Chiễm chệ giữa một trời quá khứ/ Bấn loạn phần người nên mãi cứ chông chênh.

Sẽ có một ngày như thế tim tôi /Trước cái chết lẽ nào sợ hãi? /Ngực con tôi trái tim trao lại /Không trái tim ai ngừng đập trên đời

Subscribe to RSS feed

Có một Nam bộ trong lòng Hội An

http://m.tuoitre.vn/tin-tuc/Ao-Trang/14760,Co-mot-Nam-bo-trong-long-Hoi-An.ttm
Balô du lịch

Có một Nam bộ trong lòng Hội An
AT - Có một địa điểm tại miền Trung mà nếu chỉ được nhìn thấy qua ảnh, bạn sẽ nghĩ ngay đó là vùng sông nước Nam bộ. Nhưng không, đó chính là rừng dừa nước Bảy Mẫu nằm ở xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An.

Một điểm đến thú vị, một địa chỉ du lịch sông nước hấp dẫn mà bạn không nên bỏ qua nếu ghé thăm vùng đất thép mà nhiều hoa ở Quảng Nam.


Xanh ngát dừa nước

"Dạ Trạch" trong kháng chiến

Từ bến thuyền Bạch Đằng nằm trong khu phố cổ Hội An, xuôi theo dòng sông Hoài khoảng 3km về phía đông nam, bạn sẽ đến được với rừng dừa Bảy Mẫu. Đây là vùng sinh thái ngập mặn gần Cửa Đại nên rất phong phú thực vật, động vật nước lợ.

Với địa thế nằm gần sông nước, không gian rộng và có nhiều cây cối mà chủ yếu là dừa nước bao phủ, rừng dừa nước Bảy Mẫu đã được quân và dân Hội An khéo léo sử dụng làm căn cứ địa cho phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Nơi đây đã gắn liền với những sự kiện cách mạng, những chiến công vang dội của quân và dân Hội An nói riêng, Quảng Nam nói chung.

Thực dân đế quốc nhiều lần đưa quân đến càn quét nhằm ý đồ san bằng căn cứ này, thế nhưng ý chí chiến đấu và mưu trí trong việc lợi dụng địa hình, địa vật của các lực lượng vũ trang cách mạng ở khu căn cứ rừng dừa, đã làm ý đồ xâm chiếm và xóa sổ của chúng không thể thực hiện được.

Nơi đây không những không bị xâm chiếm mà còn trở thành cơ sở nuôi giấu và bảo tồn lực lượng cách mạng cho quân dân Hội An. Đã không ít lần người dân ở đây sử dụng địa hình sông nước và cây cỏ um tùm của rừng dừa, nổi dậy dùng kế nghi binh, dùng súng bẹ dừa, hành quân rầm rộ, hò reo náo động, làm cho quân địch khiếp sợ, lầm tưởng bộ đội chủ lực kéo về giải phóng. Nhờ thế, việc tiêu diệt lực lượng địch ở đây được thuận lợi, kế hoạch giải phóng Hội An của bộ đội ta diễn ra nhanh chóng và thuận lợi.

Đây được xem là một thắng lợi lớn về tinh thần cách mạng tiến công, lòng dũng cảm và trí thông minh của quần chúng Hội An. Và trận chiến đấu bằng súng bẹ dừa làm từ rừng dừa Bảy Mẫu đã đi vào lịch sử đấu tranh cách mạng như một huyền thoại qua câu thơ:

Đứng lên cầm súng bẹ dừa
Quê ta Đồng khởi Mỹ thua chạy dài...

Vì vậy, rừng dừa Bảy Mẫu được quân và dân thời đó ví như một căn cứ không khác gì Dạ Trạch của Triệu Việt Vương ở thế kỷ thứ 6.

Làng tranh dừa và điểm du lịch sông nước

Sau bao nhiêu thăng trầm, biến thiên của lịch sử, rừng dừa Bảy Mẫu không những không bị tàn phá mà ngược lại vẫn hiện lên với vẻ đẹp xanh tươi ngút ngàn, tạo nên nét đặc sắc và trở thành địa điểm du lịch sông nước ở Quảng Nam.

Ngày xưa người dân ở làng dừa Bảy Mẫu sống nhờ vào sự che chở của rừng dừa, rừng dừa trở thành bức tường thành che chắn những đợt tấn công của thủy triều, giúp họ có những ngôi nhà làm bằng lá dừa để che nắng che mưa, những dụng cụ sinh hoạt hằng ngày làm từ dừa. Ngày nay bên cạnh sự che chở ấy, rừng dừa còn giúp người dân có thêm thu nhập, cải thiện đời sống và vươn lên làm giàu.

Nơi đây còn được nhiều người biết đến bởi làng tranh dừa Cẩm Thanh.

Hằng năm, cứ đến mùa thu hoạch là người dân lại dùng những ghe bầu ra đốn lá dừa. Những tàu dừa nước xanh ngút được đốn hạ và chất đầy những chiếc ghe đến độ miệng ghe chìm đến ngang bằng mặt nước thì mới dừng lại, chuyển dừa vào bờ. Trước đây tranh dừa chỉ được dùng để lợp chuồng trâu bò. Những nhà nghèo vùng nông thôn cũng dùng loại tranh này lợp nhà, thành thử làng tranh dừa ít có giá trị kinh tế trên thương trường.

Những năm gần đây, khi du lịch phát triển, những hàng quán, nhà hàng, quán cà phê, khách sạn, khu du lịch bỗng ưa chuộng loại tranh dừa lợp mái. Tranh dừa vừa tạo nên nét dân dã, vừa rất mát mẻ khi sử dụng để lợp mái nên được ưa chuộng, thành "mốt" của các nơi. Tranh dừa lên giá. Làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển. Sản phẩm không chỉ bán chạy ở miền Trung mà còn vươn ra khắp nơi trên cả nước.

Hiện nay, ngoài du lịch làng nghề, rừng dừa Bảy Mẫu còn được đầu tư và phát triển để trở thành một điểm du lịch cộng đồng sông nước đặc biệt tại miền Trung.

Ngoài cảnh quan thiên nhiên hữu tình nhuốm màu sông nước Nam bộ, rừng dừa nước rậm rạp và xanh tốt quanh năm còn là nơi sinh sống của nhiều loài động vật có giá trị, nhất là các loài tôm, cua, ghẹ và động vật thân mềm. Vậy nên với hệ thống kênh rạch khá thông thoáng nơi đây, bạn có thể đi thuyền câu cá và thưởng thức các món ăn dân dã ngay trong rừng dừa nước.

Nếu có dịp đến rừng dừa Bảy Mẫu vào tháng tám âm lịch, bạn sẽ được chiêm ngưỡng những bụi dừa đang vào mùa trái chín. Bạn cũng có thể tự tay hái những trái dừa chín và thưởng thức cơm dừa rất ngon và lạ hoặc đem về làm quà cho người thân.

Nếu chưa có dịp đến với Nam bộ, bạn hãy thử tìm đến rừng dừa nước Bảy Mẫu. Bạn sẽ tìm thấy một Nam bộ ở nơi miền Trung này.

NGUYỄN TRƯỜNG TRUNG

bo len day la chac chac bi chui

http://www.baodanang.vn/channel/5433/201010/Chonchan-tren-nhung-song-bai-2009509/

Chôn chân trên những sòng bài
Cập nhật lúc 20:55, Chủ Nhật, 17/10/2010 (GMT+7)
Thời gian bên ngoài giảng đường đã được không ít sinh viên (SV) dành trọn cho... trò đỏ đen.


Không hiếm nữ SV trở thành con bạc.

Cận cảnh chiếu bài S.V

Theo chân V.B (năm 3 khoa Điện-ĐH Bách khoa Đà Nẵng), tôi đến với một chiếu bài SV. Lúc chúng tôi vào, căn phòng chưa đầy 12m2 đã lờn vờn mùi khói thuốc lá, dưới sàn nhà vương vãi mấy cái tô bẩn dính vài sợi mỳ tôm. 4 SV đang ngồi quanh chiếu “tiến lên”, 2 SV khác đứng xem. Không ai nói với ai lời nào. Xong một ván, hai người thua phải bỏ ra 30 nghìn đồng. B. quay sang bảo tôi: “Chừ tụi nó mới xin được tiền ba mẹ nộp học nên mới đánh “mạnh”, chứ thường ngày đánh bằng nửa khoản này thôi”. Thỉnh thoảng, trong chiếu bài lại văng ra vài câu chửi tục khi người đánh bị lỡ nước bài. Tôi thắc mắc: “Không sợ công an hay chủ trọ sao?”. B. cười khẩy: “Trong hẻm mà! Đánh vài chục thì công an nào vào”. Theo B., sàn này “họp” từ sáng tới giờ, thi thoảng mới chơi đêm.

Những sòng bài tương tự thường hoạt động mạnh nhất vào ban ngày. Cũng có chu kỳ hoạt động “tăng ca” ban đêm vào những dịp dày “đạn” như sau Tết Nguyên đán hoặc ở quê mới ra. Chiếu bạc chỉ tàn khi có một trong các SV cùng chơi hết tiền, còn không, ai mệt có thể nghỉ, ăn uống lấy sức rồi lại “chiến đấu” tiếp. Nếu gặp lúc có nhiều “con bạc” đứng chờ thì bán chỗ kiếm mấy đồng gỡ gạc.

Chuyện SV làm bạn với bài bạc đã trở nên phổ biến. Lý do tìm đến bài bạc của từng người cũng rất khác nhau: Có thể do có máu mê cờ bạc, để giết thời gian, hoặc vì thiếu tiền… Có những lý do hết sức nực cười như của T.T (SV ĐH Sư phạm Đà Nẵng): “Hồi đó vào mùa thi, mấy anh em trong xóm học bài khuya nên rủ đánh bài kiếm chút gì ăn khuya, ai thua trả tiền. Vài lần rồi thành ghiền đến chừ”.

Nữ SV cũng “xòe quạt”

Không chỉ có nam SV làm bạn với “bác thằng bần”, mà trong số đó còn có một lực lượng không nhỏ là các nữ SV.

Quán cà-phê Bảo Bảo trên đường Tôn Đức Thắng (đối diện cổng Trường ĐH Sư phạm Đà Nẵng) là địa chỉ yêu thích của T.L.V (SV Trường CĐ Kinh tế-Kế hoạch Đà Nẵng). Người ta thường xuyên bắt gặp sự có mặt của V. và nhóm bạn nữ đến đây để chơi bài. V. cho biết: “Khi nào cao hứng bọn mình mới chơi tiền, nhưng không nhiều, chỉ 2-3 ngàn đồng một ván thôi. Cả buổi ai đen đủi lắm cũng chỉ mất 50 ngàn đồng là cùng. Còn lại bọn mình thường chơi bài để chia người trả tiền cà-phê thôi”.

Không rôm rả như nhóm bạn của V., nhưng nhóm của T.H (đang trọ học trên đường Phạm Như Xương - Liên Chiểu) cũng thường xuyên lên chiếu bạc. Thậm chí, theo H., ngày nào không đụng đến quân bài thì y như ngày đó chân tay lóng ngóng, làm việc gì cũng không xong. H. cho biết, công việc đầu tiên của H. sau vệ sinh răng miệng mỗi sáng là cầm bài bói xem ngày hôm nay mình thế nào. Cũng từ chỗ bói toán mà H. đâm ra thích chơi bài lúc nào không hay. Các công việc thường ngày như giặt quần áo, đi chợ, nấu ăn của H. và bạn cùng phòng thường xuyên được phân công trên chiếu bài. Thỉnh thoảng thì rủ thêm bạn bên phòng sang chơi cho đủ hội ăn chè, ăn ổi…

Các chiếu bài SV rải khắp các quán cà-phê cóc, các khu trọ. Ng.Th (ĐH Bách khoa Đà Nẵng) kể: “Hồi trước mình ở trọ ngay sau quán cà-phê. Cứ ngủ dậy là nghe tiếng bài đập chan chát trên bàn nên ức chế, chịu không nổi đành phải chuyển trọ”. Trong lớp Th. có không ít SV đến lớp với đôi mắt lờ đờ hoặc bỏ học vì đánh bài. Vậy mà họ vẫn cứ chơi.

Nguyễn Trường Trung

May hum nay opera bi dien oy. vo hem dc

3h ngồi đọc tài liệu hay. Có lần nghe thầy giáo bảo: đế quốc Mỹ đã lập sẵn một bản chi tiết xâm lăng Vn.Và Giáo dục là số 1

Tranh luận sau báo cáo của Harvard về GD VN
Theo Tuần Việt Nam - 22/10/2009
Sau bản đánh giá của một số học giả Harvard về giáo dục đại học Việt Nam, đã có nhiều ý kiến tranh luận. Ngày 16/10, trên website chính thức của Bộ Giáo dục & Đào tạo (http://moet.gov.vn) và diễn đàn chính thức của Bộ GD&ĐT (http://edu.net.vn), đăng tải bài viết của GS Neal Koblitz.
Để đảm bảo tính thông tin đa chiều và trao đổi rộng rãi, Tuần Việt Nam xin giới thiệu nguyên văn bài viết này. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Mọi ý kiến tranh luận của độc giả xin gửi về tuanvietnam@vietnamnet.vn
Giới thiệu tác giả: Năm 1985, GS Neal Koblitz (ĐH Washington) và TS Victor Miller (Cty IBM) đã đề xuất (độc lập với nhau) phương pháp mật hoá mã công khai dựa trên đường cong ellip. Ngày nay kỹ thuật Elliptic Curve Cryptography (ECC) đã tiến bộ rất xa trong cả nghiên cứu hàn lâm lẫn các hệ thống mật hoá thương mại. Neal Koblitz có khá nhiều công trình về Lý thuyết số và Mật mã học hiện đại. Ông là người bạn Mỹ lâu năm của giới khoa học nước ta và đã cùng vợ sáng lập Giải thưởng Kovalevskaia cho các nhà toán học nữ.
1. Dẫn nhập

GS Neal Koblitz
Đối với những vấn đề quốc tế quan trọng, quan điểm của người Mỹ thường bị chia rẽ một cách sâu sắc. Vào những năm sáu mươi, hàng triệu người Mỹ đã nhiệt tình ủng hộ cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Trong số đó không chỉ là bao gồm những người không có học thức mà đáng tiếc là còn có cả một số giáo sư của Harvard và các trường đại học khác, họ đã đến Washington để nắm giữ các chức vụ quan trọng trong nội các của Kennedy và Johnson. Cũng trong thời kỳ này, nhiều người Mỹ khác đã phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam và đã tổ chức các cuộc biểu tình rộng lớn. Người Mỹ không nói chung một giọng.
Mục đích của báo cáo này là để trao đổi về một tài liệu với tiêu đề "Giáo dục bậc cao ở Việt Nam : Khủng hoảng và phản ứng."[1] Bài viết này có tiêu đề của Viện Ash thuộc Trường Harvard Kennedy, và tên của Thomas Vallely và cộng sự của ông ta là Ben Wilkinson. Tôi sẽ trích dẫn tài liệu này một cách ngắn gọn là "báo cáo Vallely".
Báo cáo Vallely được viết với quan điểm tương tự như một báo cáo trước đây về Giáo dục bậc cao ở Việt Nam dưới sự bảo trợ của Viện Hàn Lâm Hoa Kỳ.[2] Vào năm 2008 tôi đã có một bài bình luận về tài liệu đó.[3] Trong bài viết này, tôi sẽ không nhắc lại những điểm mà tôi đã nêu ra trong đó.
Những khó khăn của Việt Nam trong giáo dục bậc cao là rất phức tạp và cũng khá giống với những vấn đề thường thấy ở các nước khác, đặc biệt là ở Thế Giới Thứ Ba. Bài viết này không nhằm phân tích toàn diện vấn đề đó. Mục đích của tôi là xem xét câu hỏi này trong bối cảnh lịch sử, và cảnh báo các nhà toán học, các nhà khoa học và các quan chức của Việt Nam cần phải hết sức thận trọng trước những phân tích và kiến nghị của các đại diện của những tổ chức Hoa Kỳ kiểu như là Viện Ash.
2. Lịch sử
2.1. Thời kỳ đầu Sau chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên của tôi vào năm 1978, tôi đã viết một bản báo cáo[4] trong đó tôi có bình luận về sự kính trọng đối với tri thức như là một phần trong văn hoá Việt Nam từ thời xa xưa.
Có thể giải thích phần nào cho địa vị cao quí của những học giả trong truyền thống của người Việt. Trường Đại học Quốc tử giám cổ kính, được thành lập vào năm 1076, luôn là một địa điểm hấp dẫn khách du lịch tới Hà Nội... Tấm bia đá dựng năm 1463 có khắc tên của Lương Thế Vinh, người mà bên cạnh sự nghiệp văn chương của mình còn được coi là một trong những nhà hình học đầu tiên của Việt Nam.
Những truyền thống đó cũng có thể giải thích được phần nào vì sao trong số các sinh viên từ các nước đang phát triển theo học tại Mátxcơva thì sinh viên Việt Nam có lẽ là những người làm việc chăm chỉ nhất và thành công nhất. Có thể là các nhà toán học trẻ của Việt Nam từ Mátxcơva, khi quay trở về quê hương sau khi hoàn thành khoá học sau đại học cũng trải qua những cảm xúc hân hoan, vui sướng giống như cha ông mình sau khi thi đỗ trong các kỳ thi của hoàng gia.
Tuy nhiên trong thời kỳ thực dân, người Pháp đã thất bại trong việc phát triển giáo dục bậc cao. Báo cáo Vallely đã có một phân tích chính xác về vấn đề này: Những vấn đề mà Việt Nam đang phải đối đầu trong hệ thống giáo dục đại học ngày nay một phần là do hậu quả từ một lịch sử cận đại bi thảm của đất nước này.
Chế độ thực dân Pháp cai trị Việt Nam trong nửa sau thế kỷ 19 cho đến năm 1945 đã đầu tư rất ít, ngay cả khi so sánh với các thế lực thực dân khác, vào hệ thống giáo dục đại học. Hậu quả là Việt Nam đã bỏ lỡ mất cơ hội khi làn sóng cách tân thể chế giáo dục đại học quét qua phần lớn lục địa Châu Á trong những thập niên đầu của thế kỷ 20. Đây là thời gian rất nhiều học viện hàng đầu được thành lập tại vùng này.
Hậu quả là sau khi thu hồi độc lập, Việt Nam chỉ có một thể chế giáo dục đại học rất yếu kém để làm nền móng xây dựng (Đây là một điểm tương phản rõ rệt so với Trung Quốc, nơi mà, cho đến ngày nay, phần lớn các trường Đại Học hàng đầu đã được thành lập rất lâu trước cách mạng).
Mặc dù báo cáo Vallely đã có lý khi phê bình nặng nề người Pháp, nhưng mối quan hệ giữa Pháp và Việt Nam cũng có những khía cạnh tích cực. Một số những trí thức hàng đầu của Việt Nam (như các nhà toán học Lê Văn Thiêm và Nguyễn Đình Ngọc) đã tu nghiệp ở Pháp và khi trở về đã có những đóng góp to lớn cho Việt Nam. Sau đó, đặc biệt trong thời gian chiến tranh với Mỹ, một số nhà toán học và khoa học nổi tiếng nhất của Pháp (như A. Grothendieck, L. Schwartz, và P. Cartier) đã đến thăm và giảng bài tại Việt Nam và đã cố gắng giúp đỡ các đồng nghiệp của họ. Người sáng lập ra Uỷ ban Hoa Kỳ về Hợp tác Khoa học với Việt Nam - Ed Cooperman (ông đã bị ám sát ở California đúng vào tháng này 25 năm trước), đã từng làm việc một năm ở Pháp trong những năm 1970 đã có những ấn tượng sâu sắc đối với các hoạt động của các nhà khoa học Pháp trong việc ủng hộ Việt Nam, và từ đó thôi thúc ông xây dựng một nhóm tương tự như vậy ở Hoa Kỳ.
Tại thời điểm cam go nhất của cuộc chiến tranh với Pháp, các lớp học nâng cao vẫn được tổ chức, tại Liên khu Bốn do Nguyễn Thúc Hào phụ trách, tại khu vực phía tây Hà Nội do Nguyễn Xiển đảm nhiệm và ở gần biên giới với Trung Quốc do Lê Văn Thiêm phụ trách. Cũng trong cùng thời kỳ này, một cuốn sách giáo khoa về hình học do Hoàng Tuỵ biên soạn đã được xuất bản tại nhà xuất bản của Việt Minh. Tôi tin rằng đây là cuốn sách toán duy nhất trên thế giới do một phong trào kháng chiến phát hành. Các sự kiện lịch sử này đã được những nhiều nhà toán học biết đến thông qua cuộc phỏng vấn của tôi với Hoàng Tuỵ.[5]
2.2. Thời kỳ 1954-1985
Báo cáo Vallely mô tả khoảng thời gian kể từ sự ra đi của người Pháp đến trước thời kỳ đổi mới một cách tiêu cực như là "một kỷ nguyên chế độ xã hội chủ nghĩa độc đoán." Nhưng chính trong giai đoạn này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã trực tiếp gặp Grothendieck để thảo luận về sự phát triển toán học của Việt Nam trong tương lai, và một vài năm sau chính ông đã trực tiếp can thiệp mạnh mẽ để xây dựng một toà nhà nghiêm chỉnh dành cho Viện Toán học Hà Nội. Đây thực sự là một việc làm "độc đoán" của ông, vì theo những gì mà tôi biết, chưa có một ông thủ tướng của một nước tư bản nào từng cương quyết xây dựng một toà nhà mới dành cho các nhà toán học!
Có thể các độc giả Việt Nam cảm thấy ngạc nhiên vì trong báo cáo Vallely, khi nói về "lịch sử cận đại đầy bi thảm" của Việt Nam, chỉ thấy người Pháp phải giơ đầu chịu báng về chính sách ngược đãi với Việt Nam. Các tác giả dường như đã quên đi toàn bộ giai đoạn từ năm 1954 đến 1975, khi nước Mỹ ban đầu ủng hộ cho các chế độ chuyên chế thối nát ở miền Nam, và sau đó từ năm 1964 đến năm 1975, đã chiếm giữ các tỉnh phía nam và tiến hành một cuộc chiến man rợ chống lại Việt Nam. Không một điều gì người Pháp đã làm có thể so sánh được với sự tàn phá trong giai đoạn này - khi mà tổng số lượng bom đổ xuống miền bắc và miền nam Việt Nam nhiều hơn hẳn bất kỳ một cuộc chiến tranh khác nào trong lịch sử thế giới, kể cả Chiến tranh thế giới II. Tham mưu trưởng không quân, tướng Curtis LeMay đã miêu tả chiến lược của Mỹ ở Việt Nam như sau: "Chúng ta sẽ ném bom và đưa họ trở về thời kỳ đồ đá."
Tuy nhiên, chỉ một chút tìm hiểu là ta sẽ thấy rõ ràng vì sao phần về "di sản lịch sử" trong báo cáo Vallely lại hoàn toàn không đề cập chút nào tới vai trò của người Mỹ. Tôi được biết qua trang web của viện Ash rằng trong suốt thời gian này chính ông Vallely đã ở Việt Nam với tư cách như là một thành viên của Thuỷ quân lục chiến Hoa Kỳ. Đây là một trong những tổ chức đã gây ra các tội ác chiến tranh chống lại người Việt Nam.
Hơn nữa, văn phòng của ông Vallely lại có liên kết với Trường Đại học Harvard, và điều này cũng có thể giải thích cho sự thiếu vắng những tư liệu liên quan đến vai trò của nước Mỹ trong "giai đoạn lịch sử hiện đại đầy bi kịch" của Việt Nam. Mặc dù Harvard đã có nhiều nhà toán học và khoa học lỗi lạc trong danh sách các giáo sư của mình, nhưng không phải mọi điều trong quá khứ của Harvard đều đáng khen ngợi. Trường đại học này đóng một vai trò to lớn trong chiến tranh của Mỹ. Một vài giáo sư về chính trị, như McGeorge Bundy và Sam uel Huntington, là những nhà hoạch định chính sách quan trọng. Bundy và Huntington đã tham gia xây dựng và cổ vũ nhiệt thành cho chương trình "Ấp chiến lược" nổi tiếng ở miền nam Việt Nam. Chương trình cưỡng bức di dời phần lớn nông dân này do quân đội Mỹ và chế độ bù nhìn thực hiện đã bị lên án là vi phạm luật pháp quốc tế.[7] Chất Napalm - do Công ty Hoá học Dow sản xuất và được quân đội Mỹ sử dụng để chống lại dân thường ở Việt Nam - được thử nghiệm lần đầu tiên trên sân vận động của Harvard. Vì vậy người ta có thể dễ dàng hiểu được vì sao những người có liên quan tới trường Harvard lại thích giữ im lặng về cuộc chiến tranh của Mỹ và đổ mọi vấn đề của Việt Nam cho người Pháp.
Sự tàn phá của người Mỹ không phải chỉ ở khía cạnh vật chất mà còn cả về mặt văn hoá, đặc biệt là ở miền nam, nơi đã chịu đựng sự chiếm đóng của quân đội Mỹ trong suốt 11 năm. Tiền bạc của họ đã nuôi sống các tệ nạn như mại dâm, nghiện hút, và tham nhũng với qui mô khủng khiếp. Giống như vũ khí của Mỹ mang lại sự tàn bạo và chết chóc, tiền bạc của Mỹ đã ăn dần ăn mòn các cơ cấu văn hoá và xã hội Việt Nam ở phía nam vĩ tuyến 17.
Có cả những ảnh hưởng về mặt văn hoá khác, tuy không hiện rõ bằng. Một ví dụ là nhiều năm trước đây, ông Hoàng Tuỵ đã nói với tôi một nhận xét rằng trong một cuộc chiến sinh tồn, truyền thống mỹ thuật và làng nghề thủ công cũng dần dần bị phai nhạt. Và nếu không có sự nỗ lực phi thường của các nhà trí thức và các nhà lãnh đạo Việt Nam - những người trong suốt thời gian Hà Nội bị ném bom vẫn tổ chức giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học ở trong các khu rừng cách xa Thủ đô - thì đời sống khoa học cũng sẽ bị xoá sổ trong thời gian chiến tranh với Mỹ.
3. Đào tạo ở các nước xã hội chủ nghĩa
Hầu hết các nhà toán học và khoa học hàng đầu của Việt Nam ở thế hệ của Hoàng Tuỵ và thế hệ của tôi đều được đào tạo ở các nước xã hội chủ nghĩa. Theo ấn tượng của tôi thì nhìn chung họ được đào tạo rất tốt. Tôi biết rằng các sinh viên Việt Nam ở Mátxcơva có tiếng là làm việc rất chăm chỉ và thông minh, và họ thường được làm việc dưới sự hướng dẫn của các nhà khoa học hàng đầu của Liên xô.
Báo cáo Vallely gợi ý rằng các nhà khoa học và các quan chức của Việt Nam, những người đã được đào tạo ở các nước xã hội chủ nghĩa, có năng lực kém hơn so với những người được đào tạo ở phương Tây, và cho rằng chính họ đã ngăn cản sự tiến bộ. Khi đưa ra những cáo buộc này, các tác giả dường như đang muốn tạo nên một cuộc xung đột giữa các nhóm khác nhau ở Việt Nam. Dù cho có các ý kiến khác nhau về khả năng của người Việt được đào tạo ở các nước xã hội chủ nghĩa hay không xã hội chủ nghĩa - còn theo quan điểm của tôi thì ở cả hai nhóm này đều có những người có năng lực cao - thì việc tạo nên bất đồng giữa một nhóm người Việt Nam này với một nhóm khác cũng không đem lại lợi ích gì.
Nhìn vào những nhận xét mang tính miệt thị của báo cáo Vallely về những người Việt Nam được đào tạo bậc cao tại các nước xã hội chủ nghĩa, một câu hỏi tự nhiên được đặt ra là: Các tác giả của bản báo cáo này có những phẩm chất, trình độ nào để có thể cho phép họ đưa ra những phán xét tiêu cực như vậy?
Theo trang web của viện Ash thì trước khi trở thành giám đốc của chương trình Việt Nam, ông Vallely đã từng là thành viên của Hạ viện bang Massachusettes (tương tự như một quan chức cỡ nhỏ ở một tỉnh của Việt Nam). Ngoài ra, ông ta có bằng M.P.A, có nghĩa là "Thạc sĩ về Hành chính Công cộng." Đây là một bằng cấp thông thường ở Mỹ dành cho những người muốn làm việc tại các khu vực hành chính cấp địa phương hoặc ở tiểu bang. Nó không có ý nghĩa như trình độ Thạc sĩ về một lĩnh vực khoa học, và tất nhiên là còn kém xa một Tiến sĩ (Ph.D.) hay là bằng Candidate của Liên Xô.
Trợ lý của Vallely, ông Ben Wilkinson, còn có ít bằng cấp hơn nữa. Theo trang web của viện Ash thì trình độ của ông ta là đã tham gia các khoá học về lịch sử và ngôn ngữ Việt Nam hồi ông ta là sinh viên, và ông ta đã "học luật tại Trường Luật Harvard" (cách viết này có nghĩa là ông ta đã không hoàn thành khoá học và có bằng cấp gì về luật).
Nếu một người nào đó có một tấm bằng Thạc sĩ Hành chính Công cộng, hoặc đã từng theo các khoá học đại học về lịch sử và ngôn ngữ Việt Nam thì liệu anh ta có đủ trình độ để chỉ bảo cho chính phủ Việt Nam nên làm gì hay không? Liệu anh ta có đủ tư cách để đưa ra các phán xét tiêu cực về các nhà khoa học và các quan chức đã từng theo học ở các nước xã hội chủ nghĩa hay không?
Liệu một người với trình độ như ông Vallely hoặc ông Wilkinson có thể được chính phủ Hoa Kỳ mời làm chuyên gia tư vấn về cải cách giáo dục bậc cao hay không? Tất nhiên là không. Người ta sẽ coi họ là hoàn toàn không đủ trình độ, và sẽ không có ai muốn nghe ý kiến của họ về vấn đề này. Thế mà Viện Ash của Trường Havard và chương trình học giả Fulbright của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ lại cử họ đến Việt Nam như là các "chuyên gia" về đào tạo bậc cao. Đây là một ví dụ của cái gọi là chủ nghĩa thực dân kiểu mới.
Giọng điệu của bản báo cáo Vallely mang tính chất trịnh thượng, ra vẻ quan trọng và dạy bảo. Các tác giả đã tự tin thái quá một cách sai lầm vào kiến thức cao cả của mình và tỏ ra chế nhạo, coi thường các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học cũng như các nhà lãnh đạo của Việt Nam. Dù cho Mc George Bundy và Samuel Huntington đã chết thì thói kiêu căng kiểu thực dân mới mà họ đã từng thể hiện vẫn tồn tại và hiện hữu ở các tổ chức có liên quan tới Harvard như cái viện Ash này.
4. Tuyên truyền chính trị
Số đông các sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học từ khắp nơi trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam, đến Mỹ để tham gia vào các chương trình Ph.D. trong các ngành khoa học tại các trường đại học nghiên cứu lớn. Không nên nhầm lẫn những chương trình này với một loại hình đào tạo khác thường được các tổ chức kiểu như Viện Ash thực hiện. Các chương trình của các tổ chức đó thường được tiến hành trong khoảng thời gian từ vài tháng cho tới hai năm, không phải tập trung vào một chủ đề khoa học nào, mà là "khoa học chính trị" hay "chính sách công cộng." (từ "khoa học" trong các cụm từ như "khoa học chính trị" hay "khoa học xã hội" tất nhiên chẳng có nghĩa là chúng là các ngành khoa học.) Các sinh viên hay tu nghiệp sinh[9] (như thỉnh thoảng họ vẫn được gọi) học về những chủ thuyết chính trị và các học thuyết kinh tế nổi bật ở Mỹ, và họ được dạy rằng cách tiếp cận của người Mỹ trong việc giải quyết các vấn đề là tốt nhất và chúng nên được du nhập vào các quốc gia khác.
Báo cáo Vallely cho rằng ở Việt Nam "25% chương trình giảng dạy đại học được dành cho các môn học mang nặng tính tuyên truyền chính trị." Tuy nhiên, khi nhìn vào các chương trình về chính sách tại Viện Ash ở Harvard của ông Vallely, người ta dễ có cảm giác rằng việc truyền bá chính trị chiếm tới 100%. (Có lẽ 100% thì hơi quá, nhưng chắc chắn rằng tỷ lệ các môn tuyên truyền về chính trị và tư tưởng vượt xa con số 25%.) Sự khác biệt giữa hai dạng tuyên truyền chính trị tại các trường đại học ở Việt Nam và tại viện Ash là ở chỗ một nơi tuyên truyền về chủ nghĩa xã hội còn nơi kia là chống chủ nghĩa xã hội. Ngay cả khi nhận định trong báo cáo Vallely rằng sinh viên đại học ở Việt Nam đã lãng phí 25% thời gian của mình là đúng, thì nó vẫn còn tốt hơn là lãng phí hầu như 100% thời gian.



5. Đổi mới
Vào năm 1985 Chính phủ Việt Nam đã đưa ra một loạt chính sách cải tổ nền kinh tế và điều đó dẫn tới việc nền kinh tế đã phát triển nhanh chóng trong nhiều năm, chất lượng cuộc sống của mọi người được nâng cao, và khu vực tư nhân phát triển rất mạnh. Trong cuốn sách Random Curves[10] của mình, tôi đã cố gắng đưa ra một cách nhìn cân bằng về ảnh hưởng của đổi mới.
...Những thay đổi này có ảnh hưởng cả tốt lẫn xấu. Hầu hết người Việt Nam có một cuộc sống vật chất tốt hơn ... Mặt khác, sự mất cân đối về kinh tế trở nên rõ rệt hơn trước, và tầng lớp người "vô-sản" đã xuất hiện. Hơn nữa, trong nhiều mặt thì ở Việt Nam khu vực kinh tế tư nhân thậm chí còn chịu thuế và những ràng buộc ít hơn so với ở Mỹ và các nước tư bản khác.
Trong một lần thảo luận vấn đề này với Bà Nguyễn Thị Bình - khi đó là Phó Chủ tịch nước- tôi có nhận xét rằng trong vấn đề này thì Việt Nam còn kém xã hội chủ nghĩa hơn nước Mỹ. Trong cuốn sách của mình, tôi đã đưa ra một ví dụ để minh hoạ cho những cách hành xử tồi tệ của các công ty tư nhân ở Việt Nam, điều không bao giờ được chấp nhận ở hầu hết các nước tư bản tiên tiến:
Ví dụ, vào năm 2003 chúng tôi để ý thấy có một tờ quảng cáo tuyển nhân viên của khách sạn Caravelle, đăng trên tờ báo tiếng Anh Vietnam News. Mẩu quảng cáo này tuyển nhân viên nam giới cho các công việc kỹ thuật và tuyển nhân viên nữ cho các công việc phục vụ phòng. Những quảng cáo có tính chất phân biệt nam nữ như vậy là không hợp pháp ở Mỹ và ở hầu hết các nước Châu Âu.
Hơn nữa, đã có nhiều trường hợp những ông chủ là người Mỹ, người Hàn Quốc hay Nhật Bản quấy rối tình dục công nhân nữ Việt Nam, những người phụ nữ này hoàn toàn bất lực và người ta cũng chẳng có hành động gì để xử phạt những kẻ quấy rối tình dục đó.
Cũng giống như ở các nước khác, chính sách mở cửa có mặt trái của nó. Những người đã từng nghiên cứu về các mối quan hệ phức tạp giữa các nước giầu có và các nước Thế giới Thứ Ba thường hay nói về vấn đề "dumping"[11]. Điều này có nghĩa là nhiều công ty đa quốc gia thường xuyên bán các sản phẩm chất lượng thấp hoặc có lỗi cho các nước Thế giới Thứ Ba - ví dụ, các loại thuốc quá hạn sử dụng hoặc không được kiểm nghiệm và vì vậy không thể bán được ở Mỹ. Nạn dumping cũng được mở rộng tới cả lĩnh vực văn hoá. Ví dụ như, các phim Mỹ thường được chiếu ở Việt Nam (và làm cản trở nền công nghiệp điện ảnh Việt Nam) thường là những bộ phim kém chất lượng nhất của Hollywood - những bộ phim Mỹ có chất lượng tốt hiếm khi được nhập về.
Tương tự như vậy, hầu hết các trường của Mỹ đặt chi nhánh ở Việt Nam đều là những trường có chất lượng thấp. Ví dụ, một bài báo[12] mà tôi đọc được trên một tờ báo của Mỹ nói tới việc Trường cao đẳng Cộng đồng Houston[13] có một chi nhánh rất phát đạt ở Thành phố Hồ Chí Minh. Không một người nào ở Mỹ coi Trường Cao đẳng Cộng đồng Houston là một trường có địa vị học thuật nghiêm túc. Vì vậy, điều này cũng có thể được xem là một hình thức dumping. Và cũng có thể nói rằng việc gửi những người không có khả năng sang Việt Nam làm "chuyên gia" về giáo dục bậc cao cũng là một dạng dumping.
Một mặt trái khác của chính sách mở cửa là sự gia tăng của chủ nghĩa thực dụng trong thế hệ trẻ - một hiện tượng cũng thấy ở Trung Quốc, Ấn Độ và một vài nơi khác. Tôi đã viết trong cuốn Random Curves, Những người làm khoa học ở Việt Nam thường than phiền rằng ngày càng ít các bạn trẻ muốn theo đuổi các lĩnh vực khoa học cơ bản. Đã có hiện tượng "bạc tóc" ở các cơ quan khoa học ... Người Việt Nam có truyền thống coi trọng việc học hành... Nhưng với sự tác động mạnh mẽ của các hệ thống giá trị được du nhập từ các nước tư bản, những công việc lao động trí óc không cạnh tranh nổi với các ngành nghề khác có lợi hơn.
Thậm chí cả các bạn trẻ đã rất thành công trong các cuộc thi Ôlimpíc Toán học Thế giới cũng thường không chọn nghề làm toán hoặc các lĩnh vực hoạt động sáng tạo khác của khoa học và công nghệ.
Mặc dù việc đấu tranh chống lại những ảnh hưởng tiêu cực tới giới trẻ là khó khăn, nhưng cũng không phải là hoàn toàn bó tay. Đã có nhiều nỗ lực thành công ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Ấn Độ, một số nhà toán học hàng đầu đã tham gia giảng dạy trong các chương trình mùa hè về toán học được chính phủ tài trợ dành cho các học sinh cả nam và nữ đã đạt được kết quả tốt trong các kỳ thi Ôlimpíc. Mục đích của các chương trình này không phải chỉ để dạy toán, mà còn nhằm chuyển tải vẻ đẹp và sự hấp dẫn của việc nghiên cứu toán học. Ở Mỹ, Hiệp hội các nhà Toán học Nữ tổ chức "ngày Kovalevskaia" tại các trường cấp hai ở nhiều nơi trên nước Mỹ. Tại những buổi gặp gỡ này, các nhà nghiên cứu nữ nói chuyện với các em gái về rất nhiều công việc có sử dụng đến toán học. Một sáng kiến khác tỏ ra rất thành công là một chương trình được chính phủ tài trợ mang tên "Kinh nghiệm nghiên cứu ở bậc đại học"[14] (REU), được tổ chức vào mùa hè tại nhiều trường đại học, trong đó có trường của tôi. Các giáo sư phụ trách REU cố gắng đem lại cho các sinh viên những cảm giác ban đầu của công việc nghiên cứu toán học.
6. Giáo dục bậc cao ở Mỹ
6.1. Sự xuống cấp về kiến thức cơ bản của sinh viên
So với hầu hết các trường ở Mỹ, trường của tôi thu hút được nhiều sinh viên khá. Đại học Washington (U.W.) là trường đại học hàng đầu ở vùng tây bắc, và hầu hết sinh viên học toán và khoa học tại U.W. đều nằm trong nhóm 20% dẫn đầu ở trung học. Vì sự "lạm phát điểm số"[15] và sự "ngu hoá"[16] , nhiều người trong số họ thường quen với việc có điểm số cao mà lại chỉ tốn rất ít công sức.
Trong thời gian từ 20 hoặc 25 năm trở lại đây, mức độ chuẩn bị của sinh viên khi nhập trường dần dần đi xuống. Lần đầu tiên tôi nhận ra điều này là khi một sinh viên khi học môn học giải tích dành cho năm thứ nhất của tôi đã than phiền với bộ phận hành chính về tôi. Cô ta nói rằng tôi dạy quá khó, và để chứng minh, cô ta chỉ ra rằng để trả lời cho một câu hỏi trong một bài kiểm tra của tôi, các sinh viên phải nhớ được công thức tính diện tích hình tròn.
Một vài năm trước, một đồng nghiệp của tôi, Giáo sư chuyên ngành khí tượng học Cliff Mass đã hết sức thất vọng khi thấy sinh viên của mình không thể hiểu được những kiến thức toán học mà ông ta sử dụng trong môn học nhập môn của mình. Để tìm hiểu những lỗ hổng trong kiến thức chuẩn bị về toán của họ, ông đã cho họ một bài "kiểm tra chất lượng" về toán cơ bản. Sau đây là ba câu hỏi điển hình trong bài kiểm tra này cùng với tỷ lệ sinh viên trả lời sai:
(1) Chia 25×108 cho 5×10-5. (63% đã bỏ câu này.)
(2) Diện tích của hình tròn bán kính r là bao nhiêu? (31% bỏ câu này.)
(3) Cho y= x/(1-x), hãy tìm x theo biến y. (86% bỏ câu này.)
Để có thể so sánh, sẽ rất lý thú nếu như biết được có bao nhiêu phần trăm sinh viên Việt Nam sẽ không thể trả lời được các câu hỏi trên?
6.2. Chi phí cao và tệ quan liêu
Chi phí cho giáo dục bậc cao ở Mỹ còn tăng nhanh hơn cả lạm phát và nhanh hơn cả mức thu nhập gia đình. Tại nhiều trường đại học tư hiện nay, tính trung bình mỗi năm sinh viên phải chi trả cho các khoản: học phí, lệ phí, tiền thuê nhà, tiền ăn là vào khoảng 50.000 USD. (Tại các trường công lập thì chi phí vào khoảng một nửa số đó.) Đã có nhiều tranh luận về vấn đề này trên báo chí Mỹ.
Một lý do của chi phí cao là các trường đại học đó cung cấp cho sinh viên nhiều dịch vụ hơn trước đây. Ví dụ, so với các sinh viên ở các thế hệ trước, sinh viên thời nay dường như cần sự giúp đỡ về sức khoẻ và tâm lý nhiều hơn. Nhiều người trong số họ lam dụng các loại thuốc gây nghiện, các hoá chất chống dị ứng, thuốc tránh thai, và đặc biệt là các dược phẩm điều trị tâm lý như các loại thuốc giảm đau và thuốc giảm cường độ hoạt động[17] - và những cuộc rượu chè say sưa (một dạng của chứng nghiện rượu) cũng là một vấn đề lớn.
Một lý do khác nữa là sự nở rộ như bệnh ung thư của hệ thống quan liêu, điều mà tôi cũng đã đề cập trong bài bình luận của tôi về bản báo cáo của Viện Hàn Lâm Quốc gia Hoa Kỳ. Đội ngũ cán bộ hành chính trong các trường đại học thường đông đảo như một khoa, và có nhiều toà nhà chỉ dành cho các phòng hành chính. Các cán bộ hành chính này mất quá nhiều thời gian cho các cuộc họp vô bổ và các hội nghị đắt đỏ không cần thiết, và họ xuất bản ra một khối lượng khổng lồ những ấn phẩm không có giá trị mà hầu như chẳng ai thèm đọc.
Do những yếu tố tổng hợp liên quan đến vấn đề cá nhân, áp lực về tài chính, và sự chuẩn bị nghèo nàn về toán học và các lĩnh vực khác, hầu như một nửa số sinh viên vào các trường có chương trình đào tạo là 4 năm đã không thể hoàn thành khoá học của mình trong vòng 4 năm, 5 năm và thậm chí là 6 năm.[18] Điều này khiến cho nhiều nhà bình luận của Mỹ nói rằng giáo dục bậc cao ở Mỹ là rất không hiệu quả và quá đắt đỏ.
6.3. Làm thế nào mà nước Mỹ vẫn tạo ra được những sản phẩm khoa học tốt ?
Khi các nhà khoa học và toán học đến thăm và giảng dạy tại Mỹ trong vòng một năm, họ thường bị sốc vì trình độ rất thấp của sinh viên ở đây. Họ thường tự hỏi vì sao mà một nước có nền giáo dục yếu kém như thế này lại có thể vẫn duy trì một nền khoa học hàng đầu thế giới? Nước Mỹ luôn nắm giữ những kỹ thuật hiện đại nhất trong hầu hết các ngành kỹ thuật cao, vẫn có những chương trình sau đại học về các ngành khoa học tốt nhất thế giới, và vẫn đạt được rất nhiều giải Nobel. Thoạt nhìn, điều này đúng là một nghịch lý.
Có hai lý do giải thích vì sao nước Mỹ vẫn sản sinh ra các nhà khoa học hàng đầu thế giới:
Nước Mỹ là một quốc gia rộng lớn và giàu có, với một hệ thống giáo dục hoàn toàn phi tập trung. Sự đa dạng về chất lượng là rất lớn. Có một thiểu số các trường công lập và trường tư có chất lượng rất cao. Giả sử rằng 98% người Mỹ được hưởng một nền giáo dục không đầy đủ trong các ngành khoa học, thì vẫn còn 2% nhận được một nền giáo dục tầm cỡ thế giới. Con số 2% đó cũng đủ để cung cấp cho đất nước hàng trăm nghìn kỹ sư và các nhà khoa học.
Nước Mỹ hưởng lợi rất nhiều từ phong trào nhập cư. Sự "bòn rút chất xám"[19] từ các quốc gia khác cung cấp đều đặn cho nước Mỹ một số lượng phong phú các nhà khoa học và kỹ sư. Trong nhiều ngành khoa học, hơn một nửa các luận án Tiến sĩ chất lượng hàng đầu được viết bởi các sinh viên sau đại học đã từng học tập tại các trường bậc thấp hơn ở các quốc gia khác.
Đối với các quốc gia khác, có thể rút ra nhiều bài học từ thành công và thất bại của giáo dục khoa học ở Mỹ. Tuy nhiên, không một người có tri thức nào lại có thể khẳng định rằng nhìn chung hệ thống đào tạo trung học và đại học của Mỹ là một mô hình tốt và đáng để các quốc gia khác noi theo.

7. Về ý tưởng một trường đại học mới do người Mỹ dựng lên
Báo cáo Vallely có kèm theo một phụ lục bài viết của Giáo sư Hoàng Tuỵ, trong đó ông ủng hộ ý tưởng xây dựng một trường đại học mới, do nhà nước tài trợ, dựa trên mô hình của Mỹ, và do người Mỹ thiết kế.
Tôi đặc biệt ngưỡng mộ và kính trọng Hoàng Tuỵ (và đã viết về điều này trong Random Curves), nhưng tôi không phải là đồng ý với ông về mọi điểm. Chẳng hạn như khi tôi phỏng vấn ông khoảng 20 năm trước cho tờ The Mathematical Intelligencer, ông và một vài nhà toán học có tiếng khác có vẻ rất thích thú với một trường đại học mới là đại học Thăng Long, và cho rằng những đại học tư như thế sẽ trở thành kiểu mẫu cho giáo dục bậc cao ở Việt Nam. Tôi không bao giờ tin điều này sẽ xảy ra. Tôi biết nhiều trường đại học tư ở các nước thế giới thứ ba khác, và tôi không tin rằng việc "tư nhân hoá" như thế sẽ là một lời giải cho những khó khăn của Việt Nam (và các nước khác) trong giáo dục bậc cao. Bây giờ thì rõ ràng là tôi đã đúng về điểm này. Các "đại học" tư, kể cả Thăng Long, không thực sự là các đại học mà chỉ là các trường dạy nghề với một vài hình thức giáo dục trên bậc phổ thông.[20]
Cũng tương tự như thế, tôi cho rằng Hoàng Tuỵ và nhiều người khác đã sai lầm khi cho rằng một trường đại học được xây dựng hoàn toàn mới theo thiết kế của một nhóm các trường đại học của Mỹ sẽ là một mô hình thành công trong giáo dục bậc cao ở Việt Nam. Có nước nào trên thế giới mà điều này đã xảy ra không? Có một vài nước, chủ yếu là ở vùng Trung Đông,[21] là có các trường đại học do người Mỹ xây dựng, nhưng theo tôi được biết thì những trường này chỉ đào tạo các con em tầng lớp thượng lưu và không có nhiều ảnh hưởng đến việc nâng cáo chất lượng giáo dục ở các quốc gia đó.
Một điểm quan trọng trong bản kiến nghị về một trường đại học mới kiểu Mỹ ở Việt Nam là nó sẽ không lấy kinh phí từ nguồn của Mỹ. Như thế, nó sẽ là một khoản chi rất lớn đối với chính phủ Việt Nam. Như trong bản báo cáo Vallely đã viết: "Nói một cách thẳng thừng là Việt Nam phải chấp nhận chi tiền." Và mỗi đồng đô la mà Việt Nam trả cho một hiệp hội của Mỹ có nghĩa là nhà nước sẽ có ít tiền hơn để cải tổ các trường đại học hiện có.
Nhìn sang các nước khác để học tập các ý tưởng để cải cách là một việc làm hoàn toàn xác đáng. Có một số điều ở nước Mỹ được thực hiện tốt - như tôi đã từng đề cập đến trong những lần sang thăm Việt Nam. Ví dụ, ở Mỹ thì việc giảng dạy và nghiên cứu được gắn kết với nhau tốt hơn so với đa số các nước khác. (Tôi đã trình bày về điều này từ năm 1983 trong một bản báo cáo mà tôi đã viết cho các nhà lãnh đạo Việt Nam về giáo dục và khoa học.) Nhưng Việt Nam không nên tôn sùng nước Mỹ (hay bất cứ quốc gia nào khác). Cần phải hiểu rằng có rất nhiều thất bại trong hệ thống Mỹ. Và một số nước khác, như Ấn Độ, Trung Quốc, và Nhật Bản - lại là những nguồn ý tưởng và cảm hứng hay hơn nhiều trong một số khía cạnh của giáo dục.

8. Thị trường việc làm
Bản báo cáo Vallely khẳng định rằng "có đến khoảng 50% sinh viên tốt nghiệp không thể tìm được việc làm trong lĩnh vực chuyên môn của mình," và dùng điều này như là một bằng chứng về sự kém hiệu quả của chương trình đào tạo ở Việt Nam. Tuy nhiên, đây không phải là kết luận đứng đắn rút ra được từ con số thống kê này. Ở Việt Nam, cũng như ở nhiều nước Thế giới Thứ Ba khác, vấn đề là ở chỗ khu vực tư nhân không đạt được đến mức độ có khả năng thu nhận một số lượng lớn các nhà khoa học và kỹ sư tài năng (và ở khu vực nhà nước thì điều này lại bị giới hạn bởi những lý do về tài chính).
Từ nhiều năm nay tôi thường xuyên đến Peru, một quốc gia cũng không có khả năng cung cấp công ăn việc làm cho các sinh viên tốt nghiệp đúng với chuyên môn của họ. Một khách du lịch ở Peru rất có thể sẽ gặp một người lái taxi hay một hướng dẫn viên du lịch rất có học! Khách du lịch tất nhiên sẽ thích điều này, nhưng đây lại là một bi kịch đối với quốc gia đó. Lý do vì sao rất nhiều người Peru có bằng cấp cao nhưng lại làm các công việc thậm chí không cần đến trình độ đại học không phải là do các trường đại học của Peru quá kém cỏi trong công tác đào tào họ, mà là vì nền kinh tế chưa đủ sức để có thể thu nhận họ. Peru, giống như Việt Nam, chưa có một khu vực tư nhân sống động. Và ở Peru, cũng như ở nhiều quốc gia khác, chính phủ đang phải chịu một sức ép rất lớn phải giảm bớt khu vực nhà nước, nơi phần lớn những người làm việc trong các ngành khoa học ăn lương (sự cắt giảm trong khu vực nhà nước thường là một trong những điều kiện mà Ngân Hàng Thế Giới hay Quĩ Tiền Tệ Quốc Tế yêu cầu).
Ngay cả khi một quốc gia có một khu vực kinh tế tư nhân giàu sáng tạo với rất nhiều việc làm dành cho các nhà khoa học và kỹ sư, cũng cần phải có những cố gắng đặc biệt để đảm bảo cho các sinh viên tốt nghiệp đại học có một bước chuyển tiếp trơn tru ra thị trường nhân lực. Một trường đại học đã có rất nhiều thành công trong việc này là đại học Waterloo (thường được gọi là "MIT của Canada"), nơi mà khái niệm "thực tập sinh"[22] được đưa ra lần đầu tiên từ gần nửa thế kỷ trước. Các sinh viên Waterloo mất 5 năm chứ không phải 4 năm đại học để tốt nghiệp vì họ dành một phần không nhỏ thời gian trong các năm đó để làm các công việc tạm thời, thường là các khu vực Nghiên cứu và Phát triển (R&D) tại các công ty công nghệ cao. Tất nhiên là một chương trình thực tập như vậy chỉ có thể thực hiện được vì khu vực Toronto, nơi đại học Waterloo đặt địa điểm, có rất nhiều công ty như vậy.
8.1. Tính chất của khu vực tư nhân
Bản báo cáo Vallely sử dụng khái niệm "chỉ số sáng tạo" để chỉ bảng các bằng sáng chế được cấp năm 2006, và nó sử dụng việc thiếu vắng các bằng sáng chế được cấp cho Việt Nam như là một bằng chứng cho "chất lượng kém cỏi" của giáo dục bậc cao. Điều này là một sự nhầm lẫn tai hại..
Mục đính của bằng sáng chế là bảo vệ sự sáng tạo trong phu vực tư nhân, nói rõ hơn, là để đảm bảo cho các công ty thu được lợi nhuận từ những cải tiến mà các nhà nghiên cứu của họ đề xuất. Thông thường thì nghiên cứu trong khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng tại các trường đại học và tại các viện nghiên cứu của chính phủ không dẫn đến các bằng sáng chế, dù tính sáng tạo của nó ở mức độ nào chăng nữa.[23] Do đó, việc thiếu vắng những bằng sáng chế ở Việt Nam là một hệ quả, không phải của một sự thất bại trong hệ thống đại học, mà là chất lượng thấp của khu vực tư nhân.
Như đã chỉ ra trong báo cáo Vallely, Hàn Quốc có rất nhiều bằng sáng chế. Lý do là vì nền công nghiệp Hàn Quốc đã phát triển ở mức độ cao, với nhiều tên tuổi lớn trên thế giới cỏ khả năng cạnh tranh trong các ngành công nghiệp điện tử, xe hơi - và những công ty đặt tại quốc gia đó có mạng lưới R&D dày đặc.
Ngược lại, Việt Nam, cũng như nhiều nước thuộc Thế Giới Thứ Ba khác, không có một công ty quan trọng nào đi đầu trong các sáng tạo kỹ thuật. Và các chi nhánh tại Việt Nam của các công ty đa quốc gia chỉ tham gia vào các lĩnh vực sản xuất, phân phối và các hoạt động liên quan chứ không phải là phát triển sáng tạo kỹ thuật mới.
8.2. Intel
Trong một mục có tiêu đề là "Mức độ khủng hoảng," bản báo cáo Vallely khẳng định rằng kinh nghiệm của Intel trong việc tuyển người tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy "chất lượng tồi tệ của giáo dục đại học." Bản báo cáo cũng dẫn các kết quả của một bài kiểm tra trắc nghiệm của 2000 sinh viên ở Thành Phố Hồ Chí Minh và dẫn lời một ai đó tại Intel như sau:
Intel xác nhận rằng đây là kết quả tồi tệ nhất mà họ đã gặp phải tại tất cả các quốc gia mà họ đã đầu tư. Các nhà đầu tư Việt Nam và quốc tế thường dẫn việc thiếu hụt công nhân và lực lượng quản lý có trình độ là rào cản lớn đối với sự mở rộng của họ.
Chúng ta hãy cùng tìm hiểu xem liệu báo cáo Vallely có mô tả chính xác những gì mà Intel đã trải qua hay không và đi đến kết luận thích ứng.
8.2.1. Hoạt động của Intel tại Việt Nam
Trên trang web của mình, Intel công bố rằng các cơ sở được mở rộng đã được hoạch định trước ở Việt Nam sẽ hoạt động trong bốn lĩnh vực: sản xuất, kiểm nghiệm, bán hàng và marketing. Một biểu đồ trong Báo Cáo Trách Nhiệm Công Ty năm 2008 của Intel cho thấy là vào thời điểm 31 tháng 12 năm 2008, Intel đã có cơ sở hoạt động với trên 50 nhân viên tại mười hai nước Thế Giới Thứ Ba, trong đó có Việt Nam. Theo biểu đồ này thì Intel có các cơ sở R&D tại bốn nước trong số đó (Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, và Philippines).
Những công nhân có trình độ cao hoặc kém hơn một chút tại Việt Nam của Intel sẽ làm việc tại các dây chuyền sản xuất, thực hiện các giao thức kiểm nghiệm sản phẩm, và cố gắng tăng sức mua các sản phẩm của Intel trong nước. Ngoài ra, Intel cần nhân công có trình độ trong các công việc thư ký và quản lý (đôi khi được gọi là "kỹ năng mềm") để giải quyết các công việc hành chính và quản lý nhân viên Việt Nam. Đối với những mục đính như vậy thì chỉ cần một hai năm học tại một trong những trường dạy nghề tư đang nở rộ tại Thành phố Hồ Chí Minh là đủ; không có một điều gì trong mô tả công việc đòi hỏi đến bằng đại học 4 năm. Nói riêng, chi nhánh tại Việt Nam của công ty không cần đến các kỹ sư hay các nhà khoa học sáng tạo vì nó không có R&D.
Trong những lần đầu khi tôi đến thăm Việt Nam vào năm 1978 và những năm 1980, tôi thường cảm thấy hết sức kinh ngạc trước sự khéo léo của các tài xế và thợ máy Việt Nam, họ có thể sửa chữa và bảo trì những chiếc xe cũ nát của Mỹ từ thời chiếm đóng. Có vẻ như những kỹ năng, sự thông minh, và đôi khi là sự sáng tạo thể hiện khi sửa chữa xe hơi hay tại các cửa hàng sửa chữa xe đạp trong những năm tháng đó vượt quá những gì mà Intel mong đợi từ những nhân viên Việt Nam của mình. Những người này chỉ được yêu cầu phải theo đúng những công đoạn thực hiện mà những nhân viên Mỹ đã vạch ra. Người ta không yêu cầu họ phải sáng tạo.[24] Vì thế, không thể đưa ra những kết luận hợp logic nào về chất lượng của các trường đại học đào tạo 4 năm của Việt Nam từ sự thành công hay thất bại của Intel trong công tác tuyển dụng nhằm thoả mãn mục tiêu của họ.
8.2.2. Trả lời của Intel về bản báo cáo Vallely
Được sự giúp đỡ của một người đồng nghiệp, hiện đang là một nghiên cứu viên có thâm niên trong lĩnh vực mật mã tại Intel, tôi đã tiếp cận được với một số người tại Intel có hiểu biết về hoạt động của công ty tại Việt Nam. Tôi đã đề nghị họ đọc những phát biểu về Intel trong bản báo cáo Vallely và trả lời. Dưới đây là phát biểu của Intel:[25]
Mục tiêu của Intel là phối hợp với chính phủ Việt Nam, các trường đại học, và ngành kinh doanh khác để phát triển một đội ngũ nhân công kỹ thuật cao có chất lượng quốc tế. Đây không phải là điều mà chúng tôi có thể hay muốn làm một cách đơn độc, lại càng không phải là một việc có thể xảy ra ngay lập tức. Nó cần phải có được sự hỗ trợ và đóng góp của tất cả các bên có liên quan. Từ khi chúng tôi bắt đầu hoạt động tích cực ở Việt Nam, chúng tôi đã có được một định hướng tích cực.
Intel muốn xây dựng một nhà máy kiểm nghiệm dây chuyền bán dẫn lớn nhất thế giới tại Việt Nam. Trong thời gian gần đây, chúng tôi đã có được một số thành công trong việc tuyển dụng sịnh viên kỹ thuật. Từ khi chúng tôi bắt đầu đánh giá khả năng của sinh viên, họ đã chứng tỏ được khả năng tiếp thu tiếng Anh tốt hơn, và những kỹ năng mềm của họ đã có tiến bộ. Khi Intel thông báo các yêu cầu của mình, sinh viên và các trường đại học đã có những đáp ứng có tính xây dựng. Chúng tôi còn cả một chặng đường, nhưng những tiến bộ gần đây là đáng kể.
Khi tiếp tục đi trên con đường này cùng với các thành viên đối tác, và khi các trường đại học và chính phủ và giới kinh doanh tập trung vào các ứng dụng cụ thể của kỹ năng kỹ thuật, chúng tôi tin rằng lực lượng nhân công kỹ thuật cao của Việt Nam sẽ có sức cạnh tranh ở mức độ toàn cầu.
Phát biểu của Intel không ủng hộ cho cái gọi là các trường đại học Việt Nam đang khủng hoảng, hay cần phải có những thay đổi mạnh mẽ trong việc quản lý. Báo cáo Vallely rõ ràng là đã xuyên tạc và bóp méo những kinh nghiệm của Intel để phục vụ cho mục tiêu chính trị của mình.

9. Học tập ở nước ngoài
Bản báo cáo Vallely khẳng định rằng do chất lượng học tập ở bậc đại học kém nên "Các sinh viên Việt Nam thường không thể cạnh tranh [với] các sinh viên đến từ Ấn Độ và Trung Quốc ... khi đăng ký vào các chương trình cao học có chất lượng cao tại Mỹ và Châu Âu." Nhưng nó không đưa ra được một bằng chứng nào để minh chứng cho khẳng định nói rằng các sinh viên Việt Nam không đủ sức cạnh tranh.[26]
Rất có thể là tại một vài trường đại học của Trung Quốc và Ấn Độ, các ứng viên của họ thành công hơn so với các ứng viên đến từ các nước thuộc Thế Giới Thứ Ba, bao gồm cả Việt Nam. Cả Trung Quốc và Ấn Độ đều có nhiều năm kinh nghiệm hơn trong việc gửi sinh viên của họ ra nước ngoài để tiếp tục học tập, và thường thì số ứng viên từ hai nước này cũng cao hơn rất nhiều. (Cũng cần nhắc lại rằng Trung Quốc và Ấn Độ chiếm khoảng 37% dân số thế giới; còn Việt Nam chỉ chiếm khoảng 1.28%.)
Trong trường hợp Việt Nam, có một hiện tượng đặc biệt có thể giúp giải thích phần nào cho sự ít ỏi của ứng viên so với một vài nước khác, tương tự như Việt Nam, có truyền thống đòi hỏi cao trong giáo dục toán học. Nhiều chương trình Ph.D. toán yêu cầu phải có điểm TOEFL rất cao. Lý do là vì tại các trường đại học của Mỹ, nguồn tài chính chủ yếu cho việc học tập sau đại học là làm trợ giảng cho các môn học nhập môn - một công việc đòi hỏi kiến thức tiếng Anh giao tiếp rất vững vàng.
Thường thì các sinh viên từ Hà Nội có trình độ toán cao hơn, nhưng lại không có điểm TOEFL cao, trong khi đó thì đối với các sinh viên từ phía nam, điều ngược lại xảy ra. Tất nhiên là có nhiều ngoại lệ đối với khẳng định trên, nhưng nói chung thì khó tìm được một ứng viên Việt Nam dẫn đầu cả về toán học và tiếng Anh.
Theo như tôi biết thì Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới mà ở đó, nơi đào tạo khoa học tốt nhất và nơi giảng dạy tiếng Anh tốt nhất lại gần như hoàn toàn khác nhau. Ở Trung Quốc chẳng hạn, thì những nơi này là một. Trong trường hợp của Ấn Độ, vấn đề này không tồn tại vì tiếng Anh là ngôn ngữ của tầng lớp cao, và tiếng Anh được dùng trong giảng dạy tại tất cả các trường đại học.
10. Một vài khuyến nghị
Nếu như tôi được yêu cầu đóng góp một số lời khuyên cho chính phủ Việt Nam để nâng cao chất lượng giáo dục bậc cao, thì chúng sẽ khác hẳn những gì mà Viện Ash hay Viện Hàn Lâm Quốc Gia Hoa Kỳ đã đưa ra. Những khuyến nghị của tôi là như sau:
1. Tăng lương cho các giảng viên, giáo sư, và các nghiên cứu viên để có thể tiếp cận được với mức lương ở khu vực tư nhân.
2. Cấp học bổng cho sinh viên ở bậc cao học (Master) trong các ngành toán hoc và khoa học.
3. Cấp kinh phí cho các chương trình mùa hè dành cho các sinh viên tài năng (ví dụ như những sinh viên có kết quả tốt trong các kỳ thi Olimpic toán).
4. Cấp kinh phí để xây dựng các chương trình đặc biệt dành cho nữ sinh, đặc biệt là tại các trường trung học và đại học, để khuyến khích nữ giới lựa chọn nghề nghiệp trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật. (Quỹ Kovalevskaia dành những phần thưởng cho các nhà khoa học nữ có trình độ cao, nhưng lại không có một chương trình tương tự như vậy dành cho nữ giới ở trình độ thấp hơn).
5. Cấp kinh phí để xây dựng các chương trình đặc biệt dành cho các dân tộc thiểu số, để họ có thể tham gia trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật. Cả học sinh nữ lẫn các học sinh người dân tộc thiểu số đều cần được khuyến khích tham gia và các hoạt động như các kỳ thi Olimpic toán. (Vào năm 2007, Quỹ Kovalevskaia đã cấp kinh phí cho một cậu bé người dân tộc miền núi thiểu số ở Peru tham gia vào cuộc thi IMO tại Hà Nội, và cậu đã dành được huy chương bạc.)
6. Cố gắng vận động, gây ảnh hưởng đối với các công ty kỹ thuật cao đa quốc gia để xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển (không chỉ có các công việc kinh doanh, marketing, kiểm nghiệm và sản xuất) tại Việt Nam, để từ đó có thêm nhiều công việc đòi hỏi trình độ cao trong các khu vực tư nhân, tạo thêm cơ hội cho sự sáng tạo của các nhà khoa học trẻ Việt Nam. Hiện tại thì gần như tất cả các nghiên cứu khoa học đều chỉ do nhà nước hỗ trợ chứ không có sự tham gia của khu vực tư nhân. Nếu như Intel có thể xây dựng các cơ sở R&D tại Malaysia và Phillippines thì tại sao nó không thể làm như vậy tại Việt Nam?
7. Đưa ra một loại thuế mới đối với các công ty ở khu vực tư nhân - kể cả với các công ty đa quốc gia - để chỉ sử dụng vào các hoạt động của chính phủ nhằm hỗ trợ giáo dục và nghiên cứu khoa học. [27]
8. Đừng phung phí tiền của chính phủ Việt Nam bằng cách chi trả cho các cái gọi là "chuyên gia" Hoa Kỳ, hay chi trả cho các trường đại học của Mỹ để họ dựng lên một đại học ở Việt Nam.
Mục đính của các khuyến nghị 7 và 8 là để cho chính phủ Việt Nam có thêm kinh phí từ các khuyến nghị 1, 2, 3, 4, 5. Khác với bản báo cáo Vallely, cho rằng không cần thiết phải tăng thêm kinh phí tài trợ cho giáo dục bậc cao ở Việt Nam, tôi cho rằng một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục bậc cao chắc chắn PHẢI LÀ tài chính.
11. Kết luận
Một vài nhà bình luận Việt Nam mô tả tình trạng hiện nay bằng các ngôn từ của ngày tận thế, và tuyên bố rằng các vấn đề của giáo dục bậc cao đã trở nên trầm trọng đến mức cần phải có sự can thiệp từ phía bên ngoài - bởi những người nước ngoài - mới có thể dẫn đến cải cách. Một số thậm chí còn tin tưởng rằng vấn đề này chỉ có thể được giải quyết nếu như toàn bộ hệ thống kinh tế và chính trị được thay đổi - chắc với ý là bằng một mô hình nào đó theo mô hình tư bản phương tây.
Trong tiếng Anh, có một câu nói là: "Hãy coi chừng những ước muốn của mình."[28] Lý do (thường không nói đến) là bởi vì "anh sẽ lĩnh đủ nó."[29] Khi tôi ở Mátxcơva vào những năm 1970 và 1980, tôi thấy rất nhiều trí thức đầu đàn của Liên Xô chán ghét hệ thống xã hội chủ nghĩa mà họ đang sống và chỉ muốn được thấy nó bị thay thế bởi một hình thức kiểu phương Tây cả về kinh tế và chính trị. Họ thường tỏ ra rất ngưỡng mộ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, và họ thường không hiểu được những khó khăn và thất bại của hệ thống Mỹ.
Bây giờ thì họ đã lĩnh đủ những gì họ mong đợi - Hệ thống xã hội chủ nghĩa Xô Viết đã sụp đổ và được thay thế bởi một dạng thô sơ của chủ nghĩa tư bản. Nhưng những hệ luỵ đối với nghiên cứu khoa học và giáo dục là hết sức tai hại. Nước Nga bây giờ không còn là nơi mà khoa học, toán học và giáo dục bậc cao có tầm cỡ thế giới. Gần đây, Math Reviews[30] có nhờ tôi đọc nhận xét một bài báo đăng bằng tiếng Nga về mật mã (điều này rất hiếm xảy ra vì thời gian gần đây chẳng có gì được đăng bằng tiếng Nga cả). Danh sách các tài liệu trích dẫn của nó đều là các bài đã cũ từ 15 năm trước - một điều rất lạ so với một ngành toán ứng dụng đang phát triển rất nhanh chóng - và "ý tưởng mới" của tác giả đã được phát triển và công bố từ cuối những năm 1990. Trình độ của tác giả giống như của một ai đó từ một nước Thế Giới Thứ Ba chậm phát triển. Một đất nước mà trước kia từng là đối thủ cạnh tranh khoa học của nước Mỹ thì ngày nay chỉ là một vũng nước đọng.
Nhiều năm trước Hoàng Tuỵ đã giải thích cho tôi rằng khác với một vài nước khác (chắc là ông đang nghĩ chủ yếu đến Trung Quốc), từ khi giành độc lập năm 1945, Việt Nam đã tránh được nhiều sự đổi hướng đột ngột - những thay đổi đã gây nên rất nhiều gian khổ ở các nơi khác trên thế giới. Người Việt Nam, theo quan sát của ông, thích những sự thay đổi vừa phải và giải quyết những bất đồng một cách êm thấm, sao cho không dẫn đến những sự đàn áp hay làm nhục đối phương. Nếu như cái nhìn này về cách thực hiện cải cách ở Việt Nam vẫn còn chính xác thì rất có thể nâng cao chất lượng giáo dục bậc cao ở Việt Nam mà vẫn không đoạn tuyệt với hệ thống xã hội chủ nghĩa, không sỉ nhục những người được đào tạo tại Liên Xô các nước khối Đông Âu cũ, và không giao phó tương lai của Việt Nam cho những người được gọi là "chuyên gia" Mỹ.
Neal Koblitz
Khoa Toán, Đại học Washington, Seattle, USA
koblitz@math.washington.edu
Ngày 03 tháng 10 năm 2009
[1] http://www.hks.havard.edu/innovations/asia/Documents/HigherEducationOverview112008.pdf
[2] http://home.vef.gov/download/Report_on_Undergrad_Educ_V.pdf
[3] http://www.viet-studies.info/Neal_Koblitz_article-vietnamese.pdf
[4] A mathematical visit to Hanoi, The Mathematical Intelligencer, 2 (1979), no. 1, pp. 38-42
[5] Recollections of mathematics in a country under siege, The Mathematical Intelligencer, 12 (1990), no.3, pp 16-34.
http://ashinstitute.havard.edu/asia/staff
[7] Điều này được xem như một tội ác chống lại loài người theo Điều 7(d) của Bộ luật của Toà án Tội ác Quốc tế
Master of Public Administration (ND).
[9] "fellows" (ND)
[10] N. Koblitz, Random Curves: Journeys of a Mathematician, Springer-Verlag 2007. Chương 9 và 10 được dành cho Việt Nam.
[11] Bán phá giá, hàng ế (ND)
[12] M.A. Overland, American college raise the flag in Vietnam, The Chronicle of Higher Education, 15/05/2009, pp. A1 , 22-24
[13] Houston Community College (ND)
[14] Research Experiences for Undergraduates (ND).
[15] Điều này được hiểu là xu hướng các giáo viên Mỹ thường cho điểm sinh viên cao hơn ngày trước ở cùng mức công việc

gần như 99%không đi được HN nhưng vẫn mún post lên để tìm chút hương nồng

Bắn pháo hoa tại cầu Long Biên, 6-10

Đêm khai mạc festival “Ký ức cầu Long Biên” hưởng ứng 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội mở đầu bằng màn pháo hoa dài 15 phút tại cầu Long Biên, trực tiếp trên VTV1, với sự tài trợ của tập đoàn Kangaroo.

Từ 6 đến 9-10 sẽ có một lễ hội trên cầu với nhiều hoạt động, trong đó điểm nhấn trên chiều dài 1682m của cây cầu là gallery ngoài trời trưng bày tác phẩm của hàng trăm nghệ sĩ trong ngoài nước thể hiện tình yêu đối với Hà Nội và cầu Long Biên. Tiền bán đấu giá tranh dành cho mục đích từ thiện.




Các hoạt động chính 10 ngày Đại lễ

Ngày 1-10: Ngày khai mạc

8h: Lễ khai mạc 10 ngày Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội và đón nhận Bằng công nhận Di sản Văn hoá thế giới khu Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long tại vườn hoa Lý Thái Tổ. 9h30: Biểu diễn nghệ thuật tại 5 sân khấu xung quanh hồ Hoàn Kiếm. 14h: Triển lãm các tác phẩm văn học nghệ thuật qua các thời kỳ tại số 2 Hoa Lư. 15h: khai mạc triển lãm ảnh nghệ thuật Hà Nội tại vườn hoa Giám và 45 Tràng Tiền. 19h30: Khai mạc tuần lễ phim lịch sử, cách mạng tại 87 Láng Hạ. 20h: Khai mạc triển lãm thành tựu kinh tế-xã hội VN và Thăng Long - Hà Nội tại 148 Giảng Võ. 20h: Biểu diễn nghệ thuật Đêm Hồ Gươm lung linh và trình diễn áo dài truyền thống xung quanh hồ Hoàn Kiếm.

Ngày 2-10

8h: Khai mạc trưng bày hiện vật lịch sử 1000 năm Thăng Long-Hà Nội tại số 9 và 18 Hoàng Diệu. 19h30: Khai mạc Liên hoan du lịch quốc tế Thăng Long-Hà Nội tại khu Thiên đường Bảo Sơn. 19h30: Lễ hội rồng tại quảng trường Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình.

Ngày 3-10

9h: Khánh thành tượng đài Bác Hồ và Bác Tôn tại Công viên Thống Nhất

20h: Chương trình nghệ thuật Thăng Long-Hà Nội thời đại Hồ Chí Minh tại vườn hoa Lý Thái Tổ.

Ngày 4-10

8h30: Tổng kết và trao giải cuộc thi tìm hiểu Thăng Long-Hà Nội nghìn năm văn hiến và anh hùng tại Nhà hát Lớn Hà Nội. 9h: Khánh thành Cung trí thức tại quận Cầu Giấy. 15h: Khai mạc triển lãm Anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá VN tại 25 Tông Đản. 15h30: Khai mạc triển lãm Các trận đánh và chiến dịch nổi tiếng trong lịch sử quân sự VN tại 28A Điện Biên Phủ. 17h: Khai mạc triển lãm và Liên hoan Thư pháp Thăng Long-Hà Nội tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. 20h: Biểu diễn các điệu múa cổ Thăng Long-Hà Nội tại vườn hoa Lý Thái Tổ.

Ngày 5-10

9h:Khánh thành tượng đài Thánh Dóng tại Đền Sóc-Sóc Sơn. 9h: Giới thiệu công trình nghệ thuật Con đường gốm sứ ven sông Hồng. 14h: Khai mạc triển lãm Nghề gốm Bát Tràng-cổ truyền và hiện đại tại Bát Tràng - Gia Lâm. 15h: Khai mạc biểu diễn võ thuật cổ truyền Hào khí Thăng Long tại Cung thể thao Quần Ngựa.

Ngày 6-10

8h: Khai mạc liên hoan nghệ thuật diều - Hà Nội tại quảng trường sân vận động Quốc gia Mỹ Đình. 8h30: Khánh thành Bảo tàng Hà Nội và khai mạc triển lãm Hà Nội xưa tại đường Phạm Hùng. 9h: Khai mạc triển lãm Những tấm lòng với Thăng Long - Hà Nội tại Cung văn hoá lao động hữu nghị. 20h: Khai mạc Liên hoan ẩm thực Hà Thành tại Công viên nước Hồ Tây.

Ngày 7-10

14h: Khai mạc Hội thảo khoa học quốc tế Phát triển bền vững Thủ đô văn hiến, anh hùng, vì hoà bình tại 11 Lê Hồng Phong.

Ngày 8-10

7h: Chương trình văn hoá nghệ thuật của tuổi trẻ Thủ đô và cả nước xung quanh hồ Hoàn kiếm và các sân khấu ngoài trời. 9h: Khánh thành Công viên Hoà Bình. 20h: Chương trình giao lưu Thăng Long - Hồn thiêng sông núi với sự tham gia của 1000 bà mẹ VN Anh hùng tại Trung tâm hội nghị Quốc gia. 20h: Lễ hội đường phố của tuổi trẻ tại Quảng trường Cách mạng Tháng Tám.

Ngày 9-10

6h: Đua xe đạp xuyên Việt quốc tế xung quanh hồ Hoàn Kiếm. 7h30: Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, UBTWMTTQ Việt Nam, các bộ, ngành, các tỉnh thành phố vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tượng đài liệt sỹ. 9h: Động thổ xây dựng Nhà hát Thăng Long tại khu đô thị Tây Hồ Tây. 20h: Biểu diễn của các đoàn nghệ thuật quốc tế tại các sân khấu ngoài trời

Ngày 10-10: Ngày Đại lễ

8h: Lễ mít tinh trọng thể, diễu binh, diễu hành kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội tại Quảng trường Ba Đình. 20h: Đêm hội văn hoá nghệ thuật kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội tại Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình. Để tìm hiểu thông tin về hoạt động kỷ niệm, bạn đọc vào địa chỉ www.thanglonghanoi.gov.vn

Như trở lại thời kỳ mới viết

Phản hồi từ bài : “Chàng sinh viên mê gà rừng”

Phản hồi từ bài : “Chàng sinh viên mê gà rừng”

Một tuần sau khi bài : “Chàng sinh viên mê gà rừng” đăng trên Tiền Phong số ra ngày 31-8. Võ Duy Nghĩa, nhân vật chính trong bài đã nhận được hàng trăm mail thư từ của bạn đọc trong và ngoài nước.
Ông Võ Duy Ân, ba của Nghĩa cho hay : “Sau khi bài đăng báo thì ngày hôm sau có một số vị khách từ Hội An, Duy Xuyên ( Quảng Nam) đến tham quan trang trại và mua hơn chục con về chơi cảnh”.
Hầu hết các câu hỏi của bạn đọc đặt ra cho Võ Duy Nghĩa qua mail đều xoay quanh các kỹ thuật nuôi gà rừng như: kỹ thuật làm chuồng trại, chọn thức ăn, kỹ thuật ấp gà, xử lý khi gà bệnh…
Anh Nguyễn Đức Hoàng ở 18/1, Đặng Nguyên Cẩn, Buôn Ma Thuột Đắc Lắc sau khi đọc bài trên Tiền Phong đã đón xe từ Sài Gòn ra để học hỏi kinh nghiệm “mua vài con nuôi thử”.
Anh Nguyễn Tri Quý ( Trung tâm ngoại ngữ tỉnh Bình Dương) gởi mail muốn “mua một đôi gà rừng về làm cảnh nhưng không biết gởi gà bằng cách nào đây”.
Một số bạn đọc ở Cần Thơ, Tiền Giang, Bình Định, Thanh Hóa cũng gởi mail mong muốn được chia sẽ kinh nghiệm với Võ Duy Nghĩa.
Anh Nguyễn Trung Cao (công tác tại Công ty điện lực tỉnh Yên Bái) gởi mail bày tỏ sự ngưỡng mộ và mong muốn hợp tác phát triển thương hiệu gà rừng Nhân Nghĩa ra khu vực phía bắc.
Đặc biệt, ông Ngô Miên (58 tuổi) đang sinh sống tại Hoa Kỳ, từng có thời gian làm việc cho tổ chức Tầm nhìn thế giới ( World Vision) đã từng công tác tại xã Tiên Hà, sau khi đọc bài trên Tiền Phong đã gởi mail động viên và gởi gắm mong muốn mô hình nuôi gà của Nghĩa có thể nhân rộng tại địa phương để giúp đồng bào phát triển kinh tế và thoát nghèo.

(Kèm theo 2 ảnh)
Bài và Ảnh: Nguyễn Trường Trung
08 Báo chí- ĐH SP Đà Nẵng
Đt: 0168.991.3740


CÓ AI ĐANG NGHE TÔI HAY KHÔNG?

Người ta bảo, có điên mới viết mấy đề tài không ai đọc, không ai đăng cho cộng tác viên như thế này. Với trường hợp này. Chưa bao giờ thằng này hối hận vì bỏ công sức và chất xám ra. Chỉ thấy đời hơi bất công. Hoặc có thể hắn là một thằng ngu trong cái thời buổi kim tiền chó má này. Ngu thật, ngu thật. Tiên sư cái thằng ngu. Chung cuộc lại "CÓ AI ĐANG NGHE TÔI HAY KHÔNG?"

Nỗi đau da cam

Suốt buổi nói chuyện với chúng tôi, ông cứ nhắc đi nhắc lại: “Hắn buồn là kinh mấy chú ơi…”. Rồi mỗi lần như thế, ông đưa chút sức lực còn lại từ cánh tay phải lên gạt nước mắt…Hình như với ông, nỗi buồn và nước mắt đã đồng hành từ rất lâu, là từ khi những đứa con không lành lặn của ông sinh ra trong cuộc đời.
Tựa nhau mà sống
Ngôi nhà của ôngTrần Luyện nằm trên một ngọn đồi nhỏ, dưới chân đỉnh Đá Trắng thuộc tổ 3, thôn Trung An, xã Tiên Hà, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Gọi là ngôi nhà chứ thật ra bên trong chẳng có thứ gì có giá trị. Mấy cây cột tre chống tấm tôn làm mái, xung quanh căng tấm bạt cũ và mấy tấm phên nứa rách lổm chổm gọi là che nắng gió và để phân biệt trong nhà và ngoài nhà.
Thấy người lạ vào nhà, ông nghiêng người sang một bên cố với lấy cây gậy để chồm dậy. Ông hơi ngạc nhiên vì hình như đã lâu lắm rồi ngôi nhà tồi tàn này mới có khách vào thăm.
Ông Luyện, sinh năm 1967, vào bộ đội tháng 2 năm 1986, thuộc C9-D3-E8 mặt trận 579. Năm 1989, ông xuất ngũ về quê rồi cưới vợ. Đôi vợ chồng trẻ ngày ấy quyết thề cùng nhau lập nghiệp trên vùng núi hẻo lánh huyện Tiên Phước này.
Nào ngờ, vợ chồng ông sinh được 2 đứa con thì cả 2 đều bị di chứng của chất độc màu da cam. Đứa đầu tên là Thạch, năm nay 18 tuổi. Thạch bị nhiễm chất độc màu da cam và thiểu năng trí tuệ ngay từ nhỏ. Đứa thứ 2 tên là Chung năm nay 6 tuổi, cũng bị thiểu năng trí tuệ và lại thêm bệnh động kinh.
Dẫu vậy, hai vợ chồng ấy vẫn không lấy làm tuyệt vọng mà quần quật lao động để nuôi hai đứa con thường xuyên đau ốm và ông cụ thân sinh đã hơn 80 tuổi của ông Luyện.
Khổ như chị Dậu
Cứ tưởng trời thương người tốt, chăm chỉ lao động rồi sẽ có ngày cái đói cũng phải khuất phục thì tháng 8 năm 2009, ông Luyện đột nhiên đổ bệnh. Bà Lân vợ ông bán vội con bò vừa được chia từ tổ chức Tầm nhìn thế giới hỗ trợ theo thể thức "quay vòng" ( hai hộ gia đình được hỗ trợ một con bò cái, đến khi đẻ ra bê thì chia ra mỗi người một con) để đưa ông đi viện. Ông bị "bán thân bất toại", một nửa bên trái không thể cử động được.
Cái tin như sét đánh ấy như dội một gáo nước lạnh vào cả gia đình 5 miệng ăn. Bởi lẽ, nguồn sống của cả gia đình ông chỉ phụ thuộc vào số tiền lương ông làm bảo vệ cho trường THCS Lê Hồng Phong (xã Tiên Hà, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam) và hai sào ruộng nước trời mà ông là lao động chính.
Câu chuyện đang dở dang thì thằng cả nhà ông chạy về. Thấy người lạ vào nhà nó không nói gì mà cứ lắc lắc cái đầu ra dấu hiệu gì đó. Bà hàng xóm nhà ông Luyện bảo Thạch bị thụt lưỡi không nói được.
Rồi suốt buổi, nước miếng cứ chảy ròng ra, thỉnh thoảng sực nhớ, Thạch lại lấy chiếc khăn cấu bẩn trong túi quần ra lau. Đã thế, lúc lên 4 tuổi, không biết loay hoay thế nào mà ngã vào nồi cám heo đang sôi ùng ục bỏng cả phần lưng và mông. ( Bà hàng xóm nhà ông Luyện vừa kể vừa kéo quần thằng con trai 18 tuổi không biết ngượng ngịu cho tôi xem (Ảnh2))
Bé chung cũng bị thiểu năng trí tuệ và động kinh thuộc loại nặng. Đang nghịch máy ảnh thì mặt đỏ bừng, sùi bọt mép, trợn dộc con mắt như người chết oan rồi đi ra sau hè mất dạng.
Ông Luyện bảo, mỗi tháng một lần, bà Lân phải chạy lên trạm xá xã nhận thuốc miễn phí về cho hai đứa uống. Vì bé Chung bị động kinh, Thạch thì thiểu năng trí tuệ nên nhiều lần, không biết trời xui đất khiến kiểu gì mà hai anh em lại "choảng" nhau, bởi thế nên vợ chồng ông mới phải khổ sở tìm cách ly giáng hai đứa ra.
Thấy ông nằm một chỗ, sợ ông buồn mà đâm ra nghĩ quẩn, cô cháu gái là sinh viên đang trọ học tại Đà Nẵng đem về cho ông cái tivi trắng đen để ông xem cho đỡ buồn. Nhưng rồi được vài hôm thì cái ti vi cũng tắt lịm vì cái tivi cũ quá ngốn điện.
Bà con chòm xóm biết hoàn cảnh của ông nên người giúp gạo, người giúp tiền. Nhưng ngần ấy cũng chẳng thấm tháp vào đâu, đói vẫn hoàn đói và bệnh tật vẫn đeo đuổi cái gia đình tận khổ này. Anh bạn người địa phương đi cùng tôi cũng cho hay: “Cả thôn Trung An, không ai là không biết đến hoàn cảnh éo le của gia đình này. Đã thành cái thông lệ, khi xét hộ nghèo thì người ta lại cho gia đình ông lên đầu danh sách”.
Bao giờ “đèn dầu” tắt ?
Trong suốt câu chuyện buồn như chiều nghĩa địa của ông Luyện, tôi chỉ thấy ánh lên đám lửa khi ông nói vợ.
Ông bảo may mắn lớn nhất của đời ông là lấy được người vợ hiền hậu, tảo tần như bà Lân. Rồi ông kể như trút hết ruột gan của mình về vợ. Ông bảo khi ông nằm viện mấy tháng trời bà như cái xác không hồn, hết lo việc nhà, lại tất tả xin xe xuống Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam lo cho ông.
Hôm chúng tôi lên thì bà Lân không có ở nhà. Tranh thủ ngày chủ nhật không đi trực trống ở trường bà qua thôn bên gặt thuê cho người ta.
Bà Lân được Trường THCS Lê Hồng Phong "đặc cách" thay chồng làm bảo vệ mấy tháng ông nằm viện. Mới đây, ông Luyện nghỉ việc theo chế độ hợp đồng lao động. Bà Lân lại làm bảo vệ theo hợp đồng mới với mức lương chưa tới 1 triệu đồng.
Thầy Võ Duy Ân, giáo viên dạy văn Trường THCS Lê Hồng Phong, người cho tôi biết hoàn cảnh của gia đình ông Luyện tâm sự: “Gia đình này thật khéo giống gia đình "chị Dậu". Càng ngẫm càng thấy bà Lân vợ ông Luyện cứ như "chị Dậu"…”

Thì quả là như vậy. Rõ khổ. Một mình còng lưng nuôi năm miệng ăn, lại còn chứng kiến cảnh đau ốm liên miên của bốn người thân xung quanh, nỗi đau ấy mới khốn khổ hơn gấp trăm lần. Chẳng thế mà ông Luyện ví vợ mình như là cây đại liên, sợ đến khi hết đạn thì cái gia đình khốn khổ này cũng không còn nhựa sống.
Cụ Trần Huân (bố ông Luyện), thời trai trẻ có bao nhiêu sức lực đều đem ra lao động để nuôi con cái. Trẻ cậy cha già cậy con, ở tuổi về chiều ông cũng chỉ biết nương tựa cả vào gia đình ông Luyện. Chứng kiến cảnh con cháu bần hàn nhiều lúc ông cũng muốn quyên sinh nhưng rồi ông sợ quyên sinh lúc này thì chỉ tổ con cháu cực thêm nên gắng gượng sống.
Kể từ khi rời khỏi ngôi nhà tận khổ ấy, lòng tôi cứ nghĩ mãi: Tại sao con người ta lại bất hạnh đến thế? Chị Dậu nghèo rớt mông tơi còn có cái Tý lanh lợi, đảm đang việc nhà, còn cái gia đình này, 2 đứa con thì cả 2 đều điên tỉnh bất thường như thời tiết.
Không biết “ngọn đèn dầu” ấy sẽ đứng trước gió được bao lâu?

Nguyễn Trường Trung.

Chú thích ảnh:
Ảnh 1: "Trong ngôi nhà này, cái gì thì thiếu chứ giấy tờ hồ sơ bệnh án thì đầy".
Ảnh 2: Bà hàng xóm lột trần đứa con trai 18 tuổi để chỉ những vết bỏng mà Thạch không biết ngượng ngịu.
Ảnh 3:4: Cánh tay phải của hai cha con ông Luyện đều bị co quắp, không cử động được vì di chứng từ chất độc màu da cam.

Bài và Ảnh : Nguyễn Trường Trung
08 Báo chí- ĐH Sư Phạm Đà Nẵng
ĐT: 0168.991.3740




Hehe. Sáng nay bài Gà Rừng lên báo.

Chàng sinh viên mê gà rừng.

22 tuổi, làm chủ một trang trại gà rừng duy nhất được cấp giấy phép chăn nuôi trên cả nước hiện nay ( Mã số trại chăn nuôi: Qna0004/2009 do chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Nam cấp phép hoạt động). Chàng sinh viên Võ Duy Nghĩa đang từng bước thành công trên con đường kinh doanh và khẳng định thương hiệu gà rừng tại khu vực miền trung với DNTN mang tên Nhân Nghĩa.
Từ niềm đam mê
Sinh ra và lớn lên dưới chân núi An Bàu thuộc thôn Tú An, xã Tiên Hà, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Từ nhỏ, Nghĩa đã khá quen với tiếng gà rừng gáy mỗi ngày. Thỉnh thoảng Nghĩa cùng bạn bè cũng đánh bẫy được vài con gà rừng và vài lần giữ lại để nuôi nhưng đều không thành công.
“Cứ nuôi được dăm bảy ngày là gà lại chết”. Mãi sau này, Nghĩa mới nghiệm ra một điều: “ Gà rừng là một loài rất khôn. Chúng thường đẻ ở ven những đường luồng nơi con người hay lên rừng để tránh thú dữ ăn mất trứng. Nhưng chúng lại là loài vô cùng nhát. Có khi bị con người bắt được chúng sợ đến vỡ mật mà chết”. Những con gà rừng mà Nghĩa đem về không sống được là vì môi trường thay đổi quá đột ngột, gà rừng không quen với việc bị nuôi nhốt và ăn duy nhất một loại thức ăn là lúa gạo.
Vốn yêu thích màu lông và “vũ điệu”( mà theo Nghĩa, khi gáy và đạp mái gà rừng nhảy rất đẹp) của gà rừng và sau nhiều lần thử nuôi những con gà bắt được từ rừng nhưng không thành công, Nghĩa tìm cách thử mới. “ Nuôi gà không được thì nuôi trứng”. Nghĩ là làm. Nghĩa chạy quanh huyện lùng sục hỏi mua trứng gà rừng do những người đi núi đem về rồi sau đó “nhờ” gà nhà ấp. Và những con gà đầu tiên đã ra đời từ niềm đam mê đó.
Đến ý tưởng kinh doanh
Khi những con gà rừng đầu tiên bắt đầu trưởng thành cũng là lúc Nghĩa bật ra ý định thuần hóa gà rừng và nuôi với quy mô lớn ngay tại khu vườn rộng hơn 1 héc-ta dưới chân núi của nhà mình.
Cũng trong thời gian này, Nghĩa đã hiểu được một số tập tính sinh hoạt của gà rừng từ thực tế và tìm hiểu qua sách báo. Hễ nghe nói ở đâu nuôi thành công gà rừng là Nghĩa tìm đến học hỏi kinh nghiệm và mua vài con về làm giống. Thành thử, Nghĩa đã có cơ sở để hình dung về mô hình chuồng trại cũng như các loại thức ăn đáp ứng sự khó tính của gà rừng.
Từ niềm đam mê cộng với việc dắt lưng một số kiến thức cơ bản về thú ý do mẹ, vốn là một cán bộ thú y bày vẻ, Nghĩa tự tin thực hiện ước mơ kinh doanh và làm giàu từ gà rừng.
Xin ý kiến cha mẹ thế chấp sổ đỏ cho ngân hàng cộng với việc bán cây quế đặc sản trong vườn nhà, Nghĩa thu được một số tiền kha khá để xây dựng chuồng trại, mua con giống và trang thiết bị phục vụ việc nuôi gà.
Nhưng mọi chuyện không đơn giản, Nghĩa thất bại liên miên vì gà vẫn còn tính “rừng”, thường đẻ trong bụi rậm và giấu rất khéo. Hơn nữa, việc úm ( ấp) gà rừng cũng khác rất nhiều so với gà nhà, cũng như việc phải đáp ứng những yêu cầu ngoại cảnh của gà rừng. Những lứa gà đầu tiên thường không có lãi bởi những gà đẻ rất ít, lai hao hụt trong quá trình úm và nuôi gà con.
Càng nuôi, càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm. Cho tới hiện nay, trang trại gà rừng của Nghiã đã có hơn 500 con gà lớn nhỏ. Trong đó có khoảng 100 gà sinh sản. Mỗi tháng cung cấp cho thị trường hơn 200 con gà giống, gà chơi cảnh và gà thương phẩm. Thu nhập sau khi trừ chi phí hơn 10 triệu đồng/ tháng.

Hiện tại, Nghĩa có kế hoạch phát triển các giống gà rừng quý hiếm với mục đích vừa bảo tồn vừa cung cấp gà nuôi cảnh cho những người có nhu cầu.
Bạn đọc quan tâm hoặc muốn chia sẻ ( Chia xẻ) kinh nghiệm nuôi gà rừng đều có thể lên lạc với Nghĩa qua địa chỉ mail: duynghia4988@gmail.com.

Box: Võ Duy Nghĩa hiện đang là SV Trường cao đẳng nghề Hoàng Diệu Đà Nẵng.
Năm 2009, với bài dự thi “Phương pháp mới trong chăn nuôi động vật hoang dã khó tính- gà rừng”, Võ Duy Nghĩa đạt giải nhất cuộc thi “Ý Tưởng Kinh Doanh” của chương trình “Giáo dục kinh doanh- KAB” trong khuôn khổ dự án “Thị trường lao động” do Liên minh Châu Âu tài trợ và quản lý bởi Tổ chức Lao động Quốc tế và Bộ LĐ-TB&XH, lần đầu tiên được triển khai thực hiện tại TP Đà Nẵng.
--------------------------------------------Nguyễn Trường Trung.

Chú thích ảnh:
Ảnh 1: Võ Duy Nghĩa đang dọn vệ sinh chuồng trại.
Ảnh 2: Võ Duy Nghĩa: “Muốn tăng khả năng sinh sản của gà rừng phải nuôi giảm bay” .
Ảnh 3: Võ Duy Nghĩa đang cho gà rừng ăn.

Bài và ảnh: Nguyễn Trường Trung
08 Báo chí- ĐH Sư Phạm Đà Nẵng
Mail:nguyentruong_cbc@yahoo.com
Đt: 0168.991.3740.
http://www.thanhnien.com.vn/news/Pages/201036/20100831102004.aspx

http://www.tienphong.vn/Gioi-Tre/511259/Chang-sinh-vien-me-ga-rung.html

Chát với bà bầu

Chát với bà bầu
Không. Chị muốn con chị thành hoa hậu. Giáo sư toán học đoạt giải Nobel gì đó mà chỉ được có mỗi 10 ngàn đô, giải thưởng cho hoa hậu những 500 triệu. Đấy là chưa kể có ông phởn chí đòi cài vương miện lên đầu hoa hậu phải chi cả tỷ bạc.
Batadule: Chị có tin vui rồi hả?
Babau: Có rồi, có rồi. Chị phải mất mớ tiền cho mấy tay bác sỹ canh trứng, lần này mới đậu đấy.
Batadule: Thích nhỉ, em cũng đi canh trứng như chị mấy nơi rồi, bác sỹ toét cả mắt mà vẫn chưa thấy gì. Đứa bạn cùng tuổi em có con lên ba đã biết làm toán rồi đó. Sau này dễ trở thành giáo sư toán học.
Babau: Không. Chị muốn con chị thành hoa hậu. Giáo sư toán học đoạt giải Nobel gì đó mà chỉ được có mỗi 10 ngàn đô, giải thưởng cho hoa hậu những 500 triệu. Đấy là chưa kể có ông phởn chí đòi cài vương miện lên đầu hoa hậu phải chi cả tỷ bạc.
Batadule: Nhưng giáo sư còn có lương, còn đi dạy thêm mà.
Babau: Cô ơi, lương giáo sư người ta tranh cãi mới trả được 5 triệu một tháng, chả bằng hoa hậu đứng chụp ảnh quảng cáo 5 phút đâu.
Batadule: Cái chị muốn làm em buồn cười quá, chồng chị đo ăn gian cũng chỉ cao 1m60 là cùng.
Babau: Chị cho cháu uống sữa tươi nguyên chất 100%, chiều cao cứ là tăng vòn vọt.
Batadule: Toàn sữa bột nhập khẩu pha chế thôi, chị chả biết gì cả.
Babau: Thế thì chị cho cháu uống thực phẩm chức năng, lo gì.
Batadule: Em sợ cháu có hàm răng giống chị.
Babau: Phỉ phui cái mồm cô, răng chị ăn đu đủ không cần thìa chứ gì, chị cho cháu đi cạp, thẳng tắp ngay.
Batadule: Thế còn cái mũi sư tử thì sao?
Babau: Cho nâng ngay từ bé, đố ai nhớ ra đấy, chứ chả dại gì thi đoạt giải rồi bị người ta bới ra đòi lại.
Batadule: Kế hoạch của chị chi tiết ghê, con chị cầm chắc thành hoa hậu rồi.
Babau: Thì rõ. Chị nhờ cô một việc, cô làm kế toán quản lý cho chị các hợp đồng quảng cáo, chị mang nặng rồi mổ đẻ đau chị được hưởng.
Batadule: Ơ, thế còn phần em?
Babau: Phần cô là hợp đồng râu ria như uống cà phê sáng, ăn trưa, xem phim buổi tối với hoa hậu. Cũng kiếm bộn tiền đó.
Batadule: Vâng, em phấn khởi quá.
Babau: Nhưng đấy là chị nói đứa sau, còn đứa này chị vừa đi siêu âm 3 chiều rồi, đích thị là thằng cu cô ạ.

Hùng Sơn