà con hàng xóm!
Xin chân thành cảm ơn ! Và chúc giáng sinh vui vẻ!!!!!!!! readmore đi, đừng lười...

Read more...

Edited

NƯỚC SẠCH VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Trần Duy Luật – K45/01.01





Năm 2010 là năm cuối cùng chúng ta thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn ( NS & VSMTNT ) giai đoạn 2006 - 2010. Bên cạnh những hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường đã đạt được như :

Hiệu quả về kinh tế:

- Tạo điều kiện hình thành các cụm dân cư phát triển tập trung theo từng nghề đặc thù như chăn nuôi, sản xuất nông nghiệp, làng nghề truyền thống.

- Khi đã có đủ nước sạch , môi trường sống hợp vệ sinh hơn sẽ giảm được thời gian đi lấy nước của người dân, từ đó giúp họ dành thời gian cho sản xuất góp phần nâng cao điều kiện kinh tế gia đình.

- Hạn chế tình trạng bệnh tật trong dân cư, đặc biệt là các bệnh có lien quan đến nước và vệ sinh như thương hàn, tiêu chảy, lỵ , sốt rét… từ đó sẽ giảm chi phí phải mua thuốc và chữa trị bệnh tật.

Hiệu quả về xã hội:

- Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn.

- Hình thành nếp sống văn minh, hợp vệ sinh, hạn chế sự chênh lệch về điều kiện về sinh hoạt giữa nông thôn và đô thị, giữa các vùng nông thôn với nhau; góp phần hạn chế sự di dân ồ ạt vào đô thị và di cư tự do ở các vùng khan hiếm nước; hạn chế tình trạng mất vệ sinh nghiêm trọng đang diễn ra tại nhiều vùng.

Hiệu quả về môi trường:

- Thực hiện chương trình sẽ khắc phục được cơ bản nạn ô nhiễm môi trường; bảo vệ chất lượng các nguồn nước, đặc biệt là khắc phục được tình trạng khai thác, sử dụng bừa bãi, gây cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước ngầm.

- Giải quyết tình trạng ô nhiễm do phân người và gia súc gây ra góp phần làm đẹp cảnh quan, sạch đường làng ngõ xóm.

Tuy nhiên bên cạnh những hiệu quả đạt được như vậy, còn không ít những hạn chế, thiếu sót cần giải quyết, cụ thể:

- Thứ nhất, tỉ lệ người dân ở nông thôn được sử dụng nước sạch hiện khoảng 79%, trong đó chỉ có 39% đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Y tế, còn cách khá xa so với mục tiêu 85% phải đạt được vào năm 2010 trong khi tỉ lệ dân số được sử dụng nước sạch tăng lên không quá 1% mỗi năm. Như vậy trong năm 2010, chúng ta khó có thể đạt được mục tiêu đề ra cho giai đoạn 2006 – 2010.

- Hạn chế tiếp theo đó là hàng loạt các công trình cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn khi xây dựng xong lại không đi vào hoạt động phục vụ người dân mà “ đắp chiếu” dẫn tới hao mòn, hỏng hóc rất nhanh do không được vận hành, bảo dưỡng.

“Tỉnh Hải Dương hiện có 33 công trình cấp nước sạch nông thôn hệ tập trung trong đó, có chín công trình bị “đắp chiếu” từ nhiều năm nay, với tổng vốn đầu tư của nhà nước hơn 11,8 tỷ đồng”. (kientruc.vn)

* Nguyên nhân của thực trạng trên là do đâu???

Chúng ta thấy rằng hạn chế thứ 2 có ảnh hưởng trực tiếp tới việc tỉ lệ người dân được sử dụng nước sạch ở nông thôn còn thấp so với kế hoạch và chất lượng nước còn thấp, chưa đạt tiêu chuẩn của bộ y tế. Vì vậy trước tiên, chúng ta cần đi tìm nguyên nhân của hạn chế này.

Thông qua khảo sát tại một số địa phương, chúng ta thấy được: Nguyên nhân chủ yếu là các xã có công trình không huy động được nguồn vốn đối ứng của nhân dân. Vì vậy, mặc dù công trình đã xây dựng xong nhưng người dân lại không đầu tư để dẫn nước về nhà. Tìm hiểu thêm về vấn đề này, qui định đối với việc xây dựng công trình cung cấp nước sạch tập trung trước đây thì nhà nước đầu tư 60% kinh phí để xây dựng công trình đầu mối và 40% còn lại là do địa phương và nhân dân đóng góp. Khi triển khai các dự án, Ủy ban nhân dân các xã có dự án đều có cam kết huy động đủ số vốn đối ứng. Trên thực tế thì các xã đều vi phạm cam kết này, vì vậy trách nhiệm chính thuộc về UBND các xã. Tuy nhiên, lãnh đạo các xã cũng có cách giải thích riêng của mình. Ông Trần Xuân Nhuận, chủ tịch UBND một xã có công trình nói : “Để đưa nước sạch từ trạm về trung tâm xã mất 700 triệu đồng để đầu tư 3,5 km đường ống chục chính. Để có nước sạch về nhà thì mỗi hộ dân phải đầu tư gần hai triệu đồng. Với mức kinh phí này thì ngân sách xã không có khả năng và điều kiện kinh tế của bà con còn khó khăn.”. Qua đây ta cũng thấy được, kinh tế nông thôn còn nhiều khó khăn, nhất là đối với các xã thuần nông, không có nguồn lực để phát triển kinh tế, đời sống nhân dân còn nghèo khó,đây cũng là nguyên nhân dẫn tới tỉ lệ người sử dụng nước sạch ở nông thôn tăng một cách chậm chạp.

Còn một số nguyên nhân khác nữa như: Chất lượng của công trình quá kém do sự thiếu trách nhiệm của chủ đầu tư…v.v…

Xoay quanh vấn đề này, cũng có nhiều giải pháp được đưa ra. Sau đây là những giải pháp được cho là phù hợp để giải quyết tình trạng này:

- Thứ nhất, với những xã nghèo, thuần nông, không có nguồn lực để phát triển kinh tế, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Đề nghị Nhà nước hỗ trợ thêm kinh phí từ nguồn ngân sách để xây dựng và lắp đặt đường ống trục chính dẫn tới các ngõ, xóm và giao cho xã vận động người dân nối mạng nước sạch để sử dụng, phát huy hiệu quả của công trình.

- Thứ hai,đối với những công trình đã bị hư hỏng, hao mòn về thiết bị. Đề nghị Trung tâm nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn của Tỉnh sẽ phối hợp với các xã có công trình, hỗ trợ kĩ thuật để sửa chữa kịp thời bảo đảm sự hoạt động của công trình. Với những công trình có chất lượng kém, yêu cầu chủ đầu tư có biện pháp khắc phục để sớm đi vào hoạt động. Bên cạnh đó, lãnh đạo các xã bằng mọi cách cần huy động đủ vốn đối ứng của người dân, để có thể đưa công trình vào sử dụng.

- Thứ 3, theo quyết định số 104/2000QĐ-TTg :” Xã hội hoá lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn là vận động và tổ chức, tạo cơ sở pháp lý để khuyến khích sự tham gia của nhân dân, của các thành phần kinh tế và toàn xã hội vào sự phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn nhằm nâng cao điều kiện sống và tăng cường sức khoẻ cho dân cư nông thôn”

Cụ thể là :

- Dưới góc độ của Tài chính Công, ban hành các chính sách khuyến khích xã hội hoá. Cụ thể, hỗ trợ các khoản thuế, phí, lệ phí, hỗ trợ tín dụng, bảo hiểm nhằm khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia phát triển cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn theo định hướng của nhà nước.

- Các cơ quan của Chính phủ trong phạm vi quyền hạn của mình cần sớm ban hành các chính sách liên quan về thủ tục hành chính, thủ tục cấp phép, về đất đai.....tạo điều kiện tốt nhất để các tổ chức và cá nhân tham gia vào lĩnh vực này, đẩy mạnh xã hội hóa.

- Các tổ chức xã hội khác: Tuyên truyền - giáo dục, nhằm nâng cao nhu cầu dùng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh, nâng cao sự hiểu biết của người dân về vệ sinh và mối liên quan giữa cấp nước - vệ sinh với sức khoẻ và sự phát triển xã hội.

- Hoạt động tuyên truyền - giáo dục được thực hiện ở tất cả các cấp thông qua mạng lưới đài truyền hình, phát thanh, báo chí ở Trung ương và địa phương, các đoàn thể xã hội, nhà trường và mạng lưới tuyên truyền viên tại cơ sở.

- Tổ chức sự tham gia của cộng đồng: nhằm huy động toàn dân tham gia vào các hoạt động cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn, đa dạng hoá các mô hình đầu tư, tạo điều kiện thuận tiện cho các thành phần kinh tế để hộ gia đình, các nhóm, hợp tác xã, doanh nghiệp dân doanh... giúp nhau tự góp vốn, vay vốn tín dụng của Nhà nước; tham gia vận hành, bảo dưỡng, quản lý và kinh doanh các công trình, dịch vụ cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn.




Theo quan điểm của riêng mình, em đánh giá cao giải pháp thứ 3 này,với việc xã hội hóa cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn,chúng ta giảm được gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước, hơn nữa tạo cơ hội, điều kiện cho những thành phần kinh tế năng động và có năng lực tham gia. Không có gì bằng người dân tự ý thức và tham gia nhiệt tình vào các chương trình phục vụ cho chính họ và gia đình họ có được cuộc sống với chất lượng tốt hơn.

HẾT

****************

-----------------------------------------------------

5



Over9 và thành quả đây smile)

NƯỚC SẠCH VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Trần Duy Luật – K45/01.01
Năm 2010 là năm cuối cùng chúng ta thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn ( NS & VSMTNT ) . Bên cạnh những hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường đã đạt được như :
Hiệu quả về kinh tế:
- Tạo điều kiện hình thành các cụm dân cư phát triển tập trung theo từng nghề đặc thù như chăn nuôi, sản xuất nông nghiệp, làng nghề truyền thống.
- Khi đã có đủ nước sạch , môi trường sống hợp vệ sinh hơn sẽ giảm được thời gian đi lấy nước của người dân, từ đó giúp họ dành thời gian cho sản xuất góp phần nâng cao điều kiện kinh tế gia đình.
- Hạn chế tình trạng bệnh tật trong dân cư, đặc biệt là các bệnh có lien quan đến nước và vệ sinh như thương hàn, tiêu chảy, lỵ , sốt rét… từ đó sẽ giảm chi phí phải mua thuốc và chữa trị bệnh tật.
Hiệu quả về xã hội:
- Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn.
- Hình thành nếp sống văn minh, hợp vệ sinh, hạn chế sự chênh lệch về điều kiện về sinh hoạt giữa nông thôn và đô thị, giữa các vùng nông thôn với nhau; góp phần hạn chế sự di dân ồ ạt vào đô thị và di cư tự do ở các vùng khan hiếm nước; hạn chế tình trạng mất vệ sinh nghiêm trọng đang diễn ra tại nhiều vùng.
Hiệu quả về môi trường:
- Thực hiện chương trình sẽ khắc phục được cơ bản nạn ô nhiễm môi trường; bảo vệ chất lượng các nguồn nước, đặc biệt là khắc phục được tình trạng khai thác, sử dụng bừa bãi, gây cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước ngầm.
- Giải quyết tình trạng ô nhiễm do phân người và gia súc gây ra góp phần làm đẹp cảnh quan, sạch đường làng ngõ xóm.
Tuy nhiên bên cạnh những hiệu quả đạt được như vậy, còn không ít những hạn chế, thiếu sót cần giải quyết, cụ thể:
- Tỉ lệ người dân ở nông thôn được sử dụng nước sạch hiện khoảng 79%, trong đó chỉ có 39% đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Y tế, còn cách khá xa so với mục tiêu 85% đạt được vào năm 2010 trong khi tỉ lệ dân số được sử dụng nước sạch tăng lên không quá 1% mỗi năm. Như vậy trong năm 2010, chúng ta khó có thể đạt được mục tiêu đề ra cho giai đoạn 2006 – 2010.
- Hạn chế tiếp theo đó là hàng loạt các công trình cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn khi xây dựng xong lại không đi vào hoạt động phục vụ người dân mà “ đắp chiếu” dẫn tới hao mòn, hỏng hóc rất nhanh do không được vận hành, bảo dưỡng.
Tỉnh Hải Dương hiện có 33 công trình cấp nước sạch nông thôn hệ tập trung trong đó, có chín công trình bị “đắp chiếu” từ nhiều năm nay, với tổng vốn đầu tư của nhà nước hơn 11,8 tỷ đồng.(kientruc.vn)
Nguyên nhân trên là do đâu???
Chúng ta thấy rằng hạn chế thứ 2 có ảnh hưởng trực tiếp tới việc tỉ lệ người dân được sử dụng nước sạch ở nông thôn còn thấp so với kế hoạch và chất lượng nước còn thấp, chưa đạt tiêu chuẩn của bộ y tế. Vì vậy trước tiên, chúng ta cần đi tìm nguyên nhân của hạn chế này.
Thông qua khảo sát tại một số địa phương, chúng ta thấy được: Nguyên nhân chủ yếu là các xã có công trình không huy động được nguồn vốn đối ứng của nhân dân. Vì vậy, mặc dù công trình đã xây dựng xong nhưng người dân lại không đầu tư để dẫn nước về nhà. Tìm hiểu thêm về vấn đề này, qui định đối với việc xây dựng công trình cung cấp nước sạch tập trung trước đây thì nhà nước đầu tư 60% kinh phí để xây dựng công trình đầu mối và 40% còn lại là do địa phương và nhân dân đóng góp. Khi triển khai các dự án, Ủy ban nhân dân các xã có dự án đều có cam kết huy động đủ số vốn đối ứng. Trên thực tế thì các xã đều vi phạm cam kết này, vì vậy trách nhiệm chính thuộc về UBND các xã. Tuy nhiên, lãnh đạo các xã cũng có cách giải thích riêng của mình. Ông Trần Xuân Nhuận, chủ tịch UBND một xã có công trình nói : “Để đưa nước sạch từ trạm về trung tâm xã mất 700 triệu đồng để đầu tư 3,5 km đường ống chục chính. Để có nước sạch về nhà thì mỗi hộ dân phải đầu tư gần hai triệu đồng. Với mức kinh phí này thì ngân sách xã không có khả năng và điều kiện kinh tế của bà con còn khó khăn.”. Qua đây ta cũng thấy được, kinh tế nông thôn còn nhiều khó khăn, nhất là đối với các xã thuần nông, không có nguồn lực để phát triển kinh tế, đời sống nhân dân còn nghèo khó,đây cũng là nguyên nhân dẫn tới tỉ lệ người sử dụng nước sạch ở nông thôn tăng một cách chậm chạp.
Còn một số nguyên nhân khác nữa như: Chất lượng của công trình quá kém do sự thiếu trách nhiệm của chủ đầu tư…v.v…
Xoay quanh vấn đề này, cũng có nhiều giải pháp được đưa ra. Sau đây là những giải pháp được cho là phù hợp để giải quyết tình trạng này:
- Thứ nhất, với những xã nghèo, thuần nông, không có nguồn lực để phát triển kinh tế, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Đề nghị Nhà nước hỗ trợ thêm kinh phí từ nguồn ngân sách để xây dựng và lắp đặt đường ống trục chính dẫn tới các ngõ, xóm và giao cho xã vận động người dân nối mạng nước sạch để phát huy hiệu quả của công trình.
- Thứ hai,đối với những công trình đã bị hư hỏng, hao mòn về thiết bị. Đề nghị Trung tâm nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn của các Tỉnh sẽ phối hợp với các xã có công trình,hỗ trợ kĩ thuật để sửa chữa kịp thời bảo đảm sự hoạt động của công trình. Với những công trình có chất lượng kém, yêu cầu chủ đầu tư có biện pháp khắc phục và đi vào hoạt động. Bên cạnh đó, lãnh đạo các xã bằng mọi cách cần huy động đủ vốn đối ứng của người dân, để có thể đưa công trình vào sử dụng.
- Thứ 3, theo quyết định số 104/2000QĐ-TTg :” Xã hội hoá lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn là vận động và tổ chức, tạo cơ sở pháp lý để khuyến khích sự tham gia của nhân dân, của các thành phần kinh tế và toàn xã hội vào sự phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn nhằm nâng cao điều kiện sống và tăng cường sức khoẻ cho dân cư nông thôn”
Cụ thể là :
- Tuyên truyền - giáo dục: nhằm nâng cao nhu cầu dùng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh, nâng cao sự hiểu biết của người dân về vệ sinh và mối liên quan giữa cấp nước - vệ sinh với sức khoẻ và sự phát triển xã hội.
- Hoạt động tuyên truyền - giáo dục được thực hiện ở tất cả các cấp thông qua mạng lưới đài truyền hình, phát thanh, báo chí ở Trung ương và địa phương, các đoàn thể xã hội, nhà trường và mạng lưới tuyên truyền viên tại cơ sở.
- Tổ chức sự tham gia của cộng đồng: nhằm huy động toàn dân tham gia vào các hoạt động cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn, đa dạng hoá các mô hình đầu tư, tạo điều kiện thuận tiện cho các thành phần kinh tế để hộ gia đình, các nhóm, hợp tác xã, doanh nghiệp dân doanh... giúp nhau tự góp vốn, vay vốn tín dụng của Nhà nước; tham gia vận hành, bảo dưỡng, quản lý và kinh doanh các công trình, dịch vụ cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn.
- - Ban hành các chính sách khuyến khích xã hội hoá: các cơ quan của Chính phủ trong phạm vi quyền hạn của mình cần sớm ban hành các chính sách liên quan về thủ tục cấp phép, về đất đai, về thuế, phí, lệ phí, tín dụng, bảo hiểm nhằm khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn theo định hướng của Nhà nước.

Theo quan điểm của riêng mình, em đánh giá cao giải pháp thứ 3 này,với việc xã hội hóa cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn,chúng ta giảm được gánh nặng cho ngân sách nhà nước, hơn nữa tạo cơ hội, điều kiện cho những thành phần kinh tế năng động và có năng lực tham gia. Không có gì bằng người dân tự ý thức và tham gia nhiệt tình vào các chương trình phục vụ cho chính họ và gia đình họ có được cuộc sống với chất lượng tốt hơn.


Kết thúc năm học!

Cũng như những năm học trước ( mới có năm ngoái ) thời điểm cuối năm luôn bận rộn lo lắng chờ điểm thi, kì vừa rồi toàn những môn ko phải lý thuyết nên điểm mình còn khá hơn một tí, nhưng cái môn cuối cùng ko hiểu mấy ông bà ý chầm kiểu gì mà đánh điểm của mình thấp như vậy chứ. Nhưng ko sao, kiện rồi bigsmile Mình không nghĩ là với lượng bài tập mình làm được lại được đánh giá thấp như vậy. Cuối cùng cũng nghỉ hè. Hè này mình có dự định đi làm thêm. Tất cả vẫn trong dự định thôi, nhưng mong sẽ suôn sẻ cả,hì hì. Ah, năm nay lớp cấp 3 của mình liên hoan ở trên này chứ lị. Hôm qua là một ngày vất vả, trừ một số cá nhân mình chưa hài lòng ra thì tốt cả. Một năm cố đc một buổi như vậy cũng vui. Nâng cao đc khả năng tổ chức của mình bigsmile Khi nào rảnh post ảnh lên cho coi.........

Lạnh(version2) - vẫn là sự kết hợp của Tony and KTQ



Thôi đã qua cứ qua thà rằng mình chia ly, cho đôi mi mau khô thà đừng thương nhớ, dẫu bên em anh sai để người ra đi, xót xa bên nhau, xin em đừng nuối tiếc chi…

Read more...

Crush - David Archuleta____ Tặng mèo bài này, vì... tao thích nó. VD thế,hehe...

Một ngày đã hết...

Ngày hôm nay qua đi mà chả làm được j cả. Cứ tiếp tục thế này mãi tới bao giờ. Mệt mỏi, chán nản... Không biết làm sao nữa. Sáng đi học, làm xong bài kiểm tra rùi được về sớm. Khoảng thời gian đó là để tự học, thì lại tụ tập đi chơi, về nhà ăn xong rùi lăn ra ngủ tới chiều luôn. Dậy đi họp khoa, thấy người ta sinh viên giỏi nọ kia, mình thì không biết được xếp vào loại nào nữa cơ. buồn thật.huhu...

Kết quả của một đêm trắng.

Đây là bài mình làm để tham gia hội thảo khoa học của khoa, lười quá tới hôm cuối mới viết lên phải làm cả đêm,hihi. Ai quan tâm thì đọc nhá, tại lâu quá mình ko post bài nên lấy luôn tâm huyết của cả một đêm đem bày ra cho thiên hạ đây,mọi người HỘI THẢO đi nè,,hihi.

Read more...

February 2012
M T W T F S S
January 2012March 2012
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29