Skip navigation

Lost password? | Help

Dân Chủ và Nhân Quyền

Liên Minh Dân Chủ và Nhânn Quyền

Công An Vây, Giữ Đỗ Nam Hải, Xét Nhà, Lấy Máy Tính, Sổ...

Công An Vây, Giữ Đỗ Nam Hải, Xét Nhà, Lấy Máy Tính, Sổ... Việt Báo Thứ Sáu, 3/28/2008, 12:02:00 AM

Hôm nay,27-03-2008, Hoà Thượng Thích Không Tánh, trụ trì chùa Liên Trì, Sài Gòn, tổ chức lễ cầu siêu cho cụ Hoàng Minh Chính nhân 49 ngày cụ ra đi. HT đã có gởi giấy mời anh Đỗ Nam Hải và cô Lư Thị Thu Duyên đến dự. Nhưng từ hôm qua, trước nhà cô Thu Duyên ở 77/13B Trần Bình Trọng, phường I, quận Gò Vấp, đã có chốt công an đóng trước nhà canh giữ. Riêng anh Hải thì từ hôm qua cũng được giấy mời lên Công an Phú Nhuận "làm việc". Anh Hải đóan là CA muốn ngăn cản anh đến chùa Liên Trì dự lễ.
Từ chối "lời mời" của công an, sáng nay, từ ngôi nhà ở ở 441 đường Nguyễn Kiệm, phường 9, quận Phú Nhuận, anh Hải ra nhà hàng Hoàng Mai, 75 Hoàng Văn Thụ, phường 15, quận Phú Nhuận để dùng sáng rồi sẽ đi đến chùa. Bất ngờ, lúc 8g, có 5 CA ập tới, giữ anh lại, không cho anh đi, còn buộc anh về đồn Công an quận Phú Nhuận để "làm việc".
Tại đây, có 3 trung tá cật vấn anh về lời phát biểu của anh hôm 1-03-2008 trong cuộc hội luận Paltalk do Phong trào Yểm trợ Khối 8406 tại Vancouver, Canada tổ chức và điều hợp. Bài phát biểu nói về Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006 và Khối 8406 ấy (mới tung lên mạng) đã khiến công an hết sức tức giận. Họ cật vấn anh đủ điều quanh bài phát biểu và anh Hải đã đanh thép trả lời. Đến trưa, họ vẫn không cho anh về và anh cũng từ chối không ăn trưa tại đồn.
Đến khoảng 3 giờ chiều, công an thông báo sẽ đến nhà anh khám xét. Anh yêu cầu được về theo. Họ không cho, bảo rằng có sự hiện diện của gia đình anh đã đủ. Anh Hải phản đối, nói rằng phòng anh ở và vật dụng trong đó là của riêng cá nhân anh, anh cần có mặt. Bất chấp, tay thượng tá trưởng Công an Phú Nhuận là Võ Hoàng Nghĩa đã phối hợp với Hoàng Công Nghĩa, chủ tịch UBND quận Phú Nhuận và trung tá Nguyễn Hoài Phong, trưởng ban an ninh quận, đã về nhà anh ở 441 Nguyễn Kiệm lục soát, trước sự chứng kiến của cha mẹ anh mà thôi. (Nguyễn Hoài Phong là tên đã hành hung anh Hải ngày 23/3/2006, khi Anh đang trong quá trình dự thảo Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho VN, mà sau đó đã được 2 linh mục Nguyễn Văn Lý và Phan Văn Lợi tại Huế hoàn chỉnh ngày 7/4/2006)
Công an đã lấy đi toàn bộ máy vi tính (lần thứ 4 hay thứ 5 gì đó), một điện thoại di động, một hộ chiếu, một bằng kỹ sư và một cuốn sổ tay có nhiều ghi chú quan trọng. Sau đó, chúng đem đến đồn cho anh Hải xem, bảo rằng chúng đã niêm phong và yêu cầu anh ngày mai, 28-03 lại đến đồn để "làm việc". Anh Hải mạnh mẽ phản đối, gọi công an là lũ ăn cướp và cương quyết không đến đồn làm việc. Anh còn bất cần chuyện chúng có trả lại hay không các vật dụng đã ngang nhiên cướp lấy của mình. Đến khoảng 5g chiều thì công an đã thả anh về nhà, kèm theo lời hăm doạ sẽ cưỡng bức anh đi làm việc ngày mai và những ngày kế tiếp.
Xin Đồng bào thông báo rộng rãi tin này cho nhau và cho quốc tế.
Phóng viên FNA tường trình từ Huế, tối ngày 27-03-2008.

Thư Tuyên bố ủng hộ Phong trào đấu tranh đòi Tự do Dân chủ Nhân quyền – và Khối 8406

Thư Tuyên bố ủng hộ Phong trào đấu tranh đòi Tự do Dân chủ Nhân quyền – và Khối 8406, đồng thời xin gia nhập Đảng Dân chủ Việt Nam 21 của một số công dân Việt Nam
Kính gửi :

Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý (đang trong nhà tù Ba Sao – Nam Hà)
Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi - TP - Huế
Giáo sư Trần Khuê – TP - Sài Gòn
Nhà báo Nguyễn Khắc Toàn - Thủ đô Hà Nội
Kỹ sư Đỗ Nam Hải – TP - Sài Gòn
Giáo sư Nguyễn Chính Kết (đang đi vận động dân chủ ở Hải ngoại)
Cùng toàn thể đồng bào yêu chuộng tự do dân chủ và công lý ở trong và ngoài nước cùng các cơ quan thông tin đại chúng trong nước và quốc tế

Đồng kính gửi :

- Bà quả phụ Hoàng Minh Chính – Lê Hồng Ngọc - Thủ đô Hà Nội
- Chị Trần Thanh Hà con gái trưởng của Cụ Hoàng Minh Chính ( như trên)
- Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa trong ban điều hành Khối 8406 – TP Hải Phòng

Chúng tôi là những dân oan trong nước đang bị chế độ XHCN của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam ngược đãi, trù dập cướp đoạt tài sản đất đai, ruộng vườn, nhà cửa, tiền bạc từ nhiều năm qua. Vì thế chúng tôi đã phải đi khiếu kiện để đòi lại công lý gần 20 năm nay nhưng không có kết quả gì. Nay chúng tôi đã nhận thức được bộ mặt thật của chế độ gọi là XHCN của nhà nước và đảng cộng sản Việt Nam qua tiếp xúc với Cụ Hoàng Minh Chính khi ông còn sống và nhất là qua đọc bài viết "Tập đoàn tham nhũng trở thành tập đoàn ăn cướp" của cựu quân nhân Lê Thanh Tùng bên huyện Sóc Sơn ngoại thành Hà Nội.
Vì thế chúng tôi nhận thấy rằng chỉ duy nhất có một con đường để triệt tận gốc mầm mống tham nhũng, bất công, bạo ngược đó là con đường đấu tranh cho dân chủ tự do và nhân quyền cho cả dân tộc này thì mới xoá hết mọi nguyên nhân sính ra nỗi bất hạnh cho nhân dân Việt Nam mà trong đó có cảnh ngộ bất hạnh cay đắng của chúng tôi.
Từ việc nhận thức được ra điều đúng đắn đó, nay một số bà con dân oan chúng tôi quyết định tình nguyện tham Phong trào đấu tranh cho lý tưởng vì Tự do Dân chủ, Nhân quyền tại Việt Nam. Một số chúng tôi cũng xin tự nguyện đăng ký tên mình tham gia vào mọi hoạt động của Đảng Dân Chủ 21 mà Cụ Hoàng Minh Chính và ông Trần Khuê tuyên bố thành lập ngày 01/6/2007. Chúng tôi biết rằng khi bức thư này được công bố thì trung ương ĐCSVN sẽ có thể chỉ đạo bè lũ công an trong nước tìm mọi cách đàn áp hay khủng bố khốc liệt chị em chúng tôi. Vì vậy chúng tôi kính mong dư luận đồng bào trong nước, hải ngoại và quốc tế quan tâm theo dõi lên tiếng kịp thời để bảo vệ tính mạng cho người dân chúng tôi. Trong thư tuyên bố ủng hộ sự nghiệp tranh đấu đòi dân chủ hoá đất nước và tự nguyện gia nhập Đảng Dân chủ Tự do 21 này, chúng tôi có gửi công luận một số hình ảnh cụ thể các công dân có căn cước như sau, gồm có :

1. Đỗ Bích Ngọc (nữ bác sỹ) - sinh ngày 30/12/1934
Hiện trú tại số nhà 151 phố Triệu Việt Vương - quận Hai Bà Trưng - TP Hà Nội
Điện thoại nhà riêng số : 04 9760 833
Tôi nguyên là bác sỹ bệnh viện E Hà Nội công tác từ năm 1959 - đến năm 1990 thì bị buộc phải nghỉ hưu do lãnh đạo bệnh viện này trả thù.
Còn chồng tôi là Nguyễn Ngân - Sinh năm: 1925, già yếu bệnh tật còn sống do tai biến mạch máu não phải nằm liệt tại giường từ nhiều năm nay. Ông nguyên là phó đại sứ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và sau là nước CHXHCN Việt Nam tại Cộng hoà Pháp từ 1973 - 1976. Chồng tôi cũng là anh em thúc bá với kỹ sư Nguyễn Xiển cựu Tổng thư ký đảng xã hội Việt Nam (đã chết ).
Năm 1973, tôi được Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà của đảng cộng sản điều động sang Pháp chăm sóc y tế phục vụ cho cán bộ và nhân viên trong lãnh sự quán Việt nam tại thủ đô Paris cho đến năm 1976. Khi chồng tôi hết nhiệm kỳ công tác tại đây thì chúng tôi trở về nước và được Bộ y tế điều tôi về làm việc tại đơn vị cũ đó là bệnh viện E - Hà Nội.
Khi ấy trong tính toán của ban lãnh đạo Bệnh viện E, chúng nghĩ vợ chồng tôi mới từ Pháp về chắc có nhiều tiền bạc và tài sản lắm, cho nên đã sai bà bác sỹ Vũ Hồng Thuỷ làm cò mồi tống tiền đòi tôi phải cống nạp vật chất hay tiền của cho chúng. Nhưng thực ra vợ chồng tôi chẳng có gì vì sống thanh liêm, giản dị , do không được đáp ứng như ý muốn vòi vĩnh của chúng, thế là chúng quay sang trù dập, trả thù và cướp trắng tiền lương hưu của tôi từ năm 1990 cho tới nay. Tôi đã đội đơn đi khiếu kiện lên tận trung ương suốt 18 năm nay nhưng không cấp nào giải quyết. Hoàn cảnh sống của vợ chồng già chúng tôi rất khổ sở cơ cực trăm bề vì không có lương hưu để ăn mà tồn tại. Tôi là chị ruột cô Đỗ Thị Kim Tuyết sống cùng số nhà với anh Nguyễn Khắc Toàn ở 11 Ngõ Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, nên tôi đã được dân oan cùng đi khiếu kiện nhiều năm với nhau vốn là nhân viên công an ngành đường sắt Hà nội là bà Ngô Thị Tráng ở 33 phố Hàng Thiếc mách bảo nên tôi tìm đến nhờ anh Nguyễn Khắc Toàn giúp đỡ cho cảnh ngộ của tôi. Khi được phân tích, chỉ dẫn tôi thấy xã hội hiện nay có quá nhiều bất công ngang trái mà cội nguồn là do chế độ độc tài, độc đảng gây nên. Vì vậy tôi đồng ý tham gia vào Phong trào đấu tranh đòi Dân chủ, Tự do, Nhân quyền chung mà trong đó có nhân quyền của bản thân mình



Ảnh trên là số đồng bào dân oan Việt Nam tình nguyện tham gia Phong trào đấu tranh đòi Tự do Dân Chủ, Nhân quyền đứng chụp hình kỷ niệm cùng nhà tranh đấu Nhân quyền và Dân chủ trẻ tuổi Lê Thanh Tùng sau khi đã thực hiện trả lời phỏng vấn với chị Bảo Khánh biên tập viên của đài phát thanh Việt Nam Sydney Radio – Úc Châu

2. Nguyễn Thị Cẩm Hồng, nghề nghiệp làm ruộng (nữ) - sinh năm 1946
Trú tại: Ấp Ngã Tư - xã Hưng Điền - huyện Tân Hưng - tỉnh Long An
Tôi bản thân là dân oan đi khiếu kiện suốt từ năm 1986 tới nay là 22 năm nhưng không một cơ quan nào giải quyết chúng chỉ tìm mọi cách đùn đẩy trốn trách trách nhiệm còn ở địa phương thì công an thường xuyên tung tin hăm doạ bắt bớ tôi nếu tiếp tục đi khiếu kiện kéo dài.... Trường hợp của tôi xin gia nhập Đảng của Cụ Hoàng Minh Chính và tôi đã đến thăm Cụ tại bệnh viện cũng như tại nhà riêng đôi ba lần rồi. Tôi và bà Phan Thị Quế dân oan tỉnh Cần Thơ đã mấy lần trả lời trên đài phát thanh RFA và đài Việt Nam Sydney Radio của chị Bảo Khánh bên nước Úc hồi mấy tháng trước về tình cảnh khốn khổ của gia đình những chúng tôi. Tôi cũng đã đến nhà anh Nguyễn Khắc Toàn nhờ cậy giúp đỡ nhiều lần nhưng anh ấy bản thân cũng đang sống trong cảnh bị công an, chính quyền o ép rất dữ nên không thể làm gì được hơn. Anh ấy chỉ có thể giúp dân oan chúng tôi là được trả lời phỏng vấn trên các đài phát thanh quốc tế hay hải ngoại để nói lên nỗi uất ức đau khổ của mình mà thôi, nhưng sau mỗi lần như vậy thì anh lại bị công an tái lập chốt canh gác chặt chẽ. Tôi đã được hiểu rằng chỉ có con đường đấu tranh đòi dân chủ cho nước nhà mới hết cảnh dân oan cơ cực như chúng tôi đang chịu đựng. Vì vậy sau nhiều đêm, nhiều ngày suy nghĩ tôi quyết định viết đơn xin gia nhập Đảng Dân Chủ Việt Nam của Cụ Hoàng Minh Chính đứng đầu và nay là ông Trần Khuê và cô Trần Thanh Hà con gái cả của Cụ Chính điều hành.
Điện thoại của tôi số : 0948 616 273
3. Đỗ Kim Phế (nữ) - sinh năm: 1958
Trú tại: Ấp Long Tả, xã Long Khánh A, huyện Hồng Ngự - Đồng Tháp
Điện thoại số : 0973 467 607 ; 01228 989 691
Nghề nghịêp làm nông nghiệp
Bản thân tôi là gia đình chính sách thuộc diện chính sách có công với chế độ XHCN và đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng đồng thời cũng là dân oan bị cướp mất đất đai phải ra Mai Xuân Thưởng khiếu kiện từ 2001 đến nay. Hoàn cảnh tôi cũng tự nguyện viết đơn xin gia nhập Phong trào Dân chủ VN – 8406 và Tuyên bố vào Đảng Dân chủ Tự do như cô Hải và bà Cẩm Hồng – Long An
4. Vũ Thị Hải (nữ)- sinh năm: 1961
Hiện trú tại : Đội 3, xóm Bãi Lóng, xã Thạch Bình, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
Nghề nghiệp làm ruộng và các nghề liên quan đến nông nghiệp ở địa phương
Chồng tôi là liệt sỹ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh, tôi phải một mình tôi nuôi bốn con nhỏ và là dân oan bị cướp mất ruộng đất, mất cây trồng do bọn kiểm lâm chặt phá gây ra. Tôi đã đi khiếu kiện liên tục 5 năm nay, nhưng không có cấp nào giải quyết, chúng chỉ đùn đẩy lẩn tránh trách nhiệm mà thôi. Nay tôi viết thư tự nguyện xin gia nhập Đảng Dân chủ Việt Nam của Cụ Hoàng Minh Chính sáng lập và Phong trào dân chủ Việt nam 8406. Hôm chúng tôi đồng ý viết bức tâm thư này thì được anh Lê Thanh Tùng cho nối máy trực tiếp trả lời phỏng vấn với chị Bảo Khánh bên đài VN hải ngoại VSR ở Úc Châu và sau đó chụp ảnh kỷ niệm để phổ biến trước công luận như mấy bức hình kèm theo bức thu này. Vậy cũng xin nói để quý vị biết và quan tâm đến tính mạng nguy hiểm của chúng tôi trong nước. Trường hợp của tôi cùng với chị Đỗ Kim Phế cũng đã đếnủtực tiếp nhà anh Nguyễn Khắc Toàn một nhà báo tự do để nộp đơn xin gia nhập Đảng Dân Chủ Việt Nam 21, nhưng vì anh không tham gia đảng phái nào và cũng chẳng phải là thành viên của chính Đảng này. Vì vậy chúng tôi đành nhờ anh ấy chuyển hồ sơ xin nhập đảng đến chị Trần Thanh Hà là con gái của Cụ Hoàng Minh Chính ở Hà nội và ông Trần KhuỉCtong Sài Gòn để ban lãnh đạo Đảng này tổ chức kết nạp chính thức cho chúng tôi



Ảnh trên từ phải qua trái là bà Nguyễn Thị Cẩm Hồng dân oan tỉnh Long An, kế đến là chị Vũ Thị Hải người dân tộc thiểu số, dân oan quê tỉnh Ninh Bình họ là 2 thành viên Đảng Dân chủ Việt Nam, người phụ nữ cuối cùng là bác sĩ Đỗ Bích Ngọc 75 tuổi, dân oan tham gia Phong trào dân chủ Việt Nam

Kính thưa toàn thể quý vị!
Khi thư Tuyên bố ủng hộ phong trào tự do dân chủ và nhân quyền khối 8406 của Tập thể dân oan chúng tôi được công bố cho toàn thế giới biết, thì đồng thời cũng là nguy cơ đàn áp, khủng bố của công an của Đảng cộng sản Việt Nam sẽ ập đến với chúng tôi là điều chắc chắn. Vậy chúng tôi kêu gọi Uỷ ban nhân quyền Quốc tế, các cơ quan nhân quyền của cộng đồng Âu châu, của các chính phủ Úc châu, Hoa Kỳ, các tổ chức Quốc tế phụ nữ cùng tất cả các cơ quan thông tin đại chúng trong nước và quốc tế hãy lên án cách hành xử thô bạo mất nhân tính của nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội và hãy quan tâm bảo vệ chúng tôi.



Ảnh trên là cảnh số đồng bào dân oan giơ tay xin thề quyết tâm tranh đấu cho nền Dân chủ, Nhân quyền của nước nhà. Trong ảnh người phụ nữ đứng ngoài cùng bên phải ảnh mặc áo hồng đội mũ trắng là dân oan Đỗ Kim Phế quê tỉnh Đồng Tháp thành viên Đảng Dân chủ Việt Nam 21 người đã tự nguyện viết đơn gia nhập chính đảng này mới đây. Trong ảnh có anh Lê Thanh Tùng cựu bộ đội tình nguyện cùng chụp ảnh kỷ niệm chung với đồng bào dân oan

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè trong nước, hải ngoại và Quốc tế, tất cả những ai đang quan tâm giúp đỡ và bảo vệ chúng tôi.

Kính thư

Hà Nội, ngày 16 tháng 3 năm 2008
Các công dân Việt Nam đã ký tên dưới đây :

1. Bác sĩ Đỗ Bích Ngọc nhà số 151 phố Triệu Việt Vương, quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội
2. Nguyễn Thị Cẩm Hồng quê tỉnh Long An hiện đang trú tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng Hà Nội
3. Đỗ Kim Phế quê gốc tỉnh Đồng Tháp đang tạm trú như bà Cẩm Hồng
4. Vũ Thị Hải quê gốc tỉnh Ninh Bình đang trọ tại phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, TP Hà Nội

Cuối cùng xin chân thành cám ơn người viết thư này dùm theo yêu cầu của bốn người dân chúng tôi kể trên là cựu bộ đội tình nguyện Lê Thanh Tùng và cám ơn nhà báo Nguyễn Khắc Toàn đã thực hiện việc chụp ảnh để tặng lại bà con dân oan đã tự nguyện tham gia Phong trào Dân chủ Việt Nam và khối đấu tranh 8406 !


MỘT VÒNG TAY CHO THANH TẠNG

Tùy bút by Toại Khanh
MỘT VÒNG TAY CHO THANH TẠNG

Tôi là một người có đến 1001 lý do để không thể và không nên trở thành một tay du lịch chuyên nghiệp, nhưng thiệt tình trong bụng vẫn tự nhủ sẽ tìm dịp thăm viếng một vài nơi trước khi giũ sạch những giấc mơ xê dịch để yên lòng lên non tìm động hoa vàng nào đó mà đánh giấc thiên thu. Một trong những nơi chốn mộng mơ đó chính là Machu Picchu ở tận xứ Peru. Chỉ là một di tích đổ nát, cũ kỹ thôi, nhưng nó có thể được coi là một Angkor hay Binh Mã Dũng ở Nam Mỹ.
Tôi biết đến địa danh này qua một bài viết trên Internet có tựa đề 1000 Places-To-See-Before-You-Die giới thiệu những nơi chốn đáng viếng trong một đời người phù vân. Tôi đã bàng hoàng khi ngắm qua mấy chục tấm ảnh chụp ở Machu Picchu để lại giật mình khi được biết rằng nó sở dĩ còn nguyên vẹn như vậy là nhờ toạ lạc ở một vị trí cực kỳ hẻo lánh, nằm ngoài khu vực đi lại của những người Tây Ban Nha thực dân mấy thế kỷ trước, tránh được chuyện bị họ đào xới tìm vàng. Theo các sử liệu, công trình này được người Inca thực hiện vào khoảng năm 1450, hơn một thế kỷ trước khi thực dân Tây Ban Nha (conquistador) tìm sang Nam Mỹ và lật tung thế giới của người Inca để moi vàng rồi thiêu hủy gần như trọn vẹn nền văn minh rực rỡ của họ. Theo tôi, nếu chẳng kể đến lĩnh vực minh triết, nền văn minh Inca đáng được xếp vào vài ba chiếc nôi văn minh đáng nể nhất của trái đất xưa giờ.
Tôi dĩ nhiên chẳng có nhiều thời gian hay kiến thức để nói nhiều về một di tích du lịch nào hết, nhưng câu chuyện về Machu Picchu cứ khiến tôi suy nghĩ nhiều về vài điều liên tưởng. Vì sao Machu Picchu không bị giày xéo ? Phải chăng mọi thứ trên đời đôi lúc cũng cần đến những bối cảnh thích hợp để tự bảo toàn. Ở đây tôi muốn dùng chữ Cõi Riêng. Có phải đó cũng là lý do ngày xưa đức Phật đã từng đề nghị các đệ tử của Ngài đừng tung tăng trong Ma Giới, chỉ nên vãng lai trong cảnh giới Chánh Pháp. Một bước rong chơi sa đà là khó có dịp quay đầu. Xưa nay biết bao người đã chết thảm chỉ vì bắt chước thiên hạ nói năng kiểu thánh hiền như cư trần bất nhiễm, hay vào địa ngục cứu người rồi thì an lòng lăn xả vào tục lụy ngay khi chưa kịp có đủ khả năng tự vệ. Tôi nhớ báo chí trong nước khi nói về sự cố sập cầu ở Cần Thơ năm ngoái , đã cho hay hai nhịp cầu khổng lồ kia bị đổ chỉ vì giàn giáo quá yếu không chịu nổi sức nặng hàng ngàn tấn của phần bê-tông chưa kịp khô, chưa đủ cứng.
Từ hơn một năm nay, gần như toàn bộ các nguồn thông tin của Trung Quốc đều đổ dồn một phía để đánh bóng sự kiện Olympic vào tháng 8 năm 2008. Ai có thường theo dõi CCTV9 của Trung Quốc hẳn đã thấy như vậy. Người ta đã bằng mọi cách kích thích sự chú ý của thiên hạ bằng những quảng cáo rầm rộ và điêu luyện. Vậy mà chỉ trong non một tuần nay, hào quang của Olympic Bắc Kinh 2008 đã có nguy cơ bị đẩy lùi sau một loạt tin tức về những cuộc biểu tình đẫm máu ở Tây Tạng, và hôm qua, làn sóng xuống đường đã lan rộng đến Tứ Xuyên, nơi có một phần lãnh thổ của Tây Tạng ngày truớc. Tôi đã bàng hoàng khi nhìn thấy trên TV rồi Youtube trong Internet, những hình ảnh đổ máu của người dân Tây Tạng trong mấy ngày qua. Ai khổ tôi cũng thương, nhưng ở đây, còn có thêm một chút tình đồng đạo. Dân tộc đang lâm nạn kia cũng là những người thờ Phật như tôi.
So với những chủ nhân ông của nền văn minh Inca ở Mỹ Châu mà tôi vừa nhắc ở trên, dân Tây Tạng có nhiều điểm đồng dị rất đáng lưu ý. Cũng đều có một lãnh thổ nằm xa khuất cuối trời, cách ly hẳn những miền đất ồn ào nhất của hành tinh. Cả hai đều sở hữu một nền văn hoá độc đáo và hiện nay, cả hai đều bị thôn tính. Đó là những điểm giống nhau. Còn về chỗ khác nhau ? Dấu vết còn lại của nền văn minh Inca bây giờ có lẽ chỉ là cái di tích Machu Pichu đáng gọi là kỳ quan kia. Trong khi đó, người Tây Tạng hình như có may mắn hơn một chút. Ngoài 6000 tự viện bị thiêu hủy sau năm 1959 với hàng trăm ngàn tu sĩ bị giết chết, họ đã kịp có một cuộc di tản đáng nể: Người thủ lãnh tâm linh của họ là đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn còn đó ở xứ người với một chính phủ lưu vong và bước chân hoằng pháp của tăng sĩ Tây Tạng cũng đã theo đời lưu lạc của họ mà in dấu khắp mọi châu lục, thậm chí thành công hơn cả tăng ni Việt Nam hải ngoại. Tôi nhớ đã đọc ở đâu đó một ý kiến rằng việc Trung Cộng đánh chiếm Tây Tạng không hẳn là cái hoạ cho xứ sở này. Tôi không dám có ý kiến trong chuyện đó, chỉ thấy rằng quốc vận của Tây Tạng đã cho tôi nhiều bài học vô giá. Và một trong số đó chính là cái ý tưởng mà tôi đã nêu ở phần đầu của bài viết này.
Người Tây Tạng nhờ có một vị trí địa dư hẻo lánh, nên đã được an toàn trong một thời gian dài. Trong khi Trung Hoa hùng mạnh là vậy mà từ ngàn xưa vẫn phải liên tục khổ ải với các dân tộc láng giềng phía bắc. Thứ đến, với kiểu hành trì khép kín của Phật giáo Tạng Truyền, đạo Phật của người Tây Tạng tuy không phải là nguyên thủy so với thời Phật nhưng xưa giờ vẫn không có nhiều lắm những xáo trộn biến tướng so với thời kỳ của các ngài Atisa, Padmasambhava, Marpa, Naropa, Milarepa…. Thậm chí đến tận hôm nay, có lưu lạc ở đâu, Phật giáo Tây Tạng gần như vẫn giữ lại được hầu hết những nét riêng xưa giờ của mình. Có thể nói đó cũng là sự thành công đáng nể của dân tộc vong quốc này.
Tâm điểm của bài viết này chỉ quẩn quanh một ý: Dầu có phải tiếp cận với thiên hạ để phát triển và học hỏi, anh phải có một góc riêng để mà quay về. Bởi ăn nhờ ở đậu trên chỗ của người khác thì không làm sao lâu bền được. Và phương trời riêng tư đó của anh chỉ có thể an toàn vững chắc khi chính anh có được khả năng tự cố. Người còn của còn, người mất thì của cũng mất. Dân Inca hôm nay chỉ còn lại một di tích vật chất, thế là trang sử vàng của nền văn minh đó chỉ còn chờ ngày mục rã. Ở người Tây Tạng thì tình hình có khác. Cái họ giữ được không chỉ là những gì có thể sờ chạm. Cõi riêng của họ sâu thẳm hơn nhiều. Thậm chí nếu cả cao nguyên Thanh Tạng có biến mất như một làn khói, thì dấu vết của người Tây Tạng và Phật giáo xứ này còn có biết bao nhiêu là những vùng đất mênh mông để mà tiếp tục tồn tại. Đời sống, rồi cuộc tu của mỗi cá nhân hình như cũng vậy: Anh phải có được một cõi riêng thật sự là máu thịt của mình, để mai này trời có sập xuống, thì anh vẫn cứ thanh thản tự tại. Trong hoàn cảnh nào, màu áo nào, anh vẫn tiếp tục là một hành giả, một Bồ-tát, một Vô Vị Chân Nhân.
Chiều nay tôi vào www.flickr.com như một thói quen trong những khi mệt mỏi. Và thật ngẫu nhiên tôi đánh chữ Tibetan Monk để rồi bắt gặp mấy tấm ảnh nhìn qua mà cứ nao lòng. Một khoảng trời xanh ngắt in đậm đỉnh núi tuyết cao ngất đâu đó thật xa và đôi ba nhà sư Tây Tạng bên con đường mòn chân núi đang ngồi nhìn về cuối trời như đang chờ đợi mỏi mòn một ngày về xa xôi của dân tộc. Họ bây giờ mất hết rồi. Một vùng đất cao nguyên với những hồ nước trong xanh ngàn đời, những thảo nguyên bốn mùa lộng gió, những tu viện rì rầm tiếng kinh cầu, những lối mòn chân núi vàng rực với màu vàng hoa cải, những đoàn du mục lâu rồi không biết gì đến chiến chinh,…Không còn gì nữa. Họ đã im lặng suốt nửa thế kỷ, và mấy ngày qua, niềm im lặng đó đã tràn bờ và cái giá mà họ phải trả sao mà đắt. Máu họ đã chảy, họ đã ngã xuống cho một lối về của quê hương. Quê hương vẫn nghìn trùng, và họ thì lại phải đi xa ngay lúc này. Phải rồi, với họ, cái chết chỉ là một cuộc đi.
Viết tới đây tôi lại nhớ đến một đoạn phim buồn trên Youtube. Một người Tây Tạng bị bắt đứng úp mặt vào bức tường tu viện, và cảnh sát Trung Quốc đã nổ súng. Làn khói súng tan đi, xác người Tây Tạng ngã vật xuống, và vệt máu trên vách tường nơi anh vừa đứng đã ngẫu nhiên đọng lại một chữ VĂN trong Hán Ngữ, chữ Văn viết theo lối cách điệu và đã được chọn làm biểu tượng cho Olympic Bắc Kinh 2008 !
Bài viết này như một lời nguyện cầu, một vòng tay hướng về cao nguyên Thanh Tạng, nơi có hàng triệu trái tim đang có cùng một giấc mơ. Giấc mơ đó, thật lạ, hình như cũng là giấc mơ của bao nhiêu người dân Việt !
Onceland, March/22/08
Toại Khanh

Khi Người Lao Công Quét Dọn Thuyết Trình

Khi Người Lao Công Quét Dọn Thuyết Trình

Ngày ấy... năm 1994, TRW (Thompson Ramo Wooldridge, Inc.) và 8 hãng lớn khác trúng thầu của Bộ Năng Lượng (Department of Energy) về việc nghiên cứu và thiết lập một “kho phế thải chứa đựng chất phóng xạ” (Radioactive Waste Management) trong lòng núi Yucca Mountain cách thành phố Las Vegas, tiểu bang Nevada, khoảng 100 dặm về hướng Tây Bắc. Lúc bấy giờ tôi là trưởng toán kỹ thuật của TRW chịu trách nhiệm nối kết các hệ thống máy móc từ hiện trường Yucca Mountain) về văn phòng Bộ Năng Lượng ở Hoa Thịnh Đốn và trụ sở của 9 hãng xưởng rải rác trên khắp nước Mỹ nên “bị” chỉ định thuyết trình phần “Systems integration” trong cuộc họp “kick off”. Hiện diện trong cuộc họp này, ngoài ban quản trị và một số hân viên kỳ cựu của các hãng trúng thầu, còn có đại diện chính chức của Bộ Năng Lượng, cùng những người rất quan tâm tới vấn đề bảo vệ môi sinh vì lo sợ ảnh hưởng của chất phóng xạ trên vùng đất của họ như: Thống Đốc, Nghị sĩ và Dân Biểu của tiểu bang Nevada.

Sau khi nhận được tin, tôi đã lên gặp ông giám đốc lo về kỹ thuật của TRW để năn nỉ xin ông đổi người khác, hoặc chính ông ta thuyết trình vì tôi run lắm. Ông ta chẳng những không chấp thuận mà còn nhắc tôi rằng đây là “vinh dự” của hãng TRW nên phải cố gắng hết sức mình làm cho tốt trước mặt “bá quan văn võ” của chính phủ cũng như ban quản trị của các hãng khác. Tôi tìm gặp một vài người Việt Nam đã làm cho TRW lâu năm xin ý kiến, ai ai cũng sợ cho tôi, vì tiên đoán tôi sẽ bị những chuyên viên của nhiều hãng khác bắt bẻ về kỹ thuật, và nhất là bị kỳ thị vì giọng nói tiếng Anh không chuẩn. Tôi làm liều gọi cho “xếp lớn” của TRW xin ông can thiệp để thay đổi nhưng chính ông ta lại bảo tôi rằng đây là “ván bài định mệnh” và hãy dẹp hết những công việc khác, lo chuẩn bị kỹ lưỡng vì ban giám đốc đã họp bàn nhiều lần trước khi quyết định đưa tôi ra làm người thuyết trình về kỹ thuật...

Tôi đã “ăn không ngon, ngủ không yên” suốt hai tuần lễ chuẩn bị tài liệu thuyết trình, và cuối cùng lại còn run sợ hơn nữa vì cuộc họp được dời về trụ sở của hãng Booz, Allen & Hamilton (BAH) để tiện đường “Metro” (xe điện ngầm) cho những người tham dự, đặc biệt là nhân viên chính phủ đến từ Hoa Thịnh Đốn. Tôi chẳng xa lạ gì với hội trường của hãng BAH, vì lúc mới qua Mỹ tôi vẫn tới nơi này mỗi tối để lau chùi quét dọn trong thời gian còn là sinh viên ở Virginia. Tôi lo sợ không biết những nhân viên và ban quản trị tại đây sẽ nghĩ gì về mình khi nhận ra anh chàng “thuyết trình viên” hôm đó xuất thân là người “lao công quét dọn” văn phòng cho họ hơn 8 năm về trước. Tôi tâm sự với một số bạn bè người Việt trong sở về điều này và người nào cũng ưu tư lo lắng cho tôi. Đã tới đường cùng nên tôi chỉ biết liều mình “nhắm mắt đưa chân” phó mặc cho số phận. Ngay từ đầu, cơ hội thành công của tôi chỉ như “sợi tóc treo mành” vì tất cả những hãng đấu thầu đều muốn gạt TRW ra khỏi vị trí đứng đầu về kỹ thuật trong đề án mới; riêng cá nhân tôi chỉ là một người “thiểu số” nói tiếng Anh chưa rành... và bây giờ lại còn thêm mặc cảm là người “lao công quét dọn” ngay chính nơi mình sẽ lên bục đứng thuyết trình.

Buổi sáng hôm đó tôi tới “hiện trường” thật sớm nhưng đã có lác đác một số người đang xếp hàng trước phòng tiếp tân để nhận bảng tên và tài liệu. Theo chương trình, tôi và 4 người thuyết trình khác sẽ lên họp bàn với phát ngôn viên của Bộ Năng Lượng khoảng 30 phút trước khi bắt đầu, để làm quen và thống nhất chương trình làm việc. Vừa bước vào văn phòng phía sau hội trường, tôi đã đụng đầu ngay ông Sam, phó chủ tịch của hãng BAH, đang đứng tán gẫu với người điều khiển chương trình hôm đó, bà Jeanette, phát ngôn viên của Bộ Năng Lượng. Sau khi bắt tay giới thiệu, ông ta quay sang hỏi tôi:

- Tôi thấy anh quen lắm, không biết chúng mình đã bao giờ gặp nhau
chưa?

Tôi đã nhận ra ông Sam chính là vị giám đốc đã từng nói chuyện và khích
lệ tôi ngày trước, mỗi khi tôi đến hút bụi văn phòng cho ông vì hầu như
tối nào ông ấy cũng ở lại rất trễ, nên nhỏ nhẹ trả lời:

- Gần 10 năm trước, tôi vẫn tới dọn dẹp văn phòng cho ông mỗi tối.

- À ha. Anh chính là “người sinh viên trẻ” vừa đi học vừa làm lao công
ban tối. Đúng rồi. Tôi đã nhớ ra rồi. Anh chỉ già dặn hơn một tý. Khâm
phục... Khâm phục!

Tôi chỉ biết mỉm cười nói “cám ơn”, còn bà Jeanette thì niềm nở:

- Hay quá! Nếu anh John không ngại, tôi sẽ dùng chi tiết này để giới
thiệu về anh trước khi thuyết trình. Sam nghĩ sao?

- Tôi cũng nghĩ vậy. Để xem... Từ hơn 8 năm nay, tôi không gặp lại
John, và tôi cũng chưa bao giờ gặp một người lao công ham học như thế.
Tôi còn nhớ John đã từng xin tôi những xấp giấy chi chít những “source
code” nhân viên của tôi vất thùng rác để về nghiên cứu học hỏi thêm.
Đáng lẽ ngày đó tôi nên nói chuyện với anh nhiều hơn và thuê anh vào
làm trong hãng của tôi... Sau khi anh nghỉ làm ban đêm, tôi hỏi thăm
mới biết anh đã ra trường và có việc làm tốt, nhưng tôi không ngờ
“thuyết trình viên kỹ thuật” hôm nay lại chính là anh. Anh xứng đáng
làm thầy của chúng tôi!

Sau đó, bà Jeanette nhờ ông Sam ghi lại những chi tiết về cá nhân tôi
trong khi bà tiếp tục gặp gỡ và nói chuyện với những thuyết trình viên khác vì đã có vài người tới phòng họp. Sau mấy phút giới thiệu và họp bàn về buổi thuyết trình, ai ai cũng vui vẻ khích lệ tôi... Theo chương trình, bà Jeanette và ông Sam sẽ điều hợp chương trình và năm chúng tôi sẽ ngồi trên “bàn thuyết trình”, quay mặt xuống hội trường với khoảng gần 400 người tham dự. Tôi sẽ là người thuyết trình cuối cùng vì trước đó, đại diện Bộ Năng Lượng sẽ nói sơ qua kế hoạch chung của quốc gia về vật liệu phế thải chất phóng xạ, một người sẽ nói về dự án “Yucca Moutain”, rồi các công ty trúng thầu, hãng nào lo phần nào cũng như kế hoạch nghiên cứu, quản lý tài chánh và cuối cùng là hệ thống thông tin, nối kết tất cả vào một mối do chính tôi trình bày.

Tôi mừng thầm trong bụng vì bước đầu coi như thuận lợi. Trong nhóm thuyết trình viên, ngoại trừ anh chàng giám đốc của hãng Duke Engineering có vẻ hơi “kỳ thị” vì thường nhăn mặt hay nheo mắt mỗi khi nhìn tôi, còn những người khác đều rất vui vẻ hòa đồng...

* * * * *

Tôi run run đứng dậy chuẩn bị lên bục thuyết trình khi bà Jeanette giới thiệu:

- Để tiếp tục chương trình, tôi xin nhường lời lại cho ông Sam, phó chủ
tịch của BAH sẽ giới thiệu một thuyết trình viên rất đặc biệt, đến từ
hãng TRW sẽ trình bày với chúng ta về “systems integration” của dự án
“Yucca Mountain”.

Ông Sam chờ tôi bước lên bục thuyết trình và khi “ánh đèn sân khấu” đã
rọi vào tôi, mới bắt đầu lên tiếng:

- Kính thưa quý vị, tôi rất hãnh diện được bà phát ngôn viên của Bộ
Năng Lượng uỷ thác cho việc giới thiệu anh John Nguyễn, một thuyền nhân Việt Nam đến Mỹ mới được 10 năm nay, và tôi đã có cơ may “quen biết” anh ta trong thời gian đó. Suốt hơn 2 năm trời, mỗi tối anh John vẫn tới lau chùi quét dọn văn phòng cho chúng tôi trong lúc theo học đại học; kính thưa quý vị, chính cái hội trường này cũng đã từng được anh ta hút bụi, lau bàn ghế... Và hôm nay, 8 năm sau, anh John đã trở về, không phải để làm “custodian” buổi tối, nhưng là đứng trên “podium” sáng nay để làm “thầy” dẫn giải cho chúng ta về phương án nối kết tất
cả hệ thống máy móc trong dự án này. Kính thưa quý vị, giọng nói của anh John có thể còn mang nặng âm hưởng Á Châu, nhưng đồ án anh ta đưa ra, tôi thiết nghĩ quý vị cũng sẽ đồng ý với chúng tôi là “không chê vào đâu được” vì chính tôi và nhiều người đã xem qua và tất cả đều đồng ý như thế. Bây giờ, tôi xin được trân trọng giới thiệu anh John, một người đã rời bỏ “quê cha đất tổ” và gia đình để bước xuống một chiếc thuyền tre nhỏ bé, cùng bạn bè vượt biển tìm tự do, một thân một mình
tới Mỹ, vừa tự mưu sinh vừa tiếp tục học để có được ngày hôm nay. Và đây, anh John Nguyễn, một thuyền nhân Việt Nam, một người lao công đã từng quét dọn nơi này, nhưng sáng hôm nay là thuyết trình viên kỹ thuật của chúng ta.

Tôi bàng hoàng xúc động vì những lời giới thiệu của ông Sam... Trong khi cả hội trường rền vang tiếng vỗ tay cổ võ, tim tôi đập mạnh, tâm trí tôi vượt thời gian tìm về dĩ vãng của những ngày gian khổ ở quê nhà, những ngày lênh đênh trên biển, những ngày đợi chờ trong lo âu ở trại tỵ nạn Galang, và những ngày đầu bơ vơ lạc lõng nơi xứ lạ quê người.
Khi tiếng vỗ tay vừa dứt, tôi nghẹn ngào run rẩy bắt đầu:

- Kính thưa quý vị, tôi xin chân thành cám ơn những lời giới thiệu chân tình của bà Jeanette và ông Sam. Tôi xin cám ơn những tràng pháo tay khích lệ của quý vị dành cho tôi, một người Việt Nam nói tiếng Mỹ chưa rành. Tôi xin cám ơn ban giám đốc TRW và toàn thể ban quản trị dự án “Yucca Mountain” đã tín nhiệm tôi... Từ chốn tận cùng của trái tim tôi, một niềm cảm xúc nghẹn ngào đang ào ạt dâng lên như sóng đại dương nên giọng nói của tôi lại càng khó nghe hơn lúc bình thường; tuy nhiên, tôi tin tưởng rằng tất cả quý vị sẽ thông cảm bỏ qua những sai lỗi của tôi trong cách phát âm tiếng Mỹ không chuẩn. Thêm vào đó, tôi cũng hy vọng rằng những sơ đồ minh họa trên màn ảnh sẽ thay tôi giải thích tất cả, vì ai trong chúng ta cũng hiểu rằng một biểu đồ (diagram) còn có giá trị hơn cả ngàn lời giải thích loanh quanh...

Tôi thật sự choáng ngợp và bối rối vì một tràng pháo tay lớn và rất dài vang lên từ khắp hội trường; tuy nhiên, tràng pháo tay đó cũng đã giúp tôi thêm lòng tự tin và hoàn tất buổi thuyết trình một cách tốt đẹp.
Cũng có một vài câu hỏi có tính cách bắt bẻ, một vài ý kiến đề nghị thay đổi chỗ này chỗ kia, nhưng phần lớn đều đồng ý và tán thành đề án kỹ thuật của TRW do tôi trình bày.

Ngay khi chương trình vừa chấm dứt, ông xếp của tôi chạy vội ra phía sau hội trường nắm chặt tay tôi khích lệ:

- John. Chúng tôi rất hãnh diện vì anh. Anh cứ ở đây gặp gỡ làm quen những người khác, hôm nay không cần về lại văn phòng. Ngày mai chúng ta sẽ nói chuyện nhiều hơn. Cố gắng lên. Anh làm tốt lắm. Anh nói bằng con tim và trí óc chứ không phải bằng miệng lưỡi... Đừng mang nặng mặc cảm về giọng nói của mình a.

Tôi hớn hở bước ra hành lang phía trước hội trường, bắt tay trò chuyện với nhiều người thuộc nhiều hãng xưởng khác nhau. Người hỏi về chuyện vượt biên, “thuở hàn vi” ngày đi học tối làm lao công, kẻ hỏi về phương án làm việc và trao đổi “business card”... Tôi choáng ngợp vì ân tình của bao nhiêu người xa lạ, có những người đã từng là “đối thủ” của tôi trong thời gian đấu thầu dự án Yucca Mountain... Giữa tiếng ồn ào náo nhiệt của bao nhiêu người vây quanh, tôi nghe vọng tới một giọng phụ nữ nói tiếng Việt:

- Anh Khanh nì... Mình chờ một tý gặp anh John làm quen và mời anh ấy về Eden ăn trưa luôn cho vui.

- Đi thôi. Thằng chả chỉ gặp may chứ có hay ho gì hơn ai!

- Mình cũng được hãnh diện vì là người Việt chứ anh.

- Nếu Thy mê nó thì cứ ở lại chờ.

- Anh kỳ quá hà. Hơi một tý là ghen bậy ghen bạ. Đi thì đi...

Tôi ngoái cổ nhìn chung quanh nhưng vì chiều cao quá khiêm tốn của mình nên không tìm được những người bạn “đồng hương yêu dấu” ấy... Tự nhiên tôi cảm thấy cô đơn lạc lõng giữa rừng người không cùng màu da, tiếng nói. Tôi được người ngoại quốc niềm nở tiếp đón và có vẻ thán phục, nhưng hình như, tôi không được một số “đồng bào” của tôi tiếp nhận!
Tại sao?

Mãi gần nửa giờ sau tôi mới một mình lững thững lê bước ra bãi đậu xe, lòng buồn man mác nhớ lại câu ca dao tôi đã thuộc nằm lòng từ thuở còn mài đũng quần trên ghế trường tiểu học ở Làng Ba, Bình Giả:

Khôn ngoan đối đáp người ngoài,
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.

Mẹ Việt Nam ơi, từng bước từng bước chúng con đang hội nhập vào nền văn hóa mới, nhưng cũng từng bước từng bước chúng con đang quên dần tình nghĩa “đồng bào” theo truyền thuyết “con rồng cháu tiên” của hơn bốn ngàn năm văn hiến. Liệu rồi thế hệ con cháu người Việt đang lưu lạc khắp bốn phương trời có còn nhận nhau là anh chị em “máu đỏ da vàng” nữa không?
Nguyễn Duy-An

Trận Chiến Mậu Thân Tại Huế: Từ Góc Nhìn Của Người Chỉ Huy Chiến Trường Bắc Quân

Trận Chiến Mậu Thân Tại Huế:
Từ Góc Nhìn Của Người Chỉ Huy Chiến Trường Bắc Quân

NGUYỄN NGỌC BÍCH .

Việt Báo Thứ Sáu, 3/21/2008, 12:02:00 AM
(Trình bày tại Vietnam Center, Sixth Triennial Vietnam Symposium, Ngày 13-15 tháng 3, 2008. Texas Tech University, Lubbock, Texas. Nguyên bản Anh ngữ, được dịch sang Việt ngữ.)

Bốn mươi năm trước đây, Cộng Sản Việt Nam, trong cố gắng đảo ngược thế cuộc chiến tranh vì các thất bại liên tiếp của họ vào hai năm 1966 – 1967, đã phát động cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân từ tháng giêng đến tháng hai năm 1968. Cuộc Tổng Tấn Công này trở thành một đại thảm họa về quân sự cho phía Cộng Sản. Chính Cộng Sản Việt Nam đã thú nhận là họ thất bại nặng nề, với 48.000 tổn thất nhân sự (41.000 tử vong, 7.000 lính bị bắt làm tù binh, chưa kể thương binh) trên tổng số 84.000 quân trong lực lượng tấn công. Cộng Sản Việt Nam đã phải tốn ít nhất là 3 năm (theo Trần Văn Trà), đến 5 năm (theo Bùi Tín), để tái xây dựng lực lượng. Trên thực tế, hậu quả của cuộc tấn công 1968, nếu tính cả trận đầu cùng với hai lần tấn công theo sau, vào tháng 05/1968 và tháng 08/1968, thì sẽ cho người ta thấy rõ điều này: Cuộc chiến năm 1968 đã tiêu diệt một cách hữu hiệu hầu như toàn bộ bộ máy chiến tranh của họ tại miền Nam Việt Nam.
Chiến địa duy nhất mà Cộng Sản Việt Nam cầm cự được hơn vài ngày là tại Huế, cố đô của Việt Nam, nơi quân Việt Cộng tử thủ đến 25 ngày nhờ vào sự kiên cố của các bức tường cổ thành. Walter Cronkite, phóng viên Hoa Kỳ, khi thăm Huế trong giai đoạn này đã gọi cuộc chiến là “không thể thắng được.” Tổng Thống Lyndon B. Johnson của Hoa Kỳ lúc bấy giờ than: “Nếu tôi mất [sự ủng hộ] Cronkite rồi thì cũng coi như tôi mất sự ủng hộ của người dân bình thường tại Hoa Kỳ.” Đến tháng ba 1968, Johnson quyết định không tái tranh cử Tổng Thống cho nhiệm kỳ hai; thay vào đó, ông ra lệnh ngưng oanh tạc Bắc Việt, một điều đưa đến sự sửa soạn cho “Hòa đàm” Paris.
Có thể nói rằng sự thảm bại quân sự khổng lồ nhất của Việt Cộng trong suốt cuộc chiến, bỗng nhiên dẫn đến bước ngoặt quan trọng nhất trong chiến tranh VN có lợi cho Cộng Sản Bắc Việt. Sau Tết 1968, cục diện chiến tranh Việt Nam thay đổi hoàn toàn: nếu trước đó, huyền thoại về một chiến tranh du kích do người dân miền Nam bị áp bức nổi lên vẫn còn được thêu dệt dù khó tin, sau Tết, vì quân của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam hầu như đã không còn nữa, Hà Nội trắng trợn chường ra bộ mặt của một kẻ xâm lăng, vi phạm Hiệp Định Genève năm 1954, hiệp định phân chia Việt Nam ra thành hai miền Nam Bắc rõ ràng trong khi chờ đợi một giải pháp chính trị (mà lúc đầu được quan niệm là sẽ thống nhất bằng một cuộc Tổng Tuyển Cử).

Một Năm Bản Lề
Các sử gia tương lai sẽ ghi nhận rằng năm 1968 là một năm bản lề trong chiến tranh Việt Nam. Và trong năm đó trận chiến tại Huế sẽ nổi bật lên như là chiến trường đóng góp vào cái nhìn sai lạc mà lại được truyền bá cùng khắp thế giới, nhờ vào các hãng truyền thông của Hoa Kỳ. Sự truyền thông sai lạc này đã thuyết phục được những con diều hâu như Bộ Trưởng Quốc Phòng Clark Clifford trở thành những con chim bồ câu ngây thơ, và cuối cùng đã thúc đẩy Tổng Thống Johnson đi vào con đường bất khả đảo ngược dẫn đến sự triệt thoái và, cuối cùng là thất bại trên chiến trường Việt Nam.
Điều đáng ngạc nhiên nhất, là tuy quan trọng như vậy, nhưng trận chiến tại Huế chỉ được nhắc sơ qua trong các sách sử tiêu chuẩn về chiến tranh Việt Nam.
Duyệt qua các sách giáo khoa về cuộc chiến, người ta sẽ giật mình thấy một lỗ hổng lớn lao giữa tầm quan trọng của trận quyết định này trong chiến tranh Việt Nam và sự xem thường cuộc chiến tại Huế trong các sách giáo khoa như: Huế 1968 không được nhắc đến trong tác phẩm của Tướng Bruce Palmer, Jr., The 25 Year War: America’s Military Role in Vietnam (1984). Huế 1968 chỉ chiếm 1 dòng trong sách của Tướng Phillip B. Davidson, Vietnam at War (trang 475). Huế 1968 được nửa đoạn trong sách của Robert D. Schulzinger, A Time for War: The United States and Vietnam, 1941-1975 (trang 259), Huế 1968 được một đoạn trong sách của William S. Turley, cuốn The Second Indochina War được mô tả là một cuốn “Lược sử chính trị và quân sự, 1954-1975” (trang 109), một đoạn và 4 dòng trong sách của George C. Herring, America’s Longest War (trang 186-187), và một đoạn rưỡi trong sách của Neil Sheehan về “John Paul Vann và Hoa Kỳ ở Việt Nam,” có tựa đề là A Bright Shining Lie (trang 719-720). Trong sách của Michael McClear, Vietnam, A Complete Photographic History, một đại tác phẩm dày 736 trang với trên 2.000 hình ảnh và bản đồ với những phụ đề chữ nhỏ li ti, đã không hề có một đề mục nào cho trận Mậu Thân tại Huế, trừ một chương với tiêu đề “Tìm hiểu về Tết” có nhắc đến trận này (để chỉ trích các thông tin sai lạc của đồng minh) trong ba đoạn rưỡi. Chỉ có một vài cuốn là dành cho Huế một ít chú tâm, nhưng ngay cả trong những sách như của A. J. Languth, Our Vietnam, câu chuyện cũng thiên về cuộc thảm sát tại Huế nhiều hơn là tự thân cuộc chiến (trang 475-478). Ngoại lệ duy nhất có lẽ là sách của Dave R. Palmer, Summons of the Trumpet, khi trận Huế được trân trọng dành cho tới hai trang (trang 192-193) nhưng lại đầy dẫy những thông tin sai lạc.
Điều lạ hơn nữa, là ngay trong các sách Việt Nam, kể cả sách giáo khoa, trận chiến tại Huế cũng bị quên lãng. Thí dụ như, trong tập Lịch Sử Việt Nam, 1945-1975 (Trần Thục Nga và người khác, Lịch Sử Việt Nam, 1945-1975, Nhà xb Giáo Dục, 1987), sách giáo khoa được Đảng CSVN chuẩn nhận trong chương trình dành cho các thầy cô theo ngành sư phạm hiện nay tại Việt Nam, trận chiến tại Huế được nhắc đến trong hai đoạn văn (trang 145), mà đoạn sau không hơn không kém là một đoạn tuyên truyền. Về phía Quân Lực VNCH và người Việt hải ngoại, cuộc chiến tại Huế cũng chỉ nhận được nhiều lắm là vài trang (chính xác là 3 trang, 403-405, trong Chiến tranh Việt Nam toàn tập, tác phẩm được xem là đầy đủ nhất về lịch sử cuộc chiến, của Nguyễn Đức Phương. Nếu đem so sánh với sự quan tâm to lớn dành cho vụ Thảm Sát tại Huế thì phải nói là ta sẽ không thể nào hiểu được vụ thảm sát kia nếu ta không hiểu trận Huế diễn ra như thế nào. Một ngoại lệ có thể tìm thấy trong tập Huế, Xưa và Nay (Hue, Past and Present – Vietnamese Studies Số 37) do Hà Nội xuất bản ngay sau Tết 1968, trong đó có đăng bài của Tôn Vy về “Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân 1968 của Nhân Dân tại Quảng Trị - Thừa Thiên” kể lại trận chiến trong 14 trang nhỏ. Tiếc thay, loạt bài này không có bản đồ, không chỉ rõ đâu là quân Bắc Việt và Việt Cộng, đâu là quân Việt Nam Cộng Hòa, và thêm thắt khá nhiều chi tiết tưởng tượng. Như vậy, câu chuyện thực về cuộc chiến Mậu Thân 1968 tại Huế, theo góc nhìn của người Việt miền Nam, vẫn còn cần được kể lại một cách trung thực.
Những đặc điểm của trận Huế vào Tết Mậu Thân 1968
Cuộc chiến tại Huế vào Tết 1968 không chỉ đặc biệt vì Việt Cộng đã cầm cự được đến 25 ngày trong khi tại các địa điểm khác trong cuộc tấn công, quân xâm lăng đã bị đẩy lui ngay trong vòng vài tiếng đồng hồ đầu tiên, và nhiều lắm là vài ngày (tại Sài Gòn – Chợ Lớn là 9 ngày). Trận Huế năm 1968 đặc biệt là bởi vì, như tại Khe Sanh, quân tấn công là lực lượng chính quy Bắc Việt, những lính chuyên nghiệp dầy dạn chiến trường, được gửi vào từ Miền Bắc… Lý do chính là trước khi phát động cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân, Việt Cộng đã sắp xếp lại các ranh giới quân sự quanh Sài Gòn và Huế để tăng sự đột ngột và sự công phá đến mức tối đa.
Cuộc chiến tại mỗi đô thị được giao cho hai nhóm chỉ huy chiến trường. Tại Sài Gòn là Trần Văn Trà, Mai Chí Thọ, Lê Đức Anh - một người miền Nam kèm bởi hai tướng Bắc Việt - trách nhiệm việc tấn công từ phía Bắc thành phố. Võ Văn Kiệt và Trần Bạch Đằng chỉ huy việc tấn công từ phía Nam.
Trong trường hợp Huế, Trung tướng Trần Văn Quang là Chỉ huy trưởng quân khu Trị - Thiên – Huế, nhưng Đại Tá Lê Minh lại nhận được lệnh trước khi ra quân rằng: “Về chiến dịch, anh là chỉ huy trưởng, về mặt Đảng, anh là trưởng ban công kích và khởi nghĩa của toàn khu.” Trên thực tế, cũng như trường hợp tại Sài Gòn, Lê Minh điều khiển vùng phía Bắc và Thân Trọng Một điều khiển sự tấn công từ phía Nam vào Huế. Mặc dầu vậy, Một nằm dưới quyền Minh, như chúng ta sẽ có dịp nhận xét sau này.
Trận chiến tại Huế năm 1968 đặc biệt vì nếu các cuộc tấn công vào Sài Gòn là sự tổng hợp lực lượng giữa Quân Giải phóng của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, như các đơn vị miền Nam dưới sự chỉ huy của Trần Văn Trà, Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng, và các đơn vị chính quy Bắc Việt dưới quyền Lê Đức Anh, Mai Chí Thọ, thì sự việc tại Huế đã hoàn toàn dính liền với danh dự của riêng Quân đội chính quy Bắc Việt mà thôi. Điểm này rất quan trọng khi chúng ta bàn đến câu hỏi ai là thủ phạm trong việc thảm sát tại Huế năm 1968.
Trận chiến tại Huế năm Mậu Thân cũng đặc biệt về thời điểm, vì sau Tết 1968, Hà Nội không còn cố gắng che dấu sự thực là những quân đoàn chính quy đông đảo, trong đó một số là đã từng tham gia trận Điện Biên Phủ, đã hiện diện tại miền Nam – biến đổi hoàn toàn tính chất “du kích chiến” (được cho là do sự nổi dậy của kháng chiến quân miền Nam) sang cuộc chiến quy ước có trang bị vũ khí quân cụ đầy đủ (bởi các lực lượng ngoại bang và từ phía Bắc vĩ tuyến 17 mang xuống). Sự kiện này trở nên trắng trợn hơn nữa khi Hà Nội tấn công miền Nam, vào Lễ Phục Sinh 1972, với toàn lực của Quân Đội Nhân Dân Miền Bắc, tất cả là những đoàn quân chính quy (với chỉ một sư đoàn để lại ở miền Bắc vào tháng 12/1972). Hà Nội lại thảm bại trong trận chiến này, sau 56 ngày bao vây An Lộc thất bại (tháng 04-06/1972), và đặc biệt sau khi Thủy quân lục chiến Việt Nam Cộng Hòa tái chiếm Cổ thành Quảng Trị vào tháng 09/1972, chứng tỏ sự trưởng thành anh dũng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, 4 năm sau Tết 1968, khi trực chiến với Quân Đội Bắc Việt một khi có đầy đủ pháo binh và không quân yểm trợ.
Sau cùng, trận chiến tại Huế 1968 đặc biệt vì đó là chiến địa duy nhất mà Việt Cộng có đủ thời giờ để thành lập cả một “hội đồng nhân dân” gồm đa số là dân địa hương bị Bắc Việt giật dây. Những kẻ chủ chốt trong việc này là Hoàng Kim Loan, và Hoàng Lanh, hai tên nằm vùng ẩn náu trong nhà của Nguyễn Đóa, một Giám Thị tại trường Quốc Học. Hai ngày sau khi xâm nhập Huế, vào mồng 2 tháng 02, Đài phát thanh Hà Nội loan báo Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên - Huế được dựng lên với Giáo sư Đại Học Văn Khoa (ngành Dân tộc học) Lê Văn Hảo làm Chủ Tịch, và Bà Tuần Chi, một người trong ngành giáo dục, làm Phó.
Mười hai ngày sau đó, 14 tháng 02, Đài phát thanh Hà Nội lại loan báo đã thành lập Ủy Ban Nhân Dân địa phương với Lê Văn Hảo làm Chủ Tịch, và hai phó là Đào Thị Xuân Yến (tên con gái của bà Tuần Chi) và Hoàng Phương Thảo.
Trên thực tế, Việt Cộng đã vào Huế mang theo nhiều danh sách và địa chỉ do bọn nằm vùng cung cấp (như anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan, giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Đóa, và Bà Tuần Chi - vợ Nguyễn Đình Chi, học giả Nguyễn Đắc Xuân, v.v…) và gần như lập tức đi lùng các người có tên trong danh sách.

Trận thư hùng về quân sự
Hướng dẫn bởi thành phần bất mãn do chính phủ VNCH đã dẹp cuộc khủng hoảng Phật Giáo miền Trung (1965-1967), Việt Cộng đã giữ được yếu tố bất ngờ khi họ tràn xuống từ vùng đồi núi phía Tây thành phố vào đêm 31 tháng 01, 1968. Họ đã kiểm soát được thành phố trong một thời gian tương đối ngắn (chưa đầy 24 giờ) ngoại trừ căn cứ của Đại đội 81 Quân Cụ, Đài Phát Thanh Huế, Phi trường Tây Lộc, và đặc biệt là Đồn Mang Cá, tổng hành dinh của Sư Đoàn 1 Bộ Binh dưới sự chỉ huy của Tướng Ngô Quang Trưởng.
Phần phụ lục đính kèm sẽ có chi tiết thời điểm rất rõ, nhưng ở đây chúng ta chỉ có thể tóm tắt trận chiến tại Huế như sau:
31/01/1968: Giữa đêm, bốn tiểu đoàn Bắc Việt dưới quyền Đại tá Lê Minh, hỗ trợ bởi một tiểu đoàn đặc công, tấn công Cổ Thành Huế từ phía Tây, Tây Bắc và chiếm một vùng lớn của thành phố, nhờ yếu tố bất ngờ. Bốn tiểu đoàn khác, cùng với tiểu đoàn đặc công thứ hai, dưới sự điều động của Thân Trọng Một, tấn công từ phía Nam. Toán đầu tiên gặp sự kháng cự tại sân bay Tây Lộc, trong khi nhóm thứ hai chạm trán với sự phòng thủ kiên cường của Đại Đội 81 Quân Cụ tại Tam Thai. Trong cùng thời gian, một tiểu đoàn Bắc Việt khác tiến vào An Hòa, phía Bắc của Huế nhằm chặn đường tiếp viện của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến từ Quảng Trị. Cuối cùng, một lực lượng khác gồm hai tiểu đoàn Bắc Việt đóng chốt tại An Cựu và Phú Cam phòng ngăn quân tiếp viện đến từ phía Nam.
31/01 – 03/02/1968: Việt Cộng kiểm soát được thành phố trong 4 ngày đầu. Sáng 01 tháng 2, họ tập họp dân chúng trong vùng bị kiểm soát, bắt học tập tư tưởng Mác-LêNin rồi cho về để chứng tỏ sự “khoan dung” của phe thắng trận, khuyến khích dân đi rủ những người còn đang trốn tránh ra trình diện. Rất nhiều người rơi vào bẫy này. Tuy nhiên, trong cùng thời gian, Tướng Ngô Quang Trưởng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã thành công trong việc gọi quân về để cũng cố phòng thủ Đồn Mang Cá ở phía Đông Cổ Thành.
04 – 05/02/1968: Chiến trận tạm lắng vì cả hai bên đều kiệt lực, nhất là vì Việt Cộng hết đạn (có điện đánh về Hà Nội ngày 5/2/1968).
06-07/02/1968: “Vào ngày thứ bảy của trận chiến, Hoa Kỳ nhập cuộc.” Tuy chiếm được đa số các mục tiêu nhưng vì đạn đã cạn gần hết, Lê Minh họp cấp chỉ huy và đề nghị rút lui vì “một chiến thắng quyết định” không thể đạt được. Lê Minh ra lệnh mang các chiến lợi phẩm về căn cứ của Việt Cộng tại vùng quê và trong rừng, cũng như tải thương và mang tù binh ra khỏi thành phố.
07-09/02/1968: Lo ngại sự phản công của quân đội VNCH, Việt Cộng phá cầu Trường Tiền vào đêm 7 tháng 02. Nhưng thay vì rút lui, Tướng Bắc Việt Trần Văn Quang đã đến Huế và tái phối trí các đơn vị dưới quyền Lê Minh, rồi ra lệnh dồn hết sức tấn công đồn Mang Cá. Sau 3 tiếng đồng hồ giao tranh dữ dội (từ 9 giờ đêm đến 12 giờ khuya ngày 9/02), nỗ lực này của Bắc Việt đã hoàn toàn thất bại, và quân xâm lược đã phải rút khỏi trận địa. Một điện tín thứ hai được gửi cấp tốc về Hà Nội xin tiếp viện quân và đạn dược. Yêu cầu thứ hai này được Hà Nội hứa chuẩn y, ký bởi 3 vị tướng cao nhất là Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, và Song Hào. Một điện tín khác, sau đó, cũng từ Hà Nội hứa sẽ gửi binh tiếp viện.
10 – 15/02/1968: Đạn dược tiếp liệu do Hà Nội hứa không bao giờ đến, và đội binh tiếp viện đã bị Sư Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ chặn và gần như tiêu diệt hoàn toàn trước khi đến Huế. Ngày 10/02, quân lực VNCH đã bắt đầu càn quét khi địa phương quân thay thế các đơn vị nhảy dù để họ có thể quay sang tấn công quân Bắc Việt.
12/02/1968: Thủy quân lục chiến Việt Nam đến thay thế lực lượng nhảy dù. Một đơn vị Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ (Đại đội 1 của Robert Thompson, Sư đoàn 5 Thủy quân lục chiến) cũng vượt sông Hương và bắt liên lạc với Tướng Trưởng tại đồn Mang Cá.
12 – 20/02/1968: Giao tranh dữ dội, trên mọi đường phố và trong từng căn nhà với sự can dự của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ ở phía Đông và Đông Nam Cổ Thành. Việt Cộng phản công dữ dội khi Thủy quân lục chiến Việt Nam cố mở đường tấn công vào phía Tây Nam Cổ Thành, nhằm cắt đường tiếp viện của địch. Ngày 16 tháng 02, quân lực VNCH thành công trong việc tràn lên các vị trí của địch và hai ngày sau đó, 18 tháng 02, đã đến cửa Chánh Tây và góc Tây Bắc của Cổ Thành.
14/02/1968: Đài Phát Thanh Hà Nội thông báo sự thành lập chính quyền địa phương với Lê Văn Hảo làm chủ tịch (thị trưởng), kèm theo hai bên là hai phó chủ tịch phái nữ. Đứng sau Lê Văn Hảo là một số nhân vật có tiếng tại Huế mà người dân thành nội tin rằng chính là thủ phạm của các vụ Thảm Sát Tết Mậu Thân tại Huế: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Tôn Thất Dương Tiềm, v.v…)
21/02/1968: Dưới áp lực nặng nề của 3 lữ đoàn Thủy quân lục chiến VNCH, không kể Sư Đoàn 1, và 3 tiểu đoàn Hoa Kỳ, quân Bắc Việt “quyết định rút, bởi vì bây giờ dù quân chi viện có vào nữa thì cũng không thay đổi được tình thế.”
22/02/1968: Quân Bắc Việt cố gắng trong tuyệt vọng làm một cuộc phản công hầu tạo xao động cho lính VNCH. Nhưng Trần Ngọc Huế và đội Hắc Báo của ông đã tập hợp chống trả mạnh mẽ và chiến thắng.
24/02/1968: Cuối cùng, quân lực VNCH đã thành công trong việc tái chiếm kỳ đài để hạ cờ Việt Cộng vào lúc 5 giờ sáng, và thay bằng lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa nơi cửa Thượng Tứ.
Tổn thất
Hà Nội chưa bao giờ công bố số quân Bắc Việt tử vong tại Huế, tuy một bài thơ của Chế Lan Viên (1920-1989) đã tự thú nhận:
Hai ngàn quân tràn xuống đồng bằng
Chỉ ba mươi người trở lại…
Trần Văn Trà viết “Có những đơn vị tham chiến mà không ai sống sót trở về,” có lẽ để nói về trận chiến tại Huế. (Bài viết năm 1993, trang 62).
Thống kê của đồng minh ước đoán lính Việt Cộng tham chiến tại Huế có khoảng 7.500 người (tương đương với 15 tiểu đoàn), trong số đó 5.000 tử trận tại chỗ, còn 3.000 xác khác được tìm thấy tại những vùng đất chung quanh Huế. Tuy thật là khó tin, song xác những lính chính quy Bắc Việt tìm được chung quanh các đồi phía Tây của Huế có thể là những nhân sự Hà Nội đưa vào Nam với hoang tưởng là đã chiếm xong được Huế. Chỉ điều này mới giúp giải nghĩa được cảnh tượng sau đây trong những ngày chiến đấu cuối cùng tại Huế, như lời kể của Andrew Wiest qua tác phẩm Vietnam’s Forgotten Army: “Khi tiến lên cùng với lính của mình, Trần Ngọc Huế không thể tin vào mắt ông: những xác chết còn nguyên quân phục mới tinh, xếp chồng chất lên nhau hàng hàng lớp lớp ngút tầm mắt, tràn ra khỏi các mương rãnh, hố cá nhân và bụi rậm. [… Cuối cùng, tìm ra một người lính Bắc Việt còn sống] Huế hỏi tại sao đội quân của anh ta lại mặc quân phục đại lễ và mang theo cờ. Người tù chán nản trả lời: “Họ bảo chúng tôi rằng Huế đã được giải phóng và chúng tôi đến để diễu hành mừng chiến thắng.” (trang 116)
Nhật ký của Lê Minh xác nhận điều này: “Đến ngày 26.2.68 thì tất cả đã rút ra khỏi thành phố. Thực sự là bắt đầu rút từ ngày 22, và cuộc rút lui kéo dài trong 5 ngày mới kết thúc. Vì các chiến lợi phẩm đưa ra tấp ở ngoại thành hoặc ven rừng đều đã bị địch phản kích chiếm lại hết, nên lên rừng người nào là đói ngay trong ngày đó. Sau cuộc liên hoan mừng chiến thắng (sic) có cả nhân sĩ trí thức Huế ở Khe Trái thì cả rừng ăn muối. Khó khăn ập tới sau khi rút ra khỏi Huế là giống như tình hình hồi vỡ mặt trận.”
“Hàng vạn người đã lên rừng phải lo ăn,” Lê Minh tiếp tục, “người ở ngoài kia [Bắc Việt] tiếp tục ập vào, nào công an, đài phát thanh, truyền hình, cục lưu trữ, kể cả cảnh sát giao thông, v.v… ở đâu cũng đòi gạo đòi muối; trong khi đó Trung ương lại cứ tiếp tục giao nhiệm vụ đánh Huế đợt 2 [vào tháng 05/1968].”

Về phía đồng minh, Việt Nam Cộng Hòa bị tử thương 384 người, 1.800 người bị thương, và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ báo cáo 147 tử thương, 857 bị thương nặng cần chuyển về bệnh viện.
Tuy vậy, con số dân lành bị thiệt mạng trong cuộc chiến tại Huế thật khổng lồ. Gần 7.000 người mất tích, trong khi chỉ có 844 tử thương và 1.900 bị thương vì bom đạn. Trong số mất tích người ta tìm được 2.800 tử thi từ các hầm chôn tập thể ở rải rác nhiều nơi trong thành phố, nhất là tại Gia Hội, nơi nhiều người dân bị xử tử, và khoảng 19 địa điểm khác quanh Huế. Các nạn nhân này bị tàn sát bất kể người già, phụ nữ, trẻ em, ngay cả trẻ sơ sinh. Việt Cộng sợ rằng nếu có người sống sót trở về, họ sẽ tiết lộ các nơi trú ẩn của tàn quân Bắc Việt.
Về chuyện này, ngay cả Lê Minh cũng bị nhói trong tim khi viết trong hồi ký: “Tôi thấy cần phải nói đến một điều đáng buồn. [Về] sự tang tóc trong biến cố Mậu Thân [. . .] còn lại một mặt của vấn đề, việc trừng trị những người có tội ác với nhân dân (sic) trong một cuộc chiến tranh là điều không tránh khỏi, một khi quần chúng (sic) đã nổi dậy. [. . .] Rốt cuộc là đã có những người bị xử lý oan trong chiến tranh. Dù lý do thế nào thì trách nhiệm vẫn thuộc về lãnh đạo, trong đó có trách nhiệm của tôi.”

Nhận định sơ khởi
Với những khảo sát kể trên, tôi mong là đã làm rõ được một số vấn đề chung quanh trận Mậu Thân tại Huế - một trong những cuộc giao tranh quan trọng nhất trong chiến tranh Việt Nam. Trận chiến quân sự, với tất cả những tính toán sai lầm và những giây phút hèn nhát ở cả hai phía, đã là một thiên hùng ca cho cả 3 quân đội: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, và Quân Bắc Việt. Cả ba đã vượt sức mình để chiến đấu.
Trong trận chiến chính trị, rõ ràng là Việt Cộng đã lầm to khi tiên đoán về cảm tình của người dân Huế mà họ hy vọng sẽ đứng về phía họ, một chuyện đã không xảy ra. Thế nhưng Việt Cộng đã thật bất ngờ khi cuộc tổng công kích Mậu Thân đã đưa Hoa Thịnh Đốn đến quyết định hoàn toàn thay đổi chiều hướng của cuộc chiến.
Trên phương diện đạo đức, cuộc Thảm sát tại Huế năm 1968 sẽ đi vào lịch sử như một hành động cực kỳ tàn ác, vô nhân, và vô nghĩa lý của Cộng Sản Việt Nam, nhắm vào người dân lành, mà chính Lê Minh, người chỉ huy quân Bắc Việt, cũng đã tự nhận có một phần trách nhiệm trong đó.
Do vậy nên tất cả các chối bỏ tội ác bởi những đầu óc lệch lạc như Gareth Porter nhằm biện minh cho Cộng Sản là hoàn toàn không đứng vững.
Keith Nolan cũng không có lý trong tác phẩm Battle for Hue của ông khi chối bỏ vai trò của Quân Lực VNCH trong trận chiến đặc biệt này, và hạ vai trò của họ xuống như là chỉ đi “theo dọn dẹp chiến trường cho Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ” (trang 87), cũng như kết án họ là “đi từ nhà này sang nhà khác như những nhóm có tổ chức để hôi của.”
Ông Andrew Wiest đã công bằng hơn khi viết: “Từ những nỗ lực đầu tiên để giải tỏa khu MACV, các Thủy quân lục chiến Mỹ đã biểu lộ sự can trường cá nhân và sức chiến đấu của các đơn vị, một truyền thống của TQLC Mỹ, một binh chủng mà vẫn được xem như đòan bộ binh thiện chiến nhất thế giới. Rõ ràng là phía Hoa Kỳ đã hy sinh vô vị lợi. TQLC Mỹ đã chính tự thân giải phóng được thành phố mới ở phía Nam sông Hương và đánh một trận chiến hùng sử ở trong Cổ Thành, với 147 người bị tử thương. Song, trong một trận chiến ít được ngợi ca, Quân Lực VNCH đã thực sự đóng vai chính khi anh dũng chiến đấu để giành lại Thành Nội, những đơn vị thiếu quân số của họ đã đánh bại các lực lượng tự phụ của Bắc Việt và Việt Cộng trong trận chiến dai dẳng và đắng cay mà không hề có sự hỗ trợ trực tiếp của pháo binh cơ hữu hạng nặng. Tại chiến trường này, với số tử vong là 357 chiến sĩ, lính VNCH đã gây – một con số lạ kỳ - là 2.642 cái chết ngay trong lúc giao tranh cho bộ đội Bắc Việt và Việt Cộng.”
Cuối cùng, tôi tin rằng Tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ, Tướng William C. Westmoreland, đã có nhận xét và thông tin đúng đắn hơn Keith Nolan: “Rất nhiều người Mỹ tham dự trận chiến Tết Mậu Thân […], tuy nhiên… chỉ có một trận tấn công lớn của Việt Cộng vào căn cứ Hoa Kỳ tại vòng đai của Long Bình. [… Như vậy] nói chung, cuộc Tổng tấn công Mậu Thân 1968 của Cộng Sản đã hoàn toàn bị đẩy lui bởi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Chúng ta cần vinh danh Quân Lực VNCH, không quân Việt Nam, địa phương quân, cảnh sát quốc gia – tất cả đã đóng vai trò chính yếu trong việc đẩy lui cuộc tấn công của Cộng Sản.”

Nhận định tổng quát
Như ai đã làm thầy giáo đều biết, nhận định công bằng nhất đối với một trận đánh phải đặt trên mục tiêu tiên khởi đưa đến việc làm ấy. Chỉ khi đó chúng ta mới thực sự đo lường được sự thành công hay thất bại trong công việc.
Với ý tưởng này, thiết tưởng cũng nên nhắc lại tên do chính Hà Nội đặt cho cuộc tổng tấn công Mậu Thân là “Tổng Công Kích - Tổng Nổi Dậy.” Đó là vì trong lối nhìn của Hà Nội, họ không chỉ muốn ngừng lại ở chiến thắng quân sự (dù như có được), mà còn muốn nó được kèm theo bởi hình ảnh của một cuộc tổng nổi dậy để cho hành động xâm lăng này xem ra có “chính nghĩa.” Nói cách khác, Hà Nội không muốn bị nhìn là một kẻ hiếu chiến, mà muốn mang mặt nạ của một kẻ đi “giải phóng” nạn nhân của bất công, giúp những người từ lâu bị đàn áp dưới “chính thể tàn độc,” mà Hà Nội phỉ báng là “Đế quốc Mỹ” và “ngụy quyền Sài Gòn.”
Về phương diện này, cuộc tấn công Tết Mậu Thân của Bắc Việt không chỉ là một thất bại quân sự nặng nề, mà còn là một thảm bại về chính trị lớn lao cho họ vì ở cả 25 thành phố và tỉnh lỵ bị tấn công trong năm định mệnh ấy, không nơi nào người dân Việt tiếp đón Cộng Sản cả. Ngay cả ở Huế, nơi mà trong suốt 3 năm trước đó, thành phố đã sôi sục với phong trào Phật Giáo đối lập với chính quyền Sài Gòn.
Lúc đầu, Cộng Sản cố gắng khoác lên bộ mặt nhân đức. Hướng dẫn bởi các tên nằm vùng, với danh sách trong tay, cán bộ Cộng Sản đến từng địa chỉ đã định và đòi hỏi chủ nhà phải ra trình diện trong buổi họp mặt với “chính quyền mới.” (Hiểu là: chúng tôi biết đích xác là các anh ở đâu). Sau đó, người dân được thuyết giảng về “cách mạng” và bị răn đe rằng cuộc “cách mạng” này, tuy “nhân đạo” song sẽ không tha thứ cho bất cứ ai chống đối. Rồi họ cho phép những người dân này trở về nhà và khuyến khích những người đang ẩn trốn đi ra trình diện. Không ít người rơi vào cái bẫy này: những người ra đầu thú bị bắt ngay lập tức, và có người còn bị xử bắn ngay trước mặt thân nhân, điển hình cho cái gọi là “công lý cách mạng.” Giai đoạn thứ ba, các thanh niên sinh viên được gọi ra trình diện và bị bắt đào các đường mương, hào làm chỗ trú bom cho bộ đội trong trường hợp bị thả bom hay pháo kích.
Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, ai cũng nhìn ra rằng các hào sâu này chính là nơi Cộng Sản xử bắn những người bị gán tội “kẻ thù của nhân dân.” Vì Việt Cộng cần tiết kiệm đạn, đa số nạn nhân bị chôn sống sau khi bị đập vào đầu bằng báng súng hay “đánh cho chết bằng xẻng cuốc.” Nạn nhân của giai đoạn này đa số là đàn ông từng làm việc với cảnh sát và chính quyền Miền Nam. Cuộc hành quyết kéo dài nhiều đêm tại nhiều nơi khác nhau trong thành phố.
Khi cuộc chiến đang diễn ra, Cộng Sản khám phá chỗ trú ẩn của nhiều người. Ban đầu, họ tập họp tất cả lại như tù nhân, nhưng chẳng bao lâu sau những tù nhân này bị xem như gánh nặng vì không đủ lương thực, thiếu phòng vệ sinh, và nếu gia đình đi thăm nuôi thì lại trở thành vấn đề thông tin phản gián, đưa đến quyết định là dời tù ra ngoài thành phố, đưa lên vùng đồi núi, hay giản dị hơn là thủ tiêu nạn nhân.
Hoàn cảnh xấu nhất xảy ra khi, không thể chống lại sự phản công của phe quốc gia trong những ngày cuối, Cộng Sản phải quyết định triệt thoái lên núi. Việc rút này phải được tuyệt đối bảo mật. Họ đã thử dời tù nhân lên vùng đồi núi để giữ làm con tin hay làm bia đỡ đạn. Nhưng vì con số tù nhân quá đông, nên điều này trở thành không thể.
Hơn nữa, không đủ lương thực để nuôi tù, không đủ thời gian để đưa họ đi ra Bắc. Thả tù ra là một đề nghị nguy hiểm vì chắc chắn tù binh được thả sẽ tiết lộ đường rút quân. Từ đó đưa đến quyết định bịt miệng và thủ tiêu nhân chứng. Điều này giải thích cho rất nhiều mồ chôn tập thể được tìm thấy sau này, dọc theo con đường rút quân của các đơn vị bộ đội Bắc Việt.

Ai là thủ phạm của quyết định giết dân lành?
“Thị trưởng” Huế trong thời gian này là Lê Văn Hảo (giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên, Huế) – sau đã trốn sang Pháp – không nhận đây là tội của ông. Ông khai rằng mình chỉ bị giật dây và sai khiến, không có tiếng nói trong mọi quyết định của Cộng Sản tại Huế. Hoàng Phủ Ngọc Tường, người sau này có vị thế lớn tại Huế, cũng nói ông không nhúng tay vào thảm kịch ghê sợ này – nhưng dù sao, như Lê Minh, ông ta đã không chối là có các mồ chôn tập thể ; trong khi Gareth Porter hay Philip Hones Griffith, một người phản chiến, lại muốn đổ tất cả tội vào bom đạn của Hoa Kỳ. Nhưng ít ra thì, người dân Huế, cho đến ngày hôm nay, 40 năm sau, vẫn còn nhớ như in cảnh Hoàng Phủ Ngọc Phan (em trai Hoàng Phủ Ngọc Tường) và Tôn Thất Dương Tiềm, hay Nguyễn Đắc Xuân dẫn đường cho Cộng Sản đi từng nhà điệu nạn nhân ra, kết án họ đã “mắc tội với nhân dân” và có khi còn đọc bản án tử hình cho một số nạn nhân. Đây là đợt thảm sát đầu tiên trong thành phố Huế như Gia Hội.
Còn những nạn nhân bị giết trên đường rút lui của Cộng Sản thì trách nhiệm phải thuộc những người chỉ huy quân đội như Lê Minh - người đã tự nhận một phần trách nhiệm – hay những người chỉ huy thấp hơn, đã tự động thủ tiêu nạn nhân trước rồi báo cáo sau – như Lê Minh ngụ ý trong lời khai của ông. Tuy nhiên, cách hành xử này đã rất phổ biến, đưa đến ít nhất là 22 mồ chôn tập thể được tìm ra sau này, và cho thấy lệnh thủ tiêu dân lành có thể được ban ra từ cấp chỉ huy cao hơn cả Lê Minh, rất có thể là từ Tướng Trần Văn Quang, tư lệnh quân khu Trị - Thiên - Huế, hay ngay cả từ Hà Nội.
Bản dịch hoàn tất ngày
19 tháng 3, 2008
PS : Nguyễn Đóa : giáo sư Pháp Văn Trung Học Bồ Đề (không phải Giám Thị Quốc Học Huế)
Tôn T Dương Tiềm (em cuả T T Dương Kỵ, giáo sư Việt Văn TH Bồ Đề , Nguyễn Du)

Trung Quốc: Bọn thực dân mới

Trung Quốc: Bọn thực dân mới
The Economist. 13/3/08.
Khánh Đăng lược dịch.

Trung Quốc háu đói tài nguyên thiên nhiên gây ra nhiều khó khăn trong nội địa hơn là ở bên ngoài.

Không có gì phải gọi là phóng đại khi nói rằng Trung Quốc đang thèm khát nhiều mặt hàng. Mặc dù dân số Trung Quốc chỉ chiếm vào khoảng một phần năm dân số thế giới, nhưng lại đớp hơn phân nửa (1/2) sản lượng thịt heo, dùng một nửa (1/2) lượng xi măng, với một phần ba (1/3) lượng sắt thép và hơn một phần tư (1/4) lượng nhôm của toàn thế giới. Trung Quốc chi tiêu cho việc nhập cảng đậu nành và dầu thô cao hơn gấp 35 lần khi so sánh với năm 1999, và chi tiêu cho nhập cảng đồng cao hơn gấp 23 lần — thật vậy, Trung Quốc đã nuốt hơn bốn phần năm (4/5) số lượng đồng của thế giới, mà mức cung cấp đã gia tăng kể từ năm 2000.
Thêm nữa, Trung Quốc ngày càng càng háu đói hơn lúc nào hết. Mặc dù mức tiêu thụ xăng dầu đang thuyên giảm tại Hoa Kỳ, nhưng giá cả dầu thô lại gia tăng lập ra những kỷ lục mới, vì nhu cầu (xăng dầu) từ Trung Quốc và các nền kinh tế đang phát triển khác vẫn trên đà gia tăng. Cơ quan Năng lượng Quốc tế tiên đoán rằng số lượng dầu thô nhập cảng của Trung Quốc sẽ tăng lên gấp ba vào năm 2030. Nhu cầu của Trung Quốc về nguyên liệu ở tất cả mọi mặt hàng gia tăng quá nhanh, và tạo ra một vận may cho giới nông dân, thợ mỏ và giới sản xuất dầu thô, đến nỗi những thành ngữ như “bull market” hay “cyclical expansion” hầu như không còn nghĩa lý gì. Thay vào đó, các chuyên viên ngân hàng đã nặn ra một chữ mới : supercycle
Nhưng không phải tất cả các nhà quan sát đều nghĩ rằng sự thèm muốn vô biên của Trung Quốc về các mặt hàng hoá là thượng hạng. Những than phiền thông thường nhất đều đặt trọng tâm vào chính sách đối ngoại. Trong nỗ lực để bảo đảm có những nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định, Trung Quốc đang ve vuốt các nhà độc tài, bóc lộc các quốc gia nghèo và làm suy yếu đi những nỗ lực của Tây phương nhằm truyền bá dân chủ và thịnh vượng. Những tiếng gào thét lớn nhất cho rằng Hoa Kỳ và Âu Châu đang làm “mất đi” Phi Châu và Mỹ Châu La tinh.
Lập luận này đã làm ngơ về những lợi ích mà cơn say sưa về hàng hóa của Trung Quốc sẽ đem lại, không chỉ cho các nước nghèo, nhưng cũng cho một số quốc gia giàu có, chẳng hạn như nước Úc. Các nền kinh tế ở Phi Châu và Mỹ Châu La tinh chưa từng bao giờ tăng trưởng nhanh như thế. Sự tăng trưởng đó, khi đến phiên, sẽ có khả năng đưa dân chúng thoát ra khỏi cảnh nghèo đói, hơn là các chương trình viện trợ thiếu hiệu qủa của Tây phương. Hơn nữa, Trung Quốc không phải là quốc gia duy nhất hỗ trợ cho các chế độ bạo tàn. Hãy xem người Pháp đóng quân rải rác khắp Phi Châu, một số người trong họ mới đây đã chuyển giao một chuyến tàu chuyên chở vũ khí của Libya cho nhà độc tài Idriss Déby của nước Chad.
Một sắc thái mới
Trung Quốc có thể — và nên —- dùng ảnh hưởng của mình để kềm chế những kẻ tàn ác nhất trong số bạn hữu của mình, trong đó có chính phủ của Sudan và Miến Ðiện. Và Trung Quốc đang bắt đầu làm như vậy. Họ đã ngưng không phản kháng lại việc đưa lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp quốc đến Dafur, lại còn gởi một số kỹ sư quân sự của chính họ đến tham gia vào lực lượng này. Ôn Gia Bảo, thủ tướng Trung Quốc, đã công khai kêu gọi cho dân chủ tại Miến Ðiện — mặc dù sự hiểu biết về dân chủ của các viên chức nhà nướcTrung Quốc khác với của Tây phương — đây là một bước đi táo bạo đối với một chính phủ đã từng tuyên bố rằng họ không xen vào công việc nội bộ của các nước khác. Trung Quốc càng làm ăn nhiều hơn với thế giới, thì chính sách đối ngoại của họ càng có khả năng mang lại nhiều sắc thái hơn.
Dù vậy, sự thèm khát tài nguyên thiên nhiên của Trung Quốc cũng đang gây ra nhiều khó khăn. Phần lớn các khó khăn này nằm ngay bên trong Trung Quốc, chứ không phải từ bên ngoài. Trung Quốc đang hút vào nhiều hàng hóa hơn lúc nào hết, không phải vì nền kinh tế đang tăng trưởng quá nhanh chóng, nhưng cũng vì sự tăng trưởng đó tập trung trong các ngành kỹ nghệ xử dụng nhiều tài nguyên. Trong vài năm qua, đã có một sự chuyển hướng đáng chú ý từ các ngành sản xuất nhẹ sang kỹ nghệ nặng. Cho nên với mỗi đơn vị sản phẩm làm ra, Trung Quốc bây giờ lại tiêu thụ thêm nhiều nguyên liệu.
Ðiều này nghe có vẻ như là một thay đổi nhỏ, nhưng hệ quả thì mang nhiều kịch tính. Thí dụ như có một thứ, nó khuyến khích cho những cái như những vướng mắc với thế giới bên ngoài, mà hiện giờ những vướng mắc đó đang gây cho Trung Quốc những vấn đề bối rối. Lo ngại hơn nữa, nó lại đang chồng chất lên tình trạng ô nhiễm, vốn đã ác liệt, của Trung Quốc. Kỹ nghệ nặng đòi hỏi một nguồn năng lượng to lớn. Thí dụ như ngành luyện thép xử dụng 16% năng lượng của Trung Quốc, so với 10% của tất cả các đơn vị gia cư cộng lại. Bằng một mức rất xa, nhiên liệu thông dụng nhất để tạo ra điện năng vẫn là than đá. Do đó, xây thêm các lò luyện thép và nhà máy hoá chất, thì có nghĩa là có thêm mưa acid và khói mù, đó là chưa kể đến vấn đề hâm nóng toàn cầu.
Những điều này không chỉ gây ra sự bất thuận tiện, nhưng cũng là một trở ngại vô cùng to lớn cho xã hội. Mỗi năm, nó làm cho hàng triệu người mắc bệnh, gây ra hàng trăm ngàn vụ chết yểu, làm giảm thiểu sản lượng nông nghiệp, vv ... Ông Pan Yue, một thứ trưởng trong một cơ quan giám sát môi trường của nhà nước, tin tưởng rằng cái giá phải trả hàng năm, vì tình trạng ô nhiễm, chồng chất lên đến khoảng 10% trị giá tổng sản phẩm nội địa (GDP).

Không có lửa làm sao có khói
Thế thì không có gì phải ngạc nhiên, vì tình trạng ô nhiễm là nguyên nhân của biết bao vụ phản đối và biểu tình. Có khoảng 60,000 vụ biểu tình chỉ trong năm 2006, theo như sự tính toán riêng của nhà cầm quyền. Một vài vụ được cầm đầu không phải bởi các nông dân nghèo yếu đuối, nhưng bởi dân thành thị có tổ chức kỹ càng đến từ Shanghai và Xiamen, đây là một sự kiện chắc chắn phải làm cho giới cai trị Trung Quốc kinh ngạc.
Và khả năng để xảy ra thêm các vụ khủng hoảng về sự gẫy đổ của môi trường thì rất lớn: khu vực phía Bắc của Trung Quốc đang bị cạn nước; và các khối băng hà vẫn cung cấp nguồn nước cho các dòng sông đang bị thu nhỏ lại thì đang tan ra, xin cám ơn nạn hâm nóng toàn cầu
Nhà nước Trung Quốc biết rõ các khó khăn này, và đang cố gắng giải quyết. Họ đã lợi dụng kỳ họp Quốc hội Nhân dân trong tháng này để nâng cơ quan giám sát môi trường của ông Pan lên thành một bộ của nhà nước. Họ đã gia tăng mức phạt vạ đối với những kẻ gây ra ô nhiễm, giảm việc trợ cấp xăng dầu và huỷ bỏ việc giảm thuế cho ngành kỹ nghệ nặng. Họ cũng đề xướng ra việc xử dụng các nguồn điện năng sạch như các máy phát điện chạy bằng sức gió và khí đốt thiên nhiên. Nhưng mặc dù có những nỗ lực dồn dập để làm sạch sẽ Bắc Kinh cho kịp với Thế vận hội vào tháng Tám, các lực sĩ vẫn nghi ngờ về việc không khí có trong lành không để hít thở. Lực sĩ nhanh nhất thế giới của môn chạy marathon, là một thí dụ, đã đe dọa sẽ bỏ không tranh tài trong cuộc đua đó vì nạn ô nhiễm.
Tất cả các dự án làm xanh tươi môi trường của nhà nước đang bị làm suy yếu đi vì một nguồn vốn phong phú đầy giả tạo, và sự hăng hái của giới quan liêu nhà nước muốn đưa các nguồn vốn này vào các ngành kỹ nghệ (gây ô nhiễm) nhơ bẩn. Các ngân hàng Trung Quốc, được nhà nước cho phép, chỉ trả một lãi xuất rất thấp so với lãi xuất thật trên các khoản tiền được ký thác, rồi cho các công ty quốc doanh vay mượn lại với lãi xuất rẻ mạt. Ða số các công ty này cũng được hưởng lợi nhuận từ đất đai được cấp phát miễn phí và chia chác lại các khoản lợi tức không đáng kể cho nhà nước, để dành nhiều tiền đầu tư thêm vào các nhà máy (gây ô nhiễm) bẩn thỉu. Những người ký thác ngân hàng và đóng thuế tại Trung Quốc đang trợ cấp cho các ngành kỹ nghệ đang dần dà đầu độc họ.
Trung Quốc đang trên đường để tiêu thụ một lượng nguyên liệu khổng lồ khi họ càng phát triển. Nhưng với tình trạng ô nhiễm như thế, với bao nhiêu xáo trộn mà tình trạng ô nhiễm đang gây ra, Trung Quốc nên kìm hãm lại cơn háu đói của họ về các nguồn tài nguyên. Một kế hoạch phát triển kém phung phí hơn sẽ là một kế hoạch lành mạnh hơn.

http://tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=5631

The new colonialists
Mar 13th 2008
From The Economist print edition

China's hunger for natural resources is causing more problems at home than abroad

THERE is no exaggerating China's hunger for commodities. The country accounts for about a fifth of the world's population, yet it gobbles up more than half of the world's pork, half of its cement, a third of its steel and over a quarter of its aluminium. It is spending 35 times as much on imports of soya beans and crude oil as it did in 1999, and 23 times as much importing copper—indeed, China has swallowed over four-fifths of the increase in the world's copper supply since 2000.
What is more, China is getting ever hungrier. Although consumption of petrol is falling in America, the oil price is setting new records, because demand from China and other developing economies is still on the rise. The International Energy Agency expects China's imports of oil to triple by 2030. Chinese demand for raw materials of all sorts is growing so fast and creating such a bonanza for farmers, miners and oilmen that phrases such as “bull market” or “cyclical expansion” do not seem to do it justice (see special report). Instead, bankers have coined a new word: supercycle.
Not all observers, however, think that China's unstinting appetite for commodities is super. The most common complaint centres on foreign policy. In its drive to secure reliable supplies of raw materials, it is said, China is coddling dictators, despoiling poor countries and undermining Western efforts to spread democracy and prosperity. America and Europe, the shrillest voices say, are “losing” Africa and Latin America.
This argument ignores the benefits that China's commodities binge brings, not only to poor countries, but also to some rich ones, such as Australia. The economies of Africa and Latin America have never grown so fast. That growth, in turn, is likely to lift more people out of poverty than the West's faltering aid schemes. Moreover, China is not the only country to prop up brutish regimes. Witness the French troops scattered around Africa, some of whom recently delivered a shipment of Libyan arms to Chad's embattled strongman, Idriss Déby.

A new nuance
China could—and should—use its influence to curb the nastiest of its friends, including the governments of Sudan and Myanmar. And it is beginning to do so. It has ceased to resist the deployment of United Nations peacekeepers in Darfur, and is even sending some of its own military engineers to join the force. Wen Jiabao, China's prime minister, has called publicly for democracy in Myanmar—which, even though Chinese officials' understanding of democracy is different to Westerners', is a bold step for a government that claims not to meddle in other countries' internal affairs. The more business China does with the rest of the world, the more nuanced its foreign policy is likely to become.
Still, China's hunger for natural resources is creating plenty of problems. Most of them, though, are in China, not abroad.
China is hoovering up ever more commodities not just because its economy is growing so quickly, but also because that growth is concentrated in industries that use lots of resources. Over the past few years, there has been a marked shift from light manufacturing to heavy industry. So for each unit of output, China now consumes more raw materials.
That may sound like a minor change, but the implications are dramatic. For one thing, it has encouraged the sort of foreign entanglements that are now causing China such embarrassment. More worryingly, it is compounding China's already grim pollution. Heavy industry requires huge amounts of power. Steelmaking, for example, uses 16% of China's power, compared with 10% for all the country's households combined. By far the most common fuel for power generation is coal. So more steel mills and chemical plants mean more acid rain and smog, not to mention global warming.
These are not just inconveniences, but also an enormous drag on society. Each year, they make millions sick, cause hundreds of thousands of premature deaths, sap agricultural yields and so on. Pan Yue, a deputy minister at the government's environmental watchdog, believes that the costs inflicted by pollution each year amount to some 10% of GDP.

No fire without smoke
It is no wonder, then, that pollution is the cause of ever more protests and demonstrations. There were some 60,000 in 2006 alone, by the authorities' own count. Some are led not by impotent peasants but by well-organised burghers from Shanghai and Xiamen, a development that must horrify China's rulers. And the potential for even more disruptive environmental crises is great: northern China is already running out of water, and the glaciers that feed its dwindling rivers are melting, thanks to global warming.
The government is aware of these problems, and is trying to address them (see article). It has used this month's People's Congress to raise the status of Mr Pan's agency to a ministry. It has increased fines for pollution, reduced subsidies on fuels and scrapped tax breaks for heavy industry. It is also promoting cleaner sources of power, such as windmills and natural gas. Yet despite frantic efforts to clean up Beijing in time for the Olympics in August, athletes still doubt the air will be fit to breathe. The world's fastest marathon runner, for one, has threatened to drop out of that race because of pollution.
All the government's green schemes are being undermined by an artificial abundance of cheap capital, and by bureaucrats' enthusiasm for channelling it to grubby industries. Chinese banks, with the government's blessing, pay negative real interest on deposits and so can lend to state-owned firms very cheaply. Many of those firms also benefit from free land and pay negligible dividends to the state, leaving lots of money to invest in more dirty factories. Chinese depositors and taxpayers are subsidising the very industries that are slowly poisoning them.
China is bound to consume enormous amounts of raw materials as it develops. But given how polluted the country already is, and how much unrest that pollution is causing, it should curb its hunger for resources. A less wasteful development strategy would be a healthier one.

justify
December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31