TIN TỨC - TIVI - RADIO ÂM NHẠC VIỆT NAM ONLINE

leduylinh@hotmail.com

Subscribe to RSS feed

Sticky post

Radio Online

Sticky post

TIVI ONLINE

Cái nhìn của tuổi trẻ về âm nhạc dân tộc Việt Nam

Có thể nói âm nhạc dân tộc Việt Nam của chúng ta đã có từ rất lâu đời, ngay từ khi còn nhỏ, điều gần gũi nhất với tôi có lẽ là những bài hát ru của bà, của mẹ. Và cải lương là một loại hình nghệ thuật được ưa chuộng nhất trong nhà tôi, lúc nhỏ, đi đâu đó cũng nghe bà con hát hò dăm ba câu vọng cổ, tối đến thì nào guitar, đàn cò, đàn bầu…bà con tập họp lại một nhà nào đó uống trà và hát như vậy đến khuya. Rồi càng lớn càng xa quê hương lên thành phố học tập, những hình ảnh ấy cứ mập mờ trong kí ức của tôi.

Bây giờ thì giới trẻ yêu thích nhạc trẻ, nhạc ngoại…mà điển hình là Vpop, Kpop. Với một người thuộc thế hệ trẻ như tôi thì việc nói không thích nhạc trẻ liệu có đáng tin không? Sức hút của dòng nhạc ấy càng ngày càng mạnh dần và nghề ca sĩ hát nhạc trẻ hiện nay được coi là một trong những nghề “thời thượng”. Nhạc trẻ đang lấn át và chiếm lĩnh thị trường là một điều mà không cần phải nói ra thì ai cũng nhận thấy được. Dưới góc nhìn của một người trẻ, một người không chuyên về âm nhạc thì với riêng tôi âm nhạc dân tộc Việt Nam rất đậm đà bản sắc, tinh tế trong từng câu chữ, qua đó giúp khán giả chiêm nghiệm được nhiều điều trong cuộc sống. Nó cũng đa dạng và phong phú với các điệu hò, điệu lý, qua các bản vọng cổ…tùy theo vùng miền địa phương mà mỗi nơi có một bản sắc riêng từ Bắc đến Nam.

Liệu việc giữ gìn nền âm nhạc dân tộc Việt Nam có quan trọng? Và câu trả lời không chỉ đơn giản là có mà là rất quan trọng vì theo tôi mỗi một quốc gia cần có một cái gì đó riêng biệt cho mình và âm nhạc cũng thế, và nhất là trong thời kì hội nhập như hiện nay thì việc tiếp thu những cái mới một cách tích cực là việc nên làm nhưng cũng không nên lơ là trong việc bảo tồn bản sắc riêng của mình.



Thế hệ trẻ hiện nay đa phần là không yêu thích dòng nhạc dân tộc có thể là do chưa được tiếp cận nhiều vì thế tôi thiết nghĩ cũng nên tổ chức các buổi biểu diễn âm nhạc dân tộc ở các sân khấu lớn, nhỏ thường xuyên hơn nữa. Mặt khác thông qua các phương tiện truyền thông như báo chí, phim ảnh…để giáo dục cho thế hệ trẻ có một cái nhìn mới toàn diện hơn, sâu sắc hơn về nền âm nhạc dân tộc của nước ta. Ngoài ra còn có thể cho xuất bản sách, đưa vào chương trình giáo dục ở các cấp một bộ môn mới ví dụ như “Âm nhạc dân tộc” chăng? Vấn đề kinh tế là một vấn đề khá là tế nhị, có quá thiệt thòi cho những người yêu âm nhạc dân tộc, cống hiến hết mình cho âm nhạc dân tộc không? Thật vậy, vì thế nhà nước cũng nên có những chính sách ưu đãi đối với những người chuyên tâm, dốc hết sức mình cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy nét đẹp của âm nhạc dân tộc, đó sẽ là động lực giúp cho họ khẳng định được giá trị của công việc mà họ đang theo đuổi đang ngày càng được đánh giá cao.

Mỗi cá nhân, cá thể đều phải tự nâng cao nhận thức và phải có trách nhiệm trong việc giữ gìn, phát huy nét đẹp và bản sắc của nền âm nhạc nước ta - đó là điều tự hào rất xứng đáng để “khoe” với bạn bè thế giới đấy!

SƯU TẦM

Dạ cổ hoài lang: sức sống 90 năm

Kỳ 1: Bản nhạc lòng của tình yêu thời loạn

Nhạc sĩ Cao Văn Lầu năm 1960 - Ảnh tư liệu
Trong hành trình tìm lại những ngày đầu ra đời của Dạ cổ hoài lang, chúng tôi tìm về khu mộ của nhạc sĩ Cao Văn Lầu và vợ là bà Trần Thị Tấn nằm trang trọng trong khu di tích rộng lớn sắp được khánh thành tại thị xã Bạc Liêu. Cách đó không xa là nhà của ông Cao Văn Hoai - con trai thứ tư của ông Cao Văn Lầu. Chiều chiều, ông Tư Hoai vẫn thường ra mộ ba má để thắp nhang, hồi tưởng về những tháng ngày xưa cũ.

Chiếc áo rách vai


Ông Tư Hoai năm nay đã hơn 80 tuổi, những bức tường trong căn nhà nhỏ của ông treo chi chít hình ảnh, bằng khen, báo chí liên quan đến cha ông và bản nhạc Dạ cổ hoài lang bất hủ.

Ông tự hào nói: “Hồi đó ba tui thương tui nhứt đó. Tui cũng là người ở gần ba nhiều nhứt. Nhưng tội nghiệp ba tui lắm, ổng hiền lành, tình cảm mà cứ khổ hoài!”.

Cái sự “khổ hoài” mà ông Tư Hoai miêu tả chính là cái nghèo tiền bạc và trắc trở về tình cảm trong cuộc đời của cha ông. Nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã lớn lên trong cảnh nghèo túng.

Nhưng được cái là: “Hồi đó ba tui đẹp trai lắm, trắng tươi à, lại hay mặc bộ bà ba trắng - ông Tư Hoai hào hứng kể - nên năm 20 tuổi ông đã chiếm được cảm tình của cô Hai Sang, con gái thầy đàn Nhạc Khị nổi tiếng trong vùng”.

Cũng theo lời ông Hoai, chuyện “tình trong như đã, mặt ngoài còn e” của họ kéo dài đến hai năm mà không ai dám bước tới. Hai người không đến được với nhau vì kỵ tuổi khiến ông Sáu Lầu đau khổ vô cùng. Cô Hai Sang sau đó cũng khép lòng lại, gần hai năm sau mới đi lấy chồng vì sự ép buộc của gia đình.

Ngày cưới của cô Hai Sang, ban nhạc tài tử của Cao Văn Lầu cũng được mời đến. Ông lòng đau như cắt. Mãi cho đến khi một bạn đồng môn trong lớp học nhạc đem xe tới ép rước đi thì ông mới miễn cưỡng đi mà không kịp thay áo. Ra đến đám tiệc, vì chiếc áo của mình bị rách bên vai nên ông cởi ra máng lên ghế rồi lo đờn ca, hát xướng phục vụ quan khách.

Lúc này cô Hai Sang ngồi trong phòng, nhìn thấy chiếc áo bà ba rách vai ấy mà khóc nức nở. Cô lặng lẽ lấy xuống vá lại nguyên vẹn. Rồi cô Hai Sang theo chồng. Chiếc áo vá vai trở thành vật kỷ niệm duy nhất còn lại, được ông trân trọng.

Hai người con còn sống của ông Cao Văn Lầu là ông Cao Văn Hoai và Cao Văn Bỉnh đều cho rằng chính kỷ niệm buồn của mối tình đầu đã là niềm cảm hứng cho ông sáng tác bài ca Chiếc áo rách vai.

Theo tài liệu của nhà văn Phan Trung Nghĩa, sau này khi ban nhạc tài tử của ông Sáu Lầu trở nên nổi tiếng, ông đứng ra tổ chức một đoàn nghệ sĩ cổ nhạc ca ra bộ được đông đảo khán giả mộ điệu ủng hộ.

Trong đoàn có cô Ba Phấn nổi tiếng xinh đẹp, dịu hiền lại có giọng ca ngọt ngào, truyền cảm. Giới địa chủ, công tử nhà giàu say mê cô Ba Phấn. Tuy nhiên, cô Ba Phấn chỉ dành tình cảm đằm thắm của mình cho ông Sáu Lầu. Chính điều này đã làm bọn công tử ghen ghét, tức giận. Một ngày nọ cô Ba Phấn bị bắt cóc, bị bóp cổ rồi bị vứt thi thể dưới chân cầu quay Bạc Liêu.
Tình yêu son sắt

Chúng tôi tìm đến ngôi chùa Vĩnh Phước An, cũng không xa khu mộ và mảnh đất ngày xưa gia đình ông Sáu Lầu đã sống. Theo thầy trụ trì, hầu hết các tài liệu đều khẳng định chính tiếng trống đêm từ ngôi chùa này đã tác động sâu sắc vào tâm hồn nhạy cảm của Cao Văn Lầu, từ lúc còn bé cho đến khi trưởng thành và đóng vai trò là chất xúc tác để ông sáng tác bản Dạ cổ hoài lang.

Nghệ sĩ lão thành Lâm Tương Vân - người từng có nhiều dịp gặp gỡ nhạc sĩ Cao Văn Lầu - kể rằng qua hai cuộc tình dang dở, khổ đau và bất hạnh, ông Sáu Lầu đã nghe lời cha mẹ lấy cô thôn nữ Trần Thị Tấn với lý do “nhà họ cũng nghèo như nhà mình”.

Ngặt nỗi ăn ở với nhau suốt ba năm mà vợ ông Sáu Lầu vẫn không có thai khiến mẹ chồng phật ý, khuyên hai người nên ly dị để ông kiếm vợ khác, sinh con trai nối dõi. Không dám cãi lời má nhưng cũng không đành bỏ vợ, ông Sáu Lầu lại một lần nữa đối diện với nỗi đau xa cách người thương. Ngày chia tay, bà ôm trong người một gói quần áo cũ, đầu đội chiếc khăn rằn của ông rồi bước cao bước thấp đi về nơi vô định.

Ở lại, ông Sáu Lầu ngày ngày xách đờn ra phía bìa ruộng, nơi vợ chồng biệt ly lần đầu để đàn những bản mà vợ ông rất thích. Một đêm trung thu năm 1919, ông trằn trọc không ngủ được với bao nỗi ngổn ngang. Tiếng trống sang canh vọng lại từ ngôi chùa Vĩnh Phước An ở đầu xóm càng khiến ông thấy đau lòng. Bởi sang canh rồi lại sang canh, lại hết một đêm dài không ngủ. Mình thì chưa ra trận mà vợ đã thành người vọng phu.

Và thế là: Từ là từ phu tướng. Bảo kiếm sắc phán lên đàng. Vào ra luống trông tin nhạn. Năm canh mơ màng... Ông lẩm nhẩm những đoạn lời đầu tiên rồi tìm chữ nhạc ghép vào. Trải qua bao nhiêu đêm viết đi viết lại, Dạ cổ hoài lang ra đời. Mượn tiếng trống đêm (dạ cổ) để làm nhịp cầu chở những nhớ thương, mong đợi của người thiếu phụ vọng phu (hoài lang).

Bản nhạc được viết ra tự đáy lòng đã góp phần trùng phùng đôi vợ chồng son sắt. Những buổi nói dối mẹ đi hát đám nhạc lễ, ông Sáu Lầu đã lén gặp lại người vợ hiền. Rồi vợ ông có thai nên được mẹ chồng rước lại về làm dâu. Người con trai đầu lòng ấy chính là ông Cao Kiến Thiết - sau này là cán bộ cao cấp của Đại sứ quán Việt Nam tại Mông Cổ.

Ông Cao Kiến Thiết kể lại có lần nghe cha mình tâm sự với bạn bè rằng: “Lúc ấy tôi nghĩ giờ này vợ mình đang ở đâu? Chắc chắn là vợ mình thương mình nhiều hơn mình thương vợ mình. Số phận vợ mình như nàng Tô Huệ, vì quá thương chồng mà dệt bức cẩm hồi dâng lên vua. Hay như nàng Tô Thị chờ chồng đến hóa đá! Và tôi viết bản Hoài lang”.


Nhạc sĩ Phạm Duy tiến theo sự thẩm âm của người Việt

Kết hợp các giá trị cổ nhạc truyền thống với âm nhạc phương Tây để tạo nên những tác phẩm hài hoà tính dân tộc và nhân loại, thuyết phục được người nghe cả trong và ngoài nước, đó là mong muốn không ngừng của nhạc sĩ Phạm Duy.
Mới đây tại Nhà hát Lớn Hà Nội, ông đã trao đổi với chúng tôi.
Ông suy nghĩ gì khi mới đây, một số bài ca về kháng chiến chống Pháp của ông lần đầu được trình diễn?
- Tôi cảm thấy rất hãnh diện, thú vị! Nhưng tôi có tới 40 bài ca kháng chiến, hơi tiếc là còn những bài khác chưa có dịp được giới thiệu. Ở đây có mấy bài với tôi thì thực ra mới chỉ có hành động, chưa có tư tưởng, nhạc tính cũng không mới hơn và chưa có giá trị bằng những bài khác như Chiến sĩ vô danh, Thu chiến trường...

Hy vọng tương lai không xa, khán giả sẽ được lắng nghe một chương trình riêng của Phạm Duy với những bài ca kháng chiến!
- Thực ra tôi không chủ trương được trong việc làm các chương trình biểu diễn các tác phẩm của tôi. Từ trước đến nay đều do bên Công ty Phương Nam thực hiện. Chương trình vừa rồi mang tên Phạm Duy người phiêu lãng cũng vậy, Nhà hát Ca múa nhạc nhẹ VN và Công ty Đông Đô thực hiện, tôi là khách mời thôi, cũng không có ý kiến nhiều lắm! Giờ sức tôi yếu rồi, không đảm đương được một chương trình. Tôi hơi tiếc là về nước 11 năm nay rồi, nhưng chưa chủ động được gì trong các chương trình ca khúc Phạm Duy.
Thời gian qua, công việc của ông có thêm nét mới gì chăng?
- Tôi vừa phổ 10 bài thơ Bích Khê, gọi là Dị khúc, 10 bài hát với tôi hết sức lạ. Kiều ca thì tôi đã làm 3 phần, nhưng bế tắc, về đây thì có hứng để hoàn thành. Tôi viết xong rồi, rồi xếp đấy đã. Muốn công bố thì phải tổ chức ghi âm, biểu diễn, những việc này đều cần phải có kinh phí. Tôi cứ sáng tác, còn các công đoạn sẽ thực hiện dần dần. Rất mừng là Cục nghệ thuật biểu diễn mới ký cho phép được biểu diễn trường ca Hàn Mặc Tử - đây là cái mà tôi đã bỏ nhạc trần gian để sang nhạc tâm linh. Tôi thì thích lắm, nhưng với khán giả thì cũng chưa dám chắc.
Xem chừng ông vẫn luôn muốn đẩy ngôn ngữ thi ca, hồn vía dân tộc lên bằng các giai điệu của mình!
- Tôi làm nhiều loại, nhưng vẫn thích những bài có tính nhân loại hơn những bài chỉ có tính dân tộc. Tôi cứ nghĩ nhạc VN mình nên có sự tiếp cận với quốc tế. Làm sao để người ngoại quốc cũng nghe được. Muốn thế, mình phải mượn những yếu tố xây dựng tác phẩm mà người phương Tây họ đã làm. Sở dĩ 60 năm nay, bài nào tôi đưa ra cũng được ưa thích theo tôi vì ở đó hội tụ được hai yếu tính: Dân tộc tính và nhân loại tính.
Có lần ông tâm sự rằng đã lắng trong mình rất nhiều các làn điệu âm nhạc truyền thống!
- Tôi nghe và thấm dân ca nhiều lắm! Nhưng cứ đưa nguyên ra thì không được. Mà phải có bí quyết, có yếu tố hoà âm, giai điệu, tiết điệu mượn của Tây phương. Vay mượn để sử dụng cho mình chứ không phải bắt chước họ. Từ đây nhìn trở lại thì có thể thấy, nếu làm âm nhạc mà phụ thuộc vào những hình thức không phù hợp với người VN thì khán giả sẽ thấy có gì đó lố lăng. Nên tôi xác định là làm việc có khoa học, không vội vã, cứ tiến theo sự thẩm âm của người mình. Tôi đi từ từ, đoản khúc, ca khúc, trường ca, tổ khúc, đến Kiều ca thì là opera rồi! 20 năm trước người ta không nghe Kiều ca đâu vì chưa phù hợp, chưa quen, giờ thì nghe rồi!
- Xin cảm ơn nhạc sĩ!

Đếm số người truy cập

Đờn ca tài tử trong không gian văn hóa Nam bộ


Cứ mỗi dịp Xuân về, lòng tôi lại bâng khuâng nhớ đến cái Tết cổ truyền rộn ràng tại làng quê Vĩnh Kim thân thương của mình hơn nửa thế kỷ trước đây, với bao nhiêu lễ nghi tập tục được mọi người trân trọng gìn giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Ấn tượng sâu sắc nhứt đối với tôi trong ba ngày Tết chính là vào mùng Hai, một ngày hết sức quan trọng của đại gia đình chúng tôi. Tất cả mọi người trong dòng họ tụ tập tại nhà người cậu thứ Tư, cũng là nhà hương hoả thờ cúng ông bà, để vừa vui Xuân vừa dự buổi hòa nhạc theo phong cách đờn ca tài tử miền Nam. Đặc biệt ngày hôm đó không chỉ bà con lối xóm mà cả người mộ điệu ở các làng lân cận cũng đều tụ tập tới đây rất đông để thưởng thức âm nhạc.

Gia đình tôi vốn có truyền thống về đờn ca tài tử ở Tiền Giang. Ngày xưa người đứng đầu một nhóm đờn ca tài tử gọi là “chủ soái”, theo cách gọi của những người trong giới. Ở làng Vĩnh Kim, ông nội tôi là Trần Quang Diệm được xem là một chủ soái, được giới đờn ca tài tử nhắc đến nhờ tiếng đờn tỳ bà đặc biệt và nhiều sáng tác của ông dành cho loại đờn này.

Đến đời cha tôi - ông Trần Quang Triều - cũng là một người đờn tài tử danh tiếng của làng với tiếng đờn kìm gân guốc hay tiếng độc huyền nỉ non. Cha tôi còn chế ra cách lên dây đờn kìm rất đặc biệt mà ông đặt tên là dây “Tố lan” dùng để đờn hai bản Văn thiên tường và Tứ đại oán.

Ở làng Đông Hòa (Mỹ Tho) thì có ông ngoại tôi là Nguyễn Tri Túc rất say mê âm nhạc và chuyên về đờn kìm, đờn cò. Cả ba người con trai của ông, cậu Tư Lạc, cậu Năm Khương và cậu Mười Ân đều sành đờn ca tài tử và tiếng đờn của người nào cũng rất điêu luyện.

Lứa con cháu như chúng tôi được hòa đờn với những người thầy và các bậc trưởng thượng thì rất tự hào. Đây là dịp để học hỏi thêm, mỗi người trong khi đờn vẫn lắng nghe người khác, giữ đúng nhịp, đôi khi có những câu chuyền từ câu cuối lớp nầy qua câu đầu lớp khác, lại có những lúc im lắng để cho một hai nhạc cụ độc tấu hay song tấu rồi sau đó cùng hòa tấu mà mỗi lần hòa với nhau đều có sự sáng tạo bất ngờ.

Buổi “khai đờn” long trọng vào ngày mùng Hai Tết hàng năm – tựa như văn nhân “khai bút” hay nhà nông “khai canh” – chính là một nét đẹp truyền thống mang đậm tính văn hoá dân tộc, mà tiếc thay nhiều năm nay do hoàn cảnh mỗi người một phương nên không còn duy trì được nữa.

Vài nét về đờn ca tài tử

Đờn ca tài tử hình thành vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 ở Nam bộ. Các nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào Cần Vương vào Nam đã đem theo truyền thống Ca Huế. Trên đường đi họ dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, từ đó tiếng đờn giọng ca xứ Huế mang thêm chút hương vị xứ Quảng. Nhưng khi vào đến miền Nam thì tiếng đờn miền Trung đã thay đổi rất nhiều, thậm chí một số bài bản tuy mang cùng tên mà nét nhạc đã khác xa. Bản chất phóng khoáng của con người và nếp sống tại miền Nam khiến cho các bài bản không còn y khuôn bản gốc ngày xưa.

Người đờn người ca không muốn giữ nguyên si như thầy đã dạy mà luôn có đôi nét thêm thắt, thay đổi, tô điểm, đưa một chút ta hoà vào trong chúng ta khiến những bài bản đậm đà thấm thía hơn. Mặt khác, do lòng luôn luôn thương nhớ cội nguồn nên các điệu các hơi của đờn ca tài tử đều phảng phất nỗi buồn và được người mộ điệu ưa thích.

Có người cho rằng chữ “tài tử” có nghĩa là không chuyên nghiệp, không phải nhà nghề. Nhưng thật ra ý nghĩa chữ “tài tử” ở đây là “người có tài” như trong câu dập dìu tài tử giai nhân (Kiều). Ngoài ra, “tài tử” còn ám chỉ việc không lấy đó làm nghề, không dùng tiếng đờn giọng hát làm kế sinh nhai mà chỉ để giải trí, để gởi gắm tâm sự riêng, hay cùng với bạn đồng điệu hòa đờn cho người mộ điệu thưởng thức.

Nhưng không phải vì vậy mà những người đờn ca tài tử có trình độ nghệ thuật thấp. Ngược lại họ thường tập luyện rất công phu, phải theo thầy học từ chữ nhấn, chữ chuyền, phải rao sao cho mùi, sắp chữ sao cho đẹp và tạo cho mình một phong cách riêng. Vì vậy muốn trở thành một người đờn ca tài tử đúng nghĩa phải trải qua một thời gian luyện tập khá công phu.

Dàn nhạc tài tử sử dụng đờn kìm và đờn tranh, thường thì lựa tiếng thổ hòa với tiếng kim, mà nếu có thêm cây đờn cò thì càng hay. Có thể thêm đờn độc huyền, đờn tỳ bà, đờn tam. Ống sáo, ống tiêu thường dùng trong các bài buồn như Tứ đại oán hay Văn thiên tường. Và đặc biệt là song lang (có nghĩa là hai thanh tre già) dùng để gõ vào nhau khi câu nhạc đến nhịp quan trọng.

Đờn tài tử mở đầu với những câu “rao” để thử dây đồng thời thử đờn, giống như kỵ mã trước khi cưỡi ngựa ngồi ướm thử xem yên cương có đặt đúng chỗ và con ngựa có nổi chứng gì không. Câu rao của mỗi người hoàn toàn theo ngẫu hứng nên có thể đờn một cách khác nhau, chỉ cần theo đúng điệu thức đã chọn lựa. Sau đó mới lần lần đưa người nghe đi vào điệu thức, giống như hướng dẫn viên đưa du khách từng bước đi vào ngắm một căn nhà đẹp hay một khu vườn nhiều kỳ hoa dị thảo.

Về bài bản thì đờn ca tài tử có rất nhiều, nhưng đại đa số các “thầy đờn” đều cho rằng có 20 bài tổ gồm 6 Bắc (Tây thi, Cổ bản, Lưu thủy trường, Phú lục chấn, Bình bán chấn, Xuân tình chấn hay Xuân tình điểu ngữ), 3 Nam (Nam xuân, Nam ai, Nam đảo hay Đảo ngũ cung), 4 Oán (Tứ đại oán, Phụng cầu, Giang nam, Phụng hoàng), 7 bài lớn (Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Tiểu khúc, Vạn giá).

Đờn tài tử có khi đờn một mình như độc tấu đờn kìm hay đờn tranh. Khi hoà đờn, nếu chỉ có hai nhạc cụ thì thông thường là đờn tranh hoà với đờn kìm hoặc đờn cò. Nếu ba cây hoà chung (tam tấu) gồm đờn tranh, đờn kìm và đờn cò. Năm cây – gọi là ngũ tuyệt – gồm đờn tranh, kìm, cò, độc huyền và tỳ bà. Thỉnh thoảng lại có ống sáo hay ống tiêu cùng hoà và về sau có thêm ghi-ta phiếm lõm. Hiếm khi hoà đờn mà không có ca, vì vậy người ca đóng vai trò rất quan trọng.

Điểm độc đáo của cách hoà đờn trong ca tài tử là áp dụng nguyên tắc học chân phương, đờn hoa lá ngang qua lăng kính của dịch học, phù hợp với quy luật biến dịch trong vũ trụ.

Con người và sự vật luôn luôn thay đổi không ngừng, mỗi giây phút trôi qua trong cơ thể chúng ta có hằng trăm ngàn tế bào cũ chết đi và cũng chừng đó tế bào mới được sản sinh. Tuy nhiên sự thay đổi đó không làm chúng ta biến dạng bởi bên trong vẫn tồn tại những yếu tố căn bản không thay đổi, nghĩa là có biến dịch mà cũng có bất dịch.

Cũng vậy, trong đờn tài tử thì nét nhạc, chữ nhấn, chữ chuyền của mỗi câu trong bài bản có thể thay đổi tùy trường phái hay người đờn nhưng lòng bản thì không thể thay đổi. Nhờ vậy, dầu cho người đờn có thêm chữ chuyền, có đổi nhịp nội ra nhịp ngoại, người nghe vẫn nhận ra bản đờn.

Ngoài biến dịch và bất dịch còn có qui luật giao dịch. Trong cuộc sống khi có sự gặp gỡ của hai yếu tố thì các yếu tố đó phải thay đổi để không trở thành xung đột. Khi hòa đờn cũng vậy, nếu tỳ bà hòa với đờn kìm, do hai tiếng đờn có màu âm gần giống nhau nên thông thường đờn kìm đờn nhịp nội trong khi tỳ bà đờn nhịp ngoại: sự thay đổi này chính là tinh thần giao dịch để có được sự hoà hợp.

Khi hòa đờn, người đờn tranh thường dùng những chữ đặc biệt như chữ “Á” (ngón tay cái của bàn tay mặt kéo rải dài từ dây đờn giọng cao xuống dây đờn giọng thấp), trong khi đó tiếng đờn kìm khảy chững chạc, nghiêm trang, chậm rãi, còn đờn cò thì dùng nhiều chữ vuốt. Ba cách đờn thay đổi để không bị đồng điệu, phối hợp môt cách nhuần nhuyễn, không bị trùng lắp và không làm biến dạng nhau, hoàn toàn đúng với quan điểm giao dịch.

Rõ ràng phong cách đờn ca tài tử rất phù hợp với triết lý dân gian của người Việt Nam chúng ta.

Đờn ca tài tử trong “Không gian văn hoá Nam bộ”

Trải qua nhiều biến chuyển, đến nay đờn ca tài tử vẫn giữ được phần nào bản sắc dân tộc, không bị bên ngoài tác động làm mất đi cái hay của nó. Do rất “nặng tình” với đờn ca tài tử nên – như nhiều người yêu âm nhạc khác tại miền Nam – từ lâu tôi đã ước mong bộ môn này được đứng vào hàng ngũ các di sản phi vật thể của nhân loại.

Tuy nhiên cho đến nay điều này vẫn chưa thể thực hiện được, vì nhiều lý do. Trước tiên, tuy cho rằng đờn ca tài tử đã ra đời từ thế kỷ 19 hoặc trước đó, nhưng trên thực tế chúng ta chưa có nhiều sử liệu hay hiện vật chứng minh một cách chính xác và cụ thể.

Ngoài ra, về mặt ngôn ngữ âm nhạc, thang âm, điệu thức, tiết tấu thì bộ môn này tuy có một số nét đặc thù nhưng chưa có được bề sâu nghệ thuật đặc sắc như yêu cầu đặt ra. Hơn nữa, tuy không còn thông dụng như xưa nhưng đờn ca tài tử vẫn chưa đứng trước nguy cơ tàn lụi, khá nhiều địa phương trên cả nước đều có thành lập các câu lạc bộ, cũng như các liên hoan ca nhạc tài tử vẫn liên tục được tổ chức.

Tóm lại, nếu so sánh với hồ sơ các bộ môn nghệ thuật truyền thống trong nước đã và đang được thiết lập để trình UNESCO như Nhạc cung đình, Cồng chiêng Tây nguyên, Ca trù … thì Đờn ca tài tử còn nhiều mặt chưa đạt được những điều kiện tất yếu minh chứng đầy đủ về giá trị lịch sử lẫn nghệ thuật. Vì thế, nếu chúng ta cứ nhứt quyết lập hồ sơ ứng cử thì coi như cầm chắc thất bại.

Tuy vậy, mặc dầu bản thân đờn ca tài tử chưa đủ tầm cỡ, nhưng nếu xếp bộ môn này vào trong một “Không gian văn hoá Nam bộ” bao gồm cả nhạc lễ (xuất xứ từ nhạc lễ cung đình giản dị hóa thành dàn nhạc ngũ âm), hát ru, các điệu hò, điệu lý, rổi bóng và cả những trò chơi dân gian phong phú, tất cả được xem như một di sản đáng quý của cha ông chúng ta để lại từ thời kỳ đầu khai hoang lập nghiệp ở miền Nam, thì hồ sơ này sẽ có thêm bề dày của lịch sử và chiều sâu của nghệ thuật, nhiều khả năng được UNESCO đồng ý xét công nhận giá trị.

Theo dự kiến, chúng ta sẽ lần lượt hình thành hồ sơ ca trù trình cho UNESCO vào năm 2007, đến năm 2009 là quan họ và năm 2011 cho múa rối nước. Chúng tôi mong mỏi các cơ quan chức năng sẽ lưu tâm đến việc nghiên cứu thành lập hồ sơ “Không gian văn hoá Nam bộ” vào năm 2013, như thế đờn ca tài tử và nhạc lễ sẽ có cơ hội được tôn vinh cho thế giới biết đến rộng rãi. Từ đó có thể kích thích giới trẻ trong nước tìm đến với bộ môn đờn ca tài tử truyền thống, nắm được tinh hoa trong nghệ thuật cổ truyền và sáng tạo những nhạc phẩm mới để làm cho di sản âm nhạc tài tử được phong phú hơn xưa.

GSTS TRẦN VĂN KHÊ - Theo báo XUÂN DOANH NHÂN SAIGON CUỐI TUẦN

Huyền thoại ông tổ và Ngày sân khấu

Ngày 12.8 âm lịch được chọn là Ngày sân khấu Việt Nam, đó cũng chính là ngày giỗ tổ sân khấu hằng năm mà giới làm nghề phía Nam đều tổ chức trang trọng. Ông tổ sân khấu là ai? Cho đến bây giờ không người nào trả lời được chắc chắn câu hỏi trên. Theo NSND Đinh Bằng Phi thì truyền thuyết được biết nhiều nhất là có một nhà vua không có con nên làm lễ cầu xin Trời Phật ban phúc. Mỗi khi làm lễ, có một người giả làm thần vừa múa hát vừa bay lên trời dâng sớ. Thế là hoàng hậu sinh hạ hai vị hoàng tử. Để tạ ơn trời, hằng năm vua đều cho diễn lại lễ ấy, có con hát đàn ca vui vẻ, có người đóng vai thần linh, và coi như một tiết mục biểu diễn trong cung. Hai vị hoàng tử lớn lên rất mê ca hát, suốt ngày quanh quẩn bên bội đình. Một hôm, mọi người tìm mãi không thấy hai hoàng tử đâu, hóa ra họ lén vua cha vào trong buồng hát mà xem, đến nỗi quên ăn quên ngủ, rồi kiệt sức, ôm nhau chết tự lúc nào. Từ đó, nghệ sĩ thường thấy hai hoàng tử hiện về xem hát, bèn lập bàn thờ phụng, gọi là tổ. Cho nên, trong đoàn hát có một trang thờ bằng gỗ sơn đỏ, đặt hai cốt gỗ nhỏ xíu như con búp bê tượng trưng cho nhị vị hoàng tử. Mỗi khi có lớp diễn sinh con, nghệ sĩ hay đến bàn thờ thỉnh một vị ra làm hài nhi. Hoàng tử trẻ tuổi, ham vui, chắc chắn sẽ không phật lòng, mà còn thích diễn là đằng khác. Nhưng NSND Đinh Bằng Phi còn nói: "Thờ cốt gỗ trẻ con cũng có ý nghĩa hướng về khán giả trẻ, vì chính họ sẽ là người nuôi sân khấu tương lai". Cũng có truyền thuyết nói rằng tổ sân khấu vốn xuất thân từ ăn mày, bởi nghề hát sống nhờ vào đồng tiền của khán giả gom lại, có khác chi ăn mày khán giả. Cho nên nghệ sĩ làm từ thiện ở đâu thì làm chứ không dám bố thí cho người ăn xin, vì như thế là phạm thượng với tổ. Thật ra, sân khấu miền Nam xuất phát điểm là hát bội, nên ông tổ chỉ được thờ trong các đoàn hát bội mà thôi. Sau này, có thêm cải lương rồi kịch cũng lấy luôn ông tổ này làm tổ của mình. "Tổ phạt", "tổ độ"... Nghệ sĩ thờ tổ rất thành kính, luôn nhớ những điều cấm kỵ, nếu không sẽ bị “tổ phạt”. Nhưng theo NSND Đinh Bằng Phi thì những điều này vừa là "tâm linh" vừa là khoa học. Chẳng hạn, giờ hóa trang không được giỡn hớt, nói tục trước bàn thờ tổ, có nghĩa là nghệ sĩ phải yên tĩnh, tập trung cho vai diễn sắp tới, thì sẽ diễn tốt hơn. Cấm đụng tới chiêng trống, bảo đó là một bộ phận trong cơ thể ông tổ, thật ra sợ lỡ tay làm hư rồi không sửa kịp, thiếu nhạc cụ để diễn. Cấm trẻ con hoặc khán giả đem theo trái thị, sợ ông tổ nghe mùi thơm chạy theo mà bỏ nghệ sĩ, không phù hộ. Sự thật là mùi trái thị thơm nức mũi, nghệ sĩ hít vô liền bị phân tâm, quên vai mà thôi. Cấm mang guốc vông, vì gỗ cây vông đẽo thành tượng tổ mà chà đạp dưới chân ắt có tội. Thật ra, thời xưa nghệ sĩ thường đi chân đất, lúc diễn mới mang hia, hài, nếu ai đi guốc cồm cộp sẽ làm mất yên tĩnh, tập trung cho người khác. Và những câu chuyện truyền miệng trong giới không biết có phải do tổ linh thiêng hay không... Gánh hát bội của nghệ sĩ Mười Vàng nổi tiếng, có anh kép rất giỏi nhưng hay làm bể sô của ông bầu. Lần nọ, anh cũng bỏ một sô, báo hại ông bầu Mười Vàng phải nhảy lên đóng thay. May mắn, ông là nghệ sĩ kỳ cựu nên ai bỏ vai gì ông cũng đóng được hết. Lần này ông bực quá, rầy anh kép nọ. Anh chối hoài, ông bảo anh phải thề. Anh thề: "Nếu tôi nói dối thì cho bữa hát này tổ lấy hơi tôi đi!". Lát sau, anh ra sân khấu, mới dõng dạc hát một câu tự nhiên tắt giọng liền. Anh gân cổ hát mãi cũng không được, hoảng hốt tìm cách lui vào hậu trường bảo vợ đi mua con gà tạ lỗi với tổ. NSND Đinh Bằng Phi lúc ấy đang là giảng viên của trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn, đi theo gánh hát, chứng kiến đầu đuôi sự tình. Ông cười: "Chẳng biết tổ linh hay có thể giải thích rằng do cả đêm anh ta thức đánh bài, sáng dậy mất giọng". Còn một câu chuyện khác, có anh kép cải lương nổi tiếng một thời, cát-sê ngang ngửa với nghệ sĩ Út Trà Ôn, Thành Được, lần nọ uống rượu ngà ngà hát không nổi, liền tới trước bàn thờ tổ lè nhè: "Bộ muốn lấy giọng tui hả?". Tự nhiên sau đó vài năm anh "xuống" luôn, và giã từ sân khấu khá sớm. Đó là những chuyện "tổ phạt". Còn chuyện "tổ độ" cũng không thiếu. Có nhiều đào kép ngoài đời không đẹp lắm nhưng lên sân khấu lại sáng trưng và duyên dáng lạ kỳ. Chẳng hạn NSƯT Ngọc Giàu từng nói thẳng là mình nhỏ con không sánh nổi nhan sắc cỡ Thanh Nga, Phượng Liên, nhưng tổ thương nên nghề nghiệp vẫn thành công. Mỗi khi chị lên sân khấu, khán giả chỉ thấy cái đẹp của nhân vật, và cho tới bây giờ vẫn yêu mến chị cuồng nhiệt. Cô đào trẻ Tú Sương cũng hơi yếu về sắc vóc, nhưng trên sàn diễn lại là ngôi sao cải lương. Có lẽ "tổ độ" vì cô làm nghề nghiêm túc, vượt mọi khó khăn để sống chết với nghề. Vai nào Tú Sương đóng cũng thấy sự tập luyện kỹ lưỡng, khán giả không yêu sao được. Ký niệm ngày giổ tổ Bên cạnh những vị tổ truyền thuyết ấy còn có những vị tổ rất cụ thể mà giới làm nghề gọi là hậu tổ. Đó là những vị tổ sư của các ngành nghề có liên quan đến vai diễn của nghệ sĩ, gọi là thập nhị công nghệ. Thí dụ: nghề may, nghề mộc, đi buôn, thợ rèn, y dược... Mỗi vai diễn, nghệ sĩ phải lấy thực tế từ người thật nghề thật rồi mới cách điệu lên, nên tri ân nghề đó. Hậu tổ còn bao gồm cả những nghệ sĩ lão thành có công với sân khấu, hoặc những nhân tài xuất chúng, như ông Trương Duy Toản, ông Năm Tú, ông Cao Văn Lầu, NSND Năm Châu, Ba Vân, Trần Hữu Trang, Phùng Há, Năm Phỉ, Tư Đồ...

Chúc mừng năm mới năm 2010 ...

Chúc mừng năm mới, an khang thịnh vượng !!!

February 2012
M T W T F S S
January 2012March 2012
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29