Skip navigation.

blog cầu nguyện

ĐƯỜNG VỀ TÂY NINH

HỌP MẶT CỰU CHỦNG SINH THÁI BÌNH
Lớp Tràng thử 1953 Hưng Yên


(Tuấn nhỏ)

II. LỘ TRÌNH VŨNG TÀU – TÂY NINH

Ngày 13 tháng 6 năm 2009 vừa qua, nhân dịp có việc phải ra Thị xã Bà Rịa, và vì dễ chừng cả tuần lễ không gặp nhau, nên tôi cố ý, tiện ghé thăm anh Huy. Thấy tôi anh vui mừng báo tin: Anh Thuần từ Sài Gòn có điện thoại báo cho cánh Bà Rịa nhớ về với Cha Hanh (TX. Tây Ninh) để họp mặt, được tổ chức vào ngày 17/6/2009. Anh Thuần và anh Huy có liên lạc điện thoại với tôi nhiều lần mà không được, nếu không gặp tôi, chắc anh Huy phải vào nhà báo tin. Nhà tôi cũng không xa xôi gì, nhưng ở mãi trong hẻm nên khó tìm, vả lại anh Huy cũng rất bận. tôi rất ngạc nhiên về việc anh Huy và anh Thuần không liên lạc được với tôi, vì điện thoại của tôi vẫn để trong túi áo. Tôi coi lại thì phát hiện ra: Sim đã bị tráo từ lúc nào không hay, thế mới biết: ma quỷ nó thường rình rập, cả những lúc chúng ta không thể ngờ tới. Anh Huy cũng cho biết sơ qua chương trình họp mặt do anh Thuần đề xuất. Còn tôi thì cứ vô tư, không vô tư thì cũng phải vô tư, vì cái mã thằng tôi chằng làm nên việc gì cho lớn lao cả, nên tôi cứ vô tư là thượng sách. Nhất là được anh Huy cho biết phương tiện đi về cho cả nhóm bạn bè kể cả Sài Gòn do anh Huy đài thọ vì đó là xe nhà. Vì thế nó đã khiến cho tôi chẳng còn gì phải nghĩ ngợi, lo lắng. Tuy vậy, tôi vẫn còn áy náy: Mỗi năm họp mặt một lần, cũng nên có cái gì đó làm quà kỷ niệm. suy nghĩ mãi tôi mới quyết định: Tặng mỗi thành viên mấy tiểu phẩm mới viết xong. Vì tôi cũng chỉ có vậy, ngoài ra chẳng còn sự gì khác.

Theo lời hẹn tôi đã có mặt tại nhà anh Huy lúc 4h40 sáng ngày 17/6/2009 và hơn 5h00 xe bắt đầu lăn bánh. 7h00 tới nhà anh Thuần (SG) thì đã có Cha Bằng và chủ nhà đang chờ sẵn chúng tôi. Tất cả lên xe trực chỉ Tây Ninh. Ngang qua trại Tân Việt đón anh Quán và chở bia + nước ngọt + nước khoáng (quà tặng của anh Quán dành cho buổi họp mặt)

Suốt lộ trình tôi ngơ ngơ ngác ngác như con chim bị nhốt trong lồng quá lâu ngày vuột ra và lạc vào rừng sâu. Tôi cố nhớ lại, thử đoán những địa điểm xe đi ngang qua, nhưng không thể nào nhớ nổi. Tôi hơi buồn vì hình như mình đã bị gạt ra khỏi đời sống xã hội loài người mỗi ngày một thay đổi đến chóng mặt, cả về phương diện nếp sống, đường xá lẫn công trình xây dựng. Tôi bây giờ chẳng khác gì một người dân tộc thiểu số, sống mãi tận trong rừng sâu ở vùng cao nguyên hẻo lánh xa xôi, cái gì đối với tôi cũng xa lạ, lạc lõng thua thiệt đủ điều. tôi nhớ câu người ta vẫn thường nói: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, còn tôi, vì hoàn cảnh có lẽ sống qua lâu trong hẻm hóc, không có dịp giao tiếp thường xuyên với xã hội bên ngoài, nên cảm thấy mình mỗi ngày một tụt hậu và đần độn hơn.

Mỗi lần có ý nghĩ “tự ti mặc cảm” như vậy, tôi lại hay nghĩ đến các bậc ẩn tu với nếp sống của họ. Nghĩ đến Đức Kitô: ngoài những giờ phút rao giảng tin mừng, thường một mình tìm nơi vắng vẻ cầu nguyện. Thêm vào đó: tại trần gian này, hình như nhà thơ Nguyễn Khuyến trong một câu thơ bất hủ, có bàn về: cái khôn, cái dại: nói dại chưa chắc đã là dại, nói khôn chưa chắc đã là khôn. Thực ra câu thơ mang ý nghĩa ngược lại, cái kiểu chửi xéo thường tình của người đời:

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao”

Với những lý do trên, tự nhiên cái mặc cảm tự ti trong tôi biến mất, nhường chỗ cho sự cảm nhận thực tế, chính xác với sự cảm phục và lòng biết ơn đối với Đấng Bề trên đã định liệu cho tôi có được cuộc sống gần gũi với Thiên Chúa hơn.

(Còn tiếp)

Những điều ẩn chứa - Tân Hồn Thanh Thản.



Nguyễn Khuyến sau khi từ quan về quê sống ẩn dật, ngồi nhớ lại những điều mắt thấy tai nghe trong sự giao tiếp hàng ngày với đủ loại hạng người khi còn tại chức, ngán ngẩm than:

“Nghĩ đời lại chán cho đời nhỉ”

Nguyễn Du cũng đau xót không kém:
“Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”

Qua bài “Thế thái nhân tình”, Nguyễn Công Trứ đã lột ra hết sự thật của những sự tráo trở, bạc bẽo và giả dối ở người đời. Ông đã nhận ra: Tất cả những cái gì thuộc về đời sống con người đều là giả dối, đều là phù du trong cái kiếp sống thật ngắn ngủi:
“Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy,
Cảnh phù du, thấy cũng nực cười”

Đấy là hình ảnh của những cảnh tượng, cái lối đối xử giữa con người với nhau, từ quan quyền cho tới dân giã, đã diễn ra cách hàng mấy thế kỷ qua, chỉ cần mấy câu thơ trên, toàn cảnh xã hội thời đó như hiện nguyên hình thật sống động trước mắt chúng ta, thấy mà lòng ê chề ngao ngán.

Từ thời xa xưa đó đến nay, lòng người mỗi ngày một tồi tệ hơn, nham hiểm hơn, dối trá hơn. Sự dối trá đã tràn ngập lòng người, như vết dầu loang, thấm tới tận xương tận tủy, tận đáy tâm hồn. Hầu như người ta không còn đủ sức, không còn đủ can đảm nhìn vào sự thật, sống với sự thật của chính lòng mình, vì sự gian dối đã thực sự chiếm ngự, thống lãnh, phong tỏa mọi ngõ ngách, khiến con người không thể trỗi dậy được, nó như chất men gây mê cực mạnh, làm cho con người không thể có đủ sức chống lại. Ngay trong gia đình ta vẫn thường thấy: chồng dối vợ, vợ dối chồng, cha mẹ dối con cái, con cái dối cha mẹ, anh chị em dối gạt lẫn nhau. Nhưng có một điều (xin lưu ý) đáng sợ nhất, đáng đau xót nhất, đáng khinh bỉ nhất là: dối trá cả với chính mình, hoặc là không biết, hoặc là có biết cũng không cưỡng lại được trước sự mê hoặc đáng nguyền rủa của nó. “Sự nghiện ngập dối trá” đã trở thành như trái bom nguyên tử, phá hoại sạch sẽ tới tận trong tâm hồn. Từ đó gây ra biết bao điều đáng tiếc xảy ra trong xã hội, nó không chừa xã hội nào của bất cứ thể chế nào. Nếu kể ra thì cũng bằng thừa, vì nó đã hiển hiện ngay trước mắt chúng ta.

Sống trong môi trường hiện trạng như vậy, thử hỏi làm sao chúng ta có được sự thanh thản trong tâm hồn?!!! đó là điều khiến chúng ta phải trăn trở, phải suy nghĩ tìm ra bằng được giải pháp nào đó, hợp cho cả lý lẫn tình

Trước tiên muốn cho tâm hồn được thanh thản, điều kiện tiên quyết, đó là điều kiện căn bản, là con người phải có được sự tự do, tự do tuyệt đối, nhưng xét về tự do ta phải phân biệt được hai loại tự do:

Loại 1: “Có tự do và ý thức” trong sự quyết định lựa chọn và hành động.

Loại 1: “Có tự do và không ý thức” trong sự quyết định lựa chọn và hành động.

Luận bàn về hai loại nêu trên, ta nhận thấy không thể chấp nhận cái kiểu tự do không ý thức (loại 2) được, vì không ý thức, con người được xếp vào loại mất trí, nên sự lựa chọn và hành động chỉ là sự lựa chọn và hành động của người điên, nên nó sẽ đưa ta đến sự chết, nên bây giờ ta chỉ bàn tới loại thứ nhất: loại này là loại đúng với ý muốn của Thiên Chúa. Ngài có thể làm được bất cứ sự việc gì, kể cả việc tạo nên loài người chúng ta: toàn là những người công chính, chắc chắn Ngài làm được. Nhưng Ngài đã không làm như vậy, vì Ngài không muốn biến chúng ta thành những con rô bốt không hồn, mà Ngài muốn chúng ta, con cái của Ngài, phải được tự do trong sự hiểu biết, quyết định trong sự lựa chọn và hành động. Đó là sự tự do tuyệt đối, ý muốn của Ngài là: con người đến với Ngài phải được tự do (tự do tuyệt đối), tự giác, tự nguyện trong sự hiểu biết (ý thức), tuyệt đối không có một sự ràng buộc nào.

Kinh nghiệm của những người chuyên trách về xì ke ma túy: can đảm là yếu tố quan trọng nhất. những con nghiện vẫn có tự do: muốn tiếp tục hay bỏ hút chích tùy thuộc vào ý của họ. Họ vẫn có ý thức: biết được cái tai hại do nghiện ngập cho bản thân, cho gia đình cho xã hội, nhưng họ vẫn không đủ can đảm từ bỏ. cho nên muốn cai nghiện có kết quả, con nghiện phải có lòng can đảm rất cao, can đảm để cắt cơn: dù bị đau đớn thật vất vả, can đảm từ bỏ và xa lánh môi trường nghiện ngập, mặc dù cơ thể đang rất khát khao hưởng thụ những cảm giác mạnh, tâm hồn lâng lâng trong ảo giác đê mê, luôn luôn sẵn sàng chờ đón.

Con người sống trong hiện trạng cũng chẳng khác gì những con nghiện xì ke ma túy, họ nghiện sự dối trá. Con người hiện trạng muốn thoát khỏi cơn lốc đam mê, cũng cần và rất cần đến lòng quả cảm: dám nhìn vào sự thật, ví dụ như ta đam mê một đối tượng nào đó, ta hãy can đảm đưa lên mổ xẻ trên bàn ánh sáng, y như nhà khoa học mổ, phân chất xem thực chất nó là cái gì. Và cái thực chất này có đáng để ta phải đam mê hay không? Kết quả: sau rất nhiều lần thực tế cho chính bản thân, mới khám phá ra được một điều đáng ghi đậm vào trong tâm, là một bài học nhớ đời: sở dĩ ta đam mê là do sự dối trá, che chắn, sơn phết lên đối tượng, bản ngã thêm vào đó ảo ảnh, làm ta có cảm giác đó là sự thật, nên say mê đắm đuối, và khi đã say mê đắm đuối rồi, thì chẳng cần biết thật giả, chỉ cần biết hiện tại ta đang say mê, thế là đủ, là thỏa mãn. Đấy là ta chưa kể đến sự đòi hỏi của cơ thể theo sự lôi cuốn của ảo ảnh do bản ngã chi phối.

Khi đã can đảm nhìn vào sự thật và nhận ra sự thật thì mọi vấn đề được giải quyết, con người trở lại với bản chất của con người như Thiên Chúa tạo dựng. Trên thực tế, ta nên theo lời chỉ dậy của Đức Ki Tô : “Từ bỏ chính mình” từ bỏ chính mình tức là từ bỏ bản ngã, nguồn gốc của bản ngã là như thế này: hình ảnh của những sự việc, của những biến cố ở quá khứ dù vui hay buồn đều được ghi ở ký ức, thường những thất bại chua cay, những đau khổ tinh thần lẫn vật chất được ghi đậm nét hơn. Người ta gọi đó là những kỷ niệm, và do ảnh hưởng không mấy tốt đẹp của những kỷ niệm chồng chất rất lâu ngày trong ký ức, ký ức biến dạng thành bản ngã. Bản ngã chính là cái tôi, cái tôi phát triển vươn lên tự coi như là chủ thể (chính mình) với cá tính biệt lập riêng rẽ không muốn ai xâm phạm tới. Cái tôi rất yêu quý mình và cả những gì thuộc về nó. Chính sự biệt lập đó làm cho cái tôi trở nên cô đơn, lạc lõng, nên đâm ra hoảng sợ trước cái bao la của phi ngã (phi ngã là tất cả những gì không thuộc về bản ngã). Càng lo sợ cái tôi càng co rút lại để tự vệ. Tự vệ hữu hiệu là phải tấn công để chiếm hữu, càng chiếm hữu nhiều, cái tôi càng lún sâu hơn trong thất vọng, vì nó đã cố gắng chiếm hữu thật nhiều, nhưng chỉ toàn là cái không, cái phù du, nên cái tôi rút cục: oằn oại trong thất vọng, hận thù đời, hận thù cả với chính bản thân. Chúa Giêsu đã từng kêu gọi từ bỏ “chính mình”, ý muốn nói tới cái bản thân tù tội này. Hãy nghe lời Đức Ki Tô nói:
“Ngày mai cứ để ngày mai lo” (Mt: 6, 34)
Và:
“Cứ để kẻ chết chôn người chết” (Mt: 8, 23)
Tức Ngài khuyên chúng ta hãy sống ngay ở hiện tại, vì cuộc sống không diễn ra ở quá khứ hay tương lai.
Vì bản ngã (tôi) thuộc về quá khứ với những uất hận và kỳ vọng hảo huyền ở tương lai. Giả thử có đến được với tương lai theo ý nghĩ, thì tương lai đó đã biến thành quá khứ, và ta lại mộng tưởng xây dựng một chương trình lý tưởng cho tương lai nối tiếp, và cứ thế, suốt đời con người chỉ đuổi theo cái bóng của chính mình.

Vậy, từ bỏ chính mình (Theo Giêsu) là phải gạt bỏ bản ngã, tức là gạt bỏ tất cả ý nghĩ, ý tưởng, ước vọng đam mê. Can đảm gạt bỏ không luyến tiếc, gạt bỏ tất cả, chỉ còn lại cái tâm rỗng tuyết, không còn sự gì trong đó, thì tình yêu bừng nở. Với tình yêu này sẽ không còn những ưu tư , phiền muộn trong lòng, và tâm hồn trở nên thanh thản.

Những điều ẩn chứa - Nằm nghe cầu kinh.


Trong những đêm khuya thanh vắng, không một ánh trăng, bầu trời sương mù dày đặc, nhất là khi trời mưa tầm tã. Đang cơn ngủ say, tôi giật mình thức giấc, sửng sốt nhưng vẫn nằm im, cố lắng nghe những tiếng cầu kinh từ đâu vọng tới, lúc đầu hơi nhỏ và không rõ, rồi mỗi lúc một lớn hơn và rõ ràng hơn, của một số đông người đọc, có cả những kinh quen thuộc tôi vẫn đọc hàng ngày, có cả những kinh cầu, kinh Phục rĩ khó hiểu đã rất lâu tôi không đọc, chỉ nhớ lõm bõm, nên nhẩm đọc theo để ôn lại. có những đoạn bị đứt quãng như bị sóng nhiễu rồi lại được tiếp tục nghe rõ. Sau cùng tôi không còn nghe được nữa, mặc dù đã cố gắng tập trung tư tưởng lắng nghe. Sự việc này xảy ra không phải một lần, mà nhiều lần như vậy. Lúc đầu tôi cứ đinh ninh: những tiếng cầu kinh đó xuất phát từ nhà thờ nào đó gần nơi tôi ở, nhưng thực sự không phải vậy, vì thường vào giờ giấc đó, không hề có nhà thờ nào mở cửa, có đôi lần vì tò mò, đang khi nghe đọc kinh, tôi ngồi dậy cố lắng nghe xem từ nhà thờ nào đó, mà không phải! nó xuất phát từ trên bầu trời xuống. sự việc lạ lùng này khiến tôi trăn trở, suy nghĩ không ít!.

Với tài kém trí đoản như tôi, càng suy nghĩ càng thêm trăn trở đến nhức đầu. nếu không nhờ Kinh thánh hé lộ, khi tôi đọc đoạn nói về những diễn tiến cuộc sáng tạo trời đất của Thiên Chúa, thì không bao giờ tôi đủ khả năng khám phá ra được:

Vậy Đức Chúa tạo khoảng không để ngăn cách giữa “nước dưới khoảng không” với “nước trên khoảng không”. Đức Chúa Trời gọi khoảng không là bầu trời.
Đức Chúa Trời phán: “nước dưới bầu trời hãy tụ lại một chỗ, và đất phải xuất hiện. Đức Chúa Trời gọi đất khô là đất, và nước tụ lại là biển” (St 1, 7-10)

Nước nguồn từ lòng đất, từ các khe núi chảy ra thành các con lạch, con sông đổ ra biển. nước biển, các dòng sông, ao, hồ, do thời tiết của bầu trời bốc hơi gọi là hơi nước, hơi nước bay lên kết tụ thành lớp dầy ở phía trên của bầu trời, lớp hơi nước này tự phản ứng tạo ra một lớp nước dầy, đó là “nước trên khoảng không”, nước này đổ xuống thấm vào lòng đất, từ lòng đất, nguồn nước lại theo những con lạch, con sông chảy ra biển, và chu kỳ này cứ tiếp tục tái diễn mãi, để bảo đảm sự sống muôn loài trên trái đất, biển cả, sông ngòi, ao hồ.

“Nước trên khoảng không” bao bọc kín bầu trời, che chắn những tia cực tím và làm giảm bớt sức nóng quá độ của mặt trời, có thể làm phương hại đến sự sống trên trái đất. “nước trên khoảng không” và “nước dưới khoảng không” như tấm kính phản chiếu được tia sáng và tiếng động. sự phản chiếu lại tiếng động người ta gọi là tiếng dội của âm thanh. Vì thế âm thanh của những lời cầu kinh vang lên “tầng nước trên khoảng không” từ đó dội ngược lại trên “nước dưới khoảng không” và cứ thế tiếng “âm thanh” dội lên dội xuống liên tục, nguồn tia sáng nếu chiếu lên “nước trên khoảng không” cũng có sự phản chiếu lên xuống như âm thanh, nhưng khi nguồn sáng tắt thì sự phản chiếu sẽ không còn nữa. trái lại, nguồn âm thanh của những lời cầu kinh được dội lên dội xuống liên tục, là vì tiếng dội của âm thanh trở thành nguồn âm thanh, nên mặc dù không còn đọc nữa, nhưng tiếng dội đó vẫn còn, và ta vẫn nghe được tiếng cầu kinh trong những đêm khuya dầy đặc sương mù hay cơn mưa tầm tã, là vì bầu trời lúc đó chứa khối lượng khá lớn hơi nước (hơi nước trong sương, nhất là mưa rơi là môi trường chuyển tải tiếng dội hữu hiệu) làm cho tiếng dội trở nên thông thoáng và dễ dàng hơn, còn trường hợp không sương dầy đặc, hoặc không mưa thì tiếng dội vẫn có, nhưng nó yếu nên tai ta không nghe được.

Tôi nghe được những tiếng cầu kinh do tiếng dội lại, chắc chắn nó không thể phát xuất từ hiện tại (đang đọc kinh), vì giờ giấc đó không nhà thờ nào đang mở cửa, và như trên tôi đã nói, nó phát từ tầng “nước trên khoảng không”, Như vậy âm thanh của những lời cầu kinh đó phải phát xuất từ quá khứ gần hay xa tôi không được biết. Trong khi nghe có những đoạn ngắn như bị sóng nhiễu là do tác động của sóng biển hoặc cơn gió mạnh trong bầu trời. Sau cùng không còn nghe được nữa là do thay đổi khí hậu trong bầu trời, và cũng ảnh hưởng không ít do vòng xoay của trái đất, nên tiếng dội trở lại không còn nằm trong phạm vi ta đang ở, mà nó chuyển qua vùng khác.

Lạy Chúa, trên đây là những lý luận dựa vào khoa học khảo cứu về tiếng động, nhưng khoa học nào cũng không ngoài sự sáng tạo của Thiên Chúa, nên chúng con tin tưởng đó là ẩn ý của Ngài là: nhắc nhở loài người chúng con luôn dâng lên Chúa những lời cầu nguyện. Lại xin cho chúng con hằng đêm được “nằm nghe cầu kinh”, nó như lời nhắn nhủ chúng con: luôn luôn hướng về Thiên Chúa.

Những điều ẩn chứa - Điểm tựa.


Một nhà bác học nào đó nói rằng: nếu ông ta có một điểm tựa thì chỉ cần một bàn tay có thể nâng cả khối nặng của trái địa cầu chúng ta đang sống. Vậy, điểm tựa là cái gì? Nó có giúp ích gì cho đời sống con người không? Và hiện nó đang ở đâu?... tôi chỉ biết mù mờ rằng: Nó như nguyên tắc đòn bẩy, là cái điểm ta dựa vào đó, để làm cái việc ngoài sức của con người, ngoài ra tôi không hề biết thêm gì nữa, nhưng thấy sự việc này nó hay hay, nên bộ óc tò mò của tôi háo hức tìm hiểu. linh cảm như thôi thúc, như mách bảo cho tôi biết: điểm tựa tôi đang nghĩ tới, tuy chưa biết xác thực về những ích lợi nó mang lại cho con người, nhưng chắc chắn nó mang lại nhiều ích lợi cho tôi, cho mọi người, nhờ nó có thể con người sẽ làm được những việc phi thường, cho nên bổn phận và trách nhiệm của ta là phải suy nghĩ để tìm hiểu cho thật rõ, nhờ thế đời sống con người mới được cải thiện hơn.

Tôi đã dày công suy nghĩ đủ phương cách tìm kiếm điểm tựa này, nhưng làm sao nó lại có quá nhiều khó khăn trắc trở đến với tôi như thế!!! Tôi ngẫm nghĩ nhà bác học nêu trên đã dày công tìm kiếm và ông ta đã thất bại. Còn tôi, tài trí kém cỏi, nên giờ đây: lòng đầy ngao ngán, chán nản, thất vọng hoàn toàn. Nhưng một “ý tưởng chợt đến” như có một năng lực từ trên hướng dẫn, nên tôi mới chợt nhớ đến đoạn Kinh thánh:

“Các tông đồ thưa với Chúa Giêsu rằng: “Thưa thầy xin thêm lòng tin cho chúng con” – Chúa đáp “Nếu anh em có lòng tin bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em”” (Luca: 17, 5-6)

Đọc lời Chúa nêu trên, tự nhiên tôi có một niềm tin là: đây chính là điểm tựa tôi đang muốn tìm kiếm.

Quả thực, niềm tin hoàn toàn đặt nơi Thiên Chúa, nó đưa đến một sự tin tưởng tuyệt đối vào sự quan phòng của Ngài, nó khiến cho tâm trí chúng ta được thảnh thơi vì tất cả đã tin tưởng phó thác cho Chúa, nên không còn những băn khoăn lo lắng chất chứa nặng trĩu trong lòng, nhờ vậy thân xác con người cũng cảm thấy nhẹ nhàng hơn. Thân thể khỏe mạnh, tâm trí sáng suốt, đời sống con người được thăng hoa kết trái nảy nở trọn vẹn, hạnh phúc thực sự. nhưng muốn có được niềm tin này, ta phải theo đúng lời Chúa Giêsu đã chỉ dẫn: “hãy lắng nghe và tuân giữ lời Chúa”, vì thế:

Niềm tin đặt hoàn toàn nơi Thiên Chúa, chính là điểm tựa của mỗi con người chúng ta.

Những điều ẩn chứa - Cầu Nguyện


Một buổi xế chiều, trên đường tìm nhà người bạn, ánh nắng đã dịu đi nhiều, nhưng tiết trời vẫn còn oi ả. Khát nước, tôi ghé vào một quán nhỏ nghèo nàn bên đường, gọi ly chanh đá, ngồi nhâm nhi, mà lòng thì suy nghĩ vẩn vơ, không định hướng. Bên kia đường là ngôi trường mầm non, tọa lạc trên một khuôn viên khá rộng rãi, được bao bọc bởi bức tường rào tương đối cao, cổng vẫn còn đóng kín. Nhìn vào phía trong, một dãy nhà lớn cao ráo khang trang, với mái tôn đỏ giả ngói trông thật xinh xắn, được ngăn ra thành nhiều phòng học, sân trường cement rất rộng được che mát bởi những cành lá của mấy cây bàng. Đó đây những xích đu, ghế treo, ghế đá, cầu tuột đủ loại, những kiốt trưng bày, nào là những trái banh đủ màu, nào là những vòng hu la húp, v.v… để các em vui chơi trong những giờ giải lao.

Một anh chàng vừa đến, ngồi gần tôi, kêu ly trà đá, chỉ nhấm nháp vài hớp rồi lại để xuống bàn. Mới đầu còn nôn nóng, hết nhìn đồng hồ rồi lại ngó qua cổng trường. biết giờ mở cửa chưa đến, anh chàng ngồi im lặng, mặt cúi xuống trầm ngâm, thình thoảng nhếch một nụ cười vui, như đang chăm chú ngắm nhìn hình ảnh nào đó hiện ra trong trí. Có lẽ đó là hình ảnh ngây thơ của đứa con, mường tượng ra sự sung sướng, nét mặt rạng ngời của đứa con sắp diễn ra khi nhìn thấy bố đến đón. Niềm yêu thương, nỗi nhớ nhung, tăng thêm phần háo hức, muốn được gặp ngay đứa con, nghe được những lời nói ngây thơ trong niềm vui sướng vô tận.

Vừa nghe tiếng chuông reo, báo giờ tan trường, mắt vụt sáng, vội vã trả tiền, rồi đi như lao đến cổng trường đứng chờ đợi, và khi cánh cổng vừa hé mở, anh chàng đã vội lách vào trong, chẳng bao lâu, tay cầm cặp sách, tay bồng con từ từ đi ra, anh chàng âu yếm nghe, như muốn nuốt từng lời nói của con. Tôi chằng nghe được cha con nói với nhau những gì, chỉ thấy người cha gật đầu lia lịa, ánh mắt toát lên niềm vui vô hạn, nét mặt tràn đầy hân hoan. Tôi nghĩ rằng: người cha đó đang chứa chan niềm hạnh phúc, không một hạnh phúc nào có thể so sánh được với niềm hạnh phúc đang tràn dâng trong lòng.

Chưa đầy một tiếng đồng hồ sau, không còn phụ huynh nào đến đón con em nữa, cánh cổng từ từ khép, trả lại một sự im lặng đáng sợ, và vì không còn các em bé trong đó, ngôi trường trở nên hoang vắng… không hồn. kèm theo cái nhìn hẫng hụt của tôi với tâm trạng man mác nỗi buồn… nuối tiếc xa xôi…

Bỗng tôi hơi rùng mình, linh cảm như có đôi mắt vô hình nào đó đang nhìn tôi, nhìn mọi người. tôi liên tưởng đến đôi mắt mỏi mòn chờ đợi của Thiên Chúa , đấng rất nhân lành, yêu thương loài người đến cực độ, chính vì tình yêu thương này, ngài đã đến, đang ước muốn, đang mong mỏi, đang chờ đợi chúng ta đến để Ngài được nghe những lời thủ thỉ tâm sự (cầu nguyện) cho nẩy nở trọn vẹn tình cha con. Nhưng chúng ta vẫn bội bạc, vẫn vô ơn, vẫn không màng đến sự đáp trả tình yêu thương Thiên Chúa đã dành quá nhiều cho loài người. thế mà Thiên Chúa vẫn cứ yêu thương, vẫn cứ chờ đợi trong im lặng khắc khoải và thì thầm trách yêu: “Ôi!!! Con yêul… con nỡ để cha sầu… hiu hắt… biết bao ngày đêm…”

Ta hãy đến với Thiên Chúa bằng tất cả lòng chân thành của tình yêu, để trước hết chúng ta thụ hưởng được trọn vẹn tình yêu của Ngài, nó khẩn thiết quan trọng vô cùng đối với con người chúng ta, và chắc chắn Ngài cũng vô cùng sung sướng, giang rộng đôi tay, sẵn sàng ôm vào lòng tất cả những đứa con biết chạy đến nương náu, khẩn cầu. Mỗi một lời nguyện cầu của chúng ta là một bông hoa được dâng lên, rất đẹp lòng Thiên Chúa

Ước chi đời sống chúng ta là cả một chuỗi dài vô tận những bông hoa muôn sắc mầu, tô thấm mãi nghĩa tình cha con thật đậm đà.
December 2009
S M T W T F S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31