Skip navigation.

tyconcon

always somewhere...

Sand Art !!! mit Theme: Zweiter Weltkrieg.



ab 6:50 mit "Nothing else Matter" ist ganz emotional :frown:

17 thói quen đang bị 'xóa sổ' trong thời đại số


Internet, điện thoại di động.. đã thay đổi thế giới theo hướng tích cực dù vẫn còn mặt hạn chế như biến cuộc sống của nhiều người thành địa ngục vì những hình ảnh bị phát tán trên mạng.




Báo Telegraph (Anh) đã liệt kê 50 điều đang bị công nghệ kết nối "giết chết", trong đó có nhiều thứ gần gũi với Việt Nam như:

1. Bày tỏ sự không đồng tình một cách nhã nhặn: Thường ai "dũng cảm" hoặc quá nóng giận mới to tiếng, làm ầm ĩ nơi công cộng, còn trên diễn đàn online, cả người điềm tĩnh nhất cũng có thể tuôn ra những lời khó nghe với người/ý kiến mà họ ghét.

2. Thưởng thức trọn vẹn một album: Người ta chỉ chọn và nghe những file nhạc mà họ thích nhất.

3. Đúng giờ: Chỉ cần gọi điện, bạn có thể biết người kia đang đi tới đâu, hoặc báo cho họ biết bạn có thể đến muộn.

4. Sự rụt rè khi lần đầu mua ấn phẩm "dành cho người lớn": Nội dung khiêu dâm lan tràn trên Internet khiến những chàng thanh niên mới lớn không cần hoặc không còn bối rối khi lần đầu ra cửa hàng mua các tờ báo "mát mẻ".

5. Đồng hồ đeo tay: Trừ khi chiếc đồng hồ đó thể hiện sự lịch lãm, sang trọng hay có ý nghĩa nhất định, nếu chỉ để xem giờ, người ta sẽ ngó vào điện thoại, laptop...

6. Thư tay: E-mail nhanh, rẻ, tiện lợi và dễ biên tập hơn với người dùng Internet.

7. Không cần nhớ nhiều: Số điện thoại mới được lưu vào danh bạ, ngày tháng các sự kiện lịch sử đã có Google và Wikipedia trợ giúp, một số học giả cho rằng trẻ em không cần học thuộc lòng nữa.

8. Thời gian chết: Bạn có còn dành hẳn 1-2 giờ ngồi lỳ bên cửa sổ ngắm trời mây? Có lẽ chỉ khi kết nối Internet bị ngắt, điện thoại hết pin mà không tìm thấy sạc còn TV đang hỏng.

10. Xem TV cùng nhau: Qua rồi những buổi tối sau giờ cơm, cả nhà quây quần trước màn hình vô tuyến xem thời sự, phim, văn nghệ... bởi mỗi phòng đã có một TV riêng, hoặc các thành viên còn bận vào mạng, nhắn tin với bạn bè...

11. Kết quả trận đấu muộn: Vài năm trước, nếu nhiều trận đấu bóng diễn ra cùng giờ, khán giả xem truyền hình chỉ biết ngay kết quả một trận, còn lịch chiếu những trận khác sẽ bị lùi lại. Ngày nay, tỷ số được cập nhật từng phút trên nhiều website và qua tin nhắn điện thoại.

11. "Mù" thông tin khi đi nghỉ: Bây giờ, ở đâu người ta cũng có thể biết được tình hình của bạn bè, người thân nhờ điện thoại, chat, mạng xã hội...

12. Thần tượng: Học trò từng coi giáo viên là "kho tri thức sống", bác sĩ là nguồn tham khảo tin cậy về sức khỏe..., nhưng hiện nay, có những người đi khám bệnh về vẫn lên Google để tra xem loại thuốc bác sĩ kê đơn có thực sự an toàn không.

13. Sự bí hiểm của ngoại ngữ: Các công cụ dịch thuật trực tuyến giúp họ hiểu gần hết mọi từ vựng.

14. Tính riêng tư: Thông tin người dùng đăng rải rác trên mạng, chẳng hạn những status, ảnh... ngẫu nhiên trên Facebook tưởng vô hại khi đặt riêng lẻ nhưng lại giúp người khác hiểu rất rõ về họ nếu biết cách kết nối và tổng hợp lại.

15. Sự tập trung: Ai có thể chuyên tâm vào công việc khi mà cứ 3-5 phút lại xuất hiện một thông báo nho nhỏ ở góc màn hình về một e-mail mới trong Gmail, bình luận mới ở Facebook hay một bản tin tại Google News?

16. Niềm vui sướng "vỡ òa" khi gặp nhau: Hội ngộ sau bao ngày xa cách luôn đem lại sự hân hoan. Nhưng mức độ sẽ hoàn toàn khác giữa việc hai người xa 5 năm mà chỉ liên lạc qua thư tay và vài cuộc điện thoại đường dài hiếm hoi với hai người chat với nhau cả ngày, "nói quên ngày tháng" qua Skype, cập nhật ảnh và mọi hoạt động từ việc ngủ dậy lúc mấy giờ đến chuyện vừa bị ngã xe qua Facebook.

17. Ra ngoài ăn trưa: Thói quen này không thể bị "xóa sổ" nhưng ngày càng nhiều người sẵn sàng ngồi lỳ trong văn phòng, vừa gặm bánh mỳ vừa duyệt mạng xã hội, nhất là ở những công ty chỉ cho phép truy cập web vào giờ nghỉ.

Lớp trưởng...kiểu Đức

Lớp trưởng...kiểu Đức

(sưu tầm: báo vietnamnet.vn)



Phải chăng chính nền giáo dục của họ ngay từ lớp 1, lớp 2 đã làm lớn dần lên những Merkel, Obama, Bush, Clinton, Schröder... cho đất nước?

Tôi có cháu gái đằng vợ tên là Thanh Hòa. Từ ngày học mẫu giáo, cháu vốn khoẻ mạnh, cứng cáp và thông minh. Khi cả bọn cùng lứa với kéo nhau lên lớp 1 trường Phan Phù Tiên, quận Thanh Xuân, Hạnh đương nhiên vẫn là đầu đàn, là lớp trưởng.

Gặp nhau năm Hòa lên lớp 2, vẫn với thành tích học tập tốt, vẫn lớp trưởng, qùa thưởng dịp đó rất to. Vui chuyện, hỏi cháu về nhiệm vụ lớp trưởng, Hòa bẽn lẽn: nào hô các bạn đứng dậy chào thầy cô, nào lo trực nhật, lau bảng, nhắc các bạn giữ trật tự trong lớp... nhiều lắm!

- Thế khi gặp các bạn ẩu đả, nghịch ngợm, chế diễu nhau ngoái lớp thì làm sao?- Bố Hòa hỏi chen vào.

- Thì báo cho cô chủ nhiệm biết, ạ.

- Thế lớp trưởng mắc khuyết điểm, có bạn nào mách cho cô giáo không?

- Có mà dám!

Nghe cháu trả lời, cả nhà nhìn nhau, lặng người, cười.

*

Phương Hiền, con gái tôi, học lớp 2 trường Friedrich-Reimann-Grundschule. Cô chủ nhiệm là bà giáo R.Lipka.

Đã vài lần gặp gỡ nên tại buổi họp phụ huynh đầu năm, từ ngoài cửa, bà đã tươi cười chào: "Lần này , ông có ý kiến gì góp cho lớp đây? Chúng ta có một giờ để trò chuyện cơ đấy!".

Khi đến lượt trao đổi trực tiếp, tôi hỏi: “Thưa bà, lớp 2A, cháu nào được chọn là lớp trưởng?”(cũng phải nói thêm do khả năng tiếng Đức mà tôi đã dùng từ “lớp trưởng” theo nghĩa hiểu của tiếng Nga, hoặc tiếng Hán Ban trưởng mà người Việt ta lâu nay vẫn hay dùng).

Thoáng một chút trầm ngâm, bà R.Lipka vui vẻ nói: “Tôi nghĩ là tôi đã hiểu câu hỏi của ông. Vì qua Phương Hiền được biết, ông từng là một đồng nghiệp. Lớp chúng tôi không có học sinh nào được chọn làm Obmann hay Chef cả. Ở tuổi cấp một, chúng còn qúa bé để phải chịụ thêm trách nhiệm về hành vi của một bạn khác, dù chỉ là nhắc nhở hoặc để ý rồi trình báo với thầy cô. Nếu phải chịu trách nhiệm thêm về một bạn khác, đứa trẻ dễ ngộ nhận nó có thêm quyền lực và ngược lại đứa bị giám sát sẽ có cảm giác yếm thế, lệ thuộc. Tất nhiên chữ “nếu” chỉ là hãn hữu, nhưng dù 1% chúng tôi cũng không cho phép xảy ra. Tôi nhận thêm lương giáo viên chủ nhiệm để chịu tòan bộ trách nhiệm về họat động của học sinh trong thời gian học tại trường. Trong lớp, mọi em đều được cô giáo phân công trách nhiệm với lớp như nhau".

Rồi bà giáo hơi mỉm cười, hỏi: “Theo ông, khi các vị phu huynh đều đóng phần thuế học cho con bằng nhau, ông có chấp nhận khi con ông bạn hàng xóm tự nhiên lại là “trưởng" của con mình không? Tất cả các vị phụ huynh của chúng tôi đều không chấp nhận, họ đòi hỏi sự công bằng. Mới vào lớp 1, lớp 2 mà đã có đứa được là "sỹ quan”, đứa là “lính" ư? Xin ông nhớ rằng, dù có tạo ra được một thủ lĩnh thì chúng ta đã đồng thời tạo ra một loạt những đứa nhút nhát và a dua, phụ thuộc thủ lĩnh. Đấy là chưa kể đứa trẻ - được tin cậy kia có nguy cơ bị nhiễm thêm thói xấu: nhòm ngó, mách lẻo, chỉ điểm... Giai đoạn đầu giáo dục cấp một, giúp hình thành chứ không nên định hình tính cách của trẻ.

R.Lipka liếc nhìn đồng hồ: “Giải đáp câu hỏi như vậy có đúng ý ông?”.

Tôi thành thật trả lời rằng rất muốn được nghe bà nói tiếp. Bà cười hiền hậu: “Tất nhiên, đề tài này phải có kết luận! Ông nên biết, khi làm đơn xin tiếp tục nghề dạy tiểu học, tôi đã bảo vệ chính đề tài này tại Hội đồng Phổ thông trung học. Tôi hiểu ngay câu hỏi của ông, vì chính chúng tôi cũng đã qua thời kỳ chuyển hoá Đông- Tây về giáo dục!”.

*

Từ năm lớp 5, trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm với lớp vẫn nặng nề như thế. Nhưng do học sinh đã lớn lên, cứng cáp hơn, nề nếp sinh hoạt, tư duy đa dạng nên trong tổ chức của lớp có thêm một chức danh là Klassensprecher. (Xin dịch là “Phát ngôn viên của lớp”).

Vì là chức danh nên nhất định Klassensprecher phải do lớp bầu với đa số tín nhiệm (không cần sự có mặt của các thầy cô).

Mọi học sinh trong lớp đều có quyền tự ứng cử họặc vận động bè bạn bỏ phiếu cho mình. Klassensprecher là cầu nối chỉ truyền đạt những thông tin được các bạn nhờ chuyển đến thầy cô hoặc ngược lại, không được truyền những thông tin cá nhân không được nhờ. (Nếu vi phạm bị coi là mách lẻo hoặc xâm phạm đời tư!).

Đề tài “Lớp trưởng” tưởng chỉ là một bài học có tính giáo dục, làm thay đổi tư duy bảo thủ của một nhà giáo cổ hủ, giáo điều như tôi.

Không ngờ, 5 năm sau, khi Phương Hiền vào học lớp 7, tôi lại được chứng kiến sự dân chủ, công bằng và rất giáo dục trong môi trường đào tạo của con mình qua đề tài đó.

Đây là cảm xúc chính để tôi kể lại câu chuyện cho bạn đọc hôm nay:

Học kỳ hai của lớp 7B trường trung học chuyên Charles-Darwin-Oberschule (Gymnasium), quận Trung tâm – Berlin.

Chiều nay, Phương Hiền tỏ ra đăm chiêu, ngồi cắm cúi viết . Thấy con bức xúc, tôi hỏi thì được biết: Jonoar phát ngôn viên lớp 7B phải theo mẹ hồi hương về Cu-ba nên lớp cần bầu một người thay thế. Đã có ứng viên là Magir - một bạn gái da mầu gốc Phi. Magir thành thạo tiếng Pháp - môn ngoại ngữ thứ hai mà nhiều bạn học còn yếu. Magir có năng khiếu bẩm sinh về hoạt động thể dục thể thao. Lời cam kết trước các bạn khi đề nghị bỏ phiếu cho mình của Magir là "Tôi sẽ liên hệ để có sự giúp đỡ của cô giáo dạy tiếng Pháp. Mỗi tuần lớp sẽ có một buổi hội thoại chủ đề Pháp ngữ tại Thư viện quận Trung tâm. Năm nay, trong tuần ngoại khóa, nếu các bạn ở lớp đồng tình, được cô chủ nhiệm chấp nhận, lớp sẽ chọn Paris là địa điểm đi tham quan dã ngoại giáo dục. Tôi xin chuẩn bị đề cương tham quan bằng tiếng Pháp và in gửi trước cho các bạn. Bản thân tôi cam kết sẽ hợp tác với các bạn trong lớp, nâng điểm tóan lên 2,5 để điểm trung bình các môn của tôi trong năm là 2,5. Ngoài ra, về thể dục thể thao, tất nhiên học kỳ này, lớp ta phải có một tờ thông báo nóng hổi WM 2006 tại Đức".

Đọc tờ rơi cam kết của ứng viên, tôi hỏi con gái:

- Magir như vậy, Phương Hiền sẽ thế nào?

- Con thích được thử sức. Trường con chưa có bạn người Việt nào nhận chức danh này. Nhiều bạn trong lớp đề cử con. Chúng nó bảo con cần viết Rede Wahl versprechen (lời cam kết của ứng viên chức danh phát ngôn viên).

- Tự con đánh gía về mình thế nào?

- Con tự tin. Con có học lực tốt nên có thể giúp đỡ được nhiều bạn về môn Toán, Đức văn, Điạ lý, Anh văn.

Còn môn lịch sử,con có thể có thêm sự giúp đỡ của bố để giúp lại các bạn.

- Hoạt động ngoại khóa?

- Tất nhiên chọn Paris làm tuần tham quan giáo dục là tuyệt vời. Chính Magir có thể cộng tác với con và các bạn trong nhóm Tây Âu học. Có hai ngày cắm trại dã ngoại, cô giáo rất ủng hộ việc đi chơi mỏ muối Eisenach và thăm nơi Hitler đã cất giấu hàng vạn bức tranh quý của các bảo tàng chúng cướp được trong chiến tranh.

Ngập ngừng một chút, Phương Hiền thổ lộ thêm một “chi tiết tranh cử” làm tôi bật cười: “Bố ạ, cả lớp con bỏ phiếu kín về món ăn khoái khẩu nhất - 83% phiếu kín khi mở ra ghi là “PHO". Các bạn sẽ góp tiền, nhờ bố giúp con, nói chú Hoàng chuẩn bị trước, một hai lần vào thứ 7 nào đấy, cả lớp đến ăn. Sẽ rất vui phải không bố?

Chuyện “lớp trưởng" đã đến đoạn kết. Hình ảnh các ứng viên tổng thống Mỹ dốc hết trí tuệ (kéo theo cả vợ con) để thu phục nhân tâm cử tri Mỹ trong các chiến dịch tranh cử cam go, công bằng cứ hiện lên trong óc tôi.

Phải chăng chính nền giáo dục của họ ngay từ lớp 1, lớp 2 đã làm lớn dần lên những Merkel, Obama, Bush, Clinton, Schröder... cho đất nước? Lớp 7B của con gái tôi , liệu mai này có ra đời những thủ lĩnh chân chính từ Klassenspecher?

*

Cháu gái Thanh Hòa kể cả mẫu giáo -đến nay đã 11 năm làm lớp trưởng. Tôi thầm hỏi tương lai của “lớp trưởng chuyên nghiệp” sẽ ra sao? Có "nghề lớp trưởng" rồi, sẽ giúp cho cháu gái tôi có được lợi thế gì khi các kỳ thi sắp tới?!

(Viết nhân khai giảng năm học 2009 - 2010)

*
Trần Đình Ngân (Đức)

Slumdog Millionnär !!!

Ein indisches Märchen

Quelle: www.süddeutsche.de

Mit dem Oscar-Film "Slumdog Millionär" wurden die Kinder Rubina und Azhar zu Stars. Aber was passiert, wenn die Kamerateams wieder weg sind? Shafiq Syed weiß es.
Von Dirk Peitz

Normalerweise zieht Shafiq Syed um halb sieben morgens die Haustür hinter sich zu. Seine Frau ist dann schon wach, doch die drei kleinen Kinder schlafen noch, auf dem Bett, das sich die ganze Familie teilt. Ein kleiner Raum für fünf, dazu Küche und Abstellkammer, zehn Quadratmeter insgesamt, das ist Shafiqs Zuhause. Die Gegend ist für indische Verhältnisse eine Kleinbürgersiedlung: keine Wellblechhütten, kaum Müll auf den Wegen aus roter Erde, der Strom fließt verlässlich, Wasser gibt es draußen aus dem Gartenschlauch. Die längste Zeit seines Lebens hat Shafiq von alldem nur geträumt.



Der Star aus Slumdog Millionaire

Wäre das ein normaler Morgen, dann würde sich Shafiq, ein kleiner, rundlicher Mann von 34, jetzt in seine Motor-Rikscha setzen, die halbe Stunde in die Stadt fahren und bis in den späten Abend kreuz und quer weiterfahren, bis genug Geld zusammen wäre für einen Tag, 200 Rupien vielleicht, drei Euro. Shafiq ist Rikschafahrer, er kutschiert Menschen durch Bangalore, die indische IT-Metropole. Shafiq selbst hat keinen Computer, wofür auch, er kann ja nicht schreiben.

Doch der 23. Februar 2009 ist kein normaler Tag. Um halb sieben morgens schaltet Shafiq den Fernseher an und weckt die Kinder. Am anderen Ende der Welt beginnt in Hollywood die Oscar-Verleihung. Shafiq fährt heute später los. Um kurz vor zehn indischer Zeit treten Rubina Ali und Azhar Ismail ins Rampenlicht. Auch der letzte und wichtigste Oscar, der für den besten Film, ist an Slumdog Millionär gegangen. Regisseur Danny Boyle und Produzent Christian Colson rufen ihre Schauspieler auf die Bühne, die neunjährige Rubina wischt nur kurz durchs Bild, der zehnjährige Azhar aber stellt sich gleich neben das Mikrofon, in das Colson jetzt seine Dankesworte spricht, die Kamera hat Azhar voll drauf. Acht Oscars für einen Film aus dem Armenhaus von Mumbai, Wahnsinn.

Rubina und Azhar sind die Einzigen aus Slumdog Millionär, die wirklich wissen, wie man im Slum lebt, sie hausen in einem, Garib Nagar, Bandra East, Mumbai. Das Märchen dieser Oscar-Nacht, so scheint es, wird für Rubina und Azhar nun im wirklichen Leben wahr. Nur wie ihr Märchen ausgeht, weiß noch niemand. In Bangalore sieht Shafiq den kleinen Azhar im Fernsehen und sieht sich selbst. Er schaltet den Fernseher aus und fährt arbeiten. Hoffentlich, denkt Shafiq, ergeht es ihnen nicht wie mir, hoffentlich vergisst man sie nicht. So wie man mich vergessen hat.




Shafig Syed heute als Rikschafahrer


Als sein Film 1988 in Cannes die Goldene Kamera für den besten Debütfilm gewann, hatte ihn seine Regisseurin Mira Nair nicht mitgenommen nach Südfrankreich. Auch nach Hollywood nicht, wo Salaam Bombay! 1989 für den Oscar nominiert war als bester ausländischer Film. Dabei war Shafiq nicht irgendwer, er war der Hauptdarsteller. Das Straßenkind Shafiq, gerade 13, ein dürres Häufchen Elend mit unendlich sehnsüchtigem Blick, spielte das Straßenkind Krishna, gestrandet in Mumbai, das damals noch Bombay hieß.

Krishna wollte im Film nichts anderes, als wieder nach Hause fahren zur Mutter, doch das Geld fürs Zugticket, das entriss ihm das Leben auf der Straße immer wieder. Salaam Bombay! war kein Märchen, sondern eine Tragödie. Die Oscar-Nacht von Slumdog Millionär liegt einige Monate zurück, als Shafiq Syed an einem feuchtwarmen Morgen ein schäbiges Frühstückscafé in der Nähe des Geschäftszentrums von Bangalore betritt, stumpfer Kachelboden, abgegriffenes Holzmobiliar, es riecht nach Masala und süßem Tee, Shafiqs Lieblingsladen. Die neuen Coffeeshops in der Stadt, die nach Starbucks aussehen, aber bloß Kopien von Starbucks sind, mag er nicht. Besser gesagt: Er traut sich nicht rein.

Shafiq trägt die Uniform der Rikschafahrer, olivfarbenes Hemd, olivfarbene Hose. Zwei Jahrzehnte sind vergangen seit Salaam Bombay!, Shafiqs Haare sind dünn geworden, Bartfusseln stehen ihm überm Mund, sein Gesichts ist rund und schrammig. Aber wenn man sich das alles wegdenkt, dann sieht man: Der Blick ist noch der gleiche, die Sehnsucht ist noch da, sie ist nur matter geworden. Shafiq ist gekommen, um sein Leben zu erzählen, seine Version der Wahrheit.

Shafiqs Geschichte beginnt auf dem Steinboden vor Churchgate, dem südlichsten Bahnhof Bombays, einem mächtigen verwitterten Bau aus der Kolonialzeit, überlaufen bei Tag, schummrig bei Nacht, Treffpunkt und Schlafplatz der Straßenkinder von Bombay. Es war das Jahr 1987. Shafiq, dürr und ausgezehrt, ein zwölfjähriger Lumpensammler, war am Bahnhof Churchgate gestrandet, vor Monaten fortgelaufen von zu Hause. Vater, Mutter, neun Geschwister waren tausend Kilometer weit weg, in Bangalore.Ein indisches Märchen Mit dem Oscar-Film "Slumdog Millionär" wurden die Kinder Rubina und Azhar zu Stars. Aber was passiert, wenn die Kamerateams wieder weg sind? Shafiq Syed weiß es. Von Dirk Peitz Normalerweise zieht Shafiq Syed um halb sieben morgens die Haustür hinter sich zu. Seine Frau ist dann schon wach, doch die drei kleinen Kinder schlafen noch, auf dem Bett, das sich die ganze Familie teilt. Ein kleiner Raum für fünf, dazu Küche und Abstellkammer, zehn Quadratmeter insgesamt, das ist Shafiqs Zuhause. Die Gegend ist für indische Verhältnisse eine Kleinbürgersiedlung: keine Wellblechhütten, kaum Müll auf den Wegen aus roter Erde, der Strom fließt verlässlich, Wasser gibt es draußen aus dem Gartenschlauch. Die längste Zeit seines Lebens hat Shafiq von alldem nur geträumt. Der Star aus Slumdog Millionaire Wäre das ein normaler Morgen, dann würde sich Shafiq, ein kleiner, rundlicher Mann von 34, jetzt in seine Motor-Rikscha setzen, die halbe Stunde in die Stadt fahren und bis in den späten Abend kreuz und quer weiterfahren, bis genug Geld zusammen wäre für einen Tag, 200 Rupien vielleicht, drei Euro. Shafiq ist Rikschafahrer, er kutschiert Menschen durch Bangalore, die indische IT-Metropole. Shafiq selbst hat keinen Computer, wofür auch, er kann ja nicht schreiben. Doch der 23. Februar 2009 ist kein normaler Tag. Um halb sieben morgens schaltet Shafiq den Fernseher an und weckt die Kinder. Am anderen Ende der Welt beginnt in Hollywood die Oscar-Verleihung. Shafiq fährt heute später los. Um kurz vor zehn indischer Zeit treten Rubina Ali und Azhar Ismail ins Rampenlicht. Auch der letzte und wichtigste Oscar, der für den besten Film, ist an Slumdog Millionär gegangen. Regisseur Danny Boyle und Produzent Christian Colson rufen ihre Schauspieler auf die Bühne, die neunjährige Rubina wischt nur kurz durchs Bild, der zehnjährige Azhar aber stellt sich gleich neben das Mikrofon, in das Colson jetzt seine Dankesworte spricht, die Kamera hat Azhar voll drauf. Acht Oscars für einen Film aus dem Armenhaus von Mumbai, Wahnsinn. Rubina und Azhar sind die Einzigen aus Slumdog Millionär, die wirklich wissen, wie man im Slum lebt, sie hausen in einem, Garib Nagar, Bandra East, Mumbai. Das Märchen dieser Oscar-Nacht, so scheint es, wird für Rubina und Azhar nun im wirklichen Leben wahr. Nur wie ihr Märchen ausgeht, weiß noch niemand. In Bangalore sieht Shafiq den kleinen Azhar im Fernsehen und sieht sich selbst. Er schaltet den Fernseher aus und fährt arbeiten. Hoffentlich, denkt Shafiq, ergeht es ihnen nicht wie mir, hoffentlich vergisst man sie nicht. So wie man mich vergessen hat. Shafig Syed heute als Rikschafahrer Als sein Film 1988 in Cannes die Goldene Kamera für den besten Debütfilm gewann, hatte ihn seine Regisseurin Mira Nair nicht mitgenommen nach Südfrankreich. Auch nach Hollywood nicht, wo Salaam Bombay! 1989 für den Oscar nominiert war als bester ausländischer Film. Dabei war Shafiq nicht irgendwer, er war der Hauptdarsteller. Das Straßenkind Shafiq, gerade 13, ein dürres Häufchen Elend mit unendlich sehnsüchtigem Blick, spielte das Straßenkind Krishna, gestrandet in Mumbai, das damals noch Bombay hieß. Krishna wollte im Film nichts anderes, als wieder nach Hause fahren zur Mutter, doch das Geld fürs Zugticket, das entriss ihm das Leben auf der Straße immer wieder. Salaam Bombay! war kein Märchen, sondern eine Tragödie. Die Oscar-Nacht von Slumdog Millionär liegt einige Monate zurück, als Shafiq Syed an einem feuchtwarmen Morgen ein schäbiges Frühstückscafé in der Nähe des Geschäftszentrums von Bangalore betritt, stumpfer Kachelboden, abgegriffenes Holzmobiliar, es riecht nach Masala und süßem Tee, Shafiqs Lieblingsladen. Die neuen Coffeeshops in der Stadt, die nach Starbucks aussehen, aber bloß Kopien von Starbucks sind, mag er nicht. Besser gesagt: Er traut sich nicht rein. Shafiq trägt die Uniform der Rikschafahrer, olivfarbenes Hemd, olivfarbene Hose. Zwei Jahrzehnte sind vergangen seit Salaam Bombay!, Shafiqs Haare sind dünn geworden, Bartfusseln stehen ihm überm Mund, sein Gesichts ist rund und schrammig. Aber wenn man sich das alles wegdenkt, dann sieht man: Der Blick ist noch der gleiche, die Sehnsucht ist noch da, sie ist nur matter geworden. Shafiq ist gekommen, um sein Leben zu erzählen, seine Version der Wahrheit. Shafiqs Geschichte beginnt auf dem Steinboden vor Churchgate, dem südlichsten Bahnhof Bombays, einem mächtigen verwitterten Bau aus der Kolonialzeit, überlaufen bei Tag, schummrig bei Nacht, Treffpunkt und Schlafplatz der Straßenkinder von Bombay. Es war das Jahr 1987. Shafiq, dürr und ausgezehrt, ein zwölfjähriger Lumpensammler, war am Bahnhof Churchgate gestrandet, vor Monaten fortgelaufen von zu Hause. Vater, Mutter, neun Geschwister waren tausend Kilometer weit weg, in Bangalore.

Slumdog Millionnär !!!

Hồi kết nào cho chuyện cổ tích Slumdog millionaire ?

Trích: bài báo đăng trên www.tuoitreonline.com.vn

Ngày 23-2-2009 là một ngày đặc biệt đối với Shafiq Syed - một người lái xe xích lô máy chở khách ở thành phố Bangalore (Ấn Độ). Vào lúc 6g30, thay vì rời khỏi nhà đi làm, anh bật tivi và đánh thức vợ cùng ba đứa con dậy sớm hơn thường lệ. Ở đầu kia của thế giới bắt đầu diễn ra lễ trao giải Oscar

Lúc gần 10g sáng, tên của Slumdog millionaire (Triệu phú khu ổ chuột) được xướng lên. Bộ phim được quay tại khu ổ chuột của thành phố Mumbai đã giành giải thưởng danh giá nhất: Oscar cho phim hay nhất của năm. Đạo diễn Danny Boyle và nhà sản xuất Christian Colson gọi các diễn viên cùng họ làm nên thành công lên sân khấu. Rubina Ali và Azhar Ismail - hai đứa trẻ sống thật sự tại khu ổ chuột Garib Nagar, quận Bandra East của Mumbai - toả sáng rạng rỡ trong ánh hào quang của danh vọng được truyền đi khắp thế giới. Chúng dường như là nhân vật chính của một câu chuyện cổ tích có hậu.

Nhưng liệu rằng chúng có sớm bị lãng quên? - Shafiq tự hỏi.

Sự đồng cảm



Shafiq ngày nay



Shafiq hiểu rõ điều đó có ý nghĩa như thế nào. Hai mươi năm trước, bộ phim Salaam Bombay! của nữ đạo diễn trẻ Mira Nair đã gây tiếng vang thế giới với giải Phim đầu tay hay nhất tại liên hoan phim Cannes 1988 và được đề cử giải Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất tại Oscar 1989.

Vai diễn chính trong phim do Shafiq thể hiện - một cậu bé lang thang tại Bombay (tên cũ của Mumbai) với ước muốn duy nhất là được trở về nhà với mẹ, nhưng không có tiền mua vé tàu. Khi 12 tuổi, Shafiq sống vất vưởng ở nhà ga Churchgate tại Bombay và nhờ ánh mắt buồn thảng thốt, cậu may mắn được chính đạo diễn Mira Nair chọn làm diễn viên chính trong số những đứa trẻ lang thang không nhà, sau một cuộc tuyển lựa gắt gao. Với 12.000 rupi tiền cátxê (khoảng 4,5 triệu đồng), cậu hăm hở về thăm nhà tại một khu ổ chuột ở Bangalore, mua quà cho cha mẹ và chín anh chị em. Khi rút những tấm hình kỷ niệm về vai diễn ra khoe gia đình, cậu tự tin rằng mình sẽ nổi tiếng.

Sự nổi tiếng của hai thập kỷ trước khác nhiều với sự vây quanh của truyền thông và cánh săn tin giật gân bây giờ: Hình ảnh Shafiq trên một tấm áp phích lớn treo mặt tiền rạp chiếu phim đối diện nhà ga cậu thường ngủ qua đêm. Một tấm huy chương cho vai diễn trẻ em hay nhất do đích thân tổng thống Ấn Độ trao tặng. Ba đêm ngủ trong một phòng khách sạn sang trọng. Nhưng buổi sáng sau lễ trao giải, Shafiq được yêu cầu rời khỏi khách sạn, vì căn phòng chỉ được trả tiền cho ngần ấy đêm.

Trở lại Bombay, Shafiq đi tìm đạo diễn Mira Nair, người trong thời gian quay phim đã gần như trở thành một người mẹ thứ hai của cậu. Nhưng khắp nơi cậu chỉ nhận được một câu trả lời: “Cô ấy đang ở Mỹ, ở Hollywood”. Cậu về sống tại nhà ga Churchgate, không quên thổ lộ ước muốn trở thành diễn viên nổi tiếng của mình khi được nhà báo nào tìm đến hỏi thăm. Cậu gõ cửa cơ sở từ thiện Salaam Baalak Trust - một tổ chức được Mira Nair thành lập từ một phần lợi nhuận của phim để giúp đỡ trẻ em không nhà ở Mumbai có một chỗ ngủ và học tập. Câu trả lời vẫn là: “Cô ấy đang ở Mỹ, ở Hollywood”. Và cậu đã quá tuổi để nhận được sự trợ giúp của tổ chức.

Shafiq ơi, anh có biết rằng, căn phòng khách sạn của Rubina và Azhar ở Hollywood cũng chỉ được trả bốn đêm? Rằng hai đứa trẻ cũng gọi đạo diễn Danny Boyle là “chú Danny”? Rằng đạo diễn cùng với nhà sản xuất cũng thành lập một tổ chức từ thiện tên Jai Ho Trust với nửa triệu bảng Anh để giúp đỡ trẻ em nghèo của Mumbai?

Shafiq ơi, anh có biết, Azhar cũng nói muốn được tiếp tục đóng phim khi được hỏi muốn làm gì trong cuộc sống. Và sau đó thằng bé hỏi lại: “Bao giờ thì chú Danny sẽ tới?”

Shafiq ơi, anh có biết rằng, chú Danny vẫn chưa trở lại. Ông ấy ở rất xa, cũng như Mira Nair từng ở rất xa, khi anh cần đến cô ấy?

Sự thật nào?

Giữa tháng 5-2009, toàn thế giới biết tin túp lều của gia đình Azhar bị cưỡng chế kéo sụp. Thông tin đúng, nhưng chưa đủ. Túp lều của gia đình Azhar vẫn thường bị kéo đổ hàng năm, như các túp lều hàng xóm khác. Bởi vì tất cả các túp lều đều được dựng tạm bợ vào một bức tường mà ở phía bên kia là kênh dẫn nước thải bẩn thỉu bốc mùi, nơi chứa rác của tất cả cư dân khu ổ chuột.

Azhar và Rubina cùng đạo diễn Danny Boyle vui mừng với tượng Oscar cho phim Slumdog Millionaire

Một lần mỗi năm khu này bị san bằng, để lấy lối đi cho một cần cẩu đến thông kênh dẫn nước thải ngập ứ bởi rác rưởi. Một ngày sau chiến dịch, các cư dân của nó quay lại dựng nên những túp lều tạm bợ mới cho một năm tới.

Sự nổi tiếng bất ngờ của Rubina và Azhar bỗng nhiên trở thành miếng mồi béo bở cho những người vây quanh các em: cha mẹ, cánh nhà báo moi tin giật gân và những kẻ môi giới giữa họ. Tất cả cùng làm tiền với hai em. Có sự thật nào quanh những tin tức giật gân thường xuyên về hai đứa trẻ? Có phải cha của Rubina muốn bán em cho một ông hoàng giàu có Trung Đông? Có phải mỗi gia đình của hai em được một người Ấn Độ hảo tâm tặng một căn hộ? Hãy quên đi sự thật, Shafiq ơi. Mỗi kẻ trong cuộc có một sự thật riêng. Và những đứa trẻ đã mất đi sự thơ ngây từ lâu.

Kết thúc nào?

Điều gì sẽ xảy ra với hai em? Liệu các em có một kết cục giống như Shafiq, khi cậu thất vọng rời khỏi cơ sở từ thiện của Mira Nair và đi thẳng ra bãi biển của thành phố Bombay, một mình ra xa đến khi cậu không thể đứng được nữa. Người đàn ông cứu cậu khỏi chết đuối hét vào tai cậu: “Quên phim ảnh đi! Quên Bombay đi! Về quê đi!” Shafiq nhảy lên chuyến tàu kế tiếp về Bangalore, không vé tàu, như một kẻ vô danh giống lúc cậu ra đi ba năm về trước.

Còn hàng triệu đứa trẻ như Shafiq, Rubina và Azhar đang ngày đêm sống một cuộc sống không danh vọng ở khu ổ chuột. Liệu rằng có lối thoát nào cho các em mà không cần phải trở nên nổi tiếng?

---------------

Theo MẠNH CƯỜNG VŨ (tổng hợp từ Ein indisches Märchen, tạp chí Süddeutsche Zeitung)

^^


TRỜI MƯA

Trời mưa bong bóng phập phồng
Mẹ đi lấy chồng con ở với ai
U buồn con sợ ngày mai
Hai hàng nước mắt đổ dài như mưa.

Trời mưa bong bóng phập phồng
Chị đi lấy chồng em ở với ai
Căm thù cái lũ con trai
Chí hèn tài thấp chọn sai bạn đời

Trời mưa bong bóng phập phồng
Em đi lấy chồng anh ở với ai
Mối tình nay đã nhạt phai
Nghĩ buồn thân phận của hai chúng mình

Trời mưa bong bóng phập phồng
Cái sự lấy chồng muôn thuở vẫn sai
Nghìn năm vẫn chuyện bi hài
Có thằng còn bị làm hai lần chồng.

^^

"Trời mưa bong bóng phập phồng...
Má đi lấy chồng con ở với ai?"
- Con về ở với nội hai
Vô nam má kiếm được trai má về!

Trời mưa bong bóng phập phù...
Má đã đi rồi ba ngủ với ai?
- Ba mày ngủ với dì hai
Còn không ổng ngủ với chai rượu nồng.

Trời mưa nước chảy lòng vòng
Má đi lấy chồng, ba có dì hai
Khổ thân cho đứa con này
Nữa đêm khát sữa không ai khuấy giùm.

Trời mưa nước chảy tùm lum
Ai nhìn thấy mẹ nhắn giùm cháu tôi
- Mẹ ơi kiếm được chồng rồi
Nhớ chừa "chút thịt" làm mồi bố xơi.

Trời mưa nước chảy khơi khơi
Lấy chồng mẹ có cả đời nhớ con?
Rồi mai nước chảy đá mòn...
Chán chồng mẹ lại vì con quay về.

Trời mưa nước chảy phủ phê

^^

Lười hết nói

Anh chàng lười nằm há miệng dưới gốc cây sung. Một quả sung rơi vào miệng nhưng anh chàng vẫn nằm nguyên, không động đậy.

Người qua đường thấy vậy bèn hỏi:

- Sao anh không ăn nó đi?

- Tôi đang chờ quả nữa rơi, để đẩy quả này xuống.

^^

100 điều may mắn

TT - Ông Bùi Bách Tường, thợ sửa khóa ở 617 Cách Mạng Tháng Tám (Q.3, TP.HCM), đang hí hoáy bên cuốn từ điển Anh - Việt thì một người đàn ông chạy xe tới. Người khách đưa cho ông ổ khóa cũ rồi quơ tay làm nhiều động tác trong không khí.

Ông cũng “múa” tay một hồi rồi gật gật đầu, thoăn thoắt tra cọng dây kẽm vào ổ khóa, ngoáy ngoáy chưa tới một phút, ổ khóa bật mở. Mất thêm bảy phút để đánh hai chìa khóa mới coóng còn lấm tấm bụi sắt. Người khách tra chìa mới vào ổ khóa mở thử, cả hai chìa đều mở tanh tách.





Mở cánh cửa thế giới

Sáu năm nay, người thợ sửa khóa bị câm điếc có cái tên mang ý nghĩa “100 điều may mắn” ấy đã quá quen với người dân trên đường Cách Mạng Tháng Tám (Q.3). Khách đến tiệm sửa khóa của ông đa số là khách quen. Nhiều người dân ở gần đó cứ bị mất chìa hoặc ổ khóa hư là đến tận nơi gọi ông tới nhà sửa khóa. Trong hộc tủ “kiếm cơm” của ông có hẳn một xấp giấy và cây bút để trao đổi với khách lạ. Nhiều người vì tò mò và vì thích tốc độ mở khóa rất nhanh của người thợ đặc biệt ấy mà học ngôn ngữ của người câm điếc để nói chuyện với ông.

Trong khi nhiều thợ sửa khóa khác làm chìa mới bằng máy cho nhanh chóng thì ông Tường vẫn tỉ mẩn với cách làm thủ công bằng tay (lấy thanh sắt giũa từng nấc chìa khóa). Người thợ câm điếc ấy làm nhiều người phục lăn bởi tốc độ mở khóa của mình. Các loại khóa của Trung Quốc, Việt Nam... khi có người nhờ, ông chỉ ngoáy ngoáy cọng kẽm vào lỗ, chưa tới một phút là ổ khóa bật tung ngay. Còn ổ khóa hiệu Yale (Mỹ) chỉ 10 phút là xong. “Quanh đây có chừng tám tiệm sửa khóa nhưng các tiệm khác làm chìa bằng máy. Chỉ có ổng là cổ lỗ sĩ làm bằng tay.

Nhưng coi vậy mà ngon. Chìa ổng làm răng cưa sắc, ngọt và khớp với ổ lắm, đút chìa vô là mở cái “cách” ngon lành” - bác Nguyễn Thành Có, một người khách quen của ông Tường, nói. Năm 2007, ông Tường nghĩ ra việc phải in danh thiếp. Ông giải thích: “Phải in để khách biết. Lỡ khách bị mất chìa mà không gặp tui ở đây (số 617 Cách Mạng Tháng Tám, Q.3) thì gọi điện thoại về nhà má tui hoặc con gái út ghi lại địa chỉ rồi kêu tui về làm. Tui nhận làm tận nhà lận mà”.

Năm 2004, ông Tường bắt đầu tập chat với ông bạn người Mỹ cũng bị câm điếc nhưng biết chút ít tiếng Việt. “Ổng nói ổng chán tui và hỏi tại sao tui thông minh, chăm chỉ như vậy nhưng lại không chịu học tiếng Anh để nói chuyện với ổng. Thế là tui vô nhà sách mua quyển dạy những từ cơ bản về học” - ông Tường kể. Ông bắt đầu học từ vựng tiếng Anh, lấy tiền sửa khóa “đầu tư” hàng chục cuốn từ điển và giáo trình rồi tự học.

Mỗi ngày, tranh thủ lúc vắng khách, ông lôi từ điển ra học từ vựng. Ngày nào ông cũng dành ba giờ để học từ mới và ôn từ vựng cũ. “Thích lắm. Càng học càng thích” - ông ghi ra giấy rồi nhoẻn cười, gật gật đầu. Từ những câu giao tiếp bập bẹ ban đầu, ông thường xuyên tập chat với người bạn ở Mỹ bằng tiếng Anh. Ông không ngần ngại làm quen với những người bạn mới đến từ Philippines, Hà Lan, Đức, Pháp... để luyện tập. Hai năm sau, ông đã có thể giao tiếp tự tin bằng tiếng Anh với những người bạn nước ngoài. Thế giới rộng mở ra trong cách nhìn của ông.

Tranh thủ những lúc không có khách, ông Tường cặm cụi ôn lại từ vựng tiếng Anh và học thêm từ mới - Ảnh: My Lăng

Cái tên không như số phận

Một trong những cuốn sổ tay ghi lại từ vựng tiếng Anh và những câu giao tiếp thông dụng của ông Tường

“Tôi có chín đứa con thì một đứa chết khi còn bé. Thằng Tường là con thứ tư. Hồi đó đông con quá nên lúc thằng Tường còn nhỏ, tôi không có thời gian trông nom suốt ngày. Nó ngã từ trên giường xuống đất nhiều lần lắm, không biết có phải vì vậy mà nó câm điếc hay không.

Lúc sinh, chồng tôi đặt tên cho nó là Bách Tường vì muốn nó được hưởng 100 điều may mắn. Nhưng tội nghiệp nó, toàn cái xui xẻo ở đâu ập vào thôi. Được cái nó câm điếc nhưng thông minh, lanh lợi, hoạt bát lắm” - bà Trịnh Muội Kính (84 tuổi), mẹ của ông Tường, kể.

Tuổi thơ của ông Tường lặng lẽ trôi qua quanh những góc tường nhỏ bé trong con hẻm 462 (đường Cách Mạng Tháng Tám,Q.3). Cô đơn, buồn bã, chàng trai quyết định học nghề nuôi sống mình. Năm 16 tuổi, Tường tới tiệm sửa khóa số 771 Cách Mạng Tháng Tám xin học nghề. Thầy dạy chính là người bạn thân cùng cảnh ngộ tên Sơn, hơn Tường 4 tuổi. Một năm sau, Tường hớn hở mở tiệm sửa khóa ở chợ Tân Bình. Không có khách. Tường kiên nhẫn chuyển qua bốn địa điểm khác ở quận 3, quận Tân Bình, quận Tân Phú nhưng vẫn ế. “Tui nghĩ phải biết viết chữ để nói chuyện với người ta thì mới có khách. Vậy là tui học viết” - ông nói.

Năm đó Tường 19 tuổi, bắt đầu miệt mài, cặm cụi học bảng chữ cái và tập viết chữ, đi đâu cũng nhìn những ký tự lòng ngòng trên các bảng hiệu ở nhà hàng, quán cà phê, nhà may, bản đồ chỉ đường... rồi tập đọc, tập hiểu nghĩa của nó. Nhặt được tờ giấy trắng nào, bất cứ ở đâu, Tường cũng hí hoáy tập viết. Hơn hai năm sau, Tường đã có thể diễn đạt suy nghĩ của mình ra giấy một cách nhuần nhuyễn. Dần dần, khách tìm đến Tường để sửa khóa ngày một nhiều hơn. Bây giờ, ông Tường khoe mỗi ngày trung bình kiếm được 100.000-150.000 đồng. “Khách của tui ở đây chủ yếu là khách quen lâu năm rồi. Họ tìm đến tui có thể vì tui là thợ sửa khóa câm điếc vui vẻ” - ông Tường dí dỏm "nói".

Năm 1987, trong một lần lang thang ra chợ Bến Thành mua quần áo, ông Tường gặp Nguyễn Thị Lạc - cô gái câm điếc mồ côi cả cha lẫn mẹ - đang bán áo quần. Người con gái Mỹ Tho 33 tuổi rất đẹp, trắng trẻo và hiền lành ấy đã hút hồn chàng trai 28 tuổi. Họ thương nhau rồi dắt díu về ra mắt gia đình anh. Họ thuê phòng trọ ở chợ phường 18 thuộc quận Tân Bình (nay là phường Phú Thạnh, Q.Tân Phú). Ngày nào cũng 7g sáng, người chồng lọc cọc đẩy xe sửa ổ khóa ra chợ, còn vợ ở nhà nội trợ.

Thu nhập bấp bênh, nhiều lúc rất khó khăn. “Nhưng vợ chồng tui sống với nhau rất hạnh phúc” - ông kể. 18 năm sau, người vợ đột ngột ra đi sau một cơn đau tim. Ông Tường cô đơn ở lại với ba cô con gái bé nhỏ. Ba cô con gái của họ rất xinh xắn và không bị khiếm khuyết như cha mẹ. Con gái lớn của ông là Bùi Kim Loan, 20 tuổi. 15g, Loan đi học tiếng Anh rồi vù đi làm thêm tới 23g mới đạp xe về tới nhà.

Cô thứ hai 17 tuổi, Bùi Kim Ngân, buổi sáng đi giúp việc nhà còn buổi chiều đi học. Cô út Bùi Kim Bông đang học lớp 7 Trường THCS Lương Thế Vinh (Q.3). Kim Bông càng lớn càng xinh đẹp và rất giống mẹ. Cô bé tự học ngôn ngữ của người câm điếc để nói chuyện với cha.

Hỏi ông Tường sao không đi bước nữa, người đàn ông 50 tuổi trầm ngâm một hồi rồi viết ra giấy: “Tui thương ba đứa nhỏ”.

MY LĂNG

--------------------------------------------------

^^

Trong một đời người, những việc mà chúng ta cần làm rất nhiều, nhưng không thể biến tất cả chúng thành hiện thực. Nhưng tôi cho rằng làm việc không nên tham nhiều, chỉ cần làm tốt 5 việc là đủ:




Việc thứ nhất: Đọc kỹ một cuốn sách. Sách hay có thể làm rung động trái tim của bạn mỗi lần chỉ một cuốn là đủ.



Việc thứ 2: Nắm vững một nghề. Giỏi một nghề sẽ làm cho cuộc đời của bạn thiết thực hơn và cũng đủ để nuôi sống gia đình bạn. Đừng xem nhẹ những việc nhỏ mọn. Nhỏ nhưng độc đáo cũng trở thành có giá trị.



Việc thứ 3: Có một gia đình hòa thuận. Người xưa nói: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Với số đông, trị quốc bình thiên hạ hơi xa xôi, nhưng xây dựng một gia đình hòa thuận là có thể làm được và hiện thực hơn rất nhiều. Gia đình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, nếu gia đình bạn là một thành viên tốt thì ngoài xã hội bạn không phải là người quá xấu được.



Việc thứ 4: Luôn mang những tình cảm tốt đẹp trong lòng. Chỉ cần lòng ta trong sáng thì thế giới nầy mãi mãi tràn ánh nắng mặt trời. Mà biện pháp duy nhất làm cho lòng được trong sáng là có một trái tim biết yêu, trong trái tim đó chỉ chứa đựng tình cảm tốt đẹp mà thôi .



Việc thứ 5: Làm một người tốt. Đừng coi việc thiện nhỏ mà không làm, đừng coi việc ác nhỏ mà làm. Làm nhiều việc tốt nho nhỏ dấn dần sẽ trở thành người tốt. Thế giới này có thể không cần nhiều anh hùng, nhiều thiên tài nhưng rất cần nhiều những người tốt.



Làm tốt 5 việc bình thường trên đây, cuộc đời bạn sẽ phát ra những ánh sáng kỳ diệu. Có thể cuộc đời bạn không oanh liệt nhưng lòng bạn chân thành, tất cả những việc cần làm bạn đã làm đủ, bạn đã sống đúng với mình, với cả thế gian này.

Mc 1

Người giỏi nhất và đau khổ nhất



Quelle: graphics8.nytimes.com/.../02tonk_650.jpg


TTCT - Cựu bộ trưởng quốc phòng có thâm niên lâu nhất tại Lầu Năm Góc (1961-1968) là Robert McNamara (Mc) vừa qua đời tại nhà riêng ngày 6-7-2009 ở tuổi 93. Ông là người giỏi nhất, chói sáng nhất nhưng cũng là người đau khổ nhất.

Thành đạt nhất nước Mỹ

Nghịch lý đó của Mc tương phản một cách rõ ràng qua hai mảng của cuộc đời ông: ông là thần đồng kiệt xuất khi điều hành nền kinh tế Mỹ và thế giới, đồng thời ông là nhà kiến tạo chiến tranh (VN) tồi nhất bởi luôn mắc phải những sai lầm tệ hại như chính ông đã thú nhận trong cuốn hồi ký xuất bản năm 1995 - In retrospect: the tragedies and lessons of Vietnam (Nhìn lại: những thảm kịch và những bài học từ VN).

24 tuổi, Mc đã trở thành phó giáo sư của Trường ĐH Harvard danh tiếng. Ra khỏi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai với quân hàm trung tá, trở thành chủ tịch đầu tiên của Hãng Ford mà không phải là người thuộc dòng họ Ford vì trí tuệ vượt trội, sự tận tụy đáng nể phục và khả năng điều hành xuất sắc. 13 năm trong vai trò chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB, 1968-1981), Mc đã nâng các khoản cho vay của ngân hàng này lên gấp 12 lần - từ 954 triệu USD lên 11,7 tỉ USD. Nghỉ hưu rồi, Mc vẫn tiếp tục nổi bật là giám đốc điều hành đầy ấn tượng của nhật báo The Washington Post cũng như Royal Dutch Shell...

“Cuộc đời của Robert McNamara là một bi kịch cá nhân, đồng thời cũng là một bi kịch Mỹ, bi kịch của chúng ta. Bởi ngay sau khi McNamara thú nhận mọi thứ đã sai lầm khủng khiếp trong chiến tranh VN, ông lại sống đủ lâu để thấy một thế hệ những người được cho là “giỏi nhất, chói sáng nhất” ở Washington hoàn toàn không để ý gì tới những bài học quá khứ mới đây của chúng ta”.

Bình luận gia WILL BUNCH viết trên Huffington Post
Chỉ một phần trong những thành công trên thôi cũng đủ để làm cho Mc trở thành một trong những người thành đạt nhất nước Mỹ.

Thời điểm Hoa Kỳ đem quân vào xâm lược VN là thời điểm mà sức mạnh của cường quốc này gần như đã thành huyền thoại. “Cường quốc lớn nhất mọi thời đại” đã giải quyết cuộc khủng hoảng Caribê bằng cách buộc Liên Xô phải rút toàn bộ tên lửa khỏi Cuba (1962).

Thành công đó của kiến trúc sư Mc đã đưa đến tuyên bố nổi tiếng của ông trong lần đầu tiên tới thăm miền Nam VN (1962): “Tất cả những chỉ số mà chúng ta có cho thấy chúng ta đang chiến thắng”. Có lẽ không một ai không tin lời khẳng định của Mc bởi số học dường như đã minh chứng rằng một trí tuệ xuất sắc không thể sai lầm?

Tổng thống Lyndon Bains Johnson phụ họa thêm bằng một tuyên bố còn nổi tiếng hơn: Chúng ta không rút lui. Chúng ta không mỏi mệt. Chúng ta không thể bị đánh bại (We will not withdraw. We will not tired. We will not be defeated). Cần lưu ý rằng xét về chỉ số IQ, Johnson đứng số 1 trong tất cả các tổng thống của Mỹ trong thế kỷ 20 (!).

“Tù nhân của chính thân thế mình”

Robert McNamara (trái) trên trực thăng thị sát chiến trường Chu Lai năm 1965 - Ảnh: AFP

Cuộc chiến tranh vệ quốc anh dũng của nhân dân VN đã làm đảo lộn mọi chỉ số cũng như mọi giá trị Mỹ. “Hàng rào điện tử McNamara” tinh vi và hiện đại nhất thế giới cũng không thể nào ngăn cản được bước đi của con đường nhiều huyền thoại và “dài” nhất thế giới - đường mòn Hồ Chí Minh.

McNamara đã quên mất rằng để vượt qua quãng đường từ Tân Kỳ (Nghệ An - km0) đến Bù Gia Mập (Tây Ninh) dài khoảng 1.300km, nhân dân VN sẵn sàng bỏ ra 16 năm trời gian khổ, hi sinh và bền bỉ đến phi thường (1959-1975) để chiến đấu và chiến thắng.

Trong cuộc chiến tranh VN, Mc đã “trở thành tù nhân của chính thân thế mình” vì không hiểu được sức mạnh VN, đúng như David Halbertstam đã viết. Mc buộc phải từ chức bộ trưởng quốc phòng ngay khi cuộc tổng tấn công Mậu Thân đang diễn ra (3-1968) và tổng thống Johnson cũng từ chức theo cách khác - tuyên bố không ra ứng cử nhiệm kỳ 2 và mất sau ba năm vật vã đau buồn (1971).

Cũng đừng vội tin rằng Mc đã hoàn toàn tâm phục khẩu phục nhân dân VN. Người viết bài này đã nghe trực tiếp từ BBC cuộc phỏng vấn Mc từ VN khi ông sang dự cuộc hội thảo về chiến tranh VN năm 1995 tại Hà Nội. Mc đã cay cú (và thảng thốt) khi nói rằng: “Chúng tôi đã thua ư? Ông hãy nghĩ xem: nước Mỹ mất 58.000 người, còn họ (VN) chết hàng triệu người”.

Rõ ràng Mc vẫn chưa hiểu nổi rằng một dân tộc dám “đốt cả dãy Trường Sơn” thì sự hi sinh vì nền độc lập tự do là vô giá. Thống kê học hay lượng hóa sự can đảm, lòng dũng cảm là cách phân tích các giá trị hết sức sai lầm. Con người của Mc cực kỳ mâu thuẫn. Có thể bởi Mc là một người xuất chúng với tư cách là nhà kỹ trị số 1 của thời đại ông nên ông đã không thể tiêu hóa nổi nỗi đau VN? Cũng có thể cả Mc lẫn tổng thống Johnson đều không muốn nhìn thẳng vào sự thật hiển nhiên rằng lần đầu tiên sau 199 năm (1776-1975), đế quốc Hoa Kỳ bị thất bại trong một cuộc chiến tranh và VN trở thành nước đầu tiên đánh bại Mỹ?

Robert McNamara là người từng nghĩ rằng Hoa Kỳ thua vì không biết chuyển đổi các giá trị và điều kiện Mỹ cho phù hợp với thực tiễn của cuộc chiến tranh VN. Bản chất con người Mc là thế. Hãy thông cảm với Mc... Bởi cho đến tận cuối đời, Mc vẫn luôn day dứt và trăn trở về sự “vô cùng sai lầm” trong cuộc chiến tranh VN và “luôn hối tiếc và đau khổ bởi những ám ảnh của nó”.

HÀ VĂN THỊNH

^^

Cổ tích tình yêu của một tướng cướp nhiễm HIV

^


Là một tướng cướp khét tiếng Sài Gòn, 3 lần vào tù bóc lịch với tổng cộng 120 tháng tù giam. Lại mang trong mình căn bệnh thế kỷ HIV nhưng chuyện tình yêu của anh khiến ai cũng phải cảm động.

Nhưng không, một trăm hai mươi tháng tức là 10 năm, anh đã ngồi tù 10 năm thì cũng phải ít nhất có từng ấy thời gian để làm lại từ đầu, có từng ấy thời gian để viết lại tên mình từng ấy ngày tháng để có một gia đình hạnh phúc.

Vào tù ra tội

Tôi tình cờ gặp T ở Hà Nội khi anh tham gia triển lãm ảnh cùng nhiếp ảnh gia Phạm Hoài Thanh. Anh ngồi bó gối ở một gốc cây phượng bên hồ Hoàn Kiếm, mắt nhìn ra xa, tay lăm lăm chiếc máy ảnh cũ kỹ do một người bạn tặng. Thấy tôi, T giơ máy chụp rồi hồ hởi đứng dậy tự khoe: “Vợ tớ sinh rồi, sinh con trai bụ bẫm lắm. May mà nó không bị nhiễm HIV như mình…”. Anh dẫn tôi vào một quá trà đá giải khát, ngẫm lại chuyện cũ.

Quả thật, cái “thành tích” giang hồ của T khiến cho những ai biết chuyện đều ớn. Sinh năm 1972 tại TP. Hồ Chí Minh, là con thứ 4 trong một gia đình 6 anh chị em. Ai cũng được ăn học tử tế. T học hết lớp 9 bỗng phá bĩnh bỏ học đi theo con đường riêng – con đường đâm thuê chém mướn, trộm cắp và tù tội.

Năm 1993 T bị Công an tỉnh Vĩnh Long bắt quả tang khi đang cùng đồng bọn vận chuyển hàng chục chiếc xe máy lậu. T bị Tòa án Vĩnh Long tuyên phạt 24 tháng tù giam. Đây là “bài học” đầu tiên để T trở thành một tướng cướp lì lợm và liều lĩnh trên đất Sài Gòn những năm sau đó. T còn lập nhóm “Rồng xanh” chuyên bảo kê cho các tụ điểm ăn chơi thác loạn và sẵn sàng sả súng vào đối phương. Thời ấy nhóm “Rồng xanh” là nỗi khiếp đảm của cư dân Sài Gòn.

Năm 1996, T ra tù và lang bạt khắp các ngõ ngách của Sài Gòn hoa lệ, tụ được một nhóm hơn chục đàn em theo con đường cũ. Vốn liều lĩnh lại có kinh nghiệm móc túi, T truyền nghề “hai ngón” cho đệ tử và hoành hành ở khắp nơi, từ bến xe đến cổng trường đại học… Nhưng không được lâu, cuối năm 1997 T bị Công an TP. HCM vây bát khi đang thực hiện phi vụ lớn: cướp vali tiền của một đại gia ở gần khu vực Ngân hàng Thành phố. T lĩnh án 36 tháng tù giam.

Năm 2001 T ra tù và cặp kè ngay với một gái mại dâm tên Phương, sống như vợ chồng được 6 tháng. Thời gian này, T đã vô tình xô đời mình vào một bản án tử hình với căn bệnh HIV. Mãi sau này, khi cô vợ hờ tên Phương chết có để lại bức thư, T mới biết đời mình thế là hết.

Cuối năm 2001, T tiếp tục bị bắt về tội cướp giật, ngồi tù “bóc lịch” đến năm 2007 thì được tự do. Khoảnh khắc chấm dứt 10 năm tù tội mà T thấy đời mình đen bạc, những vết lở loét cứ to dần, hoắm… “Lúc này, tôi nghĩ chắc chắn mình chết, chết thật! Thân thể tôi lúc đấy ốm o, tôi phải vào bệnh xá điều trị…” – T tâm sự về thời gian tám phần tối của cuộc đời mình.

Tình yêu và những lá thư tình

Tôi không biết phải ví tình yêu của T và cô gái tên Mai nào nữa. Gọi là cổ tích tình yêu thì hơi… xưa, mà cổ tích ngày nay lại mâu thuẫn. Chỉ biết rằng, từ những bức thư được viết trong tuyệt vọng của tù nhân HIV tên T gửi tới Nguyễn Thanh Mai đã nhen nhóm ngọn lửa tình rực sáng.

Biết T từ khi còn là thiếu nữ, Mai đã thầm yêu trộm nhớ tướng cướp khét tiếng một thời. Đến khi T vào tù thi hành án tại Xuyên Mộc (Bà Rịa – Vũng Tàu) Mai đã viết những bức thư đẫm nước mắt và gửi gắm vào đó những lời động viên chân thành. Còn T, những bức thư đầu tiên Mai gửi vào chỉ giúp anh nguôi vợi nỗi buồn và những chán chường của một con bệnh.

Với anh lú này thì còn gì để hy vọng nữa, bệnh tật sẽ lấy đi mạng sống của anh trong nay mai. Nhưng dần dà, anh cũng động lòng trước tình cảm của Mai. Và anh đã viết thư hồi âm.

Lá thư với những nét chữ nguệch ngoạc nhưng T thấy trong đó vẫn còn những niềm tin được gọi là khát vọng:

Xuyên Mộc ngày 13 – 3 – 2003

…Mai ơi, tôi nhận thư em hôm qua. Tôi đọc rồi tôi khóc lức lở (nức nở - xin trích nguyên văn). Tôi không ngờ tôi còn được có người yêu thương. Tôi cám ơn em thật nhiều. Tôi trong tù vẫn khỏe nhưng mất vết loét cứ ngày một to ra Mai ạ. Em ngoài ấy thế nào. Vẫn tốt chứ? Thư trước em hẹn vô tù thăm tôi nhưng không cần thế đâu em ạ. Khi nào tôi ra tôi sẽ vô nhà thăm Mai. À Mai có tin tôi sẽ hoàn lương không. Tôi nghĩ kỹ rồi tôi không làm tướng cướp gì nữa. Tôi sẽ làm người tốt Mai ạ… Thương nhớ Mai nhiều.

Đáp lại thư T, Mai đã đọc như nuốt từng chữ mà hạnh phúc để rồi lại nhớ nhung. Trong một bức thư gửi cho T, cô viết:

Anh yêu mến!

Em lại thương anh vô ngần. Em xin cầm bút viết mấy lời yêu thương tâm sự với anh…

…Em yêu anh thật lòng chẳng tính toán thiệt hơn, được mất. Em cũng không sợ căn bệnh HIV như anh nghĩ đâu. Tình yêu sẽ làm chúng mình vượt qua tất cả. Đúng thế không anh? Em chỉ thương anh trong ấy phải khổ, phải cô đơn, buồn tủi. Anh gắng sống đến ngày mãn hạn anh nhé! Em ước ao sẽ nấu cho anh những món anh thích. Em sẽ pha cho anh cốc nước cam giải nhiệt. Chúng mình sẽ đi bộ với nhau vào mỗi buổi chiều, nhé anh!...

Cún thương của anh

Nguyễn Thanh Mai

Cứ thế, thư đi thư lại, những bức thư tình mang cả niềm vui và bất hạnh đưa đẩy đến nhau. Không ít lần T phải suy nghĩ vì tương lai, hạnh phúc của Mai sẽ thế nào khi hai đứa kết duyên. Nhưng rồi, Mai dập đi tất cả những suy nghĩ ấy để yêu và chờ đợi T bằng tất cả trái tim không suy tính.

Viết lại tên mình

Ngày 20 tháng 10 năm 2007 là kỷ niệm không thể quên với vợ chồng T. Đó là ngày T được tự do, được ôm Mai vào lòng ngay trước cổng trại giam Xuyên Mộc. Cả hai đã khóc vì sung sướng và khóc vì cả những đau khổ, chờ đợi.

Đám cưới của họ được diễn ra vào cuối năm đó. Đám cưới đặc biệt, gồm 3 người tất cả. Ngoài cô dâu chú rể còn có một ông nhà văn già tật nguyền làm chứng. Cỗ ăn gồm một mâm 3 người ngồi. Có canh chua, thịt luộc, nem rán, cá rán. Thế là họ thành vợ thành chồng, bắt đầu cuộc sống mới chênh vênh hạnh phúc.

Mặc cho nhiều người nói ra nói vào, Mai yêu chồng tha thiết, cô đưa anh đến Trung tâm y tế quận 8 (TP HCM) để nghe tư vấn và giúp Trung tâm những công việc mà T có thẻ đảm nhận. Sau một thời gian, T thành thạo như một nhân viên y tế. Anh sắp xếp, dọn dẹp phục vụ các cuộc họp, hội nghị ở Trung tâm, vào sổ tên bệnh nhân, đi thăm và an ủi những bệnh nhân nặng… việc gì T cũng hoàn thành. Nhìn T làm việc miệt mài, khó ai có thể tưởng tượng anh từng có 120 tháng ngồi tù vì “thành tích” xã hội đen. “Một trăm hai mươi tháng tức là 10 năm đấy, tôi đã vứt đi 10 năm vô tích sự…” – T nhẩm tính.

Ngoài giờ làm việc, trong gian nhà trọ nhỏ xíu, tuềnh toàng. T đã giúp vợ chút việc nhà để cô tranh thủ đính cườm áo lễ tăng thu nhập. Họ tích cóp vì đứa con bé bỏng mới chào đời. May mắn thay, bé trai kháu khỉnh ra đời không nhiễm HIV như bố nó. T cho tôi xem ảnh cháu bé – đó là niềm hạnh phúc không gì có thể đánh đổi. Trong mắt T, niềm vui đang dâng tráo, anh khao khát sống hơn bao giờ hết. Có một mái nhà sau bao nhiêu năm tù tội, lại có một người vợ dũng cảm lấy mình làm chồng, có một đứa con lành lặn, không bệnh tật… Đó là hạnh phúc viên mãn nhất!

Chia tay tôi trong nụ cười tươi rói và hào sảng của người đang nắm trong tay giá trị sống. T bảo tôi, có viết báo thì cứ nêu thật tên của anh, đừng ngại bởi anh đã viết lại tên mình: “Tên tôi là Nguyễn Quang Thông, hiện đang ngụ ở phường 4 - Quận 8 – TP HCM”.

(sưu tầm)

KHI MẶT TRỜI LÊN, HÃY CHẠY ĐI


“Buổi sang ở Châu Phi, con Linh Dương nhỏ thức dậy

Nó biết rằng nó phải chạy nhanh hơn con sư tử chạy nhanh nhất hoặc nó sẽ bị giết

Mỗi sang ở Châu Phi, con Sư Tử thức dậy

Nó biết rằng nó phải chạy nhanh hơn con Linh Dương chậm nhất hoặc nó sẽ bị chết đói

Vấn đề không phải bạn là con Sư Tử hay Linh Dương

KHI MẶT TRỜI LÊN, TỐT NHẤT LÀ HÃY CHẠY ĐI”

Tôi muốn bắt đầu bài viết bằng câu chuyện trên, để thấy rằng cuộc sống là một cuộc cạnh tranh gay gắt, đấu tranh sinh tồn. Tồn tại hay hi sinh không phải do chúng ta là ai mà tùy thuộc vào những quyết định, những hành động của chính mình. Cuộc sống của bản thân chúng ta, trong cuộc chạy đua sống còn, có thể tồn tại, phát triển đến đâu tùy thuộc vào khả năng và trên hết, sự quyết tâm của mỗi con người chúng ta.

Có bao giờ bạn nghĩ rằng mình quá nhỏ bé, không ai biết đến? Đã bao lần bạn nghĩ rằng ba mẹ, anh chị, gia đình, hoặc hoàn cảnh, điều kiện sẽ là nhân tố chủ yếu đem chúng ta đến với thành công trong cuộc sống? Có nhiều lúc chúng ta đặt quá nhiều câu hỏi, và ít khi tự trả lời những câu hỏi đó. Mình đang làm gì, đã làm được gì, đã nổ lực, chăm chỉ đến đâu? Chúng ta chỉ ghen tức, trông chờ một số phận, hay một vận may mang lại một kết quả tốt cho mình – Tôi đã từng như vậy!!!

Trước khi biết câu trả lời của tôi, hãy cho tôi biết bạn đang nghĩ gì, sẽ làm gì để có một cuộc sống thành công?????

Vợ-Chồng

TT - Câu chuyện làm chồng của một người đàn ông, mà cũng có thể là của hàng trăm, hàng ngàn người đàn ông khác...

Tôi là một người đàn ông sinh ra ở cung xử nữ - một cái cung mà theo tử vi là những người có lối sống hết sức thực tế. Tóm lại là vô cùng khô khan và có thể nôm na dí dỏm là chuyên xử... phụ nữ!

Những "thông điệp" từ vợ!

Tôi tự nhận thấy mình là người chồng tương đối mẫu mực, nếu nói theo giọng điệu của bọn đàn ông trong cơ quan thì tôi còn là chồng ngoan nữa đằng khác. Luôn từ chối 9/10 cuộc nhậu nhẹt bù khú với lý do công khai: "Vợ chờ cơm, khổ lắm!". Mặc chúng bạn cười nhạo và bình phẩm các kiểu, tôi phớt lờ tất cả. Căn bản là tôi thích về nhà nghỉ ngơi sau một ngày quá mệt mỏi, và chả muốn cái cảm giác váng vất bám theo mình vào tận cơ quan sáng hôm sau. Vâng, tôi được vợ cho 10 điểm về khoản này.

Nhưng cô ấy vẫn không hoàn toàn hài lòng về tôi. Tôi làm việc trong một đơn vị kinh doanh, công việc khá căng thẳng, về đến nhà đã mệt lử. Có những buổi tối về nhà tôi chỉ muốn nằm vật ra giường ngủ một giấc cho sướng. Nhưng còn bổn phận đàn ông? Tôi rất yêu vợ nhưng thú thật, nhiều lúc sự mệt mỏi lấn át cả ham muốn. Thế là tôi vô tư ngủ.

Không ít lần, khi về nhà tôi cảm thấy cô ấy muốn chuyển một thông điệp đến tôi về "buổi tối thần tiên": ăn mặc khêu gợi, bông lơn tôi bằng những từ rất sex... nhưng mắt tôi cứ díp lại sau bữa ăn. Và đến khuya, dù đã nỗ lực đánh răng những hai lần, rửa mặt cho tỉnh ngủ, khi lên giường chỉ vừa đặt lưng mấy phút là tôi đã khò khò.

Một buổi sáng tôi thức dậy sớm, quay sang vợ thì thấy cô ấy đang ngủ vùi, mặt úp vào gối. Tôi vào phòng làm việc, mở đèn thì giật mình vì màn hình máy tính phủ đầy những miếng giấy dán lời nhắn của vợ. Chúng được viết lúc 12 giờ khuya, đầy những trách móc đẫm nước mắt: "...Anh không hề yêu em, cuộc hôn nhân này chỉ là giả dối...", "...Em không còn quyến rũ nên anh bỏ xó em như thế...", "...Anh có biết như thế là xúc phạm tự ái đàn bà của em không?...", "...Em nằm khắc khoải đợi anh còn anh thì ngáy ầm ầm như kéo gỗ"...Trời ạ, tôi có ngờ đâu chỉ vì sự vô tâm của tôi mà nàng suy diễn lung tung như thế!

Theo lời than vãn từ bọn bạn vong niên của tôi, với đa số phụ nữ - cụ thể là các bà vợ - chả phải chỉ có các lão sinh ra ở cung xử nữ là tập hợp các kiểu "vô” - từ vô tình, vô tâm, vô cảm đến cả... vô duyên - mà tất tần tật tên nào có khả năng mọc râu đều như thế cả!

Nhưng sự việc không chỉ có thế. Tôi cố gắng thắng sự mệt mỏi để làm nàng hiểu là tôi vẫn yêu nàng như ngày nào. Khổ nỗi vấn đề mới lại phát sinh, từ cái bệnh ngồi lê đôi mách của các bà. Nàng dấm dẳng với tôi : "Chị C. ở phòng em, chồng chị ấy đã gần 50 mà ngày nào cũng... đòi. Còn anh, U-40 mà cứ như ông cụ 80-90 ấy. Cả tháng bấm đốt chưa đầy bàn tay!".

Trời, chả lẽ tôi lại phải chạy theo chỉ tiêu lên giường của các bà trong phòng cô ấy, nếu đấy là bệnh thành tích ảo thì sao nào? Tôi phân tích với vợ về chuyện chất lượng ăn đứt số lượng nhưng cô ấy vẫn không chịu, quy tiếp cho tôi cái tội: "Lạnh nhạt chuyện vợ chồng vì hết cảm hứng với vợ! Anh không có tim!".

Tôi có tim hay không?

Lắm lúc chứng kiến những giọt nước mắt ràn rụa của vợ vì những "tội ác" do tôi gây ra, thường từ sự vô tâm vô tính của mình, tôi cũng có thoáng nghĩ: "Hay là mình không có tim như cô ấy nói?". Mà cũng có thể như thế thật, tôi ở cung xử nữ cơ mà, là dạng đàn ông không sống trên mây mà chỉ bò sát mặt đất, nhìn đời bằng mắt kính cận 10 điốp chứ chả phải kính mát màu hồng!

Có lần kỷ niệm 8-3, cái ngày ấy thì dù có bị thần kinh phân liệt thể hoang tưởng tôi vẫn nhớ mồn một. Đấy là ngày 8-3 đầu tiên sau khi chúng tôi có con gái đầu lòng. Tối đó tôi âm thầm kỷ niệm ngày của vợ bằng cách để vợ ngủ yên giấc trọn đêm và anh dũng lấy tăm chống mắt, thức thay tã cho con. Sáng đấy tôi vẫn cư xử bình thường với vợ nhằm gây hiệu ứng đặc biệt cho buổi chiều. Vợ tôi đi làm có vẻ rất hứng khởi, có lẽ cô ấy đinh ninh sẽ có cái gì đó ấn tượng (từ tôi) ở cơ quan đón chờ cô ấy.

Thú thật là tôi đã cân nhắc rất nhiều giữa hoa hồng và... thịt bò trong buổi sáng hôm ấy. Cả hai thứ đều đắt nhưng một thứ chỉ ngắm no mắt rồi thôi, còn một thứ vừa no bụng lại còn bổ đủ bề, rất hợp với tạng bị hạ huyết áp như vợ tôi. Tôi lại rất có tay nghề trong món bò lúc lắc. Thế là chiều đấy tôi về sớm, trổ tài làm một cân thịt bò non tơ, mềm mướt.

Đúng 5g30 vợ tôi về, nghe tiếng dựng chống xe là tôi linh cảm chuyện chẳng lành. Quả nhiên, vợ tôi ùa vào, mặt sưng lên, vừa nói vừa khóc: "Tôi có phải là vợ anh không? Cả ngày nay tôi đau khổ như thế nào anh có biết không? Phòng tôi ai cũng có hoa chồng gửi vào, chúng nó cứ đi ra đi vào ríu rít, mặt vác lên trời. Còn tôi thì cụp mặt cun cút như con mèo ăn vụng ấy...". Tôi nhoẻn cười, chỉ vào mâm thức ăn đang bốc khói nghi ngút: "Quà 8-3 của em đây. Anh tự tay làm đấy. Chúc em ăn xong lại càng xinh đẹp, đáng yêu!". Ối trời, cô ấy gào tướng lên: "Tôi cần hoa hồng chứ không cần thịt bò! Anh hiểu chưa?"...

Dại thật, có tên đàn ông xử nữ nào kỷ niệm 8-3 cho vợ theo kiểu ngon-bổ-vệ sinh như tôi không nhỉ? Thay vì chỉ tạt ngang lề đường xìa cho một cô gái dăm chục ngàn lấy bó hoa thì tôi đã được vợ cho ngay 10 điểm; việc gì phải vào chợ chen lấn lựa thịt, về nhà lụi hụi tẩm ướp, chiên xào, bày biện kiểu cọ để rồi vợ sổ toẹt cả. Dại gì mà dại thế nhỉ?

Người ta bảo phụ nữ yêu những thứ phù phiếm, có sai đâu! Khổ nỗi cái thằng tôi chả quen với các thứ cao lương mỹ vị ấy - tin nhắn, hoa hồng, quà cáp... Tôi chỉ thấy tự tin với khoai sắn trùi trũi, tóm lại là dạng "lương thực cơ bản" trong tình yêu thôi!

Và còn nữa, tôi thật sự không hiểu cái nào quan trọng hơn với vợ tôi khi nàng bệnh: nhận vài tin nhắn sến kiểu: "Anh yêu em, sức khỏe em đã khá chưa?" hay là được cạo gió, mátxa chăm sóc từ chân tóc đến ngón chân út suốt cả buổi tối? Tất nhiên là tôi chọn phương án 2, rất thực tế. Đã mệt bở hơi tai vì chăm sóc nàng, nhưng vẫn bị một câu thòng: "Sao anh chỉ biết cạo gió mà chẳng biết lãng mạn gì cả? Mỗi lần cô bạn phòng em bị bệnh, chồng nó nhắn cho nó cả lô tin mùi mẫn thấy mà phát thèm!".

Nghe thế tôi cáu tiết: "Thế cái lô tin nhắn mùi mẫn ấy có làm hết bệnh được không?". Vậy là nàng rơm rớm nước mắt...

Cái cung xử nữ làm khổ đời tôi như vậy đấy! Tôi yêu vợ, luôn muốn làm cô ấy hạnh phúc, nhưng hệ của tôi không tương thích với cô ấy. Cứ như TV nội địa đời đầu làm sao mà coi được truyền hình cáp, được hình thì mất tiếng, lúc có lúc không...

Vợ ạ, cái thằng chồng xử nữ như anh chỉ biết mộc mạc yêu vợ như thế thôi! Nếu bây giờ em có bảo anh móc tim ra để chứng tỏ tình yêu như các anh si tình hay thề thốt ấy thì anh vẫn... từ chối em ạ. Anh cần trái tim để tiếp tục sống, để đi làm kiếm tiền lo cho em và con đầy đủ, thế thôi. Đành ngàn lần, vạn lần xin lỗi em!

TRÍ MINH

New Age !!!

New Age - cảm hứng tung cánh của thời đại

(TuanVietNam) - "Tôi bắt đầu nghe New-Age từ album solo piano của Yanni, một nhạc sĩ nổi danh người Hy Lạp, album có tên “In My Times”. Khoảng những năm 94, 95 gì đó, một người bạn gái đã nhờ tôi soạn lại toàn bộ những bản solo ấy ra giấy để cô ấy có thể tập trên piano. Tôi phải lòng âm nhạc New-Age từ đó..." - Nhạc sĩ Đỗ Bảo viết.

Để bắt đầu một "Thời đại mới"...

Bạn có bao giờ lắng nghe thật kỹ tiếng những giọt mưa đầu tiên rơi xuống, hay bất ngờ rùng mình xao xuyến khi có quá nhiều vòm lá sấu cùng ào trút lá xuống con đường, một khoảnh khắc giao mùa trong veo?

Nhạc sĩ Đỗ Bảo

Trong khung cảnh ấy, có bao giờ bạn sẽ tự hỏi rằng một khi mình không phải một người quay phim, không phải một nhà thi sĩ, nếu mình là một người chuyên viết nhạc không lời thì mình sẽ phải làm gì để ghi lại cảm xúc đặc biệt khi ấy?

Trong trường hợp này, một nhạc sĩ trường phái cổ điển, hẳn họ sẽ vận dụng kĩ thuật phối khí điêu luyện để tạo ra tiếng mưa bằng những nốt nhạc đàn Harp,đàn Piano, họ giả lập không gian đầy đường lá xao xác bằng sự cộng hưởng nhiều bè của dàn nhạc dây đông người.

Cũng trường hợp này, đối với những nhạc sĩ cận đại viết những khúc ca Jazz, Pop, Rock chẳng hạn, họ cùng với một nghệ sĩ viết lời ca, dùng lối kể chuyện để minh họa cho cảm xúc của họ, các ca khúc đương thời cho tới nay hầu hết đã được tạo nên với cách thức ấy.

Còn những nhạc sĩ viết nhạc không lời gần đây hơn, họ phải làm gì với những nhạc cụ vốn đặc trưng cho nhịp sống của họ?

Có một trường phái khá tự do, thậm chí nghệ sĩ ấy có thể mang máy thu ra ngoài hiên nhà thu lấy tiếng những giọt nước đang rơi xuống, thu lấy tiếng đám lá xào xạc và họ đưa vào trong tác phẩm âm nhạc mà ta gọi là những "Sound Effect" hiệu ứng âm thanh), người viết nhạc đặt chúng vang lên với một bè nền lung linh của tiếng nhạc dịu dàng đôi lúc bâng khuâng xao xuyến gọi là “Background” (nền), khi ấy hình thành một thứ gọi là “Space” (không gian) của một tác phẩm.

Yanni - một đại diện tiêu biểu của dòng New Age
Trong không gian này người nghệ sĩ tô điểm những suy tư khác, gửi gắm một câu chuyện nào đó bằng tiếng các nhạc cụ khác, có thể chỉ là một vài nốt piano, vài tiếng hát u ơ vu vơ. Tác phẩm đã hoàn tất như tình cảm của anh ta sau đó được đặt một cái tên là “Thiên nhiên tháng tư” chẳng hạn.

Người nghe, với cảm quan và kinh nghiệm về những gì có thể xảy ra trong khung cảnh như thế, đón nhận tác phẩm ấy và thả sức tưởng tượng, liên tưởng từ chính kỷ niệm hay kinh nghiệm của mình trong bao nhiều lần tháng tư của riêng họ.

Họ được gợi ý như đang xem một bức ảnh hay một cuộc băng hình ghi lại, thấy thanh bình như đọc một bài thơ hay, sự suy tưởng về thời khắc giao mùa, những vận động của đất trời đồng điệu ùa về.

Thế là đủ cho thành công của một tác phẩm dòng nhạc New-Age (Thời đại mới), dòng nhạc bí hiểm mà đôi lúc còn được gọi lẫn lộn với rất nhiều tên gọi khác như âm nhạc không gian, nhạc hòa tấu điện tử, nhạc Thiền, âm nhạc của những cảm xúc siêu nhiên… và đôi lúc dễ nhầm lẫn với World-Music, Electronic, các dòng âm nhạc có pha trộn điện tử khác.

Trí tưởng tượng không giới hạn

Trên đây cũng chỉ là một cách để gợi mở. Nghệ thuật của dòng nhạc New-Age là vô cùng phong phú và không bao giờ có một phương pháp sáng tạo, bởi chính tư duy tự do trong sáng tạo đã không giới hạn, một lần nữa nó mở ra tiềm năng hoạt động của trí tưởng tượng và điều kiện thực thi của người nghệ sĩ.

Cũng vì thế, dòng nhạc này đã mang một tên gọi có vẻ hơi to tát, thậm chí có những nhà lý luận, người hâm mộ cực đoan phương Tây còn cho rằng âm nhạc chỉ đã trở thành một bộ môn nghệ thuật thực sự từ khi dòng nhạc New-Age ra đời.

Tôi bắt đầu nghe New-Age từ album solo piano của Yanni, một nhạc sĩ nổi danh người Hy Lạp, album có tên “In My Times”. Khoảng những năm 94,95 gì đó, một người bạn gái đã nhờ tôi soạn lại toàn bộ những bản solo ấy ra giấy để cô ấy có thể tập trên piano những khúc nhạc này.

Odyssey 2001: Cuộc thám hiểm Sao Hỏa của NASA năm 2001 sau này đã sử dụng âm nhạc của Vangelis là âm nhạc chủ đề, Vangelis một nhạc sĩ New-Age hàng đầu thế giới, người Hy Lạp
Tôi phải lòng âm nhạc New-Age từ đó, sau này có đôi lần chính tôi cũng sử dụng những bản piano ấy để trình diễn trong một vài chương trình âm nhạc trên truyền hình mà khi ấy thường có tên là những chương trình hòa tấu nhạc thính phòng.

New-Age được biết đến tại Mỹ từ khoảng thập kỷ 70, cùng lúc với thời điểm xuất hiện những nhạc cụ điện tử, đặc biệt đàn synthesizer (sau này phát triển lên cao là đàn keyboards) và kỹ thuật thu âm số cho phép nghệ sĩ thu âm nhiều đường âm thanh cho một tác phẩm trong những khoảng thời gian khác nhau. Thế nên, cái tên New-Age có một ý nghĩa đơn giản hơn sự đồn đại về những suy tưởng siêu nhiên mà nhiều người nhắc tới khi cảm nhận dòng nhạc ấy.

Có lẽ cái tên New-Age mang ý nghĩa đánh dấu sự ra đời của một dòng âm nhạc mới dựa trên kỹ nghệ âm nhạc điện tử, điều trước đó chưa thể có được. Sự sáng tạo vì thế thay cho việc tiếp tục đào sâu phát triển chậm rãi ở nơi các thể loại âm nhạc khác lại có một cơ hội tung cánh thoát lên và biến hóa nơi một chân trời mới lạ.

Thời kỳ bùng nổ công nghệ điện tử nói chung, điện tử hóa âm nhạc đã sinh ra New-Age và cho nó một cảm giác tung cánh. Nơi thế giới dường như bắt đầu chật hẹp đến mức loài người trong suốt thế kỷ 20 đã liên tục sáng chế những con tàu vượt không gian thám hiểm vũ trụ hay các con tàu thám hiểm đáy đại dương, New-Age ra đời chính là cảm hứng tung cánh của một thế hệ âm nhạc chịu ảnh hưởng của công cuộc mở rộng và khám phá không gian, khi niềm tin và những suy tưởng siêu nhiên của loài người đương thời đã trở nên rõ ràng hơn so với thời gian trước đó.

Có lẽ chính vì thế, những tác phẩm âm nhạc New-Age thường có sắc thái lạ lùng, bí ẩn, những viễn tưởng vô cùng khác lạ với âm nhạc ra đời trước đó.

Sau này New-Age phân ra nhiều nhánh, Contemporary Instrumental,Solo Instrumental, Neo-Classical, Celtic…và mỗi nhánh đều có những đặc trưng khá chuyên biệt, về cả nội dung tư tưởng và hình thức âm nhạc.

Ở Việt Nam, nhiều người yêu nhạc biết đến New-Age khi nghe Kitaro và cho rằng New-Age và World-Music là một, cũng bởi Kitaro là một nghệ sĩ New-Age người Nhật Bản,ông sử dụng rất nhiều chất liệu âm nhạc cũng như nhạc cụ dân tộc Nhật Bản trong tác phẩm của mình, thực chất New-Age có những đặc trưng khác biệt với mọi thể loại khác.

Bên cạnh Kitaro, người là một trong những đại diện nổi danh hàng đầu của dòng nhạc New-Age với giải Grammy danh giá, giải Quả Cầu Vàng cho nhạc phim xuất sắc trong bộ phim về Việt Nam “Heaven and Earth” (Trời và đất) của đạo diễn Oliver Stone cũng như các buổi trình diễn khắp châu Âu và nước Mỹ, âm nhạc New-Age đã sớm được biết đến ở phương Tây với rất nhiều những nhóm nhạc,nghệ sĩ nổi tiếng khác mà âm nhạc của họ thuần chất điện tử, chất tôn giáo-thiền, chất thiên nhiên-thư giãn… như các nhóm-nghệ sĩ Tangerine Dream, Vangelis, Enigma, Enya, Deep Forest, Yanni, Secret Garden.. hay các nghệ sĩ biểu diễn trẻ khá gần đây như Vanessa Mea, ban nhạc 12 cô gái Trung Quốc…

Không gian và tình cảm - chất xúc tác để nhận biết New-Age

Có thể mạnh dạn nói rằng, tư duy sáng tạo của dòng nhạc New-Age phong phú đến mức nó có thể đại diện cho thứ tư duy làm nền tảng cho nhiều thể loại âm nhạc sinh ra trong thời đại mới.

Nghệ sĩ Enya
Ngày nay, những trang bán nhạc trên thế giới dường như đã xem New-Age như một nhãn mác. Cũng như Rock, Jazz chứa đựng bao nhiêu phân nhánh, New-Age là một khái niệm rộng đến mức việc sắp xếp các sản phẩm vào dòng nhạc này đôi lúc đã trở thành một thứ tư duy quảng cáo, bởi người nghe New-Age trên thế giới ngày nay đã và luôn tăng lên một cách đáng kinh ngạc.

Không ngoa, những ai say mê phim tài liệu khoa học, phim giả tưởng, phim dã sử và nói chung một phần lớn âm nhạc trong các tác phẩm điện ảnh thế giới ngày nay; những người hay để ý âm nhạc trong các phóng sự, nhạc quảng cáo, nhạc mở, kết chương trình truyền hình - đài FM, rồi những bạn trẻ mê chơi game, sử dụng điện thoại di động đa âm, những người trưởng thành tìm các album, video nhạc đặc biệt cho các quán bar yên tĩnh,các cuộc triển lãm, không gian tĩnh lặng - thư giãn riêng tư… hẳn đều đã từng có lần từng nghe những đoạn nhạc vi vu thần thoại, những đoạn nhạc với những cao trào tráng lệ, những tác phẩm âm nhạc không lời phóng khoáng và thanh bình với chen lẫn cảm xúc về thiên nhiên kỳ thú, phần lớn các tác phẩm phổ dụng hiện nay trong những lĩnh vực ấy, đáp ứng những nhu cầu ấy chính là New-Age.

Ta hãy đừng ngại gọi tên nó, dòng nhạc “Thời đại mới” ấy.

Ai trong chúng ta cũng có thể đã quen thuộc với các bộ phim như Chiến tranh giữa các vì sao, Chúa nhẫn, Xác ướp Ai Cập, Odyssey 2001, Con đường tơ lụa…các bộ phim giả tưởng, các tác phẩm điện ảnh bom tấn rồi đâu đó một lần có thể lờ mờ hỏi vì sao nhạc phim ngày nay lại khác nhạc phim thời Cuốn theo chiều gió (1939), Casablanca (1942)…

Nghệ sĩ Kitaro
Cùng với kỹ xảo công nghệ nói chung hay phim ảnh nói riêng, một thứ sản phẩm dễ nhận biết, âm nhạc cũng phải tương tác và đồng bộ, dòng nhạc New-Age thừa nhận chính nó khi bước vào một “Thời đại mới” của mọi lĩnh vực nghệ thuật có liên quan đến âm nhạc, nó đã tồn tại phổ biến và cố hữu, một cách âm thầm nhưng lại quá sức mạnh mẽ từ thập niên 70,80, đến mức ta dễ quên mất.

Một ví dụ, nghe một nhóm nhạc Rock quen thuộc như Pink Floy, ít ai biết nó chính là một trong những nhóm nhạc tiên phong của dòng nhạc New-Age. So sánh khập khiễng như cách bạn và tôi thường đâu để ý rằng mình đang thở, con tim mình đang đập đều đặn trong lồng ngực mình đấy thôi, nhưng chúng lại là điều đã, đang và sẽ là điều kiện tồn tại của mình, âm nhạc New-Age cũng vậy, dù có vẻ nó là cái tên khá xa lạ.

Đa chiều, rất gần và rất xa, rất rộng và chú trọng đến chiều sâu, với sự có mặt của ít nhiều những nhạc cụ điện tử, các tác phẩm có thể dài đến vài chục phút, hoặc ngắn chỉ nửa phút, nhạc New-Age thường có thể cảm giác như những bài thơ bằng âm thanh, hình tượng âm nhạc rõ ràng ngay từ tiêu đề đến không gian âm nhạc nó được sắp đặt và tạo dựng.

Tính khúc triết trong phát triển tứ thơ, khúc triết giữa những đoản khúc, trường đoạn với chất liệu cực kì tự do là một số trong những đặc trưng để nhận biết về New-Age. Cùng với nghệ thuật sắp đặt trong mỹ thuật, âm nhạc sắp đặt trong đó New-Age cũng có thể coi như một đại diện quan trọng đã khởi sự từ những thập kỷ cũ.

Tư duy sắp đặt trong sáng tác hiện đại hẳn là một tư duy sáng tác phổ biến ngày nay, nó tiệm cận với trào lưu sáng tác tiên phong vốn phá vỡ hoàn toàn mọi học thuyết âm nhạc đã có.

Sự sắp đặt ấy là sự sắp đặt hợp lý, có chủ ý nhằm gửi đến người nghe một thông điệp mang tính thi ca-văn học, một trường âm thanh làm thỏa mãn thính giác và quan trọng hơn cả nó để người nghe tha hồ tưởng tượng với các giác quan nhạy cảm của mình, và cả những linh cảm xa lạ.

Đôi khi, ngay cả khi bạn và tôi không nắm bắt được một thông điệp nào, cũng không dựa vào tiêu đề tác phẩm để suy tưởng về hình tượng tác phẩm nào chăng nữa thì ta cũng có thể liên hệ giữa không gian âm thanh ấy với một tình cảm mà chính chúng ta quan tâm, như cách một chất xúc tác đang kích thích mình, đó cũng là một tâm lý để nhận biết âm nhạc New-Age.

Ở Việt Nam, New-Age cần tai nghe và cảm nhận của tâm hồn...

Ở Việt Nam, người làm nhạc New-Age rất ít, người tìm nghe-cảm nhận-hiểu dòng nhạc này có vẻ cũng không nhiều (dù thực tế ai cũng nghe, nghe rất nhiều như ở trên tôi đã nói).

Yêu và theo đuổi New Age, nhưng những tác phẩm đến với công chúng của Đỗ Bảo đang là Pop
Người Việt Nam mình có thói quen từ lâu nghe nhạc phải có ca từ, họ quen nghe ca khúc. Thế nên để đi theo dòng âm nhạc New-Age tại Việt Nam thì mọi nhạc sĩ, nghệ sĩ, ca sĩ ít nhiều đều có khuynh hướng chuyển thể các ca khúc sang dòng âm nhạc này, trau truốt phần sáng tác âm nhạc hòa quyện với giọng hát.

Như đã nói ở trên, nhạc New-Age thế giới vốn đa phần là những bản nhạc không lời, nếu có sử dụng tiếng hát cũng ở một giới hạn như một nhạc cụ và chủ yếu hát những hư từ không có nghĩa (vocal), hoặc cắt ghép những câu hát màu sắc, mang âm hưởng tụng niệm gợi không gian. Đó là một trong những khác biệt cơ bản giữa New-Age tại Việt Nam nay mai so với New-Age của Âu Mỹ xưa nay.

Cuối cùng, sẽ không bao giờ là dễ dàng để chúng ta thực sự nắm bắt được những câu chuyện bất di bất dịch về âm nhạc nói chung hay New-Age nói riêng, nhất là bằng ngôn ngữ của chúng ta mà không phải chính ngôn ngữ âm nhạc. Tôi luôn nghĩ âm nhạc mãi là riêng âm nhạc mà thôi, nó cần ta nghe và cảm nhận ở tâm hồn.

Cho tôi được đưa một suy nghĩ cá nhân về New-Age, tôi chỉ thường thấy một sự đồng cảm mơ hồ rằng nó hẳn là một ngôn ngữ âm nhạc ra đời bởi những nghệ sĩ đã dựa vào một niềm tin, một thứ ý thức cấp thiết và mãnh liệt về sự giải phóng tâm hồn trước sáng tạo âm nhạc, trước thế giới hiện đại, tôi có thể nhìn sự vật bằng những suy tưởng đa chiều và đón nhận những cảm hứng về một vấn đề nào đó trong tương quan một không gian bất tận rộng lớn của vũ trụ thay vì đặt nó trong cảm quan hạn chế của đôi mắt, đôi tai.

Nghe các tác phẩm New-Age, ta cảm thấy niềm tin về sự hội tụ mọi ngôn ngữ nghệ thuật trong một khuynh hướng tư duy, một ngôn ngữ tinh hoa bằng âm nhạc chăng?

New-Age mang tư duy chứa đựng cách này hay cách khác, ít hoặc nhiều sự có mặt của mọi loại hình nghệ thuật khác như thi ca, văn học, kiến trúc, hội họa, điêu khắc, điện ảnh... nó tới từ ý thức cấp thiết phải mạnh hơn để dễ giải phóng được những khó khăn nhất, ở những nơi hiểm hóc sâu kín nhất trong tâm hồn con người, thỏa mãn con người.

Bạn có nhìn thấy nét mặt thanh thản của Yanni trong buổi trình diễn ở điện Parthenon, thành phố Athens, Hy lạp khi ông ta chơi bản “One Man’s Dream” (Giấc mơ đời người) hay như bản “Until the last moment“ (Cho đến khoảnh khắc cuối cùng) rồi chứ?

Nghệ sĩ Jean Michel Jarre

Chắc hẳn khi lắng nghe những bản nhạc ấy, tôi tin rằng bạn đã từng thấy điều gì đó xảy ra trong tâm hồn mình ở từng khoảng khắc cho tới khoảnh khắc cuối cùng khi nghe những bản nhạc ấy.

Khoảng khắc cuối cùng của Yanni có thể là một khoảnh khắc, nhưng với bạn và với tôi, liên hệ với đời sống riêng, ta lại chọn cho mình một khoảnh khắc rất khác nhau khi nghe tác phẩm ấy, mọi người khác cũng vậy.

Cũng như thế, khi nghe “Islands Of The Orient” (Những hòn đảo phương Đông) của Vangelis, bạn sẽ thấy sóng, thấy những sinh vật biển, thấy những hòn đảo phương Đông và bạn tự hỏi tại sao nhiều tác phẩm khác không mang về cảm xúc như thế, trong bạn xảy ra những suy tưởng lạ kì, nó làm bạn thấy mình thay đổi một cách khó hiểu nhưng dễ chịu, một cánh cửa nhỏ nào đó trong ngách sâu tâm hồn bạn vừa được mở ra, bằng một giác quan thứ N nào đó, bạn thấy hiểu bản thân mình hơn một chút song lại không chắc bạn đã biết đích xác điều gì.

New-Age có lẽ có khoảng cách với chúng ta là thế, mà cũng lại gần gũi là thế. Những lúc như vậy, tôi cảm thấy một phần nào đó trong tâm hồn mình được vuốt ve, được giải thoát khỏi một vài sự trăn trở lặt vặt trong cuộc sống, như thể có gì đó vừa thoát ra khỏi một nơi bóng tối âm u hay sa đọa trong tâm hồn mình.

Trí tưởng tượng của tôi gợi lại những giấc mơ đã quên từ bao năm tháng cũ của mình, hoặc có thể là đang sống dậy một sự thật như mơ từ một khoảng trống chưa được biết trước trong tâm trí tôi. New-Age là như thế, nó có thể làm bạn và tôi trở thành kẻ mơ mộng mang những tâm hồn được cứu rỗi giữa “Thời đại mới”.
November 2009
M T W T F S S
October 2009December 2009
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30