Skip navigation.

Thomas: Vũ Quốc Viễn

Lời Chúa là chính Chúa.Chúa Giêsu phán:"Ta là đường, là sự thật và là sự sống" (Jn 14:6);

Glory to God in the highest heaven- And peace on earth to men with whom he is pleased

Chào tất cả các bạn.....Cám ơn bạn đã ghé thăm Blog của thosvien@yahoo.ca........... ........... ƠN CHA LÀNH CAO NHƯ NÚI CẢ***ĐỨC MẸ HIỀN SÂU TỰA BIỂN KHƠI&&&&& DÙ CHO DÂNG TRỌN MỘT ĐỜI^^^^^CŨNG KHÔNG TRẢ HẾT ƠN NGƯỜI SINH RA

Read more...


VÀI SUY NGHĨ VỀ GIÁO DỤC KI-TÔ GIÁO - Lm. Nguyễn Trọng Viễn, OP


1. Từ một vài sự kiện

* Thế giới của sinh vật là thế giới của quy luật mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé. Thế giới sinh vật là thế giới của móng vuốt, của răng nhọn, của bắp thịt. Xã hội con người thì luôn luôn muốn vượt lên trên quy luật của sức mạnh để xây dựng một xã hội công bằng mà ta có thể tạm gọi là thế giới “thuận mua vừa bán”. Bởi đó, người ta có thể luôn luôn tìm thấy những chuẩn mực luân lý và những thể chế luật pháp trong đời sống xã hội của con người.

Thế nhưng các xã hội loài người có thật sự vượt qua được “tính sinh vật” ăn sâu trong bản chất con người không ? Các xã hội loài người, dù là xã hội văn minh nhất hoặc “lý tưởng” nhất có thật sự loại trừ được nhiều tình trạng cá lớn nuốt cá bé không ? Ta có thể thấy rõ ràng rằng, ở mức độ của đời sống xã hội, con người chưa thể thoát ra khỏi được sức hút của quy luật sinh vật. Ở đâu cũng vậy, ngay cả trong những xã hội được coi là văn minh nhất; và đối với mọi thể chế mà con người có thể sáng chế ra được, tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa, người ta vẫn thấy thực chất của chúng là cá lớn vẫn nuốt cá bé, kẻ mạnh vẫn luôn đàn áp kẻ yếu. Ngày xưa cha ông chúng ta đã nói về những kẻ “mạnh vì gạo, bạo vì tiền”, hoặc “miệng người sang có gang có thép”, thì ngày nay người ta vẫn thấy tính chất ấy không giảm nhẹ một chút nào trong xã hội “nhất thân nhì thế” hiện nay. Điều mà văn hào Dostoievsky đã nói, trong một chương nổi tiếng “Viên Đại Pháp Quan Tôn Giáo” của tác phẩm “Anh Em nhà Karamadốp, vẫn là chân lý trong cuộc sống xã hội con người, ít là cho đến đầu thế kỷ XXI này, ông nói chưa bao giơ con người đồng ý với nhau được về việc phân phối tài sản.


* Như chúng ta biết, nước ta là một trong những nước có mức độ phá thai nhiều nhất thế giới; và “sự kiện Vàng Anh” thật ra không phải là một sự kiện đơn lẻ nhưng chỉ là “cây kim giấu lâu trong bị” mà thôi. Trước đây một vài năm, báo chí đã từng nêu sự kiện “góp gạo nấu cơm chung” như tình trạng khá phổ biến trong giới trẻ, công nhân và sinh viên. Những tệ nạn của đời sống tính dục như lạm dụng tình dục trẻ em, quấy rối tình dục, hãm hiếp, trẻ em mồ côi,… ít nhiều, là những hậu quả của một sự hư hoại trong đời sống đạo đức về phương diện tính dục.

Đứng trước tình trạng đó, ta thấy có một số ý kiến cho rằng không nên quá câu nệ về quan điểm đạo đức, không nên lấy quan niệm đạo đức của mấy chục năm trước mà áp đặt lên giới trẻ ngày nay,… và đề nghị nên chọn thái độ giúp cho giới trẻ biết sống “tình dục an toàn”. Quan điểm đó cũng có lý của nó, vì nó có vẻ “khả thi” trong hoàn cảnh hiện nay, vì nói chung người ta cần phải chấp nhận sự biến chuyển của văn hóa, vì mục tiêu là làm sao cho giới trẻ ngày nay thực sự thoát được những tệ nạn trong lãnh vực tính dục, chứ không phải là để bảo vệ một lý tưởng đạo đức bất di bất dịch nào đó. . . Thế nhưng, liệu chừng thứ “tình dục an toàn” ấy có khả năng làm cho tâm hồn con người bớt đi những khao khát bất chính không ? Liệu chừng việc lựa chọn đường lối “tình dục an toàn” có giảm bớt được những tệ nạn của tình dục không ?

2. Qui luật đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu

Nếu chúng ta có một mảnh đất đầy cỏ dại, rồi chúng ta muốn diệt cỏ dại chỉ bằng cách nhổ cỏ dại mà thôi, thì có lẽ sẽ chẳng bao giờ hết cỏ được. Cỏ dại tồn tại một cách lì lợm, mà việc nhổ cỏ thì giống như người ta “bói ra ma quét nhà ra rác”. Muốn diệt cỏ dại một cách hiệu nghiệm hơn, người ta cần phải trồng bông vào đấy, cần vun xới cho bông hoa phát triển thì mới có thể ngăn cản được cỏ dại.

2.1 Sức mạnh của sự dữ

Sự ác không phải là cái ngẫu nhiên tình cờ; cái ác cũng không phải là cái đơn lẻ xẩy ra trong một hoàn cảnh đặc thù nào đó. Cái ác là một khuynh hướng nằm trong bản chất con người, là cả một thế lực, là sức mạnh trì kéo tâm hồn con người, là “tội tổ tông” đã rớt xuống vận mạng nhân loại như một án lệnh. Có lẽ một trong những cám dỗ nguy hiểm nhất của con người, đặt biệt ở mức độ cá nhân, là người ta đã không nhận ra được sức mạnh thực sự của sự ác, không nhận ra được khuôn mặt của cái ác trong cuộc sống; cái ác dấu mặt là cái ác nguy hiểm nhất; và người ta thường bị lừa khi hy vọng có thể vượt thắng được sự ác bằng một vài biện pháp tình thế.

2.2 Khẳng định sức mạnh của sự thiện

Vào thế kỷ XVIII, ở Tây phương, khi mà lý trí muốn lên ngôi để thay thế tôn giáo, khi mà người ta tin tưởng rằng những nguyên tắc hợp lý của lý trí có thể xua tan bóng đêm của mê lầm, của mê tín, của những niềm tin tôn giáo vô căn cứ, thì người ta đã từng nghĩ rằng xã hội con người có thể được điều hành một cách tốt đẹp bằng sự công bằng, theo nguyên tắc cái lợi ích của người này cũng là cái lợi ích của người kia, lợi ích của cộng đoàn cũng là lợi ích của cá nhân và ngược lại. Những quan điểm quá lạc quan về lý trí con người như thế không là gì khác hơn một cách giải quyết cái xấu bằng cái không xấu. Cũng thế, những quan điểm vô thần sẽ chẳng thể nào duyệt chính và chẳng thể nào cung cấp được một động lực thực sự vượt trên quy luật công bằng của lý trí. Bạn ra bạn thù ra thù, đó là kết luật dĩ nhiên, kết luận công bằng của thế giới vô thần. Thế nhưng làm sao thế giới con người có thể vận hành theo chiều hướng vươn lên sự thiện nếu như không có được giá trị và sức mạnh của hy sinh, của phục vụ, của tự hiến, của qui luật hạt lúa chết đi để nẩy sinh những bông hạt mới ?

Trong kinh nghiệm thực tế của cuộc sống, ta có thể khẳng định một quy luật cần thiết : muốn chống lại cái xấu thì không thể chọn cái cái không tốt không xấu, nhưng phải là cái tốt. Muốn vượt thắng được nhiều hơn tình trạng cá lớn nuốt cá bé của xã hội nhân loại thì phải củng cố, đề cao thế giới của sự tặng-không, và nhất là dâng tặng chính bản thân của mình cho sự phát triển của người khác, như trong đời sống gia đình chẳng hạn. Gia đình là nơi, nói chung, người ta có thể đồng ý với nhau, một cách tự nguyện, một cách bình thường, về cách sống : người này làm ra tiền để nuôi người khác; cha mẹ hy sinh cả một đời cho con cái. Cũng thế, muốn thực sự giảm bớt được những tệ nạn của đời sống tính dục, thì phải tạo nên được một xã hội có phong hóa, giáo dục được nhiều công dân có đức độ, xây dựng được một bầu khí mà những giá trị nhân bản tốt đẹp trở nên những khái niệm chung của xã hội. Thế giới là một cuộc chiến gay gắt giữa cái xấu và cái tốt, chứ không phải chỉ là một chút lệch lạc cần sửa chữa, một chút yếu đuối cần được nâng đỡ. Chính cái thiện mới đủ tầm, đủ sức để chống lại cái xấu chứ không phải cái bình-bình.

3. Tình tự của ơn cứu độ Kitô giáo

3.1 “Cái ác” trở thành ”tội lỗi”

Kinh Thánh thì cho thấy cái ác nằm trong bản chất của con người, cái ác là tội tổ tông đè nặng trên dòng dõi Adam. Kinh Thánh cho thấy tội lỗi chính là một đường nét trong tình tự ơn cứu độ Kitô giáo. Trong hoàn cảnh thực tế của con người có tội, thì chính tội lỗi lại là khung cửa để con người nhận ra mối tương quan với Thiên Chúa. Theo nhãn quan Kinh Thánh, cái ác không phải chỉ là một sự bất toàn mà mình “có gan chơi” thì “có gan chịu”, nhưng cái ác đặt con người đối diện với Chúa và với tha nhân. Cái ác trở thành tội vì cái ác không phải chỉ là chuyện giữa ta với sự vật, những là chuyện giữa ta với ai khác. Cái ác trở thành tội, vì cái ác diễn tả trách nhiệm của ta với ai khác; cái ác không còn chỉ là vô minh, không còn chỉ là ngu dốt, không còn chỉ là lầm lẫn, nhưng là một thái độ bất trung. Chính vì thế, tội lỗi hé lộ cho con người nẻo đường đi vào ơn cứu độ. Như thế, trong chiều hướng của Thánh Kinh, để giải quyết cái ác, thì không phải là chọn phương cách giảm nhẹ cái ác, làm cho các ác trở thành một “sự vật”, nhưng một cách nào đó là gia trọng tầm mức của cái ác để trở thành tội lỗi, thành trách nhiệm đối với ai khác.

3.2 Tội lỗi và ơn cứu độ

Chính từ nẻo đường của mối tương quan ngôi vị tội lỗi đặt ra mà người Kitô hữu được mời gọi để đi vào ơn cứu độ trong Đức Giêsu Kitô. Chính người tội lỗi lại là những người có nhiều cơ may nhất để đón nhận được ơn cứu độ của Chúa, bởi vì họ nhận ra trách nhiệm của mình với Chúa và nhận ra mình cần tới Chúa. Nhận ra mức độ trầm trọng của tội lỗi để có thể nhận ra lòng khao khát ơn cứu độ; nhận ra sự bất trung để nhận ra nẻo đường của ơn cứu độ bằng tình yêu thương. Đó là một trong muôn vàn nét “đảo ngược” kỳ lạ của Tin Mừng Đức Giêsu Kitô :

“Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói với họ : "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi." (Mc 2,17).

“Vậy, tôi nói cho các ông hay : trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn”. (Lc 15,7).

3.3 Cứu độ và nên thánh

Các môn đệ của Chúa Giêsu không phải là những con người ưu tuyển, cả về phương diện trí thức cũng như về phương diện đời sống luân lý; các thính giả của Chúa Giêsu cũng không phải là những người có văn hóa cao hoặc là những người lành thánh nào cả. Ngược lại, những người chung quanh Chúa, hầu hết là những con người bình thường, hoặc có thể nói là tầm thường, hoặc rất tầm thường nữa. Dĩ nhiên, với những người như thế, Chúa Giêsu thường dùng những dụ ngôn, với những hình ảnh và những chuyện đời thường để tỏ bầy những chân lý cao siêu; và dĩ nhiên Chúa Giêsu cũng không thể một lúc trình bày được hết những mầu nhiệm thâm sâu của Thiên Chúa. Thế nhưng, về phương diện đạo đức, Chúa lại không ngần ngại đặt ra những lý tưởng cao vời của đời sống luân lý. Chúa không giảm nhẹ chút nào đòi hỏi của lý tưởng Tin Mừng. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó trong toàn bộ giáo huấn luân lý của Chúa Giêsu, đặc biệt trong bài giảng trên núi :

“Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5,48)

Nẻo đường mà Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ bước vào là một nẻo đường mà ngay cả những bậc thánh hiền cao cả nhất của nhân loại cũng không dám nghĩ đến :

"Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó”. (Mt 7,12).

Điều mình không muốn người khác làm cho mình, như đức Khổng Tử dạy, thì chỉ giới hạn trong một số điều thôi; nhưng điều mình muốn người khác làm cho mình thì lại vô cùng, không có giới hạn, đó mới chính là điều đức Giêsu dạy.

Chúng ta có thể thấy rõ, nẻo đường đi vào ơn cứu độ của Chúa Giêsu không phải là bình bình, vừa vừa, phai phải, nhưng là một bước nhẩy trọn vẹn và quyết liệt vào con đường nên thánh, vào con đường hun hút đến trời mà tự thân nhân loại không dám bước vào. Con đường ấy dĩ nhiên chỉ khả thi trong ơn cứu độ của Đức Giêsu, chỉ khả thi khi người Kitô hữu nhẩy vào thế giới của Nước Trời và đón nhận được sự sống mới trong ơn sủng của Chúa Thánh Thần. Quả thật tình tự của ơn cứu độ Kitô giáo chỉ có thể hình thành được từ con đường nhận ra tầm mức hệ trọng của tội lỗi để có thể bước vào con đường trở nên con cái của Thiên Chúa. Một cái ác lớn thì chỉ có thể được giải quyết bằng một cái thiện lớn.

“Nếu tôi dựa thế Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ, thì con cái các ông dựa thế ai mà trừ ? Bởi vậy, chính họ sẽ xét xử các ông. Còn nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông. Khi một người mạnh được vũ trang đầy đủ canh giữ lâu đài của mình, thì của cải người ấy được an toàn. Nhưng nếu có người mạnh thế hơn đột nhập và thắng được người ấy, thì sẽ tước lấy vũ khí mà người ấy vẫn tin tưởng và sẽ đem phân phát những gì đã lấy được.” (Lc 11,19-22)

4. Giáo dục Kitô giáo

Từ những suy niệm ở trên, ta cũng có thể đặt ra một vài vấn nạn cho nếp sống và phong cách giáo dục đức tin trong đời sống Giáo Hội hiện nay. Trong Giáo Hội, người ta phân biệt đời sống luân lý và tu đức là hai lãnh vực khác nhau. Đời sống luân lý là những đòi hỏi ở mức độ trung bình đối với người giáo dân, còn tu đức là lãnh vực riêng của một số người ưu tuyển. Đời sống luân lý của người tín hữu thì thường được hướng dẫn dựa theo Mười Điều Răn của Cựu Ước chứ không phải dựa theo các nhân đức Kitô giáo và nhất là dựa theo các ân sủng của Chúa Thánh Thần. Các bài giảng của linh mục rất thường là những bài giảng luân lý, nghĩa là kêu gọi nỗ lực của con người chứ không mấy khi công bố vận hành của thế giới mới, thế giới của Nước Trời. . . Trong chiều hướng đó, chẳng hạn, người ta thường giải quyết lời kêu mời : “hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44) bằng phương cách không gặp, không chơi, không làm việc với những người mà lòng mình không yêu thương được; và rồi người ta an tâm, dừng lại với phương cách đó mà không còn khao khát chờ đợi Chúa biến đổi lòng mình để có thể đón nhận được kẻ thù của mình.

Tất cả những điều ấy phải chăng cũng là đường hướng giải quyết cái xấu bằng cái không xấu ? Những điều ấy có vẻ khả thi, nhưng có phải là biểu lộ một niềm tin yếu kém về sự hiện diện của Nước Chúa ? Những điều đó phải chăng cũng chính là thái độ “tương đối hóa luật” của Chúa để khả thi hơn, như đức Gioan Phaolô II đã cảnh giác : “Bởi thế cho nên, điều mà người ta thường gọi là “luật tiệm tiến” hay con đường tiến từng bậc, không thể nào được đồng hóa với sự “chia luật thành từng bậc”, dường như thể là trong luật Thiên Chúa có những cấp bậc và những hình thức luật buộc khác nhau, tùy theo người và theo những tính cách khác nhau” (Tông Huấn Gia Đình, số 34) ?

Phải chăng đó là một lập trường luân lý khắt khe ? Phải chăng đó là thái độ không biết cảm thông với những yếu đuối, những tình huống éo le, những hoàn cảnh thương tâm của con người ? Vấn đề này là một vấn đề lớn của Giáo Hội Công Giáo hiện nay, nghĩa là người ta thấy lập trường luân lý của Giáo Hội, nhất là trong lãnh vực tính dục, quá khắt khe, khiến cho nhiều người không sống nổi; và đó cũng là một lý do khiến nhiều người xa lìa Giáo Hội. Các nghị phụ trong Thượng Hội Đồng Giám Mục 1980 đã đề ra luật tiệm tiến trong đời sống luân lý như một cách làm giảm bớt khoảng cách giữa thực tế cuộc đời và giáo huấn luân lý.

Tôi cho rằng con đường Kitô giáo là con đường có khả năng khởi đi từ đáy cuộc đời, nghĩa là từ những con người yếu đuối và ê chề nhất, để mời gọi đi lên đến đỉnh núi thánh cao vời nhất của Thiên Chúa. Con đường ấy vẫn khả thi với điều kiện người Kitô hữu phải bước vào thế giới của Nước Trời chứ không đi trên nẻo đường có vẻ song song của nẻo đường luân lý; với điều kiện giáo huấn Kitô giáo phải công bố được một tình thương giáng thế có khả năng liên lụy với những con người yếu đuối và ê chề nhất; với điều kiện tâm thức chung của Giáo Hội không đánh đồng mọi người trong một “bài thi luân lý” chung cho mọi người; với điều kiện những người yếu đuối và ê chề ấy không bị đe dọa để sống dúm dó trước Thiên Chúa như ông chủ nợ, nhưng được Thiên Chúa liên lụy như một Đấng giúp ta trả nợ đời.

Kết

Trước những khó khăn trong lãnh vực giáo dục của thế giới, Đức Bênêdictô XVI nói rằng : “Trong thực tế, vấn đề ở đây không phải chỉ là trách nhiệm bản thân của người lớn hay người trẻ - những trách nhiệm này có thực và không nên che đậy – nhưng còn có một bầu không khí lan tràn, một não trạng và một hình thái văn hóa khiến cho người ta nghi ngờ về giá trị nhân vị, ý nghĩa của sự thật và sự thiện, và xét cho cùng, người ta nghi ngờ về chính đặc tính tốt lành của cuộc sống” (huấn từ trước các phụ huynh, giáo chức và học sinh tại Roma, ngày 23-2-2008)

Trước cơn khủng hoảng về giáo dục hiện nay ở nước ta, chắc chắc cũng không thể nào không có khuynh hướng thích nghi đạo đức với thời đại mới, và ước vọng thích nghi chính đáng đó lại thường rơi vào lập trường giảm nhẹ lý tưởng, giảm nhẹ giá trị, giảm nhẹ khát vọng sự thiện sâu xa trong tâm hồn con người. Đó là một nguy cơ không nhỏ. Tôi nghĩ rằng giải pháp cho vấn đề luân lý của Giáo Hội Công Giáo không hẳn nằm trong lãnh vực luân lý, những lại nằm trong lãnh vực của đức tin, đức tin vào một Thiên Chúa, không phải chỉ như một ông thầy dạy bảo đường ngay nẻo chính, nhưng còn như người cha, người mẹ có khả năng liên lụy với hành trình trầy trật con con người. Cũng thế giải pháp căn bản cho vấn đề giáo dục của xã hội chúng ta không hẳn nằm trong những cách thức giáo dục, nhưng còn dính dáng tới động lực căn bản để con người có thể vươn lên đến sự thiện, điều mà xã hội vô thần trong thời bình này hình như đã không còn gì để truyền đạt nữa.

LỜI CHÚC DỮ CỦA CHÚA GIÊSU

Lời chúc dữ của Đức Chúa Giêsu
Rải rác trong tất cả mọi kinh điển của Thiên Chúa giáo, người ta thấy có rất nhiều lời chúc dữ được ghi lại. Trải qua dòng lịch sử của dân Chúa, hầu như các vị tiên tri và các nhà lãnh tụ ai cũng có những lời chúc dữ. Lời chúc dữ không những nhắm vào kẻ thù, kẻ tội lỗi, mà còn để răn đe dân lành.

Chẳng hạn: “Ta lấy chính danh ta mà thề… và chúc dữ cho những thành quách của nó trở nên điêu tàn muôn đời” (Giê 49:13). Hoặc “Thiên Chúa giáng lời chúc dữ xuống nhà kẻ gian ác” (CN 3:33). Nhiều học giả nhận định rằng lời chúc dữ, chẳng qua, chỉ là phong cách phát ngôn đặc thù thuộc loại ngôn sứ. Cùng một luận điệu, các vị tôn sư Đông Phương thường dùng trực ngôn như dao bén đâm thẳng vào tim óc người nghe. Vì đó là cách họ phá vỡ vỏ bọc “cái tôi” để đánh thức tâm linh đệ tử.



Tuy nhiên không phải tất cả những lời chúc dữ chỉ có tính cách sư phạm theo phong hóa thời cổ. Nghiêm trọng hơn thế, đã có những sự cố thật sự xảy ra đúng như lời chúc dữ tuyên án. Sách Sáng Thế ghi lại vào thủa mù mờ khởi đầu lịch sử loài người, Thiên Chúa đã chúc dữ cho con rắn và tổ phụ mẫu Ađam-Avà. Hậu quả của bản án đã thật sự xảy ra và vẫn còn kéo dài cho đến mãn thời. Tuy nhiên có điều cần phải soi sáng. Trong mọi lời chúc dữ của Thiên Chúa đều ẩn tàng ân sủng cứu độ, nhưng người ta chỉ có thể nhìn ra điều này trong ánh sáng mặc khải. Một mẩu truyện kỳ lạ được thánh Mátthêu ghi lại là truyện Đức Giêsu chúc dữ cho cây vả. Có lẽ biến cố kỳ dị này là một “mẫu chúc dữ” rõ ràng nhất giúp chúng ta thấy rõ bản tính Thiên Chúa và tình yêu sâu đậm của Người.

Lời Chúc Dữ Cho Cây Vả Không Trái

Có một lần kia trên đường nắng gắt từ Bêthania đến Giêrusalem, Đức Giêsu mệt mỏi trong cơn đói và khát. Từ xa Người thấy một cây vả to mọc bên sườn đồi. Hình dáng nó đẹp đẽ cành lá xanh tươi che rợp cả một vùng. Người tiến đến tìm một trái vả nhấm nháp cho đỡ khát, nhưng Người chẳng thấy một trái nào. Đức Giêsu lên tiếng mắng nó, “Cho đến muôn đời, mày sẽ không còn sinh ra được một quả nào nữa.” Sau đó các môn đồ của Người kinh ngạc kêu lên khi thấy cây vả bỗng nhiên bị chết khô (Mat 21:18-19).

Đây là một sự kiện kỳ diệu hiếm có. Kỳ diệu ở chỗ Đức Giêsu phơi bày trước mắt đệ tử một khoảng thời gian tích tắc của biến dịch—từ hưng thịnh đến suy tàn. Khoảng thời ngắn ngủi ấy đã bao hàm mọi giáo lý của Đạo trời. Trước khi cây vả rơi vào cõi chết, nó có cơ hội trình ra một trái cây, dù chỉ một trái. Khoảng thời gian ấy là ranh giới giữa thất vọng và hy vọng. Ai chứng kiến cây vả chết khô mà không bừng tỉnh thoát khỏi cái tôi cao ngạo rỗng tuếch, để thấy rõ chân thân của mình. Nhưng họ sẽ vui mừng vì nhìn ra niềm hy vọng sống còn. Họ sống chẳng phải vì họ có tài tránh né cái chết, nhưng chính nhờ tình thương của Thiên Chúa.

Vũ trụ vốn dĩ là hư vô. Duy chỉ có Thiên Chúa là Hữu. Không có gì có trước Hữu, nên Thiên Chúa là Đấng tự Hữu Tuyệt Đối. Từ điểm tựa Hữu Tuyệt Đối đó mà muôn vật được tạo ra. Thiên Chúa đã tạo dựng nên muôn vật từ hư vô. Nghĩa là mọi vật từ hư vô nhờ Hữu, qua Hữu mà được thành hữu thể. Vì từ Hữu mà ra, nên mọi hữu thể đều thuộc về Hữu, và hiện tính của Hữu có trong mọi hữu thể. Nói một cách giản dị Đức Chúa Trời ở khắp mọi nơi. Trong Thiên Chúa Ngôi Hai và nhờ Ngôi Hai mà mọi sự trên trời, dưới đất, hữu hình và vô hình, vương quyền hay tối uy, nguyên lý hay quyền lực được tạo thành. Mọi vật được sinh ra từ Người và vì Người. Người là Đấng tối thượng có trước vạn vật. Đức Giêsu Nazarét là tượng hình của Thiên Chúa Ngôi Hai vô hình. Trong Người và vì Người mà vạn vật kết hợp với nhau. Tất cả mọi sự nhờ an trú trong Người mà được hoàn mỹ trong viên mãn (1Cô 1:15-19).

Khi Thiên Chúa, Đấng tự Hữu Tuyệt Đối, không nâng đỡ hữu thể thì sự gì sẽ xảy ra? Khi Đức Giêsu không muốn kết hợp với cây vả nữa thì nó tức khắc không còn sự sống. Đức Giêsu đã phơi bày nhãn tiền rõ ràng như thế. Thực là một mạc khải siêu việt vượt khỏi sự tưởng tượng của trí óc con người. Điều này chứng tỏ rằng Thiên Chúa hằng nâng đỡ sự hiện hữu của vạn vật. Nếu thiếu sự nâng đỡ này cả vũ trụ sẽ trở lại hư vô. Trái lại khi Đức Giêsu kêu gọi ai, để ủy thác một việc nào đó. Hữu thể ấy bỗng vượt khỏi vị thế bình thường để có năng lực thần quyền. Một thí dụ điển hình khi Đức Giêsu kêu gọi môn đồ đi giảng đạo, tự nhiên họ có quyền năng trên các thần ô uế và có quyền lực chữa mọi bệnh hoạn và tật nguyền (Mat 10:1).



Mầu Nhiệm Phép Lạ Của Thiên Chúa

Kinh Thánh mang bản tính linh thiêng vì chứa đựng những hướng dẫn về ân sủng. Vì vậy những trình thuật siêu việt trong Thánh Kinh không dừng lại ở sự kiện lịch sử, nhưng mang dấu chỉ mạc khải. Chúng không thể hiểu theo nghĩa đen hay nghĩa bóng, mà phải hiểu qua ánh sáng thần học. Trong khi giới phê bình sử học thắc mắc câu truyện đã xảy ra thế nào thì thần học chỉ chú tâm đến ‎‎ý nghĩa của câu truyện là gì.

Thiên Chúa không tạo ra cây vả trong lỗi lầm để rồi phải tẩy xóa nó đi. Cũng không phải Đức Giêsu hủy bỏ sự sống của nó trong cơn tức giận, vì nó không có trái cho Người giải khát. Tất cả mọi người ở Giêrusalem đều biết cây vả không thể có trái vào lúc trái mùa, khi cây đầy lá. (1) Đức Giêsu khiến nó chết khô vì một l‎‎ý do siêu việt khác. Người muốn mạc khải cho chúng ta biết về số mệnh của con người. Do đó biến cố cây vả chết khô phải được nhìn là một phép lạ.

Kitô Giáo là tôn giáo duy nhất trên trần gian gắn liền với phép lạ. Kitô Giáo tự bản thể đã là một phép lạ cả thể. Lịch sử Kitô Giáo là những chuỗi phép lạ nối tiếp nhau theo dòng thời gian. Khởi đầu là phép lạ Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ từ hư vô. Rồi phép lạ Thiên Chúa nhập thế. Rồi phép lạ Đức Giêsu phục sinh tiêu diệt sự chết cho nhân loại. Các đệ tử của Đấng Kitô, như thánh Padre Pio, vẫn tiếp tục ban phép lạ. Nhận định về sự khác biệt giữa Kitô Giáo và các tôn giáo khác, C. S. Lewis, trong tác phẩm The Grand Miracle, cho rằng các tôn giáo khác không có phép lạ, nhưng tốt hơn là như vậy. Bởi vì phép lạ sẽ làm đảo lộn những gì mà giáo l‎ý họ rao giảng. Trái lại phép lạ chỉ làm rõ nghĩa hơn giáo l‎ý của Thiên Chúa Giáo.

Sư tốt tươi của cây vả chỉ để lòe mắt người nhìn nó từ đàng xa. Nó mang một giá trị giả hình. Nếu cây vả không có giá trị thật, nó sống có ích gì. Đức Giêsu đã làm phép lạ qua lời chúc dữ để mạc khải cho chúng ta biết nếp sống giả hình ấy không được Thiên Chúa chấp nhận. Nếu có một người/một hội đoàn/một giáo xứ… đạo đức siêng năng cử hành những nghi lễ phụng vụ ồn ào vang dội. Danh thế của họ to lớn đẹp đẽ. Uy tín của họ lan rộng như bóng cây che phủ một vùng. Nhưng thực chất những việc làm này chỉ có tính cách trình diễn xã hội và đề cao bè phái. Ngoài ra trong đời sống thật, họ không có một quả phúc nào. Dù chỉ có một quả với chút nước làm Chúa mát lòng cũng không có. Họ chỉ là những cây vả đẹp bề ngoài nhưng vô phúc bên trong.

Lời Chúc Dữ Cho Con Người

Trong thời gian rao giảng tin mừng, Đức Giêsu đã nhiều lần chúc dữ qua những dịp khác nhau. Người đã chúc dữ cho dân thành Khôrazin và Betsaiđa sống ở ven hồ. Người cũng đã chúc dữ cho nhóm Biệt phái, nhóm Sađóc, nhóm luật sư, nhóm ký lục… Lời chúc dữ cho con người xem ra còn nặng hơn cho cây vả. Đức Giêsu đã chúc rằng, “Khốn cho các ngươi Khôrazin và Betsaiđa, các ngươi sẽ phải nhào xuống hỏa ngục.” Người cũng đã nói, “Còn ngươi Caphênaum, ngươi ắt phải hạ xuống tận Âm phủ.” Với nhóm Biệt Phái và Ký Lục, Người mắng, “Khốn cho các ngươi, Ký Lục và Biệt Phái giả hình. Đồ mãng xà, nòi rắn độc. Làm sao các ngươi lọt khỏi án phạt hoả ngục?” (Mat 11:20-22).

Khi Đức Giêsu chúc dữ cho cây vả thì nó chết khô. Nhưng khi Người chúc dữ cho con người thì chẳng có ai hề hấn chi. Như vậy Đức Giêsu đã đối đãi với con người khác với cây cối. Thật sự Người yêu thương con người đến mức chịu chết vì họ. Tuy nhiên không phải Thiên Chúa cần có con người để bầu bạn hay để có ai đứng bên cạnh ca tụng. Thiên Chúa không hạnh phúc hơn hay vinh hiển hơn, vì Người vốn hằng trọn vẹn đầy đủ. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa là tạo ra một thế giới dở dang để con người có cơ hội hợp tác với Thiên Chúa trong cuộc sáng tạo. Đó là tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Do đó vũ trụ không im lìm nhưng biến dịch. Con người, tuy sinh ra với bản thể tự nhiên, nhưng có tiềm năng tiến hóa. Lời chúc dữ hay ân sủng của Thiên Chúa không làm tiêu hủy bản thể tự nhiên của con người. Lời chúc dữ hay ân sủng chỉ đánh thức tâm linh con người, giúp con người ‎ý thức sự hiện hữu của Thiên Chúa. Con người không toàn mỹ nhưng có khả năng tiến hóa. Vì vậy tiến hóa là sứ mệnh của con người.

Thiên Chúa không muốn con người phải chết, dù họ là kẻ tội lỗi. Người ban cho họ thời gian để cải thiện. Họ có thể bước qua ranh giới giữa chết và sống. Lời chúc dữ cho cây vả là một bản án tử hình tại chỗ vì nó không có khả năng cải thiện. Lời chúc dữ cho con người chỉ là lời mách bảo sự lựa chọn. Bản án của lời chúc dữ có xảy ra hay không tùy ở sự lựa chọn của con người. Dù bị chúc dữ, nhưng con người không bị mất một ân sủng nào. Trong mọi thời, con người có toàn quyền tự do chọn lựa sự đáp ứng. Nhân chứng Gioan đã nói, “Tôi, Gioan, nghe tiếng nói với tôi, ‘Thật vậy! Ta sẽ đến. Ta mang theo sự bồi hoàn cho từng người tùy theo công đức của người ấy. Ta là Alpha và Ômêga, đầu tiên và sau hết, khởi đầu và tận cùng’” (KH 22:12-14). Tiếng nói mà thánh Gioan nghe thấy là lời phán của Đức Giêsu. Chính con người, nhất là những ai bị chúc dữ, sẽ bị thiệt thòi nếu không nghe lời cảnh tỉnh của Thiên Chúa.

Thiên Chúa Gửi Đến Cho Con Người Niềm Hy Vọng

Khi ấy, các môn đệ của Đức Giêsu sững sờ nhìn cây vả chết khô. Thấy các đệ tử quá chú tâm đến bề mặt của vấn đề, Đức Giêsu đã làm giảm sự quan trọng của hiện tượng. Người nói, “Quả thật ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi có đức tin, thì chẳng những làm được điều như ta đã làm cho cây vả mà còn hơn thế nữa. Các ngươi bảo hòn núi này: ‘Hãy cất mình lên gieo xuống biển’ thì nó cũng phải tuân theo.” Sau đó Đức Giêsu hướng dẫn tâm hồn các đệ tử ra khỏi không gian u ám của cây vả. Người kết luận, “Vậy bất cứ mọi điều gì các ngươi xin trong khi cầu nguyện, hễ tin, chắc chắn sẽ nhận được hết cả.”

Câu kết luận này, như lạc điệu, vì không dính dáng gì đến hiện tượng cây vả chết khô. Chính lối diễn đạt này là phương cách khai tâm kín đáo nhưng thâm sâu của Đức Giêsu. Trong bất cứ biến cố tối tăm nào, Người luôn luôn gắn liền nó với một lối mở của hy vọng giải thoát. Như đã nói ở trên, trong mọi lời chúc dữ của Thiên Chúa đều có ẩn tàng ân sủng cứu rỗi. Ở đây, Đức Giêsu hướng tâm hồn đệ tử đến tâm điểm của ơn cứu độ. Người đã dùng điểm tựa biến cố cây vả để liên kết môn đệ đến một chiều kích giải thoát sự chết bằng đức tin và cầu nguyện. Ý Người muốn nói là hãy nhìn cây vả để biết rằng Thiên Chúa là Đấng toàn năng làm chủ vạn vật. Vậy hãy vững tin vào Thiên Chúa mà cầu nguyện.

Sau này, hơn ai hết, thánh Phêrô đã có dịp chứng nghiệm ý nghĩa của lời dạy này, khi thánh đi trên mặt biển đang trong cơn gió bão. Tự thánh Phêrô không thể đi trên mặt nước phẳng lặng, huống chi mặt nước biển đang trong cơn bão tố, nhưng Thiên Chúa làm được. Điều này xảy ra chỉ vì Phêrô có đức tin (Mat 14:24-31). Đức Mẹ Mễdu (Medjugorje) cho biết, “Các con không biết sao, cầu nguyện có thể hoán chuyển luật vũ trụ.” Cho nên việc con người có thể làm là cầu nguyện trong đức tin. Thiên Chúa là Đấng sẽ làm cho sự việc xảy ra.

Khi Đức Giêsu tỏ lộ bản tính Thiên Chúa của mình với ai đó, Người hướng dẫn họ qua hai cấp độ. Trước hết Người trao cho họ một chủ đề để họ suy nghĩ. Kế đó Người khai tâm một cách ẩn kín như thể chính họ tìm ra lời giải. Có lần Đức Giêsu đưa ra chủ đề với các Tông Đồ: “Thiên hạ nói Ta là ai?” các Tông Đồ lần lượt đưa ra những nghị luận. Cuối cùng Thiên Chúa mạc khải cho Phêrô nói ra, “Thầy là Đấng Kitô” (Mat 16:13-17). Lần khác Đức Giêsu đưa ra chủ đề với anh mù ở Giêrikô, “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mù đáp, “Thưa Thầy xin cho tôi được sáng mắt.” Đức Giêsu phán, “Hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh.” Lập tức anh ta nhìn thấy và đi theo Đức Giêsu (Mac 10:46-52). Như vậy sáng mắt là sự kiện phép lạ, nhưng sáng mắt tâm linh là khai tâm để thấy Đức Giêsu là Thiên Chúa và để đi theo Người. Đức Giêsu đưa ra chủ đề gì khi Người tạo ra biến cố cây vả? Các Tông Đồ chứng kiến ngày hôm ấy không ai thắc mắc tại sao Thầy lại tìm trái cây lúc trái mùa. Vì đó không phải là chủ đề Thầy trao cho họ. Họ chỉ để ‎ đến sự kiện cây vả chết khô vì trong lòng nó trống rỗng. Cây vả không thể có trái ngoài mùa gặt hái, nhưng con người thì không phải như vậy. Sự trống rỗng hay tràn đầy trong lòng con người không tùy thuộc vào thời gian. Đức Giêsu đưa ra lời giải: hãy lấp đầy tâm hồn bằng đức tin và cầu nguyện. Cầu nguyện không chỉ có ý xin ơn cho những nhu cầu hằng ngày, mà còn có ý xin vững lòng tin, hy sinh, phó thác, và chấp nhận mọi khốn khó. Cầu nguyện để hoán cải sự chết tâm linh thành sự sống. Lời hứa của Đức Giêsu và câu nói của Đức Mẹ Mễdu là phần thưởng dành cho những ai cầu nguyện trong đức tin.



________________
(1) Vào mùa Đông cây vả rụng hết lá. Cuối Đông cây có hoa. Qua Xuân cây có trái. Kế đó lá từ từ mọc ra. Đến khi lá đã mọc xum xê thì cây đã rụng hết trái.


Đỗ Trân Duy

Read more...


TỪ MUÔN ĐỜI ĐÃ CÓ LINH MỤC


Đức Thánh Cha Benedito đã công bố “Năm Linh Mục” bắt đầu vào ngày 19 tháng 6 năm 2009 dịp lễ Thánh Tâm vừa qua. Theo ý Đức Thánh Cha, Năm Linh Mục là thời điểm tuyên dương tất cả những hoa trái được nở sinh từ cuộc đời tận hiến của các linh mục, những hoa trái không chỉ tầm bổ đời sống người Kitô hữu, làm đẹp Hội Thánh, mà còn thánh hóa nhân loại.

Những ai không hiểu ơn gọi đời sống linh mục sẽ cho những điều vừa nói là những lời khen phóng đại theo kiểu người đời hay dùng để lấy lòng nhau, để làm cho một điều gì có tầm mức tương đối được ra vẻ thêm. Còn những ai hiểu phần nào ơn gọi linh mục sẽ đồng ý với Đức Thánh Cha là phải có một năm trời mới tuyên dương đủ đời sống tận hiến của các linh mục. Mỗi tháng trong Năm Linh Mục này tôi xin được chia sẻ cùng anh chị em một tư tưởng về đời linh mục hầu giúp cộng đồng chúng ta sống Năm Linh Mục cùng với giáo hội hoàn vũ.

Vậy chúng ta cùng bắt đầu ngay từ đầu với tư tưởng đầu tiên đó là “từ muôn đời đã có linh mục”. Khi chưa có vũ trụ, chưa có không gian hay thời gian, đã có linh mục, đó là vị Linh Mục Nguyên Thủy, Đức Giêsu Kitô. Từ muôn muôn đời Đức Chúa Cha đã có ý sáng tạo vũ trụ cho nhân loại, đã có ý tạo dựng nhân loại giống hình ảnh mình, đã có ý sai Con Một xuống thế làm người cứu độ nhân sinh. Từ muôn muôn đời Đức Chúa Con đã biết mình sẽ giáng trần để hiến thân mình làm của lễ tế cho tội lỗi muôn người. Đây, đây là nghĩa chính của cuộc đời linh mục, dâng mình trên bàn thờ làm thành của lễ tạ tội cùng Chúa Cha cho nhân lọai. Vậy Chúa Giêsu là Linh Mục đầu tiên, Linh Mục xứng đáng duy nhất, Linh Mục độc nhất vừa là đấng dâng của lễ vừa là của lễ, một đấng dâng của lễ chí thánh và một của lễ tòan thiện.

Anh chị em, làm sao lòng chúng ta không rung động, không ngỡ ngàng trước huyền nhiệm linh mục, một biến cố vượt không gian thời gian? Chúng ta hãy cùng nhau bắt đầu sống Năm Linh Mục bằng cách thì thầm với lòng rằng “Từ muôn đời đã có linh mục…”

Lm Nguyễn Uy Sỹ

LINH MỤC, NGƯỜI LÀ AI ?

Linh mục, Người là ai?

Ví như Tôn Tẩn đã nói răng: “Tri kỹ tri bỉ, bách chiến bách thắng” (Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng), thì linh mục chúng ta, trong cuộc chiến đấu vật lộn với đời, chúng ta cần phải biết chính mình.

Hôm nay, xin nói về vấn đề: “Linh mục, người là ai?”

Để đào tạo linh mục, Giáo Hội phải tốn bao nhiêu công sức và thời gian. Chúng ta là người trong cuộc, nhiều khi gần quá hóa quen, nên ít khi đặt lại vấn đề, ít khi xét lại để thấy căn tính của mình. Hôm nay trong những ngày phòng ngắn ngủi này, chúng ta hãy dành một ít phút để suy gẫm về chính mình, rà soát lại xem thế nào là linh mục đích thực, và chúng ta đã sống thiên chức linh mục ấy thế nào.

Vậy, linh mục, người là ai?

Hình ảnh của linh mục rất đa dạng nơi cảm nghĩ của dân chúng. Cách đây ba bốn mươi năm, linh mục là người dâng thánh lễ, cử hành các Bí tích, giảng dạy đức tin, luân lý, Kinh Thánh, là con người của Giáo Hội, độc thân, xa lìa thế gian, mặc áo dòng đen, một viên chức có quyền thế, một nhà quý phái có bàn tay trắng. Nhưng gần đây hơn, danh từ linh mục gợi lên trong trí óc người ta, hình ảnh của một người bạn nghèo, có bàn tay chai cứng, đấu tranh cho hòa bình, cho độc lập, cho tự do, tham gia chính trị, vận động yêu nước, chống tham nhũng…

Những ý tưởng chồng chất ngổn ngang, có khi mâu thuẫn và hời hợt như người ta móc đầy áo đủ loại trên một cái móc áo. Chúng ta hãy bắt đầu cởi bỏ những gì gán cho linh mục và chỉ giữ lại thực chất của linh mục, được truyền thống giới thiệu bắt đầu từ Chúa Giêsu cho đến các linh mục ngày nay.

Đã từ lâu, các nhà thần học, vì muốn truy tìm chính xác, đã tháo gỡ guồng máy Giáo Hội ra và đã định vị từng bộ phận. Do đó, họ đưa Đức Giáo Hoàng ra khỏi Giám mục đoàn, Giám mục ra khỏi linh mục đơn giản, tu sĩ ra khỏi những người được rửa tội, linh mục khỏi giáo dân, Đức Nữ Đồng Trinh khỏi các thánh khác và khỏi Hội Thánh chung chung, bảy phép Bí tích ra khỏi những động tác Bí tích của Hội Thánh. Tháo rời như vậy để hiểu rõ hơn từng bộ phận một.

Giờ đây, có chiều hướng đổi ngược. Các nghị phụ Công Đồng Vatican II cũng như các nhà thần học mới, ráp lại, đặt các bộ phận vào trong toàn khối. Họ đặt Đức Giáo Hoàng trong Giám mục đoàn và trong Hội Thánh (Phêrô tuy đứng đầu, nhưng cũng là một trong nhóm 12 và nhóm 12 cũng là toàn thể dân Chúa), đặt linh mục trong cộng đoàn tín hữu, đặt đời sống tu trì trong đời sống những người được rửa tội, đặt các Bí tích trong Hội Thánh và Hội Thánh được coi là Bí tích Mẹ, đặt Đức Trinh Nữ Maria vào Mầu nhiệm Chúa Kitô và Hội Thánh Người.

Đặc biệt đối với các linh mục, sự biến cải hiện thời của lịch sử, liên kết với nền thần học mới, đưa linh mục trở về hàng ngũ thực sự của mình. Ngày nay, linh mục có uy tín và thế giá, không phải chỉ vì ông được thụ phong linh mục, có chức thánh, mà quan trọng là do đời sống tông đồ và mục vụ của mình. Bởi lẽ, xưa kia người ta coi linh mục là người thông biết mọi sự. Ngày nay, cùng với sự phổ thông văn hóa, linh mục không còn là người duy nhất nắm giữ kiến thức. Người giáo dân bây giờ cũng thông thái, có khả năng chuyên môn, ngay cả cũng đào sâu Kinh Thánh, giáo luật; có những người có bằng cấp cao trong các trường đại học công giáo. Còn về tu đức, có những giáo dân được công nhận như bậc thầy. Họ cũng giảng phòng, làm cố vấn thiêng liêng như các linh mục, chẳng hạn như anh Francois Duff, sáng lập Legio Mariae.

Đàng khác, trong xã hội tục hóa hiện nay, các linh mục không có vai trò nổi bật nữa. Không còn lối sống riêng cho linh mục nữa, không có chỗ dành riêng cho các linh mục trên khán đài danh dự nữa. Linh mục cũng không than phiền về vấn đề này. Không còn là tai mắt đáng được để ý, linh mục lấy làm hạnh phúc sống hòa mình trong cộng đoàn huynh đệ, thích làm một tín hữu giữa các tín hữu, thích làm một công dân như các công dân khác.

Nhưng không phải vì thế mà chúng ta từ bỏ căn tính độc đáo của linh mục. Trong thánh lễ truyền chức linh mục, Đức Giám Mục hỏi ứng viên:

- “Con quý mến, con có muốn trở thành linh mục, cộng tác viên của Giám Mục trong chức linh mục, để phục vụ và dẫn dắt Dân Chúa dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần không?”

- “Con có muốn trung thành chu toàn tác vụ Lời Chúa, nghĩa là rao giảng Tin mừng và trình bày giáo lý Đức Tin công giáo theo truyền thống của Hội Thánh để ngợi khen Thiên Chúa và thánh hóa Dân Kitô giáo không?”

- “Con có muốn mỗi ngày kết hiệp với Linh Mục Thượng Phẩm là Chúa Kitô, Đấng tận hiến mình cho Cha Người và với Người, thánh hiến con cho Thiên Chúa để cứu rỗi loài người không ?”

Sau khi ưng thuận và hứa vâng phục Đức Giám Mục, tiến chức đến quỳ gối đặt tay vào lòng bàn tay Đức Giám Mục. Rồi cộng đoàn đọc kinh cầu Các Thánh, cả triều thần thánh, cộng đoàn Dân Chúa đều tập hợp và cầu nguyện cho tiến chức đang nằm phủ phục dưới đất. Đó là hình ảnh tuyệt đẹp, gây xúc động trong ngày thụ phong linh mục.

Các câu hỏi trên đây trình bày súc tích căn tính của linh mục, đó là hợp tác với Giám Mục điều hành dân Chúa, rao giảng Lời Chúa và trao ban các Bí tích. Làm mọi sự liên kết Đức Giám Mục trong kính trọng và vâng lời. Nói cách khác, linh mục là hiện thân của Đức Kitô, làm đầu của Nhiệm Thể Người là Hội Thánh, kéo dài sự nghiệp Chúa Giêsu ở trần gian để điều hành Dân Chúa, thánh hóa và rao giảng Tin mừng. Nếu thánh Phaolô đã nhận xét về mình trong câu bất hủ: “Nay tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà Chúa Kitô sống trong tôi”, thì linh mục cũng có thể khiêm tốn tự hào nói lên: “Nay tôi nói và làm, nhưng không còn là tôi, mà Chúa Kitô nói và làm qua tôi”.

Khi nhìn ngắm đóa hoa phô sắc trên bàn thờ, người ta dễ quên đi quá trình hình thành của nó. Nếu chúng ta theo dõi cây hoa từ khi mới được ươm trong vườn, nó phải chống chọi với sương nắng, với gió lạnh, đương đầu với khí nóng, phải hút lấy nhựa sống, hô hấp khí trời và thải ra những chất carbon. Tất cả những tiến trình này phải lựa chọn và từ bỏ liên tục mới đi đến thành công, giúp chúng ta đánh giá đúng mức sự quý báu của đóa hoa mà chúng ta đang nhìn ngắm.

Cũng vậy, từ một cậu bé chập chững đi vào Tiểu Chủng Viện với cả một trời bí mật bao trùm trên con đường ơn gọi cho đến lúc lớn khôn, trưởng thành dần dần, chú rồi thầy, rồi mới đến cha, bao nhiêu là thử thách, bao nhiêu là cố gắng, bao nhiêu là kiên nhẫn đợi chờ. Quá khứ nặng nề ấy chúng ta đã vượt qua, nhưng đàng trước, là bổn phận, là trách nhiệm. Đời sống linh mục có vẻ đầy đủ, có khi khá huy hoàng, nhưng là đời sống hy sinh, phục vụ quên mình, thì làm sao không đau khổ. Trách nhiệm chồng chất, trách nhiệm trong sự đều đều đến kinh sợ, và trước tiên, là đời sống cô độc. Có thể ví cuộc đời linh mục với thân phận con gà treo, tuy bên ngoài đầy đủ thức ăn nước uống, nhưng phải đứng im trong ô chuồng không cựa quậy, trong một không gian chật hẹp, mỗi ngày có bổn phận đẻ cho chủ một quả trứng, không được đi đó đi đây, không được bươi móc như các con gà khác, vì nếu được tự do thong thả thì mất trứng.

Trong xã hội vật chất và hưởng thụ, người ta bảo đời sống linh mục như vậy là gò bó, không thoải mái. Nhưng có đời sống nào trên trần gian này hoàn toàn thoải mái? Công nhân, thợ thuyền, giáo chức, nông dân, thương gia, sinh viên…, mỗi người cũng phải nai lưng làm việc, phải chu toàn mọi trách nhiệm của mình, phải đấu tranh vật lộn với đời và phải tuân thủ mọi lề luật. Chỉ có lúc ngủ quên hay chết, chớ không bao giờ nói đến chuyện thoải mái, nếu mỗi người muốn sống nghiêm chỉnh theo căn tính của mình.

Còn hơn thế nữa, linh mục là người của muôn người, được sai đi để phục vụ, để làm đầy tớ thiên hạ, thế tất phải sống đời hy sinh, còn lâu và còn xa mới nói đến chuyện thoải mái vô tư trong đời sống mục vụ. Đúng như Cha Chevrier đã nói: “Linh mục là người bị ăn”. Bị ăn, thế tất phải hao mòn thân xác và tinh thần.

Không thể nghe theo những kẻ bệnh hoạn, kêu la ầm ỹ, lượng định cách lệch lạc giá trị cao cả của chức linh mục. Còn tệ hơn nữa, là đang mang trong mình kho tàng quý báu, không biết coi trọng, lại làm hoạt kê chân dung linh mục trong đời sống mình. Đa số 90% linh mục âm thầm làm việc, tiến bước trên con đường trọn lành bằng những bước chân vững chắc, can đảm đương đầu với mọi thử thách gian lao. Những người không sanh sự, không khoác lác, ồn ào thì không được dư luận để ý đến, còn thiểu số kia bỏ cuộc, thì báo chí, truyền thanh, truyền hình làm rùm beng gây tiếng vang ầm ỷ. Sức sống thiêng liêng do các linh mục mang lại đang trào dâng từ đầu não, lan tỏa khắp thân thể là Giáo Hội. Tại sao nói là đầu não? Bởi lẽ linh mục, hiện thân cho Chúa Giêsu, là Đầu của Thân Thể Người là Giáo Hội. Trong sắc lệnh về “Chức vụ và Đời sống linh mục”, Công Đồng Vatican II có dạy: “Vì được liên kết với chức Giám Mục, nên chức năng của các linh mục cũng tham dự vào quyền bính mà chính Đức Kitô đã dùng để kiến tạo, thánh hóa và cai quản thân mình Người. Vì vậy, chức linh mục tuy dựa trên các Bí tích khai tâm Kitô giáo (rửa tội, thêm sức và Thánh Thể), nhưng lại được một Bí tích riêng in dấu đặc biệt khi họ được Chúa Thánh Thần xức dầu và làm cho nên giống Chúa Kitô Linh Mục, hầu làm cho họ có khả năng nhân danh Đức Kitô Đầu mà hành động”.

Trong quyển sách tựa đề “Hình ảnh mới của Hội Thánh”, Đức cha Ancel viết như sau: “Muốn hiểu các linh mục, phải nhìn vào Giám Mục; muốn hiểu các Giám Mục, phải nhìn vào các tông đồ;muốn hiểu các tông đồ, phải nhìn vào Đức Kitô xét như Đầu của thân thể, là Đấng sáng lập và cứu chuộc Hội Thánh, một Hội Thánh đang nhờ trung gian của Chúa Thánh Thần mà Người đã sai đến để giảng dạy, thánh hóa và dẫn đưa mọi người về với Chúa Cha”.

Như vậy, linh mục vừa là người được rửa tội, trước hết và luôn luôn, linh mục ở trong cộng đoàn tư tế của dân Chúa, là chi thể cùng với các chi thể khác trong thân mình của Đức Kitô.
Vừa là người được truyền chức, linh mục đồng thời cũng là người đứng trước cộng đoàn, như thể một ai khác đang triệu tập và nói với cộng đoàn, như thể là Đầu của Thân Mình ấy. Như vậy, chúng ta có thể rút từ đây, những phận sự chính yếu của linh mục là rao giảng Tin mừng, cử hành các Bí tích và dẫn dắt đoàn chiên Chúa giao phó.

Linh mục là cộng sự viên của Giám mục, nên trước tiên có nhiệm vụ loan báo Tin mừng của Thiên Chúa. Lãnh nhưng không, phải cho nhưng không. Lãnh Lời Chúa để phát, linh mục mắc nợ với mọi người. Các linh mục phải thông truyền chân lý Tin mừng mà Chúa đã trao cho họ và phải ra sức thực hiện điều này trong mọi trường hợp, dù khi họ sống một cuộc đời tốt đẹp gương mẫu giữa dân ngoại, lôi kéo dân ngoại ca tụng Thiên Chúa, dù khi họ công khai giảng thuyết cho những người chưa tin, dù khi họ dạy giáo lý Kitô giáo hay giải thích học thuyết của Hội Thánh cho các tín hữu, hoặc chuyên lo nghiên cứu những vấn đề thời đại đi nữa, nhất là chu toàn bổn phận truyền giáo đối với lương dân.

Cha Andrée Depierre đã viết trong quyển “Gió muốn thổi đâu thì thổi” những lời trăn trở sau đây: “Tôi thiết tưởng không phù hợp với Kitô giáo khi đa số linh mục đều phục vụ các cộng đoàn dân Chúa được quy tụ trong Hội Thánh và chỉ một số nhỏ các linh mục lo cho những người chưa nhận biết Đức Kitô, mà số này đông biết bao”.

Phận sự thứ hai của linh mục là thánh hóa Dân Chúa: các linh mục được Thiên Chúa hiến thánh để tham dự đặc biệt vào chức linh mục của Chúa Kitô và để trong khi cử hành các việc thánh, họ hành động như những thừa tác viên của Đấng, nhờ Thánh Thần của mình, vẫn không ngừng thi hành chức vụ để mưu ích cho chúng ta. Thực vậy, nhờ phép rửa, họ dẫn đưa con người gia nhập vào Dân Thiên Chúa; nhờ Bí tích thống hối, họ giao hòa tội nhân với Thiên Chúa và Hội Thánh; nhờ việc xức dầu bệnh nhân, họ xoa dịu những ai đang đau đớn; nhất là nhờ việc cử hành thánh lễ, họ tiến dâng hy lễ của Đức Kitô cách Bí tích. Như thế, tiệc Thánh Thể là trung tâm của cộng đoàn tín hữu mà chủ sự là linh mục. Ngoài ra, kinh Nhật Tụng hay Phụng Vụ Các Giờ Kinh làm cho linh mục kéo dài thánh lễ suốt ngày, đồng thời qua đó, các linh mục nhân danh Giáo Hội, thành khẩn cầu cùng Thiên Chúa cho toàn dân đã được trao phó cho các Ngài, và hơn nữa, các Ngài cầu cho toàn thể thế giới.

Thừa tác vụ thứ ba là làm chủ chăn Dân Thiên Chúa. Tuy phân biệt thừa tác vụ linh mục làm ba chức năng như xưa nay, đáp ứng với những khía cạnh thật của sứ mệnh linh mục, nhưng trong cụ thể, khi sinh hoạt, thì cả ba gắn liền và hòa trộn lẫn nhau chẳng khác nào việc hô hấp, tiêu hóa và tuần hoàn trong cùng một cơ thể. Lời Chúa không ngừng lại ở ngưỡng cửa Bí tích, trái lại ở đó, nó còn âm vang mạnh mẽ vì tất cả các Bí tích đều là những Bí tích đức tin. Cũng vậy, chức vụ chủ chăn quy tụ Dân Chúa không phải là chuyện làm sau khi cử hành xong phép Thánh Thể, nhưng là quy tụ để cử hành Thánh Thể. Một khi đã dành ưu tiên cho việc phúc âm hóa và quan tâm đến các con chiên lạc, thì các bổn phận khác sẽ được bảo đảm và hòa chung trong một chức vụ chăn chiên. Như vậy, linh mục là người quy tụ mọi người trong Đức Kitô Giêsu, xây dựng cộng đồng, mở rộng cộng đồng ấy và liên kết với mọi cộng đồng trên thế giới, nói cách khác, đào tạo và làm tăng trưởng Thân Thể Chúa Kitô.

Sau khi ôn kỹ bản chất và các chức năng của linh mục, chúng ta hãy xét xem chúng ta sống chính danh như thế nào. Mỗi ngày chúng ta có luôn trau dồi kiến thức về Kinh Thánh để rao giảng không phải lời riêng của mình, mà Lời Chúa cho giáo dân đang khao khát của ăn nuôi hồn không ? Chúng ta có chịu khó suy gẫm trước và thực hành những điều chúng ta phải trình bày cho dân Chúa không? Hay chúng ta đã lợi dụng tòa giảng như diễn đàn để tranh biện, để tự khẳng định mình hoặc chửi mắng la rầy giáo dân? Thật ra, có lúc cần phải sửa dạy, nhưng luôn dùng lời tao nhã, luôn dùng văn từ sao cho xứng với thiên chức linh mục của mình. Hãy bắt chước tiên tri Nathan khi phải sửa sai Đavit.

Chúng ta có luôn ra sức dâng lễ sốt sắng, không đọc lua láu quá nhanh hay kề cà quá chậm, làm sao cho Dân Chúa tham dự thánh lễ sốt sắng và tiếp cận với hy lễ tuyệt vời này một cách hữu ích để lãnh nhận tối đa ơn thánh không?

Hãy rà soát lại cung cách chúng ta giải tội. Có coi đó như một phương tiện tốt để hòa giải nhân loại với Chúa, những người anh em với nhau, hay coi đó chỉ là xâu bơi cực nhọc? Linh mục trong tòa giải tội đóng nhiều vai trò tế nhị: vừa là cha, là thầy thuốc, là bạn, vừa là thẩm phán, nhưng cũng là thầy dạy, là mẹ hiền.

• -Chúng ta có sẵn sàng giải tội khi giáo dân cần đến, hay chúng ta cứng nhắc tính giờ định khắc để biến việc xưng tội của giáo dân thành khổ cực và đáng ngại không?
• -Chúng ta có sẵn sàng đi kẻ liệt vào bất cứ giờ nào trong niềm xác tín đây là dịp cuối cùng để chúng ta tiễn đưa một cách quyết định người con chiên của chúng ta vào cõi sống muôn đời không?
• -Chúng ta có chuẩn bị thanh niên nam nữ đi vào cuộc hôn nhân cách chu đáo không?
• -Chúng ta có tích cực tìm hiểu ơn gọi, nuôi lấy những mầm non để sau này đưa các thanh niên ấy vào các dòng tu, các chủng viện, và tích cực tạo điều kiện tốt để họ sống đời sống dâng hiến trong tôn thờ và phục vụ đắc lực hơn không?
• -Chúng ta có làm mọi sự với nhiệt tình Nhà Chúa không?
• -Trong đời sống mục vụ, trong giáo xứ, trong môi trường đào tạo, chúng ta có cư xử đầy tình bác ái và xây dựng với những cộng sự viên của chúng ta không?
• -Chúng ta có để cho các linh mục đồng nghiệp, cho những ông câu, ông biện, những người trong ban hành giáo có sáng kiến không? Chúng ta có tôn trọng những đề nghị của họ không?
• -Chúng ta có lắng nghe trong đối thoại chân thành và quyết định cách khách quan không? Hay chúng ta biến họ thành những dụng cụ sai vặt như những người đầy tớ phải tuyệt đối vâng lời ông chủ? Chúng ta có bóp chết mọi sáng kiến của họ, chỉ đề cao cá nhân của mình một cách chủ quan, chỉ cho mình là trung tâm truyệt đối bất khả ngộ?
• -Chúng ta có ra sức tổ chức các lớp giáo lý có hệ thống, có tìm những giáo lý viên đắc lực, có sắp xếp các lớp theo lứa tuổi và theo nhu cầu?
• -Chúng ta có tìm mọi cách biết rõ con chiên của mình để tận tình giúp đỡ hay là dửng dưng sống chết mặc bay?
• -Trong đời sống xã hội, với người lương cũng như giáo, chúng ta có ngay thẳng trong lời nói, trong phong cách, trong lối đối xử, cách ăn uống, nhất nhất phải ý tứ cẩn thận, vì qua đời sống của linh mục, người ta phải nhận ra dáng dấp của Chúa Giêsu Cứu Thế?

Những tiêu chuẩn được đưa ra cho các linh mục xưa nay là: Thánh thiện, nhiệt thành, trở nên muối đất đèn đời, hoàn toàn quên mình trong sứ vụ, bất chấp khó khăn, hoạt động hăng say dưới nhiều hình thức khác nhau để mở mang Nước Chúa, nêu gương nhân đức, chăm lo cho con chiên cả tinh thần lẫn vật chất. Muốn đạt được những tiêu chuẩn ấy, linh mục cần phải tự huấn luyện mình quảng đại, nhiệt thành, nội tâm sâu sắc, sống giản dị, phục vụ tận tình, sẵn sàng đối thoại không định kiến. Như vậy có quá đòi hỏi nơi linh mục hay không?

Tại sao phải dồn hết gánh nặng trên vai của linh mục?

Đúng là sứ vụ của linh mục rất vinh dự nhưng cũng rất nặng nề. Một viên ngọc quý được đặt trong bình sành. Nhưng có Chúa ở cùng, chúng ta không lo sợ. Vì theo sát gót Chúa Giêsu, nên bổn phận chúng ta cũng làm con người-Chúa như chính Đức Kitô. Có nghĩa là làm trung gian giữa trời và đất.

Sau đây tôi xin giới thiệu một chứng nhân anh hùng: suốt đời chứng nhân đó đã theo sát gót Chúa Giêsu trong ơn gọi của mình. Người đó là cha Đamiên, biệt danh tông đồ người hủi ở đảo Molokai, một đảo nằm trong quần đảo Hawai, giữa Thái bình dương. Tại đây, từ 700 đến 800 người mắc bệnh phong hủi đàn ông, đàn bà, trẻ con chồng chất trong một phòng nhỏ của đảo, bị đuổi ra khỏi những đảo lân cận mà trước kia họ ở, để khỏi lây bệnh cho người khác. Mảnh đất chật hẹp dành cho họ phía trước mặt là đại dương, phía sau là một dãy núi sừng sững bao quanh, khó bề thoát ra được. Lúc đó, người ta đã biết rõ thế nào là phong cùi: một bệnh làm cho thân xác mỗi ngày thêm thối rữa, người ta chứng kiến cảnh thối dần, thối dần, cho tới khi toàn thân biền thành cái thây ma. Khi bệnh phát hiện, người ta biết từ đây trở nên dị dạng dị hình, không thuốc men, chỉ có một việc là chờ chết.

Mọi người chỉ sống trong những túp lều cất bằng gốc cây già và lợp lá; quần áo của họ chỉ còn là những tấm giẻ rách thối tha. Nước quá thiếu để được tắm sạch, muốn có một chút khí để thở phải ra khỏi lều. Người bệnh nhẹ luôn bị ám ảnh trước mắt mình những khuôn mặt biến dạng, tay chân cụt ngủn đầy những ung nhọt, và rơi rụng dần dần, xông ra những mùi nồng nặc. Rồi đây họ cũng sẽ trở nên giống như vậy. Không ai săn sóc họ, họ chỉ sống nhờ nguồn tiếp tế duy nhất đến từ chính phủ Hawai. Khi dù mang thực phẩm được thả xuống, họ cướp giật tranh nhau, họ không thiết gì canh tác trồng trọt, chỉ có một điều cần duy nhất là rượu, uống rượu để quên hết những đau khổ và ưu phiền. Với những người mới đến, người ta tuyên bố ở đây không có luật lệ gì hết. Đó là sự thất vọng hoàn toàn, một sự dơ bẩn ghê tởm nhất. Không có ai mang lại cho những người xấu số này một chút hy vọng sao? Cho tới lúc đó, chỉ có những nhà truyền giáo tạm dừng chân một vài ngày rồi lại đi mất, nhưng Thiên Chúa đã không thể bỏ con cái Ngài.

Năm 1873, một nhóm sáu nhà truyền giáo họp với Đức Giám mục. Đức Giám mục bày tỏ: “Khắp nơi trong địa phận nhà đã được Phúc âm hóa”. Một trong các vị truyền giáo trả lời: “Thưa Đức Cha, Đức Cha đã quên một hòn đảo, phải, hòn đảo đó là Molokai. Các nơi khác có thể là thiên đàng, nhưng Molokai quả là một hỏa ngục”. Một vị khác tuyên bố: “Con đây sẵn sàng được chôn sống giữa họ”. Mọi người quay nhìn vị truyền giáo đó và nhận ra là cha Đamiên, một linh mục trẻ, sinh tại nước Bỉ vào năm 1840 và từ 18 tuổi, đã ước ao làm nhà truyền giáo. Ngài có mặt ở quần đảo Hawai từ 10 năm nay, thay thế anh ruột mình, một linh mục trẻ định sang truyền giáo ở đây nhưng chết trước khi thi hành ý nguyện. Đức Giám Mục chấp thuận đề nghị nhưng với ý định chỉ để cha ở đó ít tháng thôi.

Sau một thời gian, Đức Giám mục nhận được thư những người hủi, trong đó có viết: “Thưa Đức Cha, cám ơn Đức Cha vì đã gởi đến cho chúng con một linh mục, nhưng tại sao Ngài lại muốn cất linh mục ấy đi, vì linh mục này yêu thương chúng con nồng nàn và rất muốn ở lại với chúng con?”. Đức Giám Mục bằng lòng chấp thuận, và trước mặt những tín hữu mới của Ngài, cha Đamiên tuyên bố: “Các con quý mến, cha sẽ ở với các con cho đến mãn đời. Đời sống các con là đời sống của cha, và nếu Chúa muốn, một ngày nào đó bệnh của các con cũng là bệnh của cha. Cha sẵn sàng trở nên hủi với chúng con”. Trong cái nghĩa địa sống đó, cha Đamiên không ngừng làm phát triển đức ái.

Một ngày khi trở về lều mình, cha nghe một tiếng yếu ớt phát ra từ miệng hố. Ngài nhìn xuống và thấy một người hủi nằm gọn trong đó. Ngài hỏi: “Con làm gì ở dưới vậy?”, người hủi trả lời: “Những người khác đuổi con, con không chống lại được, người ta nói con không cần lều để chết”. Cha Đamiên đưa người đó vào lều mình và đặt người đó trên giường mình.

Lần khác, Ngài đi ngang qua một hố đổ rát, thấy một người đẩy một chiếc xe cút kít, sau đó hắt một vật gì trên xe xuống đống rác, cha tưởng là đồ dơ, nhưng khi vật đụng đến đất, một tiếng người khẽ rên lên. Người ta đã không đợi cho anh ấy thở hơi cuối cùng để vứt vào đống rác.

Cha Đamiên, từ đó, tự đi đóng cho mỗi người một cái hòm. Để chôn những người xấu số này, cha đã lập một nghĩa địa. Cha Đamiên lo lắng chăm sóc cho hết mọi người, băng bó mọi vết thương, đỡ nâng những người không đi nổi, khai mở nước từ xa về để cho người phong cùi tắm rửa sạch sẽ. Những túp lều cũ thối hôi đầy gián, mối, cha phá đi để cất những lều mới. Cha Đamiên quả thật là một người cha của mọi người, ngay cả đối với những người lúc đầu tìm cách trục xuất Ngài khỏi đó. Có những lúc Ngài gặp những trở ngại to lớn: chính phủ từ chối không cho Bề trên Ngài đến thăm Ngài, hay đến nơi Ngài ở. Ngài đành phải đứng dưới thuyền để xưng tội to tiếng cùng với một linh mục đứng giải tội trên tàu, vì sợ lây bệnh, nhà nước không cho cha ấy xuống đảo.

Năm 1885, sau một lần đi thăm bệnh trở về, cha thấy chân mình nhúng vào nước sôi mà không biết nóng. Đó là dấu Ngài bị lây hủi. Ngài viết cho Đức Giám Mục: “Người ta thấy có những vết đỏ trên má con, bên tai trái con, lông mày rụng, rồi đây con sẽ trở nên dị dạng. Con cảm thấy rất an bình và hạnh phúc hơn bao giờ ở giữa dân tộc của con”. Ngài tiếp tục làm việc bốn năm nữa với cơn bệnh ngày càng phát triển. Ngày 30.03.1889, Ngài nằm liệt giường, Ngài nói: “Hãy xem tay tôi: các vết thương đều đóng lại, vảy trở thành đen. Đó là dấu chỉ sự chết đến gần. Hãy xem mắt tôi: tôi đã giúp bao người hủi hấp hối, tôi không lầm, sự chết không còn xa”. Ngài chết ngày 15.04.1889.

Tấm gương anh hùng trên đây đã nhắc cho chúng ta bổn phận sống lời cam kết mà chúng ta đọc mỗi ngày: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến”. Loan truyền và tuyên xưng không phải chỉ bằng môi miệng, hay như người ta thường nói “đầu môi chót lưỡi”, nhưng bằng chính cuộc sống mình. Biết hy sinh, biết chết đi như Chúa Kitô trên thập giá, như cha Đamiên tông đồ người hủi, trong niềm hy vọng sống lại với Chúa.

Không cần gì dốc lòng nhiều lời, hãy cố tâm thực hiện cho bằng được những cử chỉ, dầu nhỏ mọn, để hy sinh và mang lại niềm hy vọng, được như thế, là chúng ta đạt được những gì Chúa muốn và những gì lòng ta, những linh mục chân chính, đầy thiện chí, hằng ước mơ.

+ GM Phêrô Nguyễn Soạn

Read more...


NHÂN PHẨM CON NGƯỜI

Nhân phẩm con người
Thời còn làm ông vua con trong giới trẻ thành Assisi, thánh Phanxicô đã kinh tởm, xua đuổi một người phong hủi mà, vào thời các ngài, xã hội đã đối xử với họ như một người đã chết. Ngài nhìn người khốn khổ theo giá trị vật chất, theo nấc thang giầu nghèo làm thước đo về mặt nhân phẩm của con người.

Nhưng sau này, khi đã say mê Đức Kitô, Ngài không những giúp đỡ, ân cần, gần gũi với người nghèo khổ mà còn ôm hôn họ nữa. Ngài đã tin rằng mỗi người là một Kitô khác- Alter Christus. Với lòng tin mãnh liệt vào Thiên Chúa, Ngài đã nhận ra nhân phẩm cao quí nơi những người đói khát bệnh tật là hiện thân của Đức Kitô. Như vậy, phép lạ đã xảy ra khi Ngài đi từ cái nhìn mang nặng quyền lợi trên tiền bạc, danh vọng làm giá trị nhân phẩm sang cái nhìn của đức tin, mà “đức tin hành động nhờ đức ái.”

Cái nhìn hẹp hòi của người đồng hương với Chúa Giêsu đã khép kín các phép lạ của Người. Chính vì thế mà thánh Marcô đã kết thúc bài Tin Mừng hôm nay:
“Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó.”
“Và họ vấp ngã vì Người.” (Mc 6, 5a. 3b)

Nghĩa là họ kinh thường nhân tinh nghèo hèn của Người.

Cũng vậy, vào thời các tông đồ đi rao giảng, sau khi Chúa Giêsu về trời, các ngài vẫn bị người cùng thời coi khinh như sách công vụ tông đồ kể lại:

“Họ thấy ông Phêrô và Gioan mạnh dạn và biết rằng hai ông là những người không chữ nghĩa và thuộc giới bình dân, nên ngạc nhiên. Họ nhận ra hai ông là những người đi theo Đức Giêsu; đồng thời họ lại thấy người đã được chữa lành đứng đó với hai ông, nên họ không biết đối đáp thế nào.” (Cv 4, 13-14)

Sau khi được Chúa đánh động thúc bách, tôi đi thăm những người nghèo bệnh tật. Họ là những người bỏ đồng ruộng để “di dân” về thành phố làm ăn sinh sống. Họ sống rất khắc khổ. Chỗ họ trọ chật hẹp và thiếu thốn nhiều nhu cầu tối thiểu của đời sống. Công việc thì thất thường. Bán vé số. Mua ve chai. Nhặt bọc “nylon” phế thải. Lượm rác đủ loại, đủ cỡ. Thu nhập bấp bênh không thể lường trước được. Lúc đói lúc no. Bữa cơm bữa cháo. Thế rồi bệnh tật bất chợt ập tới. Họ rơi vào một hoàn cảnh rất bi đát, cực kì đau thương vì không có tiền để nhập viện chữa trị. Phó mặc cho số kiếp. Buông xuôi cho định mệnh.

Khi đến thăm họ với chút quà nhỏ bé, họ rất cảm động và thường đau xót than thân trách phận: “Nỗi đau lớn nhất của người nghèo khổ chúng tôi là không ai cần đấn tình bạn của chúng tôi cả!”

Như vậy, khi có người đến thăm viếng, đối với họ, đã là một dấu chỉ của niềm vui, của ủi an rất quí hiếm và gây xúc động đến trái tim cô đơn của họ. Câu nói đầy xót xa đã khiến tôi liên tưởng đến sứ vụ của Chúa Giêsu. Đấng Cứu Thế đến với nhân loại.

“Ngài mặc thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế.” (Pl 2, 7)
“Người không còn gọi anh em là tôi tớ nữa,
vì tôi tớ không biết việc chủ làm.
Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu
Vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy,
Thầy đã cho anh em biết.” (Ga 15, 15)

Vậy mà, những người đống hương với Chúa lại không cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa đã yêu thương họ đến nỗi đã ban Con Một của Người để người Con Chí Ái ấy cùng sống, cùng đồng hành với cuộc sống lữ hành của họ. Họ đã nghe được những phép lạ Người làm ở nơi khác không phải là quê hương họ. Họ đã chứng kiến những lời giảng dậy đầy khôn ngoan cũng như những buổi cầu nguyện chữa lành ngay trong làng quê của họ. Nhưng tất cả đều dừng lại ở cái nhìn chất chứa thành kiến của xã hội. Họ đón đợi Đấng Messia oai phong, giầu sang phú quí và vương giả như các vua Do Thái của họ. Họ những tưởng Đấng Cứu Thế phải là thành phần ưu tú, học thức khoa bảng, khôn ngoan kiệt xuất. Thật là kì diệu khi Thiên Chúa đã đi ngược lại tư duy của con người.

Thánh Phaolô đã suy diễn từ đây một xác tín:

“Song những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì hiện có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người. (1Cr 1, 27- 29)

Thánh Marcô đã để lại cho tôi một bài học thật quí giá khi Ngài đã ghi đậm một nhận xét vang dội muôn thuở: “Họ vấp ngã vì Người.” (Mc 5, 3c)

Còn tôi thì sao? Khi tôi đã hiểu trọn vẹn mặc khải của Chúa. Đặc biệt Chúa Giêsu đã đồng hóa những người khốn khổ là chính Ngài. Ngài nói trong cuộc phán xét chung với những chiên đứng bên phải mà rằng:

“Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù các ngươi đã đến thăm.” (Mt 26, 35-36)

Lạy Thiên Chúa là Cha từ bi và nhân hậu, con từng vấp ngã vì đã không nhận ra Chúa nơi những người khác nhất là những người đau khổ và thấp bé.

Xin Cha thứ tha và rộng ban cho con biết mở lòng ra đối với nhũng người là hiện thân của Chúa Giêsu, Con Cha. Người đã nhập thể để nâng phẩm giá của chúng con để chúng con xứng đáng là con cái yêu thương của Cha.

Xin cho chúng con biết yêu thương nhau vì yêu thương là chu toàn luật của Thần Khí Cha. Amen.

Chúa Nhật XIV-B, 5/7/2009

ĐIỀU KIỆN GIA NHẬP ĐẠO

Nguyện xin tình yêu của Chúa Giêsu Kitô luôn ở giữa mỗi người chúng ta. Con có một câu hỏi kính mong được giải đáp. Nếu một em bé 12 tuổi muốn gia nhập đạo công giáo thì đòi hỏi những yêu cầu và điều kiện gì? Khi mà bố mẹ em là ngừời Phật Giáo? Con được em đó nói rằng khi tham gia các hoạt động của giáo xứ thì không ai nói gì nhưng khi em nói với một sơ phụ trách thiếu nhi của giáo xứ rằng em muốn được trở thành một ngừoi Kitô hữu thì sơ đó lại nói rằng khi nào bố mẹ con vào đạo thì con mới được vào ! Vậy thật sự điều này như thế nào? Con mong được nhờ ban điều hành giúp con về vấn đề này. Nếu có thể được xin trả lời giúp con qua mail hoivina@gmail.com. Xin Chúa trả công và giúp ban điều hành ngày càng được nhiều tâm hồn nhận ra cũng như nhận được tình thưong của Chúa.
Đáp:
Người muốn theo đạo chỉ cần một điều kiện: tin Thiên Chúa là Cha; Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, đã đến thế gian, chịu chết và sống lại để cứu chuộc loài người; tin Chúa Thánh Thần; tin Hội Thánh công giáo. Em bé 12 tuổi thì đã đủ khôn để có thể tin như thế rồi.



Có lẽ nữ tu kia đã trả lời như thế là vì nghĩ tới hoàn cảnh gia đình trong đó em này sẽ sống đạo: sẽ khó khăn cho em sống đạo, nếu cha mẹ em không hỗ trợ cho em, thậm chí còn gây khó khăn cho em, khi mà em chưa đủ tuổi trưởng thành để có thể tự lập. Nếu cha mẹ em cũng là người có đạo Công giáo thì sẽ thuận lợi cho em. Dù sao, không hề có điều kiện là bố mẹ theo đạo thì em mới được vào.



Có lẽ trong trường hợp này, tốt hơn, nữ tu ấy nên khuyên như thế này chẳng hạn: Cha mẹ em không là người công giáo, cho dù cha mẹ em có đồng ý cho em theo đạo, thì sợ rằng em cũng khó sống đạo trong hoàn cảnh gia đình như thế. Chi bằng em cứ đi tham dự các lớp Giáo lý để hiểu biết thêm về Chúa, rồi khi nào cảm thấy đức tin của mình vững vàng thì lúc đó em sẽ làm các nghi thức nhập đạo cũng chưa muộn. Dù vậy em vẫn có thể cầu nguyện với Thiên Chúa Ba Ngôi, và có quyền tin rằng Người biết sự tha thiết của em và sẽ ban cho em những ơn em cần.
Thân mến.
Lm Phan Long, ofm

và Nhóm giải đáp thắc mắc

Read more...


CHÚA GIESU BỒNG ẴM TÔI

Chúa Giêsu bồng ẵm tôi
Theo truyền tụng thì em bé này sau trở nên thánh Ignatuiô thành Antiochia, Ngài đã hiến dâng mạng sống vì Chúa Kitô năm 107. Khi còn là thiếu niên, Ignatio thường dẫn bạn bè tới nơi mà Chúa Giêsu đã bồng ẵm cậu và bảo bạn bè: “Các bạn coi đó. Đây là chỗ Chúa Giêsu đã bồng ẵm tôi”.

Một trong những truyện hay của cuộc đời Chúa Giêsu là truyện Chúa bồng ẵm một em bé. Các tông đồ tranh cãi xem ai là người cao cả nhất. Chúa Giêsu bảo các ông: “Ai muốn ở bậc nhất thì phải làm người rốt hết và làm tôi tớ mọi người”. Rồi Chúa dắt một em bé lại và để em đứng giữa các ông. Chúa bồng ẫm em và nói: “Ai đón nhận một trẻ nhỏ như em bé này vì danh Ta là đón nhận Ta, và ai đón tiếp Ta, thì không phải đón tiếp Ta, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Ta” (Mc 9,36).

Theo truyền tụng thì em bé này sau trở nên thánh Ignatuiô thành Antiochia, Ngài đã hiến dâng mạng sống vì Chúa Kitô năm 107. Khi còn là thiếu niên, Ignatio thường dẫn bạn bè tới nơi mà Chúa Giêsu đã bồng ẵm cậu và bảo bạn bè: “Các bạn coi đó. Đây là chỗ Chúa Giêsu đã bồng ẵm tôi”.

Nếu bạn muốn, bạn có thể coi đó là câu chuyện tưởng tượng của thời trung cổ, nhưng chúng ta biết chắc chắn rằng Chúa Giêsu đã bồng ẵm một em bé. Sự kiện đó hôm nay làm nổi bật tư tưởng của tôi, nghĩa là trong sự Hiệp lễ, chúng ta không chỉ ôm ẵm Chúa Giêsu, nhưng chính Ngài cũng ôm ẵm chúng ta.

Có lẽ không bao giờ bạn nghĩ đến sự Hiệp lễ trong cách này. Chúng ta nói trực riếp: “Tôi đón nhận Chúa Giêsu trong sự hiệp lễ... Chúa Giêsu ngự vào trong lòng tôi”. Chúng ta nói về những hiệp lễ như là ôm ẵm Chúa. Nhưng hiệp lễ cũng có nghĩa là Chúa ôm ẵm chúng ta. Chúa Giêsu đón nhận chúng ta vào lòng Ngài cách đặc biệt. Không chỉ là Chúa Giêsu ngự trong chúng ta, mà chúng ta cũng ở trong Chúa Giêsu. Đó là ý nghĩa của điều Chúa nói với chúng ta trong Tin Mừng hôm nay: “Ai ăn Thịt ta và uống Máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy”. Chúng ta có thể nói như thánh Ignatiô: “Đây là nơi Chúa Giêsu bồng ẵm tôi”.

Thánh Cyrilo thành Alexandries so sánh sự hiệp nhất này với hai miếng sáp ong hòa lẫn với nhau. Thánh Têrêxa thành Lisieux đã diễn tả sự hiệp lễ lần đầu của Ngài như là sự hoà tan với Chúa Kitô.

Bạn hãy tưởng tượng một em bé chạy lại gặp cha nó. Nó giang cánh tay nhỏ bé quàng vào cổ cha nó. Cố sức ôm chặt lấy cha nó. Nhưng người cha bồng lấy đứa con trong vòng tay to khỏe, ôm ấp đấ yêu thương. Sự hiệp lễ cũng phần nào giống như thế. Chúng ta ôm ẫm Chúa Kitô. Chúng ta đón rước Ngài ngự vào lòng ta. Chúa Giêsu ôm ẫm ta, đưa ta vào lòng Ngài.

Bạn hãy suy nghĩ điều này và bạn bắt đầu nhận thức rằng sự quan trọng không phải là tình yêu, lòng khát khao hay những lời cầu nguyện của chúng ta, mặc dầu tất cả cần phải có. Sự quan trọng nhất là tình yêu vô biên của Chúa Giêsu. Ngài ước mong ôm ẵm chúng ta, chia sẻ chính đời sống Ngài cho chúng ta. Ngài muốn chúng ta ở lại trong Ngài như chúng ta muốn Ngài ở lại trong chúng ta.

Sự thật kỳ lạ này chúng ta cử hành hôm nay, ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô, tôn vinh Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Trong sự buồn thảm của tuần thánh, chúng ta đã làm mới lại ngày thứ năm thánh đầu tiên, khi Chúa Giêsu trao ban chính Ngài cho các tông đồ, và các ông được dâng chính mình cho Ngài. Sự thật vui mừng lớn lao quá, chúng ta muốn cử hành một cách dặc biệt trong một ngày đặc biệt, Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Chúng ta ước ao làm mới lại ước vọng được ôm ẵm Chúa Kitô và được Ngài ôm ẵm chúng ta.
Xin Chúa chúc lành cho các bạn.

BÍ TÍCH THÁNH THỂ, NIỀM VUI VÀ NỖI LO CỦA MỘT VỊ GIÁM MỤC


Thánh lễ là trung tâm đời sống đức tin của người Công giáo, mà nơi đó, công bố Lời Chúa và phụng vụ Thánh thể là những đỉnh cao không thể thiếu. Riêng mầu nhiệm Thánh thể còn được gọi là Bí tích Tình yêu hoặc mầu nhiệm vượt qua. Phải gọi là mầu nhiệm vì nó quá đỗi lạ lùng và hết sức vi diệu, vượt qua mọi cách hiểu thông thường hoặc giải thích theo quy luật của vật lý tự nhiên.

1.- Giáo lý dạy rằng, bí tích là những dấu chỉ hữu hình và hữu hiệu về những thực tại vô hình. Từ 2000 năm nay, Đức Giêsu đã trở nên vô hình. Rất cần phải học biết về một Giêsu tử nạn, để từ đó, mỗi ngày một thêm yêu thương hơn, gắn bó và hy vọng hơn, nơi một Đức Giêsu đã sống lại, dù là vô hình, nhưng vẫn luôn hiện diện qua bí tích Thánh thể mà chúng ta vẫn gặp gỡ và lãnh nhận hàng ngày.

Cách đây không lâu, trong một lần nói chuyện tại Trung Tâm mục vụ Sàigòn, Đức Giám mục Phaolô Bùi văn Đọc thuộc Giáo phận Mỹ Tho, đã có một buổi thuyết trình về Bí tích Thánh thể rất sinh động và thú vị. Ngài không chỉ phụ trách Giáo phận Mỹ Tho, nhưng còn là Chủ tịch Ủy ban Giáo lý và Đức Tin thuộc Hội đồng Giám mục Việt nam, nên buổi nói chuyện trở nên hết sức bổ ích và rất cần thiết cho mọi thành phần Dân Chúa, cách riêng với đề tài Bí tích Thánh thể.

Với cái duyên trời cho, cộng thêm cách nói mạnh mẽ vui tươi nhưng không kém phần khôi hài dí dỏm, buổi nói chuyện của Ngài đã bị gián đoạn nhiều lần vì những tràng pháo tay tán thưởng của cộng đoàn. Buổi nói chuyện của một học giả uyên bác và cũng là một diễn giả đầy hấp dẫn này đã để lại rất nhiều ấn tượng thật tốt đẹp.

Ngài thuật lại lần tham dự Thượng hội đồng Giám mục thế giới cách đây nhiều năm cùng với Giám mục Trần đình Tứ, là 2 thành viên của GH Việt Nam được cử đi tham dự. Dưới sự chủ tọa của Đức Giáo hoàng Benedicto 16, hơn 200 giám mục của GH hoàn vũ đến từ khắp nơi, đã làm việc và thảo luận về nhiều vấn đề trọng yếu của Giáo hội; đặc biệt về bí tích Thánh thể. Ngài đã nhắc đến các Tông huấn, Tông thư, Tông sắc …liên quan đến Bí tích Tình yêu của Đức GH Gioan Phaolo II, những văn kiện mà Ngài đọc không hết (nguyên văn).

Sau phần tham luận và báo cáo của 2 vị Giám mục Việt Nam về đời sống đạo của Giáo Hội tại địa phương mình, đại hội đã rất vui mừng và đặc biệt phấn khích, khi được biết tại Việt Nam, các giáo dân đều rất mến mộ Bí tích Thánh thể, Thánh lễ nào cũng rất đông, nhiều nhà thờ không đủ chỗ ngồi, người tham dự phải đứng tràn ra cả bên ngoài. Tinh thần sống đạo của giáo dân Việt nam, Đức Hồng Y Sepe đã có nhiều dịp được chứng kiến tận mắt khi ngài đến thăm, nên Ngài đã hết lời ca ngợi cùng với rất nhiều hy vọng.

Tuy nhiên, sau niềm vui là những nỗi lo khi Ngài đề cập đến tình trạng suy thoái của các Giáo hội ở nhiều nước phương Tây. Ở Pháp, một giáo hội mà trước đây vẫn được xem là Trưởng nữ của Giáo hội, lúc này nhiều nhà thờ đã biến thành bãi xe hoặc nhà kho. Ở Mỹ cũng không khác; thêm nữa, với chuyện tai tiếng lạm dụng tình dục của hàng giáo sĩ vừa mới đây; Giáo hội Mỹ vẫn còn đang gượng dậy và cố gắng chấn chỉnh để phục hồi. Riêng ở Brasil là một nước đông người Công giáo nhất cũng đang mỗi ngày một sụt giảm rõ ràng. Đặc biệt, ở Iceland, một nước trước đây là toàn tòng Công giáo và có truyền thống Công giáo rất vững chắc, thì nay chỉ còn 1% người đi lễ. Họ đã bỏ Công giáo để theo Tin lành hoặc các giáo phái khác.

Không một nhận xét tiêu cực nào về các giáo phái, cũng chẳng có lời nào chê bai những giáo hội khác, nhưng ngài đã chỉ ra một số trong nhiều nguyên nhân đã khiến người ta rời bỏ nhà thờ. Đó là, Thánh lễ thiếu tính gắn bó, vui tươi và gần gũi của một gia đình. Thánh lễ cũng thiếu sự thân tình, và chan hòa ấm áp của một cộng đoàn yêu thương. Vì quá đông người, chẳng ai biết ai, nên nghi thức Chúc bình an trong Thánh lễ chỉ là thực hiện những hành vi (thân ái kia) một cách rất máy móc, rất vô hồn, đôi khi lại không cảm xúc với những gượng gạo miễn cưỡng.

Chính vì thế, Thánh lễ chỉ là sự tập hợp của một cộng đoàn theo thói quen, theo luật buộc, hơn là những tự nguyện với đầy đủ ý thức của những kẻ đã yêu và tin rằng mình cũng đang được yêu, bởi một tình yêu từ trời cao vô hình bao phủ. Dù là từ trời cao và dù là từ một Chúa Giêsu chẳng nhìn thấy được bằng mắt thường, nhưng tình yêu ấy vẫn được thể hiện một cách sinh động nơi người đang ngồi bên cạnh tôi và ngay trong Thánh lễ này, dù chỉ là qua một cái bắt tay. Một cái bắt tay ấm áp nhiệt tình không giống với cái bắt tay thờ ơ gượng gạo, một cái bắt tay cho có.

Tính đơn sơ, vui vẻ của những tín hữu thời sơ khai khi gặp nhau như sách Tông đồ Công vụ thuật lại, đến nay đã không còn nữa. Cùng với Thượng hội đồng Giám Mục thế giới, Ngài đã nói đến chuyện về nguồn. Rất cần thiết phải tìm về nguồn, tìm về với tính đơn sơ vui vẻ của thời Giáo hội thời tiên khởi.

2.- Ngài chỉ xét mình trước khi xét người khi đối diện với tình trạng xa nhà thờ, quên Thánh lễ và xem nhẹ Thánh thể đang phổ biến hiện nay để chạy sang các Giáo phái.

Ngài cũng không nói về những tiêu cực (có thể là nhiều) của các giáo phái, một điều không ít người vẫn thường hay nói.

Nhưng Ngài đã nhìn lại căn nhà Giáo hội của mình, để trông người mà nghĩ đến ta. Vì tình trạng đáng buồn kia đã và đang xảy ra ở nhiều Giáo hội khác hôm nay, sẽ chẳng có gì để bảo đảm rằng, nhất định sẽ không xảy ra với Giáo hội Việt Nam vào một ngày mai nào đó. Ngài nói về những ưu tư ấy với một cách nói nhẹ như gió thoảng, mà nếu chỉ phớt nghe sẽ khó lòng nhận ra. Đang khi đây chính là sự phó thác và tin tưởng của những cơn gió nhẹ đầy Thánh thần nơi Ngài..

Ngài đã nhấn mạnh về Đức tin, về phụng vụ Thánh thể và sống với mầu nhiệm của bí tích Thánh thể. Tuy bí tích Thánh thể là đỉnh cao, nhưng vẫn chỉ là điều kiện Cần, chưa là điều kiện Đủ của một mệnh đề hoàn chỉnh. Để thực sự trở thành Bí tích yêu thương, nhất định không thể thiếu những hy sinh, những chia sẻ và sự hiệp nhất. Nói cách khác, mỗi cá nhân phải là một tấm bánh để chia sẻ cho người khác, sau khi nhận lãnh tấm bánh là chính Mình và Máu của Chúa Giêsu từ nơi bàn thánh trong nhà thờ.

Sức khỏe và khả năng. Thời giờ và bạc tiền. Thiện chí và tình cảm ….những thứ mà kẻ ít người nhiều, ai cũng có. Vấn đề chỉ là, ta có sẵn sàng trở nên tấm bánh cho người khác, để chia sẻ những gì ta sở hữu và đang quản lý hay không mà thôi.

Chẳng có ai chỉ nhờ đọc Kinh thánh vài lần mà biến ngay thành một đấng Thánh. Cũng không có ai chỉ cần rước lễ hàng ngày mà được cứu độ và lên Thiên Đàng. Nhưng tất cả đều phải thi hành giới răn cao trọng nhất là giới răn Yêu Thương, mà Bí tích Thánh Thể phải là một biểu tượng sống động của những kẻ tin.

Chúa yêu thương con người, vì thế, Ngài cũng hết sức tôn trọng con người, nên Ngài không thể biến con người thành những cỗ máy vô cảm được lập trình sẵn, chỉ cần bấm nút hay nhắp chuột là hành động. Vì thế, Bánh Thánh khi rước lễ không phải là tấm bùa của ma thuật hay phù thủy để khi ăn vào, sẽ lập tức biến người ăn từ đen hóa ra trắng, từ xấu trở thành tốt và dễ được gần Chúa hơn.

Nhưng với nhiều chứng nghiệm thực tế của những ai yêu mến Thánh thể, bánh Thánh qua bí tích Thánh thể đã giúp người ăn được có thêm sức mạnh thần linh là chính Chúa Giêsu, để từ đó, cõi lòng sẽ dần được mở ra một cách dễ dàng hơn trong yêu thương và tha thứ. Cõi lòng sẽ dần được mở ra cùng với những bao dung trong xả kỷ và hy sinh quên mình.

Nhờ thế, ngay lúc đó, cánh cửa Nước Trời sẽ liền mở ra.

Và đó cũng chính là điều tuyệt vời của Bí tích Tình yêu vậy.

3.- Trở lại với chủ đề niềm vui và nỗi lo của người Giám mục, ai cũng dễ dàng nhận ra rằng, niềm vui ấy là rất chính đáng và nỗi lo kia cũng hoàn toàn là có cơ sở. Nhửng điều ấy không có gì mới lại, nhưng lúc này, vì được nói ra từ một vị Giám mục, là người thày dạy đức tin, nên phải được quan tâm một cách đặc biệt.

Những thực tế đang diễn ra ở nhiều Giáo hội Tây Phương, không có gì để đảm bảo rằng, sẽ chẳng xảy ra cho Giáo hội Việt Nam. Những ghi nhận ấy của vị Giám Mục khả kính không còn là các tâm tình riêng tư, nhưng chính là lời cảnh báo người ngôn sứ của thời đại hôm nay.

Xin gởi những tâm tình này, đến tất cả những tấm lòng biết thao thức và thiết tha yêu mến Giáo Hội đang có rất nhiều và hiện diện ở khắp nơi, vì Giáo hội không phải là của riêng giới nào hoặc người nào, nhưng là người Mẹ chung của tất cả những kẻ tin.

LỄ KÍNH THÁNH TÔ-MA TÔNG ĐỒ 03/07

THÁNH TÔMA, TÔNG ĐỒ,Ngày 03/7




Thánh Tôma, tông đồ, một người trong nhóm 12, đã được Chúa Giêsu tuyển chọn, đã đi theo Chúa, đã được Chúa hun đúc, huấn luyện. Tôma cũng là người bị liệt vào hạng cứng tin, nhưng thực tế ra sao ? Tôma có tin vào Chúa hay cũng chỉ lơ mơ, lờ mờ theo Chúa, rồi bỏ Chúa ?



THÁNH TÔMA, TÔNG ĐỒ TRONG NHÓM 12:

Thánh Tôma, còn gọi là Đyđimô nghĩa là sinh đôi, người quê tại xứ Galilêa, là một trong số mười hai môn đệ của Chúa Giêsu. Các Tin mừng nhất lãm và đặc biệt Tin Mừng của thánh Gioan đã thuật lại việc Chúa Giêsu chọn Tôma. Các Tin Mừng đều cho ta thấy Tôma là người nhiệt thành, hy sinh, tận tụy và xả kỷ. Thánh Gioan thuật lại rằng một lần khi nghe tin Ladarô chết đã bốn ngày, Chúa Giêsu muốn về Giuđêa để hồi sinh Ladarô, nhưng ở đó các người Do Thái đang tìm cách giết Chúa Giêsu:” Thưa Thầy, mới đây người Do Thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy còn đến đó sao ?”( Ga 11, 8 ). Chúa nói với các môn đệ:” Nào chúng ta cùng trở lại miền Giuđê”( Ga 11, 7 ). Mình thánh Tôma đã mạnh dạn, can đảm nói với các tông đồ :” Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy”( Ga 11, 16 ).Trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu, Tôma cũng như các môn đệ khác đều sợ sệt, nhát đảm và trốn tránh vì sợ khó khăn, sợ chết. Khi Chúa Giêsu sống lại, Tôma vì là người thực tế đã muốn thấy Chúa cách nhãn tiền Ông đã nói với các tông đồ bạn một cách rất chân thành và thực tế:” Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinhvà không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”( Ga 20, 25 ). Đức tin của Tôma phải được kiểm chứng rõ ràng, Ông rất thực tế và đây là bài học cho muôn thế hệ. Đứng trước sự thực hiển nhiên của biến cố sống lại chỉ sau tám ngày sau lần thứ nhất Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ, Tôma đã bị Chúa Giêsu phục sinh khuất phục hoàn toàn, Ngài chỉ biết thốt lên với tất cả con tim:”Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”( Ga 20, 28 ).



THÁNH TÔMA, TÔNG ĐỒ ĐÃ ĐƯỢC PHÚC TỬ ĐẠO:

Chúa Giêsu đã nói với các một đệ khi Người còn sống với các ông:” Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình đi vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”( Lc 9, 23). Chúa cũng đã cảnh cáo là các môn đệ sẽ bị thế gian thù ghét:” Hãy coi chừng người đời, họ sẽ nộp các ngươi cho công nghị và họ đánh đòn các ngươi trong các hội đường của họ. Vì Ta, các ngươi sẽ bị điệu đến trước quan quyền và vua Chúa để làm chứng trước mặt họ và các dân ngoại. Các ngươi sẽ bị mọi người ghét vì danh Ta, nhưng ai bền vững đến cùng, người ấy sẽ được rỗi”( Mt 10, 17-22 ). Sau khi Chúa phục sinh về trời và sau khi các tông đồ lãnh nhận Chúa Thánh Thần, theo lệnh truyền của Chúa sống lại:” Anh em hãy đi khắp mọi nơi...”( Mt 28,19 ) Thánh Tôma, tông đồ đã đi rao giảng ở Patia, Ba Tư. Thánh nhân cũng tới loan báo Tin Mừng tại Ấn Độ và được phúc tử đạo tại đó. Thánh nhân là một người thu thuế nhưng khi đã có Chúa Thánh Thần và khi đã được đổi mới, Ngài đã hăng say rao giảng Tin Mừng và sẵn sàng theo bước chân của Thầy chết vì yêu.



Lạy Thiên Chúa toàn năng, hôm nay chúng con hoan hỷ, mừng lễ thánh Tôma tông đồ. Xin nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà củng cố lòng tin của chúng con, để chúng con được sống muôn đời, khi cùng với thánh nhân tuyên xưng Đức Kitô là Chúa( Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Tôma, tông đồ).

Read more...


Download Opera, the fastest and most secure browser
November 2009
M T W T F S S
October 2009December 2009
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30