Vẽ tường nghệ thuật

ve tuong nghe thuat,ve tuong tp hcm

Subscribe to RSS feed

Dạy vẽ thiếu nhi tại nhà

, , ,

DẠY VẼ THIẾU NHI TẠI NHÀ
Học sinh học tại nhà.
Nhiều giáo viên tốt nghiệp trường Mỹ thuật giảng dạy.
Giáo trình biên soạn sẵn cấp cho phụ huynh theo dõi kết quả học tập.
Mỹ thuật Basic
55B Nguyễn Thị Minh Khai, Q.1, Tp. HCM
Ghi danh: 08 6680 5751 0985 993 345 – 0932 299 453.
Học phí :
1,2 triệu / 8 buổi/tháng .
600 nghìn / 4 buổi/tháng.
Thời gian: 1 giờ 15 phút (phụ huynh có thể chọn giờ học phù hợp cho bé).
Có lớp vẽ thiếu nhi và lớp luyện thi mỹ thuật đang hoạt động ở Nhà Văn Hoá Lao Động.



Vẽ tường

Công Ty Mỹ thuật Basic
Đt : 08 6680 5751 - Hotline: 0932299453 (Mr.Thọ)- 0985993345 (Mr. Tâm)
Website: tttt.vn – Email:basic4t@gmail.com
Đc: 41f/14 Đường Trục, P.13, Q. Bình Thạnh, Tp. HCM.





http://i1213.photobucket.com/albums/cc462/thanhtam852002/oil_horse_409.jpg

























REPIN

, ,

REPIN
Đây là một bức tranh nổi tiếng thế giới được mọi người ca tụng: “những người kéo thuyền trên sông Vônga”.
Trên con sông Vônga lớn nhất Châu Âu, trời nắng như đổ lửa, hơi nóng bốc lên ngùn ngụt. Một đám phu kéo thuyền Nga đang gò lưng kéo dây chão, lê bước nặng nề, nhọc nhằn trên bãi sông nóng bỏng.
Đi đầu là một ông lão kéo thuyền. Trên gương mặt giãi dầu sương gió của ông là đôi mắt hiền lành, vẻ dau khổ hiện ra trên ánh mắt. Đi sát bên ông là một người đàn ông khỏe mạnh, dáng khôi ngô, tràn trề sức lực nhưng dường như cũng không chịu nổi vất vả của công việc tỏ ra hơi mệt mỏi. Phía sau là một anh chàng rõ ràng mới nhập cuộc, da dẻ chưa bị sạm nắng, chắc chưa quen với công việc nặng nhọc này nên nét mặt lộ ra vẻ bất bình, tay nắm chặt dây chão kéo như để giảm bớt nỗi đau đớn cho da thịt.Hai người già đi bên cạnh, một người hết sức yếu ớt, đang lấy tay áo quyệt mồ hôi, một người như đã quen với công việc này vừa đi vừa nhét sợi thuốc vào tẩu. Phía sau là một anh lính mặt quân phục, chắc anh ta một thời đã bán mạng cho Nga hoàng nhưng sau khi giải ngũ thì tìm không được công việc gì tốt hơn, đành đến đay để kéo thuyền.
Bức tranh phản ánh sâu sắc cuộc sống lao động nặng nhọc và đau khổ của những người Nga thuộc lớp đáy của xã hội, đồng thời cũng biểu hiện sức mạnh to lớn tìm tàng của họ.
Người sáng tác “Những người kéo thuyền trên sông Vônga” là Rêpin, họa sĩ bậc thầy của nước Nga. Ông vẽ bức tranh này khi mới 29 tuổi.
http://i1213.photobucket.com/albums/cc462/thanhtam852002/repin_barge_haulers_on_the_volga.jpg
Rêpin xuất thân trong một gia đình quân nhân. Cha ông quanh năm phục dịch trong quân đội Nga hoàng, mẹ ông làm nghề may vá giặt giũ thêm, đời sống hết sức khó khăn, Rêpin có một người anh họ học việc trong một xưởng vẽ. Anh này thường mang về cho Rêpin một số bột màu dùng để vẽ tranh thuốc nước. Bé Rêpin có năng khiếu bẩm sinh về hội họa, dùng thuốc màu để tô vẽ người và cảnh vật thiên nhiên là điều thích thú nhất của cậu. Cậu thường hí hoáy vẽ quên ăn quên ngủ.
Năm lên 7 Rêpin ốm một trận. Một bà lão ở nhà bên cạnh nói với cậu rằng trẻ con dưới 7 tuổi chưa có tội, chết có thể lên thiên đường. Bé Rêpin lo lắng hỏi bà:
- Trên thiên đường có thuốc màu và giấy bút để vẽ không?
- Hóa ra chết cậu cũng không sợ, chỉ sợ không được vẽ.
Rêpin lớn lên dần, tranh của Rêpin vẽ cũng ngày càng đẹp thêm. Tranh thánh thì khỏi phải nói, đến tranh chân dung vẽ cho người ta cũng rất giống. Thế là những người ở gần đấy đều nhờ cậu vẽ. Cậu làm việc này để kiếm tiền giúp thêm cho chi dùng của gia đình. Về sau, làng bên cạnh cũng nhờ cậu vẽ tường cho nhà thờ, nhờ đó cậu có được chút tiếng tăm. Địa phương có một trường đo đạt địa hình quân sự, Rêpin vào học hai năm ở đấy, thêm được một số kiến thức hội họa. Từ đó cậu vẽ càng có kinh nghiệm hơn.
Năm 1865, Rêpin 19 tuổi đến kinh đô petécbua học vẽ. Cậu muốn vào học viện Mỹ Thuật ở đây, nhưng vì xuất thân nghèo khổ, từ tỉnh lẻ đến, lại thiếu sự chuẩn bị cần thiết nên không được nhận vào học. Rêpin không nản lòng, xin vào học ở một trường hội họa được bảo trợ, đồng thời trông nôm người ta sơn các nóc nhà, xe ngựa … để có tiền sống. Một năm sau cậu được toại nguyện thi đỗ vào Học viện Mỹ Thuật.
Rêpin biết, một học sinh xuất thân nghèo như cậu nếu không muốn bị đẩy ra khỏi trường đại học, chỉ có cánh duy nhất là phải chịu khó chịu khổ học tập. Năm thứ hai, do thành tích học tập nổi bật, cậu được Học viện tặng danh hiệu “nhà nghệ thuật tự do”. Đều này giúp cho cậu có vị trí vững chắc ở Học viện, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc trau dồi tay nghề. Những năm 70 của thế kỷ 19, một số họa sĩ hiện thực chủ nghĩa Nga tổ chức ra một đoàn thể nghệ thuật tiến bộ: Hội triển lãm lưu động. Các họa sĩ tham gia Hội này đều sáng tác dưới sự chỉ đạo của quan điểm mỹ học dân chủ cách mạng của Bêlinxki và sécnưxepxki và thường xuyên đem các tác phẩm của mình đến thành phố để triển lãm lưu động.
Không ít tác phẩm của họ đã phản ánh ở mức độ nhất định đời sống bi thảm của nhân dân lao động Nga, vạch ra sự đen tối của những tàn dư của chế độ nông nô Nga dưới sự thống trị của Nga hoàng. Rêpin tiếp thu quan điểm nghệ thuật của họ, đã tham gia vào tổ chức này trong khi còn dang học.
Mùa hè năm 1869, Rêpin với tư cách là sinh viên của Học viện Nghệ thuật, đến sông nêva để vẽ thực cảnh. Phong cảnh đẹp đẽ ở dây làm cho anh say mê thì cảnh những người phu xuất hiện đã khiến anh giật mình. Rêpin ý thức được: đây là hình tượng điển hình của một chế độ xã hội bất hợp lý ở Nga. Anh quyết định vẽ.
Để có được cảm thụ chân thực, Rêpin đến sông Vônga để thể ngiệm cuộc sống. Anh sống chung với những người phu kéo thuyền. Anh theo họ đi dọc con sông, quan sát tỉ mỉ dáng vẻ bề ngoài, tình cảm và động tác của họ, vẽ rất nhiều phác họa, ký họa và tranh thuốc nước. Anh kết bạn với một số phu kéo thuyền. Về sau, những người này đều trở thành người mẫu chủ yếu trong tranh “Những người kéo thuyền trên sông Vônga” của anh.
Năm 1871, Rêpin tốt nghiệp Học viện Mỹ thuật. Tác phẩm tốt nghiệp của anh là một bức tranh truyện tôn giáo kể về Giêsu làm cho một thiếu nữ đã chết sống lại.
Rêpin không thích thú gì về việc làm tranh đề tài này, nhưng đây là đề tài được thầy chỉ định, phải hoàn thành theo quy định. Sau khi nhận đề tài trước tiên anh nghĩ đến các thủ pháp hiện thực chủ nghĩa, làm cho đúc mẹ, Giêsu và thiên chúa… trong truyện đều có tư tưởng tình cảm con người. Nhưng anh phác thảo nhiều lần đều không thành công. Về sau, anh hình dung lại cảnh sống chung với người chị thời thơ ấu cùng với tình cảm tuyệt vọng của mình sau cái chết đột ngột của người chị để đưa vào tác phẩm; đồng thời nhờ người anh đang học ở Học viện Âm nhạc đàn cho nghe bài “ánh trăng” của bécttôven để gợi cảm xúc. Kết quả, anh đã hoàn thành được bức tranh này. Bức tranh nồng nàn hơi thở cuộc sống, giàu tình người, khác xa với tác phẩm của các bạn học khác, vì vậy anh được nhận huy chương vàng và phần thưởng đi du lịch nước ngoài.
http://i1213.photobucket.com/albums/cc462/thanhtam852002/Ilja_Jefimowitsch_Repin_013.jpg
Khi đó, bức tranh “Người kéo thuyền trên sông Vônga” chưa hoàn thành, Rêpin quyết định hoãn lại thời gian đi du lịch nước ngoài. Hai năm sau, tác phẩm hoàn thành, khi trưng bày lập tức làm chấn động giới hội họa Nga. Rêpin đã thành danh, bấy giờ anh mới biết đến Italia và Pháp để du lịch.
Năm 1876, ở nước ngoài về, Rêpin trở về quê nhà, vẽ rất nhiều tranh cho nông dân. Trong hơn 10 năm sau đó, Rêpin sáng tác rất nhiều tác phẩm về đề tài cách mạng trong đó nổi tiếng nhất có “Từ chối sám hối trước lúc sắp bị hành hình” và “Không hẹn mà về”.
Bức tranh “Từ chối sám hối trước lúc sắp bị hành hình” thể hiện ý chí hiên cường và khí phách anh hùng xem thường cái chết của người cách mạng. Theo thói quen truyền thống của Nga, Phạm nhân bị xử tử hình, trước khi lâm hình phải sám hối tội lỗi của mình trươc Thượng đế dưới sự hướng dẫn của cố đạo. Nhưng người tù trong bức tranh này trước lúc sắp bị hành hình lại từ chối tiếp nhận cái nghi thức giả dối này.
http://i1213.photobucket.com/albums/cc462/thanhtam852002/ilja_jefimowitsch_repin_005.jpg
Trong buồn giam, một người tù ngồi trên giường, chân kiễng lên lạnh lùng chăm chăm nhìn viên cố đạo đang đi đến. Cảnh đặc tả này chứng tỏ viên cố đạo muốn anh ta sám hối với thượng đế, nhưng vẻ mặt và động tác của người tù lại chứng tỏ anh không thừa nhận mình có tội, do đó từ chối sám hối. Rõ ràng, anh ta là một người cách mạng có lý tưởng. Trong buồn giam âm u, một luồng ánh sáng chiếu thẳng trên người phạm nhân. Xử lý ánh sáng như vậy đã lột tả một cách sắc nét tính cách kiên cường của người cách mạng.
http://i1213.photobucket.com/albums/cc462/thanhtam852002/ilya-repin-refusing-confession-18851.jpg
Tranh “ Không hẹn mà về” miêu tả sinh động một người cách mạng bị nhà cầm quyền Nga hoàng lưu đày nhiều năm, bất ngờ trở về nhà. Nhân vật chính để ở vị trí nổi bật nhất trong bức tranh. Anh mệt mỏi bước vào nhà. Qua cách ăn mặt của anh và cảnh trí trong nhà thì rõ ràng đây là một trí thức.
Sự trở về đột ngột của anh đã gây ra những phản ứng khác nhau của những người trong nhà: bà mẹ già từ ghế xô - pha đứng lên, tuy chỉ vẽ khuôn mặt nhìn nghiên nhưng có thể cảm thấy được tâm trạng lo mừng lẫn lộn của bà khi sự mong ước con trai trở về đã thành hiện thực; người vợ ngồi trước đàn dương cầm như ngớ người ra nhìn chồng chứng tỏ việc anh về là ngoài dự đoán của chị; hai đứa con dang làm bài, đứa lớn nhận ra người vừa đến là bố đã xa nhà nhiều năm, vui mừng reo lên; đứa bé rõ ràng chưa biết gì khi bố xa nhà, thấy người lạ xông vào nhà thì hoảng hốt, mắt đầy vẻ khinh ngạc. Cả người đầy tớ gái mở cửa cho người khách không mời mà đến cũng đứng tần ngần nhìn, “khách” vào nhà rồi mà bàn tay vẫn đặt trên núm cửa… Tác giả thông qua việc thể hiện tâm trạng của các nhân vật ở khoảnh khắc này, để nói lên tấm lòng tôn kính của mình với người chác mạng.
http://i1213.photobucket.com/albums/cc462/thanhtam852002/They_did_not_Expect_Him.jpg
Rêpin luôn muốn triển lãm các tác phẩm của mình nên thường bị nhà cầm quyền Nga hoàng kiểm tra. Tât s nhiên những tác phẩm phản ánh những người cách mạng chống lại Nga hoàng không được thông qua. Song những tác phẩm như “Từ chối sám hối trước lúc sắp bị hành hình”, “không hẹn mà về” đều được thể hiện một cách kín đáo tư tưởng tiến bộ của ông nên không bị nhà cầm quyền gây khó dễ.
Sau khi trở thành họa sĩ nổi tiếng, Rêpin vẫn sống cuộc sống tằn tiện giản dị. Khi đi du lịch ông chỉ ăn cơm ở quán cơm nhỏ và tự mình thu xếp lấy những công việc vặt vãnh trong sinh hoạt.
Ông hết sức cần cù trong sáng tác nghệ thuật. Đến đâu, ông cũng luôn luôn quan sát mọi người, thầm lặng miêu tả chân dung họ. Ông luôn mang theo mình một bản ký họa. Đi đến đâu ông vẽ đến đó. Mỗi bức tranh ông đều sửa đi sửa lại đến khi hài lòng mới thôi.
Rêpin đã vẽ bức tranh “puskin trên bờ sông Nêva”. Bức tranh này ông sửa không biết bao nhiêu lần, đã để trên giá vẽ hơn 20 năm. Do sửa chữa quá nhiều, bộ phận đầu của Puskin trên vải vẽ dày cộm lên vì nhiều màu sắc. Để sáng tác bức tranh này ông thường xuyên thu thập tư liệu có liên quan đến chủ đề bức tranh, vẽ rất nhiều phác thảo, cuối cùng mới hoàn thành bố cục lần cuối.
Làm việc quá miệt mài, về già tay phải của Rêpin bị liệt, không cầm được bút để vẽ nữa. Nhưng là một họa sĩ rất có nghị lực, ông đổi sang vẽ tay trái, lấy dây treo mảnh gỗ pha màu vào cổ. Về sau, thầy thuốc cấm ông vẽ vào ngày chủ nhật. Cứ đến ngày ấy là người nhà lại thu dọn các dụng cụ vẽ của ông. Nhưng điều này cũng không làm cho ông ngừng làm việc. Ông nhặt các đầu mẩu thuốc trong chiếc gạt tàn, chấm mực rồi vẽ vào những mảnh giấy nhỏ.
Rêpin 6 tuổi học vẽ, 86 tuổi qua đời. Thời gian học vẽ và vẽ dài đến 80 năm. Đây là điều hiếm thấy trong lịc sử mỹ thuật thé giới. Tác phẩm của ông đánh dấu nền nghệ thuật hội họa Nga nửa sau thế kỷ 19 đã phát triển đến một giai đoạn lịch sử mới.

tttt.vn


TRANH CO DIEN

, , , ...

ve chi,tranh ve chi,ve than

, , , ...

MOT SO TRANH VE CHI :




NHAN VE CHAN DUNG
LIEN HE :MR TAM :0985993345

http://http://my.opera.com/vetuong/blog/addpost.dml

ve tuong ,tranh 3d tren tuong

, , , ...

Những tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao được thực hiện bởi David Jon Kassan thực sự khiến người xem phải thán phục. Mời các bạn cùng chiêm ngưỡng những tác phẩm của chú ý ...Phải nói là : Quá tuyệt ,nếu đang di trên đường bất giác quay sang có thể sẽ nhầm tưởng đây là người thật


0985993345(mr.Tam)


vetuong/blog/addpost.dml

vetuong

, , ,

Hien nay tranh tuong la mot thanh phan khong the thieu trong trang tri noi ngoai that o cac nuoc tren the gioi

Read more...

Tình yêu của George Sand : Nữ văn sĩ Pháp

Tình yêu của George Sand : Nữ văn sĩ Pháp


Có những người sinh ra là để yêu, yêu cuồng nhiệt, yêu quên trời đất.Người đó chính là Alfred de Musset. Từ mấy năm rồi chàng cứ thấp thỏm, đợi chờ một tình yêu. Musset viết thư cho bạn mình rằng : Chỉ cần một người đàn bà đến với tôi là tôi quên tất cả những gì tự nguyện trong mấy tháng ẩn dật, yếm thế. Nàng chỉ cần đưa mắt nhìn tôi là tôi sẽ thờ phụng nàng ít ra trong sáu tháng. Sao người ta tàn nhẫn để tôi ở đây quá lâu như vậy ! Tôi cần một bàn chân đẹp và một thân hình mảnh mai. Tôi cần được yêu. Tôi có thể yêu bà chị họ già khọm và xấu xí của tôi nếu mụ ta không hách dịch và hà tiện. Mới 17 tuổi đầu, Musset "đã lên cơn sốt" ái tình mãnh liệt như thế.

Mỗi lần ra đường chân chàng lúc nào cũng rảo bước trên đại lộ Gand, mắt liếc gái ngang dọc, Musset coi bộ người lớn trong chiếc quần màu da trời và áo đuôi tôm màu lục. Một chiếc nón "model " chụp lên mái tóc vàng, dài, uống thành lọn. Gương mặt trịnh trọng, sáng rỡ và trái cổ cứ chạy lên chạy xuống mỗi lần có một nàng tiên nào lướt qua.

Ánh mắt đột nhiên mơ mộng, vầng trán cao chợt nhăn khẽ. Còn chiếc miệng, thì như Lamartine nhận xét, "nó bất định giữa nguồn vui và nỗi buồn". Con người có thân hình dong dỏng cao, đỏm dáng đó chưa chợp bắt được tình yêu, như cứ làm thơ tình tưởng tượng như điên. Năm 1830, Musset được 20 tuổi, tập thơ bỏng cháy khát vọng yêu đương đầu tay ra đời. Bà dì già khó tính của Musset là một nữ tu, khi đọc tập thơ "lẳng lơ " của chàng, bà đã từ cháu mình và không cho hưởng gia tài, chỉ vì thơ chi mà toàn là yêu với đương, mê với loạn, trai với gái, con người đức hạnh như bà làm sao chịu nổi.

Càng ngày chàng thợ săn ái tình càng lùng kiếm ráo riết "con mồi trong mơ" của mình, có lúc tưởng bắt được nhưng với hai bàn tay không chàng chộp hụt "con mồi" đó, nó bay tít lên những căn nhà lộng lẫy, cao ngất nghểu trong thành phố. Mãi đến tháng 6 năm 1833, Musset mới ôm được vào lòng một con chim có cánh nhưng không muốn bay, đó là nữ nam tước Aurore Dupin, có lẽ cái tên có vẻ cải lương phường tuồng quá nàng đổi thành bút hiệu George Sand, xuất hiện trên văn đàn nước Pháp như một hiện tượng mới lạ qua tác phẩm Indiana.

Nhà phê bình văn học Sainte Beuve muốn dẫn Musset lại giới thiệu với George Sand, mặt dù đã nghe tên tuổi "thơ thẩn" của chàng, nhưng G. Sand vẫn từ chối : -"Nghĩ kỹ lại tôi không muốn anh dẫn Alfred đến giới thiệu với tôi. Hắn "con gái" quá, không hợp tính với tôi, vả lại tôi muốn hắn hiếu kỳ hơn là vì quyền lợi. Tôi nghĩ hắn muốn làm quen để thỏa mãn cái gì đó là rất bậy. Tình cảm chân chính vẫn tốt hơn".

Nhưng ghét của nào trời trao của ấy, trong một bữa ăn có xếp đặt trước ở quán Frères Provancaux, chàng hai mươi tuổi ngồi kế nàng hai mươi chín tuổi. Chàng tán nàng nghe. Chàng thực hành tiếng Pháp hay đến nỗi nàng phải bật cười, thầm công nhận cách ăn nói của Musset.

Hôm đó, nhà thơ trẻ hết sức phấn khởi, cố gắng đem miệng lưỡi Tô Tần chinh phục nữ văn sĩ có đôi mắt đen, đẹp và sâu thẩm đó. Mái tóc màu hạt huyền, nước da màu long diên hương của nàng chính là người trong mộng, trong thơ của chàng:

Tôi thường nguyện sẽ chọn nàng
Ở Napples, nơi rám nắng vì ánh mặt trời chì
Làm lão mục đồng phải ngái ngủ trong bóng tối
Một làn môi của gái Thổ, và dưới một chiếc cổ thiên nga
Là một ngực trinh bạch, vàng ánh như màu nho non.

Và đêm về, Musset cứ thả hồn mơ mộng, mỉm cười ruồi một mình. Ái tình quá thật thần tiên. Nó là một loại tiếng sét dữ dội nhưng êm như nhung, làm sảng khoái tinh thần hơn trăm hộp thuốc bổ. Sau vài lần la cà thăm viếng, vài bữa ăn cho thêm thân mật, vài cuộc đi dạo đàm luận văn chương, hôm nọ, để chứng tỏ với người đẹp là mình đã mê nàng quá rồi, "mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội" và chàng nhảy ùm xuống biển Baltique, khốn thay hành động ấy không lay động con tim nàng. Musset buồn bã viết cho nàng một bức thư: "Cô George thân mến, Tôi có vài chuyện vẩn vơ và kỳ cục muốn nói với cô. Tôi viết cho cô một cách ngu xuẩn như vầy thay vì phải nói thẳng với cô trước, sau cuộc đi dạo hôm ấy, tôi không biết vì sao. Tôi yêu cô. Yêu từ ngày đầu gặp gỡ. "

Ở cái tuổi 29, người đàn bà nào không cảm thấy thích thú khi có chàng trai trẻ tỏ tình. Nhưng muốn một kẻ quá tải ái tình như nàng yêu thì phải có thời gian cơ. George Sand không trả lời. Musset tấn công phát thứ hai : "Cô hãy yêu những kẻ biết yêu. Riêng tôi, tôi chỉ biết đau khổ. Có những ngày tôi muốn tự tử, nhưng rồi tôi khóc, rồi tôi cười. .."

George Sand vẫn tỉnh như sáo trước lời ong bướm lâm li đó, nhưng câu chót của bức thư khiến nàng rạo rực một cảm giác kỳ lạ :

"vĩnh biệt George, tôi yêu cô như một đứa trẻ."
"Như một đứa trẻ" nàng thốt lên bàng hoàng, bàn tay run rẩy bóp chặt lá thư. Chàng yêu mình như một đứa trẻ ! Mon Dieu ! Chúa ơi ! Chàng đã đánh động đến điều bí mật của mình - những cái sâu thẳm trong mong ước đau khổ !.

Quả thật nàng đang cần được yêu "như một người mẹ". Và đêm 29 tháng 7 năm 1833, người đàn bà thích có một "tình cảm thiêng liêng" như thế đã trao thân cho chàng, cho một đứa trẻ lao đầu xuống biển Baltique, hô hấp nhân tạo cho hắn hồi sinh trong bầu dưỡng khí tình cảm "rất mẹ" của nàng. George làm kẻ cứu độ hay người quy hàng trước một cậu bé ? Có điều chắc chắn rằng nàng yêu: "mỗi ngày tôi yêu chàng thêm, mỗi ngày tôi thấy những tính xấu của chàng đã làm tôi đau khổ tan dần...”.

Cuộc tình như vườn hoa mùa xuân, đơm hoa kết nụ rực rỡ trong căn phòng số 19 đường Malaquais, khách sạn Bouillon. Nàng cảm thấy sung sướng và trẻ lại rất nhiều trong cái "con nít" của người yêu. Căn phòng ngát hương tình, lộng gió yêu thương, nước mắt rơi cho hạnh phúc đong đầy.

George đứng trong phòng
Giữa hai bình hoa
Mắt mờ lệ.

Nàng đứng tựa cửa phòng, trên người khoác áo lụa màu vàng, mang giày không gót, thắt cà vạt như đàn ông, mái tóc trùm một chiếc lưới kiểu Tây Ban Nha, mơ màng nhìn Alfred trong làn khói thuốc xì gà tỏa ra từ chiếc tẩu lam bằng gỗ anh đào trên tay nàng. Chàng đang chống tay lên giường, chống ngược đầu, hai bàn chân quơ quơ trong không khí, đập nhịp theo tiếng hát trẻ trung đang phát ra từ lòng ngực tràn ngập niềm vui của chàng. Tiếng cười của hai kẻ đang yêu giòn tan như pháo cưới.

Một hôm George đang tiếp nhà báo Lerminier ở phòng khách, Alfred muốn tạo một mẻ cười bất ngờ, chàng cải trang thành nhân viên nữ khách sạn, mặc váy ngắn, mang vớ màu để dọn ăn cho lão già khắc khổ, đạo mạo đó. Giả bộ trợt chân, Alfred bưng khay thức ăn đổ ụp lên đầu cây bút chính trị của tạp chí Revue de Deux Mondes. Lão chưa kịp phản ứng thì chàng ngang nhiên ngồi cạnh lão, đôi nhân tình được một trận cười đứt ruột, còn lão già đành nuốt giận làm vui cho phải đạo "nhập gia tùy tục".

George Sand là một con người thâm trầm, sâu sắc, nhưng từ khi quen với Alfred, thói quen lý luận, đào sâu những vấn đề trừu tượng tạm thời lắng xuống, hiện giờ nàng chỉ có nguồn vui làm nàng say mê nhất là tính bông đùa của chàng là "ông con Alfred của tôi”. Tình yêu mỗi ngày mỗi đậm đà hơn, thi vị hơn, "sống thân mật với chàng rất êm dịu, và những sở thích của chàng rất quý với tôi.

Vào mùa thu, đôi uyên ương đến Fontainebleau. Hai người lang thang trong rừng khi đêm đến. George thích mặt đồ "con trai’ nên nàng vận áo xanh sậm, quần tây, đội mũ, bằng nhung đen, miệng ca hát nghêu ngao, còn Alferd thì nắm tay nàng, chạy len lỏi qua hàng cây. Chàng ôm "anh con trai" đó vào lòng rồi kéo "anh con trai” trên đám thạch thảo. Hai người hôn nhau đắm đuối và …

Chung quanh họ, tất cả đều lịm chết, chìm trong cành lá
Hoa trong bàn tay, côn trùng dưới bàn chân
Và trên những mảnh vụn đó, bàn tay họ gắn bó nhau.

Bóng đêm như căn phòng thênh thang, phủ một màn sương lành lạnh lên hai sinh thể đang cuộn siết trong ân ái. Suối róc rách chảy hoà lẫn tiếng thở dồn dập của họ và âm thanh của vạn vật như những giai điệu bất tận ru hồn người.

Fontainebleau về đêm thật huyền ảo, tuyệt đẹp nhưng có cái đẹp nào của thiên nhiên giữ được hai trái tim luôn khao khát nhịp độ yêu đương mới lạ. Thế là chàng và nàng quyết định sang Italia, hay Venise. Họ làm một trò xin xăm hên xui, quăng đồng tiền lên trời và ông tơ bà nguyệt đã chọn giùm cho họ là Venise. Nhưng mẹ Musset không muốn cậu quý tử của mình đi xa. George phải đến trổ tài hùng biện theo lối lập luận của các bà mẹ, cuối cùng nàng thuyết phục được mẹ Musset, cả hai lên đường.

Vào một buổi chiều tháng chạp, Musset và George bước lên xe tứ mã, nàng vận bộ đồ đàn ông, đội mũ kết, mặc quần màu xám ngọc trai, trên tay cầm một chai sâm banh và mẩu bánh dồn thịt, còn Musset vận áo đuôi tôm, tươi tắn và yêu đời.

Từ Marseille, họ đi tàu đến Gênes (Italie) và đặt chân lên thành phố Venise vào một buổi tối u buồn, ẩm ướt, tràn ngập cái lạnh quen thuộc của những ngày tháng giêng 1834.

George bị cảm lạnh run lẩy bẩy, nàng choàng thêm chiếc áo len dầy cộm bên ngoài. khi đến khách sạn Danieli, Musset dìu nàng lên phòng và George nằm liệt giường suốt mấy ngày sau đó. Alfred không có thói quen săn sóc người bệnh, chàng cảm thấy chán nản khi nhìn khuôn mặt xanh mét đang bị cơn sốt làm cho già nua đi của nàng. Alferd nhăn mặt :
-Một người đàn bà bệnh thật buồn và thật chán !

Musset nhờ chủ khách sạn kêu giùm y sĩ. Sau cú điện thoại, năm phút sau một người đàn ông cao lớn, khỏe mạnh bước vào, trên tay xách một túi dụng cụ y khoa. Người đó là y sĩ Pietro Pagello Ông ta nhanh nhẹn bước đến bắt mạch cho một người đàn bà kỳ lạ, mái tóc quăn quấn trong một chiếc băng đỏ kiểu Thổ Nhi Kỳ. Người đàn bà nhìn gương mặt Pietro Pagello, ánh mắt đang đờ đẫn chợt thoáng hiện một chút sinh khí lạ lùng.

Thấy có người gánh giùm trách nhiệm, Musset đi ra ngoài. Chàng không phải là người tận tụy với nỗi đau của người khác, nuôi bệnh không phải là vai trò của chàng. Trong khi Musset ngoạn cảnh thành phố Venise, nhậu Valpolicello và rượu vang Vérone trong quán cốc thì người yêu của chàng đang run lẩy bẩy với cơn sốt, thế mà lúc chân nam đá chân chiêu trở về phòng, Musset còn trách George là "một sự chán chường tượng hình” chàng cất giọng lè nhè nói :
- George, anh đã lầm. Anh xin lỗi em, nhưng anh không bao giờ yêu em.

Tội nghiệp cho George, nàng chỉ có một cái tội duy nhất là bị bệnh khi đi du lịch, khi tuổi ba mươi và có một chàng nhân tình mới hai mươi ba tuổi.

George vô cùng đau khổ. Nàng không ngờ những ngày ở xứ lạ quê người lại buồn thảm đến như thế. Nàng không sợ cơn bệnh đang giày vò mà chỉ sợ lời nói, cách cư xử của Musset, nó như những nhát dao bén ngọt chém vào trái tim nàng, bật máu và đau đớn vô cùng. Vết thương lại lên cơn nhức nhối khủng khiếp khi nàng nhĩ đến cảnh Musset ngất ngưởng trong quán rượu, nhạc xập xình rộn vang và chàng đang ngã ngớn với mấy cô gái thơm ngon như múi mít.

Hai người cảm thấy có một khoảng cách vô hình xuất hiện. Tuy nhiên họ vẫn cố đối xử với nhau như bạn bè. Nhưng gặp mặt George, Musset cảm thấy gớm gớm làm sao ? "Trong lúc tôi làm thơ cô ta cắm đầu viết từng xấp giấy. Tôi ngâm thơ lớn lên, thế mà cô ta vẫn cứ viết được. Cô ta rặn đẻ tiểu thuyết cũng dễ dàng như tôi, cứ chọn mãi những luận đề bi thảm nhất, tội ác, bắt bớ, con giết cha mẹ, đến cả những chuyện đàng điếm lưu manh. Cô ta cũng không quên chửi chính phủ ở vài đoạn về tranh đấu vẩn vơ cho sự thoát xác của đàn bà. Không bao giờ cô ta dùng một cốt truyện trước khi viết, và cũng không xóa bỏ một hàng nào khi viết xong. Đúng là loại gà mái cầm bút điển hình".

Sau này, Alfred đã tự bào chữa bằng luận điệu ngụy biện rằng : "Tôi còn trẻ và còn thích lạc thú. Sống cả ngày với một người đàn bà lớn tuổi hơn tôi lại mắc bệnh và buồn chán, gương mặt càng ngày càng trở nên nghiêm trang khắc khổ, tất cả cái đó làm tuổi trẻ tôi vùng dậy, bất mãn và làm tôi tiếc đến độ chua chát đời sống tự do lúc trước.

Trời bất dung gian cho Musset chàng ngã bệnh và sốt mê man. Có lúc chàng không còn biết gì nữa, Musset cởi quần áo, chạy khắp phòng la hét như một thằng điên, George phải nhờ hai người đàn ông mới kềm chàng được. Bác sĩ Pagello lại đến săn sóc người bệnh mới, George túc trực bên giường cả ngày, chăm lo cho người yêu. Nhưng khi không gian chật hẹp trong một căn phòng, ở đó một người đang đắm chìm thiêm thiếp ngủ trong nỗi mệt nhọc do bệnh tật gây ra, chỉ còn một người đàn ông và một người đàn bà ngồi bên nhau suốt đêm, điều gì xảy ra ? Nếu quan hệ giữa Musset và George vẫn mặn nồng như ngày mới quen thì không nói gì, còn bây giờ George muốn trả cái hận bị Musset ruồng bỏ, ông ăn chả thì bà cũng có quyền ăn nem.

Chàng thi sĩ cành hoa đẹp
Ta muốn uống nhụy mật của chàng
Nhụy đã làm ta say, nhụy đã đầu độc ta
Và trong một ngày giận dỗi
Ta đã tìm một chất độc khác để kết liễu đời ta.

Tình cờ Pagello đọc tờ giấy có ghi những dòng chữ đó trên bàn, ông không hiểu. Một ngày kia, Pagello hỏi George :
- Hình như bà định viết một quyển tiểu thuyết về thành phố Venise thơ mộng này ?
Nàng trả lời :
- Có lẽ thế.

George ấm ức, nàng ngồi vào bàn viết liền một mạch. Một giờ sau, nàng đưa tờ giấy cho bác sĩ Pagello. Ông vẫn chưa hiểu người đàn bà muốn nói gì.
-Bà muốn nhờ tôi trao tờ giấy này cho ai ?
- Cho tên Pagello ngu xuẩn !

Gã bác sĩ tròn mắt đọc :
"Em ở gần chàng như bức tượng phai mờ, em nhìn chàng ngạc nhiên, đầy thèm muốn, lo âu … Đối với em, chàng sẽ là một nơi nương tựa hay một người chủ ? Chàng có an ủi được những đau khổ em đã gánh chịu trước khi gặp chàng ? Chàng không phải là một người đàn ông? Trong lòng ngực khỏe mạnh, trong đôi mắt sáng và vầng trán thôn minh kia, chàng ấp ủ những gì ? Ban đêm trong giấc ngủ, chàng có mơ thấy mình bay tận lên trời không ? Khi bị người ta làm cho đau khổ, chàng có cầu cứu đến Chúa Trời không ? Em sẽ là bạn hay nô lệ của chàng ? Chàng có yêu, có thèm muốn em không ? Khi đã thỏa mãn, chàng sẽ cám ơn em ? Khi em làm chàng sung sướng, chàng sẽ nói cho em biết ? Những lạc thú ái tình sẽ làm chàng mệt mỏi, chán ngán, hay chàng sẽ hưởng chung trong một sự đam mê thần tiên ? Hồn chàng có còn liền với xác khi chàng rời bỏ bộ ngực của người yêu ?.

Những dòng chữ đầy những dấu chấm hỏi của George giống như các cánh tay rờ rẫm từng sợi dây thần kinh trong óc Pagello, nó làm cho người đàn ông này rùng mình. Dẫu thời đại văn minh và là thời kỳ lãng mạn, con người thoát lên trên những ràng buộc của đời thường, song bác sĩ Pagello cũng hơi choáng một lát, tuy nhiên, một người Ý như ông, không lẩn trốn.

Ông biến ra công trường Saint Marc, chui vào một quán nhạc, gọi càfé và hút liên tiếp mấy điếu thuốc. Sau khi suy tính một lúc, ông trở lại phòng của George, trả lời những câu hỏi nóng bỏng đó. Không biết ống nói thế nào mà George đã ngã vào vòng tay của ông. Đằng kia, Musset nằm vật vã với cơn sốt, trong giấc mơ mệt nhọc chàng thấy mình nắm tay Goerge chạy len lỏi dưới hàng cây trong khu rừng ở Fontainebleau hai người cười vang rồi ngã chồng lên nhau trên bãi cỏ, nụ hôn nhốt tiếng cười trong hai lồng ngực. Nhưng bầu trời đột nhiên tối sầm, sấm sét nổ ầm từng cơn. Musset thấy tự nhiên George biến đâu mất, những hàng cây xoay tít, phết những màu xanh màu vàng lên không gian đen đậm. Musset chới với huơ tay chụp những chiếc bong bóng trong suốt như phalê, bay chập chờn trước mắt chàng.

Bất chợt, Musset thấy mình đang ngồi trong một quán rượu, vòng tay siết chặt thân thể một người đàn bà xa lạ …

Mấy ngày sau, bệnh tình thuyên giảm, Musset lờ mờ hiểu được những gì xảy ra chung quanh, chàng biết mình xuống dốc trầm trọng và chàng vẫn còn yêu Goerge, yêu đến điên cuồng. Musset nài nỉ George :
- Hãy trở về với anh, anh nguyền sẽ hối cải. Anh nguyền sẽ yêu em …

Đêm nọ, thấy đèn phòng của George còn sáng, Musset nhẹ nhàng bước vào, bắt gặp nàng đang viết thư tình cho Pagello. Chàng cầm tờ giấy lên đọc, nhưng George vội vàng giật lại, xé thư rồi quăng ra của sổ. Sáng hôm sau, lúc hừng đông, Musset thấy nàng mặt áo ngủ, xuống kiếm những mảnh giấy vụn của bức thư trên lề đường. Musset nhìn dáng dấp loay hoay, khuôn mặt thẩn thờ của nàng mà lòng đau khôn tả. Chàng chống tay lên thành cửa sổ, chồm người ra hét lớn, giọng mỉa mai :
- Em không tìm được chúng đâu. Gió đã quét đi cả rồi.

George giật mình ngước lên phía cửa sổ, rồi bỏ chạy, nhảy lên một con thuyền. Người chủ thuyền chưa kịp tháo dây, rời bến thì Musset đã tới nơi, chàng nhảy xuống ngồi kế bên George. Hai người im lặng.
- Thưa ông bà, chúng ta đi đâu ạ ?
- Nghĩa địa Do Thái - George lên tiếng.

Con thuyền lướt lên dòng kênh đen, xuôi mái về hạ nguồn qua lâu đài Calergi ( ngày nay là đài vô tuyến truyền thanh và truyền hình Venise ). Đến nơi, George như điên cuồng, chạy ôm từng phiến đá mồ thổn thức khóc … rồi thú thật với Musset rằng nàng đang yêu Pagello.

Musset giận tím người, cơn ghen bốc cháy trong đầu khiến chàng choáng váng. Chàng cố gắng kìm hãm những lời nói thô tục sắp sửa bắn vọt ra cửa miệng. Musset vuốt ve bờ vai đang run rẩy của George, thở dài.

Lúc trở về khách sạn Danieli, George vẫn cứ giọng điệu điên cuồng , nàng rên rỉ :
- Tôi yêu Pagello, tôi khẳng định là yêu.

Musset chịu hết nổi, chàng gằn giọng nguyền rủa :
-Tao sẽ đặt lên mộ mày một tấm mộ bia có thể làm xanh mặt những ai đọc nó.

Musset làm dữ, gây náo loạn cả khách sạn, đòi thách Pagello đấu gươm, đòi bẻ họng George … Nàng cũng không vừa, đêm đó George đe dọa sẽ nốc cạn một chai thuốc độc. Sau cùng, Musset đấu dịu, chịu thua và cuốn hành lý trở về quê hương, bỏ George lại thành phố Venise ngập ánh nắng vàng và người tình ngốc nghếch của nàng.

Chàng viết thư gửi mẹ : “Con sẽ đem về cho mẹ một tấm thân bệnh hoạn, một tâm hồn sa đọa, một con tim rướm máu nhưng vẫn còn thương mẹ”.

Giới nghệ sĩ ở Pháp thời bấy giờ sống trên tất cả những quy phạm của xã hội. Chủ nghĩa lãng mạn đã kêu gọi họ tiến lên, sống hết mình và nhiệm vụ vinh quang của họ là xả thân cho nghệ thuật. Cái quan trọng mà người đời cần là tác phẩm của họ, còn đời tư, xin một sự cúi đầu lảng tránh, hãy để họ sống, yêu và quyết định cuộc đời họ.

Mặc dù ở hai phương trời, nhưng Musset và George vẫn viết thư cho nhau :

"Tội nghiệp cho em ! Em đã lầm, em tưởng là người yêu của anh, nhưng thật ra em chỉ là một người mẹ. Trời đã sinh ra hai chúng mình để gặp nhau như hai con chim núi bay sà vào nhau, nhưng vòng tay ôm đã quá mạnh. Chúng mình đã phạm loạn luân …"

Và Musset trả lời :
"Em đã là một người yêu hay người mẹ của anh, điều đó không cần ! Dù em đã đối với anh bằng tình yêu hay tình bạn, dù em đã sung sướng hay đã khổ bên anh, tất cả điều đó cũng không làm em thay đổi tâm hồn hiện nay."

Thật vậy ! Lúc này Pagello là trên hết. Nàng là tất cả của Pagello, "một thiên thần đầy đức tin, đáng được hưởng hạnh phúc ", một người biết tôn trọng nỗi buồn kinh niên của nàng một cách thiêng liêng.

Và George viết tiếp cho Musset :
“Em đã trải qua những giờ phúc êm đềm nhất với Pagello khi nhắc nhở đến anh ."

Alfred buồn như đưa đám. Chàng thường lui tới đường Malaquais, nơi đã hưởng những hạnh phúc hoa mộng buổi đầu với George. Chàng tìm hút một tàn thuốc của George còn sót lại trong phòng của nàng, lấy một chiếc lược gãy đã đôi lần vuốt ve mái tóc đen huyền của nàng để về ôm ấp, mộng mơ.

Tháng 8 năm 1834, George trở về Paris, mang theo người tình đau khổ Pagello. Nàng mướn một căn phòng ở khách sạn Orléans. Theo đúng tinh thần lãng mạn, sự tư duy “hiện đại” của những con người làm nghệ thuật, musset và George gặp nhau, hẹn hò và yêu đương như thuở ban đầu. Lúc đó, vị bác sĩ của thành Venise, một người sống cho khoa học tự nhiên, không còn hiểu tình đời ra sao nữa. Ông đã ngoan ngoãn bỏ cuộc, tách xa người đàn bà có “cặp mắt sơn miêu’’. Con người thiếu chất lãng mạn này đâm ra đau khổ, nhưng ông vẫn là người ít đau khổ nhất trong ba người. Trở về nước Italia, Pagello bỏ lại đôi nhân tình kỳ lạ, cấu xé nhau, yêu nhau rồi xa nhau, tìm gặp nhau, đày đọa nhau, khóc lóc rồi la hét, nổi điên rồi muốn tự tử. George cắt mái tóc đẹp của nàng để chứng tỏ mối tình chân thật với Musset. Còn chàng thì như một võ sĩ qua nhiều lần lên võ đài, chàng thấm mệt và cảm thấy lòng đam mê của mình nguội lạnh dần.

Bản tình ca đến giai đoạn cao trào, cuộn dâng những âm thanh mãnh liệt, cuốn trôi hai tâm hồn vào một thế giới mơ hoa để rồi chấm dứt bằng một hợp âm nghịch. Chàng và nàng xa nhau thật sự.

Tháng 3 năm 1835, George thu hết can đảm, chạy trốn về Nohant, và Alfred không theo nàng. Chàng không buồn cất một lời gọi lại. Nhưng tình yêu đã biến thành những vần thơ sầu thảm của chàng nghệ sĩ Musset :

"Xấu hổ cho mi người đàn bà đầu tiên
Đã dạy cho ta sự phản bội
Xấu hổ cho mi, người đàn bà có đôi mắt u ám
Mà mối tình thảm hại
Đã chôn vùi trong bóng tối
Mùa xuân và những ngày đẹp nhất của ta."

Và George trả lời :
"Thôi đủ rồi, nhà thơ ơi. Bên cạnh một kẻ bội tình
Khi những ảo ảnh của nàng chỉ kéo có một ngày
Đừng nguyền rủa ngày đó khi nói đến nàng
Nếu muốn được yêu, hãy kính trọng tình yêu."

Musset đã là quá khứ của nữ tiểu thuyết gia George Sand, nàng đã sang một bến bờ tình ái khác. Giờ đây, nàng mới nhớ đến người chồng cũ của nàng, nhớ đến hai đứa con, nhưng nàng vẫn như con thiêu thân lao đầu vào ánh sáng ái tình hư ảo. Trong vòng một năm, sau khi xa Musset nàng say sưa với những mối tình mới, hờ hững và chóng qua.

George cảm thấy mệt mỏi, đau khổ, nàng muốn xa lánh tất cả những người đàn ông để hàn gắn vết thương lòng đầy nhục cảm tội lỗi của nàng. Nhưng đối với một người viết văn, chỉ có cái chết mới làm họ hết yêu và George lại sang trang tình sử khác. Một giọng văn mới cho cuộc tình mới của nàng bắt đầu …
( nguon : st )

Cuộc đời và tình yêu của Picasso : Danh họa Tây Ban Nha

Cuộc đời và tình yêu của Picasso : Danh họa Tây Ban Nha

Picasso, một trong những nhân vật vĩ đại nhất của nghệ thuật tạo hình, đã trải qua thời kỳ thơ ấu thật êm đềm, hạnh phúc. Cậu lớn lên trong một gia đình vốn có truyền thống hội họa lâu đời.

Cha cậu, ông Ruiz Blasco là giáo sư trường mỹ thuật Barcelona, người đã chăm chút từng bước đi chập chững đầu tiên của Picasso trên con đường hội họa . Cậu sớm hấp thụ những không gian chan hoà màu sắc chung quanh, đắm mình trước khung cảnh tuyệt mỹ của thiên nhiên qua bàn tay kỳ diệu của người cha. Picasso nhận thức đời sống bằng những bức tranh treo đầy trong nhà. Còn gì giúp trí tưởng tượng của thời thơ ấu bay bổng hơn bằng hội họa ? Cậu ngắm say sưa hàng giờ, thậm chí suốt ngày chỉ một bức tranh mà thôi.

Năm 13 tuổi, Picasso vào học trường mỹ thuật của cha rồi sau đó chuyển sang trường mỹ thuật Madrid, tiếp cận với thủ pháp tả chân theo lối cổ điển của các nhà danh họa Rivera, Velasquez và Goya.

Cậu bé mơ mộng, thích lang thang suốt ngày ngoài trời. Trên lưng một chiếc ba lô đựng thức ăn, đồ uống, tay xách bản vẻ, tay cầm cọ sơn, Picasso chậm rãi bước đi, mắt quan sát tất cả những gì thiên nhiên đang phơi bày. Từ cành cây, ngọn cỏ, cho đến con đường làng, mái nhà ngói đỏ, từ con bướm nhỏ xinh xinh bay chập chờn khoe sắc, cho đến đàn bò mộng xa xa đang thảnh thơi nằm phơi nắng, thỉnh thoảng rống lên những tiếng khiến Picasso giật mình nhưng lại cảm thấy vui tai.

Thiên nhiên dịu dàng như bà tiên, ngọn gió đưa hương hoa dại ven đường…, tất cả tạo nên một cảm xúc mãnh liệt làm say sưa cậu bé có tâm hồn nghệ sĩ. Picasso, mẹ chàng, gốc người Genova (ý). Mọi hơi thở của lá, mọi dạo chơi của bầy chim trên trời cao đều lắng động trong tiềm thức của Picasso. Nó hiện về trọn vẹn trong những giấc mơ đẹp của chàng họa sĩ tí hon này.

Năm 1897, Picasso gởi tác phẩm "Khoa học và nhân ái" (Science et Charité ) đến dự cuộc triển lãm Madrid. Và kết quả thật bất ngờ, tác phẩm được bằng danh dự, điều đó giúp cậu quyết theo con đường hội họa suốt đời. Nhưng vào năm 1900 Picasso sang Paris (Pháp), có lẽ vùng đất này chưa cảm nhận được tinh thần trong tranh của cậu, không biệt đãi lắm, nên Picasso đâm ra thất vọng chán nản. ..

Cậu trút tất cả nỗi buồn xa xứ cô đơn của mình vào tác phẩm "Ưu tư" ( Mélancolie), diễn tả một người đàn bà sầu muộn đang co mình lại. Từ đó về sau cậu bắt đầu ký tên của dòng họ mình là R.Ruiz.

Picasso sống vất vưởng tại xóm Montmartre, vật lộn với đói và rét. Hình ảnh hiện lên trong các bức tranh của cậu luôn luôn có dáng dấp của những kẻ nghèo hèn, rách rưới.

Vào năm 1905, một sự kiện đột biến đã làm thay đổi toàn bộ cuộc sống nội tâm của chàng trai trẻ Picasso.

Ở máy nước đường Ravignan, Picasso đang ôm siết trong tay một con mèo nhỏ chỉ còn da bọc xương mà chàng vừa nhặt được bên đường. Cái máy phun nước ra, và trong khi chàng lom khom đưa bình hứng, nước bắn tung toé xuống đường, dội ngược lên, làm ướt gấu váy và đôi chân Fernande . Nàng nhìn chàng, mỉm cười, ánh mắt loé lên cái nhìn là lạ khi thấy chàng mặc chiếc áo được mua ở chợ trời với giá 1 quan 45 xu.

Chàng trai thấp, mập mạp đó ngẩng đầu lên và chạm phải một khuôn mặt đẹp tuyệt vời với đôi mày đầy dặn, đôi mắt màu hạnh nhân, cái miệng có đôi môi dầy mọng đỏ. Ấp a ấp úng mãi chàng mới cất tiếng được :
-Thưa cô. .. tôi. .. tôi muốn tặng cô một món quà.
- Ông cứ tặng.
- Đây, cái này đây. .. Con mèo - Chàng trao con mèo cho nàng.
- Cám ơn ông. - Nàng nói, giọng lộ vẻ xúc động thật sự.
- Cô đến thăm xưởng vẽ của tôi một ngày gần đây chứ ?
- Vâng, tôi sẽ đến.

Nàng giữ đúng lời hứa. Nàng đến và ở lại đấy trong căn phòng trọ của Picasso ở đường Ravignan. Picasso đã yêu nàng với tất cả những tình cảm nồng nàn của một chàng trai 24 tuổi với chất của một nghệ sĩ. Nàng quả là giấc mộng vàng của chàng. Nàng đẹp đến nỗi lịch sử nghệ thuật chỉ gọi nàng dưới biệt danh "Người đẹp Fernande ".

Nàng tên là Fernande Olivier (do tên của người chồng đã ly dị ), còn nhũ danh của nàng là Bellevallée.

Giống như khi Victor Hugo yêu nàng Juliette, Picasso không cho Fernande ra khỏi nhà. Nếu Hugo đối xử độc tài với người yêu vì nghĩ rằng sẽ giúp cho Juliette xóa nhòa quá khứ "trăm ong ngàn bướm" đã qua thì Picasso yêu nàng như tín đồ cuồng say trước mối tình thiêng liêng đầu đời.

Chàng tự nguyện làm tất cả việc nhà thay cho nàng. Khi nhà buôn tranh Sagot ( trước làm hề ở gánh xiếc ) trả cho chàng 15 xu một bức vẽ, chàng liền đi chợ mua những thứ nàng ưa thích nhất. Đương nhiên là những vật dụng, thức ăn phù hợp với túi tiền của hai người lúc đó. Chàng thích chải tóc cho nàng, nấu ăn hay quét nhà.

Nếu xem bức tranh "Người đàn bà ngủ" chúng ta sẽ thấy một người đàn ông ngồi kề bên giường của một người đàn bà ngủ, có cái nhìn như say đắm, như bị mê hoặc, đó chính là Picasso.

Và hai năm sau, một tuyệt phẩm ra đời bằng chính tình yêu của chàng : bức "Chân dung Fernande ". Picasso đem bức tranh treo cạnh chiếc áo của Fernande mặc ngày lần đầu hai người gặp nhau. Chiếc áo được xếp gọn, đặt trên đầu tủ ngăn giữa hai lọ sứ màu xanh cắm hoa giả. Picasso ngắm tới ngắm lui hàng tháng trời.
Một hôm, bạn chàng - nhà thơ Max Jacob trông thấy hỏi :
- Đây là cái gì ?
- Picasso trả lời ngắn gọn :
- Nếu yêu thì anh sẽ hiểu.

Sau đó, Picasso đem giấu biệt bức tranh, cất vào tủ gắn trong tường để chiêm ngưỡng riêng.

Trong con người Picasso hội họa và tình yêu luôn song hành. Khi tình yêu tạm thời trong trạng thái cân bằng thì chàng lao đầu vào sáng tác. Tiền phong của nền hội họa thời bấy giờ họa phái "Fauvisme"chú trọng đến màu sắc, nhưng Picasso cảm thấy nhạt nhẽo, vô vị khi thưởng thức bức tranh của họ.

Bạn bè giới thiệu Picasso với nhà thơ Apollinaire, chàng thi sĩ này khuyên Picasso nên tìm "một con đường mới, một nghệ thuật mới". Và quả nhiên, Picasso trở nên "hiện đại" thật. Năm 1907, chàng trưng bày một bức tranh vuông và lớn, mỗi cạnh hai mét rưỡi, nhan đề là “Mấy cô gái ở Avignon”. Năm cô gái điếm này không có nét đẹp kiểu "mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da" hay "khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang". Hình thù của họ thật quái dị, mặt méo mó, tay chân, thân thể là những hình học chắp nối. Thế là một họa phái "điên" ra đời dưới những con mắt sành hội họa thời bấy giờ.

Năm 1909, cũng thể nghiệm theo lối sáng tác với tư duy nghệ thuật quá tân thời đó, Picasso hoàn thành một họa phẩm tình yêu thứ hai nhưng thật khác với bức tả chân dung Fernande ban đầu.

Gương mặt người thiếu nữ trong tranh bị cắt ra từng mảnh nhỏ, những hình khối đó như bị cuốn vào một cơn bảo tố quay cuồng. Picasso đã làm việc suốt sáu tháng trời, giam mình trong phòng bốn tuần lễ cuối cùng để hoàn tất bức tranh này.
- Ferdinando, em đến xem em đây !

Nàng bước đến trước khung vải. Mặc dù tính tình điềm đạm nhưng nàng chợt giật mình, lùi bước lại khi thấy bức tranh.
- Anh điên rồi ! – Fernande sợ hãi thốt lên …

Bức tranh trông có vẻ kỳ quái hơn cả những bức mà chàng sáng tạo trước đây (từ năm 1905 đến 1907 ) như "Khỏa thân ngồi" (Nu assis), "Gia đình những người làm xiếc rong" (La famille des Saltimbanques) và "Nữ hoàng Isabelle"…

Chàng ở giai đoạn chuyển mình, thâm nhập vào thế giới nghệ thuật da đen, bước chân đến ngưỡng cửa của trường phái lập thể phân tích, lập thể tổng hợp. Những buổi làm việc, nghiên cứu giữa mùa hè đổ lửa ở vùng Horta de Ebro- Tây Ban Nha, những ngày lang thang trên các cánh đồng xơ xác, đã thật sự đưa Picasso đến nhiều dạng khô khan của các hình kỷ hà qua bức Réservoire (Hồ chứa). Bức tranh cho thấy chàng chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng của Cézanne : "Tất cả trong thiên nhiên đều căn cứ trên những hình nón và hình cầu”.

Ở Montmartre, những người bạn của chàng như Gertrude Stein, Itchoukine…đều cho là chàng điên loạn. Nhưng Picasso rất tự tin những điều chàng thực hiện. Bằng một lối chữ nghĩa Pháp không chính xác gì cho lắm, Picasso gởi thử mời bạn bè và nhà buôn tranh danh tiếng Amboise Vollard đến.

Khi họ bước vào nhà, các bức tranh đều được đặt quay vào tường, Picasso chậm rãi đem ra từng bức đặt trên mỗi giá vẽ.

Gertrude Strein đi đi lại lại trước mỗi bức tranh, thỉnh thoảng tay đưa lên sửa kính, khi đến bức cuối cùng, không kềm chế nổi, ông thốt lên :
- Giờ thì tôi biết anh diễn tả cái gì rồi. Tôi hiểu rồi. Anh muốn vẽ chiều không gian thứ tư chớ gì. Thật là quái gở ! – Ông ôm bụng cười toáng lên.

Itchoukine ngồi im lặng, tay nhịp nhịp trên đùi theo lối Nga. Kế bên là Ambroise Vollard – một con người điềm tĩnh chỉ vào bức tranh và nói : "Tôi mua" rồi móc trong túi ra 1 xấp giấy bạc. Còn nhà thơ Max Jacob ngồi gật gù cất giọng thánh thót như đang đọc thơ :
- Picasso, tất cả những hình khối mà anh đem vào tranh, tuyệt một cách kỳ lạ.

Picasso cảm thấy hài lòng, cười với mọi người. Riêng Fernande , nàng ngẫm nghĩ : "Mình yêu một kẻ điên, nhưng hai người kia cũng điên nốt". Nàng chỉ hiểu những bức tranh của người yêu vẽ vào giai đoạn chàng chưa gặp nàng ở máy nước mà thôi. Đại khái là bức "Nhạc sĩ Tây Ban cầm già " (Le vieux guitariste ) và bức "Đám tang Casemagas" (L’enterrement de Casemagas)… Nàng cảm nhận được tình cảm sâu sắc, tấm lòng yêu thương và nỗi đau khổ vô bờ của Picasso trước thân phận con người qua bức tranh đó.

Trừ một vài người thân có nhãn quan nghệ thuật gần gũi với tinh thần sáng tạo của Picasso như bạn đồng nghiệp G.Braque, còn hầu hết đều lên án chàng là "lập dị", "ngông cuồng", "loạn thần kinh" …

Dư luận ồn ào phản đối đến nỗi Picasso và Braque sau này không dám ký tên vào mặt trước các bức tranh của họ. Có người yêu cầu chính quyền không được trưng bày tranh "lập thể" trong các viện bảo tàng. Thiên hạ mắng nhau bằng danh từ "đồ Picasso !".Tai họa giáng vào đầu hai họa sĩ thiên tài liên tiếp. Bởi vì, cái mới trong nghệ thuật bao giờ cũng là sự nổi loạn đáng trách. Người ta quen chiêm ngưỡng những bức tranh cổ điền rồi. Nếu lúc trước họa sĩ dùng bóng xen với màu sắc làm cho hình nổi lên thì đến lượt Picasso, chàng lại sử dụng hình học, phỏng theo nghệ thuật Bắc Phi và Trung cổ, chủ tâm "đánh" vào mắt người xem, tạo cho hình nổi bật lên.

Năm 1914, khi thế chiến thứ nhất bùng nổ, người bạn thân Braque lên đường nhập ngũ khiến Picasso hụt hẫng, rơi vào trạng thái cô đơn. Mặc dù khuynh hướng mới do Picasso khởi xướng đã có chỗ đứng khá vững vàng trong căn nhà hội họa năm châu, nhưng chàng vẫn cảm thấy mình bị cô lập, không ai có thể hiểu được chàng. Picasso muốn quên đứa con "lập thể" do chàng khai sinh và chuyển sang sống với đứa con nuôi " tượng hình” (Figuration).

Sau tám năm yêu đương mặn nồng, mối tình đầu của Picasso tắt lịm một cách đau đớn vì nàng Fernande Olivier bị cơn bệnh lao hiểm nghèo cướp mất năm 1917.

Bolga Koklova, một ngôi sao của đoàn múa Ba Lê Diaghilev (ở Nga) đến như một vị công chúa có liều thuốc giải sầu thần diệu, nàng đã cho Picasso uống những mật ngọt tình yêu vương giả, giúp chàng gượng dậy, thoát khỏi nỗi buồn xa bạn, mất người yêu đầu đời.

Họ cưới nhau và sống cuộc sống huy hoàng, khác hẳn thời trước nghèo rách mồng tơi ở Montmartre.

Năm 1921, con trai đầu lòng của Picasso chào đời, chàng đặt tên là Paulo, người hiện nay vẫn còn sống và thừa hưởng một gia tài khổng lồ. Nhưng hình như không có gì vĩnh cửu trong các mối tình của giới nghệ sĩ, họa chăng nó chỉ tồn tại trên trang giấy như một nhân chứng, một ấn tích của cuộc đời họ. Nó chỉ tồn tại trong thơ ca và những tác phẩm nghệ thuật khác. Còn giữa thực tại ngổn ngang của con người, tình yêu của họ là những chiếc lá vàng đã hết thời kỳ xanh tươi. Những mối tình bay theo gió, lượn lờ giữa đất trời rồi tan mất trong cát bụi thời gian. Năm 1933, Olga ly thân và 22 năm sau nàng từ giã cõi đời, bước sang một chiều không gian nào khác mà dân gian thường gọi là địa ngục hay thiên đàng.

Tại nhà Picasso, khung cửa giữa buồng ngủ và xưởng vẽ không bao giờ đóng kín. Những mối tình này tiếp mối tình kia, đôi khi sóng cồn dữ dội nhưng có lúc êm như mặt nước hồ thu giữa trưa nắng lửa ở Tây Ban Nha. Nhưng cuối cùng, vẫn là vụ lộn xộn, ly khai đầy nước mắt. Cuộc đời tình ái của Picasso chỉ là những mẩu hạnh phúc chóng qua, mãnh liệt rồi úa tàn, quy luật muôn đời của tạo hóa hay của trái tim con người nghệ sĩ quá nhiều đam mê, quá nhiều khao khát những điều mới lạ ?

Sau mỗi giai đoạn sáng tác của Picasso, người ta đều nhận ra những bóng dáng đàn bà. Lịch sử nghệ thuật "xanh hồng, lập thể, siêu thực … " của Picasso đã ghi nhận tên tuổi năm người yêu và hai vợ của chàng. Cho dù là hôn thê hay nhân tình, họ cũng là những mẫu vẽ, những đối tượng thẩm mỹ sâu sắc khiến Picasso rung động và sáng tạo những họa phẩm tuyệt vời.
Picasso là một điển hình cho sức làm việc không mệt mỏi.

Ba giờ chiều, lúc mọi du khách đều an giấc, tiếng ve sầu ca vang điệp khúc quen thuộc, rỉ rả, đều đều dưới bầu trời oi bức, những bờ biển vắng vẻ. Tất cả vùng Côte d’Azur yên ả, lắng sâu trong tĩnh mịch. Thành phố ven biển vào mùa hạ đã qua nhịp điệu ồn ào, náo nhiệt trong ngày.

Trên ngọn đồi cao Mougins, một bóng người thong thả bước vào xưởng vẽ. Dáng người mập lùn, đầu hói, mình mặc độc chiếc quần tắm, ông ta lầm lũi như một chú bò mộng đang bước vào đấu trường. Đôi mắt đỏ ngầu của ông hướng về đống cọ sơn và bút chì nằm hỗn độn giữa những vật linh tinh trên một diện tích rộng 75 mét vuông.

Picasso lim dim đôi mắt, nghiêng đầu sang trái rồi qua phải, lùi lại ngắm thật kỹ dáng người thiếu nữ ngực trần đang đứng xuôi tay trông cái thảng thốt, bàng hoàng, đôi mắt nâu mở to sợ hãi như bất ngờ bị một gã đàn ông xa lạ xô cửa, xông vào lúc mình không còn mảnh vải che thân. Thân hình cô gái thon gầy với làn da xanh xao toát ra vẻ mơ hồ, kỳ lạ, một loại màu xanh trong suốt được tôn vinh bằng những đường viền ánh sáng, phản chiếu sắc trắng bạc. Gò ngực độn cao đang phập phồng qua làn khói thuốc mờ mờ trước mặt Picasso.

Ông nhìn chăm chú vào vùng ngực cô gái ra chiều khích động. Picasso nhích từng bước chậm chạp, người ngả về phía trước như ôm cô gái, cánh tay phải run run đưa lên trong trạng thái vô thức của kẻ lên đồng, ngập ngừng rồi bỏ xuống. Picasso lùi trở lại. Ánh mắt cô gái trở nên kinh hoàng tột độ. Picasso giơ tay trái bấu vào mặt, đầu gục xuống. Giây lát sau, ông ngửa mặt lên trời buông tiếng thở dài, lắc đầu rồi quyết định bước tới.

Picasso không nhìn đôi mắt mở to hoảng sợ. Gò ngực mới nhú quyến rũ lạ thường. Từng bước, từng bức, Picasso đưa tay phải lên, chấm vào bộ ngực non tơ màu hồng nhạt. Và cứ thế, cho đến chiều tối mịt, hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác đỏ rực. Picasso tiến tới, trở lui, đi qua, đi lại, ngắm nghía trước giá vẽ như không bao giờ chán. Đồng hồ điểm một giờ sáng. Picasso ngã vật người ra chiếc ghế bố, thở hổn hển. Bức tranh đã hoàn tất, trác tuyệt trong không gian màu sác. Ánh đèn chiếu vào bốn góc của khung vải. Nơi đó, màu đỏ gạch âm ỉ sức nóng, lan nhẹ vào thân thể màu xanh lạnh lẽo. Picasso đã hoàn thành động tác cuối cùng.

Tám giờ trôi qua, nhà danh họa trở về đánh một giấc ngon lành. Đối với Picasso, những danh từ khoái lạc, nghỉ ngơi hoàn toàn vô nghĩa. Có người hỏi Picasso rằng ông suy nghĩ gì về hội họa. Picasso trả lời : " Có những họa sĩ biến vầng mặt trời thành một vết màu vàng. Nhưng có những họa sĩ khác biết dùng nghệ thuật và trí tuệ của mình để biến một vệt màu vàng thành vầng thái dương ".

Tính đến ngày nay, Picasso đã lập được một kỳ lục sáng tạo phi thường, xét cả về lượng cũng như về chất. Có người ước tính là Picasso đã cống hiến cho những người yêu nghệ thuật 50 ngàn bức vẽ, 10 ngàn tranh sơn dầu, 1.000 tác phẩm điêu khắc, 1.000 đồ gốm, 2.000 đồ vật và 500 bức tranh khắc. Riêng về hội họa, Picasso không bị giới hạn bất cứ chủ đề nào, từ những bức chân dung, phong cảnh, tĩnh vật đến những bức "Composition", những tác phẩm thời sự, những bức tranh lịch sử có chủ đề hoang đường …

Picasso sáng tác tùy hứng, ghi tác phẩm của mình lên bất cứ vật gì, từ những mảnh giấy, miếng vải cho đến các mảnh bìa, mảnh kiếng và gỗ …

Picasso cầm búa thợ rèn cũng điêu luyện như cầm cọ sơn. Ông dùng chất cường toan thợ chạm không chút ngượng tay.

Dù cho Picasso dùng bất cứ chất liệu gì để sáng tác, nó luôn luôn quan tâm của các nhà phê bình và những người thích nghệ thuật tạo hình.

Năm 1937, nội chiến Tây Ban Nha bộc phát, Picasso kêu gọi dư luận thế giới lên án cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này.

Thông điệp của ông gữi nhân loại, là bức Guernica, một bức tranh lập thể vĩ đại, mô tả cảnh hỗn độn đẫm máu của cuộc chiến, đầu người, đầu vật chồng chéo lên những khúc tay, khúc chân …

Giai đoạn này, Picasso đã đạt đến đỉnh cao của trường phái lập thể. Người ta càng bàn luận về những tác phẩm của ông nhiều hơn khi thế chiến thứ hai chấm dứt. Nhiều người mua tranh của ông với giá đắt khủng khiếp, có người không hiểu ông muốn diễn đạt cái gì nhưng họ vẫn đổ xô tìm mua và sôi nổi tranh luận với nhau về những hình thù quái dị trong các tác phẩm của ông.

Tên tuổi của Picasso bay đến những vùng hẻo lánh giá băng ở Bắc cực và đến đại lục Phi Châu hoang dã. Đâu đâu cũng biết ông. Chưa có một họa sĩ nào lúc sinh thời được nhiều người biết đến như Picasso. Những nhà văn, nhà phê bình, nhà nghiên cứu nghệ thuật tạo hình đã viết 250 cuốn sách về Picasso, bốn viện bảo tàng dành riêng để trưng bày những tác phẩm của ông. Picasso càng nổi tiếng ông càng khiêm tốn hơn.

Ông không thích đi du lịch chỉ thích dạo bộ quanh quẩn vùng ông sống để tìm cảm hứng sáng tạo. Khách mộ điệu từ bốn phương trời đổ xô đi tìm ông như những tín đồ hành hương đến thánh địa.

Họ hy vọng sẽ nhận thức một điều gì đó bổ ích cho cuộc đời họ, gương lao động không mệt mỏi, bí quyết giữ gìn sức khỏe, kiến thức về hội họa hay bất cứ cái gì khác đặc biệt trong cuộc đời ông.

Một phụ nữ Mỹ vượt Đại Tây Dương tìm Picasso. Trong tám ngày bà ta đứng rình ở cổng sắt để chiêm ngưỡng thần tượng trong mơ của mình, nhưng cuối cùng chỉ hoài công. Thế là bà ta đâm ra rượu chè be bét, khóc lóc thảm thiết rồi xách valise về nước.

Picasso tuyên bố với mọi người rằng ông thích sống ẩn dật, đừng ai làm phiền ông vì tất cả thì giờ ông dành cho công việc sáng tạo. Ông không hề nghĩ đến chuyện viết sách phơi bày những kỹ thuật quan trọng trong nghề nghiệp của ông. Picasso không thích biểu diễn tài nghệ của mình trước mắt đồ đệ và giới mộ điệu. Có lẽ chỉ có những người đàn bà yêu ông mới chứng kiến tận mắt giờ phút sáng tạo xuất thần của ông.

Ngoài Fernande người tình đầu, Picasso còn những đêm nồng say với M.T.WATTER, 17 tuổi, sinh được một gái : với Donar. Maar, với Françoise. GILLOT, sinh được một trai một gái.

Và ngày 2 tháng 3 năm 1961, ông bí mật kết hôn với Jacqueline Roque tại toà thị sảnh Vallauris. Đây là người tình cuối cùng của đời ông, một phụ nữ trẻ, tóc đen dài, khuôn mặt hiền hậu và đều đặn. J.Roque 35 tuổi còn Picasso thì … mới 80 tuổi (!!). Người ta tưởng tượng cuộc hôn nhân này diễn ra chú rể già nua, lọm khọm, đầu bạc trắng ngồi kế một cô dâu trẻ măng trên chiếc xe hoa lộng lẫy. Đôi lúc quên khuấy đi, nàng gọi Picasso bằng bác. Nhưng không, họ xứng đôi vừa lứa khi sánh vai đi bên nhau, mọi ý nghĩ của những người chưa gặp Picasso lần nào đều tiêu tan.

Họ ngạc nhiên khi biết cụ già 80 tuổi vẩn mạnh khỏe và xốc nổi như những chàng thanh niên. Họ hỏi bí quyết. "Cải lảo hoàn đông" của Picasso thì ông cười, vui vẻ nói : "Tôi ngủ nhiều, ít khi dậy trước 12giờ trưa, không nóng giận, lo buồn, làm việc nhiều, uống nước trái cây nhiều, ăn nhiều. Lúc nào tôi cũng cười với bạn bè và những người chung quanh. Tôi làm cho người khác vui bằng cách hóa trang, mang mũi giả râu giả, nón cao bồi … những món đồ mà ông bạn Gary Cooper của tôi tặng".

Một buổi tối ở Cannes, Picasso đến nhà bạn dự tiệc. Ông mặc bộ đồ smoking viền đỏ, mang đôi dép sơn đen, bộ đồ ông mặc lúc đánh quần vợt. Tuần nào cũng vậy, anh thợ may Sapone ở Nice giao cho Picasso năm cái quần khác kiểu. Ông đi chợ " từng xu nhỏ" nhưng rất hào phóng với người nghèo.

Đêm nọ ông dùng cơm ở một tiệm ăn tại Lavandou, gặp một cô gái chạy bàn là đồng hương và cùng tên với ông. Cô ta kể cho Picasso nghe về cảnh nghèo khổ, túng quẫn của gia đình cô, ông khách cảm động nhưng trong túi thì chỉ có 10 ngàn quan cũ. Ngay tức khách họa sĩ này lấy rượu vang đỏ pha với tàn thuốc lá, vẽ một mạch la liệt lên mấy tấm khăn ăn. Nửa đêm, ông khách ngừng tay, thế là cô hầu bàn đủ tiền mua nhà cho mẹ và đồ nữ trang quý giá cho mình.

Picasso giờ đây đã trở thành triệu phú nhờ tài năng nghệ thuật của mình. Ông dọn nhà từ Cannes về Mougins. Picasso ngụ tại ngôi biệt thự của dòng họ Guiness của vua là De với giá 1 triệu quan. Căn nhà này rộng rãi, đầy đủ tiện nghi, gồm 20 phòng.

Picasso ngụ vẫn còn yêu J.Roque tha thiết. Những lúc rảnh rỗi, nằm vắt tay lên trán, Picasso nghĩ ngợi mông lung về cuộc đời tình ái của mình. Nàng Fernande là mối tình thiêng liêng nhất của ông, rồi những bóng đàn bà khác loáng thoáng qua đời ông, ngắn ngủi nhưng cũng mang lại nhiều dư âm hạnh phúc.

Đến tuổi 90, Picasso mới nhận thức được một điều, rằng mình đã tìm được một người đàn bà là nửa tâm hồn mình, người tình cuối cùng và hiện nay là vợ ông. Picasso yêu người đàn bà này với tất cả những rung động còn sót lại của một trái tim đã đập suốt gần một thế kỷ. Ông không muốn J.Roque sanh nở nhiều sợ ảnh hưởng đến sức khỏe của nàng. Nhỡ một mai cơn bệnh ngặt nghèo cướp nàng khỏi vòng tay ông thì sao ? Ông không bao giờ đi đâu mà thiếu bóng nàng J.Roque. Họ vẫn hôn nhau say đắm, công khai trước hàng trăm ngàn cặp mắt giữa thanh thiên bạch nhật. Picasso không muốn rời nàng. Jacqueline chỉ xa ông khi nào nàng đi tắm ở bãi bể Cannes hay cỡi ngựa chung quanh các ngọn đồi ở Mougins. Jacqueline là người duy nhất được vào xưởng vẽ khi Picasso đang làm việc. Nàng là người mẫu tuyệt vời để hình thành những bức chân dung hoặc khỏa thân do chính tay Picasso vẽ.

Con người tài hoa này sống ẩn dật, vui thú với vợ và cô con gái Catherine. Toà biệt thự là một xưởng vẽ khổng lồ của ông. Muốn dùng bữa, ông chỉ còn một chỗ trống duy nhất đó là nhà bếp. Vì thế, nàng J.Roque khuyên ông nên tu sửa lại sân thượng để có thêm chỗ trong nhà.
Sức sáng tạo, khả năng làm việc của Picasso thật phi thường. Tùy theo ngày, ông vẽ đầy một tập giấy vẽ, họa hai bức tranh có cạnh mỗi bức 3 mét, hoặc vẽ thể nghiệm khoảng nửa tá tranh để nghiên cứu một cách biểu hiện mới.

Bỗng một dạo nọ, mùa xuân mang tặng Picasso những cảm hứng lạ lùng, ông quăng lọ sơn, lao vào chạm khắc. Picasso làm việc ròng rã một tháng trời và kết quả là đã khắc xong 50 bản in bằng đầu bút nhọn, bằng chất cường toan hoặc tiêu toan. Ông sáng tác nhiều bản trong một ngày, sau đó, nếu không hài lòng, ông tự tay dùng sắt bào sửa lại, y như một tay thợ nguội lành nghề, Picasso cho người mang những bản khắc này đến xưởng nhà của Aldo Gommelynck, nhưng ông muốn xem ngay tức khắc những bản đã chạy thử chưa ráo mực in, vì thế nhà ông hôm đó bận rộn cho đến sáng.

Picasso không xem thường phương pháp nào hay chú trọng quan điểm nào. Ông luôn đi tìm cái mới. Picasso dấn thân vào ngành kỹ nghệ khắc trên vải sơn mà ngày xưa chỉ dùng cho giới học trò, một ngành đang xuống dốc trầm trọng. Picasso đã giúp nó trỗi dậy, lấy lại phong độ của thời hoàng kim. Ông khắc lên vải để in thành nhiều màu gấp sáu lần trước đó.

Sự thành công này được các chuyên gia ngành khắc đánh giá là một sự kiện sáng tạo nghệ thuật lạ lùng. Đúng như nhà văn La Mã Marcus Tullius Cicero đã nói : "Những sản phẩm vĩ đại đều kết tinh từ cảm hứng thần thánh".
Picasso kỳ vĩ như vậy là nhờ khát vọng vươn lên phía trước, mục đích cuộc sống của ông là ngôi sao dẫn đường, từng bước đưa ông đến đỉnh vinh quang, Picasso là một trong những người hạnh phúc nhất vì ông đã nung nấu một lý tưởng lớn lao và đấu tranh cho lý tưởng đó với tất cả tài năng và trí tuệ của mình.

Picasso sinh ra trong một gia đình trưởng giả, đáng lẽ ra ông rất bảo hoàng. Đến 55 tuổi, ông vẫn chưa nhúng tay vào chính trị. Nhưng vào năm 1936, sau chuyến oanh tạc Guernica, Picasso nghiêng về phía cộng hoà. Sau đó lúc 63 tuổi, năm 1944, ông gia nhập đáng cộng sản.

Đường lối chính trị trong con đường nghệ sĩ của Picasso rất phức tạp, mâu thuẫn nhau ngay trong nhận thức xã hội. Nhưng chính trị luôn luôn là cái gì râu ria, nằm bên ngoài cứu cánh của đời ông.

Về già, Picasso càng "bế môn tỏa cảng" hơn. Ngôi biệt thự sang trọng khác, Notre Dame de Vie, được gìn giữ bằng hàng rào kẽm gai, những hào sâu và lúc nào cũng có người canh gác. Khách muốn gặp ông, phải dừng ở cổng ra vào, dùng máy Interphone tự giới thiệu. Căn nhà y như một pháo đài. Từ người giữ cửa, tài xế, những người đàn bà phụ giúp trong nhà cho đến J.Roque đều là những người hộ vệ tích cực mỗi khi không có Paulo ở nhà.

Picasso ít tiếp xúc với người lạ, nhưng những khi người nào may mắn gặp ông trên đường phố đều công nhận rằng nhà triệu phú ẩn dật kia vẫn chưa quên quá khứ nghèo nàn của mình cách nay non nửa thế kỷ, thời gian đầu sống như con chó ốm ở thành phố Paris, nước Pháp.

Picasso rất giản dị. Nếu đến dùng cơm ở nhà hàng, hôm nào làm bẩn tay, ông sẽ xuống bếp rửa trước khi dùng khăn lau chén. Đến dự triển lãm, ông vẫn mặc quần cụt áo ngắn và đội nón rộng vành. Có lẽ ông nghĩ rằng "là nghệ sĩ thì phải lên cao nhất về mặt trí tuệ, nhưng con người thì nên ở trong bóng tối".

Một hôm, lúc từ nhà ông nha sĩ quen đi ra, Picasso vấp phải một tay nhà báo địa phương, từ lâu ông ta vẫn hằng mong ước được lên Mougins. Lần này, nhìn gương mặt chờ đợi thấp thỏm của anh ta, Picasso cảm động và mời ông ta về nhà mình.

Vừa đặt chân vào xưỡng vẽ, anh nhà báo sung sướng nói :
- Thưa họa sư, sự tiếp xúc và thăm xưởng vẽ của ngài là một món quà sinh nhật đẹp nhất, năm tôi 70 tuổi.

Nhà danh họa tỏ ý kinh ngạc :
-A, hôm nay là ngày sinh nhật của ông à ? Thế người ta đã tặng ông những gì chưa, ông lấy đỡ hai bức họa này đi, quà của tôi đây.
Tranh của Picasso bị "copie" rất nhiều. Nhưng vị cha đẻ của trường phái lập thể không hề muốn tố giác các kẻ gian kia vì ông sợ rằng "Phải đối đầu với những bạn đồng nghiệp của mình".

Trong lần sinh nhật thứ 83, Picasso cao hứng nói với bạn bè :
- Chỉ có tình yêu mới đáng kể.

Bạn bè cũng không ai ngạc nhiên gì câu nói đó. Bởi vì bản chất tâm hồn nghệ sĩ ắt phải vậy. Ngoài ra, cụ già họa sư đó còn sức khỏe cường tráng của một chàng thanh niên kia mà. Ông vẫn còn đủ sức bơi như một con kình ngư trên bể Cáp d’Antibes và nhảy đầm "over night " không ngừng nghỉ.

Cảnh sát đã có lần phải can thiệp một buổi dạ vũ quá ồn ào tại nhà Picasso, lúc đó đã ba giờ sáng.

Ngày hôm sau, nhà danh họa không được vui, tỏ vẻ mệt mỏi và than đau. Giới thân cận với Picasso thừa biết đó là "cơn bệnh ngoại giao" để thoát khỏi sự rầy rà với những người bảo vệ an ninh, trật tự xã hội, Họ biết Picasso đôi khi vướng phải vài trận đau dạ dày đột xuất, một cơn sưng phổi, vài lần nhức đầu … nhưng mười lăm năm gần đây ông không hề bệnh tật, vẫn yêu đương cuồng nhiệt, làm việc như bò mộng đấu trường.

Mãi đến chín năm sau, ngày 8 tháng 4 năm 1973, Picasso lại than đau, nhưng không phải do "ngoại giao" nữa, ông đã giã từ vợ thân yêu, giã từ con cái, bạn bè, giã từ thành phố Mougins đã nuôi dưỡng ông những năm cuối đời, giã từ hội họa và những người yêu mến tài năng của ông, Picasso qua đời hưởng thọ 92 tuổi.

Ông đã sống trọn vẹn, trung thực với tình yêu. Những người đàn bà đi qua đời ông, tên tuổi họ gắn liền với Picasso mãi mãi. Các tác phẩm bất hủ của ông đã đống góp những giá trị to lớn cho nền nghệ thuật tạo hình của nhân loại.

( nguon : st )

Cuộc đời và tình yêu của Picasso : Danh họa Tây Ban Nha

Cuộc đời và tình yêu của Picasso : Danh họa Tây Ban Nha

Picasso, một trong những nhân vật vĩ đại nhất của nghệ thuật tạo hình, đã trải qua thời kỳ thơ ấu thật êm đềm, hạnh phúc. Cậu lớn lên trong một gia đình vốn có truyền thống hội họa lâu đời.

Cha cậu, ông Ruiz Blasco là giáo sư trường mỹ thuật Barcelona, người đã chăm chút từng bước đi chập chững đầu tiên của Picasso trên con đường hội họa . Cậu sớm hấp thụ những không gian chan hoà màu sắc chung quanh, đắm mình trước khung cảnh tuyệt mỹ của thiên nhiên qua bàn tay kỳ diệu của người cha. Picasso nhận thức đời sống bằng những bức tranh treo đầy trong nhà. Còn gì giúp trí tưởng tượng của thời thơ ấu bay bổng hơn bằng hội họa ? Cậu ngắm say sưa hàng giờ, thậm chí suốt ngày chỉ một bức tranh mà thôi.

Năm 13 tuổi, Picasso vào học trường mỹ thuật của cha rồi sau đó chuyển sang trường mỹ thuật Madrid, tiếp cận với thủ pháp tả chân theo lối cổ điển của các nhà danh họa Rivera, Velasquez và Goya.

Cậu bé mơ mộng, thích lang thang suốt ngày ngoài trời. Trên lưng một chiếc ba lô đựng thức ăn, đồ uống, tay xách bản vẻ, tay cầm cọ sơn, Picasso chậm rãi bước đi, mắt quan sát tất cả những gì thiên nhiên đang phơi bày. Từ cành cây, ngọn cỏ, cho đến con đường làng, mái nhà ngói đỏ, từ con bướm nhỏ xinh xinh bay chập chờn khoe sắc, cho đến đàn bò mộng xa xa đang thảnh thơi nằm phơi nắng, thỉnh thoảng rống lên những tiếng khiến Picasso giật mình nhưng lại cảm thấy vui tai.

Thiên nhiên dịu dàng như bà tiên, ngọn gió đưa hương hoa dại ven đường…, tất cả tạo nên một cảm xúc mãnh liệt làm say sưa cậu bé có tâm hồn nghệ sĩ. Picasso, mẹ chàng, gốc người Genova (ý). Mọi hơi thở của lá, mọi dạo chơi của bầy chim trên trời cao đều lắng động trong tiềm thức của Picasso. Nó hiện về trọn vẹn trong những giấc mơ đẹp của chàng họa sĩ tí hon này.

Năm 1897, Picasso gởi tác phẩm "Khoa học và nhân ái" (Science et Charité ) đến dự cuộc triển lãm Madrid. Và kết quả thật bất ngờ, tác phẩm được bằng danh dự, điều đó giúp cậu quyết theo con đường hội họa suốt đời. Nhưng vào năm 1900 Picasso sang Paris (Pháp), có lẽ vùng đất này chưa cảm nhận được tinh thần trong tranh của cậu, không biệt đãi lắm, nên Picasso đâm ra thất vọng chán nản. ..

Cậu trút tất cả nỗi buồn xa xứ cô đơn của mình vào tác phẩm "Ưu tư" ( Mélancolie), diễn tả một người đàn bà sầu muộn đang co mình lại. Từ đó về sau cậu bắt đầu ký tên của dòng họ mình là R.Ruiz.

Picasso sống vất vưởng tại xóm Montmartre, vật lộn với đói và rét. Hình ảnh hiện lên trong các bức tranh của cậu luôn luôn có dáng dấp của những kẻ nghèo hèn, rách rưới.

Vào năm 1905, một sự kiện đột biến đã làm thay đổi toàn bộ cuộc sống nội tâm của chàng trai trẻ Picasso.

Ở máy nước đường Ravignan, Picasso đang ôm siết trong tay một con mèo nhỏ chỉ còn da bọc xương mà chàng vừa nhặt được bên đường. Cái máy phun nước ra, và trong khi chàng lom khom đưa bình hứng, nước bắn tung toé xuống đường, dội ngược lên, làm ướt gấu váy và đôi chân Fernande . Nàng nhìn chàng, mỉm cười, ánh mắt loé lên cái nhìn là lạ khi thấy chàng mặc chiếc áo được mua ở chợ trời với giá 1 quan 45 xu.

Chàng trai thấp, mập mạp đó ngẩng đầu lên và chạm phải một khuôn mặt đẹp tuyệt vời với đôi mày đầy dặn, đôi mắt màu hạnh nhân, cái miệng có đôi môi dầy mọng đỏ. Ấp a ấp úng mãi chàng mới cất tiếng được :
-Thưa cô. .. tôi. .. tôi muốn tặng cô một món quà.
- Ông cứ tặng.
- Đây, cái này đây. .. Con mèo - Chàng trao con mèo cho nàng.
- Cám ơn ông. - Nàng nói, giọng lộ vẻ xúc động thật sự.
- Cô đến thăm xưởng vẽ của tôi một ngày gần đây chứ ?
- Vâng, tôi sẽ đến.

Nàng giữ đúng lời hứa. Nàng đến và ở lại đấy trong căn phòng trọ của Picasso ở đường Ravignan. Picasso đã yêu nàng với tất cả những tình cảm nồng nàn của một chàng trai 24 tuổi với chất của một nghệ sĩ. Nàng quả là giấc mộng vàng của chàng. Nàng đẹp đến nỗi lịch sử nghệ thuật chỉ gọi nàng dưới biệt danh "Người đẹp Fernande ".

Nàng tên là Fernande Olivier (do tên của người chồng đã ly dị ), còn nhũ danh của nàng là Bellevallée.

Giống như khi Victor Hugo yêu nàng Juliette, Picasso không cho Fernande ra khỏi nhà. Nếu Hugo đối xử độc tài với người yêu vì nghĩ rằng sẽ giúp cho Juliette xóa nhòa quá khứ "trăm ong ngàn bướm" đã qua thì Picasso yêu nàng như tín đồ cuồng say trước mối tình thiêng liêng đầu đời.

Chàng tự nguyện làm tất cả việc nhà thay cho nàng. Khi nhà buôn tranh Sagot ( trước làm hề ở gánh xiếc ) trả cho chàng 15 xu một bức vẽ, chàng liền đi chợ mua những thứ nàng ưa thích nhất. Đương nhiên là những vật dụng, thức ăn phù hợp với túi tiền của hai người lúc đó. Chàng thích chải tóc cho nàng, nấu ăn hay quét nhà.

Nếu xem bức tranh "Người đàn bà ngủ" chúng ta sẽ thấy một người đàn ông ngồi kề bên giường của một người đàn bà ngủ, có cái nhìn như say đắm, như bị mê hoặc, đó chính là Picasso.

Và hai năm sau, một tuyệt phẩm ra đời bằng chính tình yêu của chàng : bức "Chân dung Fernande ". Picasso đem bức tranh treo cạnh chiếc áo của Fernande mặc ngày lần đầu hai người gặp nhau. Chiếc áo được xếp gọn, đặt trên đầu tủ ngăn giữa hai lọ sứ màu xanh cắm hoa giả. Picasso ngắm tới ngắm lui hàng tháng trời.
Một hôm, bạn chàng - nhà thơ Max Jacob trông thấy hỏi :
- Đây là cái gì ?
- Picasso trả lời ngắn gọn :
- Nếu yêu thì anh sẽ hiểu.

Sau đó, Picasso đem giấu biệt bức tranh, cất vào tủ gắn trong tường để chiêm ngưỡng riêng.

Trong con người Picasso hội họa và tình yêu luôn song hành. Khi tình yêu tạm thời trong trạng thái cân bằng thì chàng lao đầu vào sáng tác. Tiền phong của nền hội họa thời bấy giờ họa phái "Fauvisme"chú trọng đến màu sắc, nhưng Picasso cảm thấy nhạt nhẽo, vô vị khi thưởng thức bức tranh của họ.

Bạn bè giới thiệu Picasso với nhà thơ Apollinaire, chàng thi sĩ này khuyên Picasso nên tìm "một con đường mới, một nghệ thuật mới". Và quả nhiên, Picasso trở nên "hiện đại" thật. Năm 1907, chàng trưng bày một bức tranh vuông và lớn, mỗi cạnh hai mét rưỡi, nhan đề là “Mấy cô gái ở Avignon”. Năm cô gái điếm này không có nét đẹp kiểu "mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da" hay "khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang". Hình thù của họ thật quái dị, mặt méo mó, tay chân, thân thể là những hình học chắp nối. Thế là một họa phái "điên" ra đời dưới những con mắt sành hội họa thời bấy giờ.

Năm 1909, cũng thể nghiệm theo lối sáng tác với tư duy nghệ thuật quá tân thời đó, Picasso hoàn thành một họa phẩm tình yêu thứ hai nhưng thật khác với bức tả chân dung Fernande ban đầu.

Gương mặt người thiếu nữ trong tranh bị cắt ra từng mảnh nhỏ, những hình khối đó như bị cuốn vào một cơn bảo tố quay cuồng. Picasso đã làm việc suốt sáu tháng trời, giam mình trong phòng bốn tuần lễ cuối cùng để hoàn tất bức tranh này.
- Ferdinando, em đến xem em đây !

Nàng bước đến trước khung vải. Mặc dù tính tình điềm đạm nhưng nàng chợt giật mình, lùi bước lại khi thấy bức tranh.
- Anh điên rồi ! – Fernande sợ hãi thốt lên …

Bức tranh trông có vẻ kỳ quái hơn cả những bức mà chàng sáng tạo trước đây (từ năm 1905 đến 1907 ) như "Khỏa thân ngồi" (Nu assis), "Gia đình những người làm xiếc rong" (La famille des Saltimbanques) và "Nữ hoàng Isabelle"…

Chàng ở giai đoạn chuyển mình, thâm nhập vào thế giới nghệ thuật da đen, bước chân đến ngưỡng cửa của trường phái lập thể phân tích, lập thể tổng hợp. Những buổi làm việc, nghiên cứu giữa mùa hè đổ lửa ở vùng Horta de Ebro- Tây Ban Nha, những ngày lang thang trên các cánh đồng xơ xác, đã thật sự đưa Picasso đến nhiều dạng khô khan của các hình kỷ hà qua bức Réservoire (Hồ chứa). Bức tranh cho thấy chàng chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng của Cézanne : "Tất cả trong thiên nhiên đều căn cứ trên những hình nón và hình cầu”.

Ở Montmartre, những người bạn của chàng như Gertrude Stein, Itchoukine…đều cho là chàng điên loạn. Nhưng Picasso rất tự tin những điều chàng thực hiện. Bằng một lối chữ nghĩa Pháp không chính xác gì cho lắm, Picasso gởi thử mời bạn bè và nhà buôn tranh danh tiếng Amboise Vollard đến.

Khi họ bước vào nhà, các bức tranh đều được đặt quay vào tường, Picasso chậm rãi đem ra từng bức đặt trên mỗi giá vẽ.

Gertrude Strein đi đi lại lại trước mỗi bức tranh, thỉnh thoảng tay đưa lên sửa kính, khi đến bức cuối cùng, không kềm chế nổi, ông thốt lên :
- Giờ thì tôi biết anh diễn tả cái gì rồi. Tôi hiểu rồi. Anh muốn vẽ chiều không gian thứ tư chớ gì. Thật là quái gở ! – Ông ôm bụng cười toáng lên.

Itchoukine ngồi im lặng, tay nhịp nhịp trên đùi theo lối Nga. Kế bên là Ambroise Vollard – một con người điềm tĩnh chỉ vào bức tranh và nói : "Tôi mua" rồi móc trong túi ra 1 xấp giấy bạc. Còn nhà thơ Max Jacob ngồi gật gù cất giọng thánh thót như đang đọc thơ :
- Picasso, tất cả những hình khối mà anh đem vào tranh, tuyệt một cách kỳ lạ.

Picasso cảm thấy hài lòng, cười với mọi người. Riêng Fernande , nàng ngẫm nghĩ : "Mình yêu một kẻ điên, nhưng hai người kia cũng điên nốt". Nàng chỉ hiểu những bức tranh của người yêu vẽ vào giai đoạn chàng chưa gặp nàng ở máy nước mà thôi. Đại khái là bức "Nhạc sĩ Tây Ban cầm già " (Le vieux guitariste ) và bức "Đám tang Casemagas" (L’enterrement de Casemagas)… Nàng cảm nhận được tình cảm sâu sắc, tấm lòng yêu thương và nỗi đau khổ vô bờ của Picasso trước thân phận con người qua bức tranh đó.

Trừ một vài người thân có nhãn quan nghệ thuật gần gũi với tinh thần sáng tạo của Picasso như bạn đồng nghiệp G.Braque, còn hầu hết đều lên án chàng là "lập dị", "ngông cuồng", "loạn thần kinh" …

Dư luận ồn ào phản đối đến nỗi Picasso và Braque sau này không dám ký tên vào mặt trước các bức tranh của họ. Có người yêu cầu chính quyền không được trưng bày tranh "lập thể" trong các viện bảo tàng. Thiên hạ mắng nhau bằng danh từ "đồ Picasso !".Tai họa giáng vào đầu hai họa sĩ thiên tài liên tiếp. Bởi vì, cái mới trong nghệ thuật bao giờ cũng là sự nổi loạn đáng trách. Người ta quen chiêm ngưỡng những bức tranh cổ điền rồi. Nếu lúc trước họa sĩ dùng bóng xen với màu sắc làm cho hình nổi lên thì đến lượt Picasso, chàng lại sử dụng hình học, phỏng theo nghệ thuật Bắc Phi và Trung cổ, chủ tâm "đánh" vào mắt người xem, tạo cho hình nổi bật lên.

Năm 1914, khi thế chiến thứ nhất bùng nổ, người bạn thân Braque lên đường nhập ngũ khiến Picasso hụt hẫng, rơi vào trạng thái cô đơn. Mặc dù khuynh hướng mới do Picasso khởi xướng đã có chỗ đứng khá vững vàng trong căn nhà hội họa năm châu, nhưng chàng vẫn cảm thấy mình bị cô lập, không ai có thể hiểu được chàng. Picasso muốn quên đứa con "lập thể" do chàng khai sinh và chuyển sang sống với đứa con nuôi " tượng hình” (Figuration).

Sau tám năm yêu đương mặn nồng, mối tình đầu của Picasso tắt lịm một cách đau đớn vì nàng Fernande Olivier bị cơn bệnh lao hiểm nghèo cướp mất năm 1917.

Bolga Koklova, một ngôi sao của đoàn múa Ba Lê Diaghilev (ở Nga) đến như một vị công chúa có liều thuốc giải sầu thần diệu, nàng đã cho Picasso uống những mật ngọt tình yêu vương giả, giúp chàng gượng dậy, thoát khỏi nỗi buồn xa bạn, mất người yêu đầu đời.

Họ cưới nhau và sống cuộc sống huy hoàng, khác hẳn thời trước nghèo rách mồng tơi ở Montmartre.

Năm 1921, con trai đầu lòng của Picasso chào đời, chàng đặt tên là Paulo, người hiện nay vẫn còn sống và thừa hưởng một gia tài khổng lồ. Nhưng hình như không có gì vĩnh cửu trong các mối tình của giới nghệ sĩ, họa chăng nó chỉ tồn tại trên trang giấy như một nhân chứng, một ấn tích của cuộc đời họ. Nó chỉ tồn tại trong thơ ca và những tác phẩm nghệ thuật khác. Còn giữa thực tại ngổn ngang của con người, tình yêu của họ là những chiếc lá vàng đã hết thời kỳ xanh tươi. Những mối tình bay theo gió, lượn lờ giữa đất trời rồi tan mất trong cát bụi thời gian. Năm 1933, Olga ly thân và 22 năm sau nàng từ giã cõi đời, bước sang một chiều không gian nào khác mà dân gian thường gọi là địa ngục hay thiên đàng.

Tại nhà Picasso, khung cửa giữa buồng ngủ và xưởng vẽ không bao giờ đóng kín. Những mối tình này tiếp mối tình kia, đôi khi sóng cồn dữ dội nhưng có lúc êm như mặt nước hồ thu giữa trưa nắng lửa ở Tây Ban Nha. Nhưng cuối cùng, vẫn là vụ lộn xộn, ly khai đầy nước mắt. Cuộc đời tình ái của Picasso chỉ là những mẩu hạnh phúc chóng qua, mãnh liệt rồi úa tàn, quy luật muôn đời của tạo hóa hay của trái tim con người nghệ sĩ quá nhiều đam mê, quá nhiều khao khát những điều mới lạ ?

Sau mỗi giai đoạn sáng tác của Picasso, người ta đều nhận ra những bóng dáng đàn bà. Lịch sử nghệ thuật "xanh hồng, lập thể, siêu thực … " của Picasso đã ghi nhận tên tuổi năm người yêu và hai vợ của chàng. Cho dù là hôn thê hay nhân tình, họ cũng là những mẫu vẽ, những đối tượng thẩm mỹ sâu sắc khiến Picasso rung động và sáng tạo những họa phẩm tuyệt vời.
Picasso là một điển hình cho sức làm việc không mệt mỏi.

Ba giờ chiều, lúc mọi du khách đều an giấc, tiếng ve sầu ca vang điệp khúc quen thuộc, rỉ rả, đều đều dưới bầu trời oi bức, những bờ biển vắng vẻ. Tất cả vùng Côte d’Azur yên ả, lắng sâu trong tĩnh mịch. Thành phố ven biển vào mùa hạ đã qua nhịp điệu ồn ào, náo nhiệt trong ngày.

Trên ngọn đồi cao Mougins, một bóng người thong thả bước vào xưởng vẽ. Dáng người mập lùn, đầu hói, mình mặc độc chiếc quần tắm, ông ta lầm lũi như một chú bò mộng đang bước vào đấu trường. Đôi mắt đỏ ngầu của ông hướng về đống cọ sơn và bút chì nằm hỗn độn giữa những vật linh tinh trên một diện tích rộng 75 mét vuông.

Picasso lim dim đôi mắt, nghiêng đầu sang trái rồi qua phải, lùi lại ngắm thật kỹ dáng người thiếu nữ ngực trần đang đứng xuôi tay trông cái thảng thốt, bàng hoàng, đôi mắt nâu mở to sợ hãi như bất ngờ bị một gã đàn ông xa lạ xô cửa, xông vào lúc mình không còn mảnh vải che thân. Thân hình cô gái thon gầy với làn da xanh xao toát ra vẻ mơ hồ, kỳ lạ, một loại màu xanh trong suốt được tôn vinh bằng những đường viền ánh sáng, phản chiếu sắc trắng bạc. Gò ngực độn cao đang phập phồng qua làn khói thuốc mờ mờ trước mặt Picasso.

Ông nhìn chăm chú vào vùng ngực cô gái ra chiều khích động. Picasso nhích từng bước chậm chạp, người ngả về phía trước như ôm cô gái, cánh tay phải run run đưa lên trong trạng thái vô thức của kẻ lên đồng, ngập ngừng rồi bỏ xuống. Picasso lùi trở lại. Ánh mắt cô gái trở nên kinh hoàng tột độ. Picasso giơ tay trái bấu vào mặt, đầu gục xuống. Giây lát sau, ông ngửa mặt lên trời buông tiếng thở dài, lắc đầu rồi quyết định bước tới.

Picasso không nhìn đôi mắt mở to hoảng sợ. Gò ngực mới nhú quyến rũ lạ thường. Từng bước, từng bức, Picasso đưa tay phải lên, chấm vào bộ ngực non tơ màu hồng nhạt. Và cứ thế, cho đến chiều tối mịt, hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác đỏ rực. Picasso tiến tới, trở lui, đi qua, đi lại, ngắm nghía trước giá vẽ như không bao giờ chán. Đồng hồ điểm một giờ sáng. Picasso ngã vật người ra chiếc ghế bố, thở hổn hển. Bức tranh đã hoàn tất, trác tuyệt trong không gian màu sác. Ánh đèn chiếu vào bốn góc của khung vải. Nơi đó, màu đỏ gạch âm ỉ sức nóng, lan nhẹ vào thân thể màu xanh lạnh lẽo. Picasso đã hoàn thành động tác cuối cùng.

Tám giờ trôi qua, nhà danh họa trở về đánh một giấc ngon lành. Đối với Picasso, những danh từ khoái lạc, nghỉ ngơi hoàn toàn vô nghĩa. Có người hỏi Picasso rằng ông suy nghĩ gì về hội họa. Picasso trả lời : " Có những họa sĩ biến vầng mặt trời thành một vết màu vàng. Nhưng có những họa sĩ khác biết dùng nghệ thuật và trí tuệ của mình để biến một vệt màu vàng thành vầng thái dương ".

Tính đến ngày nay, Picasso đã lập được một kỳ lục sáng tạo phi thường, xét cả về lượng cũng như về chất. Có người ước tính là Picasso đã cống hiến cho những người yêu nghệ thuật 50 ngàn bức vẽ, 10 ngàn tranh sơn dầu, 1.000 tác phẩm điêu khắc, 1.000 đồ gốm, 2.000 đồ vật và 500 bức tranh khắc. Riêng về hội họa, Picasso không bị giới hạn bất cứ chủ đề nào, từ những bức chân dung, phong cảnh, tĩnh vật đến những bức "Composition", những tác phẩm thời sự, những bức tranh lịch sử có chủ đề hoang đường …

Picasso sáng tác tùy hứng, ghi tác phẩm của mình lên bất cứ vật gì, từ những mảnh giấy, miếng vải cho đến các mảnh bìa, mảnh kiếng và gỗ …

Picasso cầm búa thợ rèn cũng điêu luyện như cầm cọ sơn. Ông dùng chất cường toan thợ chạm không chút ngượng tay.

Dù cho Picasso dùng bất cứ chất liệu gì để sáng tác, nó luôn luôn quan tâm của các nhà phê bình và những người thích nghệ thuật tạo hình.

Năm 1937, nội chiến Tây Ban Nha bộc phát, Picasso kêu gọi dư luận thế giới lên án cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này.

Thông điệp của ông gữi nhân loại, là bức Guernica, một bức tranh lập thể vĩ đại, mô tả cảnh hỗn độn đẫm máu của cuộc chiến, đầu người, đầu vật chồng chéo lên những khúc tay, khúc chân …

Giai đoạn này, Picasso đã đạt đến đỉnh cao của trường phái lập thể. Người ta càng bàn luận về những tác phẩm của ông nhiều hơn khi thế chiến thứ hai chấm dứt. Nhiều người mua tranh của ông với giá đắt khủng khiếp, có người không hiểu ông muốn diễn đạt cái gì nhưng họ vẫn đổ xô tìm mua và sôi nổi tranh luận với nhau về những hình thù quái dị trong các tác phẩm của ông.

Tên tuổi của Picasso bay đến những vùng hẻo lánh giá băng ở Bắc cực và đến đại lục Phi Châu hoang dã. Đâu đâu cũng biết ông. Chưa có một họa sĩ nào lúc sinh thời được nhiều người biết đến như Picasso. Những nhà văn, nhà phê bình, nhà nghiên cứu nghệ thuật tạo hình đã viết 250 cuốn sách về Picasso, bốn viện bảo tàng dành riêng để trưng bày những tác phẩm của ông. Picasso càng nổi tiếng ông càng khiêm tốn hơn.

Ông không thích đi du lịch chỉ thích dạo bộ quanh quẩn vùng ông sống để tìm cảm hứng sáng tạo. Khách mộ điệu từ bốn phương trời đổ xô đi tìm ông như những tín đồ hành hương đến thánh địa.

Họ hy vọng sẽ nhận thức một điều gì đó bổ ích cho cuộc đời họ, gương lao động không mệt mỏi, bí quyết giữ gìn sức khỏe, kiến thức về hội họa hay bất cứ cái gì khác đặc biệt trong cuộc đời ông.

Một phụ nữ Mỹ vượt Đại Tây Dương tìm Picasso. Trong tám ngày bà ta đứng rình ở cổng sắt để chiêm ngưỡng thần tượng trong mơ của mình, nhưng cuối cùng chỉ hoài công. Thế là bà ta đâm ra rượu chè be bét, khóc lóc thảm thiết rồi xách valise về nước.

Picasso tuyên bố với mọi người rằng ông thích sống ẩn dật, đừng ai làm phiền ông vì tất cả thì giờ ông dành cho công việc sáng tạo. Ông không hề nghĩ đến chuyện viết sách phơi bày những kỹ thuật quan trọng trong nghề nghiệp của ông. Picasso không thích biểu diễn tài nghệ của mình trước mắt đồ đệ và giới mộ điệu. Có lẽ chỉ có những người đàn bà yêu ông mới chứng kiến tận mắt giờ phút sáng tạo xuất thần của ông.

Ngoài Fernande người tình đầu, Picasso còn những đêm nồng say với M.T.WATTER, 17 tuổi, sinh được một gái : với Donar. Maar, với Françoise. GILLOT, sinh được một trai một gái.

Và ngày 2 tháng 3 năm 1961, ông bí mật kết hôn với Jacqueline Roque tại toà thị sảnh Vallauris. Đây là người tình cuối cùng của đời ông, một phụ nữ trẻ, tóc đen dài, khuôn mặt hiền hậu và đều đặn. J.Roque 35 tuổi còn Picasso thì … mới 80 tuổi (!!). Người ta tưởng tượng cuộc hôn nhân này diễn ra chú rể già nua, lọm khọm, đầu bạc trắng ngồi kế một cô dâu trẻ măng trên chiếc xe hoa lộng lẫy. Đôi lúc quên khuấy đi, nàng gọi Picasso bằng bác. Nhưng không, họ xứng đôi vừa lứa khi sánh vai đi bên nhau, mọi ý nghĩ của những người chưa gặp Picasso lần nào đều tiêu tan.

Họ ngạc nhiên khi biết cụ già 80 tuổi vẩn mạnh khỏe và xốc nổi như những chàng thanh niên. Họ hỏi bí quyết. "Cải lảo hoàn đông" của Picasso thì ông cười, vui vẻ nói : "Tôi ngủ nhiều, ít khi dậy trước 12giờ trưa, không nóng giận, lo buồn, làm việc nhiều, uống nước trái cây nhiều, ăn nhiều. Lúc nào tôi cũng cười với bạn bè và những người chung quanh. Tôi làm cho người khác vui bằng cách hóa trang, mang mũi giả râu giả, nón cao bồi … những món đồ mà ông bạn Gary Cooper của tôi tặng".

Một buổi tối ở Cannes, Picasso đến nhà bạn dự tiệc. Ông mặc bộ đồ smoking viền đỏ, mang đôi dép sơn đen, bộ đồ ông mặc lúc đánh quần vợt. Tuần nào cũng vậy, anh thợ may Sapone ở Nice giao cho Picasso năm cái quần khác kiểu. Ông đi chợ " từng xu nhỏ" nhưng rất hào phóng với người nghèo.

Đêm nọ ông dùng cơm ở một tiệm ăn tại Lavandou, gặp một cô gái chạy bàn là đồng hương và cùng tên với ông. Cô ta kể cho Picasso nghe về cảnh nghèo khổ, túng quẫn của gia đình cô, ông khách cảm động nhưng trong túi thì chỉ có 10 ngàn quan cũ. Ngay tức khách họa sĩ này lấy rượu vang đỏ pha với tàn thuốc lá, vẽ một mạch la liệt lên mấy tấm khăn ăn. Nửa đêm, ông khách ngừng tay, thế là cô hầu bàn đủ tiền mua nhà cho mẹ và đồ nữ trang quý giá cho mình.

Picasso giờ đây đã trở thành triệu phú nhờ tài năng nghệ thuật của mình. Ông dọn nhà từ Cannes về Mougins. Picasso ngụ tại ngôi biệt thự của dòng họ Guiness của vua là De với giá 1 triệu quan. Căn nhà này rộng rãi, đầy đủ tiện nghi, gồm 20 phòng.

Picasso ngụ vẫn còn yêu J.Roque tha thiết. Những lúc rảnh rỗi, nằm vắt tay lên trán, Picasso nghĩ ngợi mông lung về cuộc đời tình ái của mình. Nàng Fernande là mối tình thiêng liêng nhất của ông, rồi những bóng đàn bà khác loáng thoáng qua đời ông, ngắn ngủi nhưng cũng mang lại nhiều dư âm hạnh phúc.

Đến tuổi 90, Picasso mới nhận thức được một điều, rằng mình đã tìm được một người đàn bà là nửa tâm hồn mình, người tình cuối cùng và hiện nay là vợ ông. Picasso yêu người đàn bà này với tất cả những rung động còn sót lại của một trái tim đã đập suốt gần một thế kỷ. Ông không muốn J.Roque sanh nở nhiều sợ ảnh hưởng đến sức khỏe của nàng. Nhỡ một mai cơn bệnh ngặt nghèo cướp nàng khỏi vòng tay ông thì sao ? Ông không bao giờ đi đâu mà thiếu bóng nàng J.Roque. Họ vẫn hôn nhau say đắm, công khai trước hàng trăm ngàn cặp mắt giữa thanh thiên bạch nhật. Picasso không muốn rời nàng. Jacqueline chỉ xa ông khi nào nàng đi tắm ở bãi bể Cannes hay cỡi ngựa chung quanh các ngọn đồi ở Mougins. Jacqueline là người duy nhất được vào xưởng vẽ khi Picasso đang làm việc. Nàng là người mẫu tuyệt vời để hình thành những bức chân dung hoặc khỏa thân do chính tay Picasso vẽ.

Con người tài hoa này sống ẩn dật, vui thú với vợ và cô con gái Catherine. Toà biệt thự là một xưởng vẽ khổng lồ của ông. Muốn dùng bữa, ông chỉ còn một chỗ trống duy nhất đó là nhà bếp. Vì thế, nàng J.Roque khuyên ông nên tu sửa lại sân thượng để có thêm chỗ trong nhà.
Sức sáng tạo, khả năng làm việc của Picasso thật phi thường. Tùy theo ngày, ông vẽ đầy một tập giấy vẽ, họa hai bức tranh có cạnh mỗi bức 3 mét, hoặc vẽ thể nghiệm khoảng nửa tá tranh để nghiên cứu một cách biểu hiện mới.

Bỗng một dạo nọ, mùa xuân mang tặng Picasso những cảm hứng lạ lùng, ông quăng lọ sơn, lao vào chạm khắc. Picasso làm việc ròng rã một tháng trời và kết quả là đã khắc xong 50 bản in bằng đầu bút nhọn, bằng chất cường toan hoặc tiêu toan. Ông sáng tác nhiều bản trong một ngày, sau đó, nếu không hài lòng, ông tự tay dùng sắt bào sửa lại, y như một tay thợ nguội lành nghề, Picasso cho người mang những bản khắc này đến xưởng nhà của Aldo Gommelynck, nhưng ông muốn xem ngay tức khắc những bản đã chạy thử chưa ráo mực in, vì thế nhà ông hôm đó bận rộn cho đến sáng.

Picasso không xem thường phương pháp nào hay chú trọng quan điểm nào. Ông luôn đi tìm cái mới. Picasso dấn thân vào ngành kỹ nghệ khắc trên vải sơn mà ngày xưa chỉ dùng cho giới học trò, một ngành đang xuống dốc trầm trọng. Picasso đã giúp nó trỗi dậy, lấy lại phong độ của thời hoàng kim. Ông khắc lên vải để in thành nhiều màu gấp sáu lần trước đó.

Sự thành công này được các chuyên gia ngành khắc đánh giá là một sự kiện sáng tạo nghệ thuật lạ lùng. Đúng như nhà văn La Mã Marcus Tullius Cicero đã nói : "Những sản phẩm vĩ đại đều kết tinh từ cảm hứng thần thánh".
Picasso kỳ vĩ như vậy là nhờ khát vọng vươn lên phía trước, mục đích cuộc sống của ông là ngôi sao dẫn đường, từng bước đưa ông đến đỉnh vinh quang, Picasso là một trong những người hạnh phúc nhất vì ông đã nung nấu một lý tưởng lớn lao và đấu tranh cho lý tưởng đó với tất cả tài năng và trí tuệ của mình.

Picasso sinh ra trong một gia đình trưởng giả, đáng lẽ ra ông rất bảo hoàng. Đến 55 tuổi, ông vẫn chưa nhúng tay vào chính trị. Nhưng vào năm 1936, sau chuyến oanh tạc Guernica, Picasso nghiêng về phía cộng hoà. Sau đó lúc 63 tuổi, năm 1944, ông gia nhập đáng cộng sản.

Đường lối chính trị trong con đường nghệ sĩ của Picasso rất phức tạp, mâu thuẫn nhau ngay trong nhận thức xã hội. Nhưng chính trị luôn luôn là cái gì râu ria, nằm bên ngoài cứu cánh của đời ông.

Về già, Picasso càng "bế môn tỏa cảng" hơn. Ngôi biệt thự sang trọng khác, Notre Dame de Vie, được gìn giữ bằng hàng rào kẽm gai, những hào sâu và lúc nào cũng có người canh gác. Khách muốn gặp ông, phải dừng ở cổng ra vào, dùng máy Interphone tự giới thiệu. Căn nhà y như một pháo đài. Từ người giữ cửa, tài xế, những người đàn bà phụ giúp trong nhà cho đến J.Roque đều là những người hộ vệ tích cực mỗi khi không có Paulo ở nhà.

Picasso ít tiếp xúc với người lạ, nhưng những khi người nào may mắn gặp ông trên đường phố đều công nhận rằng nhà triệu phú ẩn dật kia vẫn chưa quên quá khứ nghèo nàn của mình cách nay non nửa thế kỷ, thời gian đầu sống như con chó ốm ở thành phố Paris, nước Pháp.

Picasso rất giản dị. Nếu đến dùng cơm ở nhà hàng, hôm nào làm bẩn tay, ông sẽ xuống bếp rửa trước khi dùng khăn lau chén. Đến dự triển lãm, ông vẫn mặc quần cụt áo ngắn và đội nón rộng vành. Có lẽ ông nghĩ rằng "là nghệ sĩ thì phải lên cao nhất về mặt trí tuệ, nhưng con người thì nên ở trong bóng tối".

Một hôm, lúc từ nhà ông nha sĩ quen đi ra, Picasso vấp phải một tay nhà báo địa phương, từ lâu ông ta vẫn hằng mong ước được lên Mougins. Lần này, nhìn gương mặt chờ đợi thấp thỏm của anh ta, Picasso cảm động và mời ông ta về nhà mình.

Vừa đặt chân vào xưỡng vẽ, anh nhà báo sung sướng nói :
- Thưa họa sư, sự tiếp xúc và thăm xưởng vẽ của ngài là một món quà sinh nhật đẹp nhất, năm tôi 70 tuổi.

Nhà danh họa tỏ ý kinh ngạc :
-A, hôm nay là ngày sinh nhật của ông à ? Thế người ta đã tặng ông những gì chưa, ông lấy đỡ hai bức họa này đi, quà của tôi đây.
Tranh của Picasso bị "copie" rất nhiều. Nhưng vị cha đẻ của trường phái lập thể không hề muốn tố giác các kẻ gian kia vì ông sợ rằng "Phải đối đầu với những bạn đồng nghiệp của mình".

Trong lần sinh nhật thứ 83, Picasso cao hứng nói với bạn bè :
- Chỉ có tình yêu mới đáng kể.

Bạn bè cũng không ai ngạc nhiên gì câu nói đó. Bởi vì bản chất tâm hồn nghệ sĩ ắt phải vậy. Ngoài ra, cụ già họa sư đó còn sức khỏe cường tráng của một chàng thanh niên kia mà. Ông vẫn còn đủ sức bơi như một con kình ngư trên bể Cáp d’Antibes và nhảy đầm "over night " không ngừng nghỉ.

Cảnh sát đã có lần phải can thiệp một buổi dạ vũ quá ồn ào tại nhà Picasso, lúc đó đã ba giờ sáng.

Ngày hôm sau, nhà danh họa không được vui, tỏ vẻ mệt mỏi và than đau. Giới thân cận với Picasso thừa biết đó là "cơn bệnh ngoại giao" để thoát khỏi sự rầy rà với những người bảo vệ an ninh, trật tự xã hội, Họ biết Picasso đôi khi vướng phải vài trận đau dạ dày đột xuất, một cơn sưng phổi, vài lần nhức đầu … nhưng mười lăm năm gần đây ông không hề bệnh tật, vẫn yêu đương cuồng nhiệt, làm việc như bò mộng đấu trường.

Mãi đến chín năm sau, ngày 8 tháng 4 năm 1973, Picasso lại than đau, nhưng không phải do "ngoại giao" nữa, ông đã giã từ vợ thân yêu, giã từ con cái, bạn bè, giã từ thành phố Mougins đã nuôi dưỡng ông những năm cuối đời, giã từ hội họa và những người yêu mến tài năng của ông, Picasso qua đời hưởng thọ 92 tuổi.

Ông đã sống trọn vẹn, trung thực với tình yêu. Những người đàn bà đi qua đời ông, tên tuổi họ gắn liền với Picasso mãi mãi. Các tác phẩm bất hủ của ông đã đống góp những giá trị to lớn cho nền nghệ thuật tạo hình của nhân loại.

(*): Bài này trích từ YEUVIETNAM.COM