Skip navigation.

Bluebells

Kindness in thinking creates profoundness

Đằng sau tấm gương

Hồi nhỏ tôi sống cùng ba mẹ ở New Jork. Nhà ông bà ngoại cũng ở ngay gần đó, phía bên kia công viên. Ông ngoại tôi thường có thói quen đi dạo vào buổi chiều. Còn nhớ những buổi chiều mùa hè, tôi - một cô bé con thường đi dạo cùng ông, những lúc đó ông thường kể cho tôi nghe về những ngày xa xưa khi ông còn là một đứa trẻ.

Một lần khi hai ông cháu đi qua dãy phố nơi có những ô cửa sổ bằng kính phản chiếu ánh hoàng hôn, ông ngoại lại kể cho tôi nghe về một thế giới nơi có những cỗ xe ngựa thay vì xe ôtô, những lá thư thay cho điện thoại và những ngọn nến thay cho ánh đèn điện sáng choang. Lãng đãng nghe ông kể về những năm tháng khốn khó của mình, tôi buột miệng hỏi: “Ông ơi vậy điều khó khăn nhất mà ông đã từng trải qua là gì ạ?”

Tôi đã nghĩ là sẽ được nghe một giai thoại về một công việc nặng nhọc mà ông đã phải làm, nhưng đột nhiên tôi thấy ông dừng bước và lặng lẽ nhìn về phía chân trời. Khi đó tôi hiểu rằng ông sắp kể về một kinh nghiệm còn khó khăn hơn cả những ngày làm việc kiệt sức. Ông ngồi xuống và cầm lấy bàn tay tôi. Những giọt nước mắt lăn dài trên khuôn mặt đã xuất hiện nhiều nếp nhăn, ông kể:
“Sau khi sinh dì Mary, bà ngoại của cháu bỗng đổ bệnh. Khi đó mẹ cháu và các cậu vẫn còn rất nhỏ. Bà ngoại phải được chuyển đến viện điều dưỡng một thời gian dài đến khi sức khoẻ khá hơn. Vì không còn ai chăm sóc cho mẹ cháu và các cậu, ông đã buộc phải gửi họ vào trại trẻ mồ côi để các bà vú chăm sóc, còn ông thì phải làm tới hai ba việc cùng lúc cho đến khi bà ngoại khoẻ lại. Việc khó khăn nhất ông từng làm, cháu biết không, là việc ông đã gửi các con của mình vào trại trẻ. Hàng tuần ông vẫn đến thăm chúng nhưng các bà vú không cho phép ông nói chuyện hay thậm chí đến gần bọn trẻ. Ông chỉ được phép ngắm nhìn các con chơi đùa từ xa, sau một tấm kính một chiều. Ông đã mang đến cho các con rất nhiều kẹo bánh mỗi tuần và chỉ hy vọng chúng biết điều đó. Ông luôn đặt hai bàn tay lên tấm kính trong 30 phút được cho phép thăm con, hy vọng chúng sẽ nhìn thấy ông và chạy đến đặt bàn tay vào lòng bàn tay ông qua tấm kính, nhưng chúng chẳng bao giờ nhìn thấy. Ông đã phải chịu đựng cả năm trời không được một lần đến gần các con của mình, nhưng ông biết các con còn đau khổ hơn thế. Ông đã tự nhủ sẽ không bao giờ tha thứ cho mình vì đã để cho các bà vú ngăn ông đến gặp các con. Nhưng khi đó, họ bảo rằng làm thế sẽ không tốt cho bọn trẻ, chúng sẽ càng thấy khó khăn hơn khi phải ở lại đó sau khi ông ra về. Vì thế ông đã nghe lời họ.”

Trước đây tôi chưa bao giờ thấy ông khóc. Ông ôm ghì lấy tôi, và tôi nói với ông rằng ông là người ông tốt nhất trên đời và tôi yêu ông biết bao. Thật kỳ lạ, một đứa trẻ 8 tuổi đang an ủi ông mình khi ông khóc trong vòng tay bé nhỏ của đứa cháu.

Tôi vẫn cùng ông đi dạo nhiều năm sau đó, đến khi ba mẹ tôi chuyển đến ở một bang khác. Trong suốt mười lăm năm sau, buổi đi dạo đặc biệt đó với ông ngoại vẫn là một bí mật giữa hai ông cháu tôi.
Sau khi bà ngoại mất, nỗi buồn và sự cô độc khiến ông tôi rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần. Tôi cố gắng thuyết phục mẹ đưa ông về ở cùng gia đình tôi, nhưng giữa mẹ và ông là một mối rạn nứt lâu ngày.

Một ngày, tôi lại thuyết phục mẹ lần nữa về việc đưa ông về nhà. Trong cơn phẫn nộ mẹ nói “Tại sao? Ông ấy có bao giờ quan tâm đến những gì xảy ra với chúng ta đâu?”

Mẹ không hề biết là tôi biết rất chính xác điều mẹ ám chỉ. “Ông luôn quan tâm và rất yêu mẹ và các cậu,” tôi nói, “điều khó khăn nhất mà ông từng làm đó là đã đưa mẹ và các cậu vào trại trẻ mồ côi.”
“Con không biết là con đang nói về điều gì đâu!” mẹ tôi cay đắng nói, bà không bao giờ kể cho tôi nghe về tuổi thơ của mình. “Ai nói với con về việc đó?”

“Mẹ à, ông đã kể cho con rằng ông đến thăm mẹ và các cậu hàng tuần. Ông thường quan sát mẹ và các cậu sau một tấm gương. Mỗi lần đến thăm ông đều mang rất nhiều kẹo. Ông đã rất ân hận vì việc làm đó, và càng đau khổ hơn khi không thể nói cho các con hiều về một năm trời đau khổ đó!”
“Con nói dối!” mẹ tôi đứng bật dậy, “Ông ấy đã chẳng bao giờ đến thăm chúng ta. Không một ai đến thăm chúng ta cả.”

“Làm sao con có thể nói về việc ông đã đến thăm mẹ và các cậu, và mỗi lần đến thăm đều mang theo quà, nếu như ông không nói cho con biết?” Tôi nói. “Ông đã đến đó. Ông đã luôn có mặt ở đó mỗi tuần. Nhưng các bà vú đã không cho ông gặp mẹ và cậu vì họ lo mọi người sẽ không chịu để ông ra đi và bỏ lại mọi người ở đó. Mẹ ạ, ông yêu các con của ông và vẫn luôn như vậy!”

Tôi thấy hai mắt mẹ mở to. Mẹ tôi cố ghìm hơi thở, nước mắt đọng đầy bên khoé mắt và rồi đột nhiên bà bật khóc như một đứa trẻ. Những hình ảnh của ngày xưa hiện về, bà như trông thấy ông nội đứng sau tấm kính nhìn về phía các con, hy vọng các con sẽ nhận thấy sự hiện diện của mình và cảm thấy tình yêu vô bờ của người cha. Sự phẫn nộ và nỗi đau tan dần trên khuôn mặt bà. Cuối cùng thì mẹ cũng hiểu được tình cảm ấm áp và sâu sắc của ông qua tấm gương đó.

Không lâu sau, ông ngoại đến ở cùng chúng tôi. Cuối cùng thì tấm gương lạnh lẽo ngăn cách giữa mẹ và ông bấy nhiêu năm rồi cũng vỡ tan.

By Laura Reilly

Đừng nói "Giá như..."

By Arthur Gordon
Trong cuộc sống không gì vui thú và giá trị bằng những khoảnh khắc trong tâm hồn khiến cho ta thay đổi – không chỉ thay đổi đơn thuần mà còn thay đổi tốt hơn. Những khoảnh khắc đó không nhiều, hẳn rồi, nhưng nó đến với tất cả chúng ta. Đôi khi từ một quyển sách, một bài giảng đạo, một câu thơ. Đôi khi từ một người bạn…

Một buổi chiều mùa đông lạnh giá ở Manhattan, ngồi trong một nhà ăn nhỏ kiểu Pháp, tôi cảm thấy thật mệt mỏi và buồn phiền. Bởi những sai lầm tôi đã mắc phải, những dự án quan trọng của đời tôi bỗng nhiên đổ bể. Thậm chí ngay cả cái triển vọng được gặp lại người bạn đáng kính (mà tôi gọi là Người bạn lớn một cách thân thiết và trìu mến) luôn làm tôi dễ chịu những lúc như vậy thì giờ đây cũng chẳng làm tôi thấy khá hơn chút nào Tôi ngồi đó, nhìn xuống những đường kẻ caro của tấm khăn trải bàn và nghiền ngẫm nỗi muộn phiền của mình.
Cuối cùng thì ông ấy cũng đến từ bên kia đường, lúp xúp trong chiếc áo khoác cũ kỹ và cái mũ nhàu nhĩ như chỉ chực xụp xuống cái trán hói. Trông ông ấy giống vị thần lùn giữ cửa hơn là một nhà tâm thần học lỗi lạc. Văn phòng của ông ấy ở ngay gần đây, tôi đoán là ông ấy vừa tiếp người bệnh cuối cùng trong ngày. Ông ấy đã gần 80 tuổi nhưng vẫn phụ trách một câu lạc bộ bệnh nhân, điều hành một tổ chức lớn và vẫn luôn muốn thoát khỏi công việc và chạy đến sân golf ngay khi có thể.

Lúc ông ấy đi đến và ngồi bên cạnh tôi, anh bồi bàn lại mang đến loại rượu quen thuộc. Tôi đã không gặp người bạn đáng kính của mình độ vài tháng, nhưng trông ông vẫn rất phong độ. “Nào, chàng trai,” ông nói mà không cần rào trước đón sau gì, “có điều gì khiến cậu buồn thế?”

Từ lâu tôi đã không còn ngạc nhiên trước cái cách ông hỏi như đã thấu hiểu vấn đề của tôi, vì thế tôi không ngần ngại giãi bày với ông tâm sự của mình. Với vẻ tự trọng không giấu giếm, tôi cố gắng nói cho ông một cách trung thực về những rắc rối của tôi. Tôi không đổ lỗi cho ai cả mà chỉ trách mình. Tôi phân tích tất cả, những đánh giá sai lầm và những bước đi nhầm lẫn. Tôi nói một mình khoảng 15 phút và trong khi đó, người bạn già chỉ ngồi im lặng nhấm nháp ly rượu.

Khi tôi kết thúc, ông đặt ly xuống và bảo tôi: “Đi nào, đi về văn phòng của tôi.”
“Văn phòng của ông ư? Ông quên thứ gì ở đó à?” Tôi hỏi.
“Không,” ông nhẹ nhàng, “Tôi muốn cho cậu xem cái này. Vậy thôi.”

Ngoài cửa trời đang mưa, nhưng trong căn phòng của ông không khí rất ấm áp, thoải mái và quen thuộc; những dãy kệ sách, chiếc trường kỷ bằng nệm, bức ảnh có chữ ký của Sigmund Freud và những cuộn băng cassette bên cửa sổ. Thư ký của ông đã ra về và chỉ có hai chúng tôi.
Người bạn lớn của tôi chọn một cuộn băng và mở đài. “Trong cuộn băng này tôi đã ghi lại lời tâm sự của ba người bệnh nhân. Dĩ nhiên là những câu chuyện của họ không giống nhau rồi. Tôi muốn cậu nghe tất cả và để xem sau đó cậu có tìm ra được một cụm từ gồm hai chữ xuất hiện trong cả ba trường hợp hay không.” Ông mỉm cười và tiếp tục “Đừng bối rối thế. Tôi có lý do để bảo cậu làm vậy.”

Điểm chung nhất về những lời tâm sự của cả ba người đó là họ đều nói về sự bất hạnh của chính họ. Người đàn ông đầu tiên rõ ràng đang phải trải qua những khó khăn lớn về tài chính; anh ta đổ lỗi cho mình vì đã không làm việc chăm chỉ, vì đã không sáng suốt nhìn trước được khó khăn. Người thứ hai là một người phụ nữ chưa bao giờ kết hôn bởi ý thức phải có nghĩa vụ đối với người mẹ goá bụa của bà; bà ta cay đắng nhắc lại những cơ hội kết hôn mà ba ta đã để vuột mất. Người thứ ba là một người mẹ có cậu con trai nghịch ngợm và bị cảnh sát bắt giữ; bà ta không ngừng tự trách mình.
Sau khi để tôi nghe xong, vị bác sỹ tâm thần học tắt đài và quay lại nói với tôi: “Nào, anh có biết đó là hai từ gì không? Không à? Đó là bởi vì chính anh đã nhắc đến nó ba lần khi chúng ta còn ngồi dưới cái quán ăn nhỏ đó.” Ông ấy cầm cái hộp đựng cuộn băng và đưa lại cho tôi. “Hai từ đó đây, ngay trên nhãn băng ấy. Hai từ buồn nhất trong mọi thứ ngôn ngữ.”

Tôi nhìn vào cuộn băng. Trên đó là hai từ được viết bằng mực đỏ: GIÁ NHƯ
“Có thể cậu sẽ ngạc nhiên,” ông nói, “nếu cậu biết là đã hàng ngàn lần tôi ngồi trên chiếc ghế này và lắng nghe những lời tâm sự buồn rầu. Họ nói với tôi “Giá như tôi làm khác đi - hoặc đừng làm điều đó. Giá như tôi đừng nổi nóng, đừng nói ra điều ngu ngốc đó, đừng quyết định thiếu suy nghĩ như vậy, đừng nói dối như thế. Giá như tôi sáng suốt hơn, cao thượng hơn, tự chủ hơn...” Họ than vãn liên hồi cho tới khi tôi nói với họ: “Anh hoặc chị hãy ngừng nói Giá như đi và chúng ta sẽ bắt đầu một điều gì đó!”

“Vấn đề của hai chữ giá như,” ông nói “chính là nó chẳng thay đổi được điều gì cả. Nó khiến người ta phải tiếp tục đối mặt với sự hối tiếc – nhìn lại đằng sau thay vì nhìn ra phía trước. Điều đó chỉ tổ lãng phí thời gian. Rốt cuộc nếu anh để nó trở thành một thói quen, nó sẽ trở thành một chướng ngại lớn trên con đường của anh - một lời biện hộ cho sự thiếu cố gắng mà thôi.”

“Nào bây giờ hãy trở lại với vấn đề của anh: Một vài kế hoạch của anh đã thất bại. Tại sao? Bởi vì anh đã phạm phải một số sai lầm. Không sao cả: Ai chẳng có lúc mắc sai lầm. Sai lầm là những điều để ta học hỏi. Nhưng nếu anh kể cho tôi những sai lầm của anh, anh than vãn, anh ân hận, thì có nghĩa là anh không thực sự học hỏi được gì cả.”

“Làm sao ông biết được là tôi đã không học hỏi được gì chứ?” Tôi hỏi, với cảm giác tự ái.
“Bởi vì anh đã chẳng bao giờ tìm cách thoát ra khỏi quá khứ. Anh đã không một lần đề cập đến những kế hoạch tương lai của anh. Và theo một cách nào đó – thành thực mà nói – anh đang nhấm nháp quá khứ của mình. Trong mỗi chúng ta đều có một ý thức ngoan cố khiến chúng ta muốn xới tung lên những sai lầm mình đã mắc phải. Xét cho cùng thì đó là vì khi anh liên tưởng đến những biến cố hoặc thất bại của chính anh, anh sẽ là nhân vật chính, là người đứng ở trung tâm sân khấu.”
Tôi thiểu não lắc đầu, “Vậy đâu là lối thoát?”
“Hãy làm một chút thay đổi,” Người bạn già hào hứng. “Hãy thay hai chữ Giá như bằng một cụm từ khác, một cụm từ sẽ mở lối cho anh.”

“Vậy ông có gợi ý gì về hai từ đó không?”
“Dĩ nhiên là có. Hãy gạch bỏ hai từ Giá như đi, thay vào đó là LẦN SAU.”
“Lần sau ư?”
“Đúng thế. Tôi đã thấy hai từ đó tạo ra những điều kỳ diệu nho nhỏ trong chính căn phòng này. Khi một người bệnh nhân không ngừng nói Giá như với tôi thì có nghĩa là anh ta đang gặp rắc rối. Nhưng khi anh ta bắt đầu nhìn tôi và nói Lần sau, thì tôi biết là anh ta đang tìm ra cách thoát khỏi những rắc rối của mình. Điều đó có nghĩa là anh ta đã quyết định áp dụng những bài học rút ra từ chính sai lầm của anh ta.

Ông ngừng lời. Ngoài kia, mưa thì thầm bên khung cửa sổ. Tôi cố gắng đẩy một cụm từ ra khỏi trí óc tôi và thay thế nó bằng cụm từ kia. Và thật kỳ lạ, hình như tôi nghe thấy hai từ mới mẻ đó gõ cửa tâm trí tôi.
Ông bác sỹ tiếp tục “Điều cuối cùng, hãy vận dụng bài học này cho bất cứ điều gì vấn có thể sửa chữa được.” Ông lấy trên kệ sách sau lưng xuống một quyển sách giống như một cuốn nhật ký. “Đây là quyển nhật ký tôi đã giữ lại của một người phụ nữ từ thế hệ trước. Bà ấy là giáo viên trong thị trấn của tôi. Chồng bà là một người đàn ông rất dễ chịu, nhưng không giỏi giang; một người đàn ông đáng mến nhưng không thể làm được vai trò người trụ cột gia đình. Bà ấy đã phải tự mình nuôi nấng con cái, thanh toán các chi phí và giữ gìn hạnh phúc gia đình. Nhật ký của bà ta đầy những lời trách móc Jonathan - chồng bà, kể lể về những nhược điểm, những khiếm khuyết, những sự kém cỏi của ông.
Sau đó Jonathan qua đời. Cuộc sống vẫn trôi đi cho đến một ngày. Hãy nghe bà ấy viết: “Hôm nay tôi được bổ nhiệm làm hiệu trưởng, và tôi đã tưởng là tôi sẽ rất tự hào. Nhưng giá như tôi biết được Jonathan đang ở đâu đó trên bầu trời đầy sao kia, và giá như tôi có thể, tôi sẽ bỏ lại mọi thứ đằng sau và đến với anh ấy đêm nay.”

Vị bác sỹ nhẹ nhàng gấp quyển sổ lại. “Anh thấy đấy, những điều bà ấy nói: Giá như, giá như tôi chấp nhận anh ấy, con người anh và cả những thiếu sót của anh; giá như tôi yêu anh ấy hơn khi anh ấy còn ở bên tôi.”
Ông để cuốn sổ lại chỗ cũ và nói, “Cụm từ đó được xem là cụm từ đáng buồn nhất trong tất cả, đó là khi đã quá muộn để tìm lại một điều đã mất.”

Ông đứng thẳng dậy, “nào, bài học kết thúc rồi. Tôi rất vui mỗi lần được gặp lại cậu. Luôn là vậy. Bây giờ cậu có thể giúp tôi gọi một chiếc taxi chứ? Tôi nên về nhà thôi.”
Chúng tôi bước ra khỏi ngôi nhà và đi vào đêm mưa. Tôi thấy một chiếc taxi và chạy lại, nhưng một người khác đã đến nhanh hơn tôi và chiếc xe vụt đi.

“Ôi…ôi…” Ông bác sỹ thốt lên vui vẻ, “giá như chúng ta chạy đến sớm hơn 10 giây, chúng ta đã có thể bắt kịp chiếc xe, đúng không?”
Tôi nhận ra hàm ý của ông và bật cười thoải mái, “Lần sau tôi sẽ chạy nhanh hơn.”

“Đúng thế.” Ông thốt lên, đưa tay kéo cái mũ nhàu xuống, “Chính xác là như vậy đấy!”

Một chiếc taxi khác dừng lại. Tôi mở cửa cho ông, ông mỉm cười và vẫy tay chào tôi khi chiếc xe vụt đi. Tôi không bao giờ còn gặp lại ông nữa. Một tháng sau ông qua đời vì một cơn đau tim đột ngột.

Đã hơn một năm kể từ buổi chiều mưa mùa đông ở Manhattan ấy. Nhưng cho đến hôm nay, mỗi khi tôi thấy mình đang nghĩ Giá như, tôi lại thay nó bằng từ Lần sau. Mỗi lần như thế, tôi lại nhớ đến người bạn lớn của tôi. Đó là cách ông sống bất tử trong cuộc đời này, tôi tin như vậy.

Món quà kỳ diệu

Tôi có thể cảm thấy hơi ấm của đất ẩm dưới bàn chân. Không khí buổi sớm mai có mùi của những luống đất vừa xới, của hoa ngô, của những trái dâu rừng tím mọng, của những trái táo và những đoá mẫu đơn nở rộ.

Tôi hít căng lồng ngực bầu không khí thơm mát, cơn buồn ngủ giờ đã tan biến. Bước nhẹ trên cỏ mềm ven lối đi ra vườn, tôi trông thấy bóng ông nội thấp thoáng bên những luống cây. Thỉnh thoảng ông lại cúi xuống nhổ một cọng cỏ, ngắt một quả đậu và ngắm nghía từng nhánh lá. Tôi luôn yêu mến nơi này, một khoảng vườn rộng với những cánh đồng vàng mênh mang trải dài hàng dặm phía sau, yêu cả hình ảnh ông tôi rảo bước trên mảnh đất của mình mỗi ngày.

“Lại đây Katie, ông có một bất ngờ cho cháu đây!” ông gọi. Tôi vội chạy đến, hấp tấp đi cho kịp với những bước dài của ông. Ông dẫn tôi đến góc phía đông của khu vườn, đi qua những hàng ngô, những luống cải bắp và cà chua đã chín đỏ, qua cả những rặng dưa chuột và đậu đũa, và cuối cùng dừng lại trước bụi bí ngô với những tán lá to xanh thẫm. Tôi đứng lui lại khi ông cúi xuống lật đám lá sang một bên để chỉ cho tôi điều bất ngờ của ông: Một quả bí đang lớn bắt đầu ngả vàng nằm ngoan ngoãn lẫn giữa cỏ và đất. Tôi trông thấy một vết xước khuất bên sườn quả bí, hơi buồn và thất vọng vì món quà bất ngờ của ông đã không còn hoàn hảo.

Ông lật quả bí lên, phủi đất bám trên mình nó và tôi hiểu ngay là chẳng có một vết xước nào cả, đó là tên tôi! TÊN CỦA TÔI đang lớn dần lên trên cây bí xanh tốt này, nằm giữa lòng đất, giữa nắng và gió! Tôi say sưa ngắm nhìn món quà kỳ diệu của ông, đưa những ngón tay lần theo từng đường nét của các chữ cái nổi gân và sần sùi. Đến lễ Halloween, quả bí ngô này sẽ là của tôi, của chính tôi chứ không phải của ai khác. Tôi mở to mắt nhìn ông đang đứng trước mặt, sau lưng ông là ánh nắng chan hoà buổi sớm. “Ông đã làm như thế nào vậy?” Tôi hỏi, vẫn chưa hết ngạc nhiên.

“À…đó là cả một nghệ thuật đấy cháu, ông phải dùng một con dao nhỏ xíu và bắt đầu khắc chữ lên quả bí từ khi nó còn bé bằng hạt đậu.” Mắt ông lấp lánh khi ông kể về việc phải dùng đến chiếc kính lúp và những kỹ thuật tinh xảo để khắc tên tôi.

Tô quay nhìn về phía ngôi nhà, bà nội đang đứng bên hàng rào trước sân vẫy tay gọi. Bữa sáng đã sẵn sàng.

Hai ông cháu cùng quay về. Tôi bắt đầu nghĩ đến món hầm với những quả đỗ tươi non, những trái dâu rừng còn đọng sương mai trên ly kem vani ngọt ngào, những quả mận chín trong chiếc giỏ trên quầy, và đến cả những bắp ngô non mà có lẽ tôi phải đợi đến lần thăm sau mới được hái. Và tôi nghĩ về quả bí ngô của riêng tôi, về ông nội - người đã tạo ra những điều kỳ diệu trên khu vườn của mình.

(By Katie Dougherty-Carthum/Chicken Soup For The Soul)

Tình yêu đích thực


Vào một ngày, một chàng trai đi đến phiên chợ, một tay cầm một con lợn, tay kia cầm một con gà, và trên đầu đội một cái thúng. Anh ta đi đến ngã tư và không biết phải rẽ đường nào.

Trong lúc anh ta đang đứng lại để nghĩ xem phải rẽ đường nào thì một cô gái trẻ đi đến gần anh ta, cô gái đi cùng hướng của anh chàng.

Chàng trai hỏi: “Tôi đang muốn đi về phía phiên chợ, Cô có thể chỉ cho tôi là phải đi hướng nào được không?”

Cô gái trả lời “Được”, “Tôi cũng đang muốn đến đó. Chúng ta sẽ rẽ phải, đi khoảng 1 dặm, sau đó rẽ trái và đi 1,5 dặm, tiếp đó lại rẽ trái, đi khoảng một dặm và đến được phiên chợ”.

Chàng trai nói, “Đợi một chút …., chúng ta rẽ trái và sau đó lại rẽ trái đúng không? Chúng ta có thể tiết kiệm thời gian bằng cách đi qua khu rừng không?”

Cô gái trả lời, “Được chứ. Nhưng tôi không thể đi qua khu rừng đó với anh. Tại sao ư …vì anh có thể sẽ hôn tôi!”

Chàng trai trả lời: “Nghe này, làm sao tôi có thể hôn bất kỳ ai được khi mà một tay cầm con lợn, tay kia cầm con gà và trên đầu thì đội cái thúng?”

Cô gái trả lời “Vẫn được, anh sẽ bỏ con gà xuống đất, úp cái thúng lên con gà và tôi sẽ giữ con lợn.”


Tình yêu là gì ư? Là thế đấy! Mặc dù anh chàng kia tưởng như chẳng có gì thu hút nhưng cô gái vẫn yêu anh ta. Đúng là chẳng tình yêu nào giống tình yêu nào.

Trong tác phẩm “Turning Sweet Nothings into Sweet Somethings”, Marjorie Holmes đã chỉ ra sự khác nhau của tình yêu lãng mạn và tình yêu đích thực:

•Tình yêu lãng mạn là tìm kiếm sự hoàn hảo; tình yêu đích thực là bỏ qua những lỗi lầm của nhau.
•Tình yêu lãng mạn thì bay bổng, tình yêu đích thực thì ở an toàn dưới mặt đất.
•Tình yêu lãng mạn thì khổ sở khi đợi điện thoại để nghe được giọng êm ái của người yêu; tình yêu đích thực thì chỉ để chắc rằng người kia đang an toàn và hạnh phúc.
•Tình yêu lãng mạn thì luôn cố gắng làm mọi thứ thu hút người kia; còn tình yêu đích thực thì luôn được là chính mình.

Tình yêu đích thực có ở khắp mọi nơi chung quanh chúng ta – tình yêu đôi lứa; tình yêu bạn bè; tình yêu gia đình. Và nếu tình yêu của bạn là đích thực, hãy xem – khi nó bắt đầu lớn lên thì không gì có thể cản nổi!

(By: Steve Goodier - Chicken Soup For The Soul)

Cha và con trai



Văn học, hội hoạ hay âm nhạc thường phản ánh những khoảnh khắc kỳ diệu nhất của cuộc sống, nhưng cũng đôi khi cuộc sống diễn ra như trên một sân khấu nghệ thuật. Một kỷ niệm thú vị đã khiến tôi nảy sinh ý nghĩ đó. Mark con trai tôi và tôi vừa có một ngày nghỉ tại sân golf dọc bờ biển gần con đê Lớn ở Bắc Ailen - một trong những bờ biển đẹp nhất thế giới.

Tôi tự thấy mình không phải là một tay chơi golf cừ khôi xét về mặt kỹ thuật, nhưng tôi vẫn hy vọng mình được coi là một người chơi hay trong mắt người thân và bạn bè. Tôi thường cho rằng một người chơi hay là người luôn nỗ lực giành chiến thắng nhưng vẫn vui khi phải thua một người chơi khá hơn. Những người “chơi hay” như thế có lẽ không có nhiều trong cuộc sống đầy cạnh tranh này.

Mark và tôi đã định đi chơi trọn một ngày cùng nhau. Rất hiếm có dịp hai cha con tôi có thể dành thời gian trọn vẹn cùng nhau như vậy. Mark vừa trở về sau khi kết thúc công việc làm thêm hè ở Đức và sắp trở lại trường Đại học, còn tôi thì sẽ phải đến văn phòng của mình vào sáng mai như thường lệ. Và thế là hai chúng tôi quyết định đi chơi golf.

Tôi không chắc là tôi đã nắm rõ luật chơi của môn thể thao này, cũng như không hiểu lắm tại sao những quý ông quý bà trưởng thành lại tiêu tốn thời gian, tiền bạc và năng lượng, đôi khi rất mệt nhọc - chỉ để cố gắng cho trái banh nhỏ xíu màu trắng lọt vào cái lỗ cũng nhỏ như vậy bằng cây gậy trông thật khó coi! Và còn phải cố gắng làm sao để dùng đến càng ít cú đánh càng tốt nữa chứ! Có lẽ đó không đơn giản chỉ là một trò chơi mà còn là một bài học về cuộc đời. Tôi đã thấy những quý ông lão luyện căng thẳng tột độ trước cái áp lực phải đẩy cho được trái banh vào cái lỗ cách đó ba bước chân để giành chiến thắng trung cuộc. Điều đó đôi khi lại còn dễ dàng hơn việc phải làm thế nào để “thua đẹp” trước đối thủ là chính người bạn thân hay cậu con trai của họ. Và cũng có lúc người thắng cuộc mới chính là kẻ thua cuộc.

Nhưng mặc cho những lo lắng đó, môn thể thao này vẫn hấp dẫn người chơi vì nó đem lại sự mãn nguyện – đôi khi là niềm vui sướng vô bờ – khi tạo được một cú đánh hoàn hảo, trái banh nhỏ bay đúng hướng và hạ chính xác xuống đường lăn. Tôi và Mark đã có rất nhiều ngày tuyệt vời cùng nhau trải nghiệm trò chơi này và vui sướng với những thành công bất ngờ. Những lúc hai cha con đi dạo trên đường banh, với phong cảnh đẹp như tranh dọc bờ sông cũng là những khoảng thời gian đáng nhớ. Tôi đã chơi trên sân golf này hơn hai mươi năm, nhưng buổi sáng đặc biệt ngày hôm nay cho tôi một cảm nhận là con trai tôi đã thực sự trưởng thành và lần đầu tiên có thể chiến thắng cha nó, một cách hoàn toàn khách quan.

Chúng tôi tiến hành cuộc chơi với 18 lỗ golf. Rõ ràng là tôi vẫn chơi điêu luyện như mọi lần nhưng dường như không còn sánh được với sự khéo léo và sức trai tráng của con trai. Đến lỗ cuối cùng thì Mark, với cơ thể cao lớn và dáng vẻ thanh lịch, bước đến gần trái banh để đẩy nó xuống lỗ, bước cuối cùng quyết định chiến thắng. Khi Mark đang tập trung, tôi đã hy vọng nó sẽ đẩy golf vào lỗ và giành thắng lợi, nhưng đồng thời vẫn sẵn sàng đợi đến lượt tôi nếu thằng bé thất bại. Tôi có thể thấy nét căng thẳng trên khuôn mặt thằng bé, nó đưa gậy một cách khó nhọc…và trái banh lăn nhẹ nhàng vào lỗ! Khuôn mặt con tôi bừng sáng niềm vui. “Đó là con trai tôi!” tôi tự hào nghĩ.

Sau đó, chúng tôi ăn bữa trưa tại nhà nghỉ, bàn ăn nhìn ra chính bãi cỏ nơi Mark đã ghi chiến thắng đầu tiên đáng nhớ. Chúng tôi cùng ôn lại từng bước đi, từng cú đánh, cùng bàn về thể thao và suy ngẫm về cuộc đời. Tôi chỉ cho Mark ngôi nhà nghỉ màu trắng hiện lên trong sắc nắng, phía thảo nguyên xa xa, nơi tôi và mẹ nó đã tổ chức lễ cưới 45 năm trước. Và tôi lại kể lại cho thằng bé câu chuyện quen thuộc về những nỗ lực đầu tiên của tôi khi học chơi golf, cũng tại chính sân golf này. Trong một lần tập, tôi đã tức giận đến nỗi ném phắt trái banh xuống sông và bỏ đi, thay vì cố gắng chơi thêm mấy lỗ nữa.

Mark lắng nghe tôi nói rất chăm chú. Nó là một chàng trai tinh tế và hiểu biết sâu sắc. Tôi có thể tự hào nói rằng con trai tôi là một báu vật, một người bạn đồng hành dễ mến và đáng tin cậy với bất cứ ai. Chiến thắng của thằng bé trong trận golf hôm đó chứng tỏ nó đã thực sự trưởng thành và có ý thức độc lập cao. Có một cậu con trai như Mark, tôi, dù là người thua trong cuộc chơi, lại tin mình mới chính là người thắng cuộc đầy hạnh phúc. Một chiến thắng của cả cuộc đời.

(By Alf McCreary – Chicken Soup For The Soul)

December 2009
S M T W T F S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31