Welcome to Victornguyen's website

Chất xám của con người là một tài sản vô cùng quý giá !

Subscribe to RSS feed

Vong bản từ đâu?

Ông Hà Sỹ Phu mạn đàm cùng nhà Sử học Dương Trung Quốc.

Đọc được bài Thế hệ chúng ta mất gốc hoàn toàn của ông Dương Trung Quốc tôi biết ý kiến của mình lâu nay (về chủ đề này) đã không còn lẻ loi. Vâng, mất gốc hoàn toàn cũng nghĩa là vong bản tuyệt đối. Đúng vậy, nhưng xin đừng quá buồn.

Lâu nay, trò chuyện với bạn bè ở Đà Lạt tôi thường đề cập đến sự thăng trầm của “Phẩm chất con người Việt Nam”, vì không hiểu điều này sẽ không cắt nghĩa nổi những dao động lịch sử, lúc như sóng cồn, lúc trơ lỳ, của xã hội Việt Nam hơn một thế kỷ nay.

Theo tôi, phẩm chất con người Việt Nam đạt đỉnh cao nhất ở nửa sau của thời kỳ Pháp thuộc. Còn đoạn lõm thấp nhất, bị tha hoá tệ hại nhất là ở nửa sau của cuộc “Cách mạng Vô sản”, tức chính là những năm tháng hiện nay. Nói khác đi, những thế hệ sống trọn thế kỷ 20, vắt sang đầu thế kỷ 21 đã có may mắn được chứng kiến cả điểm cực đại và cực tiểu của sự dao động suốt 4000 năm lịch sử, một giai đoạn độc đáo khó có lần lặp lại.

Điểm cực đại mà ông Dương Trung Quốc đặt tên là “thế hệ vàng”, là thế hệ cùng sinh trưởng với những nhân vật mà ông nêu danh trong bài như Vũ Đình Hoè, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên, Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Phan Anh… (tất nhiên không thể thiếu những Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Võ Nguyên Giáp, Trần Độ, Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang, Nhất Linh, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân,Văn Cao, Hoàng Cầm, Hữu Loan… vân vân và vân vân…, và cả một lớp người trẻ hơn chút ít, nghĩa là hàng trăm danh nhân mà không thể kể ra đây một cách vội vàng sơ lược). Có thời kỳ nào mà tên tuổi danh nhân đáng ngưỡng mộ lại tập trung với mật độ như thế?

Vì sao có “thế hệ vàng” ấy? Ông Dương Trung Quốc đã giải thích bằng cả đoạn như sau:

Thế hệ vàng được hưởng một nền Quốc học rất căn bản, cho dù đến đầu thế kỷ thứ 20, nền Quốc học bắt đầu đứng trước nhiều thử thách và bị khủng hoảng do chế độ thuộc địa, nhưng về căn bản nó vẫn được duy trì cả trên lĩnh vực kiến thức và đạo lý. Quan niệm về dạy học là dạy làm người. Nền Quốc học lại được trải qua một thời kỳ của phong trào Duy Tân, là những trí thức yêu nước muốn hướng tới học hỏi cái mới.

Trong bối cảnh ấy, thế hệ này lại được tiếp nhận nền văn minh phương Tây một cách khá căn bản, tinh thần là khoa học và dân chủ. Họ đã học được và vượt lên trên cái ràng buộc và hạn chế của nền giáo dục thuộc địa.

Nền giáo dục và văn hóa Pháp, bên cạnh mục tiêu thực dân, là cả một nền văn minh. Chính nền văn minh ấy kích thích tinh thần dân tộc của họ vì họ nhận ra chân giá trị của nền văn hóa Pháp lại phục vụ cho chính sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái rất thu hút. Chính thực dân Pháp cũng nói: con đường đi sang nước Pháp là con đường chống lại nước Pháp. Vì thế, bản chất nền văn minh lại trái ngược với mục tiêu thực dân
”.

Nói cách vắn tắt thì giai đoạn lịch sử ấy là điểm giao thoa, là sự cộng hưởng của những giá trị Việt Nam cổ truyền kết tinh từ phương Đông và sự du nhập quý như vàng của yếu tố mới là văn minh Tây phương.

Sau đỉnh cực đại đó là một đoạn chuyển mà ông Dương Trung Quốc diễn tả: “Hai tố chất ấy lại được tồn tại trong một môi trường thúc giục của tinh thần yêu nước, tinh thần giải phóng dân tộc. Nó rơi vào thời điểm lịch sử là cuộc vận động giải phóng dân tộc VN, và đương nhiên ta phải nói tới ngọn cờ của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Nói khác đi, sau điểm cực đại của “thế hệ vàng” là điểm bắt đầu của một thời kỳ mới, là “kỷ nguyên” của Cách mạng Vô sản, của chủ nghĩa Cộng sản mà khởi đầu chỉ bằng phong trào giành Độc lập dân tộc (điều oái oăm chính là ở sự biến thái, lồng ghép, đánh tráo lịch sử này).

Chính phẩm chất đỉnh cao mà Dương Trung Quốc gọi là “thế hệ vàng” ấy đã cung cấp sức mạnh, đã giải thích vì sao Đảng Cộng sản từ tay trắng mà giành được thắng lợi trước những đối thủ mạnh hơn mình nhiều lần. Về nguyên nhân của những thắng lợi ấy, tất nhiên còn phải kể đến trào lưu Cộng sản quốc tế và mục tiêu ban đầu là chỉ Độc lập dân tộc (còn cái đuôi xã hội chủ nghĩa mãi sau này mới hiện ra), nhưng yếu tố quyết định thắng lợi chủ yếu là do Đảng Cộng sản đã sử dụng được sức mạnh vô địch của “thế hệ vàng” của phẩm chất con người Việt Nam.

Đến đây, một câu hỏi mới được đặt ra. Theo luận điểm chính thống thì đỉnh cao phẩm chất Việt Nam ấy được (bị) đồng hoá vào một hệ văn hoá, một hệ văn minh mới lạ là “Văn hoá Vô sản” (rồi kết tinh thành “Văn hoá Đảng”) được mô tả là tiên tiến, là tiên phong, là đưa những “con người mới xã hội chủ nghĩa” đến một thiên đường hạnh phúc, nên làm cho phẩm chất Việt Nam truyền thống kia được vun xới, được chắp cánh, được nhân lên nhiều lần, hơn hẳn tổ tiên. Nếu luận điểm này đúng thì “thế hệ vàng” mà ông Dương Trung Quốc nói kia không thể là đỉnh, là vàng gì hết vì sau đó nó còn tiếp tục cao hơn và quý giá hơn vàng nhiều lần kia mà? Đáng lẽ như vậy thì hiện nay đang là đỉnh mới đúng! Thế nhưng đùng một cái, hôm nay người ta buộc phải công nhận điều ngược lại: thế hệ chúng ta (bây giờ) đã mất gốc, mà mất hoàn toàn! Vậy cái gốc “vàng “ khi xưa đã được vun xới hay đã bị “đào tận gốc”?

Thực tế “mất gốc” như ông Dương Trung Quốc công nhận (và chắc đa số trí thức tán thành) khiến cho toàn bộ luận điểm Mác-xít nói trên hoàn toàn bị phá sản! Nói cách khác, nền Văn hoá Vô sản mà chủ nghĩa Mác đem lại không hề cộng hưởng và nâng cấp cho Văn hoá dân tộc Việt như được tuyên truyền và ngộ nhận, mà trái lại nó làm triệt tiêu những tinh túy của phẩm chất Việt Nam.

Hãy nhìn vào thực tiễn xã hội: Có bao giờ người Việt Nam lại thờ ơ trước nguy cơ vong quốc, nguy cơ bị đồng hoá như bây giờ? Có bao giờ sự thờ ơ trước đau khổ của đồng loại, sự đâm chém, băm chặt nhau dễ dàng như cơm bữa, sự nhố nhăng mất gốc, sự phô bày thú tính, sự vênh vác rởm đời, sự hành hạ người yêu nước một cách ngang nhiên, sự nịnh bợ kẻ nội xâm và ngoại xâm… lại được tôn vinh trước thanh thiên bạch nhật như bây giờ? Có bao giờ sự thành thật lại thua sự giả dối, người lương thiện lại sợ kẻ gian manh, người yêu nước lại bị lép vế, bậc thức giả lại bị cười khinh, công lý lại bị nhạo báng một cách thảm hại như bây giờ? Tất cả được bọc trong một bong bóng xà phòng khổng lồ ảo thuật, trông thấy hết nhưng để mà cười thôi!

Ông Dương Trung Quốc nói “mất gốc hoàn toàn” tức là vong bản tuyệt đối! “Bản” ở đây là Dân bản, Quốc bản và Nhân bản. Mất hết những gốc ấy chẳng những không còn là người Việt mà cũng chẳng xứng làm người nói chung. Chỉ còn một thứ “bản” ngự trị là “tư bản” hoang dại, mà ông tổ Mác-xít đã đem nó chôn đi nhưng nó không chết, trái lại nó hiện về với một thân hình tật nguyền, nó quay lại báo oán, trả thù cái hệ thống đã vác cuốc xẻng đem chôn nó.

Như vậy ta hiểu vì sao một cái gốc quý như vàng thế lại để bị “mất gốc hoàn toàn”. Cũng ý này, nhưng nhà sử học Dương Trung Quốc diễn tả kín đáo hơn: “Chúng ta đang khủng hoảng vì tiếp nhận quá nhiều giá trị ảo” (vâng, tiếp nhận một chủ nghĩa ảo tưởng thì toàn là giá trị ảo chứ gì nữa).

Những ai càng tin vào “những giá trị ảo” thì khi vỡ mộng chính họ chứ không ai khác lại “thực dụng quá” (vẫn chữ của ông Dương Trung Quốc)! Từ chủ nghĩa ảo tưởng chạy sang chủ nghĩa thực dụng là điều dễ hiểu, cũng như một nền “Đức trị” mà bị phá sản thì sẽ vô “đạo đức” hơn ai hết. Đọc bài của ông Dương Trung Quốc, nếu hỏi ai là những người có “tư tưởng ấu trĩ, nhận thức thì hạn hẹp, lại bị chi phối bởi lợi ích” mà cứ làm “lãnh đạo” thì câu trả lời đã rõ như ban ngày.

Dân tộc Việt Nam đã có một cái gốc quý như vàng, nhưng nay “mất gốc hoàn toàn” chính bởi sự ngộ nhận, coi cái gốc quý giá đó là di tích của thực dân phong kiến, bèn vừa muốn sử dụng sức mạnh quý giá có thật của nó để khởi nghiệp cho mình, lại vừa muốn diệt nó đi để nhập một cái gốc khác vào, đến khi biết cái gốc “ảo” này chỉ ăn hết chất màu của đất lại sinh ra toàn quả đắng, thì cái gốc cũ đã trốc hết rễ rồi, khó mà tái sinh.

Thử hỏi chủ nghĩa nào đã chủ trương “đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những giá trị truyền thống”, chủ nghĩa nào đã hăm hở “đào mồ chôn”, chủ nghĩa nào đã gây cho Tố Hữu cảm hứng “thuở Anh chưa ra đời, trái đất còn nức nở, nhân loại chưa thành người”? Kẻ dám phủ nhận cả Nhân loại trước khi mình ra đời ắt là kẻ mất gốc tuyệt đối, ắt không thể thành người, tự nhiên thành quỷ, muốn hồi sinh kiếp người thật không đơn giản.

Về lối ra, ông Dương Trung Quốc nói “Tôi không tán thành phải quay về cái cũ…”. Đúng như vậy, dù có quý cái “thế hệ vàng” trước đây đến đâu cũng chẳng có cách nào phi thực tế để kéo lịch sử giật lui. Trong lý luận tôi thường nói phải “đằng sau quay” là nói về nhận thức, phải truy nguyên về cái gốc xuất phát của sai lầm, ở chỗ rẽ đã qua, để thiết kế lại từ chỗ sai lầm ấy, trong hoàn cảnh mới hôm nay. Chúng ta biết trọng và tiếc cái vốn quý mà ta đã tự đánh mất là để có bài học khôn ngoan cho hôm nay, chứ nhất định chúng ta không biến mình thành những anh chàng bó tay hoài cổ, nhấm nháp quá khứ.

Nhân loại chắc chắn trường tồn nên NHÂN BẢN không thể bị chôn vùi, DÂN BẢN - VIỆT BẢN là bất khả diệt nên còn một tế bào Việt cũng sẽ hồi sinh. Từ lời cảnh báo “mất gốc hoàn toàn” vô cùng bổ ích mà ta đã dũng cảm nói ra hôm nay nhất định sẽ đánh thức những tế bào đang bị ức chế, vùi sâu. Xin đừng tránh né. Sự dũng cảm là liều thuốc hồi sinh bắt buộc, để nước non này lại nẩy sinh muôn ngàn những chồi xanh lá biếc, sau một quãng dài ngủ đông.

Hà Sĩ Phu
10-2-2011

Tác giả gửi tới Dân Luận - http://danluan.org/node/7786

Thảm hại lễ hội và giấc mộng Tâm hương

Hôm nay đọc báo, thấy biển người hừng hực men say tín ngưỡng, giẫm đạp lên nhau để lấy ấn đền Trần, chợt thấy xót xa.

Văn hóa hay cuồng tín?

Để sở hữu những lá ấn chưa biết có mang lại quan lộc, người ta kéo giập barie sắt, giẫm đổ hàng rào dây thép, húc sập vách ngăn bảo vệ. Hăng lên, có người trèo lên ngọn cây, mái nhà rồi phi xuống vai, xuống đầu biển người phía dưới.

Kiệu rước ấn Thánh cũng không được đối xử nền nã hơn. Khi đoàn rước còn đang long trọng tiến hành nghi lễ, kiệu đã loạng choạng bởi sóng người ào tới, xé rách cả hàng rào bảo vệ dày đặc. Ai cũng gắng ném tiền lẻ cho trúng vào trong kiệu; thế mới đắc lộc quanh năm!

Lộc có thể đâm chồi ngay trong đêm khai ấn nếu biết cách phi thân trong không trung, hoặc… bước trên vai người khác. Mua ấn 20 ngàn đồng/lá, ra ngoài bán lại 200 ngàn, cả đêm chỉ vài chuyến cũng đút túi bạc triệu.

Bạc triệu thấm vào đâu so với túi tiền của kẻ hành hương đang sục sôi tham vọng thăng tiến và lợi lộc! Hãy ngắm lò lửa hóa vàng ngùn ngụt ở đền Bà Chúa Kho, những mâm lễ bạc triệu ngồn ngộn vàng, bạc, đô la âm phủ người ta nườm nượp dâng bà. Hãy nghe những lời cầu khẩn quyết liệt của các “tín đồ đô la”, “con chiên của tước vị” nơi cửa thánh, để thấy nỗi khát khao tiền tài, danh vọng cháy bỏng của họ.

Hỡi ôi, đâu rồi sự chính tâm?

Đền Trần mở hội đầu năm để các thế hệ người Việt tưởng nhớ các anh hùng dân tộc, tôn vinh hào khí Đông A và tinh thần yêu nước, sao lại thành dịp để người ta chi bạc lẻ mua ấn triện, cầu tước danh?

Đền Trần Thương, đền Bà Chúa Kho – nơi giáo dục tinh thần tận tụy và liêm chính, trách nhiệm với kho dự trữ của nhà nước, sao lại thành chốn mặc cả vay mượn, mua bán cầu lợi lộc của phàm trần?

Năm 2009, người ta dâng các Vua Hùng bánh chưng bánh dầy “to khủng”, với mong ước đẹp lòng tổ tiên, nhân thể giật cái kỷ lục guiness. Tiếc là nhân bánh độn xốp, vỏ bánh thiu vữa, mốc xanh.

Nói chuyện bánh to, rượu khủng, tung tiền mua ấn, sắm lễ bạc triệu trong các lễ hội đầu năm, lại nhớ những vật phẩm thanh khiết mà người Việt từng dâng cúng Phật, Thánh, tổ tiên và các vị anh hùng dân tộc, với đầy đặn một lòng thành kính, biết ơn.


Hàng ngàn người chen lấn xô đẩy hòng vượt rào xông vào xin ấn đền Trần (TP Nam Định) tối 16-2 - Ảnh: tuoitre.vn

Hội Làng Giang Xá (xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội) ngày 12 tháng Giêng (âm lịch) hàng năm, dân làng thường tiến cúng bánh bác dâng vua Lý Nam Đế – vị khai sinh ra nước Vạn Xuân, người Việt đầu tiên xưng đế.

Bánh bác chỉ xuất hiện duy nhất dịp ấy trong năm. Làng Giang Xá dựng rạp ngay trong sân đình để làm bánh suốt 3 ngày đêm; không ai được lai vãng, trừ đội nấu cỗ – khoảng chục nam giới trên 50 tuổi tuyển chọn từ các phe giáp trong làng, phải là những người sạch nhất, khéo nhất, bàn tay chịu được lửa lâu nhất.

Sau hàng chục công đoạn chế biến cầu kỳ tỉ mỉ, bánh bác được cung kính xếp vào các đĩa cổ lĩnh từ đình làng. Trước khi đặt lên ban thờ, bánh được đội tế kiểm tra độ sạch sẽ, thơm, dẻo, dai, bùi, ngọt mát, đo độ đều của bánh bằng thước sơn son thếp vàng. Xem xét cả lòng thành kính của người làm bánh, dâng bánh rồi mới quyết định vật phẩm có được phép tiến vua hay không. Để ngày chính hội, lễ vật này trang trọng trên bệ thờ như những mắt rồng uy nghi với màu đỏ chói của gấc, trắng tinh khiết của gạo nếp và vàng rực của đỗ xanh.

Trưởng ban Lễ hội di tích Giang Xá, ông Đỗ Thúy Dậu (78 tuổi) nói, từ bé ông và người làng Giang Xá đã được chỉ dạy rằng người cúng tiến bánh bác phải dâng trọn tâm thành. Nay, 600 hộ dân Giang Xá vẫn dâng vua bánh bác dịp hội làng 12 tháng Giêng hàng năm, để trước tỏ lòng biết ơn người có công với nước, sau gửi đến ngài ước vọng mưa thuận gió hòa, nhà nhà no đủ.

Đấy là ở làng Giang Xá. Khi mà xuân chưa cạn ngày, ở những chốn được rỉ tai là “đại linh” người ta vẫn nườm nượp châm những bó hương cỡ đại, đút lót thánh thần những mâm đại lễ và lớn giọng mặc cả lấy tước lộc giàu sang.

Chẳng cần biết người nhà Phật dạy: “Tâm hương mới là nén hương quý nhất!”.

Quảng Hạnh

Nguồn: TVN

Sửa đổi Hiến pháp: Cần dựa vào đâu?

Lâu nay ai cũng bàn đến chuyện sửa đổi hiến pháp của nhà nước CHXHCN Việt Nam. Hôm nay ông bộ trưởng tư pháp được phỏng vấn trước báo PLTP về vấn đề gai góc này. Những gì ông bộ trưởng nêu ra theo tôi vừa là cốt lõi mà vừa là chưa là cốt lõi. Đại ý của ông là phải có một hiến pháp phục vụ cho một nhà nước pháp trị. Nhưng đã 20 năm thực hiện nhà nước pháp trị, mà vẫn chưa làm được chuyện pháp trị và hiến pháp Việt Nam đã được sửa đi, sửa lại nhiều lần, vẫn bị lỗi thời, cần phải sửa vì đã đến thời điểm chín muồi.

Là một người dân lương thiện, cũng được học hành và biết làm khoa học chút ít, nên tôi luôn nhìn vấn đề lớn này dưới góc độ khoa học và hàn lâm khi cần sửa đổi để làm sao hiến pháp có tính trường tồn, mà không phải sửa đi, sửa lại ở một nhà nước chỉ mới 65 năm thành lập mà đã 4 lần hiến pháp ra đời.

Định nghĩa và nhiệm vụ của hiến pháp: Muốn vậy, điều đầu tiên cần và đủ mà bất kỳ ai muốn sửa đổi hay viết nên hiến pháp mới thì phải hiểu định nghĩa Hiến Pháp là gì? Học hành cũng vậy, khi tiếp cận một khái niệm mới, người học muốn hiểu rõ, thực hành đúng khái niệm ấy sau khi đã học thì điều cốt lõi đầu tiên là phải hiểu được định nghĩa khái niệm ấy. Nếu chưa hoặc không nắm được định nghĩa, mà đi thực hành một lĩnh vực, khái niệm nào đó thì có khác gì thầy bói mù sờ voi? Vậy hiến pháp là gì? Nhiệm vụ của nó ra sao? Và nó có vai trò như thế nào với một đất nước và dân tộc?

Theo hiểu biết của tôi, hiến pháp là đạo luật cơ bản của một quốc gia qui định về những quan hệ xã hội liên qua đến việc tổ chức bộ máy nhà nước. Nó có có 2 nhiệm vụ cơ bản là điều chỉnh những quan hệ rường cột của một đất nước. Và nó đặt nền tảng pháp lý cho một quốc gia. Do đó, nó là cơ sở của hệ thống pháp luật của một nhà nước. Nó có hiệu lực pháp lý cao nhất, mọi văn bảng pháp luật phải phù hợp với hiến pháp, không được mâu thuẫn với hiến pháp.

Hay nói một cách dễ hiểu: đất nước như một con tàu, dân tộc là những người lái tàu, thì hiến pháp là tay lái của con tàu đi đến đích vinh quang. Còn có thể hiểu nôm na hơn hiến pháp là cương lĩnh của đất nước và dân tộc, mà không là của bất kỳ riêng ai hay tổ chức chính trị nào.

Triết học trong xây dựng hiến pháp: Đứng về mặt duy vật luận, từ định nghĩa và nhiệm vụ của hiến pháp, nó cho chúng ta thấy hiến pháp một một quốc gia phải cho ra một hệ thống pháp luật trong một thể chế chính trị nhằm phục vụ cho cái chung của cộng đồng và cả cho cái riêng của từng người dân đang sống trên quốc gia cụ thể. Ngoài ra, hiến pháp phải phù hợp với văn hóa mà cộng đồng dân đang sống ở quốc gia đó trong hoàn cảnh lịch sử hình thành và phát triển của quốc gia đó. Mà hiến pháp không phải phục vụ cho bất kỳ một nhóm hay một tổ chức đơn lẻ nào.

Song vì hiến pháp làm ra là để phục vụ cho con người thông qua hệ thống chính trị và pháp luật, nên hiến pháp không thể tách rời khỏi bản chất của con người. Cũng trong một bài viết của tôi về Công hữu, tư hữu và hình thái xã hội loài người - đứng trên phương diện phân tâm học - hệ thống chính trị của một quốc gia phải đồng thời phục vụ cho bản chất con người, chứ không chỉ duy vật chất như duy vật luận. Cho nên, một hiến pháp là hoàn hảo, nó phải thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của con người, hòng đưa ra một hệ thống pháp luật và chính trị phù hợp với con người.

Văn hóa và lịch sử trong xây dựng hiến pháp: Văn hóa của dân tộc Việt là một nền văn hóa đa sắc tộc được tạo ra từ cuộc sống thực tế và lịch sử dựng và giữ nước. Trong một bài viết của tôi về Văn hóa và sự phát triển, thì không có một đất nước nào thuần nhất về một nền văn hóa, mà chỉ có một xã hội có tỷ lệ cao về văn hóa sống của một loại hình văn hóa du mục hay nông nghiệp. Bên cạnh đó, mỗi nền văn hóa luôn có ưu và khuyết điểm, mà không có nền văn hóa nào tuyệt đối ưu điểm hơn nền văn hóa nào. Nếu biết sử dụng ưu điểm của từng nền văn hóa cho một hình thái xã hội thì sẽ cho ra một thể chế chính trị và pháp luật tối ưu nhất.

Nền văn hóa du mục có một tư duy duy lý nên đã sinh ra một hệ thống pháp lý và chính trị chuẩn mực, pháp trị để vừa phục vụ con người, vừa kìm hãm sự tha hóa của con người. Đây là ưu điểm cần phải học hỏi và sử dụng.

Trong khi đó, nền văn hóa nông nghiệp chủ về duy tình, nên cũng sản sinh ra một hệ thống chính trị và pháp lý nhân trị hòng phục vụ cho một nhóm, hay tổ chức cầm quyền. Đây là một khuyết điểm cần tránh và bỏ.

Để đạt được cả hai yếu tố: pháp trị và phục vụ cho cả cái chung và cái riêng của bản chất con người, vấn đề cốt lõi mà ông bộ trưởng đã trả lời, không có gì khác hơn là một thể chế chính trị có một nền pháp trị với tam quyền phân lập, mà không phải vừa đánh trống, vừa thổi còi của bất kỳ một nhóm hay tổ chức nào được độc quyền hưởng lợi. Có nghĩa là: lập pháp - hành pháp - tư pháp (còn gọi là tam đầu chế) hoàn toàn độc lập và kiểm soát lẫn nhau, mà không bị khống chế bất kỳ một tổ chức nào tự xưng danh nghĩa hay mượn lịch sử để chiếm đoạt sự độc lập của tam đầu chế để phục vụ cho riêng mình.

Thời thế trong việc xây dựng hiến pháp: Cũng trong một bài viết về Hình thái xã hội và sự phát triển của tôi. Tùy theo thời thế mà xã hội cần có một hình thái xã hội thời chiến hay thời bình? Đối với xã hội thời chiến thì quân đội và an ninh cần tham chính để tập trung sức người sức của cho công cuộc chiến đấu giành lấy độc lập dân tộc. Nhưng trong xã hội thời bình cần cho xây dựng và phát triển thì quân đội và an ninh cần tách ra khỏi chính trường để tránh kiềm hãm sự phát triển do phục vụ cho lợi ích nhóm. Minh chứng cho điều này đúng là rất rõ khi chúng ta chịu nhìn lại những biến động của các nước trên thế giới gần đây như Thái Lan và Ai cập.

Vì thế hiến pháp cho một đất nước đang trong thời buổi thanh bình cần xây dựng phù hợp trong vấn đề tham chính của các lực lượng an ninh quốc phòng, nhưng không được quên đi quyền lợi và nghĩa vụ của lực lượng gìn giữ an bình cho một quốc gia.

Tổng hợp 3 vấn đề: triết học, văn hóa lịch sử và thời thế đã nói ở trên có lẽ không khó khi Việt Nam thời xây dựng và phát triển để tìm ra một hiến pháp hợp lý để đưa tổ quốc và dân tộc đi lên một cách vững bền. Phần còn lại của việc xây dựng hiến pháp cụ thể hay sửa đổi hiến pháp nước Việt trong tương lai gần xin nhường lại cho các think tanks.

Xin chúc cho đất nước Việt, dân tộc Việt có được một hiến pháp sửa đổi trong lần này hợp tình, hợp lý để đất nước và dân tộc có một hướng đi đúng, một tương lai sáng lạng như hòng mong ước.

BS Hồ Hải, 22h26' ngày thứ Năm, 10/02/1011

Biển Đông sau cấp cao Trung – Mỹ?

SGTT.VN - Sự thiếu vắng Biển Đông trong Thông cáo chung cũng như trong nội dung họp báo giữa Tổng thống Obama và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào gây nên sự chú ý và tăng thêm tính mập mờ trong quan điểm cũng như thoả thuận hai bên (nếu có) về vấn đề nhạy cảm này.

Cuộc họp ngày 24 và 25.1 tại Côn Minh gồm ngoại trưởng Trung Quốc và các nước ASEAN được coi là sự kiện lớn trong quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc đầu năm nay. Theo người phát ngôn bộ Ngoại giao Trung Quốc, Bắc Kinh nỗ lực cùng ASEAN xúc tiến thực hiện chương trình “đối tác chiến lược” lên tầm cao mới. Sau ngày họp đầu tiên giữa chuyên viên, ông Dương Khiết Trì sẽ đón và họp cùng các vị đồng nhiệm ASEAN. Báo chí Philippines cho hay Trung Quốc sẽ bàn với ASEAN về Biển Đông, “hai bên cố gắng đạt thoả thuận mang tính ràng buộc hơn nhằm duy trì hoà bình và ổn định quanh quần đảo Trường Sa đang tranh chấp”.

Ba khả năng về Biển Đông?

Theo logic thông thường, để xúc tiến quan hệ “đối tác chiến lược” giữa ASEAN và Trung Quốc, không thể không tính đến các diễn biến tình hình Biển Đông trong tầm trung và dài hạn. Khả năng thứ nhất, Biển Đông sẽ giảm căng thẳng, các bên tìm kiếm giải pháp; thứ hai, căng thẳng tiếp tục mức hiện nay, nhưng có đàm phán maratông, xen lẫn nhiều cuộc gặp đa phương như các cuộc 23.12.2010 và 25.1.2011 hiện nay; khả năng cuối cùng, căng thẳng sẽ gia tăng khi quan hệ Mỹ – Việt, Mỹ – ASEAN được nâng lên thành “đối tác chiến lược”, trong khi Trung – Mỹ vẫn đối lập nhau quan điểm về Biển Đông?

Đại sứ Trung Quốc tại ASEAN, bà Đồng Hiểu Linh trong một cuộc họp báo trước hội nghị Côn Minh đã bày tỏ, hội nghị ngoại trưởng lần này không sắp xếp thảo luận vấn đề Biển Đông nhưng do hội nghị áp dụng hình thức thảo luận tự do, cho nên nếu vấn đề được nêu lên thì sẽ có trao đổi. Tuy nhiên, Trung Quốc không muốn vấn đề Biển Đông bị làm nóng lên tại bất kỳ đâu và ở bất kỳ thời điểm nào. Trả lời một nhà báo Việt Nam, bà Đồng cảnh cáo rằng, việc làm nóng lên và phức tạp hoá vấn đề Biển Đông sẽ ảnh hưởng xấu đến quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN.

Đúng như giáo sư Stephen Walt (đại học Harvard) vừa bàn về khả năng thoả thuận Mỹ – Trung. “Bên cạnh những gì chúng ta biết được họ (Mỹ, Trung Quốc) trao đổi một cách công khai thẳng thắn, cũng cần phải chú ý đến những điều họ sẽ không nói ra hoặc nói nhưng không để cho chúng ta nghe được”. Những gì sẽ xảy ra trong năm 2011 này sẽ là câu trả lời cụ thể về những điều chưa được công khai.

Năm ngoái, trong thời gian làm chủ tịch ASEAN, một sự thừa nhận chung cho rằng, Việt Nam đã tổ chức được một diễn đàn vừa khu vực (ASEAN), vừa quốc tế (EAS) khá hiệu quả. Mặc dù bị sức ép mạnh từ Trung Quốc đòi gạt vấn đề Biển Đông ra khỏi nghị trình tại các diễn đàn này, nhưng với cương vị lãnh đạo, Việt Nam đã bảo đảm để các vấn đề cần thiết liên quan đến Biển Đông được nêu lên. Phần lớn các nước tham gia đã hài lòng với mức độ hợp tác và sự cố gắng của các bên trong việc hướng giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp đa phương.

Không chỉ là vấn đề địa – chính trị

Sau cấp cao Trung – Mỹ, ngày 24.1, mạng Thời báo Hoàn Cầu (Trung Quốc) nhấn mạnh ba yếu tố đóng vai trò như ba trụ cột cho tương lai quan hệ giữa Bắc Kinh và Washington: duy trì lòng tin chiến lược, tìm kiếm điểm tăng trưởng lợi ích chung và tôn trọng lợi ích cốt lõi của nhau. Tuy nhiên, trong lúc Trung Quốc và Mỹ ngày càng có nhiều va chạm lợi ích cả về song phương lẫn trên bình diện toàn cầu, trong đó Biển Đông tuy mới nổi lên gần năm nay nhưng không kém phần gay gắt, thì việc định vị quan hệ Mỹ – Trung trong tương lai vẫn là một việc khó khăn.

Trong bối cảnh Mỹ và các nước châu Á ngày càng cảnh giác trước các động thái mạnh bạo của Trung Quốc năm qua, từ Biển Đông đến Hoàng Hải, Đông Hải. Muốn thuyết phục Trung Quốc ngồi vào bàn đàm phán đa phương, điều thiết yếu là các nước, trước hết là các cường quốc, phải cùng chung một mối quan tâm và phải hợp tác với nhau. ASEAN năm nay do Indonesia làm chủ tịch có mối quan hệ đặc biệt với các nước lớn là Trung, Mỹ, Nhật, Nga và Ấn Độ đã đưa ra một số sáng kiến để thoát khỏi bế tắc hiện nay trong đàm phán về Biển Đông.

Trong khi một số nước ASEAN lo ngại về khả năng vấn đề Biển Đông sẽ bị thụt lùi trong thời gian tới, các quan chức của Indonesia, với tư cách chủ tịch năm 2011 liên tục nhấn mạnh tính cấp thiết và tầm quan trọng của việc đạt được COC. Cảnh báo rằng Biển Đông không được phép trở thành nơi chốn của “ngoại giao pháo hạm và chính trị cường quyền”, ngoại trưởng Marty Natalegawa khẳng định thúc đẩy quá trình COC tiến triển là một ưu tiên của Jakarta và Indonesia muốn can dự hoàn toàn với Trung Quốc, và đương nhiên với tất cả các đối tác liên quan khác. Việc giải quyết thoả đáng các tranh chấp trong khu vực cần được xem như phép thử độ trưởng thành của các mối quan hệ không chỉ giữa các nước lớn với nhau.

TS Đinh Hoàng Thắng

Vì sao phương Tây thay đổi thái độ đối với Trung Quốc

Trung Quốc ngày một chú ý vấn đề hình ảnh quốc tế của mình. Nước lớn cần có hình ảnh tốt, tức cần sức mạnh mềm. Trung Quốc đã khởi động nhiều dự án lớn (Học viện Khổng Tử, truyền thông hướng ra nước ngoài v.v..) nhằm thay đổi hình ảnh quốc gia mình.
Thời gian gần đây phương Tây cấp tốc thay đổi cách nhìn nhận Trung Quốc, tuy rằng trước kia họ chưa bao giờ nhất trí về chuyện này. Tình hình mới đây có hai điểm rất đáng chú ý.
Thứ nhất, thời gian qua ngôn từ phương Tây nói về Trung Quốc có xu thế “giật lùi lớn”, đã từ các kiểu “Thuyết Trung Quốc đe dọa” thời kỳ đầu, chuyển sang “Thuyết lợi ích tương quan” và “Thuyết trách nhiệm nước lớn của Trung Quốc”, thậm chí đầu năm nay xuất hiện “Thuyết tác dụng lãnh đạo của Trung Quốc”, tức diễn biến về phía tích cực. Nhưng gần đây nhất, các ngôn từ chủ yếu nói về Trung Quốc lại là “tự tin” (assertiveness), “có tính tấn công” (aggressiveness) và “đe dọa” (threat), đều có ý nghĩa tiêu cực. Có thể thấy điều đó từ một chuyên đề dài 14 trang giật tít “Những mối nguy hiểm của một Trung Quốc trỗi dậy” (The dangers of a rising China) trên báo Nhà kinh tế (Economist) số gần đây.
Thứ hai, quan điểm của phương Tây về Trung Quốc hiện nay tương đối nhất trí. Trước kia họ có chia rẽ lớn, người phản đối, kẻ ủng hộ Trung Quốc. Nay thì rất nhiều nhân vật (chính quyền, các thinh tank, học giả lớn) trước đây thân thiện với Trung Quốc nay cũng chuyển biến trở nên phê phán mạnh Trung Quốc.
Sự thay đổi ấy có nguyên nhân rất phức tạp, nói đích xác thì thay đổi bắt đầu từ sau vụ chìm tàu Cheonan ở bán đảo Triều Tiên. Sau vụ này, Trung Quốc không lên án Triều Tiên, kết quả khách quan là khiến bên ngoài kết luận Trung Quốc đứng sau Triều Tiên. Trên thực tế, một số động thái trong quan hệ cấp cao Trung Quốc-Triều Tiên gần đây đã làm sâu sắc thêm kết luận đó.
Bất đồng bắt đầu mở rộng từ vụ tàu Cheonan
Sau vụ Cheonan là vấn đề Nam Hải [Việt Nam gọi là biển Đông]. Do Mỹ cho rằng Trung Quốc không làm hết trách nhiệm trong vụ Cheonan nên họ trách móc Trung Quốc trên các vấn đề khác; và họ nêu ra vấn đề Nam Hải.
Trước đây dù các nước Đông Nam Á ra sức “mời” Mỹ can dự vấn đề này song Mỹ không đáp ứng. Sau vụ Cheonan, Mỹ không những sảng khoái đáp ứng mà còn chủ động “tấn công”.
Ngay sau đó lại xảy ra vụ tàu Trung Quốc và Nhật đâm nhau tại đảo Điếu Ngư [Nhật gọi là Senkaku]; rõ ràng Mỹ đứng về phía Nhật.
Gần đây nhất, vụ Triều Tiên pháo kích đảo Hàn Quốc chẳng những làm phức tạp tình hình Đông Á mà còn tăng tốc quan điểm tiêu cực của phương Tây đối với Trung Quốc.
Dĩ nhiên Trung Quốc không nhìn nhận như thế. Rất nhiều người Trung Quốc cho rằng trên tất cả các vấn đề này Trung Quốc đều bị động cuốn vào hoặc bị động đáp trả, thậm chí là “kẻ bị hại”. Mục tiêu của Trung Quốc trên các lĩnh vực bán đảo Triều Tiên, Đông Hải [biển bao bọc phía Đông đại lục Trung Quốc], Nam Hải đều ổn định. Chỉ khi có vấn đề này nọ thì chính phủ Trung Quốc mới có đáp trả, và theo đuổi mục tiêu ổn định. Hơn nữa Trung Quốc cho rằng nhân tố Mỹ làm cho tất cả các vấn đề đó phức tạp hóa. Rất nhiều người Trung Quốc khó hiểu sự thay đổi quan điểm của phương Tây về Trung Quốc.
Rõ ràng, nhận thức của Trung Quốc khác biệt rất lớn với phương Tây, thậm chí đối lập. Trung Quốc ngày một chú ý vấn đề hình ảnh quốc tế của mình. Nước lớn cần có hình ảnh tốt, tức cần sức mạnh mềm. Trung Quốc đã khởi động nhiều dự án lớn (Học viện Khổng Tử, truyền thông hướng ra nước ngoài v.v..) nhằm thay đổi hình ảnh quốc gia mình.
Nhưng trên thực tế, vấn đề hình ảnh Trung Quốc ngày càng nghiêm trọng. Người nước ngoài ngày một lo ngại Trung Quốc. Sau khủng hoảng tài chính, Trung Quốc vẫn phát triển như cũ còn phương Tây mãi không phục hồi, điều đó càng làm cho lòng tự tin của phương Tây chịu ảnh hưởng tiêu cực.
Trung Quốc có trách nhiệm lớn tạo điều kiện giúp phương Tây hiểu Trung Quốc, cần cố gắng thay đổi hình ảnh của mình để phương Tây chấp nhận. Sự trật khấc nghiêm trọng giữa hành vi quốc tế của Trung Quốc với “hình ảnh Trung Quốc” mà Bắc Kinh muốn tạo dựng, là một trong các nhân tố chính làm cho phương Tây thay đổi nhận thức về Trung Quốc. Nếu Trung Quốc không thay đổi hành vi quốc tế thì rất khó cải thiện hình ảnh của mình.
Về mặt này, tại Trung Quốc từ trung ương tới tầng lớp quan chức và xã hội đều tồn tại rất nhiều vấn đề, nó thường xuyên thúc đẩy nguyện vọng tốt của Trung Quốc về phía kết cục Trung Quốc không muốn có.
Thiếu cơ cấu phối hợp ngoại giao ở tầng cao
Tầng quyết sách ở Trung Quốc không có quyền lực ngoại giao hữu hiệu và cơ chế quyết sách, khiến cho Trung Quốc chỉ có thể phản ứng bị động trước rất nhiều vấn đề quốc tế quan trọng. Tác giả từng nhấn mạnh, từ lâu vai trò ngoại giao của Trung Quốc đã có xu thế đa nguyên hóa, liên quan tới Bộ Ngoại giao, Ban Liên lạc đối ngoại trung ương đảng, Bộ Thương mại, Bộ An ninh, Bộ Quốc phòng, các doanh nghiệp quốc doanh lớn, chính quyền địa phương và lực lượng xã hội v.v…; các đơn vị này có lập trường và lợi ích riêng của mình, có quan điểm riêng về ngoại giao Trung Quốc. Tại quốc gia nào cũng thế cả, khác nhau ở chỗ các nước lớn khác có cơ cấu điều phối đã thể chế hóa cao độ, còn Trung Quốc thì chưa có.
Cơ cấu điều phối, như Ủy ban An ninh quốc gia Mỹ, phần lớn đều là cơ cấu có hoạt động thực sự hiệu quả, không chỉ điều hòa ý kiến và lợi ích của các bên mà còn nghiên cứu và phân tích sâu sắc các vấn đề quốc tế lớn. Trung Quốc cũng có các cơ cấu tương tự nhưng chỉ là hình thức, thiếu nghiên cứu phân tích các vấn đề quốc tế lớn, lại càng không thể nói tới có dự kiến gì. Nghiêm trọng hơn là khi xảy ra sự kiện lớn thì không biết nên phản ứng có lý trí như thế nào.
Trung Quốc là nước lớn, lắm công việc nội bộ, tầng lớp lãnh đạo đa phần phải tập trung sức vào công việc nội bộ; điều đó có thể hiểu. Vấn đề ở chỗ, Trung Quốc có được sự phát triển như thời kỳ vừa qua là nhờ trào lưu toàn cầu hóa, Trung Quốc đã là một trong vài cường quốc thương mại, có nền kinh tế thứ 2 thế giới. Điều quan trọng hơn là các lĩnh vực ngoại giao với nước xung quanh, địa chính trị, quan hệ với các nước lớn đang ngày một phức tạp. Điều đó đòi hỏi Trung Quốc phải có một cơ cấu quyền lực tối cao và cơ cấu quyết sách ở cấp cực kỳ có thẩm quyền để điều phối công việc đối ngoại.
Vì ở tầng cao thiếu một cơ cấu như vậy nên rất nhiều vấn đề đối ngoại rơi vào tay các quan chức tầng trung gian. Đã xuất hiện cực nhiều vấn đề ở tầng nấc này.
Trước hết, các quan chức tầng trung gian đang trở nên ngày một ngạo mạn. Tầng nấc này, dù là các bộ, ủy ban ở trung ương hoặc là chính quyền địa phương, đều là người chấp hành chính sách. Nhưng cùng với sự tăng trưởng kinh tế, một số quan chức này sinh ra cảm giác “Có tiền thì giỏi”, họ có quyền lực tự chủ quá lớn, dường như đã biến thành kẻ quyết sách.
Thứ hai, tiếng nói ngoại giao của tầng trung gian rất phức tạp. Trên một số lĩnh vực quan trọng, hệ thống ngoại giao chính thức ít có tiếng nói nhưng các ngành khác lại rất mạnh miệng. Gần đây một số người phía quân đội quá cao giọng, quá cứng rắn trên rất nhiều vấn đề. Sự tương phản ấy tạo ra cảm giác nhầm lẫn cho bên ngoài, tựa như quân sự thay thế ngoại giao. Chính quyền địa phương cũng vậy. Kết quả đã ảnh hưởng không tốt tới các quốc gia xung quanh Trung Quốc.
ầng trung gian thường thiếu tư duy có lý trí. Thí dụ việc trình bày vấn đề Nam Hải. Vì vấn đề này liên quan tới nhiều quốc gia nên cách trình bày phải có tư duy ngoại giao tổng thể. Một số quan chức tùy tiện phát biểu ý kiến của mình mà không phân biệt trường hợp. Ngay nay, dù Trung Quốc chưa có văn bản chính thức công khai nói Nam Hải thuộc lợi ích quốc gia cốt lõi của Trung Quốc, nhưng đúng là một số nước ASEAN và Mỹ đã hiểu như thế.
Thứ ba, tầng trung gian rất khó xuất phát từ lợi ích tổng thể quốc gia để xem xét và xử lý vấn đề, kết quả là chỗ cần cứng rắn thì không cứng rắn được, như vấn đề Triều Tiên; mà chỗ không nên cứng rắn thì lại tỏ ra cứng rắn vô hạn, thí dụ vấn đề nâng tỷ giá đồng Nhân dân tệ.
Trên vấn đề Triều Tiên, tuy Trung Quốc có tâm nguyện tốt là vì sự ổn định của bán đảo, nhưng lại để cho người ta có cảm giác Trung Quốc dù luôn luôn đứng sau Triều Tiên song lại luôn luôn không muốn thực sự chế ước Triều Tiên một cách hữu hiệu, như thế cứ từng bước Trung Quốc bị kéo đi theo. cuối cùng gây nên khủng hoảng.
Tăng tỷ giá đồng Nhân dân tệ dù không chỉ là vấn đề kinh tế mà cũng là vấn đề chiến lược, nhưng nhập siêu khổng lồ trong thương mại Trung Quốc-Mỹ đúng là vấn đề cần nhìn thẳng vào. Không giải quyết vấn đề đó thì kinh tế hai bên đều khó tiếp tục phát triển và đem lại ảnh hưởng tiêu cực cho toàn bộ kinh tế thế giới. Thế nhưng Trung Quốc lại tỏ ra cứng rắn vô hạn. Điều đó không phù hợp lợi ích bản thân Trung Quốc. Có thể giải quyết vấn đề cân bằng thương mại theo cách nâng tỷ giá Nhân dân tệ hoặc tăng lương cho người lao động. Trung Quốc đều có không gian trên hai lĩnh vực này, nhưng lại không thể thi hành. Dĩ nhiên ở đây không thể coi nhẹ lợi ích của tầng lớp trung gian. Nếu họ bảo vệ lợi ích của họ thì tất nhiên lợi ích tổng thể của nhà nước sẽ bị thiệt hại.
Tình cảm chủ nghĩa dân tộc phi lý trí khiến nước ngoài lo ngại
Gần đây, nhất là từ khủng hoảng tài chính, cùng với sự phát triển kinh tế, một số nhà nghiên cứu của các think tank, cơ quan nghiên cứu, trường đại học Trung Quốc bắt đầu tỏ ra có thái độ quá tự tin, cứng rắn với nước ngoài. Thí dụ về quan hệ với Mỹ, trước kia mọi người nhấn mạnh hợp tác, nay thì “Thuyết đối lập, xung đột” Trung Quốc-Mỹ có xu thế trở thành ngôn từ chủ đạo trên rất nhiều mặt. Ở đây, cái làm cho phương Tây lo ngại nhất là tình cảm chủ nghĩa dân tộc của dân chúng Trung Quốc. Rất rõ ràng, nếu không thể xác lập chủ nghĩa dân tộc có lý trí thì chủ nghĩa dân tộc phi lý trí của dân chúng chẳng những có hại cho hình ảnh quốc gia mà cũng sẽ đem lại sức ép vô cùng lớn cho ngoại giao Trung Quốc.
Một số báo chí có tính thương mại thúc đẩy tình cảm chủ nghĩa dân tộc lên tới cực độ. Một số người chỉ biết tư duy yêu nước đơn giản, có những phản ứng yêu nước đơn giản. Trên một số vấn đề trọng đại, họ có biểu hiện của chủ nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn và chủ nghĩa dân túy. Trong môi trường chính trị Trung Quốc, kẻ cứng rắn bao giờ cũng có thể dùng chủ nghĩa yêu nước để tồn tại, còn những người có lý trí thì thường bị chửi bới, lên án. Trên mức độ rất lớn, Trung Quốc đã hình thành hai cái nạn của chủ nghĩa yêu nước: bị “đào tạo” để có phản ứng yêu nước theo bản năng, nhưng trên thực tế thì có hại cho lợi ích quốc gia.
Thời xưa khi Trung Quốc còn nhỏ yếu, chủ nghĩa dân tộc là thứ có thể thông cảm, vì nó là vũ khí của kẻ yếu. Nhưng hiện nay Trung Quốc đã trỗi dậy, chủ nghĩa dân tộc bị mất phương hướng, thể hiện sự phi lý trí cực lớn. Hơn nữa, tính chất đối ngoại của chủ nghĩa dân tộc càng làm tình hình thêm phức tạp. Nhờ hòa nhập vào hệ thống quốc tế mà Trung Quốc trỗi dậy, Trung Quốc được lợi từ hệ thống đó và cũng đang đóng góp cho hệ thống đó. Trong tình hình này đã đến lúc Trung Quốc nên suy nghĩ về chủ nghĩa dân tộc kiểu bản năng. Trong thời đại toàn cầu hóa, chủ nghĩa dân tộc còn sinh tồn tiếp nhưng cái cần thiết là chủ nghĩa dân tộc có lý trí.
Dưới ảnh hưởng của tất cả các nhân tố kể trên, không khó hiểu vì sao phương Tây có sự thay đổi nhận thức về Trung Quốc. Rất rõ ràng, nếu bầu không khí này không thay đổi thì sẽ vô cùng bất lợi cho hoàn cảnh quốc tế của Trung Quốc. Nếu Trung Quốc không thể thay đổi hữu hiệu nhận thức này của phương Tây thì chẳng những quan hệ Trung Quốc với phương Tây khó có thể tiếp tục mà nhận thức đó sẽ ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa Trung Quốc với nhiều nước láng giềng, thậm chí đông đảo các nước đang phát triển. Nhận thức của phương Tây cũng không phải không thể thay đổi, vì nó không phản ánh bộ mặt thật của ngoại giao Trung Quốc. Làm thế nào để thể hiện bộ mặt thật của ngoại giao Trung Quốc, đó là trách nhiệm của Trung Quốc.

* Tác giả Trịnh Vĩnh Niên: quốc tịch Trung Quốc, Tiến sĩ Chính trị học ĐH Princeton, giáo sư suốt đời ĐH Nottingham (Anh Quốc), hiện là Giám đốc Viện Nghiên cứu Đông Á Đại học quốc gia Singapore, nhà bình luận chính trị thời sự nổi tiếng trên nhật báo Zaobao (Singapore). Khác với các tác giả sống tại đại lục TQ, ông Trịnh làm việc ở nơi có nhiều nguồn thông tin và được tự do bày tỏ chính kiến, các bài bình luận của ông thường viết với quan điểm góp ý xây dựng cho nhà nước TQ một cách khách quan, mạnh dạn nhưng ôn hòa, vì thế được rất nhiều báo đài mạng chính thức của TQ đăng lại ở vị trí quan trọng. (Ng. dịch)

Nguồn tin: Zaobao

Theo Vitinfo - Hồ Hải lược dịch
February 2012
S M T W T F S
January 2012March 2012
1 2 3 4
5 6 7 8 9 10 11
12 13 14 15 16 17 18
19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29