Friday, 26. June 2009, 14:32:48
SGTT - Kết quả mới được công bố của Thanh tra Chính phủ về những sai phạm của tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin) trong đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm “bể thử mô hình tàu thuỷ”, kết quả kiểm toán tại tập đoàn Than – khoáng sản (TKV)… đang dấy lên mối lo ngại trong dư luận về hiệu quả sử dụng vốn ngân sách, các nguồn vốn từ ngân sách tại các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước. Theo Thanh tra Chính phủ, những tuỳ tiện trong thay đổi địa điểm xây dựng, điều chỉnh dự toán, tự ý điều chỉnh tỷ giá, mua sắm vật tư, thiết bị trị giá hàng triệu USD rồi để không… tại công trình “bể thử mô hình tàu thuỷ” của Vinashin, đã làm thất thoát, lãng phí hàng tỷ đồng vốn ngân sách.
Phó thủ tướng Chính phủ Trương Vĩnh Trọng đã đồng ý với các kiến nghị của Thanh tra như: không quyết toán số tiền trên 3,1 tỉ đồng lãi vay tiền đặt cọc hợp đồng mua thiết bị của Ba Lan bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước; thu hồi, hoàn trả trên 409 triệu đồng kinh phí do thanh toán vượt khối lượng thực tế; yêu cầu Vinashin thẩm định chất lượng và giá trị bảy thiết bị không đúng xuất xứ theo hợp đồng trị giá 18.500 USD; chưa quyết toán 180 ngàn USD do thanh toán khối lượng chưa thực hiện cho một công ty nước ngoài… Nhiều công ty con thuộc Vinashin cũng không chịu nổi cách thức quản lý của công ty mẹ. Mới đây, lãnh đạo 10 công ty thuộc Vinashin đã cùng ký vào đơn kêu cứu khẩn cấp gửi Thủ tướng Chính phủ về việc tập đoàn – công ty mẹ nợ dây dưa một khoản 150 tỉ đồng, khiến các công ty này đứng trước nguy cơ phá sản, hàng ngàn công nhân bị thất nghiệp…
Kết quả kiểm toán mới đây của kiểm toán Nhà nước tại TKV cho thấy, sự điều chỉnh quy mô, vốn đầu tư, thiết kế… của nhiều công trình lớn do TKV làm chủ đầu tư làm tăng vốn đầu tư hàng trăm tỉ đồng, cũng đặt ra vấn đề trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn ở tập đoàn này. Ví dụ như dự án đầu tư, cải tạo cảng Cẩm Phả có vốn đầu tư khoảng 155 tỉ đồng, lãnh đạo TKV ra quyết định phê duyệt tới bốn lần. Dự án xây dựng trụ sở làm việc liên cơ quan của TKV tại thành phố Hạ Long (Quảng Ninh), ban đầu dự toán 31 tỉ đồng, sau một lần điều chỉnh đã tăng lên 47 tỉ đồng. Ở công trình này, sự vô lối trong quản lý là rất rõ khi công trình đã thi công, hoàn thành từ tháng 10.2006, nhưng đến 31.12.2007, lãnh đạo TKV mới phê duyệt tổng dự toán. Tại dự án tượng đài Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, TKV rót vốn đầu tư ban đầu khoảng 9,1 tỉ đồng, sau lần điều chỉnh thứ 3 đã lên tới 23,27 tỉ đồng. Sự thiếu chặt chẽ trong lập dự án, dự toán, thẩm định, phê duyệt thiết kế… ở nhiều công trình, dự án khác của TKV, theo kiểm toán Nhà nước, dẫn đến phải điều chỉnh các dự án, thay đổi thiết kế nhiều lần, đội vốn đầu tư lên cao. Ví dụ như các dự án: nhà máy nhiệt điện Sơn Động, nhà điều hành sản xuất công ty tuyển than Hòn Gai…
TKV còn chỉ định thầu sai quy định hàng chục gói thầu trị giá lên tới hàng trăm tỉ đồng. Trong việc tổ chức đấu thầu cho một số dự án cũng không ít sai phạm như: gói thầu số 5, dự án hệ thống đánh đồng kho chứa than và tiêu thụ than, cơ quan chức năng phát hiện nhà thầu trúng thầu và giành được hợp đồng, thậm chí còn không có tên trong danh sách mời thầu hạn chế. Các dự án lớn như: dự án nhà máy nhiệt điện Na Dương, nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn… đều có sai phạm trong quá trình tổ chức đấu thầu. Theo kiểm toán Nhà nước, nhiều yếu kém trong quản lý đầu tư, tài chính của TKV: chậm chạp thi công nhiều công trình (như nhà máy điện Na Dương chậm tiến độ tới bốn năm), sử dụng thiết bị sai nguồn gốc xuất xứ… đã gây thiệt hại, lãng phí cho ngân sách Nhà nước. Các khoản đầu tư ra ngoài lĩnh vực chính của TKV như: ngân hàng, chứng khoán, các quỹ đầu tư… lên tới trên 400 tỉ đồng cho thấy sự tuỳ tiện, lỏng lẻo trong quản lý, sử dụng vốn khá điển hình của một tập đoàn kinh tế lớn của Nhà nước.
Trước đó, kiểm toán Nhà nước đã công bố những sai phạm trong quản lý vốn, tính toán giá điện ở tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Đã có những khoản tiền lớn bị phát hiện và được giải thích là tính toán nhầm. Cho dù các tập đoàn: EVN, TKV, Vinashin… giải trình về các kết luận thanh tra, kiểm toán có đưa được ít nhiều những lý lẽ, nguyên nhân khách quan để biện minh cho một số sai phạm, nhưng về cơ bản, những sai phạm, yếu kém trong quản lý của các tập đoàn này mà các cơ quan chức năng phát hiện, vẫn được xác định là đúng đắn.
Sự thiếu trách nhiệm trong quản lý vốn, trong chấp hành các quy định về đầu tư, xây dựng, quản lý dự án… của các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước là một thực tế diễn ra trong nhiều năm. Những kết quả kiểm tra, kiểm toán, thanh tra ở một số tập đoàn gần đây khẳng định thêm rằng, tình trạng đó vẫn chưa được cải thiện, thậm chí còn diễn biến xấu hơn. Nhưng đáng lo là, mới đây, Chính phủ yêu cầu các cơ quan thanh tra giãn bớt các cuộc thanh tra các tập đoàn với lý do là: để các doanh nghiệp tập trung vào sản xuất, kinh doanh, vượt qua khó khăn của thời kỳ suy giảm kinh tế. Được biết, mới đây Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu bộ Kế hoạch và đầu tư, trong tháng 7 phải hoàn thiện dự thảo nghị định của Chính phủ về mô hình hoạt động của các tập đoàn để trình Chính phủ thông qua. Trên cơ sở đó, các biện pháp quản lý, giám sát về hoạt động các tập đoàn sẽ được tăng cường sau một thời gian quá lâu thí điểm mô hình này. Nhưng có lẽ, đi cùng với nghị định này, cần phải có một cơ chế quản lý về tài chính chặt chẽ mới đảm bảo các nguồn lực khổng lồ của đất nước về tài chính, đất đai, khoáng sản… đang được giao cho các tập đoàn, tổng công ty không tiếp tục bị lãng phí, thất thoát.
Mạnh Quân
Friday, 12. June 2009, 03:32:57
Mỗi năm, hè thu hai kỳ các “nhà tài trợ” lại họp với “nhà nhận tài trợ” là Việt Nam. Phiên họp giữa kỳ năm nay mới chấm dứt hôm thứ Ba 9-6 tại Buôn Ma Thuột, như tên gọi của nó là hội nghị...“tư vấn”, chính là để bên tài trợ đưa ra những khuyến cáo, và bên nhận tài trợ nghe, nhận các khuyến cáo ấy.
Phiên họp thứ nhì, tháng 12 hàng năm, là để “trao đổi lại” xem đã đồng thuận được với nhau những gì, trước khi các “nhà tài trợ” hứa hẹn sẽ “tài trợ” năm tới bao nhiêu. Rồi thì, sẽ có những tin kiểu “nước này cam kết tài trợ bao nhiêu tỉ đô la, nước kia bấy nhiêu trăm triệu euro”... Cách đưa tin ấy dễ gây ngộ nhận về hai chữ “tài trợ” mà tự thân cụm động từ “cam kết tài trợ” đã là cả một cái bẫy ngọt ngào...
Như mọi lần, những tin kiểu “Nhật Bản khẳng định sẽ tiếp tục tăng nguồn tài trợ ODA cho Việt Nam”... lại được nhanh nhảu loan từ hội nghị Buôn Ma Thuột này. Tuần trước, là tin “EU cam kết tài trợ mấy trăm triệu euro, trong đó phần lớn là không hoàn lại”. Như thể đó là những “thắng lợi” đầy tự hào. Những tin tức kiểu ấy từ mười mấy năm qua luôn chiếm lĩnh thông tin về các hội nghị giữa các “nhà tài trợ” và “nhà nhận tài trợ” đã gây ra những ngộ nhận tai hại.
Lẽ ra phải cùng nhau tâm niệm rằng nhà tài trợ thật ra là “chủ nợ” và ta chính là “con nợ’, và rằng con cháu ta sẽ là người trả nợ, kế thừa sự nghiệp trả nợ mà thế hệ này đã vay và đang bắt đầu trả bằng tiền thuế. Từ nhận thức là “kẻ đi xin và đi vay” đó, sẽ cùng nhau dặn bảo nhau dè xẻn, chí thú làm ăn, để ra mục tiêu năm sau ít xin, ít vay hơn năm trước.
Chứ cứ mong năm sau được cho, được vay nhiều hơn năm trước, làm sao gọi đó là tăng trưởng, là phát triển bền vững? Cách thông tin như thế không bao giờ tạo dựng được ý thức tiết kiệm, tằn tiện, chí thú làm ăn để biến đất nước thành nước có thu nhập trung bình khá trong vòng 10 năm tới.
Từ cách đưa tin “cam kết tài trợ” đó, dễ khiến người đọc quên rằng các hội nghị tài trợ chính là dịp để hè thu nhị kỳ “nói chuyện phải quấy” với nhau kiểu:
- Đồng tiền anh vay của chúng tôi lẽ ra nên (phải) được sử dụng như thế nào, cho những ai trong 86 triệu dân của anh.
- Đồng tiền vay của các anh, chúng tôi chi cho việc này, việc kia là chính đáng. Nếu các anh chỉ giáo gì thêm về những cái bẫy của đầu tư, chúng tôi xin hoan nghênh.
- Hoặc chúng tôi thật ra không cần mấy anh chi cho việc này, việc nọ... Do lẽ, trong thực tế, đã có một số nước luôn tính trong ngân sách tài trợ những khoản lớn lao dành cho các chương trình đào tạo phổ biến tiếng nước họ, hàng năm vẫn đưa sang chính quốc đào tạo cả lô giáo viên tiếng nước đó, cho dù gần hai chục năm qua các tiếng đó đã trở thành “tử ngữ” cả ở Việt Nam lẫn trên thế giới, và rằng không còn bao nhiêu lớp dạy tiếng đó trong nhà trường Việt Nam... Của không dùng được, vẫn cứ bị mang tiếng là được viện trợ!
Từ thói quen thông tin “cam kết tài trợ” đó, vô hình trung tạo nên một thói quen dị ứng những thẳng thắn góp ý. Như những quan ngại về tính hài hòa và hiệu quả của các dự án. Về cơ chế nào để quản trị quốc gia tốt hơn và chống tham nhũng tốt hơn, trong đó có sự tham gia của toàn xã hội, về cơ chế minh bạch thông tin...
Có lẽ thay vì đi hỏi xem “Nước ngài sẽ tài trợ bao nhiêu?”, nên đi hỏi “Làm gì để khá hơn?” để được nghe những góp ý như phát biểu không “mới mẻ” gì của John Hendra, Điều phối viên thường trú của Liên hiệp quốc tại Việt Nam”:
“...Tại các cuộc đối thoại lần trước, các đối tác phát triển nêu rõ tầm quan trọng của việc tăng cường vai trò theo dõi và giám sát của xã hội dân sự và thông tin đại chúng, và tăng cường khả năng tiếp cận thông tin. Chúng tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng nỗ lực phòng chống tham nhũng sẽ có hiệu quả nhất khi phạm vi phối hợp và tham gia của các chủ thể ngoài chính phủ được mở rộng... Chúng tôi tin rằng cần tăng cường hơn nữa vai trò giám sát của các tổ chức này và tạo những cơ chế trong đó người dân có thể khiếu nại, cũng như thiết lập các cơ chế cho công chúng khiếu nại và đảm bảo rằng họ được bảo vệ..."
Vai trò rất quan trọng của thông tin đại chúng được thảo luận trong ba cuộc đối thoại vừa qua. Để đóng góp vào các hoạt động phòng chống tham nhũng hiệu quả, thông tin đại chúng giữ ba vai trò quan trọng: (1) theo dõi và thông tin về các biện pháp phòng chống tham nhũng của chính phủ; (2) vạch trần tham nhũng; và (3) hướng dẫn công luận.
Không chỉ mỗi ông John Hendra của Liên hiệp quốc mới có những góp ý như thế. Phát biểu của các đại sứ, các đại biểu khác cũng không xa các đề tài quan ngại tương tự: làm sao hài hòa hóa và hiệu quả hóa các dự án? Tức làm sao đồng tiền cho vay được sử dụng đúng và tốt. Chẳng thế mà 10 ngày trước hội nghị, Thụy Điển đã chủ trì một đối thoại chống tham nhũng trong lĩnh vực xây dựng, mảnh đất phì nhiêu nhất cho tham nhũng ở Việt Nam lúc này.
Có nhiều cách đưa tin, song cách đưa tin kiểu fishing for compliments (mong chờ những lời huê mỹ) không là bệ phóng cho đất nước này sớm lành mạnh hơn, để tự cường hơn hầu trở nên hùng mạnh hơn.
Danh Đức
Thời báo Kinh tế Sài Gòn - ngày 11-6-2009
Tuesday, 12. May 2009, 12:53:31
Dự kiến, Chính phủ sẽ trình Quốc hội phê chuẩn mức thâm hụt ngân sách là 8%, tại kỳ họp Quốc hội diễn ra ngày 20/5 tới.
Như vậy, mức thâm hụt ngân sách đã tăng tới 3% so với mức phê chuẩn cuối năm trước. Hiện, nhiều đại biểu Quốc hội chưa đồng tình với con số này, mà cho rằng chỉ nên là dưới 7%.
Thông tin từ Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách 4 tháng đầu năm nay giảm gần 20% so với cùng kỳ năm 2008. Bộ Tài chính dự kiến, số thu ngân sách sẽ hụt giảm khoảng 29.000 - 63.000 tỷ đồng so với dự toán. Trong đó, giảm thu do suy giảm kinh tế và miễn, giảm, giãn các loại thuế vào khoảng 40.000 tỷ đồng.
Băn khoăn mức trần bội chi
Trong các phiên họp toàn thể của Ủy ban Tài chính - Ngân sách và Ủy ban Kinh tế, trong khi hầu hết các thành viên của Ủy ban Kinh tế chấp nhận mức bội chi 8% mà Chính phủ đề xuất thì nhiều thành viên của Ủy ban Tài chính - Ngân sách đều cho rằng đó là một con số “nguy hiểm”.
Uỷ viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách Nguyễn Bá Thanh dứt khoát cho rằng mức trần quá lắm chỉ nên chiếm 6% GDP bởi nếu không tính toán kỹ sẽ phải “trả giá đắt” cho việc bội chi.
Các đại biểu của Ủy ban Tài chính - Ngân sách Quốc hội đều đã thống nhất thông qua kiến nghị mức bội chi ngân sách năm 2009 là 7%, thấp hơn một điểm phần trăm so với đề xuất của Chính phủ gửi Quốc hội.
Nhìn ở một góc độ khác, các thành viên của Ủy ban Kinh tế đưa ra nhận định mức bội chi ngân sách 8% mà Chính phủ đã đề xuất là có thể chấp nhận trong tình hình suy giảm kinh tế, vì Chính phủ sử dụng nhiều gói kích cầu, trong khi nguồn thu thì thu hẹp do giảm, miễn và giãn nhiều loại thuế để đảm bảo phát triển sản xuất và an sinh xã hội.
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền cho biết, để đảm bảo cho tăng trưởng hợp lý thì phải tính toán cân đối vĩ mô, từ trước mắt đến trung hạn.
Đa số thành viên Ủy ban Kinh tế Quốc hội tán thành mức bội chi này nhưng muốn làm rõ ba vấn đề: nguồn tiền để sử dụng vào việc bội chi, sử dụng bội chi như thế nào và tại sao không thể giảm con số bội chi khi còn có thể tiết kiệm được chi tiêu cho hội họp, lễ hội...
Vẫn chưa có giải pháp thực sự an toàn?
Theo TS. Trần Văn Giao, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, xử lý bội chi ngân sách Nhà nước là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Có nhiều cách để Chính phủ bù đắp thiếu hụt ngân sách như tăng thu từ thuế, phí, lệ phí; giảm chi ngân sách; vay nợ trong nước, vay nợ nước ngoài; phát hành tiền để bù đắp chi tiêu; tăng các khoản thu, đặc biệt là thuế; triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước...
Sử dụng phương cách nào, nguồn nào tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia.
Nếu Nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền và đưa ra lưu thông để xử lý bội chi ngân sách Nhà nước, thì sẽ gây ra lạm phát. Đặc biệt, khi nguyên nhân bội chi ngân sách Nhà nước là do thiếu hụt các nguồn vốn đối ứng để đầu tư cho phát triển gây “tăng trưởng nóng” và không cân đối với khả năng tài chính của quốc gia.
Hoặc nếu chọn phương án vay nợ cả trong và ngoài nước như phương án mà Bộ Tài chính đang nghĩ tới thì sẽ kéo theo vấn đề phụ thuộc nước ngoài và làm giảm dự trữ ngoại hối, làm cạn dự trữ quốc gia, dẫn đến khủng hoảng tỷ giá.
Vay nợ trong nước sẽ làm tăng lãi suất, và cái vòng nợ - trả lãi - bội chi sẽ làm tăng mạnh các khoản nợ công chúng và kéo theo gánh nặng chi trả của ngân sách Nhà nước cho các thời kỳ sau...
TS. Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright cảnh báo: “Việc gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ có thể dẫn đến giảm đầu tư tư nhân hay gia tăng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai, làm xói mòn niềm tin đối với năng lực điều hành vĩ mô của Chính phủ. Nó cũng làm tăng mức lạm phát kỳ vọng của người dân và nhà đầu tư vì họ cho rằng Chính phủ trước sau gì cũng sẽ phải in thêm tiền để tài trợ thâm hụt”.
Ông cũng cho rằng, để thu hẹp thâm hụt ngân sách, song song với việc giảm chi tiêu, Chính phủ cũng cần cải thiện nguồn thu, tránh tình trạng ngân sách phụ thuộc quá nhiều (hiện là 40%) vào các nguồn thu không bền vững như dầu mỏ và thuế nhập khẩu như hiện nay. Tăng thuế thu nhập cá nhân và thuế bất động sản để thu hẹp thâm hụt ngân sách cũng là một phương án nên tính đến.
Còn Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính - Ngân sách Phùng Quốc Hiển cho rằng cần tiếp tục tăng cường quản lý thu chi ngân sách và sử dụng linh hoạt các nguồn thu từ thuế, khai thác tốt các nguồn thu, đồng thời kiểm soát chặt chẽ chi tiêu công và cơ cấu lại chi cho hợp lý, giảm những khoản chi mang tính bao cấp, đẩy mạnh sang cơ chế thị trường để giảm dần gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.
* 3 kịch bản của bội chi ngân sách năm 2009 như sau:
Nếu giá dầu thô bình quân đạt 60 USD/thùng thì ngân sách sẽ hụt thu khoảng 7.600 tỷ đồng. Khi đó, mức bội chi sẽ là 6,4% GDP.
Trường hợp giá dầu xuống còn 50 USD/thùng, sẽ giảm 27.300 tỷ đồng, với mức bội chi tương ứng là 7,2% GDP.
Nếu giá dầu xuống mức 40 USD/thùng thì sẽ giảm thu tới 47.000 tỷ đồng. Tỷ lệ bội chi khi đó sẽ là 8,3% GDP.
Friday, 17. April 2009, 07:07:51
Việc con người sinh ra ở tính thiện hay tính ác đã đưa các triết gia phương Đông đến hai thái cực. Mạnh Tử thì nói: “Nhân chi sơ tính bản thiện”. Tuân Tử bảo ngược lại: “Nhân chi sơ tính bản ác”. Phương Tây họ không cực đoan như vậy. Họ cho rằng một đứa bé sơ sinh chỉ là một thực thể ẩn chứa những gì liên quan, ảnh hưởng đến con người sau này, như là thể chất, trí não, nhân cách, năng khiếu bẩm sinh v.v… mà thôi.
Ở đây, tôi chỉ xin bàn một khía cạnh nhỏ của thiện và ác, đó là tính hưởng thụ: “Nhân chi sơ tính hưởng thụ”. Hưởng thụ như thế nào, hưởng thụ cái gì và giới hạn đến đâu?
Cứ coi con người sinh ra vốn không thiện, không ác thì hãy xem “tính hưởng thụ” là chắc có. Tôi tạm gọi cái bào thai là “hắn”, vì đằng nào hắn cũng sinh ra để mang nặng kiếp người. Khi hắn ở trong bụng mẹ, quãng sáu bảy tháng gì đó hắn đã biết lựa thế nằm cho êm, đó là hưởng thụ, để đạt được điều đó hắn quẫy đạp mẹ hắn. Ta xem hành động đó là thiện hay ác? Rõ ràng tính hưởng thụ còn có trước lúc sinh ra!
Vừa sinh ra hắn khó chịu vì phải tự thở, hít cho đủ dưỡng khí, nhưng kìa sao nghẹt mũi thế này, hắn khóc thét, cô mụ hoảng vía phát đít hắn. Được rồi, thở được rồi, sướng quá, đó là hưởng thụ. Ta xem hành động đó là thiện hay ác? Từ đó mỗi khi đói bụng hắn khóc, lạnh đít hắn khóc, ngứa ngáy hắn khóc, thiếu hơi mẹ hắn khóc… và hắn luôn đạt được điều hắn muốn. Đó là hưởng thụ, những hành động đó là thiện hay ác? Chưa thể kết luận được gì.
Lớn lên một chút hắn ý thức về sự hưởng thụ, chứ không còn hưởng thụ theo bản năng. Điều hắn muốn mà không đạt được, hắn không chỉ khóc suông mà bắt đầu suy nghĩ cách đòi cho hiệu quả. Hắn bắt đầu có tính ganh đua, đố kỵ. Thấy một đứa trẻ khác được chiều chuộng hơn hắn, hắn ghét. Lòng tham đã bắt đầu xuất hiện.
Tính hưởng thụ, càng dung dưỡng nó, nó càng thấy thiếu. Ăn, hắn muốn càng lúc càng ngon. Mặc, hắn muốn càng lúc càng đẹp. Cần phải chặn đứng ngay, nếu không xã hội sẽ chuẩn bị tiếp nhận một công dân tồi, một thằng vị kỷ. Tính hưởng thụ đi quá sự thiết yếu của đời sống dẫn đến cái ác; biết dừng trong sự cho phép, đó là thiện. Tuy nhiên nếu cá nhân nào chịu một đời sống quá khắc khổ thì ác cho bản thân, cho người thân xung quanh.
Tiền nhiều ắt sướng, tính hưởng thụ được phát triển tối đa. Điều này lí giải cho việc các quan tham không bao giờ tự dừng được. Tham nhũng một lần trót lọt, run muốn chết, nhưng vẫn cứ muốn thử lần nữa, rồi lần nữa. Phải chăng tính thích hưởng thụ luôn thắng mọi nỗi sợ hãi?
Xã hội không có nền tảng vững vàng về đạo đức, thiếu công tâm và dân chủ, không có biện pháp đủ mạnh để răn đe, làm sao kiềm chế nổi lòng ham muốn hưởng thụ vô biên của con người? Bên cạnh đó, nếu thiếu giáo dục thì con người chưa bao giờ tự hài lòng với mình về vật chất, nhưng khốn nạn, họ luôn hài lòng về mình với những hành vi vô đạo.
Vấn đề giáo dục nói ở đây chẳng có gì cao siêu, khó học. Ví dụ như không biết từ khi nào, tôi ghi nhớ câu: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”. Đó coi như được giáo dục vậy.
Biết kềm chế tính hưởng thụ là cái gốc của đức hạnh. Cụ Nguyễn Công Trứ viết: “Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc, tri nhàn tiện nhàn đãi nhàn hà thời nhàn” (Biết đủ là đủ, đợi đủ biết khi nào đủ. Biết nhàn là nhàn, đợi nhàn biết khi nào nhàn). Bản chất của tính hưởng thụ là trung tính, nhưng luôn có xu hướng chuyển từ thiện sang ác. Phần lớn sự bất ổn của cá nhân, gia đình đều do tính hưởng thụ đi quá đà và thường khó nhận ra, hoặc không muốn nhận ra. Bởi con người luôn lấy nhu cầu cuộc sống để biện minh cho tính hưởng thụ quá trớn.
Có thể tạm chia tính hưởng thụ ra làm hai: Hưởng thụ tinh thần và hưởng thụ vật chất, tuy ranh giới giữa chúng khá mong manh. Ăn một bữa cơm ngon là hưởng thụ vật chất; ngắm cái cây đẹp, nghe bài thơ hay là hưởng thụ tinh thần. Ăn ngon, nhưng muốn ăn trong nhà hàng sang trọng; ngắm cái cây đẹp trong rừng nhưng muốn đào tróc gốc đem về trồng (cách chơi cây cảnh quái lạ hiện nay!); hoặc nghe bài thơ hay nhưng muốn nghe từ giọng ngâm của mỹ nữ… Đó là sự kết hợp cực đoan, trái tự nhiên giữa hưởng thụ tinh thần và hưởng thụ vật chất, thật nguy hại biết bao! Tính hưởng thụ là gốc của thiện và ác vậy.
Học giả Nguyễn Hiến Lê khuyên chúng ta sống: “Đời sống vật chất nên dưới mức trung, đời sống tinh thần nên trên đó một chút“. Còn các bạn thấy thế nào?
© 2009 Phùng Hi
© 2009 talawas blog
Wednesday, 4. March 2009, 06:14:34
Sự thực rằng, sẽ không có gì là ngoa nếu như tôi đặt cái tên đó cho các Ngân hàng nước ngoài đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.Còn đối với học giả Mỹ Thomas Fieldman thì gọi chúng là “Những con Thú điện tử”.
Ai cũng biết, quan hệ Kinh tế là Quan hệ chi phối mọi quan hệ khác trong mỗi quốc gia và trong cả thế giới loài người chúng ta.
Trong Quan hệ Kinh tế, thì quan hệ về Tiền tệ là Quan hệ chi phối, là đỉnh cao nhất của mọi Liên minh Kinh tế, đúng như Meyer Rothschild từng nói : “Chỉ cần khống chế được sự phát hành tiền tệ của một Quốc gia,tôi sẽ không cần biết ai là người chế định ra Pháp luật”
Và nơi kiểm soát nó- Ngân hàng hoặc là những Mạnh Thường Quân, hoặc là những Con Sói đói !
1.Sói đói thì chẳng bao giờ no
Mặc dù lịch sử hình thành của ngành Ngân hàng hiện đại chưa được lâu, thế nhưng tội ác mà giới đầu sỏ Ngân hàng gây ra cho nhân loại là vô cùng khủng khiếp . Các cuộc khủng hoảng, các cuộc mưu sát Chính trị, những cuộc chiến tranh tắm máu… đều xuất hiện bộ mặt quỷ quyệt của những đại gia Ngân hàng.
Từ khi thâm nhập vào Thị trường Việt Nam, nhất là khi chúng ta bắt buộc phải chấp nhận những Ngân hàng 100% vốn nước ngoài, thì bản chất xảo quyệt, không tổ quốc của chúng dần dần càng được bộc lộ. Như những con Sói đói, chúng lăn xả vào các thị trường, thực hiện những hành vi kiếm lợi thô bỉ dưới những vỏ bọc an lành. Đúng như Marx nói “ Nếu lợi nhuận là siêu khổng lồ, thì dù có bị cắt cổ ,bọn Tư bản cũng vẫn lao vào”.
Thật khó có thể chứng minh rằng, trong cuộc lạm phát vừa qua lại không dính dáng đến giới đầu sỏ Ngân hàng và giới tín dụng. Và thật sự, an ninh tiền tệ của gần 90 triệu dân số lại đang nằm trong tay những con Sói đó. Những thủ đoạn cơ bản của giới đầu sỏ tiền tệ là tăng cường kích ứng và tạo cú sốc thị trường nhằm gây ra lạm phát ở mức cao, tích trữ một lượng tiền lớn trong dân chúng và trong các quỹ đầu tư, các doanh nghiệp . Sau đợt lạm phát, tất sẽ phải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, gây ra nạn khan hiếm về hàng hoá, tiền tệ và mất cân đối thu chi nghiêm trọng. Lúc này, kẻ nắm ngoại tệ - tất nhiên là các Ngân hàng nước ngoài lớn không thiếu – sẽ trở thành đế vương ! Với ngoại tệ trong tay, chúng sẽ thao túng các doanh nghiệp nhờ vào đồng vốn, tước đoạt tài sản của nhân dân do sự mất giá của đồng tiền, thao túng thị trường Chứng khoán và Địa ốc nhằm cô lập và kiểm soát các đối thủ trong nước !
Vòng hút của cỗ máy làm tiền này được thực hiện một cách tàn bạo trong những năm gần đây, gây điêu đứng cho toàn bộ nền kinh tế. Trong năm 2006 và 2007, chúng đã rót hơn 10 tỷ Đô la vào thị trường Chứng khoán trong nước, đẩy giá chứng khoán tăng lên một cách chóng mặt so với giá trị thực của chúng. Điều này đã kích thích dân chúng đổ xô vào thị trường hiểm hoạ này, kết quả là dân chúng bán đất, vay tiền, thế chấp ( và hỡi ôi lại là từ bọn Ngân hàng) để đầu tư Chứng khoán.
Chỉ trong 1 năm, guồng xoáy hút tiền đó đã cuỗm căng hơn 350 nghìn tỷ đồng xương máu của nhân dân ! Và khi mà giấc mơ làm giàu chưa đến thì thảm hoạ đã ập đến, bong bóng vỡ tung, giá cổ phiếu sụt thảm hại, tiền của bị mất trắng và người đầu tư tìm cách bán thống bán tháo hòng vớt vát . Thị trường Chứng khoán và Địa ốc chao đảo.Rốt cuộc, chỉ có giới đầu sỏ Ngân hàng được lợi, chúng trở thành những Mạnh Thường Quân .Bọn đạo đức giả bắt đầu tuồn tiền vào để “ cứu vãn thị trường”, khơi dậy niềm tin trong dân chúng để rồi lại tiếp tục hút máu và làm căng phồng túi tiền của chúng !
Một vốn bốn lời, bọn đầu sỏ vừa tước đoạt xong tài sản lại hả hê giở các thủ đoạn cũ để tiếp tục tước đoạt tài sản của Nhân dân ! Tìm mọi cách để tuồn tiền ra nữa, bất ổn hơn nữa, đạo đức giả hơn nữa để thao túng thị trường trong nước. Với hơn 650 nghìn tỷ đồng được cất trữ ngoài kiểm soát của Nhà nước , thì riêng giới Ngân hàng nước ngoài đã chiếm giữ tới hơn 500 nghìn tỷ đồng (một nửa Tổng GDP 2007). Chúng đua nhau mua Vàng, Cổ phiếu tốt ,Công trái với giá cực kì rẻ mạt, qua đó kiểm soát và khống chế các Doanh nghiệp và các ngành Sản xuất trong nước .
Và khi mà lượng tiền tích trữ của chúng cả VND lẫn Đôla cao hơn các Ngân hàng trong nước thì rõ ràng: Tiền tệ của chúng ta đã bị chúng khống chế. Đồng tiền là máu, là vận mệnh của Quốc gia, nếu như bị bọn chúng thao túng, gần 90 triệu dân chúng Việt Nam sẽ trở thành Nô lệ cho giới đầu sỏ Tài chính nước ngoài !
2. Sói cắn vào Chính trường ?
Kinh tế là nền tảng của Quốc gia, là trụ cột của cả hệ thống Chính trị . Kẻ nào kiểm soát được Kinh tế, kẻ đó sẽ kiểm soát được Chính trị !
Giới đầu sỏ Ngân hàng nước ngoài tất nhiên sẽ tìm mọi cách để có thể tạo ra uy trấn trong Chính giới để dằn mặt các đối thủ trong nước cũng như những đối thủ khác trên thị trường !
Keynes –Nhà kinh tế học vĩ đại nhất thế kỉ 20 từng nói : “ Trong quá trình làm nhân dân bị bần cùng hoá, một số ít người có thể giàu to. Không có thủ đoạn Đảo chính nào có thể kín đáo và chắc chắn thành công bằng lạm phát” .Và rõ ràng, tiền của mà bọn đầu sỏ Ngân hàng bỏ ra không gì có thể dễ dàng được dung dưỡng tốt hơn với sự bảo hộ của giới chính trị . Mua chuộc, dằn mặt, liên đới và tạo thủ đoạn theo kiểu dắt cổ vào tròng bằng “sự đã rồi” là những phương thức thường thấy mà giới chủ đầu sỏ Ngân hàng áp dụng với giới Chính trị.
Đằng sau các ngân hàng ngoại quốc chính là Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ thế giới,những kẻ mà theo cố vấn Kinh tế của Cựu tổng thống Mỹ Bill Cliton Joseph Stiglitz là bọn “hết sức ngạo mạn”,sử dụng quỷ kế “bí mật,thiếu dân chủ và cứu chữa kỳ lạ” .Chúng luôn nhăm nhe tìm cách biến các nước thành con nợ dựa trên các chính sách hỗ trợ tài chính, mua tài nguyên với giá rẻ mạt và tìm cách hối lộ quan chức hậu hình! Với những quan chức cứng đầu, bọn này không ngần ngại phủ đầu hoặc ám sát để thực hiện mục tiêu !
Nếu như qua mặt được giới chính trị hiện nay, thì với việc kiểm soát lượng tiền tệ tương đương với một nửa Tổng GDP của đất nước, chúng dễ dàng “chơi” lại cả giới lãnh đạo lẫn khống chế cả nền kinh tế. Và nếu được tuồn ra ngoài, số tiền này cùng với sự nham hiểm của các Tập đoàn Ngân hàng, thì cái giá của lạm phát Việt Nam khó mà dưới con số 70% ! Nền kinh tế khi đó sẽ hoàn toàn vỡ nát !
3.Cuộc Trường Chinh của bầy mèo
Trước sự tấn công vũ bão của bầy sói, những nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là những tay mơ dễ bị qua mặt. Mặc dù cũng phải nói thêm rằng , ngay cả những con cáo già như Nhật bản và Thái lan cũng bị bọn đầu sỏ Ngân hàng đánh cho sụp đổ !
Giới lãnh đạo trụ cột của Việt Nam bị tấn công nhiều phía, cả về Chính trị, Ngoại giao , nhiều vấn đề nóng bỏng như lãnh thổ,quân đội, tham nhũng … nổi lên ồ ạt mà mối nguy hại của mỗi vấn đề đủ làm người ta bàn luận đến nóng mặt. Thế nhưng khi mà sự lật đổ của các đế chế Tư bản về chính trị đã bị dập tan trong những năm 1990, 1994,2000 và 2006 thì các Nhà lãnh đạo Cộng sản hiểu rằng, bọn chúng đã và đang chuyển sang mặt trận Kinh tế, mà chủ lực của nó chính là mặt trận Tài chính tiền tệ !
Cùng với việc tạo ổn định về vị thế chính trị và ngoại giao, tránh tập trung điểm nóng để cứu vãn và phục hồi nền kinh tế, giới lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã từng bước trả đũa trước các cuộc tấn công của giới đầu sỏ Ngân hàng! Và lực lượng nòng cốt chính là các Tập đoàn kinh tế của Nhà nước được hỗ trợ bởi chính sách từ Chính giới- những con Hổ trong nền kinh tế đất nước nhưng chỉ là những con mèo khi vươn ra Thế giới !
Đầu tiên,Siêu Tổng Công ty Kinh doanh vốn Nhà nước SCIC nhanh chóng “cắt phế” hơn 5000 tỷ đồng vào Thị trường. Nhưng lập tức bị giới Ngân hàng nước ngoài chơi lại, SCIC phải ôm những cổ phiếu xấu, tuy vậy cũng đã báo hiệu một bước phản công của giới lãnh đạo trước Ngân hàng ngoại quốc.
Tiếp theo đó, một kế hoạch gây tranh cãi đó là việc Việt Nam quyết định phát hành thêm nội tệ để mua vào 9 tỷ Đô la năm 2007, làm xuống giá VND( tuy vậy về căn bản vẩn kiểm soát được về mặt lý thuyết giao dịch ), mở đường cho một cuộc huyết chiến mà giới Ngân hàng nước ngoài khiêu khích. Và thực tế rằng, với số ngoại tệ dự trữ mạnh đến như vậy, Việt Nam đã thoát khỏi cái bóng lầy mà người Thái đã nhảy vào năm 1997, khi mà số ngoại tệ họ tăng cường chỉ là 5 tỷ Đô la ( xét rằng thực lực người Thái lúc đó còn hơn hẳn Việt Nam bây giờ).
Cùng với việc hạn chế tối đa bán ngoại tệ ra ngoài, giới lãnh đạo Việt Nam còn tuyên bố sẵn sàng mua thêm Ngoại tệ để dằn mặt những âm mưu muốn phá hoại nền tài chính. Và thật sự thì, với ngoại tệ đủ mạnh và chính sách quyết liệt của Ngân hàng Nhà nước, thì rõ giới Ngân hàng ngoại quốc phải có sự nhượng bộ. Nếu so với cái giá khủng hoảng kinh tế, thì cái giá lạm phát 27% năm nay cũng chưa phải là quá đáng , không nói là Chính phủ đã điều hành rất tốt, nhưng với thực lực quá yếu của các Tập đoàn trong nước- mà nhất là hệ thống Ngân hàng, thì chúng ta đã phải trả một cái giá tạm chấp nhận được !
Đầu tháng 3/2008 ngân hàng Nhà nước yêu cầu tăng dự trữ bắt buộc lên thêm 1% (tương đương khoảng 10 ngàn tỷ đồng) và phát hành tín phiếu bắt buộc trị giá 20,3 ngàn tỷ đồng; hút về hơn 30 ngàn tỷ đồng. Hơn nữa Chính phủ VN đã không chỉ cố gắng kiểm soát lạm phát mà còn làm tăng lượng lưu thông tiền đồng - một khía cạnh tích cực mà nhiều nước không để ý đến.Mới đây nhất, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu đã tuyên bố “ Việt Nam đã kiểm soát thành công lạm phát” – đó thực sự là tín hiệu khả quan !
Bên cạnh đó, Nhà nước khống chế quyền kiểm soát của các tập đoàn nước ngoài với Doanh nghiệp cổ phần trong nước là 30% nhằm tránh khả năng lũng đoạn. Và các chính sách được đưa ra nhằm tránh khả năng liên minh giữa các Ngân hàng ngoại quốc với nhau, giữa các ngân hàng ngoại quốc với bọn trục lợi trong nước để ngăn ngừa thảm hoạ cùng hè nhau lại “làm thịt” thành phần kinh tế Nhà nước .
Phải nhận thấy rằng, trong cuộc chiến này, chúng ta-những con mèo chỉ có thể làm thế nào tránh né, đỡ đòn, biết cách để không bị đánh vào chỗ hiểm thì đã là một sự nỗ lực rất lớn rồi ! Với tiềm lực khổng lồ, giới đầu sỏ Ngân hàng Ngoại quốc luôn đủ khả năng huỷ diệt toàn bộ nền kinh tế đất nước, biến nước ta thành con nợ cho chúng một cách tự nguyện !
……………………………………
“Ngân hàng hiện đại vốn rất bất công và đầy tội ác” luôn tìm cách “biến nhân dân tự nguyện tiếp tục làm nô lệ và trả lệ phí cho kiếp nô lệ đó” (Nam tước Anh J.Stan).Bởi vậy, trong cuộc Trường Chinh này, chúng ta chỉ có 2 con đường , một là Mạnh lên, hai là thành Nô lệ !
Tương lai và vận mệnh của đất nước này phải nằm trong tay chúng ta- những con người Việt Nam chân chính chứ quyết không phải là trong tay bọn đầu sỏ nước ngoài !
1 2 3 4 5 ... 17 Next »
Showing posts 1 -
5 of 83.