Các đồ án, công trình nước ngoài thường hay có một cái tên, bên mình cũng có một số tổ chức, cá nhân cũng làm điều này, hồi còn đi học mình cũng hay đặt tên cho các kế hoạch của mình... Mình thấy đây là một nếp hay nên phổ biến vì nó giúp ta tự hào với công việc mình đang thực hiện hơn, ngoài ra nó còn giúp những người có tính tự ti phần nào vượt qua bản chất của mình và hòa đồng hơn.
Thửa thế gian xoay giữa lần con tạo, mấy ngàn năm thoảng một thoáng như không. Xứ cằn khô xây bao nhiêu tráng lệ, một cuộc đời xay thỏa bấy nhiêu cơn. Dải sáng đó đền đài hay cổn cát, tiếng lả lơi hay là gió phất qua. Nghìn đêm lẻ còn mơ trên chiếu bạc, hồi điêu tàn đã thổi đến êm ru. Miền gió cát trả im lìm gió cát, Khách bốn phương hoài tưởng lẫn vấn vương.
Tập Văn Sài Gòn 1/8(2011)
Lần lần giở qua từ Lịch sử thế giới đến Bán đảo Ả Rập của Nguyễn Hiến Lê, trong từng trang sách đó biết bao sự kiện sảy ra, phát tích, phồn vinh rồi lụi tàn; bao nhiêu anh hùng nối tiếp nhau không dứt; mà tưởng như tiếng vó ngựa dồn dập, tiếng gươm đao chát chúa triền miên; xen lẫn đó là những đền đài, cung điện nếu không tinh tế thanh tao như đền đài Hy lạp thì vĩ đại hùng dũng như kim tự tháp của Ai Cập; những cuộc sống, những con người tưởng mới đây mà đã qua mấy ngàn năm rồi. Giả mà đem bao nhiêu cái đẹp trên thế gian mà gom góp thu gọn lại thì tất lung linh tinh xảo lắm, và có một người đã làm điều đó, đó là Nguyễn Hiến Lê.
Rồi đọc đến bán đảo Ả rập chắc không ai không bàng hoàng, đứng sững trước cảnh huy hoàng tráng lệ của những đài vàng điện ngọc đời sống phồn hoa của vua chúa. Rồi chắc hẳn sẽ mơ màng nhớ lại những kho lẫm đầy vàng bạc của "A li ba ba và bốn mươi tên cướp", nàng công chúa xinh như mộng trong "Aladin và cây đèn thần" hay những chuyện thần bí li kỳ trong "Ngìn lẻ một đêm", những tấm thảm bay thần kì, những lâu đài sáng lóa thoắt ẩn hiện trong xa mạc hoang vu. Tất cả chúng đánh dấu một thời kì thịnh vượng bậc nhất trên thế gian khiến người đọc không tránh khỏi những cơn mộng êm êm.
Đời là một thoáng con diều chao cánh muộn, bầu trời rộng quá biết dấn thân về đâu. Tình người là phút qua dòng sông trải rộng, một mình lặng lẽ có bến nao chờ mong. Ngồi buồn chợt nhớ tháng ngày ta cô độc, Lại ngập ngừng gõ những kí ức tuổi thơ.
Cầm quyền "Hồi kí" của Nguyễn Hiến Lê lòng lại nghĩ ngợi, có lẽ cuộc đời thật chỉ là "một thoáng mây bay" như tác giả nhận thấy vào những năm cuối đời. Cái cuộc đời mình nó nhỏ nhoi quá, khi đã đi được một chặng nào đó rồi nhìn lại, ngẫm lại, lại thấy mọi việc dù có khó khăn mấy, đẹp đẽ mấy, nhơ bẩn mấy rồi cũng qua, cũng nằm yên dưới lớp bụi của thời gian, như khi đôi mắt đã khép lại dưới nắp quan tài thì mọi chuyện trên thế gian không còn động đến mình, mà mình cũng không còn thuộc về thế gian nữa.
Cả đời cụ đã cố gắng giữ mình ra khỏi vòng xoay của chính trị, cố giữ cho con mắt của mình được tinh tường, ngọn bút không sai lệch, nhằm giúp cho người trẻ, bạn đọc khám phá được những giá trị cận chân nhất của cuộc sống, triết học, văn chương... Thật buồn khi thấy "Hồi kí" của con người tâm huyết ấy, cái phần tinh túy của cuộc sống một con người bị bẻ cong, bị xuyên tạc, bị cắt xén để phục vụ cho mục đích mà con người ấy khi sống đã cố giữ mình tránh xa nó nhất.
Rồi đây sẽ chẳng còn ai dám viết nên sự thật, sẽ chẳng ai dám để lại thư tịch về chính kiến hay tư tưởng của mình vì sợ rằng một ngày nó sẽ bị sửa đổi bị xuyên tạc bởi những kẻ hèn hạ chăng?
Những bạn đọc Nguyễn Hiến Lê xin hãy giữ đầu óc sáng suốt mà nhận xét về cụ. Bản Hồi kí do nhà xuất bản Văn Học phát hành không còn nguyên gốc đọc để biết cụ có để lại một Hồi kí thôi, chứ không thể biết được câu nào bị sửa câu nào không, nên không thể tin được. Hiện chỉ nên tìm đọc bộ "Hồi kí" gồm 3 tập của nhà xuất bản Văn Nghệ (tại Mỹ) là in đúng từng câu từng chữ theo ý cụ, có điều ở VN thì ....
Tôi còn có một nghi vấn về ông Nguyễn Quang Thắng nhưng chưa xác thực nên không dám nói, nghe bảo ông này được gia đình cụ ủy thác toàn quyền đối với tất cả bản thảo của cụ, có điều trong quyển "Chúng tôi tập viết tiếng việt" in trong Tuyển tập Nguyễn Hiến Lê quyển 3 - Ngữ học, tôi thấy ông để vàng thau lẫn lộn giữa bài của ông và bài của cụ Nguyễn Hiến Lê mà không có chú thích làm rõ (xuất bản sau khi cụ mất), người đàng hoàng không làm chuyện mờ ám, hành động đó đủ cho biết nhân cách của ông này thế nào.
Một cơn gió bụi _ Lệ Thần _ Trần Trọng Kim Chương 1 CUỘC ĐỜI YÊN LẶNG VÀ VÔ VỊ
Sau 31 năm làm việc trong giáo giới, trải làm giáo sư ở trường Trung Học Bảo Hộ và trường Sĩ Hoạn, kế lại sung chức Bắc Kỳ Tiểu Học Thanh Tra, rồi về giữ chức giám đốc trường Nam Tiểu Học ở Hà Nội, đến năm 1942 mới được về hưu. Tưởng thế là được nghỉ ngơi cho trọn tuổi già. Bởi vì trong một đời có nhiều nỗi uất ức sầu khổ về tình thế nước nhà, về lòng hèn hạ đê mạt của người đời, thành ra không có gì là vui thú. Một mình chỉ cặm cụi ở mấy quyển sách để tiêu khiển. Ðó là tâm tình và thân thế của một người ngậm ngùi ở trong cái hoàn cảnh éo le, và trong một bầu không khí lúc cũng khó thở. Ðược cái rằng trời cho người ta có sẵn cái tính tùy cảnh mà an, cho nên bất cứ ở cảnh nào lâu ngày cũng quen, thành ra thế nào cũng chịu được.
Năm Quý Mùi (1943) là năm trăng mờ gió thảm, tiếng chiến tranh inh ỏi khắp hoàn cầu, toàn xứ Ðông Dương bị quân Nhật Bản tràn vào, họa chiến tranh mỗi ngày một lan rộng. Dân Việt Nam bị đói kém đau khổ đủ mọi đường, lại căm tức về nỗi nước nhà suy nhược phải bị đè nén dưới cuộc bảo hộ trong sáu bẩy mươi năm, cho nên ai cũng muốn nhân cơ hội ấy mà gây lại nền độc lập đã mong mỏi từ bao lâu.
Tôi là một người nước Việt Nam, lẽ nào lòng tôi lại không rung động theo với dịp rung động của những người ái quốc trong nước? Nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, lòng người ly tán, nhiều người lại muốn lợi dụng cái tiếng ái quốc để làm cái mối tư lợi cho mình, vì vậy mà tôi chán nản không dự vào đảng phái nào cả, mà cũng không hành động về phương diện chính trị. Ngoài những lúc làm những công việc hàng ngày phải làm, khi rỗi rãi gặp những bạn thân, nói đến chuyện thiên hạ sự và việc nước nhà, thì tôi cũng nói chuyện phiếm và mong cho nước nhà chóng được giải phóng.
Thường tôi gặp người Pháp, tôi cũng nói thẳng rằng: nếu trong cái hoàn cảnh này, người Pháp hiểu rõ tình thế mà buông tha chúng tôi ra thì không những là nước Pháp không thiệt thòi gì mấy về đường kinh tế, mà về đường văn hóa và thực tế lại có phần lợi vì đã làm một cái ơn lớn cho cả một dân tộc. Mà thực tế nếu được như vậy thì dân Việt Nam không bao giờ quên được cái ơn ấy, mà vui lòng hợp tác với nước Pháp. Song đó là một cái mộng tưởng không thê có ở trong đời này, là đời đầy những sự tham, sân, si, cho nên nhân loại đã phải chịu bao nhiêu nỗi đau buồn khổ não. Mà còn phải chịu không biết đến bao giờ mới thôi!
Trong khi nước Pháp đang bị cái nạn chiến tranh, người Pháp đối với người Việt Nam không đổi thái độ chút nào, mà người Nhật thì lại muốn lợi dụng lòng ái quốc của người Việt Nam để quyến dụ người ta theo mình. Người Việt Nam không phải là không hiểu cái tâm địa người Nhật, song có nhiều người muốn thừa cái cơ hội hiện tại mà phá vỡ cái khuôn khổ bé hẹp nó ràng buộc mình đã bao lâu để gây ra cái không khí mới, rồi sau thế nào cũng tìm cách đối phó. Phần nhiều người trí thức trong nước đều có cái quan niệm ấy, nhưng vì thế lực không đủ, cho nên không ai hành động gì cả, trừ một bọn người hoặc vì lòng nóng nảy, hoặc vì lòng ham danh lợi chạy theo người Nhật.
Nước Nhật Bản trước vốn là một nước đồng văn đồng hóa ở Á Ðông, nhưng về sau đã theo Âu Hóa, dùng những phương pháp quỉ quyệt để mở rộng chủ nghĩa đế quốc của họ, trước đã thôn tính Cao Ly và Mãn Châu, sau lại muốn xâm lược nước Tàu và các nước khác ở Á Ðông đã bị người Âu Châu chiếm giữ. Người Nhật tuy dùng khẩu hiệu “đồng minh cộng nhục” và lấy danh nghĩa “giải phóng các dân tộc bị hà hiếp”, nhưng thâm ý là muốn thu hết quyền lợi về mình. Bởi vậy chính sách của họ thấy đầy những sự trái ngược, nói một đàng làm một nẻo. Cái chính sách ấy là chính sách bá đạo rất thịnh hành ở thế giới ngày nay. Dùng lời nhân nghĩa để nhử người ta vào chòng của mình mà thống trị cho dễ, chứ sự thực thì chỉ vì lợi mà thôi, không có gì là danh nghĩa cả.
Trong hoàn cảnh khó khăn ấy tôi phải nén mình ngồi yên. Song mình muốn ngồi yên mà người ta không để cho yên. Hết người này đến nói chuyện lập hội này, người khác đến nói chuyện lập đảng nọ. Ðảng với hội gì mà tinh thần không có, sự tổ chức chẳng đâu ra đâu thì càng nhiều đảng và hội bao nhiêu lại càng thêm rối việc bấy nhiêu, chứ có ích gì? Bởi vậy đối với ai, tôi cũng lấy lòng ngay thẳng mà đáp lại, nhưng không đồng ý với ai cả. Lệ Thần TRẦN TRỌNG KIM
Mấy ngày vừa rồi, mải miết bày tỏ chính kiến của mình quá để bị để ý cấm đoán, tài khoản facebook thì hễ đăng nhập ở máy nào là máy đó về sau hết vào facebook được <có lẽ một loại virut nào mới sinh ra theo định hướng độc tài>. Vốn chỉ muốn nơi này dành cho những riêng tư nên cũng không định đem bất công oán than vào nơi này. Thôi lặng lòng với những nét son của dân tộc vậy.
Hòn Vọng Phu I Lời và nhạc Lê Thương
Ngay từ hồi bé đã mê mẩn bài này, cái hào hùng đan xen cái buồn thảm, chí làm trai tung hoành trời đất khấp nhịp với nét tâm thương nhu thuận của người vợ hiền, nghĩa nước như thác đổ tình nhà như trăng soi, phu hay phụ đẹp hơn?
Hình ảnh người chinh phụ qua câu chữ tuy không ý nhị sâu sắc như người chinh phụ của thi sĩ Đặng Trần Côn, nhưng nét tâm thương của các nàng đâu kém gì nhau. Hình ảnh chinh phu trong Chinh phụ Ngâm được vẽ nên từ nỗi lòng của người chinh phụ, núi non vận thế cũng đều hiện ra thông qua nỗi lòng của nàng, ý tứ tình cảm của nàng rất rõ ràng. Ngược lại hình ảnh chinh phụ của nhạc sĩ Lê Thương gây cảm khái trong lòng người nghe qua nét kiêu hùng của người chinh phu qua bụi hồng trống nổi của trận thế.
Nghe bài hát mà tâm tưởng nghe văng vẳng "Thuở trời đất nổi cơn gió bụi/ Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên/ .../ Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt/ Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây"
Ai bảo người xưa thiên vị phụ nữ nào? chẳng phải Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm và cả Hòn Vọng Phu cũng đều viết cho các nàng đó ư?