Chùm khế ngọt
Tuesday, 1. January 2008, 09:51:06
Ảnh: fotovietnam.comKhông nhớ rõ đã bao lâu, có lẽ tới 7-8 năm rồi, nay tôi mới lại về quê. Mà trước đó nữa thì không rõ từ khi nào bởi hầu như chỉ khi có việc/ có chuyện gì đó thì mới về.
Vậy nên quê hương trong tôi chỉ còn trong ký ức, được ghi lại từ những ngày còn bé tí xíu. Con đường đất lầy lội (sau này là đường rải sỏi) dẫn về quê giờ đã láng xi măng. Nhà cửa ven đường cũng chẳng còn dấu tích của ngày xưa. Chỉ duy nhất hai hàng phi lao thẳng vút bên đường trên khoảng mấy km trước khi rẽ vào làng là vẫn còn như ngày nào. Ngỡ như những cây phi lao từ cái ngày xa xưa ấy vẫn còn đứng đó đến tận bây giờ.
Lại nhớ hồi đó, bố tôi đi học ở Liên Xô, chỉ còn hai mẹ con ở nhà. Thỉnh thoảng mẹ đèo tôi về quê, đi giữa hai hàng phi lao như thế này. Mẹ chiều tôi lắm. Tôi ngồi sau xe đạp, cầm chăm chăm một cành phi lao trên tay, suốt đường đi cứ ngửa tếch mặt nhìn lên hàng cây ven đường, hễ thấy con bọ ngựa bé bé nào là gọi mẹ. Mẹ dừng xe, cố sức bắt cho tôi. Chỉ bắt con bé, vừa để chúng khỏi bay mất, vừa đỡ sợ 2 cái kiếm sắc như dao của chúng. Cứ như vậy, khi về đến nhà thì chẳng riêng cành phi lao, mà khắp mũ áo tôi đầy lũ bọ ngựa nhún nhảy, rập rình, bò nghênh ngang. Những chuyến về quê như thế thực sự là những cuộc du hành đầy thú vị. Cũng có những giai thoại mà sau này mẹ tôi vẫn còn kể mãi, ví như khi trời mưa, phải trùm áo mưa kín mít, tôi bảo mẹ: "Con chỉ còn hở hai cái chân thế này, mọi người chả biết là chân người hay chân chó mẹ nhỉ".
Đó là lúc tôi đã đi học rồi, thì mới ở với mẹ, chứ khi bé hơn thì ở quê với ông bà nội và bác cả vì mẹ tôi theo cơ quan đi sơ tán. Hàng ngày tôi bóc lịch, đếm xem còn mấy tờ nữa thì đến tờ đỏ, là ngày mẹ sẽ về thăm tôi.
Làng tôi bây giờ đường xi măng chạy về tận cửa từng nhà, chứ cái thời đó toàn đường đất sống trâu chưa nắng đã bụi chưa mưa đã lầy. Mà xung quanh các nhà thì đầy những ao chuôm vũng vĩnh, tính ra cạnh nhà nào cũng phải có ít nhất là 1, nhiều thì đến 3 cái ao. Giờ thì ao chuôm gì cũng thành nhà cửa hết cả rồi.
Hai anh con bác và tôi là ba đứa trứng gà trứng vịt, hơn nhau đôi ba tuổi nên suốt ngày chí choé. Những lúc trêu nhau tức quá, không thể réo tên bố mẹ nhau ra thì chúng tôi ghép đôi từng đứa với con nhà hàng xóm để "chửi" cho bõ tức. Cứ tối tối, sau bữa cơm, bác gái lại bắt ba anh em xếp hàng, "báo cáo tình hình trong ngày" xem anh nào hư, em nào hỗn là mắng ngay.
Tôi cũng đã từng theo các anh đi chăn trâu nhưng chỉ dám cưỡi thử lên lưng nó đúng một lần vì mỗi bước nó đi là cái sống lưng vặn bên nọ vẹo bên kia chỉ muốn hất mình xuống đất. Có lần tôi bị các anh bỏ mặc với con trâu để chạy nhểu ngoài đồng với đám con trai. Con trâu lôi tôi sềnh sệch ra rìa ruộng lúa và ra sức ngoạm lúa chén ngon lành. Tôi gào hết hơi gọi mà các anh cứ mặc kệ nên đành đứng khóc tu tu... Rồi cũng theo các anh nhặt quả phi lao khô cho vào ống bơ có buộc dây, mồi lửa, vung dây quay quay cái ông bơ lấy gió cho phi lao bén lửa cháy hồng lên như than. Thế là có cái lò sưởi mùa đông. Cũng có khi đan cái mùi rơm (bện rơm như tết tóc) châm lửa vào quay cho cháy âm ỉ bên trong, sưởi thì ít mà nghịch thì nhiều. Rồi cũng đi bắt những con cá bằng 2 ngón tay, bọc bùn lại, chất rơm rạ lên mà đốt, cùng hít hà mùi cá nướng thơm phức, rồi tranh nhau bóc bùn ra mà ăn... Tóm lại là chẳng thiếu trò ma mãnh nào.
Bà nội tôi thời đó lưng chưa đến nỗi còng. Mùa thị, bà đan cho tôi chiếc giọ nho nhỏ bằng sợi đay (giờ tôi vẫn nhớ cách đan) và mua một quả thị bỏ vào đó cho tôi treo lên đầu giường, thơm nức cả nhà. Người ta bảo ấn tượng thời nhỏ cực kỳ mạnh mẽ, có lẽ đúng, vì tôi nhớ bà hay nhắc tôi đánh răng trước khi đi ngủ kẻo sẽ bị con gián nó cắn. Thế nên trên đời này tôi ghê nhất cái con mầu vec- ni có tới 6 cái chân nghều ngoào đầy lông lá ấy, cứ nhìn thấy là rùng mình, sởn cả gai ốc. Mùa đông, tôi theo bà rút rơm ngoài cây rơm về rải trên nền nhà đất, trải chiếu lên đó là hai bà cháu có một cái ổ dày, vừa ấm vừa êm. Bà hay kể chuyện cổ tích cho tôi nghe, đúng như mô típ một người bà trong các câu chuyện của các nhà văn. Bà biết đọc (có lẽ nhờ phong trào bình dân học vụ thời nảo thời nào đó) nhưng không biết viết. Mà cũng chỉ đọc được chữ chứ không nhận mặt được các con số. Sau này, khi đã đi học, tôi quyết định "phổ cập" nốt phần "kiến thức hổng" cho bà bằng cách viết một bảng đầy các con số và chú thích bên dưới "Số một", "Số hai" để bà học. Nhưng kế hoạch của tôi phá sản vì hàng mấy chục số liệt kê trên một bảng như thế bà không nhớ xuể.
Ông nội và bác trai ít "can thiệp" tới ba đứa bọn tôi nên ký ức về ông và bác trong tôi không nhiều lắm.
***
Hôm nay, cảnh xưa không còn, mà người xưa cũng đã khác, khác quá nhiều. Chẳng những ông bà tôi đã mất, mà bác trai cũng vừa ra đi. Bác gái thì mắt mờ chân chậm theo đúng nghĩa đen của câu này vì bác bị thiên đầu thống, đã mổ mắt tới mấy lần mà giờ cũng chỉ nhìn thấy lờ mờ. Anh cả nhà bác- một lão nông chính hạng trên mảnh đất chiêm khê mùa thối- gày gò khắc khổ, với nét lam lũ và nghèo khó hằn rõ trên mặt. Anh thứ hai ở Hà Nội, tuy có "nhuận sắc" hơn nhưng cũng mang cái dáng vẻ đặc trưng của một công chức nghèo đang vật lộn với cuộc mưu sinh trong cái thời kinh tế tăng trưởng một thì giá cả leo thang đến hai, ba.
Quê tôi bao đời nay vẫn nghèo quá! Nghèo thâm căn cố đế. (1.000 đồng mua được 8 củ su hào- mà củ cũng to hơn nắm tay chứ đâu phải mới lọt lòng- thì biết đến bao giờ mới hy vọng khá hơn được!!!)
Quê hương! Cái chùm khế ngọt ấy bây giờ ít người có điều kiện (mà đôi khi có điều kiện cũng không còn muốn) trèo hái mỗi ngày.
Thật buồn!














Kỹ sư xây dựng # 23. July 2008, 08:21
" Quê hương là chùm khế ngọt
Ai cao thì hái được nhiều..."