SỰ LAI CĂNG VÀ SUY THOÁI TRONG GIA ÐÌNH VÀ XÃ HỘI CHAM NGÀY NAY
Saturday, December 18, 2010 10:31:24 AM
Về ngôn ngữ[/color]
Dân tộc Cham là dân tộc có tiếng nói và chữ viết khá sớm ở vùng Ðông Nam Á, bắt đầu từ thế kỷ II mà bia Võ Cạnh Nha Trang là một bằng chứng . Ðến nay ngôn ngữ này đã tương đối ổn định kể về cấu trúc chữ viết, chính tả, từ vựng và thừa sức chuyển tải tri thức như lịch sử, chính trị, quân đội, ngoại giao, hành chính, kinh tế, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, lễ nghi, hội hè,v.v. của một quốc gia Champa rực rỡ một thời đã từng tồn tại hơn 15 thế kỷ ở vùng Ðông Nam Á. Ðặc biệt chữ viết này còn đủ sức diễn đạt và viết nên một nền văn chương Cham nổi tiếng đã để lại cho đời nhiều tác phẩm bất hủ như Akayet Dewa Mano, Nai Mai Mang Makah, Ariya Glang Anak, Ariya Cham Bini, Paoh Catuai v.v. Thế nhưng hôm nay, một điều trớ trêu là con cháu của dân tộc này đã không còn sử dụng thành thạo tiếng nói và chữ viết của họ.
Theo số liệu khảo sát thống kê trong chương trình nghiên cứu luật tục Cham (Adat Cham) của chúng tôi vào ngày 1-2 tháng 10 năm 1999 tại Bỉnh Nghĩa (Ninh Thuận) – làng xa xôi nhất vùng Cham ít bị ảnh hưởng Việt thì đa số người Cham hôm nay không nói được tiếng Cham thành thạo và không viết được tiếng Cham mà hầu hết đều viết tiếng Việt trong giao dịch hàng ngày. Cụ thể số liệu phỏng vấn, điều tra 100 người nam giới trong việc sử dụng tiếng nói và chữ viết Cham trong luật tục (Adat) khi tranh tụng thì kết quả như sau:
100 phiếu (100 người nam giới bị phỏng vấn từ lứa tuổi 18 – 70) thì có 78 người, chiếm 78% nói tiếng Cham pha lẫn tiếng Việt và không viết được chữ Cham.
100 phiếu (100 người nam giới bị phỏng vấn từ lứa tuổi 18 – 70) thì có 15 người (lứa tuổi 40- 60), chiếm 15 % nói tiếng Cham pha lẫn tiếng Việt nhưng viết được vài tiếng Cham k ka, g ga (a, b, c) .
100 phiếu (100 người nam giới bị phỏng vấn từ lứa tuổi 18 – 70) thì có 7 người (lứa tuổi 50-70), chiếm 7% nói tiếng Cham pha lẫn tiếng Việt nhưng viết được thành thạo tiếng Cham.
Ngoài ra, một điều đáng chú ý là không riêng gì Bỉnh Nghĩa mà tất cả làng Cham như làng Bỉnh Nghĩa, Thành Tín, Mỹ Nghiệp, Văn Lâm,v.v. khi xét xử luật tục, họ nói tiếng Cham nhưng đều ghi biên bản cuộc xét xử bằng tiếng Việt, chứ không ghi được bằng tiếng Cham.
Từ khi biết nói đến lứa tuổi 70 đều nói pha tiếng Việt đến hơn 60%. Chúng tôi có trao đổi và phỏng vấn điều này với một trí thức Cham Thành Phú Bá, ông có nhận xét rằng: “Rak ni drei ndom yuen o tok di ngak giọng Cham min” (Bây giờ thực ra mình nói tiếng Việt thôi nhưng lại uốn giọng cho giống Cham thôi).
Quả vậy, chúng ta hãy theo dõi một cuộc đoàn thoại trong sinh hoạt hằng ngày giữa hai người Cham: ông A và ông B như sau:
Ông A hỏi: Hâ nao tao mai nan (Mày đi đâu về vậy?)
Ông B trả lời: Kau nao nhậu mai (Tao đi nhậu về)
Ông A hỏi: Nhậu hadom bo buk yau nan(Nhậu bao nhiều mà say vậy)
Ông B trả lời: Kau nhậu ba trăm ngàn luôn. (Tao nhậu ba trăm ngàn luôn)
Ðoạn đối thoại trên của hai ông Cham A và B có pha lẫn tiếng Việt. Ông B chỉ nói tất cả 10 từ nhưng đã có 6 từ là dùng tiếng Việt (nhậu ba trăm ngàn luôn) (từ nhậu được sử dụng 2 lần), chiếm 60%. Thật ra, tiếng Cham có thừa từ để diễn đạt toàn bộ lời đối thoại trên. Chẳng hạn: câu đối thoại: “Kau nhậu ba trăm ngàn luôn” có thể nói thuần bằng tiếng Cham rất hay như : kau manyum alak abih klau rituh rabau". Nhưng tại sao ông B không nói tiếng Cham mà nói xen tiếng Việt? Vì ông B muốn nói xen tiếng Việt để ra oai với bạn, nhấn mạnh số tiền mình bỏ ra nhậu là rất lớn
Một cuộc đối thoại khác của cán bộ người Cham tại Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá Cham Ninh Thuận như sau:
Ông C hỏi: Habar hâ oh đề nghị saong cơ quan ngap kế hoạch nao quay film pak Bỉnh Nghĩa o ? (Tại sao anh không đề nghị cơ quan để làm kế hoạch đi quay film ở làng Bỉnh Nghĩa?)
Ông D trả lời: Dahlak birau nao công tác saong ong L. H. pak Phước Kháng mai min (Tôi mới đi công tác với ông L. H ở Phước Kháng về thôi)
Ðoạn đối thoại trên, ông C nói một câu có 18 từ nhưng đã xen đến 10 từ tiếng Việt (đề nghị, cơ quan, kế hoạch, quay, film, Bỉnh Nghĩa); ông D nói 14 từ nhưng đã có 6 từ lai tiếng Việt (công tác, L. H, Phước Kháng).
Hãy nghe một đọan thông báo trên loa truyền thanh của một Hợp Tác Xã Cham (thôn H.T) như sau: Alô ! Alô! Alô! Dahlak likau thông báo ka abih mikwa dalam palei mai pak sang làng Hợp tác xã họp đúng bảy giờ ba mươi malam ni. Hu ong chủ tịch xã trun mai họp phổ biến chính sách của Ðảng ka hamu tanâh (Alô ! Alô! Alô! Tôi xin thông báo cho toàn thể bà con trong làng đến nhà làng Hợp tác xã họp đúng bảy giờ ba mươi tối nay. Có ông chủ tịch xã xuống họp phổ biến chính sách của Ðảng về ruộng đất.)
Ðoạn thông báo trên có tất cả 43 từ Cham nhưng tiếng Việt đã chiếm hết 25 từ, chỉ còn lại 18 từ Cham.
Qua những ví dụ nêu trên, chúng ta thấy, ngày nay người Cham nói tiếng Cham nhưng lai tiếng Việt gần 60%. Nếu theo tỷ lệ lai căng như thế này, chúng ta phải nói ngược lại mới đúng là: người Cham nói tiếng Việt thôi nhưng lai tiếng Cham 40%. Vì tỷ lệ lai tiếng Việt trong tiếng nói của người Cham đã chiếm quá nữa. Do tỷ lệ lai căng tiếng Việt quá lớn trong tiếng Cham cho nên khi hai người Cham nói chuyện với nhau thì người Việt nếu chú ý nghe kỹ có thể hiểu được đại ý mà hai người Cham muốn nói gì? Bằng chứng vào năm 1995, khi nghe một bảng thông báo trên của HTX Cham, một cán bộ của ngành văn hoá – thông tin (T.V.T) đang thực hiện công tác ở làng này có thể nghe và hiểu được đại ý bảng thông báo của HTX trên muốn thông báo. Từ đó cán bộ này luôn tự hào là mình đã biết tiếng Cham.
Vấn đề người Cham nói lai tiếng Việt và thích nói tiếng Việt trong cuộc sống của người Cham hôm nay không chỉ xảy ra ở vài trường hợp ở bên ngoài xã hội mà còn len lõi vào tận gia đình. Chẳng hạn, người Cham có đầy đủ từ ngữ để chỉ các danh xưng và mối quan hệ gia đình như: ong yét (ông cố), muk yét (bà cố), ong akaok (ông nội, ông ngoại), muk akaok (bà nội, bà ngoại), amâ, ayah (cha), amaik (mẹ), cei, cei po (chú), wa, wa po (bác), nai (thiếm, dì), tamuen, ticaow (cháu), sa-ai kacua (anh hoặc chị cả), sa-ai tâh tabha (anh, chị thứ), sa-ai glaong (anh cao), sa-ai habien (anh thấp),v.v. Thế nhưng ngay trong một số gia đình trí thức hiện nay, đặc biệt có một số trường hợp đang làm công tác bảo tồn văn hoá- ngôn ngữ Cham nhưng gia đình họ không sử dụng danh xưng và ngôi thứ trong tiếng Cham, phong tục Cham mà lại sử dụng ngôi thứ theo tiếng Việt để gọi nhau trong gia đình như ba, má, ai hai (anh hai), ai ba (anh ba), ai năm ( anh năm),v.v. Ðặc biệt trong thế hệ sau năm 1975, nhờ mang danh là dân tộc Cham gốc nên một số người Cham này được Ðảng – Nhà nước ưu tiên cho đi học thẳng đại học mà không cần thi cử gì. Mục đích của Ðảng nhà nước đào tạo những người này để tăng nguồn lực cán bộ, phục vụ đồng bào Cham và trong đó phải có trách nhiệm bảo tồn nòi giống và văn hoá cuả dân tộc Cham. Thế nhưng, khi học xong trở thành cán bộ, đi làm cơ quan nhà nước họ đã thay đổi hoàn toàn, đặc biệt nữ dân tộc Cham khi đi làm họ không còn mặc váy Cham như lúc họ cầm đơn đi xin học trường ưu tiên, mà họ đã thay cái váy bằng quần hai ống cho giống người Kinh khi đi làm ở cơ quan; khi lập gia đình, có con họ dạy con họ nói tiếng Việt không nói tiếng Cham. Về nhà vì con họ nói tiếng Việt nên cả cha lẫn mẹ đều nói tiếng Việt mặc dù gia đình họ là Cham gốc. Khi về quê, cuối tuần ở làng Cham, con họ lại nói tiếng Việt với ông bà nội, ngoại. Cả gia đình đều tự hào, khoe mẽ rằng cháu mình nói tiếng Việt rất thạo, không biết nói tiếng Cham! Thể hệ này sẽ về đâu? Họ tiến biến thành người hiện đại hay họ sẽ trở thành những đứa con lạc loài mất gốc trong thế giới đa dạng ngày nay?
Tuy nhiên, bên cạnh những trường hợp trên cũng có một trường hợp đáng hoan nghênh. Một cán bộ cấp tỉnh (Ðổng Ðại D) có gia đình sống ở Phan Rang nhưng con của họ vẫn nói thông thạo tiếng Cham và tiếng Việt. Con họ còn biết hát cả bài dân ca Cham cho cha mẹ họ nghe. Có một cán bộ Cham (Thành Văn P) sống ở Sài gòn gần 30 năm nay nhưng không những gia đình của họ nói tiếng Cham, sinh hoạt theo kiểu gia đình Cham mà con của họ còn nói được cả 3 thứ tiếng Cham, Việt, Anh. Những đứa trẻ nói tiếng Cham này đến trường, họ cũng học giỏi như người Việt đâu có thua kém gì đâu. Trong khi đó, những cán bộ Cham khác ở Phan Rang, Sài gòn, con cái gia đình họ đều chối bỏ Cham, mặc quần hai ống, nói tiếng Việt . Bài học kinh nghiệm mấy mươi năm nay cho thấy, không riêng gì dân tộc Cham mà cả các dân tộc khác trên thế giới, chẳng hạn như người Kinh sống ở nước ngoài, nếu sống giữa phố thị mà họ không giữ vững được bản sắc văn hoá của dân tộc thì sẽ bị tha hoá, mất gốc và sẽ bị nền văn minh hiện đại cuốn trôi. Người Cham chúng ta có mấy người, chúng ta thử tính nhẩm xem, những đứa con Cham lớn lên ở thành thị, nói tiếng Việt, mặc quần hai ống tỉ lệ thành người trong cuộc sống là bao nhiêu?
Một hiện tượng khác nổi lên trong làng Cham hôm nay là trong đám cưới Cham, bên cạnh cô dâu mặc áo Hàn Quốc, chú rễ mặc Vest thì trong rạp cưới của đôi tân uyên còn trang trí những khẩu hiệu bằng tiếng Việt – Hán đã trở thành phổ biến như “ Tân Hôn, Vu Quy”, “ Trăm năm hạnh phúc” và cụm từ Song Hỷ bằng chữ Hán thay vì viết tiếng Cham như "Salam tuai likei” (Chào đón khách họ trai), "Sa ratuh thun haniim phuel” (trăm năm hạnh phúc). Có một số trường hợp cười ra nước mắt ở đây, họ sử dụng những khẩu hiệu tiếng Việt trong đám cưới nhưng chẳng hiểu ý nghĩa của những khẩu hiệu ấy là gì? Thấy đám cưới người Kinh treo khẩu hiệu, họ cũng bắt chước treo. Vì vậy có trường hợp trong rạp cưới người Cham bên “đàng trai” nhưng họ treo khẩu hiệu” Vu Quy” ngược lại đám cưới bên “đàng gái” nhưng họ treo khẩu hiệu là “ Tân Hôn”.
Sự lai căng và sử dụng tiếng Việt trong tiếng nói và chữ viết Cham đã quá trầm trọng. Chúng ta có giải pháp gì để cứu vớt. Nhận thức được điều này, từ lâu Ðảng- Nhà nước đã ra nhiều chính sách để baỏ tồn ngôn ngữ chữ viết Cham. Từ đó nhiều cơ quan nghiên cứu, biên soạn sách chữ Cham ra đời nhằm mục địch để bảo tồn ngôn ngữ Cham. Tuy nhiên, tiếng Cham hiện nay vẫn đang là vấn đề khủng hoảng chưa có ra. Tiếng Cham sẽ đi về đâu đang là nổi lo một nhiều người. Vậy chúng ta phải làm gì để để nói và viết đúng tiếng Cham?
Trong cuộc Hội thảo về lịch sử ngôn ngữ chữ viết Cham tại Kuala Lumpur vào ngày 21-22 tháng 9/2006 tôi có trao đổi vấn đề không nên lạm dùng tiếng Việt trong giáo trình tiếng Cham thì có một đại biểu tham dự phát biểu ngây ngô rằng: Trong cuộc sống xen cư ngày nay, tiếng Việt lai căng trong tiếng Cham là điều đương nhiên. Tôi đồng ý với ông điều này và tôi chỉ chấp nhận trường hợp nào mà từ vựng Cham không như từ Ðảng, Xã hội Chủ Nghĩa, phim, xi măng … thì chúng ta có thể vay mượn tiếng Việt. Còn các từ khác nêu trên như “ưng, khổ sở, ơn nghĩa, hay, hơn ” thì người Cham có thừa từ riêng của nó để diễn đạt như từ khing, ra-mbak, phuel, ha/ngan, tapa, labaih… nhưng tại sao chúng ta không dùng mà lại vay mượn tiếng Việt ?
Ðề cập đến việc nói và viết đúng tiếng Cham và cũng để biện minh cho cái sai khi viết tiếng Cham của mình, có người cho rằng: “cái sai mà nhiều người dùng sẽ thành đúng”. Hoặc có người đề ra giải pháp để nói đúng tiếng Cham như sau: “ta thử nói tiếng mẹ (nếu chưa có thì cứ bày ra bừa đi ngay trong cuộc chơi đó) thì hay biết bao”. Ðó là hai câu nói tai tiếng mà cộng đồng Cham đáng ghi nhận trong thế kỷ này.
Người Cham bình dân hoặc kỹ sư, bác sĩ, nhà thơ nói và viết tiếng Cham sai hoặc lai căng thì còn chấp nhận được, còn những người có trách nhiệm soạn giáo trình, soạn từ điển, dạy tiếng Cham nhưng lại nói và viết tiếng Cham lai căng thì không biết tiếng Cham sẽ đi về đâu? Hiện nay nguy cơ biến mất về các ngôn ngữ trên thế giới đang báo động. Theo một báo cáo khoa học gần đây nhất hôm 18-9-2007, có 5 khu vực được xem là nấm mồ lớn và có tốc độ huỷ diệt nhanh nhất đối với các ngôn ngữ, đó là: Bắc Châu Úc, Trung Nam Mỹ, Khu vực bờ Thái Bình Dương ở phía trên Bắc Mỹ, Ðông Seberia, Oklahoma và Tây Nam Hoa Kỳ. Báo cáo này dựa trên phân tích dữ liệu của National Greographic Society và Living Tongues Institute for Endangered Language. Các nhà ngôn ngữ học còn cho biết có khoảng 7.000 thứ tiếng đang được sử dụng hiện nay trên toàn thế giới, nhưng phân nữa số này đang gặp nguy cơ tuyệt duyệt, rất có thể hoàn toàn biết mất trong thế kỷ này. Một số mất tích ngay tức khắc khi mà người duy nhất còn có thể sử dụng nó về với tổ tiên. Những số khác thì chết dần chết mòn trong những nền văn hoá song ngữ, khi mà ngôn ngữ bản địa bị áp đảo và khống chế bởi một ngôn ngữ “chính” nào đấy ở trường học, nơi chợ búa, quán xá, truyền hình...
Trong tương lai tiếng Cham sẽ bị xếp vào danh mục những ngôn ngữ bị biến mất trên hay không ? Ðiều này là hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức của mỗi người và cả cộng đồng Cham. Chúng ta biết, không ai sinh ra là đã nói giỏi và viết giỏi. Sự thành thạo tài năng trong việc nói và viết chỉ có thể là kết quả của một quá trình yêu quý tiếng mẹ đẻ, học hỏi không ngừng về tiếng mẹ đẻ, thông qua cuộc sống, học tập hàng ngày trong đời sống nhân dân, trong sách báo về ngôn ngữ , về văn hoá Cham và kết hợp với việc học tập cái hay cái đẹp của tiếng nước ngoài và nhất là thông qua thực tiễn nói và viết hàng ngày với ý thức và trách nhiệm cao của mình trước di sản văn hoá tổ tiên thì nhất định chúng ta có thể nói và viết được tiếng Cham tốt. Một biện pháp đơn giản nhất để cứu nguy cho ngôn ngữ Cham, đó là: Ngay bây giờ mỗi người hãy học chữ Cham và nói thuần tiếng Cham với nhau một cách nghiêm túc trong bất cứ tình huống nào trong sinh hoạt hàng ngày của mình, chứ không phải cứ nói, cứ “bày ra bừa”, nói sai, “cái sai mà nhiều người dùng sẽ thành đúng” như Inrasara và Quảng Ðại Cẩn đề nghị.
Về trang phục
Bên cạnh ngôn ngữ, cái biểu hiện sắc thái của tộc người là trang phục. Trong 54 dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam đều có trang phục riêng của họ. Thông qua trang phục chúng ta có thể biết được tộc người nào? Chúng ta có thể nhìn thấy áo dài xẻ tà, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, nón quai thao chúng ta biết được người Kinh; nhìn thấy khăn phiêu, áo hàng cúc bạc trước ngực ta có thể nhận biết người Thái; nhìn khăn đội đầu, áo quần màu đen vèn đỏ, xanh, trắng ở hai ống tay và chân có thể nhận biết là người Hmông; nhìn chàng trai đóng khố, ở trần là biết được người Eđê. Xa hơn nữa, ở Malaysia, ngoài nhóm dân tộc nhỏ, có có 3 dân tộc sinh sống chính là người Mã Lai, người Ấn Ðộ, người Hoa và thông qua trang phục của họ, chúng ta có thể nhận biết ngay người nào là người Mã Lai, người nào là người Aán Ðộ và người nào là người Hoa.
Trang pục là biểu hiện rõ nhất sắc thái của tộc người. Trang phục còn thì dân tộc còn, trang phục mất thì dân tộc sẽ mất. Thông thường trang phục thường này luôn bị biến đổi theo thời gian nhưng trang phục truyền thống ít bị thay đổi. Lịch sử cũng chỉ ra rằng, trang phục dễ biến đổi nhất là ở cánh đàn ông. Ðàn ông dân tộc nào cũng vậy, luôn ăn mặc theo thời. Thời trước đàn ông người Kinh mặc áo dài khăn đóng và nữ mặc áo dài truyền thồng xẻ hai tà hoặc áo tứ thân. Ngày nay trong xã hội hiện đại, người đàn ông Kinh không mặc áo dài, khăn đóng nữa mà mặc âu phục, quần tây, áo sơ mi, áo Vest và áo dài, khăn đóng chỉ còn lưu giữ ở những cụ già trong những ngày cúng lễ. Ngày nay, chỉ còn phụ nữ Kinh còn lưu giữ áo dài truyền thống mặc ở trường học và công sở. Ðây là một cách gìn giữ trang phục truyền thống của người Kinh mà các dân tộc khác phải noi theo.
Ðối với người Cham cũng vậy. Trang phục Cham rất phong phú đa dạng và phù hợp với mọi lứa tuổi và mọi giới. Cơ bản trang phục nam giới Cham thường mặc áo quạ (aw likei) , mặc sarong hoặc váy trăng (mbek akhan), khăn trắng đội đầu và vắt vai (tanrak ikak akaok) . Trang phục phụ nữ Cham mặc áo dài bít tà (aw kamei), mặc váy (akhan), khăn đội đầu (tanrak). Tuy nhiên ngày nay, trang phục nam giới của người Cham chỉ còn ở một vài cụ già ở làng quê Cham, còn thanh niên hầu hết đã mặc âu phục. Riêng phụ nữ Cham trước 1975, mặc áo dài truyền thống Cham là phổ biến, ít có trường hợp phụ nữ Cham mặc quần hai ống trong làng palei Cham và nơi công cộng. Các nữ sinh Cham đều mặc áo dài truyền thống đến trường. Trước 1975, phụ nữ Cham mặc quần hai ống bị cộng đồng Cham phản ứng, lên án mãnh liệt. Sau năm 1975, đặc biệt là những năm đổi mới gần đây, trang phục phụ nữ Chắm bắt đầu biến đổi dần. Hiện tượng thanh nữ Cham trẻ mặc quần tây, áo sơ mi, mặc quần Jean, áo thun đã đã trở thành phổ biến ở nông thôn Cham . Ở các trường học, một số nữ sinh Cham bắt đầu bỏ áo dài Cham truyền thống để mặc áo dài người Kinh đến trường.
Thực tế, ngày nay một số phụ nữ Cham đang đi ngược dòng nền văn minh đương thời. Thời trang váy, hiện nay không những đang thịnh hành trên thế giới mà đang vực dậy trở thành mốt (mode), thời trang (fashion) của giới sang trọng, quí phái của phụ nữ Hà Nội và Sài Gòn. Trong khi đó cô gái Cham đang vứt váy truyền thống của mình để lượm lặt mặc lại quần tây hai ống, sản phẩm của cư dân du mục. Tại sao một số cô gái Cham bây giờ lại lội ngược dòng văn minh? Một bé gái Cham đã vô tư hỏi cha mình như vậy.
Ba ơi, Sao người Hà Nội lại mặc váy Cham …
Và sao cô gái Cham lại mặc quần như người Tây?
Lặng Thinh.
-Ừ, do thời trang con ạ
Và bão lòng cha tan xuống sóng hồn con …
(Thơ Hứa Phăng)
Nguyên nhân nào dẫn đến một số cô gái Cham thích mặc quần hai ống và áo sơ mi ? Nguyên nhân nào dẫn đến một số nữ sinh Cham thích mặc áo dài người Kinh đến trường? Có muôn vàn lý do khác nhau nhưng có nguyên nhân chính là do họ muốn trở thành người Kinh và một phần khác là do thị trường hiện nay có nhiều trang phục mẫu mã đẹp; quần hai ống, áo sơ mi, áo thun, v.v dễ mua, dễ may, dễ mặc và thuận tiện cho việc đi lại hơn là áo dài truyền thống. Ðó là lý do cho những cô gái Cham thích mặc quần hai ống và áo sơ mi. Tuy nhiên còn một số trường hợp khác nữ sinh Cham thích mặc áo dài truyền thống người Kinh thì không biết rõ lý do gì? Chắc có lẽ họ muốn mặc áo cho giống người Kinh, hoà đồng với người Kinh và chối bỏ mình là Cham chăng ?
Những năm sinh sống ở khu tập thể Phan Rang, tôi chứng kiến một trường hợp E. Mỗi buổi sáng những ngày đầu năm học mới ở cấp ba, mẹ con một cô giái Cham tên F cứ cải vã nhau về chuyện mặc áo dài truyền thống. Mẹ thì muốn con mặc áo dài truyền thống Cham đi đến trường; ngược lại đứa con gái lại thích mặc áo dài người Kinh. Mỗi lần mẹ bảo mặc áo dài Cham cô gái ấy cứ vặt vã khóc lóc và biện hộ cho sở thích mình là mặc áo dài truyền thống Cham rất khó đi xe đến trường.
Lý do cô gái nêu trên có chính đáng hay không? Nếu nói vậy, những cô gái Cham từ xưa đến nay và đặc biệt những nữ sinh Cham trường Po Klaong Phan Rang vẫn mặc áo dài Cham từ làng quê đến Phan Rang để học thì sao? Ðể trả lời điều này, chúng tôi xin đưa ra một ví dụ cụ thể về trường hợp các nữ sinh người Mã Lai để làm dẫn chứng. Hiện nay phụ nữ Mã Lai, đặc biệt những nữ sinh, sinh viên người Malay vẫn mặc váy, áo dài bít tà truyền thồng giống như áo dài Cham, đầu đội khăn, đội nón bảo hiểm phóng xe Honđa như bay trên đường cao tốc đến trường thì sao? Tại sao, phụ nữ Mã Lai mặc váy, áo dài truyền thống cũng như người Cham nhưng họ lại đi xe được, còn phụ nữ Cham lại không? Vì phụ nữ Cham không chịu may váy, áo đúng kiểu áo váy dài truyền thống, khổ rộng như ngày xưa, giống áo người Mã Lai bây giờ (aw dua baong) mà muốn may áo dài khổ hẹp, mặc bó sát người cho nổi đường gân giống như áo dài Kinh. Vì lý do này mà những cô gái Cham nào mặc áo dài truyền thống híp-pi (hippie) quá thì khó có thể đi được xe đạp hoặc xe Honđa. Chúng ta biết trang phục luôn tự thích nghi với điều kiện thời tiết và cuộc sống. Nếu cô giái Cham nào muốn mặc áo dài truyền thống Cham mà đi được xe Honđa thoải mái thuận tiện thì nên may váy và áo dài khổ rộng, đặc biệt là may váy có đường xếp chồng nhau bên hông để có thể co giản phù hợp với kích thước trong việc đi đứng, sinh hoạt hàng ngày, giống như kiểu áo váy truyền thống của người Mã Lai.
Ngày này không chỉ một trường hợp cô gái Cham nêu trên thích mặc áo dài người Kinh đến trường trên đường phố Phan Rang mà trên đường làng quê xa xôi, chúng ta có thể dễ dàng thấy lác đắc một vài cô gái Cham tóc quăn, da đen, môi dày, chân đen màu gà rừng (takai manuk glai) nhưng lại mặc áo dài Kinh đi tung tăng tự hào với tà áo dài bay phất phới. Những cô giái này đích thị là người Cham gốc, ít nhất 3 đời nhưng nếu chúng ta có gặp cô ấy chào hỏi bằng tiếng Cham thì nhất định cô sẽ trả lời bằng tiếng Việt. Vì cô đã chối bỏ mình là Cham ngay từ lúc ban mai khi bắt đầu khoác áo dài người Kinh đến trường
Không riêng gì các nữ sinh Cham mặc áo dài Kinh đến trường, mà đa số những cô gái Cham trẻ hiện nay đi đến công sở đều mặc quần tây, áo sơ mi; một số khác mặc váy, áo sơ mi. Ðặc biệt, trong đám cưới Cham hiện nay, hầu hết cô dâu cú rễ không mặc trang phục truyền thống Cham như trước năm 1975 mà đa số chú rễ mặc áo Vest và cô dâu mặc áo cưới Hàn Quốc (Korea) cũ kĩ đã ngã màu cháo lòng được thuê mướn từ cửa hàng quê mùa của người Kinh.
Một tệ nạn khác cũng đáng quan tâm, ngày xưa, từ dân thường đến quan chức người Cham kể cả người Kinh đều mặc trang phục truyền thống Cham khi lên tháp dự lễ Katé. Ðây là điều bắt buộc theo phong tục của người Cham. Nhưng ngày nay, tục này không còn nữa mà cho đến 80% những người dự lễ, không riêng gì người Kinh mà người Cham, đặc biệt một số cô gái Cham đã lột bỏ áo dài truyền thống để mặc âu phục (quần tây, áo sơ mi) lên tháp dự lễ Katé . Vì thế ngày nay, khi nhìn toàn cảnh ngày hội Katé với dòng người lai căng không còn mang đậm bản sắc dân tộc Cham mà giống như toàn cảnh lễ Chùa Hương ở miền Bắc, lễ Núi Bà Ðen ở Tây Ninh trong dịp tết Nguyên Ðán.
Trang phục truyền thống là biểu hiện sắc thoái văn hoá tộc người. Tuy nhiên nó có thể biến đổi theo thời gian và phù hợp với thời đại. Những cô gái Cham thích mặc quần tây, áo sơ mi hoặc mặc áo dài Kinh đi đến truờng chỉ có vài trường hợp lẻ tẻ, mới xuất hiện những năm gần đây, không phổ biến lắm. Bên cạnh đó, ngày nay đa số nữ sinh Cham vẫn mặc áo dài truyền thống Cham đến trường, một số phụ nữ Cham khác vẫn mặc váy đến công sở làm việc; những bà mẹ Cham vẫn mặc áo dài Cham đủ sắc màu như đỏ, xanh, lam, vàng, tím , đầu đội thúng mủng đi hiên ngang như muốn khẳng định bản sắc và sự hiện hữu của dân tộc mình giữa phố thị Phan Rang hào nhoáng. Ðấy mới gọi là bản sắc, bản lĩnh dân tộc. Ðiều này cho thấy trang phục Cham vẫn còn sức sống. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra ở đây: Trang phục Cham có tồn tại cùng với tộc người Cham trong tương lai hay không? Câu trả lời này thuộc về giới trẻ phụ nữ Cham hôm nay và cả cộng đồng Cham. Vì trang phục dân tộc biểu hiện rõ nét nhất ở phụ nữ. Trang phục phụ nữ mất đi thì bản sắc dân tộc sẽ mất. Chúng ta còn hi vọng gì ở tương lai hay không một khi ngày nay đã có một số phụ nữ Cham thay đổi và chối bỏ trang phục truyền thống của dân tộc mình để mặc quần tây, áo sơ mi và mặc áo dài người Kinh. Phải chăng đây là dấu hiệu của sự suy thoái và biến mất của trang phục truyền thống Cham trong những thế kỷ tới.
Vấn đề hôn nhân Cham - Việt [/color]
Trong lịch sử đã xảy ra sự hôn nhân Cham –Việt đáng chú ý: Vua Jaya Sinhavarman III (Chế Mân) cưới Huyền Trân công chúa vào thế kỷ XIII và vua Po Romé cưới công chúa Ngọc Khoa vào thế kỷ XVII. Cả hai cuộc hôn nhân này đầu tiên mang thắm tình hữu nghị Cham- Việt nhưng hồi cuối lại trở thành bi kịch của lịch sử. Vua Cham Jaya Simhavarman chỉ chung sống với với Huyền Trân công chúa một năm rồi bị mất không rõ lý do; sau đó công chúa Huyền Trần không chịu tang chồng mà lại tìm đường trốn thoát cùng người tình cũ của mình là Trần Khắc Chung về lại Ðại Việt. Vua Po Rome chung sống với công chúa Ngọc Khoa lâu hơn nhưng cuối cùng công chúa Ngọc Khoa cũng bị lịch sử Cham kết án là nhân vật gián điệp gây tai hoạ cho Champa và cuối cùng theo truyền thuyết công chúa Ngọc chúa Ngọc Khoa bị Po Rome đạp chúi đầu xuống một cánh đồng hoang vắng, rồi trở thành tượng đá màu trắng nằm ở cánh đồng Vụ Bổn (Hamu Bruh) gần tháp Po Romé (Ninh Thuận) ngày nay mà không ai thờ phượng.
Trong lịch sử Cham- Việt, không chỉ có hai cuộc hôn nhân trên mà trong quá trình Nam Tiến của Ðại Việt, từ Ðèo Ngang cho đến Bình Thuận đã xảy ra nhiều cuộc hôn nhân. Sau khi xâm chiếm Champa xong (vùng Huế - Ðà Nẵng- Bình Ðình), những binh sĩ của Ðại Việt không trở về lại quê hương yêu dấu của mình mà ở lại luôn vùng đất Champa mới chiếm đóng, lấy vợ Cham và sinh con đẻ cái đến ngày nay. Binh sĩ Kinh lấy vợ Cham nhiều quá đến nổi vua Ðại Việt phải ra chỉ dụ cấm đoán. Vấn đề này được sách sử Việt Nam xác nhận: Hiến Tông Diệu Hoàng Ðế, Kỉ Mùi năm thứ 2 (1499) (Minh Hoàng trị 12), tháng 8 ngày mồng 9, có chiếu rằng:” từ nay trở đi , trên từ thân vương, dưới đến nhân dân, đều không được lấy đàn bà con gái Chiêm Thành làm vợ để cho phong tục được hậu”. Chắc có lẽ vì nguyên do trên mà ngày nay người Cham ở Huế, Ðà Nẵng, Bình Ðịnh,v.v, ngoài số bị chết chóc trong chiến tranh, số còn lại bị lai hết người Kinh nên không còn dấu vết gì là người Cham chăng? Tiếp nối lịch sử, ngày nay, sự hôn nhân giữa Cham – Việt còn thấy phổ biến ở Phan Rí (Bình Thuận) mà sản phẩm của hôn nhân hợp chủng này do đàn ông người Việt lấy vợ Cham cho ra đứa ra con lai F1, F2, F3 mang hai dòng máu Việt – Cham gọi là Kinh Cựu (Yuen – Cham). Riêng ở vùng Cham Phan Rang, hiện tượng hôn nhân hỗn hợp này chưa phổ biển, vì vùng Cham này vẫn còn lưu giữ luật tục Adat cùa họ rất nghiêm khắc. Luật tục (adat) Cham cấm đoạn sự hôn nhân ngoại tộc, chẳng những cấm người Cham Ahier (Cham ảnh hưởng Bàlamôn) kết hôn với Cham Bani/Awal (Cham ảnh hưởng Hồi giáo) mà cấm hẳn người Cham kết hôn với người Kinh. Tuy nhiên, ở vùng Cham Phan Rang, hôn nhân ngoại tộc cũng đã xảy ra một số trường hợp. Riêng hôn nhân giữa người Cham Ahier và Cham Bini xảy ra tính đến nay đã có hơn 40 cặp. Họ vẫn lập gia đình, sinh con đẻ cái, làm ăn, sinh sống nhưng rất khó khăn trong việc sinh hoạt cộng đồng theo luật tục (adat) như nêu trên. Riêng người Cham kết hôn với người Kinh, nếu tính từ thời Pháp thuộc đến nay chỉ xảy ra đối với đàn ông Cham lấy vợ người Kinh. Trường hợp này không phổ biến, chỉ xảy ra khoảng 50 trường hợp, đa số là những trí thức Cham, vì họ có điều kiện đi học, đi làm công sở với người Kinh, sau đó lấy vợ người Kinh. Cụ thể là những cá nhân và gia đình trí thức Cham sau đây có người thân là anh em hoặc con cháu mình có vợ hoặc chồng là người Kinh như Quảng Văn G, Quảng Văn H, Quảng Văn I, Nguyễn Văn K, Phú L, Thành M, Thành Văn N, Chế S, Từ Công T, Sử Thị U, Mã Văn V, Lâm Trung Y và nhiều người khác nữa không thể kể hết ở đây. Riêng trường hợp con giái Cham lấy chồng người Kinh ở vùng Cham Phan Rang trước 1975 rất hiếm nhưng hiện nay, tuy chưa phổ biến nhưng đã xảy ra một số trường hợp rải rác ở làng Văn Lâm, Thành Tín, Bầu Trúc, Mỹ Nghiệp và Hiếu Lễ,v.v.
Những cặp hôn nhân Cham – Kinh trên là hôn nhân khác dân tộc, khác tôn giáo, khác văn hoá. Họ sinh sống, thích nghi và hoà nhập với cuộc sống trong cộng đồng người Kinh hoặc người Cham ra sao? Con cái họ sẽ trưởng thành như thế nào trong gia đình hợp chủng này? Kết quả này chưa có dự án nào nghiên cứu và cho số liệu cụ thể. Tuy nhiên, ngày nay mọi người đều nhận thấy, theo luật tục (adat) Cham đa số đàn ông người Cham khi lấy vợ người Kinh thì thoát ly quê Cham. Họ mất đi quyền lợi và nghĩa vụ trong gia đình và cộng đồng của mình như không được tham gia cúng lễ trong gia đình, tộc họ; không được tắm rữa thi hài cho cha mẹ để báo hiếu khi cha mẹ mất; khi tuổi về già hoặc chết, thân xác của họ được đưa về cho người thân, họ hàng Cham làm đám tang và dĩ nhiên, cuối cùng linh hồn của họ không được nhập vào nghĩa địa của tộc họ mẹ, cụ thể là Kut chính mà chỉ nhập vào Kút Lihin đối với Cham Ahier và nằm ở Takai Ghur đối với Cham Bani. Riêng phụ nữ Cham lấy chồng người Kinh, họ cũng thoát ly quê Cham theo chồng, họ giã từ chế độ mẫu hệ để về làm dâu xứ người với một tập tục, cách sinh hoạt gia đình, nghi lễ quang, hôn, tang, tế khác hẳn với phong tục người Cham. Bản thân con dâu người Cham thích ứng ra sao với môi trường văn hoá gia đình- xã hội người Kinh với hệ tư tưởng Nho giáo làm nền tảng? Ðây là hiện tượng mới xuất hiện ở vùng Cham Phan Rang trong vài năm trở lại đây. Vì vậy chưa ai biết tương lai họ như thế nào? Chỉ biết rằng, trước mắt gia đình và cộng đồng Cham mất đi những phụ nữ – những người đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và lưu giữ chế độ mẫu hệ Cham trong suốt hàng ngàn năm lịch sử. Chế độ mẫu hệ của người Cham, đi theo nó là cả một hệ thống nền tảng văn hoá gia đình – xã hội có tồn tại hay không là do phụ nữ quyết định. Ðàn ông Cham đi lấy vợ ngoại tộc là đã trái với đạo luật (adat) Cham, nhưng ngày nay phụ nữ Cham lại bắt đầu từ bỏ cộng đồng mình đi lấy chồng người Kinh. Ðây là dấu hiệu của sự suy thoái và tan rã của chế độ mẫu hệ Cham trong tương lai nếu hiện tượng này vẫn còn tiếp diễn.
Vấn đề hôn nhân khác dân tộc, khác tôn giáo là đối tượng nghiên cứu phổ biến của ngành dân tộc học và xã hội học ở các nước phát triển. Hiện tượng hôn nhân Việt - Cham, Cham – Việt cũng đang là mối quan tâm trong xã hội Cham ngày nay và đã có một số tác giả như Phan lạc Tuyên và Phan Xuân Biên đã đề cập trong những công trình nghiên cứu họ . Vì vậy, trong phạm vi bài này, chúng tôi tiếp tục đề cập và gợi mở thêm những vấn đề mới, chuẩn bị cho những công trình nghiên cứu tiếp theo, cụ thể hơn, nhằm góp phần tìm hiểu về trường hợp hôn nhân ngoại tộc trong hệ thống hôn nhân và gia đình của người Cham trong quá trình lịch sử cũng như trong xã hội hiện đại của một quốc gia đa dân tộc Việt Nam thống nhất.
Ngày nay trên thế giới hay nói cách khác là loài người tiến bộ đang đổ xô tìm về cội nguồn dân tộc để chứng minh và khẳng định sắc tố của dân tộc mình qua ngôn ngữ, trang phục, hệ thống gia đình- xã hội và nghi lễ hội hè hàng năm. Ðối với dân tộc Cham, hiện nay do chính sách Ðảng – Nhà nước quan tâm cho nên xã hội Cham đang vực dậy những nghi lễ và hội hè. Tuy nhiên, đằng sau những nghi lễ, hội hè thì bên trong chứa đựng sự lai căng và suy hoái của gia đình và xã hội trên các lĩnh vực ngôn ngữ, trang phục, cách xưng hô ngôi thứ trong gia đình và hôn nhân ngoại tộc. Tuy nhiên một điều trớ trêu thay, những trường hợp nêu trên đa số là rơi vào một số cá nhân và gia đình trí thức đang làm công tác bảo tồn văn hoá Cham mà chúng tôi đã nêu trên. Một bộ phận trí thức khác mà chúng ta cũng đáng chú ý ở đây, đó là một số cán bộ, giáo viên, bác sĩ .v.v. do có chút ít kiến thức Việt học, ảnh hưởng một phần văn hoá ngoại lai, tiếp thu lối sống mới qua người Kinh cho nên họ không quan tâm gì đến văn hoá truyền thống Cham. Tất cả di sản văn hoá Cham ngàn năm mà cha ông để lại, họ đều cho là lạc hậu, lỗi thơiø, cần phải dẹp bỏ, để rồi họ đua nhau nhắm mắt chạy theo văn hoá hiện đại một cách mù quáng. Lực lượng này đang góp phần cùng với những nhân tố tiêu cực khác của xã hội hiện đại làm biến đổi bản sắc văn hoá Cham cũng như làm cản trở sự nghiệp bảo tồn di sản văn hoá truyền thống của người Cham ở Việt Nam hiện nay. Cuối cùng, lực lượng nông dân, trí thức bản địa Cham (Po Adhia, Basaih, Po Acar, Maduen, Gru Urang…) do họ ít tiếp xúc với người Kinh, với văn hoá hiện đại, cộng với kiến thức dân gian sẵn có cho nên tiếng nói của họ ít lai tiếng Việt; chữ viết của họ không bao giờ bị cải biên (có paok gak); gia đình của họ vẫn là gia đình nề nếp theo mẫu hình văn hoá Cham truyền thống, ít có trường hợp gọi ba má, ai hai (anh hai), ai ba (anh ba), ai năm (anh năm)… trong gia đình của họ. Ðây mới là lực lượng chính yếu góp phần đắc lực cho sự nghiệp giữ gìn và bảo tồn di sản văn hoá Cham ở Việt Nam mà chúng ta đáng phải quan tâm và chăm sóc.
(Source: http://monsakaya.com với 1 chỉnh sửa nhỏ, chuyển Chăm -> Cham)













hoasu_tuliphoasu-tulip # Thursday, February 17, 2011 4:26:15 PM