blog cầu nguyện

Subscribe to RSS feed

TRUYỆN THẦN LINH




(Tuấn nhỏ tóm lược)
Theo cuốn : cuộc đời Đức Maria


TRUYỆN THẦN LINH

Đôi điều trăn trở muốn nói :

Khi đọc xong cuốn “Cuộc đời Đức Mẹ Maria”. Tôi thực sự trăn trở không ít – Cuốn sách mà người ta vẫn tôn vinh là thần linh : Các nhà Thần học đại tài trứ danh tin tưởng rằng : Chỉ có Thiên Chúa mới là tác giả thực sự, còn M. Agrêda chỉ là người theo lệnh của Thiên Chúa, Ngài cho thấy những gì thì phải viết lại đúng như vậy – Điều này Maria Agrêda đã xác nhận rõ ràng và khi kết thúc tác phẩm đã xác nhận thêm : “Có nhiều tác giả thuật lại nhiều sự kiện khác nữa về cuộc ly trần và phục sinh của Mẹ Maria – Nhưng vì Chúa không tỏ cho tôi thấy, nên tôi không dám viết ở đây – Mặt khác, trong khi tôi viết toàn bộ “truyện thần linh này, tôi không phải tìm tòi, lựa chọn bất cứ tài liệu nào – Tôi chỉ có thể viết ra những điều gì Thiên Chúa đã dạy tôi và truyền cho tôi phải viết mà thôi”.

Tiểu phẩm “Thánh nữ M. Agrêda, tông đồ bé nhỏ của Thiên Chúa” đã giới thiệu cho chúng ta được biết toàn cảnh một gia đình thánh thiện: Cha mẹ, anh chị em của Thánh Nữ đều dâng mình cho Chúa trong các tu viện, khiến ta một phần nào tin tưởng : Không có sự mờ ám nào ở cuốn sách thần linh này.

Tiểu phẩm “Những thị kiến của M. Agrêda” lại cho chúng ta biết thêm : Những thị kiến về Thiên Chúa ba ngôi, ngôi lời nhập thể – Nhiều thị kiến về “cuộc đời Đức Mẹ Maria” mà M. Agrêda được thụ hưởng, nhất là địa vị quan trọng của Mẹ Maria đã được Thiên Chúa quy định trước trong ơn tiền định, đã khiến cho cả Thiên Đàng phải chờ đợi, trần gian phải ngóng trông.
Cả hai tiểu phẩm nêu trên, như là những tiếng nhạc đệm êm dịu, khiến tâm hồn chúng ta bỗng nhẹ nhàng lâng lâng, êm ái đưa ta vào “Cuộc đời Đức Mẹ Maria”, như lạc vào một vườn “hoa thơm cỏ lạ” rộng mênh mông trên nước trời, ở đó ta sẽ ngây ngất trước vẻ đẹp sáng ngời giải tỏa trên Mẹ Maria và nếu như Mẹ không có nụ cười hiền hậu, ánh mắt dịu dàng chứa chan tình yêu, như mời gọi chúng ta, những người con của Mẹ đến, để Mẹ an ủi, che chở bao bọc, thì chúng ta sẽ phải run lên trước vẻ uy nghi, quyền thế vô cùng của Đức Mẹ Maria.

Tôi lại trăn trở rất nhiều khi muốn ghi lại bằng cách nào đó về “Cuộc đời Đức Mẹ Maria” gửi đến cho những người thân, bạn bè, để cùng nhau tìm hiểu và tôn vinh Mẹ – Tôi đã quyết định phải viết, nhưng cứ loay hoay mãi ở khâu : Viết theo hình thức nào ?.
Thực ra, tôi cũng chỉ là con người rất bình thường, nếu không muốn nói toạc ra là : quá yếu hèn và bất tài – Suốt đời sống đã chịu đựng quá nhiều đau khổ, nó dồn dập đến với tôi như không biết chán. Chúa nâng đỡ tôi bằng cách: Ban cho tôi một sự tin tưởng là : Chúa đang trui luyện tôi – Ý tưởng này đã làm cho tôi chịu đựng đau khổ một cách vui vẻ, vì tôi biết rằng : Ngài rất yêu thương tôi, dùng thật nhiều đau khổ mới có thể thanh tẩy tâm hồn đầy tội lỗi của tôi được nên trong trắng, xứng đáng được nhận là con cái Thiên Chúa – Tôi đã âm thầm chịu đựng đau khổ lâu dài đến độ : Nó đã hình thành trong tôi “lòng kiên nhẫn” cố định từ lúc nào không hay – Tôi xin đa tạ Thiên Chúa đã ban cho tôi ân sủng ấy với một giá rất rẻ chỉ bằng sự đau khổ, thực tế nó không còn là cái giá nữa vì tôi đã trót ghiền sự đau khổ từ lâu rồi, khi đau khổ tôi lại cảm thấy lòng mình khoan khoái vì đã có dịp để đền tội – Ngày nào không có sự đau khổ đến với tôi để tôi dâng lên Thiên Chúa thì ngày đó tôi sống bất an vì không có dịp đền tội lỗi chất chứa đầy ắp trong tôi.

Viết tới đây tôi nghĩ rằng: Có thể một số người nào đó lên án tôi là “cái thằng khôn lỏi”, nó đẩy cho Chúa chịu hết những đau khổ, còn nó có chịu gì đâu – Vâng, đúng thế, nhưng tôi lại xin thưa: Sống ở trên đời cốt ở tấm lòng trong tư thế: Kính yêu và sẳn sàng xin dâng lên Thiên Chúa tất cả, nhưng “trong ngoài tôi chẳng có sự gì mà dâng, thì tôi lại thấy những của Chúa tôi đã ban cho tôi mà dâng vậy”. – Vì tôi là hư vô nên “chẳng có sự gì mà dâng cho đẹp lòng Chúa tôi. Tôi xin dâng lên Thiên Chúa qua tay Mẹ Maria nhờ Mẹ thay cho tôi vì chung sức tôi hèn trí tôi kém” – Vả lại ta cũng nên có một quan niệm đứng dắn là : Thiên Chúa yêu loài người chúng ta vô cùng, tình yêu cao độ đến nỗi đã ban cho con một rất yêu dấu của Ngài xuống thế gian là người và chịu sát tế để cứu chuộc nhân loại – Với tình yêu thương cao cả ấy, Thiên Chúa đâu cần đòi hỏi quá mức, những đao khổ lớn lao dâng lên Ngài vì Ngài quá biết con người vốn yếu đuối và sa ngã – Chúa chỉ cần đòi hỏi chúng ta trong cuộc sống thường ngày, hãy dâng cho Ngài những ray rứt, bức xúc, những chuyện buồn, không hài lòng trước cuộc sống xô bồ của xã hội, bất mãn trước thói đời, đối xử với nhau không có tình nghĩa như thế thái nhân tình – Tất cả những cái làm ta không vừa lòng ấy hãy dâng lên Thiên Chúa để thứ nhất là : Đền vì tội lỗi mình đã từng vấp phạm, thứ hai là:làm của lễ đền tội cho tha nhân. Làm được như vậy rất đẹp lòng Thiên Chúa và Mẹ Maria, dĩ nhiên Mẹ sẽ đổ muôn ân sủng xuống cho chúng ta.
x
x x

Tôi phân vân và rất nóng lòng thực hiện ý định : Tóm lược “Cuộc đời Đức Mẹ Maria trích theo cuốn sách thần linh ấy – Nhưng tôi biết làm sao được bây giờ, khi vừa đọc lên, tôi như đã bị lạc vào rừng mịt mù cây cối – Dù là cây cỏ nhỏ bé nhất cũng không thể bỏ được vì nó cũng mang một ý nghĩa thâm thúy – Bỏ đi không đành mà ôm đồm tất cả thì con người của tôi không đủ sức – Suy đi tính lại tôi đành phải chấp nhận : Ghi lại những tiểu đề chính như sau :

(I) Tri thức Mẹ Maria
(II) Những đặc ân và quyền hạn của Đức Mẹ.
(III) Vai trò của Mẹ Maria trong mầu nhiệm cứu chuộc.
(IV) Cai quản và phù trợ Giáo Hội qua :
A- Các tông đồ làm một bản tín biểu (Kinh Tin Kính)
B- Tuyển chọn 4 người viết Phúc Am
C- Phân công các Tông Đồ đi rao giảng khắp nơi.
D- Phù trợ và bảo vệ các tông đồ
(V) Đức Mẹ hồn xác lên Trời
(VI) Hãy noi gương Mẹ Maria

--------------------------------



(I) TRI THỨC CỦA MẸ MARIA
Do nhiều yếu tố kết hợp
- Tri thức do Thiên Phú
- Tri thức do thị kiến thấu thị (nhìn bằng giác quan)
- Tri thức do thị kiến trừu xuất (nhìn bằng tâm trí)
- Sau khi Chúa Giêsu về Trời, mẹ còn sống thêm ở trần gian 21 năm 04 tháng 19 ngày – Trong suốt thời gian đó, mỗi tuần vào ngày Chúa Nhật và những ngày lễ trọng, Thiên Chúa sai Thiên Thần rước Mẹ Maria lên Thiên Đàng trên ngai bên hữu Chúa Giêsu, nhờ thế mẹ mới được thông phần vào tri thức Thiên Chúa và thông phần vào cả những lo toan của Ngài, quan phòng chi phối mọi sự một cách khôn ngoan vô cùng – Nhất là Thiên Chúa luôn luôn ở với Mẹ Maria từ khi Ngôi lời xuống thế làm người (nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria), tâm hồn Mẹ từ đó luôn luôn chìm ngập trong đại dương vô cùng của Thần tính Thiên Chúa – Rồi trước khi chịu nạn, Chúa Giêsu lập nhiệm tích thánh thể rồi mới về Trời – Khi Mẹ rước lễ, mình và máu Thánh Chúa hay nói cách khác : Chính Chúa Giêsu không qua đường thực phẩm mà trực tiếp ngự vào trái tim Mẹ, như là một phần thưởng cho trái tim Mẹ, vì trái tim ấy đã cung cấp ba giọt máu trong ngày Ngôi lời nhập thể để thánh linh làm nên thân xác Chúa Giêsu đặt trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria, đổ muôn ngàn sự khôn ngoan của Thiên Chúa cho Mẹ – Vì vậy, tri thức của Mẹ Maria là loại tri thức ưu việt nhất, hoàn hảo nhất, không một thụ tạo nào so sánh được với Mẹ - Mẹ là thụ tạo thánh thiện trên hết mọi thụ tạo và chính Thiên Chúa định như vậy để Mẹ xứng đáng là Mẹ chân thật con một Thiên Chúa.

(II) NHỮNG ĐẶC ÂN VÀ QUYỀN HẠN CỦA MẸ MARIA

“Ba ngôi Thiên Chúa đặt trên đầu Mẹ một vương miện vinh quang cực kỳ lộng lẩy, rạng chiếu luồng sáng tuyệt vời” cùng lúc ấy từ Ngai Thiên Chúa Ba Ngôi phán ra : “Hỡi Người chí ái của chúng ta, vương quốc của chúng ta là vương quốc của Người, Người là chủ mẫu, là nữ vương trên hết mọi thụ tạo, từng được ân sủng nâng cao lên trên mọi loài. Nhưng Người đã tự nhận mình hèn kém, hạ mình xuống dưới mọi loài – Giờ đây, Người hãy lên chiếm địa vị tuyệt cao xứng với Người – Từ ngai cao cả này, Người hãy thống trị toàn thể thụ tạo : Hỏa ngục, trần gian, thiên đàng – Ma quỷ, loài người và Thiên thần đều phải phục tùng Người – Chúng ta trao ủy cho Người quyền bính thần linh của chúng ta – Người sẽ nâng đỡ, ủi an, bảo trợ và làm Mẹ của tất cả những người công chính cũng như làm Mẹ của cả Giáo Hội chiến đấu – Để thi hành sứ mạng đó, một lần nữa chúng ta tôn nhiệm Người làm đấng bảo quản, đấng phân phối mọi kho tàng của chúng ta – Những gì thuộc quyền của chúng ta, cũng thuộc quyền Người, như Người đã luôn là của chúng ta”.
Mỗi người Tín hữu chúng ta đều có một Thiên thần bản mạnh, riêng Mẹ Maria có tới một ngàn Thiên thần phục vụ và bảo vệ cho Mẹ bao gồm :
- 12 Thiên thần mặc hình người phục vụ Mẹ.
- 18 Thiên thần cao cả nhất làm sứ giả Thiên Chúa bên Mẹ.
- 70 luyến thần mỷ lệ có nhiệm vụ truyền thông với Mẹ và nâng đỡ Mẹ trong những cơn thử thách.
- 900 Thiên thần được tuyển chọn trong chín đẳng thiên thần, mỗi đẳng 100 vị.
Thiên Chúa còn dành một đặc ân cho Mẹ nữa là: Cho xây một đền Kính Đức Mẹ gọi là: Đền Đức Mẹ Thạch Trụ – Ngoài thành Saragoxa (Tây Ban Nha) bên một bức tường chạy dọc theo sông Ebrê, Thánh tông đồ Giacôbê Trưởng theo lệnh Mẹ, xây một đền thờ dưới danh hiệu Mẹ – Mẹ phán: “Thiên Chúa toàn năng muốn con xây tại đây một Đền Thờ Đức Mẹ Thạch Trụ (Tượng Đức Mẹ và cột bằng đá Cẩm Thạch do Thiên thần làm và chuyển đến) vì các kho tàng ân sủng sẽ thông ban tại đây cho tất cả những ai cầu xin Chúa qua sự can thiệp của Mẹ – Để bảo đảm việc này là thật, ở ngay tại đây, tượng Mẹ đặt trên cột này, sẽ cứ ở đây mãi cho đến tận thế trong ngôi đền mà con phải cấp tốc xây dựng, khi xây xong con phải trở về Giêrusalem dể dâng mạng sống của con cho Chúa Giêsu”. (Đền xây dựng suốt một năm, hai tháng, hai mươi ba ngày và đến ngày nay vẫn còn).

(III) VAI TRÒ CỦA MẸ MARIA TRONG MẦU NHIỆM CỨU CUỘC

Mầu nhiệm cứu chuộc là mầu nhiệm trọng đại nhất Thiên Chúa ban cho loài người, Mẹ Maria là đấng quan trọng chỉ sau Chúa Giêsu trong mầu nhiệm ấy và Mẹ còn là đấng Đồng Công Cứu Chuộc rất khăng khít với con mình – Mấy ngày trước khi Chúa Giêsu thăng thiên – Ngôi lời nhập thể hợp với Ngôi Cha và Ngôi Thánh Thần hiện ra với Đức Mẹ –
- Ngôi Cha phán : “Hỡi con, cha trao phó cho con Giáo Hội con cha đã lập, dân tộc con ta đã cứu chuộc”.
- Ngôi Thánh Thần nói với Mẹ: “Hỡi bạn hiền, ta thông trao cho bạn cả sự khôn ngoan và ân sủng của ta, đặt chứa trong trái tim bạn giáo thuyết, các công nghiệp, công trình và tất cả những kỳ diệu của Ngôi Lời Nhập Thể”.
- Chúa con thưa với Mẹ: “Hỡi Mẹ dấu yêu của con, con sắp về với Cha con, con tôn Mẹ lên địa vị của con và trao phó cho Mẹ Giáo Hội của con”.
Giữ lời hứa, Chúa Giêsu sau khi sống lại sẽ đưa mẹ lên Trời – và khi sắp tới giờ thăng thiên, Chúa Giêsu và Mẹ Maria đứng giữa ba nhóm đông đảo : Nhóm các Thiên thần, nhóm các Thánh ở ngục Tổ tông và nhóm Tín hữu – Chúa Giêsu chắp tay lại, vẻ mặt uy nghi lộng lẩy, rồi bắt đầu tự nâng mình lên Trời, kéo theo Mẹ Maria và cả ba nhóm – Mẹ lên Thiên đàng cùng con mình và được đặt trên Ngai bên hữu con chí thánh của Mẹ – Nhưng đồng thời Mẹ lại vẫn ở với các tông đồ và tín hữu (do quyền phép của Thiên Chúa, có thể một Thiên thần mặc hình dáng Mẹ, y như mỗi lần các Thiên thần cung nghinh Mẹ lên Trời). Vì sau khi Chúa Giêsu tử nạn, ơn Chúa Thánh Thần chưa đổ xuống, các tông đồ và tín hữu hốt hoảng tản mác, khi tập trung lại họ chỉ còn biết trông cậy vào Mẹ Maria, vì nếu không nhìn thấy có Mẹ ở bên cạnh , họ sẽ vô cùng hốt hoảng và buồn rầu vì duy nhất có Mẹ là chổ dựa tinh thần vững chắc của họ – Sau khi Mẹ Maria đã trọn ba ngày hưởng phúc trên Thiên Đàng, Chúa Ba Ngôi chúc lành cho Mẹ và ra lệnh các Thiên thần tháp tùng Mẹ trở về thế gian để Mẹ thay Chúa Giêsu: Trông nom và điều khiển Giáo Hội – Và đây cũng là ý của Mẹ hợp với ý định của Thiên Chúa, vì Giáo Hội lúc đó đang rất cần thiết phải có sự hiện diện của Đức Mẹ.


(IV) CAI QUẢN VÀ PHÙ TRỢ GIÁO HỘI

Với quyền uy to lớn Thiên Chúa ban, cộng thêm trách nhiiệm nặng nề điều khiển Giáo Hội – Ngay trong ơn tiền định, Thiên Chúa đã quan phòng : Có sự xếp đặt sẳn để tạo nên một Đức Maria đầy sự thánh thiện và hoàn hảo, lo xa: Từ việc lựa chọn hai vị Thánh nhân kiệt xuất (Gioakim và Anna) làm đấng sinh thành của Đức Maria – Linh hồn và thể xác Mẹ được hình thành cũng cố ý dựa vào những ngày có ý nghĩa : Ngày thể xác Mẹ được hình thành là ngày Chúa Nhật, tương ứng với ngày đầu tiên trong công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa – Ngày thứ bảy sau đó, tương ứng với ngày đại lễ chung kết cho công cuộc sáng tạo, Thiên Chúa tạo nên linh hồn Mẹ và linh hồn Mẹ liền nhập ngay vào thể xác Mẹ – Để kỷ niệm biến cố này, Chúa Thánh linh đã soi sáng cho Giáo Hội: dâng hiến ngày thứ bảy cho Mẹ Maria – Trên danh nghĩa cai quản và bảo trợ cho Giáo Hội, nên mọi sinh hoạt của Giáo Hội đều có sự động viên, khuyến khích và tham gia của Mẹ Maria – Bây giờ chúng ta hãy cùng điểm qua những việc Mẹ làm để phù trợ cho Giáo Hội :

A. Các tông đồ làm một tín biểu
(Kinh Tin Kính)

Được ơn soi sáng của Thánh linh, Thánh Phêrô và các Tông đồ có ý định cùng nhau làm một tín biểu (Kinh Tin Kính) các Ngài bàn luận với Mẹ Maria – tất cả hợp một lòng: Ăn chay cầu nguyện suốt mười ngày liền để chuẩn bị – Tới ngày đã định, Thánh Phêrô trình bày vắn tắt những lý do của bản tổng lược ấy, rồi cử hành Thánh lễ, cho Mẹ và các Tông đồ hiệp lễ (rước lễ) rối tất cả đều sấp mình cầu xin ơn Thánh linh – Một lúc sau, nghe tiếng động lớn, nhà tiệc ly rực sáng và mọi người đều được đầy ơn Chúa Thánh Thần – Bấy giờ Mẹ Maria mời các Tông đồ đọc lên mỗi người một khoản tin, nhờ Thánh linh soi sáng : Thánh Phêrô bắt đầu và các Tông đồ theo thứ tự tiếp tục đọc thành bản tín biểu này :

1. Thánh Phêrô : Tôi kính một Thiên Chúa, là Cha toàn năng, đấng tạo thành Trời Đất.
2. Thánh Anrê : Tôi tin kính Chúa Giêsu Kitô, con một Thiên Chúa, Chúa chúng tôi.
3. Thánh Giacôbê Trưởng : Bởi phép Chúa Thánh Thần, Người nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria.
4. Thánh Gioan : Người chịu nạn đời phong – Xi ô Philatô, chịu đóng đanh vào thập giá, chịu chết và mai táng.
5. Thánh Tô Ma : Người xuống ngục tổ tông và ngày thứ ba Người sống lại từ cõi chết.
6. Thánh Giacôbê Thứ : Người lên Trời, ngự bên hữu Thiên Chúa là Cha toàn năng.
7. Thánh Philippê : Người sẽ phán xét kẻ sống và kẻ chết.
8. Thánh Batôlômêô : Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần.
9. Thánh Matthêu : Tôi tin Giáo Hội Công Giáo các Thánh hiệp thông.
10. Thánh Simon : Tôi tin phép tha tội.
11. Thánh Tađêô (Giuda) : Tôi tin xác thể sống lại.
12. Thánh Mathia (thay Giuda đã bán Chúa) : Tôi tin sự sống đời đời.
A men.
Kinh Tin Kính làm xong, Thánh linh chuẩn y qua những lời này : “Các con đã định tín rất đúng” – Để nêu gương sáng, Mẹ Maria đã đến quỳ dưới chân Thánh Phêrô mà nói : “Mẹ chỉ là con sâu đất yếu hèn – mẹ cũng nhân danh Mẹ và các tín hữu của Giáo Hội mà tin nhận các chân lý các con vừa định tín – Mẹ xin chúc tụng Thiên Chúa đã soi sáng những chân lý ấy” – Tuyên xứng đức tin xong, Mẹ cung kính hôn tay các Tông đồ, sau đó Mẹ cho sao lại ngày các tin biểu thành rất nhiều bản – các Tông đồ và Môn đệ nhận phân chia cho các Tín hữu khắp nơi – Để khuyến khích lòng tin, Thánh linh ban nhiều phép lạ cho những ai tin vào bản tín biểu này như ép bản tín biểu vào bệnh nhân thì con bệnh liền khỏi.

B. Tuyển chọn bốn người viết Phúc Âm.

“Tại cộng đồng Giêrusalem, sau khi quy định những việc liên hệ tới lễ nghi đương thời ấy, Thánh Phêrô trình bày trước cộng đồng : Cần phải viết lại cho thống nhất về cuộc đời Chúa Giêsu để khắp nơi giảng dạy như nhau về Chúa Giêsu, cộng đồng đồng ý và cầu xin Chúa Thánh Thần soi sáng để chỉ định cho những vị nào? – Bổng nhiên từ trời một ánh sáng giải chiếu trên Thánh Phêrô và có tiếng phán : “Vị nguyên thủ Giáo Hội hãy chọn bốn người để viết lại những công việc và giáo lý của Chúa Cứu Thế” – các tông đồ và các môn đệ đều sấp mình xuống đất tạ ơn Thiên Chúa – Khi các Ngài trổi dậy Thánh Phêrô tuyên bố chọn : 1/. Thánh Matthêu, 2/. Thánh Marcô, 3/. Thánh Luca, 4/. Thánh Gioan – Thánh linh xác nhận sự lựa chọn bằng ánh sáng chiếu giải trên Thánh Phêrô một lần nữa.
* Một vài ngày sau Thánh Matthêu quyết định viết Phúc Âm – Đức Mẹ xuất hiện do Thiên Thần cung nghinh đến an ủi, khuyến khích và ban ơn Thánh linh soi sáng – và vì Đức khiêm nhu vô cùng, Mẹ chỉ thị : Không được viết về Mẹ trừ những điều cần thiết liên hệ Chúa Giêsu Kitô, vì Mẹ muốn giành tất cả ưu tiên cho Mầu nhiệm nhập thể – Đó là năm thứ 42 sau Chúa giáng sinh.
* Bốn năm sau (tức năm thứ 46 sau Chúa giáng sinh) khi đang ở Palestin, Thánh Marcô viết Phúc Âm – Đức Mẹ cũng xuất hiện như Thánh ký thứ nhất.
* Hai năm sau nữa (tức năm 48 sau Chúa Giêsu giáng sinh) – Thánh Luca viết Phúc Âm khi Ngài đang ở A-Khai (Hy Lạp) Mẹ cũng xuất hiện như hai vị Thánh ký trước – Thánh Luca trình bày với Mẹ là : đã đến lúc phải nói nhiều về Mẹ hơn – Mẹ chấp nhận, nhưng nhắc lại : Phải hạn chế – Nên Phúc Âm theo Thánh Luca viết nhiều về Mẹ hơn Thánh ký trước.
* Sau cùng, mãi mười năm sau nữa (tức là năm 58 sau Chúa giáng sinh, hồi đó hồn xác Mẹ maria đã được cất lên Thiên Đàng ba năm) – Mẹ từ trời hiện ra với Thánh Gioan khi Thánh nhân đang hoạt động ở miền Tiểu Á mà nói : “Con ạ, đã đến lúc con phải viết về hạnh tính con chí Thánh Mẹ, trong đó con phải nói cho thế gian biết rõ về phần tính của Người và những mầu nhiệm về Mẹ mà con biết, con chưa nên tiết lộ ra trong cái thời đại mà người ta vẫn còn thờ ngẫu tượng, e rằng người ta sẽ thờ Mẹ làm Thiên Chúa – Thánh Gioan phụ phục nhận Thánh linh như ba vị Thánh ký trước.

C. Phân công các tông đồ đi rao giảng khắp nơi.

Một năm trôi qua, từ khi Chúa Giêsu chịu chết, được ơn Thánh linh soi sáng, các Tông đồ quyết định đi rao giảng tin mừng khắp thế giới – Để biết mỗi vị phải đi xứ nào, theo lời khuyên của Mẹ Maria, tất cả các Tông đồ hợp lòng cùng Mẹ, ăn chay cầu nguyện mười ngày liên tiếp – Ngày bế mạc Thánh Phêrô cử hành Thánh lễ cho Mẹ và các Tông đồ hiệp lễ (rước lễ), Theo đề nghị của Mẹ các Ngài đọc Kinh Tin Kính và thêm lời tuyên xưng này : “Lạy Thiên Chúa hằng hữu, chúng con đây là những con sâu đất hèn mạt, là những người thừa hành của Ngài, chúng con sấp mình xin vui lòng chịu mọi thứ đau khổ, buồn sầu, nhục nhã và cả đến cái chết nữa, để làm tròn sứ mạng của chúng con. Chúng con nài xin Chúa sai thần linh Chúa xuống, để Ngài ban sức cho chúng con và cho chúng con biết : Mỗi người chúng con phải đi Miền cho đẹp lòng Chúa hơn”. – (Xin lưu ý là: Có những địa danh quá rộng phải chia nhiều vùng nhỏ hoặc có những địa danh tuy nhỏ nhưng quá phức tạp về tôn giáo, dân tộc, phong tục, tập quán nên cũng phải phân chia ra từ xứ – Vì thế ta không lấy làm lạ một số tông đồ hoạt động trùng địa danh, nhưng thực ra khác vùng không dẫm chân lên nhau). Sự phân chia miền để các Tông đồ hoạt động như sau :

1. Thánh Phêrô : Pongyiô, Galatia, Capadocia, Antiôkia, sau cùng là Rôma (Thánh đô)
2. Thánh Anrê : Sythia, Epina, Tracia, A-Knai
3. Thánh Giacôbê Trưởng : Giuđê, Samari và Tây Ban Nha.
4. Thánh Gioan : Ở lại với Mẹ Maria tại Giêrusalem, khi Mẹ về Trời sẽ đi Tiểu Á.
5. Thánh Tôma : Pessia và các phần đất người Parthô, Ircania, Brarnan, Partia.
6. Thánh Giacôbê Thứ : Ở lại Giêrusalem san sẽ với Thánh Gioan trong việc phụng sự Mẹ Maria.
7. Thánh Philippê : Prygia và Sythia
8. Thánh Batôlômêô : Lycaoni, An Độ và Tiểu Amêni.
9. Thánh Matthêu : Ai Cập và Êthiôpi.
10. Thánh Simon : Cùng đi Ai Cập và cả Ba Tư
11. Thánh Tadeô : Mesopotamin, Babylon, Persia.
12. Thánh Mathia : (được bầu thay cho Giuda đã bán Chúa) Ethiôpi, Ả Rập và Palestina.

D. Phù trợ cho các Tông đồ.

Mẹ Maria chúc mừng các Tông đồ đã được phân công hợp lý và hứa sẽ bảo vệ, nâng đỡ các Ngài cho dù các Ngài ở bất cứ nơi đâu – Mẹ luôn luôn cầu nguyện cho các Ngài, thường sai các Thiên thần đến bảo vệ và ai ủi các Ngài – Mẹ lại quỳ gối hôn tay và xin các Ngài chúc lành cho Mẹ – Mẹ lại may cho mỗi Tông đồ một cái áo trong mầu xám tro dệt liền đường chỉ như đã may cho Chúa Giêsu, tặng cho mỗi Tông đồ một cây Thánh giá đeo bên mình làm bảo chứng những lời các Ngài giảng và an ủi khi các Ngài chịu đau khổ. Sau cùng Mẹ trao cho mỗi vị một hộp kim loại nhỏ. Trong đó có đựng :
- 01 mẫu nhỏ khăn bọc Chúa Giêsu
- 01 miếng vải nhỏ thấm máu Chúa Giêsu khi Ngài chịu cắt bì và tử nạn.
- 03 gai nhọn trong Triều Thiên gia của Chúa Giêsu.
Các Tông đồ kính cẩn tạ ơn Mẹ về những tặng phẩm vô cùng quý giá như của gia bảo nói trên. Đó là hành trang vô cùng cao quý, tâm trí của các Ngài sẽ trở nên vững chắc, đủ sức bảo vệ cho các Ngài về mặt tinh thần trên bước đường rao giảng, tin mừng đầy bất trắc. Tặng phẩm Mẹ ban như là bùa hộ mệnh của các Ngài.

(V) ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

Suốt cuộc đời, tâm hồn Mẹ Maria luôn luôn hướng về Thiên Chúa và cũng không quên nhân loại. Suốt thời gian dài 21 năm 04 tháng 19 ngày. Từ khi Chúa Giêsu chịu chết trên thập giá cho đến ngày Mẹ từ trần. Mẹ nhận trọng trách cai quản Giáo Hội do Chúa Giêsu trao lại, Mẹ đã vất vả trăm bề, bôn ba cả ở hải ngoại để lo cho Giáo Hội, nhất là cầu nguyện liên lỉ và chăm sóc cho Giáo Hội rất nhiệt tình – Lửa tình yêu bừng cháy mãnh liệt phát ra từ trái tim Mẹ luôn luôn hướng về Thiên Chúa, đồng thời Mẹ cũng cảm thấy tình hiền mẫu trong Mẹ bị kéo rất mạnh về phía loài người, mà Mẹ là sự sống của họ như Mặt Trời và sự sống của thực vật. Do đó nảy sinh cuộc tranh đấu giằng co ngay trong lòng Mẹ giữa tình Mẹ yêu mến Thiên Chúa và tình Mẹ yêu thương loài người – Cuộc giằng co, lôi kéo đó xé nát lòng Mẹ, Thiên Chúa phải phán với Mẹ : “Những dằn vặt và ước vọng yêu đương của con đã làm cho trái tim Cha in đậm vết thương – Cha muốn tạo cho con một công trình độc nhất trong các linh hồn – Cha đã chuẩn bị riêng cho con một nơi tịch mạc – Ở đó Cha sẽ nuôi dưỡng con bằng thần tính của Cha và con sẽ liên tục hoan hưởng sự sống của Cha không bị một thụ tạo nào cản trở và cả thân phận con đang ký thế cũng không trói buộc được – Từ nơi tịch mạc đó con sẽ bay lên tối khoảng vô cùng và từ những khoản vô cùng đó con lại bay xuống Giáo Hội Cha, để trào đổ các kho tàng của Cha cho Giáo Hội”. – An huệ này được Thánh Gioan miêu tả trong Chương 12 sách Khải Huyền : “Người nữ được ban hai cách Phượng Hoàng, bay lên nơi tịch mạc Thiên Chúa đã chuẩn bị để được cung dưỡng ở đó 1260 ngày” – Đó là một trong những mầu nhiệm về Mẹ Maria và vì theo lệnh của Mẹ, Thánh Gioan chỉ dám tả một cách kín đáo.
Ba ngày trước khi Mẹ từ trần, các Tông đồ và các Môn đệ đã tề tựu tại Giêrusalem trong mái ấm của ngôi nhà tiệc ly. Thiên thần đã báo trước cho các Tông đồ lý do về tụ họp – Còn các môn đệ trở về là do được thúc đẩy tứ bề trong mà không biết mục đích. Thánh Phêrô cho mời các môn đệ hợp lại với các Tông đồ để báo cho biết mục đích ấy – Ngài vừa lên tiếng thì đã nức nở nghẹn lời – Thánh nhân cố trấn tĩnh tinh thần để có thể nói nên lời, nhưng giọng vẫn còn run run xúc động nói : “Tất cả anh em và các con, chúng ta hãy vào gần bên Mẹ chúng ta – Hãy ở đó với Mẹ trong khoảng thời gian ngắn Mẹ còn sống với chúng ta và xin Mẹ ban phép lành cho chúng ta”. – các Ngài thấy Mẹ đang quỳ gói trên bục gổ nhỏ, nơi Mẹ vẫn thường nằm nghỉ – Một vẻ đẹp rạng ngời nơi Mẹ giải ra, một ánh sáng tròi cao bao phủ Mẹ, vẻ đẹp thân xác và gương mặt Mẹ là vẻ đẹp của tuổi ba mươi ba, từ tuổi này Mẹ mãi mãi không bao giờ thay đổi chút nào – các Tông đồ, môn đệ và một số đông tín hữu đứng thành từng hàng lớp trong phòng Mẹ – Thánh Phêrô và Thánh Gioan đứng ở ngay đầu bục – Mẹ ngước nhìn mọi người và nói : “Các con yêu dấu của Mẹ, Mẹ xin các con cho nữ tỳ của các con đây được nói trước mặt các con và giải bày những nguyện vọng khiêm hèn của Mẹ” – Thánh Phêrô đáp lời Mẹ : “Chúng con ai nấy đều lắng nghe, sẳn sàng vâng theo ý Mẹ. Xin Mẹ hãy ngồi xuống, vì lẽ Mẹ quỳ để cầu xin Chúa, còn nói với các con, Mẹ ngồi mới phải, vì Mẹ là nữ vương của chúng con”. Mẹ đồng ý và xin các tông đồ hãy ban phép lành cho Mẹ đã – Trước mặt Thánh Phêrô, Mẹ quỳ xuống mà nói : “Con là nguyên thủ, là chủ chiên toàn thể Giáo Hội, Mẹ xin con chúc lành cho Mẹ là nữ tỳ của các con, xin các con hãy tha lỗi cho Mẹ vì đã khiếm khuyết nhiệm vụ phục vụ các con – Xin con cho phép Gioan được đem tặng hai chiếc áo cũ của Mẹ cho hai thiếu nữ nghèo đã luôn luôn tỏ lòng yêu quý mến Mẹ”. Rồi Mẹ lại phủ phục dưới chân Thánh Gioan nói : “Xin con tha thứ cho Mẹ, vì Mẹ đã thiếu sót bổn phận làm Mẹ đối với con – Mẹ xin hạ mình cảm ơn con, vì lòng tốt lành của con đã giúp đỡ Mẹ như con chí Thánh Mẹ giúp đỡ Mẹ – Xin con chúc lành cho Mẹ để Mẹ đến hoan hưởng ánh nhìn của Chúa tạo thành Mẹ”. Mẹ tiếp tục giã từ từng Tông đồ, từng Môn đệ và chung cho tất cả những người đến tham dự rất đông. Rồi Mẹ đứng lên và nói với các Tông đồ rằng : “Hỡi các con rất yêu dấu, các con là thầy của Mẹ, Mẹ đã thiết tha yêu thương các con trong con chí Thánh Mẹ, lúc nào mẹ cũng thấy Người trong các con là bạn thân và là người ưu tuyển của Người – Theo ý Người, Mẹ sắp về Trời, nhưng ở đó, Mẹ hứa sẽ luôn luôn ấp ủ các con trong trái tim Mẹ như một người Mẹ – các con hãy giữ lời con chí Thánh Mẹ, hãy tưởng niệm về cuộc đời và về cái chết của Người. Hãy thực hành giáo lý của Người, hãy yêu mến Giáo Hội. Các con hãy yêu thương nhau trong đức ái, thuận hòa – Còn con, hỡi Phêrô, Mẹ xin trao phó cho con : Gioan và mọi người” – Những người hiện diện đều đau khổ, tê tái trào lệ, phục xuống lạy người Mẹ yêu dấu của mình – Tiếng nức nở nghẹo ngào của họ làm cho Mẹ cũng phải sụt sùi – Một lát sau, Mẹ khuyên mọi người hãy im lặng cầu nguyện với Mẹ.
Lúc bầu không khí êm đềm trở lại trong phòng, Chúa Giêsu từ Trời xuống trên một ngai rất lộng lẩy chói ngời với một đoàn tháp tùng là toàn thể các Thánh và một số rất đầy các Thiên thần, cả ngôi nhà tiệc ly tràn ngập ánh vinh quang – Mẹ sấp mình xuống trước mặt Thiên Chúa, kính hôn chân Người – Chúa Giêsu chúc lành cho Mẹ và nói : “Mẹ rất yêu dấu của con, con đã chọn Mẹ là nơi lưu ngụ – Nay tới giờ Mẹ phải từ biệt trần gian để lên hưởng vinh hiển của Cha con và của con. Trên đó đã chuẩn bị một địa vị cho Mẹ ngay bên hữu con, Mẹ sẽ được tụ hưởng đời đời – Nhưng với con, con muốn cho Mẹ với tư cách là Mẹ của con, khi vào trần thế Mẹ đã không vương chút tỳ ố, bây giờ con cũng muốn Mẹ ra khỏi thế gian mà không phải qua sự chết. Nếu Mẹ không muốn qua cái chết, xin Mẹ đến với con đi”. Mẹ trả lời với một thái độ rất hân hoan rằng : “Con là Chúa của Mẹ, Mẹ xin con cho phép mẹ là nô tỳ của con đây được vào nước hằng sống qua cửa sự chết chung cho mọi con người – Mẹ đã cố gắng theo con khi sống, thì Mẹ cũng xin con : Cho Mẹ theo con cả khi chết nữa mới phải lẽ”.
Chúa Giêsu chấp nhận theo quyết định của Mẹ Maria, tức thì các Thiên thần xướng lên nhiều ca khúc của Salamôn với nhiều bản Thánh Ca mới lạ. Nhà tiệc ly ngập đầy hương thơm thiên quốc tỏa ra ngoài – Một ánh sáng chói lọi từ nhà tiệc ly chiếu giải ra ngoài, ai cũng nhìn thấy – có rất nhiều người dân ở Giêrusalem tuôn đến xem – Mẹ Maria cúi mình trên chiếc bục gổ nhỏ của Mẹ, chấp hai tay lại, mắt nhìn cắm vào Chúa Giêsu, trái tim Mẹ cháy bừng lên trong tình yêu mến Chúa – các Thiên thần ca hát, chúc tụng và khi hát lên đến câu sau này trong chương hai sách diễm ca : “Bạn tình ta ơi, mau dậy đi nào – Đến đi thôi : mùa đông qua rồi” – Mẹ Maria bổng thốt lên lời sau cùng của Chúa Giêsu trên thập giá : “Chúa ơi, con xin phó linh hồn con trong tay Chúa” – Mẹ nhắm mắt và trút hơi thở cuối cùng.
Linh hồn nguyên tuyền của Mẹ Maria giã từ thân xác trinh vẹn của Mẹ lên tới bên hữu Chúa Giêsu trên ngai Thiên Chúa Ba Ngôi.
Tại nhà tiệc ly, mọi người nghe tiếng nhạc Thiên Quốc cao xa dần trong không gian: Đoàn thần thánh tháp tùng đã đi theo Chúa Giêsu và Mẹ Maria lên thiên đàng rồi.
Mẹ Maria qua đời vào lúc ba giờ chiều thứ sáu (Chúa Giêsu cũng tắt hơi thở cuối cùng vào lúc ba giờ chiều ngày thứ sáu) ngày 13/8/55 sau Chúa Giáng Sinh – Mẹ hưởng thọ được 70 tuổi kém hai mươi sáu ngày (tính từ ngày 08/9 là ngày sinh đến 13/8/55 là ngày từ trần) – Xác thánh Mẹ được mai táng trong một ngôi mộ mới tại thung lũng Giosaphát – Trước kia, theo phong tục của người Do Thái, người ta khâm liệm Chúa Giêsu bằng một khăn dài với nhiều hương liệu như thế nào thì Thánh Phêrô và Thánh Gioan cũng khâm liệm Mẹ Maria y như vậy.
Linh hồn rất Thánh Đức Mẹ hưởng phúc trên Thiên đàng được ba ngày, Chúa Giêsu từ trời đưa linh hồn Mẹ chí ái của Ngài xuống mồ Thánh, có đoàn tháp tùng gồm: Vô số sư đoàn các Thiên thần, các Tổ phụ và các Tiên tri – Tới mộ Mẹ, Chúa phán với đoàn tháp tùng rằng : “Mẹ của Cha đã được đầu thai vô nhiễm để cho Cha mặc lấy nhân tính Cha từ nơi bản thể vô nhiễm của Mẹ – Hơn nữa, Mẹ còn đồng công vào hết mọi công trình trong việc cứu chuộc của Cha, cho nên Cha phải phục sinh cho Mẹ của Cha vào cùng lúc Cha đã sống lại, vì Cha muốn Mẹ Cha nên tương tự Cha trong mọi sự – Tức thì linh hồn hiển vinh của Mẹ vào lại thân xác đồng trinh của Mẹ, trả lại sự sống cho thân xác Mẹ mà không đụng chạm gì đến tảng đá che mồ hay đảo lộn những nếp áo và khăn phủ mặt – Không thể tả lại được vẻ mỹ lệ và ánh sáng chói ngời trang sức cho Mẹ lúc ấy – ta chỉ cần nghĩ rằng : Chúa Giêsu muốn trả lại cho tất cả những gì Ngài đã tiếp nhận từ Mẹ lúc nhập thể là đủ – Hôm ấy là ngày Chúa Nhật 15 tháng 8 liền sau nửa đêm – Xác Thánh Mẹ nằm trong mồ ba mươi giờ cũng ý như xác Thánh Chúa Giêsu (cũng 30 giờ) – Một ngàn Thiên thần hầu cận Mẹ hợp với đoàn tháp tùng Chúa Giêsu rất đông đảo thành một đoàn tháp tùng rất lớn cung nghinh hồn xác Mẹ về trời một cách rất trọng thể, trang trọng, rực rỡ và vinh quang vô cùng lẫn trong tiếng nhạc reo vui của Thiên quốc.

Còn ở trần gian, nơi phần mộ của Mẹ, vào ngày thứ ba sau khi chết, Thánh Phêrô và Gioan không còn nghe tiếng nhạc Thiên quốc được nữa, nhờ thánh linh soi sáng, các Ngài kết luận rằng : Mẹ Maria đã phục sinh lên trời cả hồn xác với tư cách là nguyên thủ của Giáo Hội, Thánh Phêrô phải xác tín việc lạ lùng này – Để mọi người đã chứng kiến cái chết và đã dự đám tang lễ Mẹ Maria cùng xác nhận là Mẹ đã sống lại – Nhằm mục đích đó, Ngài họp các Tông đồ, các môn đệ và các tín hữu tập trung quanh mồ Mẹ. Ngài trình bày với các vị ấy những lý do Ngài phải xác chứng rõ với Giáo Hội là phép lạ ấy có thật, một phép lạ phải được mọi thế kỷ tôn kính, làm hiển vinh cho Chúa Giêsu và Mẹ Maria hơn – Tất cả mọi người đồng ý và chấp thuận ý kiến của Thánh Phêrô và theo lệnh Ngài : tảng đá che cửa mồ được cất bỏ – Mọi người chỉ còn thấy trong mồ có chiếc áo còn nguyên trạng thái như khi Mẹ mặc và tấm khăn phủ mặt – Thánh Phêrô nâng tấm áo lên rồi quỳ xuống tỏ lòng tôn kính – Mọi người cũng phục lạy như thánh Phêrô, vừa thấm tín rằng Mẹ đã phục sinh và lên Trời, vừa thấm sâu một niềm hoan hỉ còn pha lẫn nhiều nuối tiếc – các Ngài hát lên nhiều bài Thánh Vịnh và Thánh Ca tán tụng Chúa Giêsu và Mẹ Maria.
Các Ngài cứ nán lại tại phần mộ Mẹ, bịn rịn mãi không sao ra về được – nên một Thiên thần hiện xuống nói với các Ngài : “Sao chư vị ở mãi đây?”. Nữ Vương của chư vị và của chúng tôi đã ngự trên trời cả hồn xác rồi – Mẹ sẽ vĩnh viễn cùng Chúa Giêsu thống trị trên nước Trời – Mẹ sai tôi đến xác quyết với chư vị chân lý đó – khuyên chư vị dìu dắt Giáo Hội, tuyên giảng Phúc Âm, quy hồi các dân tộc – Mẹ ra lệnh chư vị ai nấy hãy tiếp tục nhiệm vụ mình sớm hết sức – Mẹ hiển ngự trong vinh quang, nhưng Mẹ không quên phù trợ chư vị đâu”. Những lời đó khuyến khích các Tông đồ rất nhiều và trong cuộc hành trình truyền đạo, các Ngài luôn luôn nghiệm mình được Mẹ bảo trợ, nhất là trong giờ tử đạo, vì lúc đó Mẹ hiện ra với từng vị một và dâng linh hồn các Ngài lên Thiên Chúa.

(VI) HÃY NOI GƯƠNG MẸ MARIA

Sống ở trần gian, con người chúng ta được thử thách, được tôi luyện để nên Thánh thiện, hầu xứng đáng là con cái của Thiên Chúa – Muốn được nên như vậy, chúng ta đầu tiên phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Chúa (Lời hô hào của Chúa Giêsu) và không một vị Thánh nào không theo con đường đó – Con đường con người phải đi để nên Thánh – Nhưng bản thân chúng ta vốn yếu hèn, nhất là ở thời đại văn minh vật chất, những máy móc hiện đại tối tân được đưa đến cho chúng ta những hình ảnh trụy lạc làm cho chúng ta dễ bị sa ngã không đủ sức thực hiện và tự mình không thể theo con đường phải đi đó được, nên chúng ta cần phải có một điểm tựa chắc chắn để dựa vào đó vươn lên thành công như ước muốn – Điểm tựa đó chính là Mẹ Maria, chúng ta cần thiết phải nương nhờ, cậy trông và tin tưởng vào Mẹ Maria, vì Mẹ là Nữ Vương quyền uy trên trời dưới đất, là đấng có quyền ban phát mọi ân sủng của Thiên Chúa, Mẹ lại rất yêu thương chúng ra, muốn ban phát ơn lành cho chúng ta, vậy còn gì cản trở mà chúng ta không chịu chạy đến với Mẹ, xin Mẹ cứu giúp – Chúng ta đang có một điểm lợi là : Cũng như Chúa Giêsu Kitô, Mẹ rất yêu thương loài người chúng ta, lúc nào cũng ngong ngóng chờ mong chúng ta đến với Mẹ để được yêu thương, được an ủi và được dìu dắt chúng ta đến với Thiên Chúa bằng chính con đường Mẹ đã đi, theo đúng con đường Chúa Giêsu đã đi.

Cuộc đời Đức Mẹ là khuôn đúc cuộc đời Chúa Giêsu – Mặc dầu Thiên Chúa đã ban cho Mẹ quyền uy cao cả và đổ muôn vàn ân sủng cho Mẹ, nhưng cũng như con chí thánh Mẹ, cuộc đời Mẹ thật đau khổ, gian truân – Ta có cảm nhận như ân sủng của Chúa ban xuống chính là sự đau khổ, Chúa muốn Mẹ Maria luôn luôn ở trong những ân sủng ấy để thanh tẩy tâm hồn Mẹ thật trinh trắng và nhờ đó lửa tình yêu trong Mẹ bừng lên mãnh liệt (yêu Thiên Chúa, thương nhân loại) và đó cũng là nguyên nhân chính làm cho Mẹ lúc nào cũng đau khổ : Mẹ đau khổ vì không đáp ứng cho xứng đáng với lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, Mẹ đau khổ vì loài người chúng ta mà Mẹ yêu thương hết sức đang chết lần chết mòn trong muôn vàn tội lổi – Tình yêu của Mẹ càng bao la, thì sự đau khổ càng rộng lớn và thâm sâu bấy nhiên – Chính sự đau khổ quá mức ấy là một minh chứng, tỏ rõ một tâm hồn quãng đại và một tấm lòng vị tha vô biên của Mẹ Maria.

Ta hãy noi gương Mẹ Maria chấp nhận đau khổ một cách tự nguyện và vui lòng để trong ta có tình yêu – Hãy noi gương Mẹ ở đức khiêm hạ và phục tùng – Mẹ khiêm hạ đến độ luôn luôn nhận mình là một con sâu đất hèn mạt nhất và phục tùng Thiên Chúa đến độ Mẹ phục tùng cả thừa tác viên của Ngài (các Tông đồ) vốn là con cái của Mẹ – Chính vì sự khiêm hạ vô cùng của Mẹ, Thiên Chúa đã thưởng công rất trọng cho Mẹ : Cất nhắc lên cao hơn mọi loài thụ tạo, vì “Ai hạ mình xuống, sẽ được tôn cao” (Luca: 14,11) Vì noi gương Mẹ, ta phải kính trọng và phục tùng các vị Linh mục là thừa tác viên của Thiên Chúa và luôn luôn cầu nguyện cho các Ngài làm tròn trách nhiệm của mình trong việc mở rộng nước Chúa, lôi kéo thật nhiều linh hồn về với Thiên Chúa.

- Tuấn Nhỏ tóm lược -

DỰ LỄ LẬP THÁNH THỂ


DỰ LỄ LẬP THÁNH THỂ

( Tuấn nhỏ sao chép)
Theo cuốn : cuộc đời Đức Mẹ Maria

Trước khi đi sâu vào những ý nghĩa sâu xa phát sinh từ lễ “lập thánh thể”. Thiết tưởng ta nên suy gẫm “Lời huấn dụ của Mẹ Maria” không phải là chuyện viễn vông, mà trái lại nó còn cung cấp cho ta những điều bổ ích thiết thực khiến ta không thể nào ngời tới. Đây là lời huấn dụ của Mẹ Maria :

“ Hỡi con, con phải hết sức yêu thích chịu đau khổ, sao cho đối với con, đau khổ lớn hơn hết là : không được đau khổ để Ngài ban ơn trợ giúp xuống cho ta hân hoan ” và nữa :
“ Được Thế gian giả dối hoan hô, chẳng có gì quan trọng cả - Chỉ có một mình Thiên Chúa mới thực sự tôn vinh những ai đáng tôn vinh - Vì thế con chí Thánh của Mẹ mới chỉ chịu khải hoàn vào Giêrusalem với mục đích là làm sáng tỏ quyền năng Thiên Chúa - Làm cho cuộc tử nạn của người chịu thêm nhục nhả, để dạy cho loài người biết là : họ không được hưởng vinh dự ở đời này vì họ, mà vì mục đích cao cả hơn, họ phải hướng những vinh dự ấy về, đó là vinh quang đấng Tối cao ”.
Mẹ luôn luôn trung thành với quan niệm “ hết sức yêu thích chịu đau khổ ”, nên trước khi rời Bêtania, Chúa Giêsu muốn Mẹ tự chọn tham dự giữa khải hoàn hay tử nạn của Ngài - Mẹ đã xin ở lại không tham dự khải hoàn, nhưng mẹ xin khi nào Ngài đi tử nạn cho mẹ đi cùng - Đây là bài học đặc biệt Mẹ khuyên chúng ta : hãy chán ghét vinh dự trần gian, những vinh dự tựu trung chỉ là hư hảo gồm hết mọi hư hảo và chỉ làm cho tâm trí phiền muộn.


Lãnh được những bài học vô cùng quí giá nơi mẹ Maria, tâm hồn chúng ta mới được phấn chấn, ham muốn học hỏi ở Mẹ sự nhiệt tình : dồn hết tâm hồn, hết trí khôn, hết lòng mình, hòa vào mọi chi tiết diễn biến của lễ lập “ bí tích thánh thể ” do chính Chúa Giêsu chủ trì - Đã mang lại cho chúng ta những thành quả vô cùng quan trọng và bổ ích cho đời sống tâm linh của bất cứ một Kitô hữu nào, nó trở nên tối cần và không thể thiếu để dẫn đưa ta vào một thế giới kỳ ảo, vô cùng thích thú với những tư tưởng mới lạ rất phong phú, giúp ta rất nhiều trong sự hiểu biết về : Thiên Chúa Ba Ngôi - Ngôi lời nhập thể - Nhân tính, thần tính của Chúa Cứu Thế - Mầu nhiệm cứu chuộc loài người - Mẹ Thánh đức của Chúa đồng công cứu chuộc với con chí thánh Mẹ - Quyền chức cao trọng của mẹ Maria được Thiên Chúa ban tặng, không một thụ tạo nào so sánh được với Mẹ …


Giờ đây, nguyện xin ơn soi sáng của Chúa thánh linh, chúng ta hãy hòa tâm hồn mình vào những diễn biến của “ lễ lập Thánh thể ”:
Ngày thứ năm Thánh, trước khi mặt trời mọc, Chúa Giêsu mời Mẹ - Mẹ đến sấp mình dưới chân Chúa theo lệ quen và nói :

“ Con là thầy dạy của Mẹ, xin con cứ nói, tôi tớ của con đang lắng nghe con đây ” - Chúa nâng đỡ Mẹ dậy và thân thưa Mẹ với một giọng dịu dàng Thiên Quốc rằng :
“ Mẹ ạ, đây là giờ con phải thi hành việc cứu chuộc thế gian - Mẹ đã tình nguyện thưa lời xin vâng lúc con nhập thể - Con muốn mẹ cũng thưa lời xin vâng ấy lúc này đây khi con tử nạn - Xin mẹ bằng lòng cho con đi chịu đau khổ và chịu chết cho loài người - Và xin Mẹ đồng công với lễ hy sinh này để cứu rổi họ ” -
Mẹ sấp mình trước mặt Chúa Giêsu, hôn Chân Người và nói :
“ Con là chúa và là Chúa tối cao, Mẹ là tôi tớ của con : Mẹ xin tuân hợp thánh ý cha hằng hữu và thánh ý con - Lễ hy sinh lớn nhất Mẹ có thể dâng là : không được cùng chết với con và không được thay con để ngăn cản con khỏi chết, nhưng ít nhất là : Hãy cho mẹ được tham dự mọi đau khổ của con, để Mẹ đồng công cứu chuộc loài người - Con là kho tàng duy nhất của mẹ, xin con hãy đón nhận lời xin với tình Mẹ của Mẹ, kèm với hy sinh đớn đau của Mẹ và cho Mẹ được thưa một lời xin khác nữa ”
Chúa Giêsu bằng lòng và Mẹ thưa tiếp :
“ Con chí ái của Mẹ, thật Mẹ chẳng xứng đáng với điều Mẹ ước mong - Song con là nơi nương náu của lòng Mẹ cậy trông - Nếu đẹp ý con, Mẹ nài xin con cho Mẹ được tham dự vào nhiệm tích mà con quyết định sáng lập - Mẹ biết rõ ràng : chẳng một thụ tạo nào có thể lập công để được một ân huệ tuyệt cao như vậy - Nhưng mẹ có thể dâng lên cho con những công nghiệp của riêng con - Tuy nhiên, nếu Mẹ có quyền nào để làm việc gì có giá trị, chỉ vì con đã mặc nhân tính thánh trong lòng Mẹ, Mẹ chỉ xin dùng quyền ấy để Mẹ được thuộc hẳn về con - Nhờ cuộc chiếm hữu con một lần này nữa trong nhiệm tích rất thánh con sắp lập, cuộc chiếm hữu cho Mẹ vui mừng vì được cùng sống với con - Từ khi con cho Mẹ biết : con muốn ở lại trong giáo hội dưới hình bánh hình rượu thánh hiến, Mẹ đã áp dụng mọi việc làm, mọi điều mẹ khát vọng để được hiệp thông với con trong nhiệm tích ấy - Vậy, con là Chúa của mẹ, xin đến cư ngụ nơi lòng Mẹ, nơi con đã cư ngụ trước kia, để Mẹ con ta hợp nhất khắng khít mãi ở đó trong một tình yêu tha thiết mới ”-
Chúa Giêsu thưa lại một cách thiết tình nhất, quả quyết là Mẹ sẽ thỏa nguyện khi Ngài lập nhiệm tích tôn thờ ấy - Ngay từ giờ phút đó, Mẹ đã dọn mình để hiệp lễ (rước lễ) với một lòng tri ân khiêm nhượng và một tình yêu tôn kính rất sâu xa.
Chúa Giêsu bỗng ngưng lại đôi chút để ra lệnh cho các thiên thần mặc hình người túc trực hầu Mẹ và an ủi Mẹ khi Mẹ đau khổ, rồi Chúa lại tiếp tục thưa với Mẹ :
“ Mẹ sẽ theo con một quãng xa xa lên Giêrusalem cùng các Phụ nữ đạo đức đồng hành, Mẹ sẽ nâng đỡ đức tin của họ. Trong khi con chịu tử nạn ”-
Chúa Giêsu chúc lành cho Mẹ và chào từ biệt - Niềm đau xé nát trái tim hai mẹ con vượt trên tất cả những đau đớn loài người có thể tưởng nghĩ - Liền đấy Chúa Giêsu tạ từ Mẹ và rời khỏi Bêtania vào lúc trước giờ trưa một chút, có các tông đồ đi theo - Đi được mấy bước Chúa Giêsu ngước mắt lên trời kêu lên :
“ Lạy Cha hằng hữu, vì vâng Thánh ý Cha và vì yêu mến Cha - Con sắp sửa chịu đau khổ và chịu chết cho loài người là hình ảnh của Cha, để họ được nối lại tình thân nghĩa với Cha và hết mọi thụ tạo đều tôn vinh danh Thánh Cha ”-
Mẹ đồng trinh Maria lúc đó đã lên đường - Trên đường đi Đức Mẹ đàm đạo với các Thiên Thần và có những Phụ nữ cùng đi được nghe để củng cố niềm tin cho họ -
Về phía Chúa, như một con Thiên nga trên trời, Ngài trào đổ rất nhiều hứng thú và những câu truyện trao đổi với các tông đồ - Ngài soi sáng cho họ một cách dịu dàng - Lúc gần tới Giêrusalem, Ngài ủy thác cho Thánh Phêrô và Thánh Gioan đi trước để chuẩn bị tiệc chiên vượt qua theo lề luật dạy - Theo dấu hiệu Ngài chỉ trước , hai ông đã chu toàn sứ mệnh trong nhà một nhân vật rất giàu sang và rất tận tâm với Chúa Giêsu – Ông hoan hỉ dâng cho hai tông đồ một ngôi nhà có phòng rộng lớn, trang hoàng lộng lẩy sẳn sàng, rất hợp cho việc lập nhiệm tích thánh thể và những mầu nhiệm trọng đại sắp diễn ra -
Chúa Giêsu tới nơi được một lúc thì Mẹ cũng đến - Mẹ sấp mình xuống dưới chân Chúa, cầu phép lành và xin Chúa cho biết mình phải làm gì - Theo lời Chúa : Mẹ và đoàn phụ nữ theo Mẹ rời sang một phòng bên cạnh vì chỉ nơi đây mới đủ điều kiện thuận lợi, Mẹ mới có thể tham dự được tất cả những việc xẩy ra trong đêm kỷ niệm ấy - Mẹ nhìn thấy những mầu nhiệm lạ lùng đó rõ ràng như ở cộng thông vào tất cả những mầu nhiệm ấy với tư cách là đấng Đồng Công với con mình -
Chúa Giêsu vào căn phòng đã dành sẳn cho Ngài - Rồi Ngài nói với các tông đồ : Bữa ăn tối nay sẽ chấm dứt những nghi lễ tượng trưng trong luật cũ, vì hôm nay thực tại được thể hiện - Trong thâm tâm, Ngài cảm tạ Cha hằng hữu về thực tại đó - Cuối tiệc, Ngài trổi dậy, thầm đọc lời nguyện này :
“ Lạy Cha hằng hữu, con sắp tự hạ xuống tới tro bụi để lưu lại cho Giáo hội con một tấm gương khiêm nhường - Nhằm mục đích đó, con sẽ rửa chân cho các môn đệ của con kể cả Giuda, con người tệ hơn hết mọi người - Con sẽ phủ phục trước mặt nó, tha thứ cho nó và nhận nó là bạn thân của con, để cả Trời đất ít ra cũng biết rằng vòng tay khoan dung của con luôn luôn rộng mỡ để đón nó (cũng như những kẻ có tội như nó )” -
Ngài cởi áo choàng ra, áo Mẹ Maria đã may không có đường chỉ để Ngài khoác bên ngoài - Ngài lấy một khăn vải thắt lưng, lấy nước đổ vào thau và rữa chân cho các tông đồ như Phúc âm đã thuật lại - Ngài nói với Thánh Phêrô :
“ Bây giờ con chưa hiểu được Thầy đâu, sau con mới hiểu ” có nghĩa là :
“ Con hãy bắt trí năng con phải khuất phục trí năng Thầy và vâng lời, vì hễ không vâng lời là không có khiêm nhượng thật, mà chỉ có kiêu căng ” - Thánh Phêrô chưa hiểu lời đó, ông rối rít với sự khiêm nhường sơ hở của mình mà nói :
“ Không, thưa Thầy, sẽ không bao giờ thầy rửa chân cho con đâu ” - Chúa Giêsu phải nghiêm nghị dùng đến lý mạnh :
“ Nếu con không để Thầy rửa cho con sẽ không được dự gì với Thầy nữa ” - Đừng dự gì với Thầy nữa, có nghĩa là không dự vào nhiệm tích Thánh thể và ơn cứu chuộc - Với lời lẽ đó. Chúa đã thiết lập nền tảng vững chắc cho đức Tuân Phục - Khi nào không rỏ ràng bề trên làm, vẫn phải nhắm mắt tuân phục, chứ không được tìm lý luận để không tuân - Được soi sáng rỏ, Thánh Phêrô vừa sợ vừa yêu mến một cách nhiệt thành, ông trả lời :
“ Vâng, xin Thầy cứ rửa, không những chân con, mà cả tay con với đầu con nữa ” - Ngõ lời với các Tông đồ Chúa nói :
“ Các con đã sạch, nhưng không phải tất cả đã sạch đâu (ý chỉ Giuda) - Ai tắm rồi chỉ cần rửa chân nữa là xong (nghĩa là sạch những khuyết điểm nhẹ, những bắt toàn, là những cái làm trở ngại cho việc lãnh nhận đầy đủ các hiệu quả thần linh của việc hiệp lễ (rước lễ) thánh thể ”.


Sau khi đã làm xong những nghi thức chuẩn bị, Chúa Giêsu lại mặc áo choàng vào và lại ngồi vào bàn tiệc - Trong lúc đó Thánh Gioan dựa đầu vào ngực Chúa, Chúa đã dạy ông những điều tuyệt cao về ngôi vị rất thánh của Chúa và về Mẹ Maria Thánh đức của Chúa - Chính lúc đó, Chúa đã trối Mẹ làm mẹ ông - Còn ở trên cây thập giá, Chúa chỉ công khai tuyên bố một việc đã quyết định riêng từ trước rồi, cho nên Ngài mới nói :
“ Mẹ của con đây này ”
Tất cả các Tông đồ lúc ấy cũng đều lãnh nhận được những ánh sáng mới về các nhiệm mầu trọng đại, những ánh sáng ấy chuẩn bị các Ngài kỹ càng hơn để rước Thánh thể (mình Thánh Chúa) -
Để lập nhiệm tích này, Chúa Giêsu đã cho dọn một chiếc bàn tương tự như những chiếc bàn vuông hay chữ nhật ngày nay người ta vẫn dùng - Ông chủ nhà phủ lên mặt bàn bằng một tấm khăn rất quí, đặt trên đó một chén lớn có hình nụ hoa và một cái đĩa - Đĩa và chén đắt giá ấp làm bằng một thứ đá quí giống như ngọc bích - Vì sau các Tông đồ thường dùng để cử hành thánh lễ -
Tất cả đã sẵn sàng, Chúa Giêsu nói với các Tông đồ một bài dài đầy những ý thâm trầm kỳ diệu - Lời Ngài nói thấm vào tận đáy tâm hồn các ông như những mũi tên bằng lửa tình yêu, gây nên một trên cháy êm dịu, Ngài mặc khải cho các ông những mầu nhiệm tối cao về thần linh Ngài, về nhân tính Ngài, về ơn cứu độ cũng như về sự cao trọng, về chức vị tuyệt vời và đặc ân của Mẹ Maria -
Sau đó các Thiên Thần đưa hai ông Hênóch và Elia, để hai vị tổ phụ Luật Tự Nhiên và Luật Thánh Danh ấy được dự vào nhiệm tích Thánh thể - Sau cùng, Ngôi Cha và Ngôi Thánh Thần xuất hiện cùng toàn thể triều đình Thiên quốc -
Lúc đó Chúa Giêsu thầm nguyện trong tâm hồn một lời cầu cùng cha hằng hữu : Xin cho loài người được cứu rỗi và xin cha cấp nhận cho Ngài lập các Phép bí tích để ban cho mọi người những nhu cầu thiêng liêng và chỉ có mình Mẹ Maria được biết lời cầu nguyện này, Mẹ hợp lòng với lời cầu nguyện ấy với tư cách là Mẹ, là đấng đồng công của Chúa Cứu Thế -
Chúa Giêsu xướng một ca vịnh tôn vinh cha Ngài và tạ ơn Cha Ngài vì đã nhận lời Ngài cầu xin cho loài người - Rồi Ngài cầm lấy bánh đặt trong đĩa lên, ngước mắt lên nhìn cha hằng hữu và Thánh linh, với một phong thái uy nghi đến nỗi các Tông đồ, các Thiên thần và cả Mẹ Maria nữa đều ngợp một niềm kính sợ mới - Sau cùng Chúa đọc lời hiến thánh hai bình bánh và rượu.
Chúa Giêsu vừa đọc xong, Cha trên Trời đáp lời :
“ Đây là con chí ái của ta, ta thỏa nguyện nơi người cho đến tận thế - Người sẽ ở lại với loài người suốt thời gian lưu đầy của họ nơi trần gian ”.
Chúa Thánh linh cũng xác nhận lời hứa ấy, và nhân tính rất thánh của Chúa Giêsu cúi sâu trước thần tính hiện diện trong nhiệm tích - Mẹ Maria khiêm nhượng sấp mình xuống - Các Thiên Thần hầu cận Mẹ, cũng như các Tông đồ, Hênóch, Elia, đều thờ lạy Thánh thể - Chúa Giêsu lại dâng cao mình cùng máu thánh để thánh hiến của Ngài lên để mọi người tham dự thánh lễ đầu tiên ấy thờ lạy một lần nữa.
Sau khi dâng cao Thánh thể, Chúa Giêsu bẻ lấy một phần, tự mình rước lấy với tư cách là linh mục tối cao và đầu tiên - Rồi với tư cách là con người, Ngài nhìn nhận mình ở dưới thần tính, Ngài hạ mình trước thần tính ấy - Lúc đó, kinh hồn vinh hiễn của Ngài giãi sáng ra nơi thân xác Ngài một lúc như đã giải ra ở trên núi Tabôrê.
Trong khi hiệp lễ, Chúa Giêsu đọc một bài ca tán tụng cha hằng hữu, dâng mình cứu rỗi loài người - Rồi Ngài bẻ một phần bánh thánh hiến, trao cho Đức Tổng thần Gabrie để Đức Tổng thần đem đến cho Mẹ Maria - Mẹ đợi chờ, hai mắt đẵm lệ chịu lấy Thánh thể từ tay Đức Tồng Thần - Mẹ là người thứ nhất hiệp lễ (rước lễ) chỉ sau Chúa Giêsau - Mô phỏng Chúa Giêsu, Mẹ hạ mình khiêm nhượng tạ ơn Chúa - Thánh thể được đặt vào trái tim Mẹ như vào nhà tạm xứng đáng nhất của Thiên Chúa và cứ còn nguyên vẹn mãi ở đó cho tới khi Mẹ hiệp lễ lần sau -
Sau khi Nữ vương các thánh lãnh nhận Thánh thể rồi, Chúa Giêsu lại trao bánh Thánh hiến cho các tông đồ, truyền cho các ông chia nhau mà ăn - Bằng lệnh truyền này, Ngài đã lập chức linh mục - Các Tông đồ bắt đầu thi hành chức vụ ấy trong khi tự mình rước lễ với một niềm tôn kính cao vợi và chảy nước mắt nhiệt tâm -
Sau đó Thánh Phêrô theo lệnh của Chúa, đem Thánh lễ cho hai ông Hênóch và Elia để hai ông được sức mạnh sống cho đến tận thế, đợi chờ phúc hưởng kiến đời sau - Hai vị được đặc ân đó rồi, các Thiên thần đưa hai vị về cư ngụ bí mật của các ông -
Cuối cùng khi mọi người đã hiệp lễ xong, Chúa Giêsu lại tạ ơn cha Ngài một lần nữa - Ngài nói cho các môn đệ nghe một huấn từ rất cảm động khác và chấm dứt mầu nhiệm tiệc chiên theo luật và nghi thức Thánh thể, để bắt đầu thể hiện những mầu nhiệm tử nạn cứu chuộc -


ĐƯỜNG VỀ TÂY NINH

HỌP MẶT CỰU CHỦNG SINH THÁI BÌNH
Lớp Tràng thử 1953 Hưng Yên


(Tuấn nhỏ)

II. LỘ TRÌNH VŨNG TÀU – TÂY NINH

Ngày 13 tháng 6 năm 2009 vừa qua, nhân dịp có việc phải ra Thị xã Bà Rịa, và vì dễ chừng cả tuần lễ không gặp nhau, nên tôi cố ý, tiện ghé thăm anh Huy. Thấy tôi anh vui mừng báo tin: Anh Thuần từ Sài Gòn có điện thoại báo cho cánh Bà Rịa nhớ về với Cha Hanh (TX. Tây Ninh) để họp mặt, được tổ chức vào ngày 17/6/2009. Anh Thuần và anh Huy có liên lạc điện thoại với tôi nhiều lần mà không được, nếu không gặp tôi, chắc anh Huy phải vào nhà báo tin. Nhà tôi cũng không xa xôi gì, nhưng ở mãi trong hẻm nên khó tìm, vả lại anh Huy cũng rất bận. tôi rất ngạc nhiên về việc anh Huy và anh Thuần không liên lạc được với tôi, vì điện thoại của tôi vẫn để trong túi áo. Tôi coi lại thì phát hiện ra: Sim đã bị tráo từ lúc nào không hay, thế mới biết: ma quỷ nó thường rình rập, cả những lúc chúng ta không thể ngờ tới. Anh Huy cũng cho biết sơ qua chương trình họp mặt do anh Thuần đề xuất. Còn tôi thì cứ vô tư, không vô tư thì cũng phải vô tư, vì cái mã thằng tôi chằng làm nên việc gì cho lớn lao cả, nên tôi cứ vô tư là thượng sách. Nhất là được anh Huy cho biết phương tiện đi về cho cả nhóm bạn bè kể cả Sài Gòn do anh Huy đài thọ vì đó là xe nhà. Vì thế nó đã khiến cho tôi chẳng còn gì phải nghĩ ngợi, lo lắng. Tuy vậy, tôi vẫn còn áy náy: Mỗi năm họp mặt một lần, cũng nên có cái gì đó làm quà kỷ niệm. suy nghĩ mãi tôi mới quyết định: Tặng mỗi thành viên mấy tiểu phẩm mới viết xong. Vì tôi cũng chỉ có vậy, ngoài ra chẳng còn sự gì khác.

Theo lời hẹn tôi đã có mặt tại nhà anh Huy lúc 4h40 sáng ngày 17/6/2009 và hơn 5h00 xe bắt đầu lăn bánh. 7h00 tới nhà anh Thuần (SG) thì đã có Cha Bằng và chủ nhà đang chờ sẵn chúng tôi. Tất cả lên xe trực chỉ Tây Ninh. Ngang qua trại Tân Việt đón anh Quán và chở bia + nước ngọt + nước khoáng (quà tặng của anh Quán dành cho buổi họp mặt)

Suốt lộ trình tôi ngơ ngơ ngác ngác như con chim bị nhốt trong lồng quá lâu ngày vuột ra và lạc vào rừng sâu. Tôi cố nhớ lại, thử đoán những địa điểm xe đi ngang qua, nhưng không thể nào nhớ nổi. Tôi hơi buồn vì hình như mình đã bị gạt ra khỏi đời sống xã hội loài người mỗi ngày một thay đổi đến chóng mặt, cả về phương diện nếp sống, đường xá lẫn công trình xây dựng. Tôi bây giờ chẳng khác gì một người dân tộc thiểu số, sống mãi tận trong rừng sâu ở vùng cao nguyên hẻo lánh xa xôi, cái gì đối với tôi cũng xa lạ, lạc lõng thua thiệt đủ điều. tôi nhớ câu người ta vẫn thường nói: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, còn tôi, vì hoàn cảnh có lẽ sống qua lâu trong hẻm hóc, không có dịp giao tiếp thường xuyên với xã hội bên ngoài, nên cảm thấy mình mỗi ngày một tụt hậu và đần độn hơn.

Mỗi lần có ý nghĩ “tự ti mặc cảm” như vậy, tôi lại hay nghĩ đến các bậc ẩn tu với nếp sống của họ. Nghĩ đến Đức Kitô: ngoài những giờ phút rao giảng tin mừng, thường một mình tìm nơi vắng vẻ cầu nguyện. Thêm vào đó: tại trần gian này, hình như nhà thơ Nguyễn Khuyến trong một câu thơ bất hủ, có bàn về: cái khôn, cái dại: nói dại chưa chắc đã là dại, nói khôn chưa chắc đã là khôn. Thực ra câu thơ mang ý nghĩa ngược lại, cái kiểu chửi xéo thường tình của người đời:

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao”

Với những lý do trên, tự nhiên cái mặc cảm tự ti trong tôi biến mất, nhường chỗ cho sự cảm nhận thực tế, chính xác với sự cảm phục và lòng biết ơn đối với Đấng Bề trên đã định liệu cho tôi có được cuộc sống gần gũi với Thiên Chúa hơn.

(Còn tiếp)

Những điều ẩn chứa - Tân Hồn Thanh Thản.



Nguyễn Khuyến sau khi từ quan về quê sống ẩn dật, ngồi nhớ lại những điều mắt thấy tai nghe trong sự giao tiếp hàng ngày với đủ loại hạng người khi còn tại chức, ngán ngẩm than:

“Nghĩ đời lại chán cho đời nhỉ”

Nguyễn Du cũng đau xót không kém:
“Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”

Qua bài “Thế thái nhân tình”, Nguyễn Công Trứ đã lột ra hết sự thật của những sự tráo trở, bạc bẽo và giả dối ở người đời. Ông đã nhận ra: Tất cả những cái gì thuộc về đời sống con người đều là giả dối, đều là phù du trong cái kiếp sống thật ngắn ngủi:
“Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy,
Cảnh phù du, thấy cũng nực cười”

Đấy là hình ảnh của những cảnh tượng, cái lối đối xử giữa con người với nhau, từ quan quyền cho tới dân giã, đã diễn ra cách hàng mấy thế kỷ qua, chỉ cần mấy câu thơ trên, toàn cảnh xã hội thời đó như hiện nguyên hình thật sống động trước mắt chúng ta, thấy mà lòng ê chề ngao ngán.

Từ thời xa xưa đó đến nay, lòng người mỗi ngày một tồi tệ hơn, nham hiểm hơn, dối trá hơn. Sự dối trá đã tràn ngập lòng người, như vết dầu loang, thấm tới tận xương tận tủy, tận đáy tâm hồn. Hầu như người ta không còn đủ sức, không còn đủ can đảm nhìn vào sự thật, sống với sự thật của chính lòng mình, vì sự gian dối đã thực sự chiếm ngự, thống lãnh, phong tỏa mọi ngõ ngách, khiến con người không thể trỗi dậy được, nó như chất men gây mê cực mạnh, làm cho con người không thể có đủ sức chống lại. Ngay trong gia đình ta vẫn thường thấy: chồng dối vợ, vợ dối chồng, cha mẹ dối con cái, con cái dối cha mẹ, anh chị em dối gạt lẫn nhau. Nhưng có một điều (xin lưu ý) đáng sợ nhất, đáng đau xót nhất, đáng khinh bỉ nhất là: dối trá cả với chính mình, hoặc là không biết, hoặc là có biết cũng không cưỡng lại được trước sự mê hoặc đáng nguyền rủa của nó. “Sự nghiện ngập dối trá” đã trở thành như trái bom nguyên tử, phá hoại sạch sẽ tới tận trong tâm hồn. Từ đó gây ra biết bao điều đáng tiếc xảy ra trong xã hội, nó không chừa xã hội nào của bất cứ thể chế nào. Nếu kể ra thì cũng bằng thừa, vì nó đã hiển hiện ngay trước mắt chúng ta.

Sống trong môi trường hiện trạng như vậy, thử hỏi làm sao chúng ta có được sự thanh thản trong tâm hồn?!!! đó là điều khiến chúng ta phải trăn trở, phải suy nghĩ tìm ra bằng được giải pháp nào đó, hợp cho cả lý lẫn tình

Trước tiên muốn cho tâm hồn được thanh thản, điều kiện tiên quyết, đó là điều kiện căn bản, là con người phải có được sự tự do, tự do tuyệt đối, nhưng xét về tự do ta phải phân biệt được hai loại tự do:

Loại 1: “Có tự do và ý thức” trong sự quyết định lựa chọn và hành động.

Loại 1: “Có tự do và không ý thức” trong sự quyết định lựa chọn và hành động.

Luận bàn về hai loại nêu trên, ta nhận thấy không thể chấp nhận cái kiểu tự do không ý thức (loại 2) được, vì không ý thức, con người được xếp vào loại mất trí, nên sự lựa chọn và hành động chỉ là sự lựa chọn và hành động của người điên, nên nó sẽ đưa ta đến sự chết, nên bây giờ ta chỉ bàn tới loại thứ nhất: loại này là loại đúng với ý muốn của Thiên Chúa. Ngài có thể làm được bất cứ sự việc gì, kể cả việc tạo nên loài người chúng ta: toàn là những người công chính, chắc chắn Ngài làm được. Nhưng Ngài đã không làm như vậy, vì Ngài không muốn biến chúng ta thành những con rô bốt không hồn, mà Ngài muốn chúng ta, con cái của Ngài, phải được tự do trong sự hiểu biết, quyết định trong sự lựa chọn và hành động. Đó là sự tự do tuyệt đối, ý muốn của Ngài là: con người đến với Ngài phải được tự do (tự do tuyệt đối), tự giác, tự nguyện trong sự hiểu biết (ý thức), tuyệt đối không có một sự ràng buộc nào.

Kinh nghiệm của những người chuyên trách về xì ke ma túy: can đảm là yếu tố quan trọng nhất. những con nghiện vẫn có tự do: muốn tiếp tục hay bỏ hút chích tùy thuộc vào ý của họ. Họ vẫn có ý thức: biết được cái tai hại do nghiện ngập cho bản thân, cho gia đình cho xã hội, nhưng họ vẫn không đủ can đảm từ bỏ. cho nên muốn cai nghiện có kết quả, con nghiện phải có lòng can đảm rất cao, can đảm để cắt cơn: dù bị đau đớn thật vất vả, can đảm từ bỏ và xa lánh môi trường nghiện ngập, mặc dù cơ thể đang rất khát khao hưởng thụ những cảm giác mạnh, tâm hồn lâng lâng trong ảo giác đê mê, luôn luôn sẵn sàng chờ đón.

Con người sống trong hiện trạng cũng chẳng khác gì những con nghiện xì ke ma túy, họ nghiện sự dối trá. Con người hiện trạng muốn thoát khỏi cơn lốc đam mê, cũng cần và rất cần đến lòng quả cảm: dám nhìn vào sự thật, ví dụ như ta đam mê một đối tượng nào đó, ta hãy can đảm đưa lên mổ xẻ trên bàn ánh sáng, y như nhà khoa học mổ, phân chất xem thực chất nó là cái gì. Và cái thực chất này có đáng để ta phải đam mê hay không? Kết quả: sau rất nhiều lần thực tế cho chính bản thân, mới khám phá ra được một điều đáng ghi đậm vào trong tâm, là một bài học nhớ đời: sở dĩ ta đam mê là do sự dối trá, che chắn, sơn phết lên đối tượng, bản ngã thêm vào đó ảo ảnh, làm ta có cảm giác đó là sự thật, nên say mê đắm đuối, và khi đã say mê đắm đuối rồi, thì chẳng cần biết thật giả, chỉ cần biết hiện tại ta đang say mê, thế là đủ, là thỏa mãn. Đấy là ta chưa kể đến sự đòi hỏi của cơ thể theo sự lôi cuốn của ảo ảnh do bản ngã chi phối.

Khi đã can đảm nhìn vào sự thật và nhận ra sự thật thì mọi vấn đề được giải quyết, con người trở lại với bản chất của con người như Thiên Chúa tạo dựng. Trên thực tế, ta nên theo lời chỉ dậy của Đức Ki Tô : “Từ bỏ chính mình” từ bỏ chính mình tức là từ bỏ bản ngã, nguồn gốc của bản ngã là như thế này: hình ảnh của những sự việc, của những biến cố ở quá khứ dù vui hay buồn đều được ghi ở ký ức, thường những thất bại chua cay, những đau khổ tinh thần lẫn vật chất được ghi đậm nét hơn. Người ta gọi đó là những kỷ niệm, và do ảnh hưởng không mấy tốt đẹp của những kỷ niệm chồng chất rất lâu ngày trong ký ức, ký ức biến dạng thành bản ngã. Bản ngã chính là cái tôi, cái tôi phát triển vươn lên tự coi như là chủ thể (chính mình) với cá tính biệt lập riêng rẽ không muốn ai xâm phạm tới. Cái tôi rất yêu quý mình và cả những gì thuộc về nó. Chính sự biệt lập đó làm cho cái tôi trở nên cô đơn, lạc lõng, nên đâm ra hoảng sợ trước cái bao la của phi ngã (phi ngã là tất cả những gì không thuộc về bản ngã). Càng lo sợ cái tôi càng co rút lại để tự vệ. Tự vệ hữu hiệu là phải tấn công để chiếm hữu, càng chiếm hữu nhiều, cái tôi càng lún sâu hơn trong thất vọng, vì nó đã cố gắng chiếm hữu thật nhiều, nhưng chỉ toàn là cái không, cái phù du, nên cái tôi rút cục: oằn oại trong thất vọng, hận thù đời, hận thù cả với chính bản thân. Chúa Giêsu đã từng kêu gọi từ bỏ “chính mình”, ý muốn nói tới cái bản thân tù tội này. Hãy nghe lời Đức Ki Tô nói:
“Ngày mai cứ để ngày mai lo” (Mt: 6, 34)
Và:
“Cứ để kẻ chết chôn người chết” (Mt: 8, 23)
Tức Ngài khuyên chúng ta hãy sống ngay ở hiện tại, vì cuộc sống không diễn ra ở quá khứ hay tương lai.
Vì bản ngã (tôi) thuộc về quá khứ với những uất hận và kỳ vọng hảo huyền ở tương lai. Giả thử có đến được với tương lai theo ý nghĩ, thì tương lai đó đã biến thành quá khứ, và ta lại mộng tưởng xây dựng một chương trình lý tưởng cho tương lai nối tiếp, và cứ thế, suốt đời con người chỉ đuổi theo cái bóng của chính mình.

Vậy, từ bỏ chính mình (Theo Giêsu) là phải gạt bỏ bản ngã, tức là gạt bỏ tất cả ý nghĩ, ý tưởng, ước vọng đam mê. Can đảm gạt bỏ không luyến tiếc, gạt bỏ tất cả, chỉ còn lại cái tâm rỗng tuyết, không còn sự gì trong đó, thì tình yêu bừng nở. Với tình yêu này sẽ không còn những ưu tư , phiền muộn trong lòng, và tâm hồn trở nên thanh thản.

Những điều ẩn chứa - Nằm nghe cầu kinh.


Trong những đêm khuya thanh vắng, không một ánh trăng, bầu trời sương mù dày đặc, nhất là khi trời mưa tầm tã. Đang cơn ngủ say, tôi giật mình thức giấc, sửng sốt nhưng vẫn nằm im, cố lắng nghe những tiếng cầu kinh từ đâu vọng tới, lúc đầu hơi nhỏ và không rõ, rồi mỗi lúc một lớn hơn và rõ ràng hơn, của một số đông người đọc, có cả những kinh quen thuộc tôi vẫn đọc hàng ngày, có cả những kinh cầu, kinh Phục rĩ khó hiểu đã rất lâu tôi không đọc, chỉ nhớ lõm bõm, nên nhẩm đọc theo để ôn lại. có những đoạn bị đứt quãng như bị sóng nhiễu rồi lại được tiếp tục nghe rõ. Sau cùng tôi không còn nghe được nữa, mặc dù đã cố gắng tập trung tư tưởng lắng nghe. Sự việc này xảy ra không phải một lần, mà nhiều lần như vậy. Lúc đầu tôi cứ đinh ninh: những tiếng cầu kinh đó xuất phát từ nhà thờ nào đó gần nơi tôi ở, nhưng thực sự không phải vậy, vì thường vào giờ giấc đó, không hề có nhà thờ nào mở cửa, có đôi lần vì tò mò, đang khi nghe đọc kinh, tôi ngồi dậy cố lắng nghe xem từ nhà thờ nào đó, mà không phải! nó xuất phát từ trên bầu trời xuống. sự việc lạ lùng này khiến tôi trăn trở, suy nghĩ không ít!.

Với tài kém trí đoản như tôi, càng suy nghĩ càng thêm trăn trở đến nhức đầu. nếu không nhờ Kinh thánh hé lộ, khi tôi đọc đoạn nói về những diễn tiến cuộc sáng tạo trời đất của Thiên Chúa, thì không bao giờ tôi đủ khả năng khám phá ra được:

Vậy Đức Chúa tạo khoảng không để ngăn cách giữa “nước dưới khoảng không” với “nước trên khoảng không”. Đức Chúa Trời gọi khoảng không là bầu trời.
Đức Chúa Trời phán: “nước dưới bầu trời hãy tụ lại một chỗ, và đất phải xuất hiện. Đức Chúa Trời gọi đất khô là đất, và nước tụ lại là biển” (St 1, 7-10)

Nước nguồn từ lòng đất, từ các khe núi chảy ra thành các con lạch, con sông đổ ra biển. nước biển, các dòng sông, ao, hồ, do thời tiết của bầu trời bốc hơi gọi là hơi nước, hơi nước bay lên kết tụ thành lớp dầy ở phía trên của bầu trời, lớp hơi nước này tự phản ứng tạo ra một lớp nước dầy, đó là “nước trên khoảng không”, nước này đổ xuống thấm vào lòng đất, từ lòng đất, nguồn nước lại theo những con lạch, con sông chảy ra biển, và chu kỳ này cứ tiếp tục tái diễn mãi, để bảo đảm sự sống muôn loài trên trái đất, biển cả, sông ngòi, ao hồ.

“Nước trên khoảng không” bao bọc kín bầu trời, che chắn những tia cực tím và làm giảm bớt sức nóng quá độ của mặt trời, có thể làm phương hại đến sự sống trên trái đất. “nước trên khoảng không” và “nước dưới khoảng không” như tấm kính phản chiếu được tia sáng và tiếng động. sự phản chiếu lại tiếng động người ta gọi là tiếng dội của âm thanh. Vì thế âm thanh của những lời cầu kinh vang lên “tầng nước trên khoảng không” từ đó dội ngược lại trên “nước dưới khoảng không” và cứ thế tiếng “âm thanh” dội lên dội xuống liên tục, nguồn tia sáng nếu chiếu lên “nước trên khoảng không” cũng có sự phản chiếu lên xuống như âm thanh, nhưng khi nguồn sáng tắt thì sự phản chiếu sẽ không còn nữa. trái lại, nguồn âm thanh của những lời cầu kinh được dội lên dội xuống liên tục, là vì tiếng dội của âm thanh trở thành nguồn âm thanh, nên mặc dù không còn đọc nữa, nhưng tiếng dội đó vẫn còn, và ta vẫn nghe được tiếng cầu kinh trong những đêm khuya dầy đặc sương mù hay cơn mưa tầm tã, là vì bầu trời lúc đó chứa khối lượng khá lớn hơi nước (hơi nước trong sương, nhất là mưa rơi là môi trường chuyển tải tiếng dội hữu hiệu) làm cho tiếng dội trở nên thông thoáng và dễ dàng hơn, còn trường hợp không sương dầy đặc, hoặc không mưa thì tiếng dội vẫn có, nhưng nó yếu nên tai ta không nghe được.

Tôi nghe được những tiếng cầu kinh do tiếng dội lại, chắc chắn nó không thể phát xuất từ hiện tại (đang đọc kinh), vì giờ giấc đó không nhà thờ nào đang mở cửa, và như trên tôi đã nói, nó phát từ tầng “nước trên khoảng không”, Như vậy âm thanh của những lời cầu kinh đó phải phát xuất từ quá khứ gần hay xa tôi không được biết. Trong khi nghe có những đoạn ngắn như bị sóng nhiễu là do tác động của sóng biển hoặc cơn gió mạnh trong bầu trời. Sau cùng không còn nghe được nữa là do thay đổi khí hậu trong bầu trời, và cũng ảnh hưởng không ít do vòng xoay của trái đất, nên tiếng dội trở lại không còn nằm trong phạm vi ta đang ở, mà nó chuyển qua vùng khác.

Lạy Chúa, trên đây là những lý luận dựa vào khoa học khảo cứu về tiếng động, nhưng khoa học nào cũng không ngoài sự sáng tạo của Thiên Chúa, nên chúng con tin tưởng đó là ẩn ý của Ngài là: nhắc nhở loài người chúng con luôn dâng lên Chúa những lời cầu nguyện. Lại xin cho chúng con hằng đêm được “nằm nghe cầu kinh”, nó như lời nhắn nhủ chúng con: luôn luôn hướng về Thiên Chúa.