Skip navigation.

Linh hồn lãng tử

Ta là mưa, là gió, là mây ngàn. Là biển, là sóng, là quan san. Vạn năm là chốn ta dạo bước. Thiên thu là bể ta tung hoành

STICKY POST

Xin chào ..!

Bạn là ai? tên bạn là gì?
Tôi này chào đón bạn lại chơi.
Hàn huyên ta dốc bầu tâm sự.
Tri âm lưu bút lại đôi dòng.
Thân.
tratstil!

Travels_Sweden Hãy mỉm cười trong cuộc sống. Nụ cười của bạn mang lại hạnh phúc cho người xung quanh và do đó cũng mang lại hạnh phúc cho chính bạn.

Google Chrome & working with XML in Javascript

Làm việc với các trình duyệt khác nhau rất mệt mỏi, chúng như mấy bà già cứ tỵ nạnh nhau và chỉ có cánh lập trình là khổ. Vì phải đáp ứng cho tất cả các bà. Google Chrome có ưu điểm là giao diện rất đơn giản và bắt mắt nên cũng có nhiều người sài trình duyệt này, mà khi đã có người sài thì lập trình viên phải đảm bảo sản phẩm của mình hiển thị tốt trên trình duyệt đó.

Không hiểu Google thích tạo ra cái riêng của mình so với IE và Firefox hay là chỉ là 1 cái lỗi đơn thuần mà cách hiểu của Google Chrome với XMLHttpRequest khác những trình duyệt khác. Chi tiết được trình bày bên dưới.

 

Đầu tiên ta có hàm StrtoXML(string) dùng để convert 1 chuỗi XML sang một đối tượng XML document

clip_image001

Screen clipping taken: 11/26/2009 7:05 PM

 

Và ta sử dụng hàm này convert 1 chuỗi XML

clip_image002

Screen clipping taken: 11/26/2009 7:08 PM

 

Kết quả.

clip_image003

Screen clipping taken: 11/26/2009 7:08 PM

 

Và bây giờ ta dùng ajax để load 1 chuỗi XML từ server.

clip_image004

Screen clipping taken: 11/26/2009 7:14 PM

 

Và kết quả.

clip_image005

Screen clipping taken: 11/26/2009 7:15 PM

 

Kiểm tra sender.responseText;

clip_image006

Screen clipping taken: 11/26/2009 7:17 PM

 

Kết quả.

clip_image007

Screen clipping taken: 11/26/2009 7:18 PM

 

 

Google chrome trả ra 1 document với root node là html->body->… còn các trình duyệt khác thì trả ra 1 document với rootnode là menuinfo (đây mới là kết quả mong muốn).

Đây là 1 bug của chrome. Rất nhiều người hoang mang với bug này đặc biệt là Google Chrome không hỗ trợ responseXML. Nhưng ta để ý rằng đối với chuỗi Google Chrome làm việc rất tốt vậy ta có thể ép kiểu responseText sang string. Bằng cách

clip_image008

Screen clipping taken: 11/26/2009 7:34 PM

 

Kết quả trả ra.

clip_image009

Screen clipping taken: 11/26/2009 7:35 PM

Tratstil gặp trường hợp lỗi này khi test thử ebusop2 trên Google Chrome và test trên Opera bị tình trạng tương tự, có thể một số bạn cũng đang gặp trường hợp như thế này mà chưa hiểu làm sao nên Tratstil post lên đây để mọi người tham khảo và góp ý cùng thảo luận về vấn đề này. Vì Tratstil dùng MS One Note để ghi nhận lại trường hợp này, dùng hình ảnh để mô tả nên khi post lên đây hình ảnh có thể khó nhìn. Mong các bạn thông cảm.

 

Tratstil
Sài gòn
– 26/11(2009)

[HT1] Ghi chú 2 – 23/11(2009)

Nguyên âm

Có nhiều âm nguyên âm khác nhau trong tiếng Anh. Con số chính xác của những âm nguyên âm thay đổi theo giọng cụ thể của người nói cụ thể. Quyển sách này chỉ chọn những âm phổ biến nhất được dùng trong cách phát âm chuẩn và gồm 24 nguyên âm.

Tuy nhiên, bảng chữ cái tiếng Anh chỉ có 6 mẫu tự nguyên âm (kể cả y). Hệ thống cách viết từ của tiếng Anh dùng một số qui ước khác nhau để khắc phục việc thiếu các mẫu tự này. Những qui ước này không chỉ ảnh hưởng đến cách viết của âm nguyên âm mà còn ảnh hưởng đến cách viết của những âm khác quanh nó.

Âm nguyên âm ‘ngắn’:

Trong một âm tiết kín (nghĩa là một âm tiets được đóng kín bằng một âm phụ âm), những âm /ᴂ/ ,/e/,/ɪ/, /ɒ/ /ʌ/ thường được viết bằng một mẫu tự nguyên âm đơn lần lượt là a, e, i, ou. Âm nguyên âm ngắn /ʊ/ thường được viết là oo, dù rằng ở một số từ nó được viết là u .

Điều này có nghĩa là, ít nhất trong những từ bản ngữ, mẫu tự nguyên âm sẽ được ít nhất một mẫu tự phụ âm theo sau ở cuối của mỗi từ (như ‘bank’, ‘bat’, ‘but’, và ‘put’) và ít nhất hai mẫu tự phụ âm ở giữa một từ (như ‘lottery’, plucking và ‘riches’).

Âm không được nhấn giọng /ɪ/ thường được viết là e- hay i- ở đầu một từ (như ‘enough’, ‘expected’, ‘important’ và ‘involve’).

Âm nguyên âm ‘dài’:

Trong một âm tiết mở (nghĩa là một âm tiết không bị đóng kín bằng một âm phụ âm), những âm /eɪ/, /i:/,/aɪ/, /oʊ//ju:/, thường được viết bằng một mẫu tự nguyên âm đơn lần lượt là a, e,i,ou. Âm nguyên âm dài /u:/ thường được viết là oo, dù rằng ở một số từ nó được viết là u.

Điều này có nghĩa là mẫu tự nguyên âm sẽ không được theo sau bằng một mẫu tự phụ âm (như ‘go’, ‘he’, ‘menu’, ‘radio’ và ‘why’) hoặc sẽ được theo sau bằng một mẫu tự phụ âm đơn trước một mẫu tự nguyên âm khác (như ‘crisis’ , ‘finance’, ‘future’, ‘labour’, ‘local’, ‘open’, ‘rude’ và ‘union’).

Những nguyên âm dài thường cũng được biểu diễn bằng một nguyên âm đôi (như ‘again’, ‘approach’, ‘been’, ‘issue’, ‘jewel’ , ‘mayor’ ,’neutral’, ‘new’, ‘now’ , ‘say’, và ‘see’).

Âm không được nhấn giọng /i:/(/ɪ/) thường được viết là y ở cuối mỗi từ (như ‘any’, ‘only’ và ‘very’).

Âm nguyên âm ‘có r đóng kín’

Những nguyên âm /ɑ:/ , /ɜ://ɔ:/ thường được viết bằng một mẫu tự nguyên âm đơn trong một âm tiết được đóng kín bằng r. Điều này nghĩa là mẫu tự nguyên âm sẽ đượ theo sau bằng r ở cuối một từ (như ‘blur’, ‘far’, ‘her’, ‘or’, ‘stir’) và bằng r và ít nhất một mẫu tự phụ âm khác ở giữa một từ (như ‘first’ , ‘force’, ‘party’, ‘report’, ‘service’, ‘thirty’, và ‘turn’).

Âm nguyên âm ‘có r mở’:

Những nguyên âm /eə/, /ɪə/, /aɪə/, /ʊə//jʊə/ thường được viết bằng một mẫu tự nguyên âm đơn trong một âm tiết mở (nghĩa là một âm tiết không được đóng kín bằng một phụ âm), khi phụ âm kế là r. Điều này có nghĩa là mẫu tự nguyên âm sẽ được theo sau bằng một mẫu tự r trước một mẫu tự nguyên âm khác (như ‘during’, ‘environment’, ‘experience’, ‘fire’, ‘here’, ‘parent’, ‘share’, và ‘sure’) hay bằng một nguyên âm đôi được theo sau bằng một r (như ‘air’, ‘beard’, ‘dairy’, ‘steer’, ‘tear’ và ‘tour’).

Lưu ý: Âm nguyên âm ‘r’: vì các âm /ɑ:/ , /ɜ://ɔ:/ , /eə/, /ɪə/, /aɪə/, /ʊə//jʊə/ và /ə/ thường xuyên xuất hiện trong các từ với một mẫu tự r không đọc nên thật là tiện lợi khi xem r là một phần trong cách viết của nguyên âm. Chẳng hạn như trong từ ‘bear’, âm nguyên âm /eə/ được tiêu biểu bằng ‘-ear’. Tuy vậy, trong từ ‘bearing’ vì âm kế là một nguyên âm nên âm được tiêu biểu bằng ‘ear’ là /eər/ không phải là /eə/.

Âm nguyên âm ‘đôi’:

Những âm nguyên âm /ɔɪ//aʊ/ luôn được viết với một nguyên âm đôi (như ‘about’, ‘boy’, ‘down’, ‘now’, ‘point’, ‘royal’).

Âm nguyên âm yếu:

Âm nguyên âm yếu chỉ xuất hiện ở những âm tiết không được nhấn giọng. Âm /ə/ chủa chúng được viết theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, nó thường được viết là a khi nó là âm đầu tiên trong một từ (như ‘about’, ‘according’ và ‘across’). và thường được theo sau bằng –r ở cuối các từ (như ‘affer’, ‘labour’, và ‘other’)

Âm không được nhấn giọng /ɪ//i:/ đôi khi được xem là âm nguyên âm yếu.

 

Phụ âm

Có 24 phụ âm khác nhau trong tiếng Anh và 21 mẫu tự phụ âm. Vì vậy, không thiếu mẫu tự như đã xảy ra với nguyên âm, dù rằng cách và một âm phụ âm được viết ra thường bị ảnh hưởng bởi những âm khác quanh nó.

Phụ âm ‘đơn’:

Những phụ âm /b/, /d/, /g/, /h/, /l/, /m/, /n/, /p/, /r/, /t/, /w//j/ có thể được xem là ‘đơn’ vì chúng thường được biểu diễn bằng cùng mẫu tự đó trong tất cả các từ, bất chấp ngữ cảnh.

e.g. /l/life, old, real; /p/ – company, put, up

Hầu hết những mẫu tự này (trừ h, wy) có thể được gấp đôi ở một số vị trí (như nn trong ‘beginning’). Trong một số từ, nhiều mẫu tự trong các mẫu tự này được đi theo bằng những mẫu tự không đọc (như g không đọc với n trong ‘sign’, k không đọc với n trong ‘knife’, p không đọc với n trong ‘pneumonia’).

Phụ âm ‘phức’:

Những âm phụ âm /k/ , /tʃ/, /f/, /dʒ/, /ŋ/, /s/, /ʒ/, /ʃ/, /θ/, /δ/, /v//z/ nói chung là không được biểu diễn bằng cùng mẫu tự đó trong tất cả các ngữ cảnh. Hầu hết chúng đều được biểu diễn bằng những mẫu tự khác nhau trong các từ khác nhau. Hơn nữa, nhiều âm được tiêu biểu bằng mẫu tự đôi hơn là mẫu tự đơn.

e.g. /f/- from, graph, rough; /dʒ/- adjust, edge, education, gem, job.

Mẫu tự phụ âm đôi không gấp đôi và chỉ mẫu tự đơn có thể gấp đôi là f (khi đọc là /f/), s(khi đọc là /s/) và z(khi đọc là /z/).

Các kết hợp nguyên âm.

Mẫu tự đôi:

Lý do thông thường cho việc ghép các mẫu tự nguyên âm với nhau là tiêu biểu từng âm nguyên âm riêng dưới dạng nguyên âm đôi (như ea đọc là /i:/ trong ‘mean’, oa đọc là /oʊ/ trong ‘road’, oe đọc là /oʊ/ trong ‘toe’ và oo đọc là /ʊ/ trong ‘good’). Như là một hướng chung, ta có thể nói rằng nguyên âm đôi thường thấy trong từ ngắn của bản ngữ hơn là những từ dài gốc cổ điển.

Âm:

Ít thông dụng hơn, hai nguyên âm có thể đi chung với nhau ở những âm tiết riêng trong một từ: area , guardian, reality, union, create, liaison, society, …

Nói chung, điều này thông dụng ở từ gốc cổ điển hơn là bản ngữ.

Các kết hợp phụ âm.

Âm:

Hai âm phụ âm thường đi với nhau hơn là hai nguyên âm: and, from, still, world, between, only, think, …

Cũng có thể có hơn hai âm phụ âm đi với nhau, nhưng điều này rất hiếm. Chẳng hạn như ở đầu một từ, âm đầu tiên trong ba âm phụ âm phải là âm /s/ luôn được viết là s-: scrape, splendid, string …

Phụ âm không đọc

Không phải tất cả các mẫu tự phụ âm đều tiêu biểu bằng âm. Trong các từ tiếng Anh có một số mẫu tự phụ âm không đọc: comb, ghost, pneumonia, wrong, debt, know, sign …

Mẫu tự đôi:

Những mẫu tự đôi sau đây (tất cả đều có mẫu tự h) được dùng để tiêu biểu cho âm phụ âm riêng lẻ :

Vd: ch đọc là /tʃ/ trong ‘much’, gh đọc là /f/ trong ‘rough’, ph đọc là /f/ trong ‘phone’, sh đọc là /ʃ/ trong ‘should’, và th đọc là /θ/ trong ‘think’.

Phụ âm đôi:

Cũng có trường hợp các mẫu tự phụ âm được kết hợp lại để tạo phụ âm đôi :

Vd: bb trong ‘rubber’, cc trong ‘account’, dd trong ‘add’, ff trong ’office’, gg trong ‘bigger’, ll trong ‘will’, mm trong ‘common’, nn trong ‘announce’, pp trong ‘support’, rr trong ‘current’, ss trong ‘press’, tt trong ‘little’', và zz trong ‘puzzle’.

Các kết hợp nguyên âm và phụ âm.

Những chuỗi sau đây gồm đến bốn mẫu tự có thể được dùng để tiêu biểu cho âm nguyên âm riêng:

Vd: aigh đọc là /eɪ/ trong ‘straight’, al đọc là /ɑ:/ trong ‘palm’, augh đọc là /ɔ:/ trong ‘caught’, eigh đọc là /eɪ/ trong ‘eight’, ig đọc là /aɪ/ trong ‘sign’, igh đọc là /aɪ/ trong ‘right’, ough đọc là /ɔ:/ trong ‘thought’ và oul đọc là /ʊ/ trong ‘would’.

Những mẫu tự riêng

Cách dùng một mẫu tự nào đó có ảnh hưởng đặc biệt mạnh đến mẫu tự đi liền theo:

Mẫu tự đơn –a, –i–u chỉ xuất hiện ở cuối từ nước ngoài và danh từ riêng. Trong các từ bản ngữ , chúng thường được theo sau bằng một mẫu tự khác (như ‘due’, ‘say’ và ‘tie’). j v luôn luôn được theo sau bằng một nguyên âm với j thường chỉ được thấy ở đầu một âm tiết: conjure, pyjamas, join, giving, voice, never… q luôn luôn có u theo sau và thường được phát âm là /kw/, nhưng đôi khi được đọc là /k/:queen, quiet, quick, quay, quiche, queue…

Trích : English guides spelling – Jonathan Payne dịch Cách viết từ – Nguyễn Thành Yến

Cách đọc phát âm các âm nguyên âm tham khảo thêm quyển : Ship or Sheep? – Ann Baker dịch, chú giải Nguyễn Thành Yến

i:  Sheep /ʃi:p/ : miệng mở thật nhỏ tạo thành âm i:. Âm i: là âm dài.
ɪ   Ship    /ʃɪp/  : Trước tiên thực hành âm i:, sau đó mở miệng to hơn một chút. ɪ là âm ngắn
e  Pen    /pen/ : Trước tiên thực tập âm ɪ, sau đó mở miệng lớn hơn một chút. e là âm ngắn.
  Man   /mᴂn/: Thực tập âm e trước, sau đó mở miệng to hơn một chút.
ʌ  Cup    /kʌp/ : Thực tập âm ᴂ trước, sau đó đưa lưỡi về sau một chút, ʌ là âm rất ngắn.
ɑ: Heart /hɑ:t/ : Đưa lưỡi xuống và ra sau. ɑ: là âm dài.
ɒ  Clock /klɒk/ : Thực tập âm ᴂ trước, sau đó đưa lưỡi ra sau và đưa môi ra trước một chút. ɒ là âm ngắn
ɔ:  Ball    /bɔ:l/ : Thực tập âm ɒ trước, sau đó dưa phần cuối lưỡi lên trên một chút. ɔ: là âm dài.
ʊ   Book  /bʊk/ : Thực tập âm ɒ trước, sau đó đưa phần cuỗi lưỡi ra trước và lên trên một chút. ʊ là âm ngắn.
u:  Boot  /bu:t/ : Thực tập âm ʊ lần nữa, sau đó đưa lưỡi lên trên và ra sau. u: là âm dài.
ɜ:  Girl     /gɜ:l/ : Thực tập âm ɔ: trước, sau đó đưa lưỡi ra trước và lên trên một chút. ɜ: là âm dài.
ə   A camera  /ə ‘kᴂmərə/ : Phát âm ɜ: trước. Đây là âm dài. Rồi phát âm thật ngắn. âm ə là âm thật ngắn.
  Tail     /teɪl/ : Âm này gồm hai âm e và ɪ . Trước hết phát âm e. Bây giờ phát âm dài hơn:eee, rồi thêm âm ɪ. âm này là âm rất ngắn. eeeɪ
  Fine    /faɪn/: Âm này gồm hai âm a và ɪ . Trước hết thực tập âm ɑ: trước, âm này là âm dài. Bây giờ thêm âm ɪ, đây là âm ngắn . aɪ
ɔɪ Boy     /bɔɪ/   : Âm này gồm hai âm ɔ: và ɪ. Phát âm ɔɪ : trước. Bây giờ phát âm dài hơn ɔɔɔ, rồi thêm âm ɪ vào, đây là âm rất ngắn .ɔɔɔɪ.
House /haʊs/ : Âm này gồm hai âm. Thực tập âm  ᴂ trước. Bây giờ thêm âm ʊ vào. Đây là âm thật ngắn. aʊ.
əʊ Phone /fəʊn/ : Âm này gồm hai âm: ə và ʊ. Phát âm ə trước. Phát âm dài hơn əəəʊ. Bây giờ thêm âm ʊ vào. âm này thật ngắn əəəʊ.
ɪə  Beer   /bɪə/    : Âm này gồm hai âm : ɪ và ə. Phát âm ɪ trước rồi thêm âm ə vào. ɪə.
Chair  /tʃeə/  : Âm này gồm hai âm. Thực tập âm e trước. bây giờ phát âm dài hơn rồi thêm âm ə vào . eə
p  Pen    /pen/  : Khép chặt môi. Đẩy không khí trong miệng ra phía trước. Rồi há môi thật mạnh.
b  Baby   /’beɪbɪ/ : Thực tập âm p trước. Dùng giọng của bạn phát âm b.
t  Tin      /tɪn/   : Để đầu lưỡi sau răng trên. Đẩy không khí trong miệng ra trước. Rồi bật lưỡi ra.
d  door   /dɔ:/   : Thực tập âm t trước. Dùng giọng của bạn phát âm d.
k  Key     /ki:/    : Để đuôi lưỡi chạm vào phần sau của vòm miệng. Đẩy không khí trong miệng ra trước. Rồi bật lưỡi ra.
g  Girl     /gɜ:l/   : Trước hết luyện âm k. Dùng giọng của bạn phát âm g.
s  Sun     /sʌn/   : Chạm răng hàm hai bên lưỡi. Đưa lưỡi ra trước. Không dùng giọng.
z  Zoo    /zu:/    : Thực tập âm s trước. Dùng giọng của bạn phát âm z.
ʃ  Shoe   /ʃu:/    : Thực tập âm s trước. Sau đó đưa lưỡi lên và ra sau một chút để tạo âm ʃ.
ʒ  Television  /’telɪ,vɪʒn/ : Thực tập âm ʃ trước. Dùng giọng của bạn phát âm ʒ.
Cherry /’tʃerɪ/: Thực tập âm t và ʃ trước. Bắt đầu phát âm t rồi chậm rãi đưa lưỡi ra khỏi vòm miệng.
Jam    /dʒᴂm/: Thực tập tʃ trước. Dùng giọng của bạn phát âm dʒ.
f   Fan     /fᴂn/   : Chạm răng trên vào môi dưới. Thổi không khí giữa môi và răng ra.
v  Van     /vᴂn/  : Thực tập âm f trước. Dùng giọng của bạn phát âm v.
W Window /’Wɪndəʊ/ : Thực tập âm u: trước. Uốn lưỡi tròn và cứng tạo thành âm w. w là âm ngắn.
j   Yellow /’jeləʊ/: Thực tập âm i: trước. Rồi di chuyển lưỡi tạo âm tiếp theo thật nhanh. Không chạm lưỡi vào vòm miệng.
h   Hat     /hᴂt/   : Đẩy không khí ra thật nhanh. Không chạm lưỡi vào vòm miệng.
θ   Thin   /θɪn/    : Để lưỡi giữa hai hàm răng. Thổi không khí giữa lưỡi và răng trên ra.
δ  The feather /’feδə/ : Thực tập âm θ trước. Dùng giọng của bạn phát âm δ
m  Mouth /maʊθ/: Khép môi lại. Dùng giọng nói của bạn. Âm m phát ra qua mũi.
n  Nose   /nəʊz/  : Để lưỡi chạm vào vòm miệng. Chạm hai cạnh lưỡi vào răng hàm. Dùng giọng nói của bạn. n phát ra qua mũi.
ŋ  Ring   /rɪŋ/      : Để phần cuối lưỡi chạm vào phần sau của vòm miệng. Dùng giọng nói của bạn. Âm ŋ phát ra qua mũi.
l  Letter /’letə/   : Trước hết thực tâp âm n. Để tạo thành âm l, không khí trong miệng đi qua trên hai cạnh lưỡi và ra ngoài.
l  Ball      /bɔ:l/    : Âm l trong các từ này khác nhau không đáng kể.
r  Rain    /reɪn/   : Uối đầu lưỡi lên. Không chạm lưỡi vào vòm miệng. Hai cạnh lưỡi chạm vào răng sau.
r  girl      /gɜ:l/    : Mẫu tự ‘r’ không phát âm trong các chữ này (depart, afternoon, passengers, forbidden, wonderful, German, ….) Khi không có nguyên âm theo sau ‘r’ thì ‘r’ là âm câm.

asdf

[HT1] – Ghi chú 1 - 22/11(2009)

Học một sinh ngữ trước hết phải hiểu được đặc điểm của sinh ngữ đó. Đặc điểm của một sinh ngữ thể hiện lịch sử phát triển của sinh ngữ, văn hóa của dân tộc sở hữu sinh ngữ…

Nguồn gốc từ tiếng Anh hiện đại

Hầu như không có từ tiếng Anh hiện đại nào được hình thành một cách tự phát. Một số từ phát triển từ dạng tiếng Anh cổ, như từ “hundred” phát triển từ từ hund của tiếng Giec-man. Mặc dù vậy cũng có nhiều từ mượn từ những ngôn ngữ khác, như “century”(100 năm) từ La tinh là centuria và ‘hectogramme’ (100 gam) thuộc từ Hy Lạp là hecaton và gramma. Vì tiếng Anh mượn quá nhiều từ từ các ngôn ngữ khác, nên thường có nhiều từ khác nhau để diễn đạt mộ ý đặc biệt nào đó, như từ “100” đã nói ở trên. Người ta cũng nhận thấy nguồn gốc từ có ảnh hưởng quan trọng đến cách viết của chúng vì chúng được mượn ở dạng gốc của các ngôn ngữ với nhiều qui tắc về cách viết khác nhau. Âm /s/ luôn luôn được viết là s- ở đầu từ bản ngữ, như ‘send’ và dạng thì quá khứ là ‘sent’, trong khi lại viết c- trong từ ‘century’ có nguồn gốc từ tiếng La tinh.

Cách phát âm và cách viết

Đối với từ ngữ, trải qua nhiều thế kỷ, không có quy ước cố định để tiêu biểu âm bằng mẫu tự. Người ta viết cùng một từ theo nhiều cách khác nhau ở những lúc khác nhau: không có ‘cách viết nào gọi là đúng cả’. Từ thế kỷ 14 từ ‘enough’ đã được viết theo những cách như sau:

inoch   ynogh   enogh   ynowh   inowhe   ynowghe   ynought   enoff   inoffe   enufe   enuff   inuff

Một số cách viết này dường như hàm ý những cách phát âm khác nhau như ch cuối trong inoch so với ff cuối trong enuff, trong khi những từ khác có lẽ hàm ý những quy ước khác trong việc tiêu biểu những âm giống nhau như sự lựa chọn giữa y hoặc i ở đầu từ, và giữa gh và ch.

Những từ có nguồn gốc cổ điển hay nước ngoài, mẫu viết trong ngôn ngữ gốc thường được sao lại trong tiếng Anh. Từ ‘idea’ chẳng hạn, trong tiếng Anh có cách viết giống như trong tiếng La tinh, tiếng này lại gắn liền với dạng gốc của từ trong tiếng Hy Lạp cổ : ‘ίδέα’. Trong tiếng Ý và tiếng Tây Ban Nha, từ ‘idea’ được viết giống như trong tiếng Anh, nhưng cách phát âm cũng không thay đổi nhiều so với cách phát âm từ này trong tiếng Hy Lạp và tiếng La tinh : /idea/. Tương tự như vậy, từ Na Uy ‘ski’ được phát âm là /ʃi:/. Tiếng Anh mượn dạng viết nhưng cách phát âm lại thay đổi thành /ski:/ để phù hợp với quy ước của Anh.

Chuẩn hóa cách viết bản ngữ

Bắt đầu cách đây 500 năm đã có sự chuẩn hóa dần dần cách viết những từ bản ngữ. Điều này khởi sự cùng với sự phát minh ra việc in ấn: từ thế kỷ 15 trở đi, dạng viết của từ trở nên quan trọng hơn và cách viết có khuynh hướng không thay đổi theo giọng đọc. Đến thời Shakespeare nhiều từ có thể được viết theo nhiều cách. Nhưng trong 200 năm qua cách viết đã được chuẩn hóa, và từ enough chẳng hạn, được chấp nhận là cách viết đúng, và những cách viết khác như inuff được xem là lỗi sai.

Cách viết tiếng Anh cho thấy đặc điểm của những từ bị mất đi trong cách phát âm.

Theo thời gian có khuynh hướng chung là giản lược cách phát âm các từ. Âm có thể mất đi và những từ thường được phát âm khác nhau lại có thể bắt đầu được đọc giống nhau. Chẳng hạn như k trong ‘knight’ lúc đầu được phát âm để nghe khác với ‘night’.

vì ngữ cảnh của ngôn ngữ viết thì nhất thiết là hạn hẹp hơn ngữ cảnh của ngôn ngữ nói nên có nhiều từ như vậy xuất hiện trong tiếng Anh, chúng được phân biệt trong chữ viết nhưng không phân biệt trong lời nói: những từ này thường được gọi là homophones (từ đồng âm khác nghĩa).

Phần cuối của biến tố ở thì quá khứ của động từ có quy tắc –ed từng được phát âm với một âm tiết riêng. Ở hầu hết các từ điều này không còn nữa, nhưng cách viết –ed được xem như một điểm ngữ pháp quan trọng dù rằng nó được phát âm là /t/ như trong ‘grasped’, /d/ như trong ‘harmed’ hay /ɪd/ như trong ‘waited’.

trích : English guides spelling – Jonathan Payne dịch Cách viết từ – Nguyễn Thành Yến

Tiếng nói luôn xuất hiện trước chữ viết. Chữ viết là cách thể hiện của tiếng nói trên văn bản. đặc điểm của tiếng nói là các âm. Đối với tiếng Anh các âm ấy bao gồm khoảng 24 nguyên âm và 24 phụ âm (English guides spelling – Jonathan Payne). Các âm kết hợp với nhau thành từ. Mối liên hệ giữa tiếng nói và chữ viết hình thành khi con người muốn dùng một số ký tự đơn lẻ để biểu diễn một âm nào đó. Ở tiếng Anh do đặc điểm của lịch sử quá trình này phát sinh tự phát theo nhu cầu, dẫn đến hiện tượng một âm, một từ được viết nhiều cách khác nhau, về sau mới có sự chuẩn hóa, nhưng sự hình thành cách viết không nhất quán dẫn đến không có một quy tắc nhất quán để đọc một từ được viết ra. Sự phức tạp giữa cách nói và cách viết tăng lên do đặc điểm mượn quá nhiều từ của nhiều ngôn ngữ khác nhau mà cách viết và cách nói không nhất quán.

Từ đó ta rút ra:
- Muốn nghe được tiếng Anh phải xác định được các âm
- Việc học từ chỉ có một con đường là học thuộc mặt chữ, nếu chuyển từ âm sang chữ viết không chắc đã đúng.
- Do đặc điểm lịch sử mà tiếng Anh khác tiếng Việt rất nhiều. Ở tiếng Việt mỗi âm đều được chuyển sang chữ viết một cách nhất quán vì vậy học tiếng Việt chỉ việc nghe rõ âm và biết cách chuyển sang chữ viết. Cũng vì thế mà hình thành quan niệm sai lầm trong việc học tiếng Anh cần bỏ những thói quen sử dụng trong tiếng Việt như tạo mối liên hệ nhất quán giữa âm và chữ viết, nghe âm biết mặt chữ, xem chữ biết âm. Ở tiếng Anh 2 việc học âm và học chữ tốt nhất là nên tách biệt vừa phải học nhớ âm và vừa phải học nhớ mặt chữ.

Hình thành thói quen khi nghe tiếng Anh chỉ chú trọng tách biệt các âm. Tránh thói quen “cố gắng xác định từ –> Hình thức viết của từ-> nghĩa tương ứng của từ”. Vì thói quen này làm cho việc nghe trở nên chậm chạm và trái với bản chất tự nhiên. Khi đầu óc ta có ý tập trung vào việc gì nó sẽ lờ đi những việc xung quanh vì thế khi ta cố gắng tập trung nghe 1 từ và xác định cách viết, nghĩa thì sẽ bỏ qua những từ khác đến khi ta hiểu nghĩa thì ta đã bỏ qua khá nhiều âm tiết, Theo trình độ tốc độ tìm từ, nghĩa của ta sẽ nhanh hơn lên và dần hình thành phản xạ âm –> từ –> nghĩa, tuy nhiên học cách bỏ thói quen này đơn giản hơn rất nhiều so với việc luyện tập ngày đêm để đến trình độ cao như thế và cũng tự nhiên hơn rất nhiều, đầu óc sẽ ít bị căng thẳng hơn-> tốt hơn. (đã thử và xác nhận) khi chỉ chú trọng phân biệt âm ta có thể xác định những từ đọc lướt, không bị ảnh hưởng nhiều bởi giọng đọc, ở thói quen trên vấn đề này là thách thức khá lớn.

Theo bản chất tự nhiên mỗi từ sẽ mang một nghĩa trừu tượng mà khi gặp ta sẽ có mối liên tưởng đến sự việc, sự vật cụ thể (nghĩa trừu tượng cụ thể). Vì thế không nên học nghĩa của từ theo cách (mouse là con chuột) mà theo cách thực hiện một liên tưởng giữa sự việc , vật, ý nghĩa trừu tượng đến âm của từ cụ thể (âm nói).

Tratstil
Sài gòn
– 22/11(2009)

Tôi

Tôi như cánh chim trời.
Không tìm nơi để đỗ
Tôi như sóng ngoài khơi
Chẳng kiếm lối đi về.

Sài Gòn 14/11/09